1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nho sĩ nghệ an trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước thế kỉ XIX

75 937 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nho Sĩ Nghệ An Trong Sự Nghiệp Dựng Nước Và Giữ Nước Thế Kỷ XIX
Tác giả Hứa Thị Hoa Mai
Người hướng dẫn Thạc sĩ Hồ Sỹ Huỳ
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2007
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 221 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều Làng học “ ”, “Làng văn hoá” tiêu biểu với những dòng họ có ba đời tiến sĩ đã xuấthiện, tiêu biểu nh làng: Quỳnh Đôi Quỳnh Lu, Thịnh Mỹ Diễn Châu, Võ LiệtThanh Chơng…Với rất nhiều

Trang 1

TRƯờNG ĐạI HọC VINH

KHOA LịCH Sử - -

khóa luận tốt nghiệp đại học

NHO Sĩ NGHệ AN TRONG Sự NGHIệP DựNG NƯớC

Và GIữ NƯớC THế Kỷ XIX

CHUYÊN NGàNH: LịCH Sử VIệT NAM

Ngời hớng dẫn khoa học: Thạc sĩ Hồ Sỹ HuỳSinh viên thực hiện: Hứa Thị Hoa Mai

Vinh 2007

Trang 2

Lời cảm ơn

Lời đầu tiên, tác giả xin đợc trân trọng nói lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo Hồ Sỹ Huỳ, ngời đã hớng dẫn tận tâm để tác giả có thể hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp của mình Đồng thời, tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử trờng Đại học Vinh đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình làm khóa luận.

Do năng lực của tác giả còn hạn chế nên khóa luận sẽ không tránh khỏi những sai sót Tác giả rất mong sự quan tâm góp ý của các thầy cô giáo và tất cả các bạn sinh viên.

Tác giả

Mở đầu

1 Lý DO CHọN Đề TàI

1.1 Trong chiều dài lịch sử dân tộc, ở mỗi làng quê của đất nớc Việt Nam

đều ghi lại những chiến tích hào hùng của cha ông ta Nghệ An từ xa xa đến nay

đợc xem là vùng đất “địa linh nhân kiệt” đã cung cấp cho đất nớc rất nhiều ôngNghè, ông Cống cùng với nhân dân cống hiến sức mình cho sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc

Vùng đất Nghệ An luôn là nơi đầu sóng ngọn gió, bức tờng thành ngănchặn quân xâm lợc, chỗ dựa chiến lợc, nơi cung cấp lơng thực hậu bị cho nhiềucuộc chiến tranh giữ nớc trong lịch sử dân tộc Vì thế trên khắp vùng đất xứ Nghệ,nơi đâu cũng ghi đậm dấu ấn lịch sử, văn hoá, những điển tích, truyền thuyết về sựlinh thiêng của sông núi, từ Kỳ Sơn, Tơng Dơng, Con Cuông, Anh Sơn sang Quế

Trang 3

Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Tân Kỳ, Nghĩa Đàn,… Để rồi theo dòng thời gian,những địa danh này đi vào huyền thoại.

Bên cạnh truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cờng, Nghệ An còn làmảnh đất có truyền thống hiếu học Từ bao đời nay, ở vùng đất “viễn trấn ” nàyviệc học đã trở thành “Đạo đời” Qua các kì thi Hội, thi Đình trong suốt các thế kỷphong kiến, Nghệ An luôn là tỉnh có số ngời đậu tiến sĩ cao của cả nớc Nhiều

Làng học

“ ”, “Làng văn hoá” tiêu biểu với những dòng họ có ba đời tiến sĩ đã xuấthiện, tiêu biểu nh làng: Quỳnh Đôi (Quỳnh Lu), Thịnh Mỹ (Diễn Châu), Võ Liệt(Thanh Chơng)…Với rất nhiều danh nhân đã đi vào huyền thoại của dân tộc: Trạngnguyên Bạch Liêu, Trạng nguyên Hồ Tông Thốc, nhà sử học Hồ Sỹ Dơng, nhàcanh tân Nguyễn Trờng Tộ, chí sĩ yêu nớc Phan Bội Châu, Giáo s Đặng ThaiMai… và nhiều nhà giáo đức độ lẫy lừng nh: Thám hoa Nguyễn Đức Đạt, NguyễnThức Tự…Họ đã tạo nên một vùng đất Nghệ An “địa linh nhân kiệt

Đặc biệt ở thế kỷ XIX, Nghệ An đạt đợc những thành tựu nổi bật nhất nớc

về giáo dục, khoa cử từ đó cung cấp cho đất nớc một đội ngũ trí thức Nho họcuyên thâm đóng góp vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trong tổng số

558 Tiến sĩ, Phó bảng dới triều Nguyễn thì Nghệ An có 91 Tiến sĩ, Phó bảng đứng

đầu trong cả nớc và cao hơn hẳn các tỉnh khác Từ con đờng khoa bảng, những kẻ

sĩ xứ Nghệ đã đem hết sức mình ra phục vụ quê hơng đất nớc Những gơng mặttiêu biểu nh: Hồ Bá Ôn, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Đức Đạt, Cao Xuân Dục,Nguyễn Thức Tự… không chỉ nổi danh trên đất Hồng Lam lúc bấy giờ mà tiếngtăm đã vang khắp nớc và hậu thế còn biết đến

Tầng lớp nho sĩ Nghệ An không chỉ khẳng định mình trên lĩnh vực tri thức

mà còn là những ngời đi tiên phong trong cuộc đấu tranh chống thực dân Phápxâm lợc Những phong trào yêu nớc của tầng lớp văn thân sỹ phu Nghệ An diễn rarầm rộ ngay từ phút đầu tiên kẻ thù nổ tiếng súng xâm lợc, tạo nên một thời kì lịch

sử đầy sôi động Và kẻ sĩ xứ Nghệ là những nhà chí sĩ thức thời nhất khi đa ranhững chơng trình canh tân đất nớc Tiêu biểu cho xu hớng này là nhà canh tânNguyễn Trờng Tộ

Trang 4

Việc tìm hiểu hoạt động của tầng lớp nho sĩ Nghệ An sẽ giúp chúng ta hiểuhơn những đóng góp của họ đối với quê hơng, đất nớc và cũng là cơ sở cho chúng

ta rút ra những lý luận bớc đầu về vai trò của ngời trí thức Nho học nói riêng, tầnglớp trí thức nói chung trong việc lãnh đạo và tập hợp quần chúng nhân dân đấutranh Đó là bài học kinh nghiệm của lịch sử rất cần thiết đối với sự nghiệp xâydựng quê hơng, đất nớc hiện nay

1.2 Một khi giáo dục truyền thống yêu nớc, truyền thống cách mạng đang

là một vấn đề cấp thiết thì những tấm gơng về các danh nhân, các chí sĩ yêu nớc làthực tế sinh động nhất cho thế hệ trẻ học tập Đặc biệt với mảnh đất Nghệ An giàutruyền thống hiếu học, truyền thống đấu tranh cách mạng, chỗ nào cũng in đậmdấu vết lịch sử thì việc giáo dục truyền thống yêu nớc, truyền thống hiếu học là

điều cần thiết để hình thành cho những ngời con xứ Nghệ niềm tin, sức mạnh vợtqua thử thách và ý chí vơn lên trong cuộc sống

1.3 Từ thực tế tìm hiểu những thành tựu khoa bảng mà Nghệ An đạt đợc ởthế kỷ XIX sẽ góp phần vào việc tìm ra những biện pháp giáo dục hiệu quả, nhất làtrong giai đoạn hiện nay, khi nền giáo dục của chúng ta đang đứng trớc nhiều vấn

đề Đặc biệt đối với Nghệ An, nền tảng của thế và lực mới để Nghệ An phát triểnchính là đội ngũ trí thức Làm thế nào để Nghệ An sản sinh ra những nhân tài cho

đất nớc? Và chúng ta sử dụng đội ngũ trí thức trẻ nh thế nào? Đó là những câu hỏilớn đối với Nghệ An trong thời đại mới

1.4 Là một sinh viên khoa Lịch sử, sinh ra trên “đất học” giàu truyền thốngcách mạng, tôi rất đỗi tự hào về những giá trị đích thực mà ông cha đã để lại Bởithế tôi đã cố gắng tìm tòi, mong muốn tìm hiểu về quá khứ hào hùng của cha ông,

để góp phần cho những thế hệ trẻ trên quê hơng Bác Hồ hiện nay cũng nh mai sauhiểu rõ hơn về một giai đoạn lịch sử sôi động của Nghệ An

Vì những lí do trên, tôi mạnh dạn chọn vấn đề: “ Nho sĩ Nghệ An trong sự nghiệp dựng nớc và giữ nớc thế kỷ XIX” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình.

Trang 5

2 LịCH Sử VấN Đề

Nghệ An từ bao đời nay đã có truyền thống cách mạng gắn liền với côngcuộc đấu tranh kiên cờng, bất khuất, trong đó có rất nhiều tên tuổi các nhà cáchmạng, các danh nhân văn hóa Bởi vậy, Nghệ An không chỉ là đề tài nghiên cứucủa những ngời con xứ Nghệ mà còn là đối tợng nghiên cứu của nhiều học giả nổitiếng trong và ngoài nớc Thực tế, trên nhiều khía cạnh khác nhau, vai trò của Nho

sĩ Nghệ An đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nớc thế kỷ XIX đã đợc đềcập trong nhiều sách báo, tạp chí và một số công trình khoa học

Viết về truyền thống hiếu học, truyền thống khoa bảng của Nghệ An, đã cónhững công trình nghiên cứu khoa học nh: “Những ông Nghè ông Cồng triều Nguyễn” (Bùi Hạnh Cẩn, Nguyễn Loan, Lan Phơng – NXB VHTT, Hà Nội

1995), “Khoa bảng Nghệ An” (Đào Tam Tỉnh – NXB Nghệ An, 2000) Ngoài ra

còn có rất nhiều sách báo viết về các danh nhân Nghệ An trong giai đoạn này:

Danh nhân Nghệ An ” (nhiều tác giả, NXB Nghệ An, 1998), “Danh nhân Nghệ Tĩnh ” (4 tập, NXB Nghệ Tĩnh, 1990) Các tác phẩm này đã bớc đầu trình bày tiểu

sử của một số nhà Nho xứ Nghệ

Về truyền thống yêu nớc, chống ngoại xâm trong giai đoạn này cũng có rấtnhiều cuốn nh: “Lịch sử Việt Nam” (t.1, NXB KHXH, 1971), “Lịch sử 80 năm chống Pháp ” (q.2, Trần Huy Liệu - NXB Sử học, Viện Sử học, 1961), “Lịch sử Nghệ Tĩnh” (NXB KHXH)…

Ngoài ra đã có các t liệu văn học liên quan nh tuyển tập tác phẩm thơ vănyêu nớc chống Pháp nửa sau thế kỷ XIX, các bài báo trên các tạp chí chuyênngành…Và đặc biệt, đã có một số khóa luận tốt nghiệp Đại học nghiên cứu một sốvấn đề về vai trò của Nho sĩ Nghệ An thế kỷ XIX nh “Nho sĩ Nghệ An trong phong trào yêu nớc chống Pháp từ 1858 đến 1920 ” (Đặng Nh Thờng, 2002),

Nho sĩ Nam Đàn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hơng, đất nớc thế kỷ XIX ” (Hoàng Thị Khánh, 2006)…Nhìn chung các công trình đó đều đã có đề cập

Trang 6

đến các danh sĩ Nghệ An với những đóng góp trong lĩnh vực xây dựng quê hơng

đất nớc

Tuy nhiên hầu hết những đánh giá đó còn mang tính tổng quát, cha có côngtrình cụ thể, hệ thống về đóng góp của riêng tầng lớp trí thức Nho sĩ Nghệ An, đặcbiệt là cha có sự đánh giá đúng vai trò của Nho sĩ Nghệ An trong sự nghiệp dựngnớc và giữ nớc thế kỷ XIX Vì vậy với khóa luận này, tác giả hy vọng có thể gópphần bổ sung vào khoảng trống nói trên

Những tài liệu đề cập trên sẽ là cơ sở ban đầu vô cùng quý giá cho tác giảkhi nghiên cứu Với việc đi sâu vào phân tích, so sánh, đối chiếu với một số t liệu

địa phơng để nhằm hoàn thiện đề tài nghiên cứu khoa học, tác giả hy vọng khóaluận này sẽ có một cách nhìn hệ thống hơn về vai trò của Nho sĩ Nghệ An trong sựnghiệp xây dựng và bảo vệ quê hơng đất nớc ở thế kỷ XIX

3 ĐốI TƯợNG Và PHạM VI NGHIÊN CứU

Trong một thời gian dài, hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đợc sát nhập với têngọi là Nghệ Tĩnh Tuy nhiên trong đề tài này, tác giả chỉ giới hạn nghiên cứu vấn

đề trong phạm vi trên tỉnh Nghệ An, tức là: Tìm hiểu đóng góp của tầng lớp Nho sĩtrên địa bàn Nghệ An ở thế kỷ XIX trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,

từ những tấm gơng Nho sĩ tiêu biểu, những cống hiến trên các lĩnh vực chính trị, ttởng, văn hóa, ngoại giao… và đóng góp trong sự nghiệp chống thực dân Pháp xâmlợc

Về thời gian, đề tài đi vào tìm hiểu vai trò của Nho sĩ Nghệ An trong phạm

vi thế kỷ XIX, tức là từ 1802 đến 1900 – nghĩa là từ khi nhà Nguyễn đợc thànhlập cho đến khi phong trào Cần Vơng chống Pháp của nhân dân ta lắng xuống vàcông cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp bắt đầu

4 PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU

Trang 7

Phơng pháp lịch sử và phơng pháp lo-gic là hai phơng pháp chính đợc sửdụng kết hợp trong khi nghiên cứu đề tài Ngoài ra tác giả còn sử dụng các phơngpháp chuyên ngành nh phân tích, đánh giá sự kiện lịch sử; sử dụng liên môn cácloại tài liệu văn học dân gian và thơ văn yêu nớc…để thấy rõ đóng góp của Nho sĩNghệ An trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hơng, đất nớc và truyền thống

đấu tranh kiên cờng, bất khuất của nhân dân Nghệ An Tác giả chú trọng đến việc

đặt lịch sử địa phơng, lịch sử danh nhân quê hơng trong chiều dài lịch sử dân tộc,

từ đó so sánh và đối chiếu để thấy rõ cống hiến của họ đối với đất nớc và thời đại

5 ĐóNG GóP CủA khóa LUậN

Luận văn trình bày một cách có hệ thống những đóng góp của Nho sĩ Nghệ

An trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thế kỷ XIX, qua đó giúp bạn đọcnhìn nhận một cách toàn diện về cống hiến của nhân dân Nghệ An đối với sựnghiệp chung của đất nớc

Từ những đóng góp của Nho sĩ Nghệ An đối với công cuộc xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc, tác giả rút ra những quan điểm bớc đầu về vai trò của ngời trí thứcNho học nói riêng, trí thức nói chung đối với đất nớc, tầm quan trọng của họ trongchiến lợc xây dựng và phát triển đất nớc

Những ngời yêu thích tìm hiểu lịch sử quê hơng có thể tìm thấy những têntuổi của một số nhà Nho yêu nớc, đã từng lập công cho quê hơng đất nớc, là tấmgơng để cho con cháu noi theo Đồng thời đây cũng là nguồn t liệu quan trọngtrong việc giáo dục truyền thống cách mạng của quê hơng, phục vụ cho việc dạyhọc lịch sử địa phơng ở trờng phổ thông

6 Bố CụC CủA khóa LUậN

Ch

ơng 1: Khái quát điều kiện hình thành truyền thống đấu tranh dựng nớc

và giữ nớc của Nho sĩ Nghệ An

Ch

ơng 2: Nho sĩ Nghệ An trong sự nghiệp xây dựng đất nớc thế kỷ XIX

Trang 8

1.1 ĐIềU KIệN Tự NHIÊN

Nghệ An ở vùng Bắc Trung Bộ nớc Việt Nam, có tọa độ địa lý từ 18o33' đến

20o00' vĩ độ Bắc và từ 103o52' đến 105o48' kinh độ Đông Phía Bắc giáp tỉnh ThanhHóa với đờng biên dài 196,13 km Phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh với đờng biên dài92,6 km Phía Tây giáp nớc bạn Lào với đờng biên dài 419 km Phía Đông giápvới biển Đông với bờ biển dài 82 km Diện tích đất tự nhiên 1.648.729 ha Địahình Nghệ An gồm có núi, đồi, thung lũng Độ dốc thoải dần từ Đông Bắc xuốngTây Nam Hệ thống sông ngòi của tỉnh dày đặc, có bờ biển dài 82 km

Nằm ở Đông Bắc dãy Trờng Sơn, địa hình đa dạng, phức tạp và bị chia cắtbởi các hệ thống đồi núi, sông suối hớng nghiêng từ Tây - Bắc xuống Đông - Nam

Đỉnh núi cao nhất là đỉnh Pulaileng (2.711m) ở huyện Kỳ Sơn, thấp nhất là vùng

đồng bằng huyện Quỳnh Lu, Diễn Châu, Yên Thành

Trang 9

Nghệ An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu sự tác động trựctiếp của gió mùa Tây - Nam khô và nóng (từ tháng 4 đến tháng 8) và gió mùa

Đông Bắc lạnh, ẩm ớt (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau) Hàng năm chia thành 4mùa rõ rệt: Mùa xuân thờng “nghèo màu sắc, hiếm âm thanh” Khi mùa hè đến,nắng nóng và gió Lào ngự trị làm cho nứt đất nẻ đai, bụi toả mù trời Tiếp đó làmùa thu: ma, bão, lũ thờng xuyên xảy ra Mùa đông đến thì rả rích ma phùn, gióbấc lạnh lẽo, ủ dột Chính thiên nhiên Nghệ An đã tạo ra một cảnh tợng thật đẹpsong cũng thật khắc nghiệt Khi nắng hạ thì “cháy đồng nung đá”, “ruộng nẻ bàukhô”, khi ma thì “thối đất thối cát” Có thể nói thiên tai không là của riêng Nghệ

An song trên đất nớc Việt Nam không có nơi nào thời tiết khắc nghiệt hơn vùng

đất “viễn trấn” này Sách “Đại Nam thống chí” của quốc sử quán triều Nguyễnchép: “Ruộng đất phần nhiều rắn, xấu, ít bằng phẳng” Sách cũng gọi Nghệ An là

“đất tứ tắc”, ý nói bốn bề hiểm trở Nhng từ trong cái khắc nghiệt, hiểm trở đó,thiên nhiên đã tạo ra cho xứ Nghệ muôn vàn cảnh đẹp:

Lam Thuỷ, Hồng Sơn vô hạn thắng

Bằng quân thu thập trợ thanh âm”

(Dịch: Sông Lam núi Hồng đẹp vô cùng/Tha hồ anh nhặt nhạnh để làm đề tài ngâm vịnh)

Có thể nói điều kiện thiên nhiên vừa thử thách, vừa u đãi đã tạo nên cáiriêng của con ngời xứ Nghệ

1.2 ĐIềU KIệN LịCH Sử - VĂN HOá

Địa danh Nghệ An xuất hiện từ năm Thiện Thành thứ 3 đời Lý Thái Tôngnăm (1030) thay cho tên Hoan Châu đã có từ mấy trăm năm về trớc (năm 627).Thiên nhiên khắc nghiệt rèn luyện cho con ngời xứ Nghệ tinh thần bền bỉ gan góc,

sự chịu đựng với nghị lực cao, đức tính cần kiệm trong cuộc sống, không thích xahoa, thơng yêu đùm bọc nhau trong khi hoạn nạn

Trang 10

Trong dòng chảy của truyền thống dân tộc, con ngời Nghệ An luôn mangtrong mình tinh thần yêu nớc, đấu tranh kiên cờng bất khuất để chống thiên tai,chống áp bức bóc lột, đặc biệt là chống ngoại xâm Kể từ khi xuất hiện đến nay,Nghệ An vẫn luôn tồn tại hiên ngang và giữ một vị trí chiến lợc vô cùng quantrọng Các vua thời phong kiến vẫn coi Nghệ An là “phên dậu” của nớc nhà, là

Cối Kê của Việt V

ơng Câu Tiễn”, là đất “trọng trấn”, “viễn trấn” và cũng là

“thắng địa” của nhiều đời

Mảnh đất Nghệ An đợc coi là một trong những trung tâm của văn hoá ViệtNam Các nhà nghiên cứu đã nói đến một xứ Nghệ là “vùng văn hoá sông Lam”,

vùng văn hoá Hồng Lam

“ ”, hay “m ột vùng văn hoá xứ Nghệ” Nhiều di tích khảo

cổ đã chứng minh Nghệ An cũng là cái nôi của ngời Việt cổ (răng ngời cổ hàngchục năm ở Thẩm ồm – Quỳ Châu), từng có nền văn minh rực rõ ở Làng Vạc –Nghĩa Đàn…Đất Nghệ An có “non xanh n ớc biếc nh tranh họa đồ”, có khí thiêng

sông núi; con ngời Nghệ An kiên cờng bất khuất trong chiến đấu, chăm lao động,nổi tiếng hiếu học nên đã sinh ra nhiều danh nhân lịch sử văn hoá Trong “Lịch triều hiến chơng loại chí”, Phan Huy Chú viết: Con ngời Nghệ An tính tình thì thuần hòa mà chăm học, sản vật thì nhiều thức quý của lạ…đợc khí tốt của sông núi nên sinh ra nhiều bậc danh hiền… thực là nơi hiểm yếu nh thành đồng, ao nóng của nớc và là then khoá của các triều đại”[7.1.63].

Ngay từ những buổi đầu giữ nớc vào thế kỷ thứ VII, Nghệ An là căn cứ củacuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan, là đất “Hoan Diễn do tồn thập vạn binh” cungcấp nguồn nhân lực hùng hậu trong cuộc kháng chiến chống quân Mông -Nguyên thời Trần, là một địa bàn chiến lợc quyết định thắng lợi của nghĩa quânTây Sơn trong kháng chiến chống quân Thanh (1789) ở thời kì cận - hiện đại,Nghệ An là đất sản sinh ra những anh hùng dân tộc, những sỹ phu yêu nớc củathời đại: Trần Tấn, Đặng Nh Mai, Nguyễn Xuân Ôn, Phan Bội Châu…Đặc biệt nơi

đây chính là quê hơng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, của Xô viết Nghệ Tĩnhvang dội Nhân dân Nghệ An đã góp phần cùng với nhân dân cả nớc viết lênnhững bản hùng ca hoành tráng trong Cách mạng tháng Tám, trong hai cuộc

Trang 11

kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, xứng đáng với danh hiệu “ Nghệ Tĩnh đỏ

mà Bác Hồ trao tặng

Nghệ An vốn là đất văn vật Con ngời nơi đây đã bao đời nổi tiếng thôngminh, hiếu học và khổ học, có trí tuệ trong sáng, có nghĩa khí, trọng đạo lý làmngời, yêu nớc, chống quan trờng và dám chống lại những điều sai trái Đó chính làtính cách của các nhà Nho xứ Nghệ, điều mà nhiều ngời dân xứ khác phải khâmphục Các tác giả “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn đãnhận định: “Học trò Nghệ An chuộng khí tiết, nhiều ng ời hào mại, có chí chăm học, văn chơng thì dùng lời lẽ cứng cáp, không cần đẹp lời

Xứ Nghệ xa, dẫu ngời dân còn khổ cực, nghèo đói nhng gia đình nào cũngmong cho con học dăm ba chữ để giữ đạo thánh hiền Các bà mẹ ở xứ Nghệ đã có

ý thức chăm lo việc đèn sách cho con ngay từ khi chúng mới đợc sinh ra:

Con ơi mẹ dạy câu này

Chăm lo đèn sách cho tày áo cơm

Làm ngời đói sạch rách thơm Công danh là nợ nớc non phải đền ” [22.37]

Chính vì cái đạo hiếu học ấy mà nhiều nhà đã phải chắt chiu từng hạt gạo

củ khoai nuôi con ăn học ở Nghệ An có khá nhiều “Ông Nghè, ông Cống sống bằng ngọn khoai; anh học, anh Nho nhai hoài lộc đỗ”, có những gia đình sáng

khoai, tra khoai, tối khoai, khoai ba bữa” nhng rồi ông đỗ, cha đỗ, con đỗ, đỗ

cả nhà ” Điều đó nói lên khát vọng vơn lên trong khoa bảng của nhân dân Nghệ

An rất mãnh liệt Học để có thể tìm ra nghề nghiệp mới và nâng cao vị trí xã hộicủa bản thân là động lực hiếu học trong nhân dân

Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai đã có nhận xét rất tinh tế rằng: “Khi mà chế độ khoa cử còn thịnh, cơ hồ mỗi làng đều nhìn thấy trong núi của mình một cái bảng, một quản bút, một cái án th…… ở Nghệ An có nhiều địa danh quen

thuộc nh thế và rất nổi tiếng nh Nho Lâm, Bút Điền, Bút Trận, Văn Hiến, Th Phủ ở

Trang 12

Diễn Châu; Bút Luyện, Văn Thai, Văn Khúc, Tam Khôi ở Quỳnh Lu; Văn Khuê,Văn Trờng ở Đô Lơng; Văn Hội, Định Khoa ở Yên Thành.v.v Cùng với những địadanh đó, ở Nghệ An bắt đầu xuất hiện những tên làng, những dòng họ nổi tiếng vềtruyền thống khoa cử.

Có lẽ bất kì một ngời con xứ Nghệ nào cũng biết đến những tên làng khoabảng nh: Trung Cần, Xuân Liễu, Xuân Hồ (Nam Đàn), Kim Khê, Đông Hải, CẩmTrờng (Nghi Lộc), Võ Liệt, Đồng Văn, Đại Định (Thanh Chơng), Lý Trai, NhoLâm (Diễn Châu) … và đặc biệt ngời làng Quỳnh Đôi có câu:

Làng ta khoa bảng thật nhiều

Nh cây trên núi, nh diều trên không.”

Theo “Khoa danh tr ờng biên” của Hồ Sĩ Tôn, từ 1444 đến 1725, Quỳnh

Đôi có trên 700 ngời đậu Tú tài đến Tiến sĩ Cả huyện Quỳnh Lu tính từ Hậu Lê

có 15 Tiến sĩ thì trong đó riêng Quỳnh Đôi là 7 vị Việc học ở đây đã trở thànhmột “nghề” truyền thống và đợc gọi là “Làng học Quỳnh Đôi” Làng học có nhiều

ngời học giỏi, đậu cao, liên tiếp nhiều đời có ngời đậu đại khoa và đi vào ca dao

Chính điều kiện lịch sử, văn hoá và truyền thống khoa bảng đó đã góp phầncho sĩ tử Nghệ An thế kỷ XIX tiếp tục làm rạng danh truyền thống hiếu học củaquê hơng Nhiều bậc Nho sĩ đã có cống nhiều cống hiến to lớn cho quê hơng đấtnớc nh: Nguyễn Đức Đạt, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Trờng Tộ, Nguyễn Sinh Sắc,Cao Xuân Dục…

Trang 13

Đặc biệt ý thức về việc “công danh là nợ n ớc non phải đền” đã thôi thúc ngời con

xứ Nghệ chăm chỉ dùi mài kinh sử mong có ngày hiển đạt thành danh trở về phục

vụ quê hơng đất nớc

Khi nhà Nguyễn lên thay nhà Tây Sơn, nhận thức đợc vai trò quan trọng củaNho giáo trong việc củng cố chế độ phong kiến, triều Nguyễn đã lấy Nho giáo làmquốc giáo, ra sức chấn chỉnh giáo dục, khoa cử và tổ chức nhiều khoa thi hơn sovới các triều đại trớc Trong đó số sĩ tử Nghệ An đỗ đạt chiếm tỉ lệ ngày càng cao.Triều Nguyễn tổ chức đợc 47 khoa thi Hơng lấy đậu 5232 Cử nhân Riêng trờngthi Hơng Nghệ An tổ chức đợc 42 khoa thi, lấy đậu 882 Cử nhân, trong đó 562 ng-

Trang 14

ời Nghệ An, còn lại là các tỉnh khác (Hà Tĩnh, Thanh Hoá…) Nếu tính cả 33 Cửnhân ngời Nghệ An đậu ở các trờng khác thì tỉnh Nghệ An có 596 Cử nhân Từ đó

có thể thấy tỉ lệ Cử nhân Nghệ An so với cả nớc là 11,4% (số liệu theo Khoa bảng Nghệ An )

Trờng thi Hơng Nghệ An đã cung cấp cho đất nớc hàng ngàn Cử nhân, Tútài Nhiều Cử nhân Nghệ An nổi tiếng là văn hay chữ tốt Trong 42 khoa thi có tới

25 vị đỗ đầu (Giải nguyên) là ngời Nghệ An : Hồ Sĩ Đề (1870), Phan Hữu Tính(1821), Nguyễn Điều Mai (1834), Tạ Hữu Khuê (1828), Dơng Doãn Chấp (1834)(tức Doãn Hài), Cao Hữu Chí (1848), Nguyễn Hữu Lập (1850), Nguyễn Văn Giao(1852), Nguyễn Trung Quán (1858), Trần Vỹ (1861), Lê Huy Giám (1864), Lê Bá

Đôn (1867), Hồ Sỹ Tạo (1868), Nguyễn Văn Đỉnh (1870), Dơng Quế Phổ (1878),

Lê Văn Tuy (1879), Nguyễn Quý Yêm (1882), Phan Đình Phát (1884), Vũ Trí(1887), Hoàng Mậu (1894), Phan Bội Châu (1900), Phan Bá Hoè (1903), Phan Võ(1909), Nguyễn Văn Chính (1912), Lê Dục Hinh (1915)

Số ngời đậu á nguyên ở trờng thi Hơng có: Trần Dung (1807), Đặng HuyThuật (1819), Đỗ Mẫn (1821), Nguyễn Hoằng (1828), Nguyễn Trọng Thiệu(1834), Hồ Sỹ Tuần (1837), Lê Nguyên Thứ (1844), Lý Nguyên Tờng (1842), NgôTrực Nghĩa (1846), Phạm Đức Cờng (1847), Nguyễn Lâm (1848), Nguyễn ĐứcHậu (1850), Tôn Huy Diệm (1852), Tôn Huy Thân (1861), Phạm Huy Giao(1864), Cần Văn Thành (1867), Nguyễn Thức Tự (1868), Vơng Đình Toại (1870),Cao Huy Tuân (1873), Đặng Văn Thụy (1882), Hồ Đức Thạc (1884), Trần VănSong (1888), Cao Xuân Tiếu (1891), Nguyễn Văn Chấn (1994), Trần Đình Chu(1900), Vơng Đình Thụy (1903), Lê Khôn Trinh (1912), Hoàng Văn Sóc (1918)

Khoa thi đầu tiên (1807) lấy đậu 8 Cử nhân đều là ngời Nghệ An Khoa thi

có nhiều ngời Nghệ An đậu nhất (1888) là 32 Cử nhân

Trong 39 khoa thi Hội dới thời Nguyễn lấy đậu 558 đại khoa thì riêng Nghệ

An đã có 91 Tiến sĩ, chiếm tỉ lệ 16,3% cao nhất trong cả nớc Điều đó đợc chứngminh qua bảng sau:

Trang 15

Số Tiến sĩ ở các tỉnh dới thời Nguyễn qua các đời vua:

Stt Tỉnh Minh

Mạng

Thiệu Trị

Tự

Đức

Kiến Phúc

Thành Thái

Duy Tân

Khải

Định

Tổng (ngời)

Trang 16

Nhìn vào bảng ta thấy rằng Nghệ An là đất sản sinh ra nhiều Tiến sĩ nhấtcho dân tộc dới thời Nguyễn Trong 23 tỉnh có ngời đỗ đại khoa thì Nghệ An làtỉnh có số ngời đỗ đại khoa nhiều nhất và số lợng ngày càng tăng.

Thời Minh Mệnh chiếm 7/76 ngời (=9,2%)Thời Thiệu Trị 7/79 ngời ( =8,9%)Thời Tự Đức 34/206 ngời (=16,5 %)Thời Kiến Phúc 2/7 ngời (=28,6%)Thời Thành Thái 23/121 ngời (=19.9%)Thời Duy Tân 10/33 ngời (=30,3%)Thời Khải Định 8/36 ngời (=22,2%) Nghệ An thời Nguyễn có số ngời đỗ đại khoa là 91 ngời, vợt trội hơn hẳncác tỉnh khác và tỉnh đứng thứ hai Thừa Thiên (60 ngời), tỉnh đứng thứ ba Hà Tĩnh(44 ngời)

Theo “Đại Nam nhất thống chí” thì dân đinh của Nghệ An cao nhất (80170ngời), Thừa Thiên thứ hai (68540), Hà Tĩnh thứ ba (17188 ngời) Từ đó chúng ta

có thể suy ra số ngời đỗ đại khoa của Nghệ An chiếm tỉ lệ 0,11%, Thừa Thiên0,09%, Hà Tĩnh 0,26% Có những tỉnh dân đinh đông nhng số ngời đỗ đại khoa ítnh: Ninh Bình 6/31092 ngời, chiếm tỉ lệ 0,02%, Gia Định 2/32826, chiếm 0,006%

Sự chênh lệch này có nhiều nguyên nhân nhng lí do chính là do truyền thống khoabảng của từng địa phơng quy định

Ngoài ra ở Nghệ An còn có 15 vị đỗ Tạo sĩ (Tiến sĩ võ) Với số lợng Tiến sĩlớn nh vậy đã nói lên rằng Nghệ An là một trong những cái nôi cống hiến tài lựccho đất nớc dới thời Nguyễn

Dới triều Nguyễn (1802 - 1919), các vua Nguyễn đã tổ chức 39 kì thi Hội,thi Đình, lấy 558 Tiến sĩ, Phó bảng thì Nghệ An có 91 ngời, ở thế kỷ XIX có 59ngời Sau đây là tiểu sử tóm tắt các vị đại khoa ở Nghệ An thế kỷ XIX:

Trang 17

1 Bùi Sỹ Tuyển (hay Đình Tuyển) (1798-1864)

Ngời xã Hà Xá, nay là xã Thanh Hà, huyện Thanh Chơng 40 tuổi đậu Tútài, đợc bổ chức Hồng lô Sau khi dự kì sát hạch đủ điểm dự thi Hội, đậu Phóbảng, Ân khoa Mậu Thân – Tự Đức 1 (1848) Làm quan: Hàn lâm viện tu soạn,Tập hiền viện, Kinh điển khởi c chú, Đốc học Hải Dơng, Lang trung bộ binh, Đốchọc Quảng Nam, Hàn lâm viện Thị độc học sĩ, Hồng lô Tự khánh, sung sử quántoàn th

2 Cao Huy Tuân (1849 - ?)

Ngời xã Phan Xá, nay là xã Nghi Kim, huyện Nghi Lộc 25 tuổi đậu Cửnhân á nguyên 31 tuổi đậu Phó bảng khoa Kỷ Mão – Tự Đức 32 (1879) Làmquan Tri huyện, bị giáng xuống biên tu sử quản Về quê tham gia nghĩa quân Phan

Đình Phùng, bị bệnh mất ở sơn trại

3 Cao Xuân Tiếu (1866 - ?)

Ngời xã Thịnh Mỹ (nay là xã Diễn Thịnh, huyện Diễn Châu) 26 tuổi đậu

Cử nhân á nguyên (1891) 30 tuổi đậu Phó bảng khoa ất Mùi – Thành Thái 7(1895) Trớc khi thi Hội làm Giáo thụ Diễn Châu hàm Tớc tác Sau thăng đến Th-ợng th, sung biên sử quán

4 Dơng Thúc Hạp (1835 – 1920)

Ông còn có tên là Thúc Dĩnh, quê ở xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lu Đậu

Cử nhân năm 1879 50 tuổi đậu Đệ tam giáp Tiến sĩ ân khoa Giáp Thân - PhúcKiến 1

5 Đặng Nguyên Cẩn (1866 – 1923)

Ngời xã Lơng Điền, nay là xã Thanh Xuân, huyện Thanh Chơng 22 tuổi đậu

Cử nhân (1888) 29 tuổi đậu Phó bảng, khoa ất Mùi – Thành Thái 7 (1895) Làmquan Giáo thụ Hng Nguyên (trớc khi thi Hội), Đốc học Nghệ An, Đốc học BìnhThuận

6 Đặng Văn Thụy (1858 – 1936)

Trang 18

Ngời làng Nho Lâm, nay thuộc xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu 27 tuổi đậu

Cử nhân á nguyên (1882), làm Giáo thụ Diễn Châu 47 tuổi đậu Đình nguyên Đệnhị giáp Tiến sĩ (Hoàng giáp), khoa Giáp Thìn - Thành Thái 16 (1904) Làm quan

Tế tửu Quốc tử giám

7 Đinh Văn Chất (1847 – 1887)

Ngời xã Kim Khê, nay là xã Nghi Long, huyện Nghi Lộc 22 tuổi đậu Cửnhân (1868) 29 tuổi đậu Đệ tam giáp Tiến sĩ khoa ất Hợi – Tự Đức 28 (1875).Làm quan Tri phủ Nghĩa Hng – Nam Định Phủ bị quân Pháp đánh chiếm, ông vềquê tổ chức chống Pháp bị bắt chém bêu đầu

8 Đinh Văn Phác (1790 - ?)

Ngời xã Kim Khê - Nghi Lộc Đậu Cử nhân năm 1821 31 tuổi đậu Đệ tamgiáp Tiến sĩ khoa Nhâm Ngọ – Minh Mạng 3 (1822) Làm quan: Tham hiệpQuảng Nam, sau bị quan tịch Cháu nội là Đinh Văn Chất chống Pháp bị triều đìnhcoi là “phản nghịch” Cả hai ông cháu bị đục tên ở bia Tiến sĩ

9 Hoàng Mậu (hoặc Hoàng Phi) (1858 – 1935)

Ngời xã Quỳnh Đôi – Quỳnh Lu, đậu Cử nhân Giải nguyên năm 1894 40tuổi đậu Phó bảng khoa ất Mùi – Thành Thái 7 (1895) Làm quan Giáo thụ DiễnChâu, hàm Trớc tác, đợc về trí sỹ, tặng Hồng lô Tự khanh

Trang 19

tu, BiÖn lý bé lÔ, TuÇn phñ Qu¶ng Yªn

13 Lª B¸ Hoan (hay Lª B¸ Duy)

Ngêi lµng Trung CÇn, nay lµ x· Nam Trung, huyÖn Nam §µn 28 tuæi ®Ëu

Cö nh©n (1891) 29 tuæi ®Ëu Tam gi¸p TiÕn sÜ, khoa Nh©m Th×n – Thµnh Th¸i 4(1892) Lµm quan: Tri phñ Hoµi Nh¬n

Ngêi x· Thanh La, nay lµ x· Thanh LÜnh, huyÖn Thanh Ch¬ng 26 tuæi ®Ëu

Cö nh©n (1843) 31 tuæi ®Ëu Phã b¶ng khoa MËu Th©n – Tù §øc 1 (1848) Lµmquan: Lang trung Bang biÖn Th¸i Nguyªn

Trang 20

19 Nguyễn Đức Đàm (1870 - ?)

Trớc có tên là Đức Giảng, ngời xã Cẩm Trờng, nay là xã Nghi Trung, huyệnNghi Lộc 28 tuổi đậu Cử nhân (1897) 29 tuổi đậu Phó bảng, khoa Mậu Tuất –Thành Thái 10 (1898) Làm quan: Thị độc, Thông phán

20 Nguyễn Đức Đạt (1824 – 1887)

Ngời làng Hoành Sơn, nay là xã Khánh Sơn, huyện Nam Đàn 24 tuổi đậu Cửnhân (1847) 30 tuổi đậu Đệ nhất giáp Tiến sĩ Cập đệ Đệ tam danh nhất danh (tứcThám hoa thứ nhất Thám nhì là Nguyễn Văn Giao cùng khoa) khoa Quý Sửu –

Tự Đức (1853) Làm quan: Thị giảng tập hiền viện, Cấp sự trung Cha mẹ ốm nênxin về phụng dỡng Từ năm 1860 làm ở Kinh, Đốc học Nghệ An, án sát ThanhHoá, Tuần phủ Hng Yên

21 Nguyễn Đức Quý (1849 – 1887)

Ngời làng Trung Cần, nay là xã Nam Trung, huyện Nam Đàn, hiệu Nọa Phu

27 tuổi đậu Cử nhân (Giải nguyên 1850) 39 tuổi đậu Đệ nhị giáp Tiến sĩ (Hoànggiáp), khoa Nhâm Tuất – Tự Đức 15 (1862) Làm quan: Huấn đạo Can Lộc, Việnhàn lâm, Chánh sứ Thanh, thăng Tham tri bộ binh

22 Nguyễn Ngọc (1815 - ?)

Ngời làng Đông Hải, xã Cổ Bái, nay là xã Phúc Thọ, huyện Nghi Lộc 20tuổi đậu Cử nhân (1834) 27 tuổi đậu Đệ nhị giáp Tiến sĩ (Hoàng giáp – Hộinguyên - Đình nguyên), khoa Tân Sửu – Thiệu Trị (1841) Làm quan Tu soạn,phạm lỗi trong khi đi chấm thi (tự ý sửa chữa bài thi) nên bị cách chức, sau đó chophục chức Điển bạ

3 Nguyễn Nguyên Thành (1825 - ?)

Ngời xã Đô Lơng, huyện Lơng Sơn, nay là xã Đông Sơn, huyện Đô Lơng,hiệu là Sơn Đờng Thiện Phu 26 tuổi đậu Cử nhân (1848) 27 tuổi đậu Đệ tam giápTiến sĩ, Khoa Tân Hợi – Tự Đức 4 (1851) Làm quan đến Hồng Lô Tự thiếu

Trang 21

khanh, sung Nội các tham biện, cáo quan về nghỉ Từng chiêu mộ Cần Vơng chốngPháp.

24 Nguyễn Quý Song (1867 - ?)

Ngời xã Xuân Liễu, nay là xã Nam Xuân, huyện Nam Đàn 20 tuổi đậu Cửnhân (1886) 32 tuổi đậu Đệ tam giáp Tiến sĩ, khoa Mậu Tuất – Thành Thái 10(1898) Làm quan Đốc học

25 Nguyễn Sỹ Phẩm (1841 – 1874)

Ngời xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lu 27 tuổi đậu Cử nhân (1867) 29 tuổi

đậu Đệ tam giáp Tiến sĩ (Hội nguyên), khoa Kỷ Tỵ – Tự Đức 22 Làm quan: Hànlâm biên tu

26 Nguyễn Tài Tuyển (1837 – 1884)

Ngời xã Đại Đồng, nay là xã Thanh Văn, huyện Thanh Chơng 31 tuổi đậu

Cử nhân (1867) 41 tuổi đậu Đệ tam giáp Tiến sĩ, khoa Đinh Sửu – Tự Đức 30(1877) Làm quan: Tri phủ Tơng Dơng, Sơn phòng sứ Nghệ An, Tham biện ốmmất trong quân, đợc truy tặng Hàn lâm viện Thị độc

27 Nguyễn Thái (1919 - ?)

Ngời xã Thịnh Lạc, nay là xã Xuân Hoà, huyện Nam Đàn Đậu Giải nguyênthi Hơng (1847) 33 tuổi đậu Phó bảng, khoa Tân Hợi – Tự Đức 4 (1851) Cùngnăm này thi khoa Cát sỹ (Bác học hoành tài) đậu Nhị giáp Tiến sĩ (Hoàng giáp).Làm quan: Hàn lâm viện Trớc tác, Tu th ở vận hải sở, Đốc học Quảng Ngãi, Tậphiền viện Thị độc, Kinh diên khởi c chú, Thị độc học sỹ, án sát Hng Yên

8 Nguyễn Thái Đễ (1803 - ?)

Ngời xã Văn Trờng, nay là xã Yên Sơn, huyện Đô Lơng 46 tuổi đậu Cửnhân (1848) (nguyên đậu Cử nhân năm 1834 nhng bị truất do lỗi quan chấm thi)

47 tuổi đậu Đệ tam giáp Tiến sĩ, khoa Kỷ Dậu – Tự Đức 2 (1849) Làm quan: Hànlâm viện biên tu, Tập hiền viện Thị độc, Kinh diên khởi c chú

29 Nguyên Thái Tuân (1839 - ?) (gia phả ghi tên là Khai)

Trang 22

Ngời làng Yên Tứ, nay là xã Yên Sơn, huyện Đô Lơng 40 tuổi đậu Cử nhân(1879) 42 tuổi đậu Phó bảng, khoa Canh Thìn – Tự Đức 33 (1880) Làm quan: Triphủ Quỳ Châu Ông cùng cha là Nguyễn Thái Đễ tham gia nghĩa quân Cần Vơngchống Pháp.

30 Nguyễn T Tái (1869 - ?)

Ngời làng Trung Cần, xã Nam Trung, huyện Nam Đàn 26 tuổi đậu Cử nhân(1894) 36 tuổi đậu Phó bảng, khoa Giáp Thìn – Thành Thái 16 (1904) Làm quan:Tri huyện Phong Điền

31 Nguyễn Văn Chấn (1856 -?)

Ngời xã Xuân Hồ, nay là xã Xuân Hoà, huyện Nam Đàn 39 tuổi đậu Cửnhân á nguyên (1849), 40 tuổi đậu Phó bảng, khoa ất Mùi – Thành Thái 7(1895) Làm quan: Đốc học, về hu trí

32 Nguyễn Văn Giao (1812 – 1864)

Ngời làng Trung Cần, nay là xã Nam Trung, huyện Nam Đàn Đậu Cử nhânkhoa Giáp ngọ (1834), do việc quan chấm thi sửa điểm nên bị đánh hỏng Ông vềquê dạy học, đến khoa Nhâm Tý (1852) đậu lại Cử nhân (Giải nguyên) 42 tuổi thiHội đậu Đệ nhất Tiến sĩ cập đệ Đệ tam danh nhị danh (Thám hoa thứ nhì), khoaQuý Sửu – Tự Đức 6 (1853) Làm quan: Hàn lâm viện Trớc tác, Nội các Bí th sởHành tẩu, Thừa chỉ, Thị giảng học sỹ, Tham biện nội vụ Khi mất đợc tặng hàmQuang lộc Tự khanh

33 Nguyễn Viết Tuyên (1860 -?)

Ngời xã Khê Trung, nay là xã Nghi Hoà, huyện Nghi Lộc, Đậu Cử nhân năm

1988 Đậu Phó bảng khoa Mậu Tuất – Thành Thái 10 (1898) 38 tuổi làm quan:Giáo thụ huyện Quảng Ninh (Quảng Bình) trớc thi Hội, Đốc học Khánh Hoà

34 Nguyễn Xuân Ôn (1830 – 1889)

Ngời xã Lơng Điền, nay xã Diễn Thái, huyện Diễn Châu 38 tuổi đậu Cửnhân (1867) 42 tuổi đậu Đệ tam giáp Tiến sĩ, khoa Tân Mùi – Tự Đức 24 (1871)

Trang 23

Làm quan: Hàn lâm Biên tu, Tri phủ Quảng Ninh, Đốc học Bình Định, Giám sátNgự sự, Chởng ấn Lễ khoa, Biện lí bộ Hình.

35 Nguyễn Xuân Thởng (1960 – 1948)

Ngời làng Dơng Liễu, nay là xã Nam Trung, huyện Nam Đàn 35 tuổi đậu

Cử nhân (1847) 42 tuổi đậu Phó bảng khoa Tân Sửu – Thành Thái 13 (1901).Làm quan: Trớc tác, Giáo thụ phủ T nghĩa, Tri huyện Can Lộc Về hu đợc tặngHồng Lô tự thiếu khanh, thờng gọi là cụ Hờng Mở trờng dạy học (1824)

38 Phan Dỡng Hạo (1809 – 1952) (sau đổi tên Thúc Trực)

Ngời xã Vân Tụ, nay là Khánh Thành, huyện Yên Thành Nguyên là Tú tàiGiám sinh 40 tuổi đậu Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ tam danh (Thám hoa) Đìnhnguyên khoa Đinh Mùi – Thiệu Trị 7 (1847) Làm quan: Hàn lâm viện Trớc tác,Tập hiền Thị giảng, Kinh diên khởi c chú, Vâng lệnh vua đi su tầm sách ở Bắc Kỳ,lâm bệnh mất, truy tặng hàm Thị giảng học sỹ

39 Phan Đình Thực (1821 – 1872).

Ngời xã Võ Liệt, nay là xã Thanh Long, huyện Thanh Chơng Đậu Cử nhânnăm 1842 Đậu Phó bảng khoa Tân Hợi – Tự Đức 4 (1851) Làm quan: án sátNam Định, Biện lý bộ hình, hàm Hồng lô Tự thiếu khanh Bị tội sung đi hiệu lực ởTam tuyên quân thứ Về quê, ốm nặng mất khi 52 tuổi

40 Phan Sỹ Thục (1822 – 1891)

Trang 24

Ngời xã Võ Liệt, huyện Thanh Chơng 25 tuổi đậu Cử nhân (1846) 28 tuổi

đậu Đệ tam giáp Tiến sĩ, khoa Kỷ Dậu – Tự Đức 2 (1849) Làm quan: Tri phủKiến Thụy, Tuyên phủ sứ, Quản đạo Phú Yên, Lang trung bộ lại, Bố chánh QuảngNgãi, Tuần phủ Quảng Trị, Thị lang bộ hình Bị biếm chức về quê, phục dụng Đốchọc Nghệ An, làm Quan lộc Tự khanh Ông từng làm chánh sứ sang Trung Quốc

41 Trần Huy Phác (1797- 1842)

Ngời xã Đông Luỹ, nay là xã Diễn Phong, huyện Diễn Châu Đậu Cử nhânnăm 1821 33 tuổi đậu Đệ tam giáp Tiến sĩ (Hội nguyên), khoa Kỷ Sửu – MinhMệnh 10 (1829) Làm quan: án sát Lạng Sơn, Bố chánh Cao Bằng, Viên ngoại lang

bộ Lễ, án sát Quảng Bình, án sát Thanh Hoá Vì can gián không hợp ý vua bị cáchchức, đi hiệu lực ở Tân Gia Ba, mất trên đờng biển, đợc truy tặng Lễ bộ chủ sự

42 Trần Hữu Dực (1821 – 1861)

Ngời xã Đăng Cao, nay là xã Quỳnh Giang, huyện Quỳnh Lu Đậu Cử nhânnăm 1850 31 tuổi đậu Đệ tam giáp Tiến sĩ (Khoa Bác học hoành tài – Chế tài Cátsỹ), khoa Tân Hợi – Tự Đức 4 (1851) Làm quan: Hàn lâm viện tu soạn, Tri phủVĩnh Tờng, Tập hiền viện, Kinh diện khởi c chú Ông mộ binh chống Pháp, cha kịp

đi thì mất

43 Trần Vĩ (1840 - ?)

Ngời xã Thọ Mai, nay là xã Mai Hùng, huyện Quỳnh Lu 22 tuổi đậu Cửnhân (Giải nguyên 1861) 26 tuổi đậu Phó bảng, khoa ất Sửu – Tự Đức 18 (1865).Làm quan: Đốc học Quảng Nam, bị giáng chức sung đi hiệu lực

44 Văn Đức Giai (1897 – 1864) (còn có tên là Khuê)

Ngời xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lu 37 tuổi đậu Cử nhân (1843) 38 tuổi

đậu Đệ tam giáp Tiến sĩ khoa Giáp Thìn – Thiệu Trị 4 (1844) Làm quan: Tuầnphủ Quảng Yên, Bố chánh sứ, Tán lý quân thứ Hải yên Từng mộ quân chống Phápvào tòng chinh quân thứ Gia Định

45 Vũ Nguyên Danh (? – 1858)

Trang 25

Ngời xã Thanh Viên, nay thuộc xã Sơn Hải, Quỳnh Lu Đậu Cử nhân năm

1840 Đậu Phó bảng khoa Tân Sửu – Thiệu Trị 1 (1821) Làm quan: Hàn lâm việnHiệu thảo, Tri phủ Thiên Phúc, Giám sát Ngự sử, án sát Gia Định, mất tại lị sở

46 Vũ Văn Cầu

Ngời xã Hảo Hợp, nay là xã Nghi Thu, Thị xã Cửa Lò Đậu Cử nhân 1855

Đậu Phó bảng khoa Nhâm Tuất – Tự Đức 15 (1862) Làm quan chức Tri huyện

47 Vơng Danh Khôi (1849 - ?)

Ngời xã Vân Sơn, nay là xã Vân Diên, huyện Nam Đàn 36 tuổi đậu Cử nhân(1844) 44 tuổi đậu Phó bảng, khoa Nhâm Thìn – Thành Thái 4 (1892) (nguyênthi Hội ất Dậu (1885) đã trúng thử cách nhng vì Kinh thành thất thủ cha kịp yếtbảng) Làm quan: Tu soạn, sung Tu th sử tập

48 Vơng Đình Trân (1871 - ?)

Ngời xã Vân Diên – Nam Đàn 24 tuổi đậu Cử nhân (1974) 25 tuổi đậuPhó bảng, khoa ất Mùi – Thành Thái 7 (1895) Làm quan đến Tri phủ

49 Đinh Nhật Thận hay Viết Thận (1814 - 1887).

Ngời xã Thanh Liêu, nay xã Thanh Tiên, huyện Thanh Chơng Đậu Cử nhânnăm 1837, năm 25 tuổi đậu Tiến sĩ khoa Mậu Tuất – Minh Mạng 19 (1858) LàmTri phủ, can tội bị cách chức

50 Lê Doãn Nhạ (1837 - ?).

Ngời xã Quan Trung, nay xã Sơn Thành, huyện Yên Thành, 31 tuổi đậu Cửnhân (1867), 37 tuổi đậu Phó bảng khoa Tân Mùi – Tự Đức (1871) Làm quan:Sơn phòng sứ Nghệ An

51 Lê Xuân Mai (1870 - 1945)

Ngời làng Phú Hậu, xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lu 24 tuổi đậu Cử nhân(1897) 37 tuổi đậu Phó bảng, khoa Canh Tuất – Duy Tân 4 (1910) Làm quanThừa biện bộ lại, Tri phủ

Trang 26

52 Nguyễn Hữu Chính (1829- 1887)

Ngời xã Đông Hải, nay xã Phúc Thọ, huyện Nghi Lộc 45 tuổi đậu Cử nhân(1873) 47 tuổi đậu Đệ nhị giáp Tiến sĩ (Hoàng giáp), khoa ất Hợi – Tự Đức 28(1875) Làm quan : Thơng biện Nghệ An, sử quán toản tu

53 Nguyễn Hữu Điển (1825 - 1858)

Ngời xã Đại Đồng, nay xã Thanh Văn, huyện Thanh Chơng 22 tuổi đậu Cửnhân (1846) 29 tuổi đậu Đệ tam giáp Tiến sĩ, khoa Quý Sửu – Tự Đức 6 (1853).Làm quan: Tri phủ Bình Giang

54 Nguyễn Hữu Lập (1824 - ?)

Ngời làng Trung Cần, nay xã Nam Trung, huyện Nam Đàn, hiệu Nọa Phu

27 tuổi đậu Cử nhân (Giải nguyên 1850) 39 tuổi đậu Đệ nhị giáp Tiến sĩ (Hoànggiáp), khoa Nhâm Tuất – Tự Đức 15 (1862) Làm quan: Huấn đạo Can Lộc, ViệnHàn lâm, Chánh sứ Thanh, thăng Tham tri bộ Binh

55 Nguyễn Sĩ ấn (1816 - ?)

Ngời xã Thanh Lơng, huyện Thanh Chơng Đậu Cử nhân năm 1843 28 tuổi

đậu Phó bảng, khoa Giáp Thìn – Thiệu Trị 4 (1844) Làm quan : Thị giảng học sĩ

56 Nguyễn Sinh Sắc (1862 - 1929)

Ngời xã Chung Cự, nay xã Kim Liên, huyện Nam Đàn 33 tuổi đậu Cử nhân(1894) 40 tuổi đậu Phó bảng, khoa Tân Sửu – Thành Thái 13 (1901) Làm quan:Hành tẩu bộ Lễ, Tri huyện Bình Khê

57 Phan Duy Phổ (1855 - ?)

Ngời xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lu 28 tuổi đậu Cử nhân(1882) 53 tuổi

đậu Phó bảng, khoa Đinh Mùi – Thành Thái 19 (1907) Nguyên thi Hội khoa ấtDậu (1885) đã trúng thứ cách đợc vào thi Đình nhng vì quân Pháp vào gây hấn nên

đến năm 1907 lại vào Điện thi đậu Phó bảng

58 Phan Hữu Tính (1774 – 1831)

Trang 27

Ngời xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lu 48 tuổi đậu Giải nguyên thi Hơng(1821) 49 tuổi đậu Đệ tam giáp Tiến sĩ, khoa Nhâm Ngọ – Minh Mạng 3 (1822).Làm quan: Đốc học Định Tờng, Lang trung bộ Lại, T nghiệp Quốc tử giám.

59 Trần Đình Phong (1843 – 1909)

Ngời xã Yên Mã, nay là xã Mã Thành, huyện Yên Thành, đậu Cử nhân năm

1876 Đậu Đệ tam giáp Tiến sĩ, khoa Kỹ Mão – Tự Đức 32 (1897) Làm quan: Trihuyện Thọ Xuân, Đốc học Quảng Ngãi Cáo quan về nhà

2.1.2 Những nhà Nho xứ Nghệ, sau khi đỗ đạt đã đảm nhận những nhiệm

vụ trên nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có nhiều ngời trở lại phục vụ giáo dụcNho học và có nhiều cống hiến to lớn cho nền Giáo dục nớc nhà Đó có thể nói làchỗ đứng vinh quang nhất, tôn vinh học thức uyên thâm của họ Các vị khoa bảngNghệ An làm quan Tế tửu (Hiệu trởng trờng Quốc tử giám) có: Cao Xuân Dục, LêBá Đôn Giữ chức T nghiệp (phó Hiệu trởng) có Văn Đức Giai Ngoài ra còn cócác vị giữ chức Hàn lâm và dạy ở Quốc tử giám nh Nguyễn Đức Đạt Một số nhàKhoa bảng Nghệ An còn vinh dự đợc vời vào triều để dạy cho Thái tử và Hoàngtộc nh Cao Xuân Dục, Nguyễn Văn Giao, Phan Thúc Trực, Nguyễn Trí Danh

Nhà nớc phong kiến Việt Nam còn tổ chức các khoa thi Hơng, thi Hội, thi

Đình để tuyển chọn ngời tài vào bộ máy cai trị nên các vị phụ trách các khoa thi

đều là các bậc thầy về Nho học Sau đây là danh sách các vị là ngời Nghệ An từnggiữ chức chánh (phó) chủ khảo trờng thi và các khoa thi Hơng, thi Hội, thi Đình:

1 Phan Đình Thực (Phó bảng): ngời xã Võ Liệt, Thanh Chơng Làm phó

chủ khảo trờng Thừa Thiên, ân khoa Mậu Thân – Tự Đức 1 (1848) và trờngThanh Hóa 1868

2 Lê Lợng Bạt: làng Xuân Tình, Nghi Lộc Làm chủ khảo trờng Thừa

Thiên, khoa Giáp Tý – Tự Đức 17 (1864) Chủ khảo trờng Nam Định khoa CanhNgọ – Tự Đức 23 (1870)

3 Nguyễn Hữu Lập (Tiến sĩ): làng Trung Cần, Nam Đàn Làm phó chủ

khảo trờng Nam Định, khoa Đinh Mão – Tự Đức 20 (1867) Chủ khảo trờng

Trang 28

Thừa Thiên, khoa Quý Dậu – Tự Đức 26 (1873) Chủ khảo trờng Hà Nội, khoaGiáp Tuất – Tự Đức 27 (1874).

4 Nguyễn Đôn (Cử nhân): làng Xuân Liễu, Nam Đàn Làm phó chủ khảo

trờng Thanh Hóa, khoa Quý Dậu – Tự Đức 26 (1873)

5 Nguyễn Đức Đạt (Thám hoa): Nam Hoành – Nam Đàn Làm chủ khảo

trờng Hà Nội, khoa Giáp Tuất – Tự Đức 27 (1874) Tổng giám thị tại kinh thànhHuế năm 1865

6 Phan Sỹ Thục (Tiến sĩ): Võ Liệt – Thanh Chơng Chủ khảo trờng Hà

Nội, khoa Bính Tý – Tự Đức 29 (1876)

7 Cao Xuân Dục (Cử nhân): Thịnh Mỹ - Diễn Châu Chủ khảo trờng Hà

Nam, khoa Giáp Ngọ – Thành Thái 6 (1894) Chánh chủ khảo khoa thi Hội

2.2 NHữNG ĐóNG GóP CủA NHO Sĩ NGHệ AN TRÊN LĩNH VựC VĂN HóA TƯ TƯởNG

Mảnh đất xứ Nghệ không những đã sản sinh ra một đội ngũ trí thức Nho sĩcống hiến cho triều đình mà chính đội ngũ trí thức đó còn để lại cho thời đại bấygiờ những đóng góp to lớn trên lĩnh vực văn hoá t tởng Nhiều nhà khoa bảngNghệ An đã trở thành những gơng mặt văn hoá tiêu biểu của cả nớc Chính trongbối cảnh đầy biến động của đất nớc, họ càng thể hiện rõ vai trò của mình trong sựnghiệp gìn gữ và bảo vệ Tổ quốc Trong cuốn “Lịch sử t tởng Việt Nam”( tập II)

của Lê Sĩ Thắng đã giới thiệu 9 nhà t tởng tiêu biểu của Việt Nam thế kỷ XIXtrong đó có 3 nhà t tỏng ngời Nghệ An là Nguyễn Đức Đạt, Nguyễn Xuân Ôn vàNguyễn Trờng Tộ Trong cái buổi giao thời đầy rối ren và loạn lạc, giữa lúc cái cũ

và cái mới giằng xé nhau, những nhà trí thức xứ Nghệ đã thể hiện rõ vai trò củamình trong việc thức thời nhận thức đợc yêu cầu canh tân đất nớc mà đi đầu trongphong trào đó là Nguyễn Trờng Tộ Điều đó nói lên rằng ở nhà Nho xứ Nghệnghĩa vụ vì dân vì nớc luôn đợc đặt lên đầu

Trang 29

Sau đây xin giới thiệu một số Nho sĩ tiêu biểu có đóng góp trên lĩnh vực vănhóa, t tởng.

2.2.1 Nguyễn Văn Giao

Nguyễn Văn Giao sinh năm 1811, mất năm 1864, hiệu là Đạm Nh, ngờilàng Trung Cần, nay xã Nam Trung huyện Nam Đàn Ông đậu Thám hoa năm1853

Ông là một nhà Nho lỗi lạc đã để lại rất nhiều tác phẩm có giá trị nh:

Làng Thanh Liêu nơi Đinh Nhật Thận ra đời ở trên một ngã ba, nơi consông Giăng đổ vào sông Lam Thực tế cuộc sống phải đối chọi với thiên nhiên và

để hoà hợp với cộng đồng đã tạo cho c dân vùng này một khí cốt riêng mà từ lâu

đã nổi tiếng là “trai Cát Ngạn

Trang 30

Từ bé Đinh Nhật Thận đã có dáng khôi vĩ và sớm tỏ ra là ngời hiếu đễ, sớm

để tâm đến việc học Ngoài kinh sử, truyện, Đinh Nhật Thận còn ham học cácsách y học, dợc tính Sau này sách “Đăng khoa lục”chép: “Ông (Đinh Nhật Thận ) nổi tiếng có tài nhớ sách, đọc qua một đợt là nhớ…Khi ông làm quan ở Kinh,

có ngời muốn thử tài ông, đa cho ông một cuốn từ điển Ông nhận sách đọc, ngày hôm sau trả lời mặc cho ngời kia muốn hỏi gì thì hỏi ông đều nhớ hết và trả lời rất rành mạch”[3.32]

Mặc dù sức học và tài văn chơng của Đinh Nhật Thận không thua ai nhngcon đờng công danh lại không rộng mở với ông Khoa thi Hơng năm Đinh Dậu(1837), ông mới đỗ Cử nhân mà lại liệt vào loại lấy thêm Năm 1838 Đinh NhậtThận đỗ đầu số Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ Sau khi đỗ đại khoa ông đựơc bổ đi làmTri phủ Sách “Đăng khoa lục” cũng chép: ông “bổ Tri phủ, vì can tội, sau đ ợc tha, phải đi hiệu lực” Thực ra hiện nay cha rõ Đinh Nhật Thận đợc bổ quan vào

năm nào, ở đâu, thời gian nào? Khi làm quan ông can tội gì, hình phạt nh thế nào

mà sau đợc tha? Song một điều ai cũng biết ông cũng nh rất nhiều nhà Nho xứNghệ khác không ham danh hoa, không thích quan lộ (ngời địa phơng truyền tụng

là cụ Nghè Đinh say mê nhất là giao du đây đó, làm thuốc làm thơ, còn việc cụ bịcan tội thì nh ta biết cụ là bạn chí thân của Nguyễn Hàm Ninh và Cao Bá Quát)

Sau khi đỗ đại khoa, Đinh Nhật Thận đợc làng cấp cho 5 mẫu học điền ởcánh đồng Gia Hội ở đó, ông để phần lớn ruộng của mình cho bà con cày màkhông thu một phần hoa lợi nào Ông còn tổ chức khai khẩn thêm và chiêu mộ ng-

ời đến lập thành làng Gia Hội Ông vui thú điền viên ở đó và lấy việc giao kết vớibạn hữu bằng xa làm trọng

Những bậc tài năng xuất chúng thì cuộc đời thờng ngắn ngủi, Đinh NhậtThận qua đời ở tuổi 52 nhng sự nghiệp y học và thi ca của ông thì mãi sống vớingời đời sau Tác phẩm tiêu biểu của ông là “Thu dạ lữ hoài” đợc viết bằng chữHán Đợc xem nh một “Chinh phụ ngâm ” thứ hai Nguyễn Văn Để đã nhận xét

về ông: “Thật trời đã khéo tây vị mà dành riêng cho cụ một khối óc thông minh, một lá gan hào hùng, có lẽ chung đúc lại bởi khí thiêng của sông Lam, núi Hồng

Trang 31

là nơi cụ sinh trởng Lấy văn chơng và phẩm hạnh, cụ đã là Thái Sơn, Bắc Đẩu cho vùng Hoan - ái là đất tài ba văn vật có tiếng xa nay ” [18.152]

2.2.3 Hoàng Phan Thái (1819 - 1865).

Hoàng Phan Thái, tên chữ là Hoàng Đại Hữu, hiệu là Trí Kiêu tử, ngời thôn

Cổ Đan, nay là xã Phúc Thọ, huyện Nghi Lộc Cụ thân sinh là Tú tài Hoàng ThừaDoãn Cha mất sớm, nhà nghèo, nên Hoàng Phan Thái đợc mẹ tằn tiện nuôi cho ănhọc Ông là ngời thông minh, mẫn tiệp Từ nhỏ đã đợc mọi ngời biết đến bởi tài

đối đáp nhanh

Lớn lên, thi lần nào cũng phạm trờng quy, mặc dù đợc các nhà Nho NghiLộc xếp đầu hàng trong đám tứ hổ (Thái, Bảo, Yên, C) Ông chỉ đậu đầu xứ Cuốicùng ông ở nhà làm nghề dạy học Vừa dạy học vừa tìm bạn tâm giao, thờng ngâmhai câu thơ:

Phong vũ tứ thời thanh tự hạc

Càn khôn song nhãn tiểu loa”

(Đại ý là :ma gió bốn mùa, ta đây vẫn trong nh tiếng hạc/Đất trời bao la thâu tóm vào hai con mắt nhỏ nh hai con ốc của ta).

Học trò theo học khá đông và có nhiều ngời đỗ đạt hiển vinh ra giúp ích cho

đời Nhng hình nh việc dạy học đối với ông chỉ là phơng tiện nhất thời, việc tìmbạn đồng chí để cùng nhau vút cánh chim bằng, làm đảo lộn giang sơn, mới là cứucánh, nên ông không ngần ngại khi bộc lộ cái sở trờng học thức uyên thâm củamình Ông chỉ mong sao “bay vút tận muôn trùng Tiêu Hán, phá vòng vây bạn với Kim Ô”.

Bất mãn với triều đình phong kiến nhà Nguyễn, lại có lòng yêu nớc thơngdân, ông muốn đem tài sức của mình “đạp đổ phù đồ”, “xoay cơn khí số” Ông ralàm quân s cho Lê Duy Uẩn nhằm lật đổ triều đình Tự Đức và chống Pháp xâm l-

ợc Nhng sự nghiệp cha thành thì ông bị bắt và bị nhà Nguyễn xử tử

Trang 32

Mặc dù cha đợc tung hoành nơi chiến trận rồi bỏ mình vì dân vì nớc, nhngcuộc đời của Hoàng Phan Thái đã để lại cho ngời đời sau thấy đợc cái cốt cáchcứng cỏi, khí phách hào hùng của ngời con xứ Nghệ Hơn 30 năm sau, Phan BộiChâu đã su tập những t liệu về ông, viết cuốn “Hoàng Đại Hữu tiên sinh chuyện”,

đã ca ngợi ông là ngời có tinh thần cách mạng, đề cao ông lên địa vị “ông tổ”, mở

đầu cho công cuộc chống quân quyền ở Việt Nam, vừa có xu hớng dân chủ, vừa

có xu hớng dân tộc Ông đã để lại những tác phẩm tiêu biểu nh: “Tr ơng Lơng tô

đa bệnh , Đầu Hạng Vũ , Bình nhung ngũ sách ” “ ” “ ”

2.2.4 Nguyễn Đức Đạt (1824 – 1887)

Nguyễn Đức Đạt, tự là Khoát Nh, hiệu là Nam Sơn chủ nhân, lại có hiệu là

Nam Sơn dỡng tẩu, Khả Am tiên sinh, ngời làng Hoành Sơn, xã Nam Hoa, tổng

Trung Cần, nay là xã Khánh Sơn, huyện Nam Đàn

Nguyễn Đức Đạt sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống khoabảng Ông là con của Cử nhân Nguyễn Đức Diệu, cháu của Cử nhân Nguyễn Đức

Ký, anh của Cử nhân Nguyễn Đức Huy, anh họ Cử nhân Nguyễn Đức Quý, chacủa Cử nhân Nguyễn Đức Đản, chú của Phó bảng Nguyễn Đức Vận

Từ nhỏ, Nguyễn Đức Đạt đã nổi tiếng là ngời thông minh, uyên bác Năm

24 tuổi, ông thi Hơng trúng Cử nhân Năm 30 tuổi đậu đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ

Đệ tam giáp (Thám hoa) Cũng từ đó con đờng công danh của ông rộng mở Ông

đã từng trải qua các chức Đốc học, Tuần phủ, Tham tri, Tham tri bộ binh Vốntính cơng trực, thanh liêm, sớm chán cảnh quan trờng, lấy cớ mẹ già ốm, ông cáoquan về nhà dạy học, viết sách

Năm 1885, khi vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vơng, Nguyễn Đức Đạt, lúcbấy giờ đã 62 tuổi, có đến hành lễ ra mắt vua và đợc phong là “Lại bộ Thợng thlĩnh An Tĩnh Tổng đốc” Về quê, ông cùng em con chú là Hội nguyên, Đìnhnguyên hoàng giáp Nguyễn Đức Quý dựng cờ nghĩa tại Nam Sơn để tập hợp nghĩabinh Khi nghĩa quân phải rút lên thợng du Thanh Chơng, Nguyễn Đức Đạt già

Trang 33

yếu phải lánh ở quê nhà và gần một năm sau ông qua đời, hởng dơng 64 tuổi (12 1887).

-Sinh thời, Nguyễn Đức Đạt nổi tiếng là một nhà t tởng lỗi lạc, không những

đợc các văn thân sỹ phu trong tỉnh ngỡng mộ mà còn đợc triều đình trọng dụng

Ông là một thầy giáo mẫu mực Trờng học của ông rất nổi tiếng có hàng ngàn họctrò từ khắp nơi đến thụ giáo Để phục vụ cho việc dạy học, ngoài các giáo trình

nh “Nam Sơn song khoá phú tuyển”, “Nam Sơn song khoá chế nghĩa , Nam” “

Sơn tùng thoại”, ông còn soạn thêm Đăng Long văn tuyển“ ”, “Khả Am văn tập ,

Nam Sơn di thảo

“ ”…Đáng chú ý nhất là “Nam Sơn tùng thoại” - một tác phẩmviết theo thể ngữ lục gồm 32 chơng phát triển một số quan điểm trong sách kinh

điển Nho gia để bàn về đạo làm vua, về pháp chế, học vấn đơng thời Bộ sách này

đã nâng ông lên không chỉ là một nhà giáo dục có tài mà còn là một nhà giáo dụcuyên thâm Ông có một số quan điểm khá xác đáng phù hợp với đạo đức truyềnthống của dân tộc: bàn về trị đạo, ông đề cao việc dùng ngời tài, phải đối đãi bằng

lễ, vua phải là một đấng minh quân và nớc phải có pháp luật Là một nhà Nho, mộtngời thầy nhng Nguyễn Đức Đạt lại cho rằng bạn hơn thầy Quan niệm của ônggần gũi với quan niệm dân gian “Học thầy không tày học bạn” ông giải thích rằng

soi tối phải dùng đèn, đèn để tìm cái không thấy, đỡ ng

làm vững những ai không đi vững, trong tăm tối, tâm không tự soi đợc phải nhờ

đèn để soi, thân thể yếu đuối không thể tự đỡ đợc phải nhờ gậy để đỡ Sách là

đèn, bạn là gậy, trên bàn không có sách, trong nhà không có bạn thì khác nào quăng gậy, cất đèn” [17.159, 160]

Nguyễn Đức Đạt dạy theo lối vấn đáp, lấy ví dụ trong thực tế và dùng

ph-ơng pháp tph-ơng đồng khi so sánh Có thể thấy đây là một phph-ơng pháp ít thấy trongnền giáo dục Nho học xa Một phần uy tín lớn lao của ông trong học giới lúc bấygiờ có lẽ cũng nhờ phơng pháp giáo dục này

Không chỉ là một nhà giáo dục có tài, một nhà triết học uyên thâm, Nguyễn

Đức Đạt còn bộc lộ một tấm lòng yêu nớc thơng dân sâu sắc Chính ông là một

Trang 34

trong nhiều nhà Nho xứ Nghệ tham gia hởng ứng chiếu Cần Vơng rầm rộ ở Nam

- Cảm tác khi thuyền qua bến An Thuận

- Mậu Tý niên nguyên đán cảm tác

- Văn tứ trấn bất thủ cảm tác

- Sớ xin dứt việc hoà hảo để khích lệ lòng ngời

Trang 35

2.2.6 Nguyễn Trờng Tộ (1830 – 1871)

Trên trờng chính trị Việt Nam cuối thế kỷ XIX, Nguyễn Trờng Tộ đợc đánhgiá là một trong những gơng mặt tiêu biểu nhất, là hiện thân của xu hớng duy tân

đất nớc

Nguyễn Trờng Tộ là con ông Nguyễn Quốc Th, ngời làng Bùi Chu, tỉnh Hải

Đô (nay là xã Hng Yên) huyện Hng Nguyên, tỉnh Nghệ An Thuở nhỏ ông theoNho học Nhà ông vốn theo đạo Thiên Chúa, bị triều đình Huế liệt vào loại “dĩu dân” (dân không lơng thiện chỉ làm việc xấu xa), do đó không đợc đi thi, mặc dầu

thiên t rất thông minh (nhân dân địa phơng thờng gọi là Trạng Tộ) Năm 1958,chiến hạm Pháp bắn phá Đà Nẵng mở đầu cuộc xâm lợc nớc ta, cũng là lúcNguyễn Trờng Tộ đợc nhà dòng Tân ấp mời dạy chữ Hán Thấy ông ham hiểubiết, giám mục Gô-chi-ê (Gauthiér: Ngô Gia Hậu) dạy ông học chữ Pháp và Khoahọc tự nhiên Năm 1860, ông theo giám mục Gô-chi-ê qua ý rồi sang Pháp, lu lạihọc tập ở Pa-ri vài năm Ông tranh thủ mọi thời gian đọc sách, đi thăm các nơidanh lam thắng cảnh, các di tích lịch sử và tìm hiểu các hoạt động chính trị xã hộilúc bấy giờ Chính ông cũng đã nói: “Về học vấn thì môn gì tôi cũng để ý, đến trên là thiên văn cao xa, dới là địa lý sâu sắc, giữa là nhân sử phiền phức, cho

đến luật dịch, binh th, bách nghệ cách trí, thuật số đều là nghiên cứu đến nơi cả”[16.3.130]

Sau khi đã trang bị đầy đủ những kiến thức về lý thuyết và thực tế, năm

1861, ông trở về nớc làm thông ngôn cho Pháp Biện minh cho lần “sa chân lỡ ớc” đó, trong “Trần tình khải”, Nguyễn Trờng Tộ nói rằng “Kịp đến khi ng ời Pháp gây hấn với ta tôi đã chối từ những lời mời của họ nhng sau nghĩ tình thể nớc ta hiện nay hoà là thợng sách , vì cha đủ sức chống chọi đợc với họ, cho nên nén lòng mà theo họ đã, nh thế thì may ra góp đợc phần nhỏ với việc bàn hoà”[16.3.131] Chủ trơng hoà của Nguyễn Trờng Tộ tất nhiên không tránh khỏi

b-sai lầm vì trong điều kiện lúc bấy giờ chỉ có trên cơ sở đánh mạnh thì mới có thểbàn việc hoà có lợi cho ta Hơn nữa thực tế lịch sử của nớc ta trong những năm 60của thế kỷ XIX lại có thể đánh và đánh thắng Pháp Nhng cũng cần lu ý là chủ tr-

Trang 36

ơng “chủ hòa” của Nguyễn Trờng Tộ khác hẳn với chính sách “chủ hoà” của triều

đình nhà Nguyễn lúc đó Nguyễn Trờng Tộ kịch liệt chống lại đờng lối ngoại giaocầu xin và đem tiền bạc để đút lót của nhà Nguyễn Ông chủ trơng hoà để duy tân,làm cho nớc nhà giàu mạnh

Canh tân đất nớc trở thành vấn đề bức thiết của lịch sử dân tộc TheoNguyễn Trờng Tộ, nếu không canh tân đất nớc nhất định sẽ thua kém thiên hạ Và

nếu việc làm của ta không kịp ng

ời thì hệ trọng sẽ không nhỏ” Chính nhận thức

tính cấp thiết, bức xúc của việc canh tân đất nớc mà Nguyễn Trờng Tộ đã phêphán kịch liệt bọn hủ nho, phê phán triều đình Ông cho rằng sự sai lầm bắt nguồn

từ hệ t tởng mà ông gọi là “Nho phong” Chính vì cái “Nho phong” ấy mà triều

đình đã lúng túng trong việc tìm kiếm và quyết định đợc những biện pháp hữuhiệu để đối phó với Pháp, là nguyên nhân dẫn đến việc mất 6 tỉnh Nam Kỳ

Nguyễn Trờng Tộ quan niệm rất đúng rằng để canh tân đất nớc cần phảitiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật phơng Tây Nhng đổi mới “không phải

là vứt bỏ hết cái cũ mà mu cầu cái mới…Phải lấy cái hay của mình có, còn phải lấy cái hay của thiên hạ mới sáng tạo ra Nh thế cái mới trong thiên hạ có mình cũng có, cái mới mình sẵn có thì thiên hạ lại không có Lấy hai điều biết mà

địch lại một điều biết, nh thể ai dám khinh rẻ nớc mình”[13.118].

Từ tinh thần dân tộc chân chính, Nguyễn Trờng Tộ một mặt đã phân tích

đầy đủ sở trờng của ngời Việt Nam, nhng mặt khác ông cũng đã phân tích những

sở đoản, thậm chí là thiếu sót khi đối chiếu với thế giới Ông đã trình bày với triều

đình Huế những phơng pháp khắc phục những nhợc điểm của ngời Việt Nammình Xã hội lý tởng mà ông mong muốn là ở đó “cao thấp lớn nhỏ đều đ ợc công bằng, thoả nguyện” Trong 8 năm, từ 1863 đến 1871, Nguyễn Trờng Tộ đã liên

tục gửi lên triều đình Huế hơn 60 bản “điều trần” để nghị đổi mới toàn diện đất

n-ớc Tháng 3 - 1963, ông nhờ quan tham tri bộ lại Phạm Phú Thứ chuyển bản điềutrần về tín ngỡng tôn giáo cho triều đình Huế Tiếp đó là các bản điều trần khác vềtình hình chính trị quốc tế (1863), về những biện pháp cải cách (1863), về việc tổchức cho học sinh đi học kỹ nghệ ở nớc ngoài (1866), về việc khai thác tài nguyên

Trang 37

quốc gia (1866), về 6 điều lợi nớc (1866), về thời thế (1866), về các biện phápngăn chặn cuộc xâm lợc mở rộng của Pháp ở miền Nam (1866), về 8 điều cấp cứucủa đất nớc (1867), về thông thơng với nớc ngoài (1871), về tu chỉnh võ bị (1871),

về kinh tế quốc gia (1871), về tình hình các nớc Phơng Tây (1871), về việc nôngchính (1871), về đào tạo nhân tài (1871)…Thế nhng tất cả các lời đề nghị đó đềuvấp phải sự thờ ơ lãnh đạm từ vua Tự Đức và các quan lại trong triều, ngoài nội.Thậm chí trớc thái độ kiên trì của Nguyễn Trờng Tộ, vua Tự Đức có lần đã nổinóng quở trách một cách thiển cận: “Nguyễn Tr ờng Tộ quá tin các điều y đề nghị…Tại sao lại thúc giục nhiều đến thế, khi mà các phơng pháp cũ của trẫm

đã rất đủ đề điều khiển quốc gia rồi? ” [14 222]

Có thể nói, trong trào lu canh tân đất nớc thế kỷ XIX, Nguyễn Trờng Tộ là

sĩ phu tiến bộ tiêu biểu nhất Những t tởng đổi mới của ông phản ánh một cáchtoàn diện nhất tình hình của đất nớc So với các điều trần của Phạm Phú Thứ, BùiViện, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Lộ Trạch…thì các điều trần của Nguyễn Trờng Tộvợt hẳn về các mặt Điều này không có gì là khó hiểu bởi Nguyễn Trờng Tộ vốn làmột sỹ phu yêu nớc nhiệt thành, một nhà bác học có kiến thức uyên thâm, lại đợctiếp xúc với văn minh phơng Tây nên ông sớm đa ra t tởng canh tân đất nớc Đángchú ý hơn, Nguyễn Trờng Tộ còn đợc thừa hởng khí chất cần cù, hiếu học và mộtchút mạo hiểm, thẳng thắn của con ngời Nghệ An Trong cái xã hội mà Nho giáovẫn còn độc tôn, vua vẫn còn là thiên tử, Nguyễn Trờng Tộ đã dám thẳng thắn phêphán nó Có thể coi ông là một “Fukuzawa của Việt Nam”

2.2.7 Hồ Bá Ôn (1842 – 1884)

Hồ Bá Ôn sinh năm 1842 ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lu, trong mộtgia đình nối giòng khoa bảng Ông nội Hồ Bá Ôn là cụ Phó bảng Hồ Trọng Điển,

Đốc học tỉnh Nghệ An Thân sinh là cụ Hồ Trọng Tuấn, thi đậu Cử nhân và đợc bổ

đi làm quan Tri huyện Hoài Yên, Tri phủ Triệu Phong, rồi thăng án sát, liên tiếpnhậm chức ở ba tỉnh: Quảng Yên, Hng Yên, Thái Nguyên

Ngày đăng: 21/12/2013, 12:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w