1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhịp điệu trong thơ mới bảy chữ của chế lan viên

63 1,4K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhịp điệu trong thơ mới bảy chữ của Chế Lan Viên
Tác giả Lê Thị Ngân
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Hoài Nguyên
Trường học Đại học Vinh
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Khoá luận
Năm xuất bản 2006
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 459 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trờng Đại học Vinh Khoa Ngữ văn ---***---Khoá luận tốt nghiệp Nhịp điệu trong Thơ mới bảy chữ của chế lan viên Chuyên ngành : Ngôn ngữ học Giáo viên hớng dẫn : TS.. Sự đổi mới về hình t

Trang 1

Trờng Đại học Vinh Khoa Ngữ văn -*** -

Khoá luận tốt nghiệp

Nhịp điệu trong Thơ mới bảy chữ của

chế lan viên Chuyên ngành : Ngôn ngữ học

Giáo viên hớng dẫn : TS Nguyễn Hoài Nguyên Sinh viên thực hiện : Lê Thị Ngân

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy, cô giáo trong nhiều năm qua đã truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức quý báu.

Vinh, ngày 30/4/2006 Sinh viên thực hiện

Trang 2

Mở đầu

1 Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu

1.1 Nhịp điệu trong thơ gọi tắt là nhịp thơ là một trong những yếu tố

quan trọng tạo nên tiết tấu, giai điệu, âm hởng cho câu thơ, bài thơ có giá trịgóp phần khu biệt thi ca với văn xuôi Nhiều khi, một câu thơ có thể hiểu theonhiều cách khác nhau tuỳ thuộc vào cách ngắt nhịp Những trạng thái, cungbậc tình cảm thờng có sự biến thiên tơng ứng với cách ngắt nhịp trong câu thơ.Cùng với vần thơ và sự hoà phối thanh điệu, nhịp điệu cũng góp phần tạo nêngiai điệu, nhạc tính cho thơ Với mỗi cách ngắt nhịp khác nhau, một câu thơ

sẽ có những cách hiểu qua những âm hởng tơng ứng Giai điệu của thơ đơngnhiên có sức lay động lòng ngời trên cơ sở sự hoà kết nhịp nhàng giữa hìnhthức biểu hiện và nội dung đợc biểu hiện, giữa nhịp điệu và ngữ nghĩa

1.2 Phong trào thơ mới đã đem lại những biến đổi có tính chất nhảy vọt

trong thơ ca Thơ mới là lối thơ không theo quy định của lối thơ cũ, chỉ u tiêncho vần và điệu, không bị gò bó về số câu, số chữ và niêm luật Thơ mới đã

đột phá về ngôn ngữ thơ theo hớng tự do hoá Sự đổi mới về hình thức biểuhiện của thơ mới thể hiện khá nổi bật ở cách ngắt nhịp thơ, nhịp điệu thơ, đặcbiệt sự đột phá về nhịp thơ của thơ mới bảy chữ Thơ mới bảy chữ là sự kếthừa và cách tân thơ cũ - thơ Đơng luật Thơ mới bảy chữ cũng đã gắn liền với

Trang 3

tên tuổi các nhà thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử,Nguyễn Bính, Tế Hanh,Tố Hữu trong đó Chế Lan Viên là một gơng mặt khánổi bật Thơ Chế Lan Viên là một hiện tợng khá đặc biệt, ở đó có sự hoàquyện giữa truyền thống và hiện đại, giữa kế thừa và cách tân, giữa sự nhuầnnhuyễn đằm thắm và những trăn trở sáng tạo Nhịp điêụ trong thơ Chế LanViên nói chung, trong thơ mới bảy chữ nói riêng có nhiều nét độc đáo sángtạo, có những cách tân khá thành công Đây chính là lí do khiến chúng tôimạnh dạn tìm hiểu một khía cạnh trong hình thức biểu hiện thơ Chế Lan Viên

Nhịp điệu trong câu thơ mới bảy chữ Chế Lan Viên làm đề tài khoá luận tốt

nghiệp đại học

1.3 Mục đích nghiện cứu của đề tài là thông qua việc khảo sát nhịp điệu

trong các bài thơ mới bảy chữ của Chế Lan Viên xác định loại nhịp phổ biến

và những biểu hiện về sự cách tân, sáng tạo trong nhịp điệu thơ cùng là giá trịcủa nó trong việc biểu hiện các giá trị nội dung và cảm thụ thơ ca

2 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Đối tợng nghiên cứu

Từ góc độ ngôn ngữ học, khoá luận tập trung khảo sát nhịp điệu trong câuthơ mới bảy chữ của Chế Lan Viên, cụ thể là khảo sát nhịp thơ và cách ngắtnhịp câu thơ

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Chúng tôi đặt ra cho khoá luận phải giải quyết những vấn đề sau đây:

- Khảo sát thơ Chế Lan Viên, xác định tổng số các bài thơ bảy chữ Từ đó xác

định, phân loại các loại nhịp, các cách ngắt nhịp trong câu thơ mới bảy chữ

- Khảo sát tần số xuất hiện để xác định loại nhịp phổ biến đồng thời chỉ ranhững biểu hiện về sự cách tân sáng tạo trong nhịp điệu thơ mới bảy chữ củaChế Lan Viên

- So sánh đối chiếu với thời đại, với các tác giả khác để đánh giá chung về vaitrò của nhịp điệu trong việc biểu hiện ngữ nghĩa và việc cảm thụ thi ca

3 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu

3.1 Nguồn t liệu

3.1.1 Toàn bộ sáng tác thơ của Chế Lan Viên từ 1937-1988 do tác giả Vũ ThịThờng (2002) su tầm và biên soạn gồm 15 tập thơ, 918 bài thơ bao gồm cácthể loại:

- Thơ tự do: 548 bài, chiếm 59.7%

- Thơ tám chữ : 94 bài, chiếm 10.2%

- Thơ bảy chữ : 96 bài, chiếm 10.5%

Trang 4

- Thơ lục bát: 20 bài, chiếm 2.18%

- Thơ sáu chữ : 18 bài, chiếm1.96%

- Thơ năm chữ :136 bài, chiếm 14.8%

- Thơ bốn chữ :6 bài, chiếm 0.065%

3.1.2 Thể thơ mới bảy chữ là t liệu mà khoá luận khảo sát đợc rút ra rừ các tậpthơ sau đây:

- Điêu tàn (1937): 4 bài (Đọc sách, Thu, Xuân, Mơ trăng)

- Sau Điêu tàn (1937 - 1947): 5 bài (Hoàng hôn, Chết giữa mùa xuân, Rừngxuân, Mai đã , Lại thấy thời gian)

- ánh sáng và phù sa (1955 - 1960): 22 bài (Đêm ra trận, Th mùa nớc lũ, Cáchchia, Lại nhà, Cành hoa nhỏ, Nhớ Việt Bắc, Lơng mới, Mẹ, Xem ảnh, Trông

th, Cờ đỏ mọc trên quê mẹ, Gốc nhãn cao, Điện và trăng, Tặng Antokonsky,Chớ hái hoa trong bệnh viện, Xóm cũ, Tra, Tiếng chim, Bay ngang mặt trời,

Ôi chị Hằng Nga cô gái Nga, Ngoảnh lại mùa đông, Tiếng ngô thuốc độc)

- Hoa ngày thờng - chim báo bão (1961-1967): 2 bài (Không ai có thể cứuchúng mày, Cây dẫn em về)

- Đối thoại mới (1967-1973): 18 bài (Chơi chữ về ngõ Tạm Thơng, Hoàngthảo hoa vàng, Tranh ngựa, Im bớt màu hoa, Mây của em, Cây giữa chu kỳ,Chim ấy rau này, Chim biếc Vĩnh Linh, Đọc"Bất khuất", Nhánh đào yêu,Hồng trận địa, Tặng thơ, Liễu cũng chờ em, Trở về Quảng Bá, Xuân vĩnh viễn,Vừa thấy môi hoa, Búp lộc vừng, Nội dung và hình thức)

- Hoa trớc lăng Ngời (1954-1976):1 bài (Bể và ngời)

- Hái theo mùa (1973 - 1977) : 5 bài (Vẫn cành mai ấy, Hoa gạo son, Thỏ thẻhoà bình, Tập qua hàng, Tiếng chim)

- Hoa trên đá I (1977-1984): 15 bài ( Bóng cọ, Hoa táo, Bể, Cành đào NguyễnHuệ, Sen Huế, Trở lại An Nhơn, Tứ tuyệt, Chị Ba, Mồ mẹ, Mùa đậu quả,Nhảy sạp vùng than, Cô gái sênh tiền, Nghe hết câu chèo, Hải đăng, Vàm cỏTây)

- Ta gửi cho mình (1980 - 1985): 5 bài ( Mẹ dân dã, Tiếng trẻ tha, Vải bênsông, Đờng lên biên giới, Vũng Tàu nhớ và quên)

- Hoa trên đá II: 5 bài (Chị T, Viên tĩnh viên, Hoa giấy, Hoa chạc chìu, Nhớ ởrừng)

- Di cảo thơ (I): 9 bài (Chèo tiễn biệt, Đi trốn đi tìm, Hoa dẻ vàng, Nhớ tuổithơ, Chị và em, Cảnh điền viên, Cửa Việt, Về thăm xứ Huế, Đột ngột câychiều )

- Di cảo thơ (II): 3 bài (Lên gác, Không có mùa xuân, Hoa trắng)

Trang 5

- Di cảo thơ (III): 2 bài( Vợt bể, Vờn quê).

- Phơng pháp phân tích miêu tả theo ngữ pháp ngữ nghĩa,ngữ đoạn, mệnh đề(cú pháp ),thành phần câu (chức năng cấu tạo) và thành tố trực tiếp để xác

định các loại nhịp trong thơ mới bảy chữ của Chế Lan Viên

- Phơng pháp so sánh đối chiếu để chỉ ra những sáng tạo và cách tân của ChếLan Viên

4 Đóng góp của khoá luận

- Lần đầu tiên nhịp điệu câu thơ mới bảy chữ của Chế Lan Viên đợc khảo sátmột cách đầy đủ và có hệ thống dới góc độ ngôn ngữ học

- Những kết quả của khoá luận góp phần cung cấp ngữ liệu cho việc nghiêncứu nhịp điệu của thơ mới nói chung T liệu và kết quả của khoá luận có thểứng dụng vào việc giảng dạy thơ trong nhà trờng nói riêng, việc cảm thụ thơ

ca nói chung sâu sắc hơn, hiệu quả hơn

5 Bố cục của khoá luận

Toàn văn khoá luận gồm 71 trang, ngoài phần mở đầu 5 trang, kết luận

2 trang, nội dung khoá luận đợc triển khai thành 3 chơng:

Chơng 1: Giới thuyết xung quanh đề tài

Chơng 2: Nhịp điệu câu thơ mới bảy chữ của Chế Lan Viên

Chơng 3: Nhịp điệu trong quan hệ với vần điệu và thanh điệu trong thơmới bảy chữ của Chế Lan Viên

Trang 6

Chơng 1: Giới thuyết xung quanh đề tài

1 Vài nét về đời và thơ Chế Lan Viên

1.1 Nhà thơ Chế Lan Viên (1920- 1989)

Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, sinh ngày 23 tháng 10 năm

1920 trong một gia đình viên chức nghèo ở Cam Lộ, Quảng Trị Năm 1927,gia đình chuyển vào An Nhơn, Bình Định Ông làm thơ từ lúc 12, 13 tuổi thời

kỳ sống và đi học ở huyện lị An Nhơn Có thơ, truyện ngắn đăng trên các báo

Tiếng trẻ, Khuyến học, Phong hoá từ những năm 1935 - 1936 Cùng với Hàn

Mặc Tử, Yến Lan, Quách Tấn thành lập nhóm thơ Bình Định nổi tiếng và tạo

một dấu ấn độc đáo cho thơ mới đơng thời Khi tập Điêu tàn ra đời năm 1937,

ông mới 17 tuổi và đang là học sinh năm th ba trờng trung học Quy Nhơn.Ngay từ bấy giờ, d luận đã đặc biệt chú ý đến nhà thơ tài năng và đặc sắc này

Năm 1939, Chế Lan Viên ra học tại Hà Nội, rồi vào Sài Gòn làm báo, ra

Thanh Hoá, quay về Huế dạy học Năm 1942 cho ra đời tập Vàng sao và sau

đó viết tập bút ký triết luận Gai lửa.

Ông tham gia Cách mạng tháng Tám trong Quy Nhơn, rồi sau đó ra

Huế tham gia Đoàn xây dựng cùng với Hoài Thanh ,Lu Trọng L, Đào Duy Anh viết bài cho báo Quyết thắng của Việt minh Trung Bộ.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ông hoạt động văn nghệ

và báo chí ở liên khu Bốn và chiến trờng Bình Trị Thiên Tháng 7 năm 1949,

Trang 7

ông đợc kết nạp vào Đảng Những bài thơ đợc sáng tác trong thời kì kháng

chiến đợc tập hợp lại trong tập thơ Gửi các anh (1955), thể hiện sự chuyển

biến quan trọng trong t tởng và hồn thơ Chế Lan Viên

Sau năm 1954, ông về sống ở Hà Nội Tập thơ ánh sáng và phù sa

(1960) là một thành công đặc sắc, đánh dấu bớc phát triển mới của thơ ChếLan Viên

Bớc vào cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nớc, thơ Chế Lan Viên đã đạt

nhiều thành tựu mới với các tập Hoa ngày thờng - Chim báo bão (1967),

những bài thơ đánh giặc (1972), Đối thoại mới (1973) mang đậm chất chính

luận sử thi bên cạnh chất trữ tình đằm thắm của cuộc sống đời thờng Saungày đất nớc giải phóng, ông vào sống ở Thành phố Hồ Chí Minh và tiếp tục

cho ra đời các tập thơ Hái theo mùa (1977), Hoa trên đá (1984), Ta gửi cho

mình (1986).

Chế Lan Viên còn là cây bút văn xuôi đặc sắc với các tập bút ký Vàng

sao (1942), Thăm Trung Quốc (1963), Những ngày nổi giận (1966), Giờ của

số thành (1977) Các tập tiểu luận - phê bình của ông cũng gây tiếng vang

rộng rãi và có tác động tích cực vào đời sống văn học nh Vào nghề (1962),

Phê bình văn học (1962), Suy nghĩ và bình luận (1971), Nghĩ cạnh dòng thơ

(1981), từ gác khuê văn đến quán Trung Tân (1981)

ông còn tham gia lãnh đạo Hội nhà văn Việt Nam, tham dự nhiều diễn

đàn văn hoá quốc tế ở Liên Xô, Pháp, Nam T, ân Độ, Na Uy, Thuỵ Điển và là

đại biểu quốc hội nhiều khoá

Chế Lan Viên mất ngày 19 tháng 6 năm 1989 tại bệnh viện Thống

Nhất Sau khi ông mất những Di cảo thơ của ông đợc nhà văn Vũ Thị Thờng, tuyển chọn và cho xuất bản Di cảo thơ I in năm 1992, Di cảo thơ II in năm

1993, Di cảo thơ III xuất bản năm 1996 Ông đợc nhà nớc tặng thởng giành

thởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996

1.2 Thơ Chế Lan Viên

Chế Lan Viên là một nhà thơ tài năng, nhà hoạt động văn hoá có vị tríquan trọng trong nền văn học Việt Nam hiện đại Trong hơn 50 năm cầm bút,Chế Lan Viên đã để lại một khối lợng tác phẩm lớn và đa dạng: trên 10 tậpthơ, hàng chục tập bút ký, tiểu luận, phê bình đã xuất bản và hàng ngàn trang

di cảo mới đợc tập hợp bớc đầu, in thành 3 tập Di cảo thơ.

Chế Lan Viên là một nhà thơ gắn bó cuộc đời và thơ mình với dân tộc

và sự nghiệp cách mạng, đồng thời luôn luôn thể hiện những khát khao sángtạo của một bản lĩnh, một tâm hồn thi sỹ Nhiều tác phẩm của ông đã có tiếng

Trang 8

vang lớn, in đậm dấu ấn trong lòng độc giả, trở thành những đỉnh cao thànhtựu của thơ Việt Nam hiện đại Sáng tác của ông cùng với những hoạt độngvăn hoá phong phú đã có tác động tích cực và ảnh hởng rộng rãi trong đờisống văn học Việt Nam hiện đại.

Sinh thời và sau khi mất, mỗi tác phẩm của Chế Lan Viên cũng nh sựnghiệp sáng tác của ông đã đợc giới phê bình chú ý, giới nghiên cứu quan tâm

và dù còn những ý kiến đánh giá khác nhau nhng nhìn chung Chế Lan Viên

đ-ợc đánh giá nh một thi sĩ tài năng, một phong cách nghệ thuật đặc sắc Có thểrút ra những nét chung nhất về Chế Lan Viên nh sau:

- Sống hết mình cùng thời đại và luôn đứng ở đỉnh cao sáng tạo Hơn

một chục tập thơ cùng những mảnh thơ tản mạn đã gom lại thành 3 tập Di cảo

và còn đang tiếp tục su tầm chắp nối để gắng nhận diện cho đủ hồn thơ ChếLan Viên - một khối lợng sáng tác nh thế cũng đủ khiến chúng ta khâm phục.Nhng quan trọng hơn, Chế Lan Viên đã có mặt trong lịch sử văn học nh mộtcá tính sáng tạo mạnh mẽ và độc đáo: một con ngời sống hết mình cùng thời

đại và luôn luôn đứng ở những đỉnh cao trong sáng tạo nghệ thuật Có đợc

điều đó là bởi khát khao sống hết mình cùng thời đại, cộng với tài năng thiênphú và lao động sáng tạo không ngừng nghỉ trong suốt cuộc đời Chế LanViên đã để lại phía sau con đờng nghệ thuật của mình những tác phẩm đỉnhcao, đứng vào những thành tựu hàng đầu của văn học Việt Nam hiện đại

- một phong cách thơ đặc sắc

Chế Lan Viên đã để lại trong thơ hiện đại dấu ấn của một phong cáchmạnh mẽ, độc đáo và đặc sắc Thơ Chế Lan Viên vận động và biến đổi quanhiều giai đoạn nhng vẫn định hình những nét riêng, thể hiện rõ cá tính sángtạo Chất trí tuệ, vẻ đẹp triết lí trong thơ Chế Lan Viên là nét đặc sắc nhất mà

ông đã góp vào nền thơ hiện đại Chế Lan Viên là nhà thơ biết khai thác triệt

để năng lợng trí tuệ trong sáng tạo thơ - một lĩnh vực gắn với thế giới cảmxúc Điều này khiến thơ ông vợt qua cái cụ thể - cảm tính để mở ra nhữngchiều sâu, đạt đến những tầm cao mới Ông triệt để khai thác các mặt đối lậpcủa hiện thực để xây dựng tứ thơ và hình ảnh thơ, thể hiện một t duy biệnchứng trong cách nhìn nhận và khám phá hiện thực Do đó,trong thơ Chế LanViên chúng ta luôn gặp những câu thơ cô đọng, những triết lý đời sống, nhữngchân lý phổ quát đợc thể hiện một cách uyển chuyển và tự nhiên Trong ngônngữ thơ, Chế Lan Viên là một nghệ sỹ ngôn từ có kỹ thuật và tài hoa Ông lànhà thơ biết cách khua động những con chữ, làm sống lại những từ ngữ hết sứcquen thuộc

Trang 9

- Chế Lan Viên - một thi sỹ đích thực, một khuôn mặt văn hoá

Gọi ông là một thi sỹ đích thực trớc hết trong ý nghĩa ông là một nhàthơ suốt đời trăn trở, dằn vặt về ý nghĩa của sự tồn tại và ý nghĩa của sự sángtạo Trong thơ Việt Nam hiện đại, có lẽ ông là nhà thơ diễn đạt, bộc lộ nhiều

nhất và trực tiếp nhất về điều này Câu hỏi ta là ai? ta vì ai? chập chờn suốt

đời thơ ông, câu trả lời có lúc tởng chừng nh nắm chắc đợc nó mà lại tuột khỏitay Điều này làm nên sự bí ẩn của hồn thơ Chế Lan Viên, cho ta hình dung

cái phần chìm của tảng băng đồ sộ cùng tính phức tạp trong sự nghiệp sáng

tác của ông Những suy nghĩ của Chế Lan Viên về thơ luôn mở rộng, gắn liềnvới những đòi hỏi thiết cốt của thời đại và yêu cầu hiện đại hoá của nhà thơ

Đó là những đóng góp quý báu vào lí luận thơ bằng một kiểu t duy hình tợngxanh rờn sự sống và thấm đẫm chất thơ Nhng Chế Lan Viên không chỉ đónggóp ở thơ và phơng diện văn hoá thơ Phần tiểu luận, phê bình văn học chiếmmột vị trí khá quan trọng và để lại dấu ấn sâu sắc nhờ sự phong phú của ý t-ởng, sự sắc bén của lập luận và một bút pháp thông minh đầy cá tính Dù viết

về vấn đề gì, Chế Lan Viên luôn thể hiện một bề dày kiến thức và một nhãnquan văn hoá sâu rộng Kiến thức văn hoá, tầm nhìn văn hoá và toàn bộ hoạt

động văn hoá của ông cho ta một sự hình dung đầy đủ về một nhà thơ tàinăng, một khuôn mặt văn hoá

2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài

2.1 Thơ và văn xuôi

Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện nhữngtâm trạng, những xúc cảm mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh vànhất là có nhạc điệu Bàn về thơ, những ngời cầm bút đông tây kim cổ đã đa

ra nhiều cách hiểu khác nhau Nhà thơ Sóng Hồng viết: Thơ là một hình thái

nghệ thuật cao quý tinh vi thơ là tình cảm và lý trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật Tình cảm và lý trí ấy đợc diễn đạt bằng những hình tợng đẹp đẽ qua những lời thơ trong sáng vang lên nhịp điệu khác thờng Thiên về biểu hiện cảm xúc, hàm súc cô đọng, ngôn ngữ có nhịp điệu

đó là những đặc trng cơ bản của thơ Khác với văn xuôi, thơ ca là thể loại chỉdùng một lợng hữu hạn các đơn vị ngôn ngữ để biểu hiện cái vô hạn của cuộcsống, bao gồm các sự kiện của tự nhiên và xã hội cũng nh tất cả các cung bậctình cảm thầm kín, riêng t của con ngời Để thực hiên thiên chức đó, thơ caphải tính đến những kiểu tổ chức đặc biệt Nó là hình thức nghệ thuật dùngngôn ngữ giàu hình ảnh và có nhịp điệu để thể hiện nội dung một cách hàm

Trang 10

súc trong khi đó văn xuôi chỉ là hình thức ngôn ngữ đợc trau chuốt cho hay,cho đẹp.

Theo Nguyễn Phan Cảnh (2001) trong văn xuôi lặp là một điều tối kỵ

và phơng trình không đợc xây dựng thành thông báo Nhng chính cái điều mà

văn xuôi rất kỵ ấy lại là thủ pháp làm việc của thơ: trong thơ, tính tơng đồng của các đơn vị ngôn ngữ lại đợc dùng để xây dựng các thông báo [3,tr52] Sử

dụng đặc trng tơng đồng của các đơn vị ngôn ngữ trong thơ là vì sự tơng đơng

của các đơn vị ngôn ngữ làm nên chiết đoạn tạo thành thông báo bao giờ cũng bao hàm sự tơng đơng về nghĩa [3,tr60] Nghĩa là sức mạnh của cơ cấu

lặp lại, của kiến trúc song song chính là ở chỗ đã tạo ra đợc một sự láy lại,song song trong t tởng Việc chức năng mỹ học chiếm u thế trong các thôngbáo thơ trong khi không loại trừ chức năng giao tế nh thế, đã làm cho thôngbáo thành ra đa nghĩa, có tính chất nớc đôi, thành ra nhập nhằng hiểu theo

nghĩa tích cực của từ này Đấy là điều cốt tử của thơ, tức là ý tại ngôn ngoại.

2.2 Thơ mới và câu thơ mới bảy chữ

Thơ mới lâu nay thờng đợc ví nh một chiếc nấm lạ trên cây gia hệ văn học dân tộc /Đỗ Lai Thuý - Mắt thơ 2000/ bởi nó là một dòng thơ xuất hiện từ

những năm 1932 - 1945 với những biến đổi có tính chất nhảy vọt trong thơ cadân tộc

Thơ mới còn là một khái niệm để phân biệt với thơ cũ, tức là những thể

loại thơ truyền thống có luật lệ chặt chẽ với số câu, số chữ, cách gieo vần,phép đối theo luật bằng - trắc

Thơ mới là lối thơ không hạn định về số câu, chữ, không theo niêm luậtchỉ cần vần và điệu Điệu thơ là một phần cốt yếu của thơ, là một trong nhữngyếu tố tạo nên sự khác biệt giữa thơ và văn xuôi Điệu là cung bậc của âmnhạc, là cách sắp đặt và phân phối các tiếng trong câu thơ cho âm thanh, tiếttấu dễ nghe, hợp với tình ý Điệu thơ do hai yếu tố tạo thành là âm thanh vàtiết tấu tức là cách sắp đặt các tiếng bằng trắc theo âm luật /Lý Toàn Thắng,2001/ và cách ngắt câu thơ, ngắt nhịp thơ thành từng đoạn dài ngắn mà nên Thơ mới còn đợc dùng để chỉ thơ hiện đại, bởi về mặt hình thức và thểloại thơ hiện đại nói chung không có tính chất cách luật mà là thơ tự do, thậmchí có cả thơ văn xuôi Tuy vậy, thơ hiện đại vẫn có sự kế thừa một cách sángtạo những tinh hoa trong hình thức và thể loại của thơ ca cổ truyền Trong quátrình phát triển, một số hình thức ổn định đợc nhiều ngời a thích nh thơ bảychữ, tám chữ, năm chữ

Trang 11

Thơ bảy chữ gần giống thể thơ thất ngôn Đờng luật mỗi câu gồm bảychữ, có vần bằng hoặc vần trắc, mỗi khổ gồm 4 dòng Mỗi câu thơ là mộtdòng thơ, là một đơn vị nhịp điệu, đơn vị ý nghĩa, đơn vị liên kết trong bài thơ.Câu thơ còn là đơn vị của lời văn, lời nói nghệ thuật G.N Pôxpêlôp coi lời vănnghệ thuật là những lời phát biểu có ý nghĩa biểu hiện, biểu thị thuộc tính củachủ thể lời nói Câu thơ với cách tổ chức điểm nhìn, thể hiện một giọng điệu.

Nh vậy, có thể thống nhất là mỗi câu thơ đợc thể hiện thành một dòng thơ chứkhông đợc đánh dấu bằng dấu chấm câu nh một câu văn xuôi thông thờng Vìthế chúng tôi sẽ lấy quan niệm mỗi câu thơ là một dòng thơ làm cơ sở để khảosát và xử lý t liệu của khoá luận

2.3 Nhịp điệu và vai trò của nhịp điệu trong thơ

2.3.1 Nhịp điệu và nhịp điệu trong thơ

Hiểu một cách chung nhất, nhịp điệu là sự lặp lại một cách tuần hoàn

các âm thanh và nhạc sắp xếp theo những hình thức nhất định./ Hoàng Phê,

2002/ Còn nhịp điệu thơ đợc hiểu là sự lặp lại có tính chất chu kỳ về mặt phân

đoạn trong tổ chức âm thanh của thơ Nhịp điệu thơ xuất hiện trên cơ sở nhịpcủa lao động, nhịp của cơ thể con ngời Nhịp là sự nối tiếp của các tiếng xếpthành từng khung đều đặn của giọng nói theo thời gian Lúc đầu khiêu vũ, thơ

ca, âm nhạc có chung nguồn gốc là sự vận động nhịp nhàng của con ngời lao

động gồm cơ thể và lời nói Trong bài hát, lời thơ làm nên nội dung của âmnhạc, âm nhạc là hình thức của thơ Rồi thơ tách dần ra Thơ thể hiện trongmột câu chuyện có sự rung động nội tâm của riêng nó và độc lập với hình thứcnhịp điệu Cho nên ngôn ngữ thơ ca giữ đợc nhiều tính nhịp điệu, tính âm h-ởng, tính tởng tợng cố hữu của lời nói thơ ca

Nhịp trong thơ còn phụ thuộc vào nhịp thở, có liên quan đến tình cảm,cảm xúc Tâm lý học đã khẳng định: khi vui vẻ ta thở 17 nhịp/phút, khi buồnnản 9 nhịp/phút, khi sợ hãi 64 nhịp/phút, khi tức giận 10 nhịp/phút Nh ta đãbiết, thơ là lĩnh vực thể hiện tình cảm sâu sắc Các trạng thái rung động cảmxúc, xúc động đều ảnh hởng đến nhịp điệu của câu thơ, bài thơ Tru-ma-xep-

xki khẳng định: nhịp điệu của bài thơ đợc xây dựng trên bản chất chất liệu

ngôn ngữ và nó động viên chính cái chất liệu ngôn ngữ, dù cơ cấu bài thơ có riêng biệt và có đặc thù bao nhiêu đi nữa thì cơ cấu ấy cũng thuộc về một ngôn ngữ và không đợc lặp đi lặp lại ngoài giới hạn của cái hình thức dân tộc trong lời nói./Dẫn theo Bùi Công Hùng, 1998/

Vậy nhịp trong thơ là nhịp trên cơ sở lao động dựa vào hơi thở, gắn liềnvới cảm xúc, dựa vào bản chất chất liệu ngôn ngữ Nhịp điệu trong thơ có tính

Trang 12

chất mỹ học do con ngời sáng tạo ra để biểu hiện t tởng, tình cảm của con

ng-ời Nhiều khi một câu thơ đợc hiểu theo nhiều cách khác nhau tuỳ thuộc vàocách ngắt nhịp Những trạng thái, cung bậc tình cảm có sự biểu hiện tơng ứngvới cách ngắt nhịp trong câu thơ Ca dao và thơ lục bát ngắt nhịp chẵn (nhịp 2)

là phổ biến Thơ Đờng luật mà ở đây chỉ nói thất ngôn tứ tuyệt hoặc thất ngônbát cú thờng bố trí theo nhịp 4/3, đôi khi là nhịp 3/4 Có khi lại xen kẽ nhịp2/5 với nhịp 4/3.Thơ tự do ngắt nhịp không cố định, có thể là nhịp 2, nhịp 3,nhịp 4, nhịp 5 có thể xen kẽ hoặc hỗn hợp

2.3.2 Vai trò của nhịp điệu trong thơ

Đánh giá chung về vai trò của nhịp điệu trong thơ có thể dẫn ra hàng

loạt các ý kiến khác nhau Chẳng hạn: Nhịp điệu là sức mạnh cơ bản, năng

lực cơ bản của câu thơ, không giải thích đợc nó đâu, chỉ có thể nói về nhịp

điệu nh nói về từ lực hay điện Từ lực hay điện đó là những dạng của năng l ợng / Maiacôpxki - Dẫn theo Bùi Công Hùng, 1998/ Nh vậy, nhịp điệu trong

-thơ giữ một vai trò hết sức quan trọng Nó luôn luôn có tác dụng nâng đỡ cảmxúc, làm tăng thêm sức biểu đạt cho thơ

Mặt khác, cùng với vần điệu và thanh điệu, nhịp điệu cũng góp phần tạonên giai điệu nhạc tính cho thơ Với mỗi cách ngắt nhịp khác nhau ta sẽ có

các tiết tấu, cung bậc khác nhau Khi chứng minh nhạc thơ bằng cơ chế tự

điều chỉnh của các hệ thi pháp, tác giả Nguyễn Phan Cảnh [3] đã cho rằng:

d-ới dạng sóng âm thanh, các tín hiệu báo động đã đợc phát đi thông qua cácthông số thanh học của ngôn ngữ - các thuộc tính âm thanh và các đơn vị âmthanh:

Trang 13

Âm thanh ngôn ngữ

Thuộc tính âm thanh Đơn vị âm thanh

Cao độ cờng độ trờng độ nguyên âm phụ âm Các thuộc tính âm thanh đợc lu giữ, truyền đạt trong khi tổ chức cácquá trình thi ca, làm nên tiết tấu của thơ Còn các đơn vị âm thanh đ ợc lu giữtruyền đạt trong khi tổ chức các quá trình thể loại làm nên vần thơ Chính dớihiệu quả của tiết tấu và vần này mà đã "chỉ cho phép" xuất hiện các hợp thànhthi pháp chơng trình hoá: mang cơ chế tự điều chỉnh trong mình, thơ ca đã đivào quỹ đạo của những hệ bền vững Đồng thời cũng dới hiệu quả này mà chấtliệu ngôn ngữ ở đây có một nét riêng biệt rất tiêu chuẩn là đặc trng nhạc tính,kiểu nh tiết tấu và hoà thanh trong âm nhạc Điều đó giải thích vì sao cũng làngôn ngữ tự nhiên song chỉ có thơ mới có nhạc Trong văn xuôi, các tham sốthanh lọc của ngôn ngữ không đợc tổ chức Ưu thế tuyệt đối của thơ so vớivăn xuôi chính là ở nhạc tính Câu thơ và vần có một cái duyên mà thậm chíkhi lời, ý dở, nhà thơ vẫn quyến rũ ngời nghe bằng nhịp điệu và sự cân đối

Với thơ cũ, nhịp điệu câu thơ xuất hiện trên cơ sở lặp lại và luân phiêncác đơn vị âm luật theo sự cấu tạo của ngôn ngữ Do vậy, thơ cũ thờng ngắtnhịp 4/3 Cách ngắt nhịp này một phần do các thi gia truyền thống có tâm lísáng tác theo khuôn mẫu, một phần là để tuân thủ các quy tắc vận luật của thơ

Đờng Còn các nhà thơ hiện đại nh Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận, HànMặc Tử, Tố Hữu không chỉ kế thừa cách ngắt nhịp truyền thống của thơ ca

cổ điển mà còn có nhiều sáng tạo, cách tân các cách ngắt nhịp, tạo nhịp mộtcách đa dạng phong phú nhằm thực hiện dụng ý nghệ thuật, tạo nên một sự

Trang 14

thể (nhà thơ Chế Lan Viên) để chỉ ra những sáng tạo, cách tân của thơ hiện

đại, khác với thơ cũ trớc đây Do đó, việc tìm hiểu cách ngắt nhịp và cơ sởngôn ngữ học của việc ngắt nhịp thơ thiết nghĩ cần phải quan tâm trớc hết

3.1 Cơ sở ngôn ngữ học của việc ngắt nhịp thơ

- Các dấu hiệu để nhận dạng đợc thể hiện ngay trên bề mặt hình thức của câuthơ (dấu câu) nh dấu chấm (.), dấu phẩy (,), dấu cảm (!), dấu ngoặc kép (" "),dấu vạch ngang (-), dấu cách (-)

(Xuân, khổ 4, câu 3, tr.71, t.I)

Ai khóc?/ Giật mình,/ đâu hậu phơng?/

(Đêm ra trận, khổ1, câu 1, tr.169, t.I)

Tề -/ thiên -/ đại -/ thánh/ náo thiên cung/

(Bay ngang mặt trời, khổ 4, câu 1, tr.265, t.I)

- Dựa vào ngữ nghĩa của cú đoạn hoặc ngữ đoạn để phân định nhịp thơ Kháiniệm ngữ đợc hiểu là sự kết hợp giữa từ với từ hoặc tổ hợp từ tạo thành cácngữ danh từ, ngữ động từ, ngữ tính từ, còn cú đoạn đợc hiểu là kết cấu chủ - vịhoặc đề - thuyết

Ví dụ: Nhà xa,/ trận lớn,/ hành quân gấp/

(Đêm ra trận, khổ 1, câu 3, tr.169, t.I)Nhớ xuôi,/ trông mãi/ mảnh tin nhà/

(Th mùa nớc lũ, khổ 1, câu 1, tr.173, t.I)Mây chắp lụa dài/ vây núi biếc/

(Mơ trăng, khổ 1, câu 1, tr.77, t.I)

Ta mơ trăng!/ trăng cũng đợi ngời!/

(Ôi chị Hằng Nga cô gái Nga, khổ 4, câu 3, tr.228, t.I)

- Nhịp thơ còn đợc phân cách tơng đơng với một vế của câu so sánh

Ví dụ: Việc máu/ Ngô xem / nh việc nhà

(Tiếng Ngô thuốc độc, khổ 1, câu 2, tr.265, t.I)Một đời tang tóc/ nh đời chị

(Chị Ba, khổ 2, câu 3, tr.25, t.II)Chớp lửa hoài/ nh anh nhớ em

(Hải đăng, khổ 1, câu 2, tr.61, t.II)

- Nhịp thơ đợc phân tách tơng ứng với ý đứng trớc hoặc sau từ có vai trò liênkết (nối) trong câu thơ

Ví dụ: Nớc mình/ tiếng thế/ nhng đông dân

(Tiếng Ngô thuốc độc, khổ 2, câu3, tr.265, t.I)

Trang 15

Pháp trờng/ với không phải pháp trờng!

(Tiếng Ngô thuốc độc, khổ 4, câu 2, tr.266, t.I)Ngõ rất cụt/ mà lòng muôn dặm

(Chơi chữ về ngõ Tạm thơng, khổ 1, câu 2, tr.450, t.I)

- Với câu thơ có phần đảo ngữ chính là điểm nhấn nghệ thuật đợc đánh dấubằng một nhịp, đợc sắp xếp vào nhịp đầu tiên Các yếu tố còn lại trong câu thơ

sẽ đợc ngắt theo những cách khac nhau tuỳ thuộc vào dụng ý nghệ thuật củatác giả

Ví dụ: Xào xạc/ chỉ có/ lá vàng rơi

(Mơ trăng, khổ 3, câu 2, tr.77, t.I)Trắng muốt/ mùa sen/ trắng cổ thành

(Sen Huế, khổ 1, câu1, tr.20, t.I )Rực rỡ/ mùa hoa giấy/ suốt hè

(Mùa hoa giấy, khổ 1, câu1, tr.298, t.II) Bát ngát/ sông dài /Ta vắng em

(Cửa Việt, khổ 1, câu 1, tr.296, t.II)

- Đặc biệt ở thơ Chế Lan Viên có một hiện tợng vắt dòng cả bài thơ, tức là vềmặt lôgíc cú pháp về mặt văn xuôi - thơ Mặt văn xuôi thể hiện ở nội dung cònchất thơ đợc bộc lộ ở hình thức (nối vần và nối nhịp)

Chỉ một ngày nữa thôi./ Em sẽtrở về./ Nắng sáng/ cũng mong./ Câycũng nhớ./ Ngõ/ cũng chờ./ Và bớmcũng thêm màu/ trên cánh/ đang bay

(Tập qua hàng, tr.609, t.I)

3.2 Cách ngắt nhịp trong thơ bảy chữ Chế Lan Viên

Là một nhà thơ mới - nhà thơ hiện đại, Chế Lan Viên đã góp phầnkhông nhỏ trong việc sáng tạo, cách tân nhịp thơ, đặc biệt trong thơ bảy chữ.Khảo sát trong toàn bộ các tập thơ Chế Lan Viên, chúng tôi nhận thấy dù chỉ

có 734 câu thơ trên tổng số 96 bài thơ bảy chữ nhng có đến 21 cách ngắt nhịp(đợc xác định dựa trên đặc điểm hình thức và ngữ nghĩa của ngôn ngữ), trong

đó nhịp 4/3 chiếm tỉ lệ cao nhất: 314 câu thơ, chiếm 42,77%; thứ đến là nhịp2/2/3: 144 câu thơ, chiếm 12,67%; nhịp 3/2/2: 27 câu thơ, chiếm 3,13%; nhịp2/3/2: 19 câu thơ, chiếm 2,58% Còn các loại nhịp khác không nhiều nhng vẫnxuất hiện khá đều đặn trong các câu thơ, bài thơ Các loại nhịp khác có trong

46 câu thơ, chiếm 6,26%, thể hiện sự chuyển biến mạch cảm xúc, tâm trạngcủa nhà thơ trớc hịên thực phong phú và đa dạng

Trang 16

Để kiểm nghiệm điều này, sang chơng 2 chúng tôi sẽ tập trung khảosát cụ thể các cách ngắt nhịp trong thơ bảy chữ Chế Lan Viên, tìm hiểu cácloại nhịp, tần số xuất hiện và chỉ ra những sáng tạo, cách tân của nhà thơ trongviệc xác lập nhịp điệu thơ

Chơng 2: Nhịp điệu trong câu thơ mới bảy chữ

Đờng luật nên khi làm thơ ông kế thừa khá nhiều nhịp 4/3 truyền thống Trong

96 bài thơ bảy chữ khảo sát, chúng tôi nhận thấy nhịp 4/3 chiếm tỉ lệ cao nhấtgồm 314/734 câu thơ bảy chữ, chiếm khoảng 42,77%

Mắt già riêng mẹ/ chói màu son

(Cờ đỏ mọc trên quê mẹ, khổ 1, câu 1, 2, tr.178,t.I)Anh trút tình thơng/ trong sắc biếc

Ru cho em ngủ/ giấc tra lành

(Tra, khổ 1, câu 3, 4, tr.186, t.I)

Đoán mùa trăng thịnh/ mùa trăng khuyếtDõi đờng sao chuyển,/ đón sao rơi

(Bay ngang mặt trời, khổ 5, câu 3, 4, tr.227, t.I)

1.1.2 Nhịp 2/5

Ngoài nhịp phổ biến 4/3, thơ truyền thống còn hay dùng nhịp 2/5 vàloại nhịp này cũng đợc Chế Lan Viên sử dụng khá nhiều trong những câu thơbảy chữ

Ví dụ: Chao ôi!/ Thu đã tới rồi sao?

(Thu, khổ 1, câu 1, tr.64, t.I)Với tôi/ tất cả nh vô nghĩa

(Xuân, khổ 1, câu 3, tr.74, t.I)Thơng em/ mùa lại đến đây tìm

(Tiếng chim, khổ 1, câu 4, tr.186, t.I)

Trang 17

Đói khổ/ giam ta vào mặt đất (Ôi chị Hằng Nga cô gái Nga, khổ 3, câu 1, tr.228, t.I )

1.2 Các nhịp hoán vị

Trên cơ sở nhịp truyền thống, Chế Lan Viên đã sáng tạo thành các nhịpmới bằng cách đơn giản là hoán đổi vị trí của nhịp truyền thống

1.2.1 Nhịp 4/3 hoán đổi thành nhịp 3/4

(Tiếng chim, khổ 1, câu 1, tr.186, t.I)

Ta mơ trăng!/ trăng cũng đợi ngời!

(Ôi chị Hằng Nga cô gái Nga, khổ 3, câu 1, tr.228, t.I)

Ngời tình nhân/ đỏ chói môi hôn

(Hoa gạo son, khổ 1, câu 2, tr.602, t.I)

1.2.2 Nhịp 2/5 hoán đổi thành nhịp 5/2

Chỉ một ngày nữa thôi./ Em sẽ

(Tập qua hàng, khổ 1, câu 1, tr.609, t.I)Bọc tay mùa hơng ấy/ để dành

(Sen Huế, khổ 1, câu 4, tr.20, t.II)Chỉ là nhịp gõ ấy/ sao mà

(Cô gái sênh tiền, khổ 2, câu 2, tr.55, t.II)

1.3 Các nhịp tách/ ngắt

1.3.1 Ngắt đôi nhịp 4 (4/3) truyền thống thành nhịp 2/2/3

Ví dụ: Ta nằm/ đọc sách/ trong vờn chuối

(Đọc sách, khổ 1, câu 1, tr.44, t.I)Nhớ xuôi/ trông mãi/ mảnh tin nhà

( Th mùa nớc lũ, khổ 1, câu 1,tr.173, t.I)Rừng ơi,/ khép suối/ cho trăng ngủ

(Điện và trăng, khổ 1, câu 3, tr.183, t.I)

1.3.2 Tách đôi nhịp 4 trong nhịp 3/4 để tạo thành nhịp mới 3/2/2

Ví dụ: Hai ánh lửa/ hai đầu/ cùng gọi

(Hải đăng, khổ 2, câu 3, tr.61, t.II)

Từ lúc ăn/ cơm đùm/ mẹ tiễn

(Trông th, khổ 1, câu 3, tr.177, t.I)Cái cơn mơ/ những lộc/ những chồi

(Cây giữa chu kỳ, khổ 3, câu 2, tr.474, t.I)

1.3.3 Từ các nhịp truyền thống và các nhịp hoán đổi, Chế Lan Viên tiếp tục tạo ra các loại nhịp khác bằng những cách tách/ ngắt sau đây:

Trang 18

1.3.3.1 Tách nhịp 3 (4/3) truyền thống thành nhịp mới 4/2/1

Ví dụ: Chửa về Tuyên Thái/ thăm tre/ trúc

(Nhớ Việt Bắc, khổ 1, câu 3, tr.175, t.I)

Lũ báo nhà Ngô/ văn viết / mau

(Tiếng Ngô thuốc độc, khổ 9, câu 1, tr.265, t.I)

Đỏ hồng hoa giấy,/ vàng mai,/cúc

(Vờn quê, khổ 1, câu 3, tr.654, t.II)1.3.3.2 Tách nhip 3 (4/3) truyền thống thành nhịp mới 4/1/2

(Tiếng Ngô thuốc độc, khổ 4, câu 3, tr.265, t.I)Toàn mặt sọ dừa/ dân/ cần lao

(Tiếng Ngô thuốc độc, khổ 9, câu 4, tr.265, t.I)Tiếng hát đầu tiên,/ ơ,/ lạ lắm!

(Chim biếc Vĩnh Linh, khổ 1, câu 3, tr.483, t.I)1.3.3.3 Từ nhịp hoán đổi 3/4, tách nhịp 3 thành nhịp 1/2/4

Ví dụ: Thôi/ nhớ hoa/ xong lại nhớ ngời

( Nhớ Việt Bắc, khổ 1, câu 1, tr.175, t.I) Bỗng/ xoá sạch/ triệu đời chia cắt

(Ôi chị Hằng Nga cô gái Nga, khổ 7, câu 1, tr.228, t.I)

Ôi!/ Nỗi nhớ/ nh quàng mồi lửa

1.3.3.4 Từ nhịp hoán đổi 3/4, tách nhịp 3 thành nhịp mới 2/1/4

Ví dụ: Vô tình/ bỗng/ nổi tiếng cời ran!

(Xuân, khổ 2, câu 2, tr.74, t.I)Khỏi đau,/ trông/ một mảnh tin nhà

(Trông th, khổ 1, câu 1, tr.177, t.I)1.3.3.5 Từ nhịp hoán đổi 5/2, tách nhịp 5 thành1/4/2

Ví dụ: Xa/ ta hái nhành lan / mặt đất

(Ôi chị hằng Nga cô gái Nga, khổ 1, câu 1, tr.178, t.I )

Mà/ cha tan với gió/ cùng trăng

(Chết giữa mùa xuân, khổ 2, câu 4, tr.89, t.I) 1.3.3.6 Các cách tách/ngắt khác thể hiện sự cách tân của Chế Lan Viên đốivới câu thơ bảy chữ

- Nhịp 3/1/3

Ví dụ: Thu đến đây!/ Chừ,/ mới nói răng?

(Thu, khổ 3, câu 1, tr.64, t.I)

Trang 19

Tình yêu ấy/ cũ / hay không cũ

(Đờng lên biên giới, khổ 10, câu 3, tr.147, t.II)

- Nhịp 1/3/3

Ví dụ: Mai / theo thuyền lạ / bến sông xa

( Mai đã , khổ 2, câu 1, tr.119, t.I)Nay/ vợt Trờng Sơn/ đi diệt Mỹ

(Chim ấy, rau này, khổ 1, câu 3, tr.481, t.I)Kìa/ cuối vờn xa,/ đã hiện về

(Xuân vĩnh viễn, khổ 1, câu 4, tr.518, t.I)

- Nhịp 2/3/2

Ví dụ: Đất này/ xa giặc chiếm,/ không hoa

( Cành hoa nhỏ, khổ 1 ,câu 2, tr.174, t.I)

Đêm nay/ sóng lòng ta/ động biển

(Hải đăng, khổ 2, câu 1, tr.61, t.II)

(Tập qua hàng, câu 3, tr.609, t.I)

1.4.3 Nhịp 2/2/1/2

Ví dụ: Gốc nhãn/ vờn xa/ cao,/ khó hái

(Gốc nhãn cao, khổ 1, câu 1, tr.178, t.I)Tâu rằng:/ Ngô chém/ rất / nhân vị

(Tiếng Ngô thuốc độc, khổ 9, câu 3, tr.265, t.I)Tình yêu/ đừng tính/ sau/ hay trớc

(Vũng Tàu nhớ và quên, khổ 2, câu 3, tr.155, t.II)

1.4.4 Nhịp 2/1/1/3

Ví dụ: Sân bớm/ phiền-/ hoa/ lại nối vòng

(Lại thấy thời gian, khổ 2, câu 1, tr.120,t.I)

1.5 Các nhịp phá cách

1.5.1 Nhịp 1/1/1/1/3

Trang 20

Ví dụ: Tề-/ thiên-/ đại-/ thánh/ náo thiên cung

(Bay ngang mặt trời, khổ 5, câu 1,tr.226, t.I)Thâm-/ khuê-/ ý-/ thức/ chong đèn lạnh

Mặt-/ nguyệt-/ tâm-/ t/ tròn vẹn gơng

(Lại thấy thời gian, khổ 2, câu 1,2, tr.12, t.I)

1.5.2 Nhịp 1/1/1/2/2

Ví dụ: Rơi/ rơi/ rơi/ từng vết/ đỏ bầm

(Cây giữa chu kỳ, khổ 1, câu 4, tr 474, t.I)

1.5.3 Nhịp 2/1/1/1/2

Ví dụ: Anh khêu/ đĩa-/ bấc-/ trầm-/ tâm lại

(Lại thấy thời gian, khổ 4, câu 3, tr 474, t.I)

1.6 Tiểu kết

Từ việc thống kê các loại nhịp trên, chúng tôi tiến hành tính

đếm số lợng các loại nhịp và tỉ lệ của chúng Số lợng thống kê đợc thể hiện qua bảng sau:

2.1.1 Nhịp 4/3 trong toàn bài

Từng câu thơ lạ/ quấn hơng quenMùi hoa huệ ngắt/ tra hôm ấyNay thoảng từng câu/ dới ánh đèn

(Tặng thơ, tr.496, t.I)

Trang 21

Giữa lúc đang nồng,/ hoa vụt điChờ ta lơ đãng/ lại xuân về

Cứ chơi lại trốn/ đi tìm thếHết nửa đời ta/ Xuân kể chi

(Đi trốn đi tìm, tr.287, t.II)

2.1.2 Nhịp 3/4 trong toàn bài

Ngõ rất cụt/ mà lòng xa thẳmNgõ bảy thớc/ mà lòng muôn dặmThơng một đời/ đâu phải tạm thơng

(Chơi chữ về ngõ Tạm thơng, tr.450, t.I)

Hồn thơ con/ chính mẹ đem cho

Mẹ dân dã/ câu Kiều chẳng biếtKhi rón rén/ đến gần trang viết

Mẹ thêm dầu/ sợ bấc đèn lu

(Mẹ dân dã, tr.116, t.II)

2.1.3 Nhịp 2/2/3 trong toàn bài

Chồi non/ lá nhỏ/ sáng đầu sânNgựa xa/ voi cũ/ hai hàng đá,

Uy thế/ con thua/ búp lá xuân

(Búp lộc vừng, tr.537, t.I)

Ai khóc?/ Giật mình,/ đâu hậu phơng?

Tinh mơ/ là trận/ đánh công đồnNhà xa,/ trận lớn,/ hành quân gấpChợp mắt/ bay về/ hôn mặt con

(Đêm ra trận, tr.169, t.I)

Trang 22

B¶ng thèng kª nh÷ng bµi th¬ cã mét lo¹i nhÞp

th¬

Sè c©u th¬

NhÞp th¬

Sè lo¹i nhÞp

Trang 23

2.2.1 Bài có 2 loại nhịp tơng ứng

Tính tơng ứng về nhịp ở đây là xét theo vị trí của câu thơ trong bài thơ.Nếu nhịp của câu 1 tơng ứng với câu 4 trong một khổ thơ đợc gọi là tơng ứngnhịp điệu đầu - cuối; nếu nhịp câu 1 và 2 tơng ứng từng đôi một; nếu nhịp câu

1 tơng ứng với nhịp câu 3, hoặc nhịp câu 2 tơng ứng với nhịp câu 4 gọi là tơngứng nhịp gián cách Có 12 bài chứa 2 loại nhịp, trong đó 5 bài có sự t ơng ứngnhịp đầu - cuối, 4 bài có sự tơng ứng nhịp gián cách và 3 nhịp tơng ứng nhịptừng đôi một Cụ thể:

2.2.1.1 Tơng ứng nhịp đầu - cuối

Thơng tình/ chú ngựa/ khhỏ đờng xa 2/2/3

(Th mùa nớc lũ, tr.173, t.I)

(Vừa thấy môi hoa, tr.537, t.I)2.2.1.2 Tơng ứng từng đôi một

Đất nớc cách chia,/ tình vậy đó: 4/3

Trang 24

Bảng thống kê những bài thơ bảy chữ có hai loại nhịp

thơ

Số khổ thơ

Số câu

Số loại nhịp

nhịp chủ đạo Ghi chú

C2, C4 nhịp 2/5

2

Hainhịptơngứnggiốngnhau

Tơng ứng gián cách

2.2.2.1 Không tơng ứng theo thế đối lập 3 - 1 (5 bài)

Tính đối lập đợc thể hiện ở chỗ ba câu đầu cùng một loại nhịp còn câu cuối là một nhịp khác

Trang 25

Ví dụ: - Nghe nói/ miền Nam lâm nạn đói 2/5

(Lơng mới, tr.176, t.I)

- Hoa chạc chìu thơm - / hoa chạc chìu 4/3

(Hoa chạc chìu, tr.239, t.II)2.2.2.2 Không tơng ứng theo thế đối lập 1 - 3 (3 bài)

Câu đầu một loại nhịp còn ba câu tiếp theo lại cùng một loại nhịp khác

(Xóm cũ, tr.185, t.I)

- Giật mình/ thấy một sắc/ không xanh 2/3/2

(Đọc "Bất khuất", tr.484, t.I)2.2.2.3 Không tơng ứng 3 - 1 theo kiểu xen kẽ (8 bài)

Ba câu cùng một loại nhịp nhng xen kẽ một câu khác nhịp

Ví dụ: - Đêm sắp tan rồi./ Sơng trĩu cây 4/3

Tình yêu,/ anh đỡ/ ở trên tay 2/2/3 Kìa nhánh đào in/ ngoài bực cửa 4/3

(Nhánh đào yêu, tr.495, t.I)

- Trở lại An Nhơn./ Tuổi lớn rồi 4/3 Bạn chơi ngày nhỏ/ chả còn ai 4/3

Chẳng lẽ thăm quê/ lại hỏi ngời! 4/3 (Trở lại An Nhơn, tr.21, t.II)

2.2.2.4 Không tơng ứng theo thế đối lập 6 - 2

Trang 26

Thế đối lập 6 - 2 nghĩa là 6 câu cùng một loại nhịp xen kẽ hai câu một loại nhịp khác Đây là cách bố trí nhịp điệu trong thất ngôn bát cú ( tám câu bảy chữ) Cách bố trí nhịp điệu kiểu này chỉ có trong một bài.

Tiếng chim gù/ ở Ti-ra-na 3/4Anh đã nghe/ trong rừng Szi-li-ghet 3/4Vẫn là chim/ năm trớc/ Thái Bình 3/4/2

Đâu cũng xen/ từng hồi im lặng 3/4

Sau tiếng chim,/ còn lại mình anh 3/4Anh lắng mãi,/ chim không gù nữa 3/4Anh biết em/ đâu đó,/ đang nhìn 3/2/2Khi chim hót,/ tình yêu gợi nhớ 3/4

(Tiếng chim, tr.650, t.I)2.2.2.5 Không tơng ứng theo thế đối lập 10 - 2

Thế đối lập 10-2 nghĩa là mời câu cùng một loại nhịp, xen kẽ hai câu cócách ngắt nhịp khác Cách bố trí nhịp điệu kiểu này chỉ có trong một bài thơ

12 câu chia làm ba khổ

Có lẽ/ ta từng li biệt nhau 2/5

Tự thời xa xửa./ Trái tim đau 4/3Vẫn cha lành hẳn./ Nay em hát 4/3Bèo dạt mây trôi,/ nớc quá cầu 4/3

Có hát chèo chăng/ buổi tiễn hành? 4/3Trời xanh/ hẳn cũng xanh nh vậy? 2/5 Con đờng li biệt/ tận cùng xanh 4/3

Theo suốt đờng anh/ ngút lửa bom 4/3Câu chèo dân dã/ tối liên hoan 4/3

Em xoay tà áo/ là chia khuất 4/3Sênh phách chào anh,/ nhịp đổ dồn 4/3

Trang 27

B¶ng thèng kª c¸c bµi cã hai lo¹i nhÞp kh«ng t¬ng øng

TT Bµi th¬

Sè khæ th¬

Sè c©u th¬

NhÞp ®iÖu

Sè lo¹i nhÞp

NhÞp chñ

Trang 28

2.3 Những bài có 3 loại nhịp

Trong 96 bài chúng tôi khảo sát, loại bài có 3 nhịp có 29 bài, chiếm30,2%, trong đó loại bài 4 câu 3 nhịp gồm 23 bài, bài 8 câu 3 nhịp gồm 4 bài,bài 12 câu 3 nhịp gồm 2 bài

2.3.1 Bài 4 câu/3 nhịp

Có 23 bài 4 câu/3 nhịp nhng có sự khác nhau ở nhịp chủ đạo Cụ thể, 17bài nhịp chủ đạo là 4/3, 3 bài nhịp chủ đạo là 2/5 và 3 bài nhịp chủ đạo là2/2/3 Các nhịp 4/3 và 2/5 đều là những nhịp truyền thống, điều đó chứng tỏChế Lan Viên rất am hiểu thể loại thơ thất ngôn tứ tuyệt Đờng luật, đồng thờibiết vận dụng rất sáng tạo trong những câu thơ bảy chữ của mình bằng cáchxen kẽ các nhịp mới

Một số ví dụ về nhịp chủ đạo 4/3

Đất này/ xa giặc chiếm,/ không hoa 2/3/2

(Cành hoa nhỏ, tr.174, t.I)

- Con chim "bắt cột",/ lá "tàu bay" 4/3

(Chim ấy, rau này, tr.481, t.I)Nhịp chủ đạo là 2/5

- Giặc bắt thôn ta/ vào "tố cộng" 4/3

(Xem ảnh, tr.177, t I)

(Mây của em, tr.645, t I)Nhịp chủ đạo là 2/2/3

Trang 29

Xe ta/ qua m·i/ mµ kh«ng døt 2/2/3

(Hoa g¹o son, tr.602, t.I)

Trêi xanh/ ¬i hìi!/ xanh kh«n nãi 2/2/3Hån t«i/ muèn hiÓu/ ch¼ng cïng cho! 2/2/3

Trªn nh÷ng tµu tiªu/ rîn ý trinh 4/3K×a k×a,/ n¾ng bäc/ mu«n h×nh x¸c 2/2/3Nh÷ng nÐt th¬/ trµn cæ s¸ch xinh 3/4

(§äc s¸ch, tr.41, t.I)

Trang 30

NhÞp ®iÖu

Sè lo¹i nhÞp

NhÞp chñ

2.4.1 Bµi 4 c©u t¬ng øng víi 4 lo¹i nhÞp

Trang 31

Khỏi đau,/ trông/ một mảnh tin nhà 2/1/4

(Trông th, tr.177, t.I)

(Chim biếc Vĩnh Linh, tr.483, t.I)

2.4.2 Bài có 4 câu nhng có hiện tợng vắt dòng tạo thành 4 nhịp khác nhau, phục vụ ý đồ nghệ thuật : sáng tạo kiểu thơ mới

trở về./ Nắng sáng/ cũng mong./ Cây 2/2/2/1

(Tập qua hàng, tr 601, t.I)

2.4.3 Bài nhiều câu (nhiều khổ)

Loại bài 4 nhịp tập trung ở những bài thơ nhiều câu (nhiều khổ): có bài

14 câu/4 nhịp, có bài 15 câu/4 nhịp, có bài 16 câu/4 nhịp, 20 câu/4 nhịp, 24câu/4 nhịp

Đêm choáng ngợp những vòng xoay h ảo

Ngày đăng: 21/12/2013, 12:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê những bài thơ có một loại nhịp TT Bài thơ Số khổ - Nhịp điệu trong thơ mới bảy chữ của chế lan viên
Bảng th ống kê những bài thơ có một loại nhịp TT Bài thơ Số khổ (Trang 27)
Bảng thống kê những bài thơ bảy chữ có hai loại nhịp - Nhịp điệu trong thơ mới bảy chữ của chế lan viên
Bảng th ống kê những bài thơ bảy chữ có hai loại nhịp (Trang 29)
Bảng thống kê các bài có hai loại nhịp không tơng ứng - Nhịp điệu trong thơ mới bảy chữ của chế lan viên
Bảng th ống kê các bài có hai loại nhịp không tơng ứng (Trang 33)
Bảng thống kê có 3 loại nhịp - Nhịp điệu trong thơ mới bảy chữ của chế lan viên
Bảng th ống kê có 3 loại nhịp (Trang 37)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w