1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhân vật tôi trong một số truyện ngắn của nguyễn huy thiệp

65 762 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhân vật tôi trong một số truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp
Tác giả Nguyễn Thị Thiệp
Người hướng dẫn Thầy Giáo Hoàng Mạnh Hùng
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Khoá luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2006
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 171,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chọn nhân vật “tôi” trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp tức là chúngtôi đã chọn nhân vật ngời kể chuyện, một trong những khái niệm cơ bản củathi pháp học hiện đại.. Những ý kiến tranh cãi

Trang 1

Mục Lục

Trang Lời cảm ơn

1.3. Xuất phát từ say mê cá nhân về nhân vật “tôi” trong truyện ngắn

IV. Mục đích và phơng pháp nghiên cứu 13

1.2 Các loại nhân vật ngời kể chuyện 22

1.3 Những đặc điểm thi pháp của nhân vật “tôi” đóng vai ngời kể

Chơng II Nhân vật “ tôi“ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 32

2.1 Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 32

2.2 Phân loại các nhân vật “tôi” trong truyện ngắn Nguyễn Huy

Chơng III ý nghĩa thi pháp của các kiểu “tôi“ trong truyện ngắn

3.1 ý nghĩa thi pháp của kiểu “tôi” tham gia vào câu chuyện 52

3.2 ý nghĩa thi pháp của kiểu “tôi” tham gia thụ động vào câu

Trang 2

Lời cảm ơn

Với sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hớng dẫn cùng với nỗ lực cố gắng của bản thân, chúng tôi đã hoàn thành khoá luận này Đây là đề tài nghiên cứu có quy mô đầu tiên của chúng tôi Tuy nhiên do hạn chế về điều kiện cũng nh năng lực sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong đợc

sự đóng góp của quý Thầy Cô và các bạn

Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Hoàng Mạnh Hùng, tập thể các thầy cô giáo trong Khoa Ngữ văn đã giúp đỡ chúng tôi hoàn thành khoá luận này

Vinh, tháng 5 năm 2006.

Sinh viên

Nguyễn Thị Thiệp

Trang 3

ánh cuộc sống, mỗi nhà văn đều thể hiện cách nhìn của mình trên từng trangviết.

Hoà vào dòng chảy đó của Đất nớc, của con ngời văn học Việt Namcũng từng bớc đổi mới Văn học Việt Nam hiện đại mở đầu bằng Tố Tâm củaHoàng Ngọc Phách, về sau càng nở rộ bởi các nhà văn của nhóm Tự Lực Văn

Đoàn và các nhà văn hiện thực sắc sảo nh: Nam Cao, Vũ Trọng Phụng,Nguyên Hồng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài … Từ sau cáchmạng tháng tám đến nay văn xuôi Việt Nam tiếp tục trởng thành già dặn hơn,

bề thế hơn Nhiều nhà văn mới thực sự tài năng đã xuất hiện, đã đóng góp chonền văn học hiện đại nhiều dáng dấp mới, phong cách mới Nhng nhìn chung

họ vẫn cha vợt qua đợc những đỉnh cao trớc đó, cha vợt khỏi đợc quỹ đạo trớc

đó của văn học

Thời kỳ đổi mới đã hồi sinh đất nớc, hồi sinh con ngời Cuộc sống củatoàn xã hội đã ngày càng phong phú hơn, đa dạng hơn, toàn diện hơn, phứctạp hơn và sâu sắc hơn Văn học cũng hồi sinh với tất cả sự sâu sắc, toàn diện,phức tạp, phong phú nh chính cuộc sống đã sản sinh ra nó

Năm 1986 khi Đảng ta có chủ trơng đổi mới văn nghệ, văn xuôi ViệtNam thực sự có những thay đổi với sự xuất hiện của một số gơng mặt mới nh:Nguyễn Huy Thiệp, Dơng Thu Hơng, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ…Trong các gơng mặt đó, Nguyễn Huy Thiệp là một hiện tợng nổi bật Phải nói

Trang 4

ngay rằng không có công cuộc đổi mới trong đời sống văn nghệ thì cha chắc

đã có hiện tợng Nguyễn Huy Thiệp Nguyễn Huy Thiệp nổi lên nh một “hiệntợng” văn học cuối thế kỷ XX “Hiện tợng Nguyễn Huy Thiệp” - đó là thànhquả của đổi mới Nguyễn Huy Thiệp là ngời đã xây dựng đợc sự chú ý mạnh

mẽ đối với đông đảo bạn đọc với giới văn chơng và cả giới phê bình

Anh đợc xem là ngời đã tái tạo truyện ngắn ở Việt Nam này ở cuối thế

kỷ XX Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện nh một “cái tôi” Cái tôi ấy đứng dậy

đau khổ, cô đơn, đầy khát vọng; cái tôi ấy gieo bão táp trong văn chơng ViệtNam lúc ấy

Nói đến Nguyễn Huy Thiệp là nói đến một hiện tợng văn học mới, gâynhiều d luận Ngay sau mỗi tác phẩm ra đời lập tức đã có bài phê bình liêntục Trong đó ngời khen không phải là ít mà đã khen là khen hết lời, ngời chêcũng lắm thậm chí giận giữ Nghiên cứu tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệpluôn là một thách thức nhng lại là một công việc có ý nghĩa khoa học cấpthiết

Với nhận thức nh vậy, trong phạm vi đề tài này chúng tôi sẽ đi vào tìmhiểu vấn đề nhân vật “tôi” trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, để góp phầnvào cuộc hành trình “Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp”

1.2 Xuất phát từ thực tế nghiên cứu về Nguyễn Huy Thiệp còn nhiều mâu thuẫn.

Nghiên cứu về Nguyễn Huy Thiệp từ điểm xuất phát cho đến nay vẫnluôn tồn tại rất nhiều mâu thuẫn Sở dĩ nghiên cứu Nguyễn Huy Thiệp cónhiều mâu thuẫn nh vậy là bởi vì truyện ngắn của anh có rất nhiều cách tiếpcận khác nhau, thậm chí ngợc nhau

Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn của thời kỳ đổi mới, chính vì vậy nhữnggì mà anh quan tâm không thể là vấn đề nào khác ngoài cuộc sống của conngời thời kỳ sau 1975 đem lại Cuộc sống con ngời hiện lên qua từng trangviết của nhà văn nó ngổn ngang bao vấn đềm bề bộn và phức tạp nh chính sự

Trang 5

bề bộn vốn có của cuộc sống Hơn thế chính sự trải nghiệm của bản thân, mắtquan sát và khả năng sáng tạo tài tình của mình, anh đã lách ngòi bút củamình vào mọi ngõ ngách của cuộc sống Chính vì vậy đọc văn của anh chúng

ta bắt gặp đủ loại ngời, đủ loại tầng lớp, nghề nghiệp khác nhau … Dù đã hcấu nhng đó là những “mảnh cuộc sống” thật đến “trần trụi” Rồi lại có mộtcuộc sống bao phủ bởi lớp sơng huyền thoại, còn có cuộc sống “dã sử” …Chính những mảng đề tài này đã gây nên những cuộc tranh luận gay gắt quyếtliệt Mỗi một tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp ra đời là một sự kiện gâynhiều tranh cãi, ngời khen thì khen hết lời, ngời chê thì chê quyết liệt có khimất hết cả bình tĩnh, nhng dù sao họ vẫn thừa nhận trớc hết là cái tài của anh.Tất nhiên, ngời khen thì đa ra cái lý của ngời khen, còn ngời chê thì đa ra cái

lý của mình, nhng vấn đề không phải là ai đúng ai sai mà vấn đề ở đây, chúngtôi thiết nghĩ đó là họ – những ngời khen và chê đã nhìn, đọc và khen chêtruyện của Nguyễn Huy Thiệp từ góc độ nào? Văn học, lịch sử hay chínhtrị ?

Mỗi một tác phẩm ra đời, cả giới văn học, cả công chúng đọc và giớiphê bình không ngớt bàn tán, khen chê cứ là ầm ĩ, mạnh mẽ và quyết liệt.Nguyễn Huy Thiệp đã đa lý luận phê bình văn học nớc nhà tiến lên một bớcmới tiếp cận một lý thuyết văn học, quan trọng của nhân loại cuối thế kỷ XX !

Lý thuyết đọc Các ý kiến khác nhau, trái ngợc nhau, đối chọi nhau của cácnhà văn, các nhà nghiên cứu, phê bình, các độc giả, cả ngời trong nớc vàngoài nớc soi chiếu tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp dới góc độ khác nhau, ởtừng khía cạnh khác nhau Có ngời tiếp cận từ góc độ chính trị, có ngời tiếpcận từ góc độ văn học, lại có ngời tiếp cận từ góc độ lịch sử, có truyện nhiều ýkiến đồng quy, có truyện ý kiến khen chê cách biệt gay gắt

Mặc dù các ý kiến tranh cãi còn đối lập vẫn cho thấy một điểm chung:Nguyễn Huy Thiệp là một tài năng hiếm, độc đáo

Trang 6

Chọn nhân vật “tôi” trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp tức là chúngtôi đã chọn nhân vật ngời kể chuyện, một trong những khái niệm cơ bản củathi pháp học hiện đại Hy vọng cách tiếp cận này sẽ tránh đợc những suy diễnmang tính chất xã hội học và có khả năng soi sáng phong cách nghệ thuật củatruyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp Từ đó làm giảm bớt những bất đồng trong

đánh giá về Nguyễn Huy Thiệp, làm cho việc phân tích truyện ngắn NguyễnHuy Thiệp có cơ sở khoa học hơn

1.3 Xuất phát từ say mê cá nhân về nhân vật “tôi“ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp.

Trong tác phẩm, mọi sự biểu hiện miêu tả đều từ tác giả mà ra, song đểtạo nên hình tợng nghệ thuật , tác giả thờng tạo ra những kẻ môi giới, đứng ra

kể chuyện, quan sát, miêu tả Có thể gặp trong tác phẩm ngời trần thuật ờng kể theo ngôi thứ ba) và ngời kể chuyện (thờng kể theo ngôi thứ nhất xng

(th-“tôi”) Ngời kể chuyện thờng đồng thời là nhân vật Sự phân chia này hoàntoàn tơng đối và thuần tuý mang tính nghệ thuật của mình vì nhà văn chọncách nào có hiệu quả cao cho ý đồ nghệ thuật của mình

Từ trớc đến nay đã có rất nhiều ngời mổ xẻ truyện ngắn của NguyễnHuy Thiệp không nhằm ngoài một mục đích là hiểu rõ hơn về sự độc đáo củanhà văn lắm tài nhiều tật này Ngời ta đã xuất phát từ những điểm khác nhau

và đi vao nhiều vấn đề khác nhau, chúng tôi xét thấy những truyện ngắn cónhân vật “tôi” của Nguyễn Huy Thiệp là một vấn

đề hấp dẫn Vì vậy trong phạm vi đề tài này chúng tôi sẽ đi sâu vào khai thácvấn đề nhân vật “tôi” trong một số truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp Dothấy đợc sự cần thiết và bị hấp dẫn bởi vấn đề đã nêu trên chúng tôi đã thựchiện đề tài khoá luận này Thực tế sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp rất phongphú nhng do khuôn khổ đề tài có hạn nên chúng tôi chỉ nghiên cứu một sốtruyện ngắn có nhân vật “tôi” trong tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp

Trang 7

với mong muốn đợc nối vòng tay lớn trong cuộc hành trình “Đi tìm NguyễnHuy Thiệp”.

II lịch sử vấn đề.

Trong lời tựa cuốn “Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp” tác giả Phạm XuânNguyên đã nhận xét: “ Nguyễn Huy Thiệp có lẽ là ngời đầu tiên trong vănhọc Việt Nam lập kỷ lục có đợc nhiều bài viết nhất về sáng tác của mìnhh chỉtrong một thời gian ngắn và không có độ lùi thời gian, phê bình tức thời theosáng tác liên tục, lâu dài, không chỉ trong nớc cả ngoài nớc, không chỉ ngờiViệt cả ngời ngoại quốc” Nguyễn Huy Thiệp ngay từ khi xuất hiện đã viếtnhiều và liên tục, anh sớm gây đợc sự chú ý của độc giả và giới phê bình Mỗimột tác phẩm của anh ra đời là một sự kiện, công chúng đọc khônh ngớt lờibàn luận Quả thực những gì mà Nguyễn Huy Thiệp viết ra cho dù có h cấunhiều cũng chỉ nhằm phơi bày mặt hiện thực một cách triệt để “trần trụi”, mộthiện thực cay độc mà lạnh tanh, làm hầu hết chúng ta nhức nhối chua xót.Nguyễn Huy Thiệp đã mang tới cái chất mà lâu nay văn học Việt Nam hơithiếu: chất kiêu bạc, tàn nhẫn, cay đắng … Ngời ta tìm thấy trong truyện củaanh những vấn đề bức xúc, nổi cộm của cuộc sống “không có vua” ở chỗmọi ngời ngại ngùng, Nguyễn Huy Thiệp lại sẵn sàng lĩnh đủ Sự định hớngtrong cách hiểu đời sống trớc mắt mạnh mẽ đến nỗi nó chi phối luôn cáchkhai thác lịch sử và khơi mào cho những h cấu có thể là bịa đặt mà không dễgì nghi ngờ Chỉ mình anh cũng đủ tạo nên một đời sống văn học sôi độngkéo dài cả mấy năm trời và còn nóng bỏng đến tận hôm nay” Nguyễn Hải Hà

- Nguyễn Thị Bình cho rằng: “Hiện tợng Nguyễn Huy Thiệp là sản phẩm tấtyếu của sự gặp gỡ giữa tài năng với khát vọng dân chủ và đổi mới, mà sự vận

động ý thức xã hội cũng nh Văn học sau 1975 đem lại” Những sáng tác củaanh không vợt ra ngoài cuộc sống của con ngời, ở đó ngời đọc bắt đầu khátvọng về một cuộc sống tốt đẹp mà ngời ta muốn vơn tới, đạt đến, dù ngời đó

Trang 8

là ai, là Chơng Con gái thuỷ thần, là nhân vật xng “tôi” trong rất nhiều truyện

ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, là Nhâm trong Thơng nhớ đồng quê ….

Diệp Minh Tuyền trong bài viết của mình nhận xét: Lâu lắm rồi trongVăn học Việt Nam mới xuất hiện một hiện tợng nh hiện tợng Nguyễn HuyThiệp và phải đợi đến hôm nay dù với tất cả sự thận trọng đến mức e dè cốhữu ngời ta vẫn không thể không khen rằng Anh đã mang đến cho Văn họcViệt Nam một cuộc cách tân Nói nh vậy để chúng ta thấy rằng Nguyễn HuyThiệp – một tài năng hiếm, độc đáo ngay từ khi xuất hiện đã có một vị tríquan trọng trong đời sống Văn học Việt Nam từ nửa cuối thế kỷ XX đến nay.Cuộc kiếm tìm mẹ Cả của Chơng ( Con gái thuỷ thần ) mặc dù đã kết thúc,

nhng cuộc hành trình “Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp” thì ngày càng muốn nốivòng tay lớn, ngời đọc và giới phê bình vẫn luôn hăm hở tìm tòi và phát hiệnbởi vì “Truyện của Nguyễn Huy Thiệp có một sức hấp dẫn không cỡng lại đ-ợc” (Nguyễn Đăng Mạnh)

Theo sự thống kê của hai tác giả Nguyễn Hải Hà và Nguyễn Thị Bình

từ giữa năm 1987 đến giữa năm 1989 đã có trên 70 bài viết về sáng tác củaNguyễn Huy Thiệp, trong đó có sự đối lập giữa các ý kiến phải nói là gay gắt,cực đoan nhất so với tất cả các cuộc tranh luận khác nhau trong văn nghệ kể

từ năm 1975 trở đi

Ngời khen khen hết lời, ngời chê có khi mất hết cả sự bình tĩnh cầnthiết khiến cho cuộc tranh luận trở nên đầy kịch tính Không kể các ý kiến rảirác về sau và đầy những bài viết có tính chất giả thiết về một tác giả thì quánửa số bài viết trong hai năm 1987 – 1988 tập trung vào truyện ngắn Tớng

về hu (in trên báo văn nghệ 20 – 6 – 1987) và bộ ba truyện ngắn “dã sử”: Vàng lửa, Kiếm sắc , Phẩm tiết.

Đầu tiên phải kể đến cuốn “Nguyễn Huy Thiệp – tác phẩm và d luận”

Do nhà xuất bản trẻ (1989) đã giới thiệu 6 truyện ngắn vào 10 bài phê bìnhcủa tác giả

Trang 9

Gần đây Phạm Xuân Nguyên tuyển chọn su tầm cuốn “Đi tìm NguyễnHuy Thiệp” gồm các bài viết của nhiều tác giả đánh giá về Nguyễn HuyThiệp và truyện ngắn của anh giúp cho công chúng nhìn nhận một cách chínhxác về truyện ngắn và con ngời nhà văn này.

Trong rất nhiều bài viết, các ý kiến đánh giá nhận xét khen chê khác nhau,nhng nhìn chung họ đều muốn đi đến một điểm chung là hiểu đúng, hiểu rõ

về tác giả Nguyễn Huy Thiệp

Truyện ngắn Tớng về hu xuất hiện đã đặt Nguyễn Huy Thiệp vào điểm

xoáy của mọi góc nhìn và tiếp đó là một loạt các tác phẩm mới ra đời nh:

Những ngọn gió Hua Tát, Con gái thuỷ thần, Không có vua, Giọt máu, và bộ

ba truyện ngắn “dã sử”: Vàng lửa, Kiếm sắc, Phẩm tiết …

Nguyễn Quang Đẩu trong một bài viết của mình cho rằng: “Tớng về hu

là một lát dao cắt ngang, cho ta một phần thiết diện xã hội hiện thực” Có

ng-ời lại xem Tớng về hu là một cái mốc đóng vào nền văn học Việt Nam, là sự

tìm tòi khám phá mới, mạnh dạn, phản ánh hiện thực với thủ pháp văn chơng

độc đáo, hấp dẫn

Trong bài phê bình về Tớng về hu đăng trên báo “Văn nghệ”

(5/9/1987) Chu Huy một mặt thừa nhận: Tớng về hu có nhiều đoạn sắc sảo,

bạo dạn, nêu nhận xét gọn sắc, sử dụng thành ngữ, tục ngữ đắt Một mặt lạichê: “ Truyện thiếu hẳn phần đặc tả, chân dung, tâm trạng, thời gian, khônggian … thiếu hẳn những mỹ từ pháp đặc tả phụ nghĩa cho nhân vật hành động,hầu nh chỉ toàn văn nói, văn kể chứ không phải văn viết”

Trên cùng số báo, Nguyễn Hoà lại tỏ ra sắc sảo hơn khi nói về Tớng về

hu Ông viết: “Tớng về hu là truyện ngắn hay với lối viết khách quan rất có

hiệu quả thẩm mỹ Tác giả miêu tả mà không đa ra một lời bình luận, mộtcách giải quyết nào, ngời đọc trong khả năng của mình tự suy ngẫm, tự đánhgiá, tự rút ra kết luận cần thiết”

Trang 10

Cũng nói về Tớng về hu Tác giả Đặng Anh Đào đã đánh giá cao hình

thức mới lạ của tác phẩm này đó là cái nhìn dân chủ hoá của ngời kể chuyện,ngời kể chuyện tin rằng mình không phải mách nớc cho ai , lên lớp cho ai,thậm chí ở nhiều chỗ đứng thấp hơn nhân vật và bạn đọc

ý kiến khen chê về truyện ngắn này có chỗ khác nhau nhng thấy rõkhen là chính Một đôi ngời dù có chê vẫn phải thừa nhận Tớng về hu đợc viết

bởi một tài năng thực sự quý hiếm (Vũ Đức Phúc)

Bộ ba truyện “dã sử” Vàng lửa, Kiếm sắc, Phẩm tiết ra đời đã thực sự

gây nên một làn sóng giữ dội trong đời sống văn học nớc ta, cốt lõi của cuộctranh luận là mối quan hệ giữa Văn và Sử Ngời châm ngòi cho cuộc bút chiếnnày là Tạ Ngọc Liên: “ở đây tôi không bàn đến tài năng của nhà văn NguyễnHuy Thiệp, mà nhiều bạn đọc và nhà phê bình nhận xét là có cách viết độc

đáo, có phong cách sắc lạnh, có bút pháp dân tộc, cô đọng mạnh mẽ Tôi chỉxin đề cập sự khen chê có liên quan đến mối quan hệ giữa Văn học và lịchsử” Để kết thúc bài viết của mình ông cho rằng: “Đối với những giá trị mangtính trờng cửu này là tài sản tinh thần, là ký ức thiêng liêng của dân tộc,không hề h cấu xuyên tạc một cách tuỳ tiện giống nh không ai đợc phá hoạicác di tích lịch sử đã xếp hạng”

Lại có rất nhiều ý kiến khác cho rằng: Nguyễn Huy Thiệp đã bôi nhọlịch sử, xuyên tạc lịch sử, bóp méo sự thật vv… Những ý kiến này rõ ràng là ýkiến của những ngời đã nhìn nhận, tiếp cận truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp từgóc độ lịch sử

Một số ý kiến khác lại thích thú, bênh vực cho rằng: Phẩm tiết cũng

nh Vàng lửa là văn học h cấu, nhà văn có quyền viết nh vậy, đây là những

sáng tác mang ý nghĩa “dự báo” … Chẳng phải trong truyện Vàng lửa nhà

văn đã để cho độc giả tự lựa chọn cách kết thúc của truyện hay sao? Và đi đếnmột kết luận đây là sự h cấu và là kết quả của một tài năng

Trang 11

Những ý kiến tranh cãi trên đây cũng đặt ra một cách đọc, cách hiểu vềnhững thể loại tác phẩm văn học viết về lịch sử nên đọc và nên hiểu nh thếnào cho đúng.

Trong bài viết “Biển không có thuỷ thần” Đặng Anh Đào cho rằng:Nhân vật chính – Chơng ( Con gái thuỷ thần ) giống nh nhân vật trong

truyện cổ tích, nhng khác với nhân vật cổ tích là anh ta “tôi” Trong truyện cổtích không có “tôi” Nhân vật cổ tích đợc nhìn từ ngoài vào ta chỉ thấy hành

động của anh ta vào đó là điểm gần gũi của truyện Nguyễn Huy Thiệp với cổtích và một số truyện phổ cập ở dân gian

ở Chơng xuất hiện một cái “tôi” không đơn giản do lối xng hô của câuchuyện mà đó là một cái “tôi” có phần xa lạ với chính một phần của bản thânnhân vật Đó chính là tín hiệu khác thờng phát ra từ những truyện ngắn củaNguyễn Huy Thiệp

Nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp dù xng “tôi” hay đang độc thoại về cơbản vẫn là những ngời nói năng và hành động Nét độc đáo ấy làm nhiều bạn

đọc đã phát hiện ra họ có cả một số phận, tính cách Chính vì vậy khi đọcnhững tác phẩm có nhân vật “tôi” này ngời đọc nh nhận đợc sự nếm trải củanhân vật và nh bắt gặp chính mình ở đó

Đỗ Đức Hiểu trong bài “Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp” cũng nói về cái

“tôi”, cái tôi ấy bất an, không ổn định, nó vùng vẫy, đau khổ, cô đơn, luônluôn di chuyển nh Chơng – Con gái thuỷ thần Chỗ khác ông lại nói: Nhân

vật ấy dù là Chơng, là Nhâm, là “tôi”, hay Bạc Kỳ Sinh … chỉ là một con

ng-ời cô đơn, đầy lo âu và đầy khát vọng Nói nh vậy nghĩa là tác giả đã h cấucác nhân vật để thể hiện cho phù hợp cái t tởng của mình

Một tác giả nớc ngoài T.N.Filimonona khi đọc truyện ngắn NguyễnHuy Thiệp đã chứng minh rằng: “ Một trong những đặc điểm nổi bật của vănxuôi Nguyễn Huy Thiệp là việc thờng xuyên sử dụng thơ trong đó (từ nhữngcâu thơ lẻ đến những bài thơ dài, đôi khi chiếm dung lợng lớn trong các

Trang 12

truyện)… Trớc hết, ta bắt gặp trong văn Nguyễn Huy Thiệp cách sử dụng thơ

đợc mô típ hoá, nếu có thể nói nh thế, môtíp hoá theo cốt truyện một cáchvừa tự nhiên, vừa đúng lôgic sự vật … nhng trong truyện ngắn Nguyễn HuyThiệp còn có những tuyên mà ở đó việc vận dụng các đoạn thơ, có thể gọi làkhông khí môtíp hoá, ớc lệ, phi tự nhiên … nh những đoạn trữ tình ngoại đềhoặc nh giọng nói bên trong của nhân vật, hoặc nh giọng của ngời kể chuyện,

mà thờng là các giọng này hoà quyện với nhau

Diệp Minh Tuyền trong bài viết của mình ông nhận xét: “Nhân vật màNguyễn Huy Thiệp quan tâm miêu tả là con ngời hay đúng hơn là số phận của

nó Dù nhân vật đó là ai, mỗi nhân vật đều đợc anh tạc thành những tính cáchkhó quên Nhân vật của anh thờng rất thật nh đang đứng sờ sờ trớc mắt chúng

ta Quả thật khi xây dựng nhân vật khả năng h cấu của nhà văn thật tài tìnhkhiến cho ngời đọc cảm thấy cha từng gặp mà thấy giống

Nguyễn Thanh Sơn – nhà phê bình văn học đã chỉ ra Nguyễn HuyThiệp căm thù sâu sắc những kết thúc truyền thống (Trơng Chi) hay chính

xác hơn Ông căm thù tất cả những bức màn mà thói đạo đức giả đã căng ratrớc mắt con ngời, không cho họ nhìn thẳng vào sự thật

Nhận xét truyện ngắn Chút thoáng Xuân Hơng , tác giả Đào Duy Hiệp

cho rằng: “Truyện ngắn này có kết cấu chặt chẽ, viết về một chân dung vănhọc quá khứ” và “nghệ thuật đảo ngợc tuyến nhân vật và đợc chiếu ngắn quacái nhìn độc đáo, hiện đại của Nguyễn Huy Thiệp Ông đã mở ra một hớngmới cho thể loại truyện ngắn – chân dung sắc sảo, sâu xa nhìn từ góc độhôm nay”

Trong bài “Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” Trần Duy Thanh viết:

“Ngòi bút lạnh lùng của Nguyễn Huy Thiệp cứ thản nhiên phơi ra trên mặtgiấy bao nhiêu điều xấu xa, nhơ nhuốc, bỉ ổi của ngời đời Anh không chỉ “lật

áo” của nhân vật mà thật sự đã lôi tuốt tuột những thứ che đậy để nói ranhững điều vừa đau đớn vừa chua xót, nhng thơng lắm, Nguyễn Huy Thiệp d-

Trang 13

ờng nh thiên về mô tả những cảch đời nhiều cay đắng khốn cùng, bệ rạc vìtiền nong, vì mong muốn trục lợi bằng một cái nhìn thông minh sắc lạnh”.

Ngoài ra còn có khá nhiều bài viết đi sâu, bàn kỹ về sáng tác củaNguyễn Huy Thiệp nh:

+ Viết nh thế cũng là một cách bắn súng lục vào quá khứ Nguyễn

Thuý ái.

+ Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp - Đỗ Đức Hiểu

+ Chữ nghĩa với tâm hồn Trung Phơng

+ Xung quanh sáng tác Nguyễn Huy Thiệp Hồng Diệu.

+ Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, vài cảm nghĩ Nguyễn Đăng Mạnh.

+ Trái tim Thiệp Sean Jamis Rose Lê Minh Hà.– –

Để liệt kê đợc toàn bộ các ý kiến đánh giá về sáng tác của Nguyễn HuyThiệp thì chúng tôi e rằng không thể, chúng tôi cũng không thể kết luận ai

đúng ai sai mà chỉ muốn góp thêm ý kiến và sự hiểu biết của mình về mộthiện tợng đang còn nhiều bàn cãi Những ý kiến đánh giá ở trên, ngời thì quácực đoan, có ngời lại phiến diện Xuất phát từ nhiều lý do mà họ đã khen vàchê cha hoàn toàn đầy đủ và chính xác

Trớc những ý kiến đánh giá có khi trái ngợc nhau đó, chúng tôi sẽ khảosát đễ khẳng định sự đóng góp của Nguyễn Huy Thiệp trong việc dùng vănchơng để cải tạo con ngời Đồng thời chúng tôi cũng cố gắng chỉ ra nhữngchỗ cha thật đúng hoặc thiếu chính xác trong một số ý kiến khi cảm nhận vềtác phẩm Nguyễn Huy Thiệp

Trong ý nghĩa đó việc nghiên cứu vấn đề nhân vật xng “tôi” trong một

số truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là việc làm cần thiết và bổ ích, giúp giảmbớt những bất đồng trong đánh giá về Nguyễn Huy Thiệp làm cho việc phân

Trang 14

tích truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp có cơ sở khoa học hơn Mặc dù vấn đềnày cũng đã đợc các nhà nghiên cứu đề cập đến họ cũng đã có một số kếtluận thoả đáng Nhng nhìn chung nhân vật “tôi” trong các truyện ngắn củaNguyễn Huy Thiệp cha đợc phân tích một cách có hệ thống và triệt để Vớitrình độ còn hạn chế, các điều kiện nghiên cứu khác cũng có giới hạn nhngchúng tôi vẫn mạnh dạn vừa kế thừa những kết luận của những ngời đi trớc,vừa cố gắng phân tích, lý giải sâu hơn nữa về vấn đề nhân vật “tôi” trongtruyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, đóng góp phần nhỏ bé của mình vào hànhtrình “Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp”.

III Phạm vi nghiên cứu.

Do khuôn khổ đề tài có hạn cho nên chúng tôi chỉ nghiên cứu cáctruyện ngắn có nhân vật tôi xuất hiện Cụ thể chúng tôi sẽ khảo sát, phân tíchnhững truyện ngắn sau:

1 Chảy đi sông ơi.

Trang 15

13 Truyện tình kể trong đêm ma.

IV Mục đích và phơng pháp nghiên cứu.

Trong đề tài này chúng tôi sẽ sử dụng tổng hợp các phơng pháp: đọc,liệt kê, phân tích, đối chiếu, so sánh, hệ thống hoá để rút ra kết luận phù hợpvới mục đích nghiên cứu

Chúng tôi sẽ khảo sát, so sánh, các nhân vật xng “tôi” phát hiện nhữnggiá trị thẩm mỹ độc đáo tạo nên sức thu hút hay cái gọi là ma lực của truyệnngắn Nguyễn Huy Thiệp

1.2 Các loại nhân vật ngời kể chuyện

1.3 Những đặc điểm thi pháp của nhân vật “tôi” đóng vai ngời kểchuyện trong tác phẩm

Chơng II: Nhân vật “tôi” trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp

2.1 Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp

Trang 16

2.2 Phân loại các nhân vật “tôi” trong truyện ngắn Nguyễn HuyThiệp.

Chơng III: ý nghĩa thi pháp của các kiểu “tôi” trong truyện ngắnNguyễn Huy Thiệp

3.1 ý nghĩa thi pháp của kiểu “tôi” tham gia vào câu chuyện

3.2 ý nghĩa thi pháp của kiểu “tôi” tham gia thụ động vào câu chuyện.3.3 ý nghĩa thi pháp của kiểu “tôi” đứng ngoài câu chuyện

Nội dung

Chơng I

Về khái niệm nhân vật “ngời kể chuyện”

trong tác phẩm văn học

Trang 17

1.1 Khái niệm.

Văn bản xét cho đến cùng là do nhà văn kể ra, nhng thờng nhà văn xâydựng một nhân vật “ngời kể chuyện” có tính chất h cấu để thuận lợi trongviệc kể tả, nhân vật thay nhà văn tạo nên vản ngôn từ để tạo nên tác phẩm vănhọc Vậy tác phẩm văn học là gì ?

Theo “thuật ngữ văn học” – Lại Nguyên Ân cho rằng: Tác phẩm vănhọc là công trình nghệ thuật ngôn từ; kết quả hoạt động sáng tác (lao độngnghệ thuật) của cá nhân nhà văn hoặc kết quả nỗ lực sáng tác của tập thể; đơn

vị độc lập cơ bản của văn học

Tác phẩm văn học là phát ngôn phức hợp của ngời sáng tác ra nó; là sựphản ánh khúc xạ, vang hởng, dự cảm … của đời sống hiện thực; là đối tợngtích cực của sự tiếp nhận (cảm thụ) văn học

Sự cảm thụ bởi độc giả, sự lý giải bởi giới nghiên cứu, phê bình, bởi dluận xã hội từng thời đại đều làm phát sinh những phán đoán, đánh giá ítnhiều khác nhau về nội dung thẩm mỹ của tác phẩm Nh vậy, có thể coi tácphẩm văn học nh là sự thống nhất giữa những hàm nghĩa thẩm mỹ t tởng đã đ-

ợc mã hoá trong văn bản và những sự cảm thụ, lý giải bởi những thời đại vàthế hệ công chúng khác nhau

Trong giáo trình Lý Luận Văn Học phần tác phẩm văn học của Nhàxuất bản ĐHQG TPHCM (Lê Tiến Dũng) thì cho rằng: Tác phẩm văn học lànhững sáng tạo nghệ thuật bằng ngôn từ Sáng tạo này khác với những sángtạo nghệ thuật khác nh hội hoạ, điêu khắc, điện ảnh … ở chỗ nó đợc tạo rabằng ngôn từ

Là con đẻ của nhà văn nhng khi ra đời tác phẩm tồn tại độc lập với nhàvăn, nó có thể “chết” khi nhà văn còn sống, nó có thể “sống” trở thành bất tửcả khi nhà văn không còn nữa

Trang 18

Tiếp xúc với tác phẩm văn học trớc hết phải đọc đợc văn bản ngôn từcủa nó, ngời ta gọi đó là lớp ngôn từ hay lớp văn bản Qua văn bản ngôn từngời đọc bắt gặp những câu chuyện cảm xúc, t tởng, những con ngời, cảnh vật

… ngời ta gọi lớp này là lớp thế giới nghệ thuật hay lớp hình tợng bao gồmnhân vật, chi tiết, truyện, cốt truyện, không gian, thời gian …

Nhân vật ngời kể chuyện là loại nhân vật do nhà văn sáng tạo ra, nóthay nhà văn tạo nên văn bản ngôn từ để tạo nên tác phẩm văn học, nó tồn tạitrong các truyện tự sự (truyện, tiểu thuyết), nó khác với nhân vật trữ tình trongtác phẩm trữ tình (thơ)

Nhân vật ngời kể chuyện theo định nghĩa của “từ điển thuật ngữ vănhọc” (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi), là hình tợng ớc lệ về ngời

về “Ngời trần thuật” trong tác phẩm văn học Chỉ xuất hiện khi nào câuchuyện đợc kể ra bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm Đó có thể là hình t-ợng của chính tác giả (ví dụ: “tôi” trong Đôi mắt – Nam Cao), dĩ nhiên

không nên đồng nhất hoàn toàn với tác giả ngoài đời Có thể là một nhân vật

đặc biệt do tác giả sáng tạo ra (Ngời điên trong Nhật ký ngời điên – Lỗ

Tấn) Có thể là một ngời biết một câu chuyện nào đó Một tác phẩm có mộthoặc nhiều ngời kể chuyện, hình tợng ngời kể chuyện đem lại cho tác phẩmmột cái nhìn và một sự đánh giá bổ sung về mặt tâm lý, nghề nghiệp hay lậptrờng xã hội cho cái nhìn tác giả làm cho sự trình bày, tái tạo con ngời và đờisống trong tác phẩm thêm phong phú, nhiều phối cảnh

Theo Lê Tiến Dũng: Nhân vật ngời kể chuyện là nhân vật không đợcmiêu tả chân dung, ngoại hình, hành động nhng ngời đọc vẫn nhận ra qua

Trang 19

xét về câu chuyện và nó chỉ xuất hiện khi có một câu chuyện đợc kể ra bằnglời kể của nó – nó là hình tợng ớc lệ về ngời trần thuật – hình thái của hìnhtợng tác giả trong tác phẩm văn học nghệ thuật, là ngời mang tiếng nói, quan

điểm tác giả trong tác phẩm văn xuôi

M.Gorki vạch rõ: “Trong tiểu thuyết hay truyện, nghiên cứu con ngời

đợc tác giả miêu tả đều hành động với sự giúp đỡ của tác giả, tác giả luônluôn ở bên cạnh họ mách cho ngời đọc biết rõ phải hiểu họ nh thế nào, giảithích cho ngời đọc hiểu những ý nghĩ thầm kín, hành động cơ bí mật phía saunhững hành động của các nhân vật đợc miêu tả, tô đậm thêm cho tâm trạng

họ bằng những đoạn miêu tả thiên nhiên, trình bày hoàn cảnh và nói chung làluôn giật giây cho họ thực hiện những mục đích của mình, điều khiển mộtcách tự do và nhiều khi rất khéo léo, mặc dù ngời đọc không nhận thấy,những hành động, những lời lẽ, những việc làm, những mối tơng quan củahọ”

Nh vậy, thành phần của trần thuật không chỉ là lời thuật, mà chức năngcủa nó không chỉ là kể việc Nó bao hàm cả việc miêu tả đối tợng, phân tíchhoàn cảnh, thuật lại tiểu sử nhân vật, lời bình luận, lời trữ tình ngoại đề, lờighi chú của tác giả, khoảng cách góc độ của ngời kể đối với cốt truyện tạothành cái nhìn Mối quan hệ, thái độ của ngời kể đối với các sự kiện đợc kểcũng nh với ngời nghe, ngời kể ở “trong truyện” hay “ngoài truyện” ở giữangời nghe hay cách xa họ lại tạo thành giọng điệu của trần thuật Chính điềunày lại tạo ra các điểm nhìn Có điểm nhìn gần gũi với sự kiện, có điểm nhìncách xa trong không gian …Có điểm nhìn ngoài hoặc nhìn xuyên qua nội tâmnhân vật Có cái nhìn nhân vật, sự kiện từ một nền văn hoá khác

Từ thế kỷ XIX về trớc thịnh hành kiểu trần thuật khách quan do mộtngời trần thuật biết hết sự việc tiến hành theo ngôi thứ ba Sang thế kỷ XX,ngoài truyền thống ấy còn có thêm kiểu trần thuật theo ngôi thứ nhất do một

Trang 20

nhân vật trong truyện đảm nhiệm Sự trần thuật có khi biến thành “giọng ýthức” lời độc thoại nội tâm.

Mọi tác phẩm văn học đều đợc viết hoặc kể bằng lời: Lời thơ, lời văn,lời tác giả, lời nhân vật… gộp chung lại gọi là lời văn Trong tác phẩm văn họcthì ngời ta chia ra các thành phần của lời văn là lời trực tiếp và lời gián tiếp

Tuỳ theo loại tác phẩm văn học mà hai thành phần lời văn có vị trí vaitrò khác nhau Nhân vật ngời kể chuyện lại tồn tại ở loại tác phẩm tự sự, màtrong tác phẩm tự sự thì lời gián tiếp đóng vai trò chủ đạo

Lời gián tiếp là toàn bộ phần lời văn của tác giả, của ngời trần thuậthoặc ngời kể chuyện có chức năng, trình bày toàn bộ thế giới hình tợng, kể cảcác yếu nội dung, hình thức của lời nhân vật cho ngời đọc Lời gián tiếp cóhai nhiệm vụ thống nhất: Tái hiện và phân tích lý giải thế giới khách quan, vậtchất, sự việc, con ngời, cảnh vật, đồ vật Tái hiện và phân tích lý giải lời nói, ýthức ngời khác … Đó là sự phân tích tơng đối, bởi vì khó mà tách bạch thếgiới khách quan ra khỏi lời nói và ý thức con ngời về nó Nhng sự phân biệt làcần thiết bởi vì chức năng và cấu tạo của chúng trong lời văn tác phẩm khácnhau

Ngời kể chuyện là nhân vật do nhà văn h cấu để thuận lợi trong việc kểtả, nên là lời gián tiếp Lời gián tiếp của ngời kể chuyện, ngời kể chuyện th-ờng là một nhân vật của truyện, chẳng hạn nhân vật “tôi” trong Nhật ký ngời

điên – Lỗ Tấn; Andray Xôcôlôp trong Số phận con ngời - Xôlôkhôp; “tôi”

trong Bức tranh – Nguyễn Minh Châu Là lời của một nhân vật thì là lời trực

tiếp, nhng tác giả lại trao cho nó chức năng trần thuật nên lại là lời gián tiếp

Là lời của nhân chứng hoặc của ngời trong cuộc, lời ngời kể có một sứcthuyết phục riêng, có màu sắc cá tính và cảm xúc đậm đà Nhng mang sứmệnh trần thuật, nó phải thể hiện quan điểm tác giả Là lời kể của một ngời

cụ thể, nó mang tính chất độc thoại trực tiếp vừa mang tính chất của một chủthể xã hội, vừa mang tính chất của một nhân vật văn học Sự phân biệt hai ý

Trang 21

thức này thể hiện ở chỗ ý thức nhân vật thờng có hạn chế và có biến động,phát triển ý thức tác giả đợc xác định ngay từ đầu và đại diện cho trình độcao nhất của ý thức xã hội Chẳng hạn, lời ngời điên có tính chất điên; lờiXôcôlôp là lời ngời đã trải qua cơn bão táp chiến tranh thế giới; lời của “tôi”trong Bức tranh là lời hối hận trớc sự thất hứa Chức năng chung của loại lời

này là tăng cờng sức biểu hiện cảm xúc trực tiếp, chức năng thuyết phục củangời nhân chứng, chức năng tự giãi bày, tự thú, trữ tình Tính cách “điên” củalời ngời điên làm cho sự tố cáo đạo đức phong kiến thêm mạnh mẽ, khác th-ờng Nhng không đợc đồng nhất lời “điên” với lời tác giả Ngời điên mắcchứng “Bức hại cuồng”, chỉ sợ kẻ khác hãm hại mình ngày càng trầm trọng.Nhng cuối tác phẩm, lời kêu cứu “hãy cứu lấy các em !” là của tác giả, theolôgic của tác giả Dĩ nhiên, dù là lời của ai thì cũng phải từ điểm nhìn của tácgiả nhng không đồng nhất tác giả mà phải xem nh lời một nhân vật, nghĩa là

có đầy đủ đặc điểm của ngôn ngữ nhân vật

Chức năng văn học của lời gián tiếp của ngời kể chuyện là đa lại cácloại lời nói khác nhau: lời kể dân gian, lời khẩu ngữ, lời tự thú, tự trào thậmchí là lời điên lên hàng đầu lời văn văn học, làm phong phú cho văn học

Có thể so sánh nhân vật ngời kể chuyện với nhân vật trữ tình để thấy

đ-ợc sự khác nhau của nó

Nếu nh nhân vật ngời kể chuyện là loại nhân vật do nhà văn h cấu, nótồn tại trong các truyện tự sự thì nhân vật trữ tình lại là nhân vật đợc xây dựngtheo phơng thức trữ tình, trực tiếp thể hiện cảm xúc, ý nghĩa trong tác phẩm.Hiện có những tranh cãi về khái niệm nhân vật trữ tình, thông thờng, ngời taxem nhân vật trữ tình là hình tợng khái quát nh một tính cách văn học đợcxây dựng trên cơ sở lấy các sự thật của tiểu sử tác giả làm nguyên mẫu Đó làmột cái “tôi” đã đợc sáng tạo ra ý kiến khác nhấn mạnh rằng cùng với hình t-ợng ấy nhà thơ cũng thổ lộ tình cảm thật chân thành của mình trong nhữngtình huống thật trữ tình, và ngời đọc không lầm khi tin những tình cảm ấy là

Trang 22

thật Tuy vậy, không đợc đồng nhất giản đơn nhân vật trữ tình với tác giả, bởitrong thơ trữ tình nhà thơ xuất hiện nh “ngời đại diện cho xã hội, thời đại vànhân loại” (Bêlin xki) nhà thơ đã tự nâng mình lên một tầm khác với cái tôitrong đời thờng cá biệt.

Với nhân vật trữ tình khi miêu tả thờng lại phải chú ý tới các trạng tháicảm xúc, các nỗi niềm, các nhân vật tự sự lại chú ý nhiều hơn đến các sự kiện,hành động mà nhân vật tham gia, những suy t trăn trở mà nhân vật bộc lộ

Nhân vật trữ tình trong thơ khi đọc lên ta nh đọc đợc bản tự thuật tâmtrạng, ta hiểu hơn đời sống nội tâm của họ với những chi tiết về quê hơng, về

kỷ niệm, cuộc sống và cá tính sáng tạo

Huế ơi quê mẹ ta ơi

Sự từng trải và lối suy luận của Chế Lan Viên ghi rõ trong bốn dòngnày Thơ trữ tình vì vậy luôn mang lại quan niệm về một cá nhân con ngời cụthể, sống động, một cái “tôi” có nỗi niềm riêng

Trang 23

Bêlinxki khẳng định: “Bất cứ thi sĩ vĩ đại nào, sở dĩ họ vĩ đại là bởi vìnhững đau khổ và hạnh phúc của họ bắt nguồn từ khoảng sâu thẳm của lịch sửxã hội, bởi vì họ là khí quan và là đại biểu của xã hội, của thời đại

và của nhân loại”

Nếu nh ngôn ngữ ngời kể chuyện là ngôn ngữ khách quan, gián tiếp,thì ngôn ngữ thơ không bao giờ là ngôn ngữ khách quan, yên tĩnh, lời thơ th-ờng là lời đánh giá, trực tiếp thể hiện một quan hệ của chủ thể đối với cuộcsống

Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi ! Rừng cọ đồi chè, đồng xanh ngào ngạt Nắng chiếu sông Lô hò ô tiếng hát Chuyến phà rào rạt bến nớc Bình Ca

(Tố Hữu)Lời thơ là lời của chủ thể, nhng không phải chỉ là lời đi đôi với hành

động, mà hơn thế bản thân nó là hành động – “hành động” của ý thức, của

-ớc vọng, của niềm tin:

Trời xanh đây là của chúng ta Núi rừng đây là của chúng ta Những cánh đồng thơm mát Những ngả đờng bát ngát Những dòng sông đỏ nặng phù sa.

(Nguyễn Đình Thi)

Trang 24

Qua sự so sánh với nhân vật trữ tình trong thơ trữ tình thì nhân vật ngời

kể chuyện mang đầy đủ các đặc điểm của nhân vật mà nhân vật trữ tìnhkhông có đợc

Nh vậy để thấy rằng nhân vật ngời kể chuyện là nhân vật do nhà vănsáng tạo ra, nó nằm trong ý đồ nghệ thuật của nhà văn, hay nhà văn tạo nênvăn bản của ngôn từ để tạo nên tác phẩm văn học Mặc dù không đợc miêu tảchân dung, tính cách nhng ngời đọc vẫn nhận ra qua giọng kể Loại nhân vậtnày tồn tại trong các truyện tự sự cho nên nó chỉ xuất hiện khi có một câuchuyện đợc kể ra Sáng tạo ra loại nhân vật này là nhà văn muốn đạt đến mộthiệu quả biểu hiện cao t tởng chủ quan của mình Đây là một trong nhữngsáng tạo độc đáo của nhà văn

1.2 Các loại nhân vật ngời kể chuyện.

Trong tác phẩm, mọi sự biểu hiện, miêu tả đều từ tác giả mà ra, song

để tạo nên hình tợng nghệ thuật, tác giả thờng tạo ra những kẻ môi giới, đứng

ra kể chuyện, quan sát, miêu tả… Có thể gặp trong tác phẩm ngời trần thuật(thờng kể theo ngôi thứ ba) và ngời kể chuyện (thờng kể theo ngôi thứ nhất x-

ng “tôi”)

Ngời kể chuyện thờng đồng thời là nhân vật Sự phân chia này hoàntoàn tơng đối và thuần tuý mang tính nghệ thuật của mình, vì nhà văn lựachọn cách nào có hiệu quả hơn cho ý đồ nghệ của mình Trong hồi ký, bút ký,tuỳ bút … tác giả thờng trực tiếp xng “tôi” Trong thơ trữ tình có khi nhà thơxng tôi, khi thì không tuỳ theo kiểu t duy nghệ thuật So với nhân vật , điểmnhìn tác giả thờng là của ngời đứng ngoài, điểm nhìn nhân vật là nhìn theo cátính, địa vị, tâm lý nhân vật Điểm nhìn ngời trần thuật có thể tựa vào điểmnhìn nhân vật để miêu tả thế giới theo cảm nhận chủ quan của nhân vật

Dựa vào sự phân chia này có thể chia nhân vật ngời kể chuyện về cơbản có hai loại

Trang 25

+ Nhân vật khách quan: kể từ ngôi thứ ba, đây là loại thịnh hành từ thế

kỷ XIX về trớc Lời kể là lời của một ngời biết hết sự việc (tác giả hàm ẩn)

+ Nhân vật chủ quan: kể từ ngôi thứ nhất số ít, nhân vật xng tôi thamgia vào câu chuyện, kể bằng lời rất chủ quan, vừa kể vừa đánh giá

Một số học giả nh Istanzel, 1981 chia làm trần thuật theo điểm nhìn tácgiả và trần thuật theo điểm nhìn nhân vật

Trong ngời trần thuật thể hiện phong cách, cá tính sáng tạo của tác giảthì có thể nói tới tác giả ẩn tàng theo cách gọi của W.Boothe (1961) TheoBakhtin thì thế giới chủ thể ngời trần thuật có thế giới khách thể của nhân vật

là hai thế giới khác hẳn nhau Khi ngời kể chuyện vừa xng “tôi” vừa là mộtnhân vật thì ta có một thế giới thống nhất (nhng vẫn phân biệt về không gian,thời gian tâm lý với thế giới đợc kể Ngay trong Nhật ký cũng có khoảng cách

âý)

Ngời trần thuật ngôi thứ ba thì ở hẳn thế giới khác, anh ta xuất hiện vôhình trong thế giới nhân vật Còn khi ngời trần thuật dựa vào điểm nhìn nhânvật để thuật, thì xảy ra tình hình là nhân vật nhìn, cảm, nhng không thuật Cònngời trần thuật, nhng không nhìn, cảm Có ngời gọi đây là hình thức trần thuật

“vô nhân xng”

ở loại nhân vật thứ nhất: Nhân vật khách quan - kể chuyện ở ngôi thứ

ba - tác giả hàm ẩn Là một ngời biết toàn bộ câu chuyện nhng không thamgia vào câu chuyện kể bằng giọng khách quan, cho ngời đọc biết đợc câuchuyện xẩy ra thông qua giọng kể của mình Tự ngời đọc hiểu, nhận xét đánhgiá Còn bản thân ngời kể chuyện chỉ làm một việc dẫn dắt ngời đọc đi từ đầucâu chuyện cho đến hết bằng chính lời kể của mình, nhân vật này không hềxuất hiện trong truyện, tất cả những gì xẩy ra trong truyện đều không liênquan đến nhân vật kể chuyện này Nhân vật này đợc ví nh một máy quayphim, nó quay lại toàn bộ sự việc, sự vật nhằm cung cấp cho ngời đọc một cáinhìn khách quan về câu chuyện đang diễn ra, xẩy ra Nhân vật này hoàn toàn

Trang 26

đứng ngoài tác phẩm, đây là tác giả ẩn tàng Đây cũng là ý đồ nghệ thuật củatác giả, bởi vì nếu không phải là tác giả thì câu chuyện lại không có sự hấpdẫn ngời đọc, tác giả là ngời tạo ra thế giới nhân vật, nhân vật có thể đợc đánhgiá miêu tả ngoại hình, chân dung, có thể không, nhng ngời đọc vẫn nhận ramột hình tợng đang ẩn đằng sau câu chuyện, biết rõ toàn bộ câu chuyện haynói đúng hơn đang kể lại câu chuyện thì không ai khác đó là tác giả ẩn tàng.

Ví dụ: Trong câu truyện Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp Ngời kể

chuyện kể về cuộc sống đi săn của ông Diễu từ khi bắt đầu đi cho đến cuộcvật lộn của ông Diễu với những con khỉ, ngời kể chuyện còn nhìn xuyên quanội tâm của ông Diễu và cho đến khi ông Diễu trở về và nhìn thấy một loàihoa lạ, cho đến lúc ấy ông Diễu mới biết đó là hoa báo hiệu một điềm tốt đấtnớc thanh bình mùa màng phong túc

Nhân vật kể chuyện ở ngôi thứ ba này rất khách quan Đối với câuchuyện chính điều này tạo cho ngời đọc một cái nhìn chính xác về sự vật, từ

đó mọi đánh giá nhận xét, bình luận đều từ ngời đọc mà ra, tác giả cũng đãtạo cho ngời đọc một cách tiếp cận tác phẩm đó là cách tiếp cận nhìn từ bênngoài vào từ đó cảm nhận, chia sẻ, thông cảm hay tìm thấy sự đồng cảm vớinhân vật

ở loại nhân vật thứ hai: nhân vật chủ quan – ngôi thứ nhất xng tôi.Loại nhân vật này lại hoàn toàn tham gia vào câu chuyện, kể bằng lời kể rấtchủ quan, nhân vật này có thể vừa kể vừa đánh giá Đây là một loại nhân vậtrất độc đáo và chiếm u thế trong thể loại truyện tự sự (truyện ngắn, tiểuthuyết) từ thế kỷ XX trở đi Loại nhân vật này đợc nhà văn Nguyễn HuyThiệp sử dụng trong rất nhiều truyện ngắn của anh nh: Chảy đi sông ơi, Con gái thuỷ thần, Những bài học nông thôn ….

Suy cho cùng thì nhân vật này cũng là sự h cấu của tác giả, bởi vậy nómang tính chất h cấu nhiều hơn, sử dụng loại nhân vật này tác giả nhằm thểhiện hiệu quả hơn dụng ý nghệ thuật của mình Cùng một sự việc nhng nếu

Trang 27

tác giả đi thẳng vào đánh giá, bình luận thì nó không mang lại hiệu quả gì cảthậm chí gây nên tai hại cho tác giả, nhng nếu tác giả lại chọn cách xây dựngmột nhân vật ngời kể chuyện xng “tôi” kể lại câu chuyện, bình luận, đánh giábằng chính lời chủ quan của mình thì sẽ đa lại một hiệu quả nghệ thuật rấtlớn, giúp cho ngời đọc có cái nhìn, cái cảm câu chuyện từ bên trong nhân vậttôi, tôi ở đây có khi là tác giả, có khi là một nhân vật có tên cụ thể nhngchúng ta không nên đồng nhất “tôi” ở đây với tác giả Bằng cách đa nhân vật

kể chuyện ở ngôi thứ nhất này tác giả đã khẳng định khả năng sáng tạo nghệthuật của mình và câu chuyện lại hấp dẫn ngời đọc không phải ở những sựkiện mà ngời đọc còn dễ dàng bị chinh phục bởi lời kể rất chủ quan của ngờitrong cuộc, kể bằng sự trải nghiệm của bản thân Tự nó có thể nói về cuộc đờimình, nói về niềm vui, nỗi buồn, niềm hạnh phúc hay bất hạnh Nó có cả một

số phận, một cuộc đời, có tính cách riêng Do đó, mà ngời đọc có thể bắt gặpchính mình, ngời đọc sẽ cảm nhận đợc những nếm trải của nhân vật, cảmthông và chia sẻ với nhân vật

Nói nh vậy, không có nghĩa là nhà văn hoàn toàn độc lập với loại nhânvật này mà nhiều khi là chính lời lẽ của nhà văn Tuy nhiên không đồng nhấtnhà văn với nhân vật bởi vì thực chất đây là một nhân vật mang tính chất hcấu của nhà văn, nó đã thay nhà văn tạo nên văn bản ngôn từ để tạo nên tácphẩm văn học Xây dựng thành công loại nhân vật này cũng là sự khẳng địnhkhả năng sáng tạo độc đáo của nhà văn

Cả hai loại nhân vật này đều khẳng định cá tính sáng tạo của nhà vănkhi sáng tạo ra tác phẩm văn học Sự sáng tạo này của nhà văn đã giúp chongời đọc có thể dễ dàng cảm nhận và hiểu đợc điều mà tác giả muốn nói vớibạn đọc, thông qua đó để tác giả bộc lộ t tởng thái độ, tình cảm chủ quan củamình đối với cuộc sống xã hội, đối với những giá trị đạo đức tuỳ vào từnghoàn cảnh, tình huống mà tác giả thấy cần thiết phải sáng tạo ra loại nhân vậtnào và hiệu quả của nó khi sử dụng Thực tế đã cho thấy với tất cả hai loạinhân vật kể chuyện trên thì đã chứng minh đợc cá tính và khả năng sáng tạo

Trang 28

của nhà văn, nhng ở loại nhân vật chủ quan – tức là ngời kể chuyện ngôi thứnhất xng “tôi”, đã đa lại một hiệu quả cao, nhân vật kể bằng lời của mình,bằng sự trải nghiệm của bản thân nhng nó đã giúp ngời đọc đánh giá đợc cảmột thời đại, một gian đoạn, nhìn thấy đợc toàn bộ những mâu thuẫn và giằng

xé đang tồn tại ngoài xã hội

1.3 Những đặc điểm thi pháp của nhân vật “tôi“ đóng vai ngời kể chuyện trong tác phẩm.

Cùng với lời kể là hình tợng ngời kể chuyện xuất hiện Ngời kể chuyệntồn tại trong các tác phẩm tự sự Ngời kể chuyện chính là “ngời khác” đứng ra

hơn cả là một giọng trần thuật của ai đó không xuất đầu lộ diện nhng ngời

đọc vẫn nhận ra thái độ tình cảm t tởng nh trong Những ngời khốn khổ, Tắt

Đèn, Nửa chừng xuân, Con nhà nghèo … Ngời kể chuyện miêu tả, bình luận,

khêu gợi làm sáng rỏ các mối quan hệ của nhân vật, hoàn cảnh, sự kiện

Ngời kể chuyện nói nh M.Gorky giữ vai trò “mách nớc” cho độc giảhiểu và đánh giá các sự kiện, các nhân vật, cảm xúc trong tác phẩm Tuynhiên không phải bao giờ ngời trần thuật cũng lộ mình ra trên mặt giấy trangsách, mà đôi khi kể với giọng có vẻ rất lạnh lùng, rất khách quan Nhng dùkhách quan, đến đâu ngời đọc vẫn có thể nhận ra ngời đọc kể chuyện, thái độ,quan điểm, t tởng và khát vọng của họ qua thế giới nghệ thuật của tác giả

Trong văn học, ngời trần thuật, nhân vật kể chuyện, nhân vật hành

động đều là sản phẩm của h cấu ở mức độ khác nhau, do đó phát ngôn củachúng, tức là ngôn từ của văn bản nghệ thuật cũng mang tính hình tợng

Trang 29

Chẳng hạn khi Tố Hữu làm bài thơ Ngời con gái Việt Nam thì lời đề tặng

“Tặng chị Lý anh dũng” là lời của tác giả, còn khi nói:

Em là ai, cô gái hay nàng tiên ?

Em có tuổi hay không có tuổi ?.

Thì đó là lời của nhân vật trữ tình, một ngời tởng tợng có thể xng anh,

em với ngời con gái Việt Nam, nói những lời ngợi ca ở mức độ cao nhất màkhông ai dị nghị Tính hình tợng của ngôn ngữ trớc hết phát sinh từ tính hìnhtợng của việc sáng tạo thế giới bằng tởng tợng Mọi ngôn từ đều do tác giảphân thân ra mà phát biểu một cách hình tợng Nhờ tính hình tợng nà màtrong văn học không chỉ con ngời mà cả cây cỏ, muông thú cũng đều có thểphát ngôn, không chỉ ngời sống mà cả ngời chết, ma quỷ đều có ngôn từ củachúng

Nhân vật “tôi” đóng vai ngời kể chuyện là nhân vật do nhà văn h cấu

mà ra, mà lại là nhân vật xng tôi trong tác phẩm cho nên nó mang một số đặc

điểm thi pháp riêng của nó Trớc hết nó mang đặc điểm chủ quan: Đây lànhân vật “tôi” trong tác phẩm, nó tham gia vào câu chuyện, nó đặt mình ở thì

“bây giờ” để kể cho ngời đọc về câu chuyện xẩy ra, lời kể là lời của ngờitrong cuộc, nhân vật “tôi” tham gia vào câu chuyện, nếm trải tất cả những gìxẩy ra, nó có hẳn một số phận, một cuộc đời, vừa giống lại vừa không giốngvới một số phận ở ngoài đời Nhân vật này vừa kể chuyện vừa qua đó tự mìnhbộc lộ hết ý kiến khen chê, đồng ý hay phản bác của bản thân mình một cáchchủ quan mà không ngại ngùng, không do dự, hay nói một cách khác, loạinhân vật này tự nó cho nó cái quyền đợc vui sớng, đau khổ, khen chê mà nókhông sợ bị rầy la hay cấm đoán

Nó mang tính chủ thể rõ ràng, vừa kể vừa đánh giá, bộc lộ thái độ yêughét, của bản thân Nhân vật “tôi” có khi là tham gia vào toàn bộ câu chuyệntrong tác phẩm, có thể là nhân vật chính

Trang 30

Trong tác phẩm Ngời thầy đầu tiên của T.Aimatov đã bắt đầu bằng nỗi

trăn trở của một hoạ sĩ về việc vẽ một bức tranh với hai cây phong Từ nỗitrăn trở ấy tác giả kể lại câu chuyện trong sự hồi tởng của nhân vật chính vềnhững năm tháng đã qua đã tạo nên “Bức tranh cuộc đời” mà hai cây phong

nh một chứng nhân Những sự vật đợc kể ra không chỉ là những sự kiện màcòn là những chiêm nghiệm những kỷ niệm cuộc đời không thể quên Hai câyphong với hình ảnh Ngời thầy đầu tiên trở nên có sự rung động mãnh liệt

Nh vậy câu chuyện ở đây diễn ra là bằng sự hồi tởng của nhân vậtchính nhng lại là tác giả kể lại, cho nên kể lại mang tính chủ quan

Nhân vật “tôi” đóng vai ngời kể chuyện, lời lẽ theo ngôi thứ nhất vốnthuộc dạng lời trực tiếp, vì là lời của nhân vật Nhng xét về chức năng trầnthuật thì nó có tính gián tiếp Bakhtin xếp loại lời này vào dạng hai giọng

đồng hớng

Lời này mang lại chất trữ tình, khả năng nhân vật “tôi” tự bộc bạch, tựphân tích, đánh giá

Ví dụ: Tác phẩm Lão Hạc của Nam Cao.

Lơi này mang lại một điểm nhìn mang quan niệm đặc biệt Ví dụ:Trong Nhật ký ngời điên của Lỗ Tấn, nhà văn cần một tiếng nói điên để lên

án mạnh mẽ chế độ phong kiến ăn thịt ngời

Hoặc nhà văn cần một giọng nói của ngời trong cuộc

Lời kể ở ngôi thứ nhất có thể đợc kịch hoá, ngời kể không chỉ kể màcòn đóng vai trò nào đó

Ví dụ: Truyện: Tôi tự tử – nhân vật “tôi” là một tên láu cá, đểu cáng.

Hoặc: Tác phẩm Lại chuyện con mèo, “tôi” đóng vai một ngời chậm

hiểu

Trang 31

Nhân vật “tôi” đóng vai ngời kể chuyện suy cho cũng là nhân vật đợcnhà văn h cấu, nhà văn trao cho nó quyền phát ngôn, và nó thay nhà văn tạonên văn bản ngôn từ để tạo ra tác phẩm, mặc dù nó mang tính chủ quan, tínhchủ thể rõ ràng những nó cũng nằm trong ý thức chủ quan của nhà văn, lờicủa nhân vật chính là lời của nhà văn, nhng nhà văn không muốn tự mìnhtham gia, bình luận, đánh giá câu chuyện, cho nên không nên đồng nhất lờinhà văm với lời nhân vật “tôi” Tác giả đã sáng tạo ra nhân vật “tôi” đóng vaingời kể chuyện, qua câu chuyện, ngời đọc hình dung ra một nhân vật tôi vớimột số phận riêng, một cuộc đời riêng độc lập với nhà văn, nó có tiếng nóiriêng – ở đây ngời đọc dễ đồng cảm và cảm nhận đợc tất cả những đắng cayngọt bùi của nhân vật, cảm nhận đợc những trải nghiệm trong cuộc đời mànhân vật đã trải Tất cả những điều mà nhân vật “tôi” kể ra nh những cái đãqua, bởi vì nói đến kể thì ngời ta vẫn nghĩ đến những đã qua Chính vì thế mànhân vật “tôi” cũng là nhân vật trải nghiệm Cho nên tự mình nhân vật đã bộcbạch tất cả những vui buồn, đau khổ của cuộc đời mình, ngời đọc chính vì vậykhi đọc tác phẩm với nhân vật “tôi” đóng vai ngời kể chuyện đã bắt gặp mộtnét tính cách của mình Đây là đỉnh cao trong sáng tạo của nhà văn Tất cảkhông nằm ngoài ý thức chủ quan của nhà văn.

Nhân vật “tôi” đóng vai ngời kể chuyện trong tác phẩm nó kể bằng lờichủ quan là lời của ngời trong cuộc tham gia vào câu chuyện trong tác phẩmcho nên nó mang dấu ấn tổng hợp của nhân vật kể chuyện, mang hơi thởnguồn gốc của nhân vật “tôi” Nhân vật “tôi” kể về câu chuyện của mình mộtcách chủ quan cho nên ngời đọc nhờ đó mà biết đợc nguồn gốc của nhân vậttôi - đóng vai ngời kể chuyện Nhân vật “tôi, là ngời ở miền núi hay miềnxuôi, là bác sĩ, công nhân, thợ trẻ, thầy giáo hay là sinh viên, xuất thân từnông thôn hay ở thành thị, là đàn ông hay đàn bà, là ngời lớn trẻ con haythanh niên, là trí thức hay ngời lao động …Tất cả những thông tin về nhân vậttôi đóng vai ngời kể chuyện đều đợc chính nhân vật đó nói ra, kể ra

Trang 32

Ví dụ: Trong tác phẩm Những bài học nông thôn của nhà văn Nguyễn

Huy Thiệp – ngời kể chuyện nói: “Mẹ tôi là nông dân, còn tôi sinh ởnông thôn…”

Nh vậy, qua lời kể của nhân vật ngời đọc nhận biết đợc nguồn gốc, dấu

ấn của nhân vật “tôi” đóng vai ngời kể chuyện Nếu nhân vật “ tôi” làmột thầy giáo thì trong lời kể của nhân vật này mang tính chất của một giáochức Vì nhân vật này sẽ kể về nghề nghiệp của mình, về bài giảng, về nhữngcâu triết lý, nói chung ngôn ngữ kể chuyện mang hơi thở, nguồn gốc, nghềnghiệp của chính nhân vật tôi đóng vai ngời kể chuyện Nếu nhân vật kểchuyện là một ngời thợ xẻ (Những ngời thợ xẻ) hay một anh thợ đúc gạch (Con gái thuỷ thần) của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp thì qua lời kể của những

nhân vật này ngời đọc cũng nhận ra nghề nghiệp của họ, nghề thợ xẻ nó khónhọc nh thế nào hay nghề đúc gạch vất vả làm sao, phải làm nh thế nào … Tấtcả đều đợc nhân vật tôi kể ra rành mạch, rõ ràng Cũng có khi nhân vật tôi

đóng vai ngời kể chuyện là đàn bà thì lời kể cũng thể hiện những tính chấtcủa đàn bà, ngời kể là đàn ông thì lời kể mang tính chất của đàn ông Nhà vănphải nhập thân vào nhân vật vì nhà văn đã h cấu nó cho nên lời kể của nhânvật cuối cùng cũng là lời kể của tác giả mà ra cho nên nó mới mang hởi thở,nguồn gốc, giới tính của nhân vật h cấu Tuy nhiên để hiểu đợc ý đồ nghệthuật của tác giả thì chúng ta không nên đồng nhất lời tác giả với lời nhân vật

Nhân vật “tôi” đóng vai ngời kể chuyện kể bằng lời kể chủ quan, lờicủa ngời trong cuộc, nhân vật này thờng đứng ở vị trí trung tâm trong tácphẩm, nó tham gia vào câu chuyện trong tác phẩm Cho nên lời kể mang hơithở, nguồn gốc, dấu ấn tổng hợp của nhân vật kể chuyện Chính vì nó kể bằnglời chủ quan của một nhân vật tôi, có số phận, tính cách và cuộc đời riêng chonên nhờ đó mà lời văn kể dễ đi vào lòng ngời đọc, nó chinh phục ngời đọc tr-

ớc hết bằng tình cảm, ngời đọc thấy gắn bó, chia sẻ với nhân vật Nhân vật tôi

đã kể về chính số phận, cuộc đời, những đau khổ, vui buồn, đợc mất của bảnthân cho nên ngời đọc thấy gần gũi, thân thiết nh đang chứng kiến một cuộc

Ngày đăng: 21/12/2013, 12:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân, 150 thuật ngữ văn học, NXB ĐHQG, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Nhà XB: NXB ĐHQG
2. Lê Tiến Dũng, Lý luận văn học phần tác phẩm văn học, NXB ĐHQG TPHCM 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học phần tác phẩm văn học
Nhà XB: NXB ĐHQGTPHCM 2004
3. Hà Minh Đức (Chủ biên) - Đỗ Văn Khang – Phạm Quang Long, Lý luận văn học NXB GD 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luậnvăn học
Nhà XB: NXB GD 1996
4. Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc Phi, 150 thuật ngữ văn học, NXB ĐHQG Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
5. Phơng Lựu – Trần Đình Sử – Nguyễn Xuân Nam … Lý luận văn học NXB GD 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Nhà XB: NXB GD 1997
6. Nguyễn Đăng Mạnh, Con đờng đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, NXB GD Hà Nội 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đờng đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn
Nhà XB: NXB GD Hà Nội 1992
7. Phạm Xuân Nguyên, Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp, NXB VH – TT, Hà Nội 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp
Nhà XB: NXB VH – TT
8. Nguyễn Đức Quyền – Nguyễn Hồng Vân, Những bài văn đạt giải quốc gia, NXB GD Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài văn đạt giải quốcgia
Nhà XB: NXB GD Hà Nội
9. Trần Đình Sử, Dẫn luận thi pháp học, NXB GD, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận thi pháp học
Nhà XB: NXB GD
10. Nguyễn Huy Thiệp, Tuyển tập truyện ngắn NXB VH 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập truyện ngắn
Nhà XB: NXB VH 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w