1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhân vật nữ trong truyện ngắn về đề tài chiến tranh từ 1945 đến nay

94 933 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhân vật nữ trong truyện ngắn về đề tài chiến tranh từ 1945 đến nay
Tác giả Đỗ Thị Hồng
Người hướng dẫn TS. Hoàng Mạnh Hùng
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 552,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một nửa của thế giới đã hiện lênthành những khuôn hình đẹp trong ca dao, cổ tích, trong thơ ca, tiểu thuyết,… ở đời thờng, họ là nguồn cảm hứng vô tận cho những sáng tạo của văn học thìt

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

Trờng đại học vinh

Trang 2

Lời cảm ơn

Luận văn đợc hoàn thành tại khoa đào tạo sau đại học, Trờng đại học Vinh Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo - TS Hoàng Mạnh Hùng - ngời đã trực tiếp giao đề tài, tận tình hớng dẫn, giúp đỡ tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn.

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn của mình tới các thầy, cô giáo trong khoa Ngữ văn nói chung và tổ văn học Việt Nam nói riêng cùng toàn thể gia đình, bạn bè ngời thân đã giúp tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn

Vinh, tháng 12 năm 2010

Tác giả

Đỗ Thị Hồng

Trang 3

mở đầu

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Từ xa đến nay, trong suốt dòng chảy miệt mài của mình, văn học chabao giờ thiếu vắng hình bóng ngời phụ nữ Một nửa của thế giới đã hiện lênthành những khuôn hình đẹp trong ca dao, cổ tích, trong thơ ca, tiểu thuyết,…

ở đời thờng, họ là nguồn cảm hứng vô tận cho những sáng tạo của văn học thìtrong điều kiện chiến tranh họ càng trở thành đối tợng đợc quan tâm chú ý.Hiện thực hào hùng, nhng thấm đẫm đau thơng, nghiệt ngã của chiến tranh in

đậm lên cuộc đời ngời phụ nữ Trong chiến tranh họ đã sống và chiến đấu nhthế nào? Sau chiến tranh cuộc đời, số phận họ ra sao? Đó là tâm điểm thu hútkhông ít ngời cầm bút có trách nhiệm Chính vì lẽ đó, ngời phụ nữ trở thànhhình tợng trung tâm trong nhiều tác phẩm viết về đề tài chiến tranh từ 1945

đến nay

1.2 Truyện ngắn đợc xem là một thể loại tiêu biểu của văn học hiện đại

đặc biệt là sau 1945 nó gặt hái đợc nhiều thành tựu Với u thế riêng của thểloại, truyện ngắn có nhiều khả năng đa dạng, phong phú trong việc thể hiệnhình tợng ngời phụ nữ trong và sau chiến tranh Nghiên cứu đề tài này giúpchúng tôi thấy đợc sự vận động của truyện ngắn về đề tài chiến tranh trong sựvận động chung của văn học từ 1945 đến nay

1.3 Trong chơng trình ngữ văn THCS và THPT có một số truyện ngắn

viết về đề tài chiến tranh xuất hiện nhân vật nữ Cụ thể nh: Chiến trong Những

đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi), Phơng Định, Nho và Thao trong Những

ngôi sao xa xôi (Lê Minh Khuê), nhân vật bà mẹ trong Bức tranh (Nguyễn

Minh Châu), Những nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần giảng dạy tốt hơn

những tác phẩm trên

Trên đây là những lí do thu hút chúng tôi đến với đề tài Nhân vật nữ

trong truyện ngắn về đề tài chiến tranh từ 1945 đến nay chúng tôi hi vọng,

qua luận văn có thể thấy đợc những sắc thái khác nhau của chiến tranh quanhân vật ngời phụ nữ đồng thời thấy đợc giá trị thực sự của họ trong sựnghiệp chung của toàn dân tộc Từ đó khẳng định các giá trị nhân bản bềnvững vốn là kết tinh của mảng văn học viết về chiến tranh

2 Lịch sử vấn đề

Từ 1945 đến nay, trong đề tài chiến tranh, nhân vật ngời phụ nữ đã đợccác nhà văn đặc biệt quan tâm, dành nhiều trang viết Hàng loạt các truyệnngắn đã trở thành điểm thu hút hấp dẫn giới nghiên cứu phê bình và độc giả

Trang 4

Chúng tôi chia nhóm các bài viết về nhân vật nữ trong các truyện ngắn viết vềchiến tranh thành hai nhóm cơ bản nh sau:

2.1 Nhóm các bài viết bàn về nhân vật nữ trong truyện ngắn viết về chiến tranh qua các thời kỳ văn học

Trớc hết là các ý kiến quan tâm đến thời sự văn học nói chung, đã ítnhiều đề cập đến lí luận về văn xuôi thời kỳ trớc và sau 1975 của các tác giả đitrớc nh: Trần Đình Sử, Phong Lê, Trơng Đăng Dung, Đỗ Đức Hiểu, Lê NgọcTrà, Bích Thu, Trần Cơng, Nhìn chung các bài nghiên cứu phê bình đềuthống nhất ý kiến cho rằng: ở văn học trớc 1975 hình tợng ngời phụ nữ đợcnhìn nhận với vẻ đẹp hoàn mĩ nhng sau 1975, khi có một độ lùi thời gian cầnthiết, các nhà văn đã nhìn nhận ngời phụ nữ trong một cái nhìn đa chiều vớinhiều nét tính cách khác nhau Nếu nỗi đau thơng mất mát là điều ít đợc nói

đến trong văn học trớc giải phóng thì trong văn học hôm nay lại rất chú trọngthể hiện số phận của ngời phụ nữ đã từng đi qua chiến tranh

Tác giả Lê Quang Trang trong bài Vài nét về thân phận ngời phụ nữ đi

qua chiến tranh qua các tác phẩm Ngời mẹ tội lỗi của Xuân Thiều, Nớc mắt

đỏ của Trần Huy Quang, Chim én bay của Nguyễn Trí Huân đã đặc biệt chú ý

tới bi kịch những ngời phụ nữ đi qua chiến tranh Tác giả nhấn mạnh: “Chiếntranh bao giờ cũng đi liền với tàn phá chết chóc, bất hạnh, mất mát Có lẽ đốitợng mất mát nhiều nhất chính là phụ nữ, vì những đặc điểm riêng của giớitính Nhng chiến tranh giành độc lập cho tổ quốc cho dân tộc, với sự cần thiếtcủa nó thì chính những mất mát kia chỉ làm cho chúng ta yêu quý những gìchúng ta có hôm nay” [65] Nói về số phận của những ngời phụ nữ đi quachiến tranh tác giả Lê Quang Trang đồng thời khẳng định vai trò của họ trongthắng lợi chung của toàn dân tộc Tuy nhiên, tác giả mới chỉ dừng lại ở bi kịchcủa ngời phụ nữ đi qua chiến tranh còn các khía cạnh khác trong cuộc đời của

họ cha đợc tác giả đề cập tới

Trong bài Một vài suy nghĩ về con ngời trong văn xuôi thời kỳ đổi mới,

tác giả Tôn Phơng Lan lại chú ý tới nhân vật cô đơn trong văn xuôi thời kỳ đổi

mới, trong đó có nhân vật Quỳ (Ngời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành

-Nguyễn Minh Châu) Đó là ngời “trong cái vỏ bọc là ngời bị bệnh mộng du đãsống cuộc sống cô đơn vì lang thang đi tìm chân trời của những giá trị tuyệt

đối hoàn mĩ” Tác giả cũng cho rằng: “văn xuôi thời kỳ này nhất là nhữngnăm đầu của thập niên chín mơi, nhân vật cô đơn là phụ nữ xuất hiện rất phổbiến Những ngời phụ nữ đi qua chiến tranh thờng không chỉ mang nỗi cô đơnvì thờng xuyên phải sống nơi “chốn giáp ranh giữa địa ngục và trần gian”, vì

Trang 5

quanh năm suốt tháng họ chỉ tiếp xúc với những ngời cùng giới với nhau trong

công việc sinh hoạt hàng ngày nh ngời sót lại của rừng cời Sau chiến tranh

khi cuộc sống trở lại cái yên ả đời thờng, không ít ngời phụ nữ đã giật mình vìtuổi thanh xuân của họ không còn phần nửa cuộc đời của họ nằm lại nơichiến trờng hoặc không có cơ hội để tìm lại đợc” [39]

Bích Thu trong bài Những dấu hiện đổi mới của văn xuôi sau 1975 qua

hệ thống mô típ chủ đề, viết: “Một số cây bút nữ đã hớng ngòi bút vào số phận

của những ngời đàn bà đi suốt cuộc đời mà không tìm thấy tổ ấm, một nơi trúngụ tinh thần bởi sự thất vọng về tình yêu về ngời bạn trăm năm, vì vậy họluôn phải đối diện với nỗi trống vắng của tâm hồn bởi những hụt hẫng vô cớ,thất thờng của tâm trạng cô đơn” [74]

Trong bài Chiến tranh, tình yêu, tình dục trong văn học Việt Nam đơng

đại, tác giả Đoàn Cầm Thi đã gián tiếp bàn về nhân vật nữ trong văn xuôi

đ-ơng đại qua một chủ đích khác: yếu tố tình dục trong văn xuôi đđ-ơng đại viết

về chiến tranh, qua nhân vật nữ nh: Thai, Huệ (Cỏ lau - Nguyễn Minh Châu), Thảo (Ngời sót lại của rừng cời - Võ Thị Hảo), Hạnh, Thắm (Bến không

chồng - Dơng Hớng), Phơng (Nỗi buồn chiến tranh - Bảo Ninh), Diễm (Đàn

sẻ ri bay ngang rừng - Võ Thị Xuân Hà) Bi kịch về tình yêu, tình dục càng

khắc hoạ rõ nét hơn số phận bất hạnh của ngời phụ nữ trong và sau chiếntranh

Ngoài ra, còn có một số bài nghiên cứu bàn về nhân vật nữ trong truyệnngắn của một hoặc một nhóm tác giả đợc đăng rải rác trên các báo, tạp chí uytín khác Các tác giả nh: Nguyễn Văn Long, Bùi Việt Thắng, Bích Thu, LêNgọc Trà, Nguyễn Hoà, Đặng Văn Sinh, Nguyễn Thị Hơng Giang, NguyênNgọc đã có rất nhiều bài viết, bài nghiên cứu về truyện ngắn viết về đề tàichiến tranh Tuy nhiên, đối tợng chủ yếu là những ngời lính nam mang phẩmchất, tâm hồn và dấu ấn của thời đại Nhân vật nữ là một đối tợng thẩm mĩriêng biệt nhng lại rất ít đợc đề cập tới và nếu có đề cập tới thì lại nằm trongcái nhìn chung về nhân vật ngời lính

2.2 Nhóm các công trình nghiên cứu về nhân vật nữ trong truyện ngắn từ 1945 đến nay (qua một số tác giả tiêu biểu)

Trong bài Những ấn tợng chung về nhân vật nữ của Nguyễn Minh Châu tác giả Nguyễn Thị Minh Thái đã phát biểu những cảm nhận chung của mình

về nhân vật nữ trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu tập trung vào nhân vật

Quỳ - Ngời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, tác giả viết: “Trớc Nguyễn Minh

Châu, trong văn xuôi hiện đại và cả những tác phẩm chính của Nguyễn Minh

Trang 6

Châu, tôi hầu nh cha gặp một nhân vật phụ nữ nào có tính cách mạnh và rõràng đến thế và theo một cách diễn đạt thông thờng có khả năng làm chủ vậnmệnh của mình đến thế!” Từ nhận xét về nhân vật Quỳ, Nguyễn Thị MinhThái đi đến cảm nhận chung về nhân vật ngời phụ nữ của Nguyễn Minh Châu:

“Những nhân vật đáng yêu nhất của Nguyễn Minh Châu chính là những nhânvật ngời phụ nữ Và chỉ riêng đóng góp cho những tính cách văn học ấy củavăn nghiệp của anh cũng khiến anh có một vị trí trong những nhà viết vănxuôi Việt Nam hiện đại và khiến cho anh có một diện mạo không thể hoà lẫn”[66] Những nhận xét trên đây tuy mới chỉ ở dạng nhận định, phát biểu cảm t-ởng về nhân vật nữ của một tác giả nhng đã tiếp cận những nét riêng của nhânvật nữ trong văn xuôi thời kỳ đổi mới so với văn học trớc Nguyễn Văn Hạnh

trong bài Nguyễn Minh Châu những năm 80 và sự đổi mới cách nhìn về con

ngời [26], đã dành một phần viết lớn để nói về nhân vật nữ nh những dẫn

chứng tiêu biểu cho quan niệm mới của Nguyễn Minh Châu “Nguyễn MinhChâu đã cảm nhận đợc ngày càng rõ nét những chuyển động có ý nghĩa thời

đại của cuộc sống và của văn học… Đặc biệt là về ngời phụ nữ, nhân vật ờng trực đầy hấp dẫn trong tác phẩm của Nguyễn Minh Châu” Đoàn Cầm

th-Thi, trong bài Chiến tranh, tình yêu, tình dục trong văn học Việt Nam đơng

đại, còn nhận xét về nhân vật nữ của Võ Thị Hảo: “Với truyện ngắn Võ Thị

Hảo, lần đầu tiên văn học Việt đặt câu hỏi trực tiếp về cuộc sống tâm lí và tìnhdục của nữ thanh niên xung phong Trờng Sơn trong và sau chiến tranh Đâu lànhững câu hỏi nhục dục của họ? ở họ ham muốn, dồn nén, cuồng loạn đợc thểhiện nh thế nào?” “Võ Thị Hảo thờng cho nhân vật thể hiện trực tiếp nhụcthể, đó chính là cái mới trong tác phẩm của chị” [72]

Ngoài ra, nhân vật nữ trong truyện ngắn về đề tài chiến tranh, còn là đốitợng luận văn thạc sĩ Ngữ văn khai thác nhng khác về góc độ và nhiệm vụnghiên cứu, nh:

Đào Đồng Điện (2004), Nhân vật nữ trong văn xuôi Việt Nam từ 1986

đến nay, Luận văn thạc sĩ, Đại học Vinh

Nguyễn Thị Thu Hơng (2004), Một số đặc điểm nổi bật của truyện ngắn

các nhà văn nữ Việt Nam từ 1986 đến nay, Luận văn thạc sĩ, Đại học Vinh.

Nguyễn Thị Kim Hoa (2007) Con ngời cá nhân trong truyện ngắn Việt

Nam sau 1975, Luận văn thạc sĩ, Đại học Vinh

Thăng Thị Phơng (2008), Nhân vật trong văn xuôi Võ Thị Hảo, Luận

văn thạc sĩ, Đại học Vinh

Trang 7

Nhìn chung ở các công trình nghiên cứu này đã phát hiện ra những vẻ

đẹp tiềm ẩn của ngời phụ nữ trong hoàn cảnh chiến tranh và trong hoàn cảnhmới Tuy nhiên, tình hình nghiên cứu về nhân vật nữ trong truyện ngắn viết về

đề tài chiến tranh còn ít Mỗi bài nghiên cứu, mỗi bài viết, mỗi ý kiến thờngchỉ đề cập tới một hoặc một vài khía cạnh nỗi bật của nhân vật nữ hoặc chỉbàn về nhân vật nữ của một tác giả tiêu biểu chứ cha thực sự nhìn nhận, xemxét, lí giải nó trong tính hệ thống Do vậy, quan tâm nghiên cứu nhân vật nữtrong truyện ngắn viết về đề tài chiến tranh vẫn còn là một vấn đề để ngỏ

Những lí do trên khiến chúng tôi chọn đề tài Nhân vật nữ trong truyện ngắn

về chiến tranh từ 1945 đến nay

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tợng nghiên cứu

Nhân vật nữ trong truyện ngắn về đề tài chiến tranh từ 1945 đến nay với các đặc điểm về phẩm chất, số phận đợc thể hiện qua hai không gian: chiến tr-ờngvà hậu phơng

3.2 Phạm vi

Chúng tôi chủ yếu tập trung khảo sát nhân vật nữ trong các tuyển tập:

Truyện ngắn xuất sắc viết về đề tài chiến tranh, Nxb Hội nhà văn, 1995 Tuyện ngắn hay về chiến tranh, Nxb Văn học, 2006.

Tuyển tập truyện ngắn đợc giải Văn nghệ quân đội, Nxb Văn học, 2007.

Ngoài ra, luận văn còn khảo sát thêm các tác phẩm viết về đề tài chiếntranh của một số tác giả nh: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Quang Thiều

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Chỉ ra những nét khái quát về nhân vật nữ trong truyện ngắn về đề tàichiến tranh văn học Việt Nam

5.2 Tìm hiểu nhân vật nữ trong truyện ngắn về đề tài chiến tranh trên cácphơng diện phẩm chất và số phận

5.3 Nhận diện nhân vật nữ trong truyện ngắn về đề tài chiến tranh ở nghệthuật xây dựng nhân vật

6 Cấu trúc luận văn

Trang 8

Ngoài mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chơng:

Chơng 1 Khái quát về nhân vật nữ trong truyện ngắn về đề tài chiếntranh từ 1945 đến nay

Chơng 2 Vẻ đẹp và số phận nhân vật nữ trong truyện ngắn về đề tàichiến tranh từ 1945 đến nay

Chơng 3 nghệ thuật xây dựng nhân vật nữ trong truyện ngắn về đề tàichiến tranh từ 1945 đến nay

Trang 9

Chơng 1

Khái quát về nhân vật nữ trong truyện ngắn

về đề tài chiến tranh từ 1945 đến nay

1.1 Truyện ngắn và u thế của thể loại

đổi không cùng Nó là một vật biến hóa nh quả chanh của Lọ Lem Biến hóa

về khuôn khổ: ba dòng hoặc ba mơi trang Biến hóa về kiểu loại: tình cảm,trào phúng, kỳ ảo Hớng về biến cố thật hay tởng tợng, hiện thực hoặc phóngtúng Biến hóa về nội dung thay đổi vô cùng tận Muốn có chất liệu để kể, cầnmột cái gì đó xảy ra, dù đó là sự thay đổi chút xíu về sự cân bằng, về các mốiquan hệ Trong thế giới của truyện ngắn, cái gì cũng thành biến cố Thậm chí

sự thiếu vắng tình tiết diễn biến cũng gây hiệu quả, nó làm cho sự chờ đợi bịhụt hẫng” [31, 79]

Nhà văn ngời Nga Pautôpxki khi bàn về truyện ngắn đã đặt câu hỏi:

“thực chất truyện ngắn là gì? Tôi nghĩ rằng truyện ngắn là một truyện viếtngắn gọn, trong đó cái không bình thờng hiện ra nh một cái bình thờng và cáibình thờng hiện ra nh một cái không bình thờng” [52, 105]

ở Việt Nam, nhà văn Nguyễn Công Hoan đa ra khái niệm truyện ngắn

nh sau: “Trớc hết ta nên phân biệt thế nào là truyện ngắn, thế nào là truyệndài Loại truyện ngắn viết bằng văn xuôi theo nghệ thuật Tây Âu là loại mới

có trong văn học Việt Nam, từ ngày ta chịu ảnh hởng của văn học Pháp Ngày

xa ta chỉ có truyện kể bằng miệng hoặc viết bằng văn vần Những truyện:

Muỗi nhà, muỗi đồng; Hai ông phật cãi nhau trong Thánh Tông di thảo

không phải là lịch sử - tiểu thuyết Cho nên loại truyện này viết theo nghệthuật Tây Âu, ta theo Trung Quốc mà gọi là tiểu thuyết, và cái nào viết trongnăm trang gọi chung là trung thiên tiểu thuyết, cái nào viết hàng trăm tranggọi là trờng thiên tiểu thuyết… Năm 1932, báo Phong Hóa dịch đoản thiêntiểu thuyết ra tiếng ta gọi là truyện ngắn Rồi từ đó trờng thiên tiểu thuyết gọi

là truyện dài, trung thiên tiểu thuyết gọi là truyện vừa” [30, 279]

Trang 10

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, truyện ngắn là: “Tác phẩm tự sự cỡ nhỏ.

Nội dung của thể loại truyện ngắn bao trùm hầu hết các phơng diện của đờisống: đời t, thế sự hay sử thi nhng cái độc đáo của nó là ngắn đợc viết ra vàtiếp thu một mạch, đọc một hơi không ngừng nghỉ

Tuy nhiên, mức độ ngắn dài cha phải là đặc điểm chủ yếu để phân biệttruyện ngắn với tác phẩm tự sự khác Trong văn học hiện đại có rất nhiều tácphẩm rất ngắn nhng thực chất là những truyện dài viết ngắn lại Truyện ngắnthời trung đại cũng ngắn nhng cũng rất gần với truyện vừa Các hình thứctruyện kể về dân gian ngắn gọn nh cổ tích, truyện cời, giai thoại… lại càngkhông phải là truyện ngắn

Truyện ngắn hiện đại là một kiểu t duy mới, một cái nhìn cuộc đời, mộtcách nắm bắt đời sống rất riêng mang tính đặc thù thể loại Cho nên truyệnngắn đích thực xuất hiện tơng đối muộn trong lịch sử văn học Khác với tiểuthuyết là loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn của

nó, truyện ngắn thờng hớng tới việc khắc họa một hiện tợng, phát hiện một nétbản chất quan hệ nhân sinh trong đời sống con ngời Vì thế truyện ngắn thờng

ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp Và nếu mỗi nhân vật của tiểu thuyết là một thếgiới, thì nhân vật của truyện ngắn là mảnh nhỏ của thế giới ấy Truyện ngắnkhông nhằm hớng tới những tính cách điển hình đầy đặn, nhiều mặt trong t-

ơng quan với hoàn cảnh Nhân vật của truyện ngắn thờng là hiện thân cho mộtquan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con ngời

Cốt truyện của truyện ngắn thờng tự giới hạn về không gian thời gian, nó

có chức năng nhận ra một điều gì sâu sắc về cuộc đời con ngời Kết cấu truyệnngắn không bao gồm nhiều tầng tuyến mà thờng đợc dựng theo lối tơng phảnhoặc liên tởng

Chi tiết và lời văn là những yếu tố quan trọng trong nghệ thuật viết truyệnngắn Lời kể và cách kể là những điều đợc ngời viết truyện ngắn đặc biệt chú

ý khai thác và xử lý, nhằm đạt hiệu quả nh mong muốn” [25, 370]

Trong 150 thuật ngữ văn học, tác giả xem truyện ngắn là một “thể tài tự

sự cỡ nhỏ, thờng đợc viết bằng văn xuôi, đề cập đến hầu hết các phơng diệncủa đời sống con ngời và xã hội Nét nổi bật của truyện ngắn là sự giới hạn vềdung lợng; tác phẩm truyện ngắn thích hợp với ngời tiếp nhận (độc giả) đọcmột lần không nghỉ” [5, 359]

Qua những định nghĩa trên về truyện ngắn cho ta thấy một cái nhìn tơng

đối đầy đủ về truyện ngắn trên các phơng diện nh: dung lợng, nhân vật, kết

Trang 11

cấu, cốt truyện, sức khái quát hiện thực… từ đó, chúng tôi có thể rút ra những

đặc điểm chính của truyện ngắn nh sau:

Truyện ngắn là một thể loại tự sự cỡ nhỏ (nhỏ ở đây đồng nghĩa với ngắngọn, cô đúc, hàm súc, tinh lọc và hay) Truyện ngắn tập trung vào một mặtnào đó của cuộc sống hiện thực, các sự kiện tập trung trong một khoảngkhông gian thời gian nhất định Kết cấu của truyện ngắn chặt chẽ và là kết cấu

đơn tuyến Nhân vật của truyện ngắn thờng thể hiện trạng thái tâm thế của conngời thời đại

Nh vậy, truyện ngắn là một thể loại đợc khá nhiều nhà văn sử dụng trongtạo dựng sự nghiệp văn chơng của mình Và cũng chính thể loại truyện ngắn

đã góp phần làm nên sự phong phú, đa dạng về thể loại của văn học Việt Nam

1.1.2 Ưu thế của thể loại truyện ngắn

Truyện ngắn nằm trong hệ thống chung của thể loại văn tự sự Nhà văn

kể lại một trờng hợp đặc biệt của nhân vật hay một số nhân vật nào đó Tuy cómột số đặc điểm riêng, nhng truyện ngắn cũng có những đặc trng chung chothể loại truyện Đó là: có cốt truyện, kết cấu, nhân vật, nghệ thuật trần thuật

đều đợc hiện đại hoá

Truyện ngắn trong xã hội hiện đại có những u thế riêng Nhà nghiên cứu M.Bakhtin đã chỉ rõ: “Mỗi thể loại thể hiện một thái độ thẫm mĩ đối với hiện thực,một cách cảm thụ, nhìn nhận, giải minh thế giới và con ngời Truyện ngắn cũng

là một thể loại nh thế, đặc biệt là trong xã hội hiện đại Vì thế, nó thu hút đợc sựquan tâm của ngời sáng tác, nghiên cứu và ngời đọc” [6, 67]

Truyện ngắn là một thể loại văn học rất nhạy cảm với những biến đổi của

đời sống xã hội Với hình thức gọn nhẹ, truyện ngắn luôn bắt kịp những vận

động của xã hội và những biến thái tinh vi nhất của đời sống con ngời Truyệnngắn tự nó đã hàm chứa cái thú vị của những điều sâu sắc trong một hình thứcnhỏ gọn, nhng truyền dẫn cực nhanh những thông tin mới mẽ đây là một thểloại có nội khí “một lời mà thiên cổ, một gợi mà trăm suy” Truyện ngắn cókhả năng chớp lấy sự thật nếu không quá chăm chú vào cái đặc biệt nổi lên

nh một hiện tợng đời sống Sự thật ấy tiềm tàng trong cái bình thờng, trongnhững sự kiện hoàn toàn có thực bởi sự “truyền ngôn” chứ không phải “truyềnthuyết” để đem lại cho truyện ngắn những con ngời thực và sự sự thực về conngời” [44, 297]

Truyện ngắn là thể loại tự sự cỡ nhỏ nhng lại có khả năng to lớn trongviệc tái hiện cuộc sống của con ngời Nó là thể loại phát hiện đời sống con ng-

ời theo chiều sâu Vì vậy dung lợng của truyện ngắn là rất lớn Nhà văn

Trang 12

Nguyên ngọc đã nhận xét: “trong độ ba trang giấy, mấy nghìn chữ mà rõ cả

bộ mặt của cả một cuộc đời, một kiếp ngời, một thời đại Các truyện ngắn bâygiờ rất nặng Dung lợng của nó là dung lợng của một cuốn tiểu thuyết”

Những truyện ngắn nh: Ngời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Cỏ lau của Nguyễn Minh Châu, Xa kia chị đẹp nhất làng của Tạ Duy Anh… thực sự là

những cuốn tiểu thuyết chứa đựng nhiều cuộc đời, nhiều số phận con ngời

Ngày nay, khi xã hội phát triển nh vũ bão của các nghành khoa học và

thời gian ngồi hàng giờ để nghe những âm điệu chậm rãi của thể loại tuồng,chèo cũng không đủ thời gian cho những bộ tiểu thuyết đồ sộ hàng trăm, hàngnghìn trang Họ một mặt muốn tìm về những món ăn có giá trị tinh thần cao,nhng mặt khác nó phải đảm bảo đợc tính thời sự, ngắn gọn, hàm súc Truyệnngắn tự nó đã hàm chứa cái thú vị trong hình thức nhỏ gọn, xinh xinh và đầytruyền cảm, truyền dẫn cực nhanh những thông tin đã chinh phục đợc rấtnhiều độc giả thời hiện đại Raymond Carer là một trong những bậc thầytruyện ngắn thế giới đã ghi nhận: “ngày nay, các tác phẩm hay nhất, tác phẩmhấp dẫn và thoả mãn nhất về nhiều mặt, thậm chí tác phẩm có cơ hội lớn nhất

để trờng tồn, chính là những tác phẩm viết dới dạng truyện ngắn” Vì thế, nó

là trung tâm thu hút sức sáng tạo của nhiều thế hệ cầm bút Yếu tố quan trọngbậc nhất của truyện ngắn là ngắn, những chi tiết, yếu tố cô đúc có dung lợnglớn và lối hành văn nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm chiều sâu cha nói hết Truyệnngắn là thể loại gần gũi với đời sống hàng ngày, súc tích dễ đọc lại th ờng gắnvới các hoạt động báo chí do đó có tác động kịp thời trong đời sống Trớc

đây, rất nhiều nhà văn đã thành công với thể loại truyện ngắn nh: Nam cao,Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài… và các nhà văn thế hệ sau đã góp phần làmcho thể loại này đóng góp vào sự phát triển của văn học dân tộc: NguyễnKhải, Nguyễn Minh Châu, Xuân Thiều, Ma Văn Kháng, Lê Minh Khuê,Nguyễn Huy Thiệp, Sự góp mặt của những cây bút trẻ Nguyễn Thị Thu Huệ,

Võ Thị Hảo, Phan thị Vàng Anh, Trần Thị Thờng, Nguyễn Ngọc T,… chính

là sự tiếp nối giữa các thế hệ sáng tác Chính họ đã góp phần không nhỏ trongviệc kế thừa và cách tân thể loại, làm cho truyện ngắn ngày càng mới mẻ vàphong phú hơn

1.2 truyện ngắn Việt Nam về đề tài chiến tranh từ 1945 đến nay

1.2.1 Giai đoạn 1945-1975

Trang 13

Nớc Việt Nam bé nhỏ hiền hoà, yêu chuộng hoà bình từ ngàn đời nayluôn phải chịu sự dòm ngó, xâm lợc đô hộ của kẻ thù từ phơng khác chiếntranh trở thành một nỗi lo thờng trực trong đời sống và là một đề tài quen

thuộc trong văn học Từ Nam quốc sơn hà (Lí Thờng Kiệt) đến hịch tớng sĩ (Trần Quốc Tuấn), Đại cáo bình Ngô (Nguyễn Trãi), từ Văn tế nghĩa sĩ Cần

Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu) đến Trùng Quang tâm sử (Phan Bội Châu),…

mỗi khi đất nớc có chiến tranh là văn học lại cho ra đời những tác phẩm viết

về chiến tranh xuất sắc, vừa phản ánh vừa cổ vũ động viên kịp thời Nhngchiến tranh đối với ngời Việt Nam còn đặc biệt ở chỗ: nó vừa là nỗi đau thơngvừa là niềm tự hào chúng ta tiến hành chiến tranh không phải để xâm lợc, đểtrà đạp ngời khác mà để kiên quyết bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộc mình.Chính vì thế đây là những cuộc chiến tranh chính nghĩa Lẽ tự nhiên ấy tạothành một dòng mạch không bao giờ đứt trong đời sống cũng nh trong vănhọc, đặc biệt là trong văn học viết về đề tài chiến tranh

Cách mạng tháng Tám thành công tạo ra một bớc ngoặt mới trong lịch

sử dân tộc, mở ra kỷ nguyên của độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội, đồng thời

mở ra một thời đại mới trong văn học nghệ thuật Ba mơi năm chiến tranhkhói lửa với bao nhiêu chiến công oai hùng, lừng lẫy đã trở thành một mảnghiện thực lớn, phong phú có sức hấp dẫn đặc biệt đối với văn học nghệ thuậtnói chung Đây không phải là mảng hiện thực gắn bó với những mảnh đời nhỏ

bé, những số phận bất hạnh hay những mộng tởng cá nhân nh trong văn họcgiai đoạn 1930-1945 mà nó là khí thế quật cờng của cả một dân tộc đang trỗidậy vơn lên Đó là một giai đoạn đầy gian lao, thử thách, nhiều hi sinh nhngcũng không kém phần vẻ vang của lịch sử dân tộc Nhng ngay sau thắng lợi vẻvang ấy, một cuộc chiến mới lại mở ra khốc liệt và dữ dội hơn khi Pháp quaytrở lại xâm lợc nớc ta một lần nữa Thực hiện lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch:

“Chúng ta thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nớc không chịu làm nô lệ”lòng yêu nớc, tinh thần dân tộc lại một lần nữa đợc bùng lên cả nớc đồng loạt

đứng dậy chống giặc ngoại xâm, sẵn sàng hi sinh tất cả vì độc lập tự do củadân tộc

Một thế hệ nhà văn vừa là chiến sĩ nơi mặt trận nh: Tô Hoài, Nam cao,

Hồ Phơng, Kim Lân, Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Trần Đăng, đã xông phatrên mọi nẻo đờng đất nớc, nhập cuộc với hiện thực cuộc sống sôi động đãphác hoạ đợc những nét tơi nguyên của bức tranh cuộc sống Bên cạnh kí,truyện ngắn ngày càng phong phú hơn về đề tài từ ngời lính chiến đấu trên

Trang 14

với cuộc chiến tranh chống Pháp sôi động đang diễn ra qua những tác phẩm

nh: Trận phố Ràng, một lần tới thủ đô, Một cuộc chuẩn bị của Trần Đăng;

Đôi mắt, ở rừng của Nam Cao; th nhà của Hồ Phơng; Mờng giơn, Cứu đất cứu mờng, Vợ chồng A phủ của Tô hoài, đã thể hiện một cách sinh động

cuộc kháng chiến hào hùng của dân tộc Sự nở rộ của truyện ngắn đã mang lạicho văn học một không khí mới và đạt đợc nhiều thành tựu đáng kể trên nhiềuphơng diện

Cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống Pháp đã đem lại cho nhàvăn phát hiện lớn lao, đó là sức mạnh quật khởi của dân tộc và con ngời ViệtNam trong thời đại mới Nhiều nhà nghiên cứu văn học đã khẳng định: “Mộtnền nghệ thuật mới bao giờ cũng ra đời với con ngời mới” Văn học giai đoạnnày đã sáng tạo ra một thế giới nhân vật đông đảo trong đó nhân vật trung tâm

là những con ngời mang t tởng của thời đại và kết tinh những phẩm chất caoquý của cả cộng đồng: “Mỗi ngời chúng ta không còn yếu ớt riêng rẽ Chúng

ta đã tìm thấy bao trùm làng xóm, gia đình chúng ta một cái gì lớn lao chung

ấy, ấy là dân tộc” (Nguyễn Đình Thi) quần chúng công - nông - binh trởthành nhân vật trung tâm trong truyện ngắn kháng chiến Trong mỗi tác phẩmtác giả không xem xét con ngời ở bình diện cá nhân, mà khám phá con ngời ởbình diện tập thể, cộng đồng, giai cấp Con ngời của gia đình, làng xóm trởthành con ngời của cách mạng, kháng chiến

Bên cạnh con ngời quần chúng, truyện ngắn giai đoạn này cũng xây

dựng đợc những nhân vật điển hình nh: anh bộ đội (Th nhà - Hồ Phơng), ngời nông dân (Làng - Kim Lân), ngời trí thức ( Đôi mắt - Nam Cao) Một số

truyện ngắn của Tô Hoài đã thể hiện đợc quá trình phát triển tâm lí của nhân

vật chẳng hạn nh Mị (Vợ chồng A phủ) Tô Hoài đã thể hiện đợc quá trình

phát triển tâm lí của nhân vật Mị qua các chặng đờng đời, từ phản kháng tựphát đến tự giác Bên cạnh đó nhà văn đã nói đến những đau thơng, mất mát

mà chiến tranh mang lại cho con ngời chẳng hạn nh: Chi, Lợng (Th nhà - Hồ

Phơng) Tuy nhiên, những truyện nh thế này không nhiều Nhìn chung, nhânvật trong truyện ngắn thời kỳ này cha thật nổi bật Một số nhân vật cha tách rakhỏi đám đông mà hòa tan với tập thể Nhà văn xây dựng nhân vật chú ýnhiều đến phơng diện hành động mà ít chú ý đến thế giới nội tâm nhân vật, ítchú ý đến diễn biến tâm lí phức tạp

Sau những thất bại liên tiếp ở niềm Nam, để cứu vãn tình thế, đế quốc

mĩ đã dùng không quân đánh phá miền Bắc Việt Nam Một thời sử khốc kiệt,oai hùng nhất trong lịch sử đợc bắt đầu Cuộc chiến đầy gay go ác liệt đã

Trang 15

khiến cả dân tộc phải chìm trong bể máu Nhng chính lúc này chủ nghĩa anhhùng, truyền thống yêu nớc lại đợc đánh thức trong mỗi con ngời tạo nên sứcmạnh quật khởi của tinh thần đoàn kết Truyện ngắn về đề tài chiến tranh đãhoàn toàn có đợc mảnh đất màu mỡ để cắm rễ, đâm chồi và phát triển mạnh

mẽ Đời sống hiện thực sôi động của lịch sử, sự chín muồi của lí tởng cáchmạng cùng với những bài học kinh nghiệm quý báu đã trở thành những nhân

tố hội tụ mọi tiềm năng sức mạnh, để văn học về đề tài chiến tranh nói chungcũng nh truyện ngắn nói riêng đi đến vinh quang Những cây bút truyện ngắnxuất sắc đợc xếp vào hàng đầu của thể loại này: Anh Đức, Nguyễn Khải,Nguyễn Kiên, Nguyễn Quang Sáng, Đỗ Chu, Nguyễn Thành Long đã thực

sự mang đến cho truyện ngắn giai đoạn này một diện mạo mới Hàng loạt cáctác phẩm có giá trị xuất hiện kịp thời phản ánh cuộc đấu tranh sôi nổi của dântộc đồng thời xây dựng đợc những hình tợng nhân vật điển hình

đề tài về chiến tranh cách mạng, đợc triển khai trên hai phơng diện:một là cuộc chiến tranh chống Pháp vừa qua đi, hai là hiện thực nóng bỏngcủa cuộc kháng chiến chống Mĩ đang diễn ra sôi nổi trong cả nớc ở phơngdiện nào truyện ngắn cũng đạt đợc thành tựu to lớn với những trang viết sống

động, chân thực, giàu cảm xúc nhng nổi bật nhất vẫn là đề tài về cuộc chiếntranh chống Mĩ gay go, ác liệt đang diễn ra Nhà văn đã qua thời kỳ nhận đ-ờng, trởng thành qua cuộc chiến đã có đợc trình độ lý luận vững chắc Mặtkhác, sự thành công của thể loại truyện ngắn giai đoạn kháng chiến chốngPháp đã đặt nền móng vững chắc cho truyện ngắn thời kỳ này phát triển rực

rỡ Các truyện ngắn: Về làng của Phan Tứ; Những đứa con trong gia đình, Mẹ

vắng nhà, Chuyện xóm tôi của Nguyễn Thi; Chiếc lợc ngà, Những bông cẩm thạch của Nguyễn Quang Sáng; Đất, Khói, Đứa con chị Lộc của Anh Đức,…

là những tác phẩm tiêu biểu phản ánh tinh thần yêu nớc và cách mạng của

đồng bào miền Nam ở đó, dù phản ánh những gơng mặt, những cảnh đờikhác nhau nhng tất cả đều hớng đến cuộc kháng chiến chống Mĩ xâm lợc.Truyện ngắn đã thực sự trở thành tấm gơng phản ánh cuộc đấu tranh gian khổnhng vô cùng anh dũng của đồng bào và nhân dân miền nam trong nhữngngày đen tối

Nếu nh quan niệm về con ngời trong truyện ngắn thời kháng chiếnchống Pháp còn khá mới mẻ, đơn sơ thì đến truyện ngắn thời chống Mĩ, nhậnthức về con ngời đã đạt tới chiều sâu mới Nhà văn đã chú ý khắc hoạ nhữnggơng mặt, những chân dung cụ thể mang dấu ấn, tầm vóc và t tởng của thời

đại Nét đặc biệt trong các nhân vật thời kỳ này là đã có đời sống nội tâm

Trang 16

phong phú, mang dáng dấp riêng Truyện ngắn thời chống Mĩ đã xây dựng

đợc những nhân vật có tính cách điển hình: Chiến (Những đứa con gia đình Nguyễn Thi), Chuyên (Ráng đỏ - Đỗ Chu), những nữ thanh niên xung phong (những ngôi sao xa xôi - Lê Minh Khuê),… Những con ngời say mê lý tởng,

-sẵn sàng hi sinh tuổi thanh xuân của họ, tham gia nhiệt tình vào công cuộcbảo vệ đất nớc Họ là những con ngời kết tinh tiêu biểu cho thời đại và dântộc, sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì tổ quốc Đặc biệt, lòng căm thù giặc nungnấu trong mỗi con ngời không còn mang tính bản năng, tự phát mà đã có địnhhớng, có mục đích và phơng pháp hành động

âm hởng chủ đạo trong truyện ngắn giai đoạn này là ca ngợi chiếncông, khẳng định phẩm chất anh hùng và những hành động anh hùng trongchiến đấu Hiện thực đợc phản ánh là hiện thực anh hùng Có chiến đấu thì có

hi sinh mất mát nhng sự hi sinh mất mát càng khắc sâu thêm lòng căm thù và

ý chí chiến đấu Trong kháng chiến, hầu hết các nhà văn cha nói đến đời sốngriêng của con ngời hoặc nếu có nói đến thì cụ thể hóa thành cái chung củacộng đồng, giai cấp nhà nghiên cứu Lại Nguyên ân cho rằng: "tính chất sửthi của nền văn học mới Việt nam thể hiện trớc hết ở chỗ nó lấy đối tợngmiêu tả chủ yếu là cuộc đấu tranh của dân tộc nhằm thoát khỏi mọi ách ngoạixâm, nó ca ngợi sự nghiệp dựng nớc và giữ nớc của toàn dân trong hiện tại vàquá khứ, ngợi ca xả thân vì dân tộc, vì đất nớc của những con ngời u tú củadân tộc" [3, 120]

Suy cho cùng, bất kỳ nền văn học chân chính nào cũng gắn với thời đạicủa mình, với đông đảo quần chúng của thời đại ấy Con ngời trong chiếntranh có những tính cách, suy nghĩ và tập quán riêng không giống với con ng-

ời trong văn học giai đoạn trớc hay sau này Văn học giai đoạn 1945-1975 đãxác định ngay từ đầu hớng đi cho mình là phục vụ kháng chiến, phục vụ cáchmạng, tự nguyện trở thành vũ khí đắc lực trong sự nghiệp giải phóng và xâydựng đất nớc Trong điều kiện chiến tranh gian khổ và khắc nghiệt, bản thân

nó cũng phải tự vật lộn với bao nhiêu khó khăn để khẳng định mình và trởthành một trong những nền văn học tiên phong trong công cuộc chống lại chủnghĩa đế quốc

Thành tựu của thể loại truyện ngắn 1945-1975 đợc đánh dấu bằng bề dàycủa những tác phẩm xét trên cả hai phơng diện số lợng và chất lợng Tuynhiên, truyện ngắn giai đoạn 1945-1975 cũng còn có những phần non yếu, sơlợc công thức Chúng ta mới chỉ nói nhiều đến những chiến công, chiến thắng,

đến vẻ đẹp toàn bích của con ngời trong kháng chiến mà cha đi sâu vào số

Trang 17

phận cá nhân, hạnh phúc cá nhân của con ngời Con ngời trong truyện ngắngiai đoạn này đợc nhìn nhận, đánh giá chủ yếu ở thái độ chính trị, ở t cáchcông dân.

Hạn chế của văn học giai đoạn này một phần là do lịch sử, trình độnhận thức của thời đại Ngoài ra, cũng do nhiều nguyên nhân chủ quan từ phíaquản lý lãnh đạo, hạn chế cả trong công tác lí luận phê bình và tài năng củangời sáng tác

1.2.2 Giai đoạn 1975 đến nay

Mùa xuân 1975, đất nớc ta hoàn toàn giải phóng, tổ quốc thống nhất cảnớc đi lên chủ nghĩa xã hội, mở ra một thời kỳ mới cho lịch sử nớc nhà Nhngcuộc sống thời hậu chiến không hề đơn giản xuôi chiều mà xô bồ phức tạphơn nhiều so với những năm tháng chiến tranh Đặc biệt, hậu quả của chiếntranh vẫn đè nặng lên mỗi cuộc đời con ngời là những tấn bi kịch vẫn cha cóhồi kết Nhà văn Nguyễn Khải đã từng nói: “Chiến tranh ồn ào náo động nhnglại có cái yên tĩnh của nó Hòa bình yên tĩnh nhng lại chất chứa bao nhiêusóng ngầm ở bên trong” Trong chiến tranh tất yếu phải có những tác phẩmmang cảm hứng ngợi ca chủ nghĩa anh hùng, những tấm gơng chiến đấu hisinh anh dũng để cổ vũ động viên tinh thần chiến đấu của toàn dân, toàn quân

ta Khi chiến tranh kết thúc, hiện thực đa dạng phức tạp của cuộc sống trởthành đối tợng phản ánh mới của văn học

Văn học sau 1975 tồn tại, phát triển trong môi trờng hoàn toàn khác thời

kỳ có chiến tranh Chính điều đó đã có những tác động chi phối mạnh mẽ đến

sự vận động và phát triển của văn học nói chung Chúng ta dễ nhận thấy từ saunăm 1975, đặc biệt là sau đổi mới, dân chủ hoá trở thành xu thế lớn bao trùm

đời sống xã hội và đời sống tinh thần của con ngời Dân chủ hoá còn trở thành

xu hớng chính trong đời sống văn học thể hiện ở nhiều bình diện Trên bìnhdiện ý thức nghệ thuật có những biến đổi quan trọng về vai trò, vị trí và chứcnăng của văn học Trớc đây, văn học chủ yếu đợc nhìn nhận là vũ khí t tởngcủa cách mạng, phục vụ những nhiệm vụ cao cả của cách mạng “Văn hoánghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy” đ ợcxem là chân lí hiển nhiên về vị trí của văn học nghệ thuật và vai trò của ngờinghệ sĩ trong thời đại chiến tranh và cách mạng Trên thực tế văn học ba mơinăm chiến tranh đã hoàn thành tốt vai trò mà lịch sử giao cho Văn học hômnay không hề từ bỏ vai trò vũ khí tinh thần - t tởng của mình nhng lại đợcnâng lên một tầm cao hơn khi hiện thực xã hội và con ngời sau chiến tranh đã

có nhiều biến đổi Văn học đợc nhấn mạnh trớc hết ở sức khám phá hiện thực,

Trang 18

thức tỉnh hiện thực, dự báo dự cảm Với chủ trơng đờng lối đúng đắn của

Đảng và nhà nớc, ngời cầm bút hôm nay có quyền trình bày những ý kiếnriêng của cá nhân mình qua các đánh giá khác nhau về hiện thực và con ng ời.Văn học không còn là tiếng nói chung của cộng đồng dân tộc mà là phát ngôncủa cá nhân Sự dân chủ hoá trong văn học là điều kiện thuận lợi để truyệnngắn viết về đề tài chiến tranh có điều kiện phát triển Do đó, truyện ngắn sau

1975 đã gặt hái đợc nhiều thành công trên nhiều phơng diện

Có thể nói, truyện ngắn từ sau 1975 đến nay đợc đánh dấu bằng haimốc thời gian Thời kỳ đầu từ 1975 đến 1980, lúc này cuộc chiến mới đi qua,

đề tài chiến tranh trong văn học vẫn còn hết sức nóng hổi tơi nguyên Nămnăm không phải là một khoảng thời gian dài để ngời ta có thể suy nghiệm vềlịch sử cuộc chiến mới qua Mặt khác, mãi cho đến những năm 79, 80 đất nớcmới hết chiến tranh, văn học cha có nhiều điều kiện để đổi mới Vì vậy, truyệnngắn vẫn trợt theo một “quán tính” nghiêng về sự kiện, bao quát hiện thựctrong bình diện rộng cảm hứng sử thi vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong tduy nghệ thuật ý thức nghệ thuật ở hầu hết các nhà văn thời kỳ này cha hoàntoàn thoát khỏi sự ảnh hởng của t duy sử thi, nên mỗi trang viết của họ vẫncòn đậm hơi thở của văn học thời kỳ trớc Hoặc là thái độ ngợi ca hết mìnhhoặc cái nhìn bi quan chỉ tập trung ở phần đau thơng mất mát Nhìn chungtruyện ngắn giai đoạn này cha có nhiều thành tựu Tuy nhiên, trong truyệnngắn giai đoạn này đã có những dấu hiệu của sự đổi mới về t duy nghệ thuật

và cách nhìn nhận về con ngời Truyện ngắn Hai ngời trở lại trung đoàn của

Thái Bá Lợi, Bức tranh của Nguyễn Minh Châu đợc coi là những tác phẩm mở

đầu cho phong trào đổi mới trong văn học Trí (Hai ngời trở lại trung đoàn

-Thái Bá Lợi) là một nhân vật dũng cảm, một chỉ huy tài giỏi nhng anh vẫn làmột con ngời hẹp hòi ích kỷ, đố kị, cũng dở những thủ đoạn hèn nhát đểchiếm lấy tình cảm của Mây rồi lại ruồng bỏ cô Mây cũng là một ngời giỏigiang trong công tác nhng lại có những sai lầm nghiêm trọng trong cuộc sống

đời thờng và tình cảm riêng t

Sau năm 1980, văn học mới trợt khỏi “quán tính” bắt đầu cho một thời kỳphát triển rực rỡ của truyện ngắn về đề tài chiến tranh Nhờ vào đờng lối đúng

đắn của Đảng và nhà nớc, đặc biệt là sự dân chủ hoá trong sáng tác, văn họchôm nay đã có những thành tựu đáng kể Văn xuôi nói chung đã chuyển dần

từ t duy sử thi sang t duy tiểu thuyết Vấn đề cách mạng và chủ nghĩa xã hộikhông còn đợc chú trọng nh trớc, thay vào đó là mảng hiện thực trớc đây hầu

nh bị bỏ quên: vấn đề đời t thế sự Không chỉ những vấn đề lớn lao của đất nớc

Trang 19

mà cả những vấn đề nhỏ nhặt của cuộc sống đời thờng đều đợc nhà văn quantâm ở nhiều bình diện khác nhau Nếu nh trớc đây nhà văn quan tâm nhiều tới

đời sống cộng đồng, vận mệnh của dân tộc thì trong truyện ngắn hôm nay lạiquan tâm tới số phận cá nhân của mỗi con ngời Truyện ngắn sau 1980 tậptrung khai thác mặt trái của chiến tranh, đặt ra những vấn đề nhức nhối có sức

ám ảnh ghê gớm đối với con ngời Đó là những vấn đề về số phận con ngờitrong chiến tranh và trong thời hậu chiến, vấn đề nhân cách và nhân tính củacon ngời

Truyện ngắn giai đoạn này có sự mở rộng về dung lợng hiện thực Cónhững miền hiện thực mới đợc xuất hiện, những mảng hiện thực trớc đây cha

có hoặc bị né tránh: sự khốc liệt của chiến tranh, những khó khăn thất bại,những sai lầm thiếu sót và cả những sự tha hóa, phản bội không phải chỉ trong

hàng ngũ của địch mà con nằm ngay trong hàng ngũ của ta Hai ngời trở lại

trung đoàn (Thái Bá Lợi), Cỏ Lau, Ngời đà bà trên chuyến tàu tốc hành

(Nguyễn Minh Châu),…

Viết về chiến tranh nhà văn hôm nay không hề né tránh mặt trái của cuộcchiến với những tổn thơng mất mát hữu hình và vô hình Chiến tranh đợc phản

ánh thể hiện chủ yếu từ những nỗi đau, những mất mát những bi kịch cá nhân

Qua các truyện ngắn: Thung lũng hoa vàng (Huỳnh Thạch Thảo), Một đêm cả

đời ngời (Kiều Vợng), Ngời sót lại của rừng cời (Võ Thị Hảo), các tác giả cho

chúng ta thấy cuộc chiến đi qua vinh quang là có thật nhng nỗi đau khôngphải là giả dối

Hiện thực trong truyện ngắn viết về đề tài chiến tranh hôm nay rất đadạng nó không chỉ là thế giới thực con ngời đang sống mà có thể đó là một

thế giới ma quái hoang đờng: Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Bến trần gian (Lu Minh Sơn), Hồn trinh nữ (Võ Thị Hảo), Một đêm cả đời ngời (Kiều Vợng).

Hiện thực trong tác phẩm không nhất thiết phải đồng nhất với hiện thực đờisống nó có thể là những câu chuyện hoàn toàn bịa đặt hoặc đầy rẫy nhữngyếu tố hoang đờng kỳ ảo Nhà văn đã sử dụng thế giới không có thật nh phơngtiện để chiêm nghiệm, để trình bày quan điểm t tởng của mình về đời sống

Điều đó góp phần làm cho hiện thực trong truyện ngắn hôm nay đa dạng,

đồng thời cũng lột tả rõ nét đợc bộ mặt tàn khốc của chiến tranh

Sự thay đổi quan niệm về hiện thực dẫn đến sự thay đổi quan niệm vềcon ngời Trớc đây, t duy sử thi và cảm hứng lãng mạn đã chi phối cách nhìncuộc đời, nhìn con ngời của các nhà văn Vì vậy, khi nói về hiện thực và conngời trong chiến tranh còn nhiều hạn chế Văn học 1945-1975 thờng xây dựng

Trang 20

những nhân vật anh hùng trong tập thể anh hùng trong đó, ngời lính với vẻ

đẹp toàn bích, không tì vết là biểu tợng của ngời anh hùng thời đại Đó là mẫuhình lý tởng của một thời vinh quang và oanh liệt của dân tộc sau 1975, nhàvăn lại nói nhiều đến những con ngời bình thờng trong cuộc sống, những mốiquan hệ hết sức phức tạp giữa con ngời với con ngời Cái nhìn xuôi chiều đơngiản một cách rạch ròi thiện - ác, địch - ta, cao cả - thấp hèn giờ đợc thay thếbằng những hình tợng văn học với những tính cách đầy đủ, trọn vẹn Con ngờihôm nay tồn tại cùng với những mâu thuẫn không trùng khít với chính mình,mỗi cá nhân là một tiểu vũ trụ với chiều sâu tâm hồn rất khó nắm bắt Viết vềchiến tranh các nhà văn ngày càng có cái nhìn tỉnh táo, khách quan hơn mộtmặt phát hiện ra các vẻ đẹp khác nhau của con ngời, mặt khác tái hiện lạikhuôn mặt chiến tranh nh nó vốn có Văn học sau giải phóng vẫn tiếp tục với

đề tài chiến tranh nhng nhìn con ngời ở một góc độ khác Đó là việc khám phá

ra con ngời cá nhân, con ngời tự ý thức tạo nên sự đa dạng trong truyện ngắn

về đề tài chiến tranh giai đoạn sau 1975

Truyện ngắn sau 1975 ra đời và phát triển trong điều kiện lịch sử khácbiệt rõ rệt so với thời kỳ có chiến tranh Độc giả hôm nay không chỉ muốn đọcnhững tác phẩm ngợi ca về cuộc kháng chiến, cổ vũ động viên tinh thần chiến

đấu, hơn hết họ muốn thấy bản chất thực sự của chiến tranh mà cả dân tộc đãtrải qua Chính sự thay đổi thị hiếu thẩm mĩ của ngời đọc đã góp phần làm chovăn học ngày càng đa dạng hơn, với những tác phẩm có giá trị cả về nội dung

và hình thức nghệ thuật

Sự thành công của thể loại truyện ngắn gắn với những tên tuổi lớn nh:Chu Lai, Bảo Ninh, Thái Bá Lợi, Nguyễn Trí Huân, Nguyễn Minh Châu,Khuất Quang Thuỵ,… những nhà văn này viết về chiến tranh bằng chính sựtrải nghiệm cá nhân của mình, thế hệ mình đã tích lũy đợc trong những nămchiến đấu Giờ đây bên cạnh nhiệm vụ tiếp tục đề cao, ca ngợi những giá trịtốt đẹp trong chiến tranh nhà văn viết nhiều hơn về những mặt trái của chiếntranh, các hiện tợng tiêu cực trong đời sống xã hội Ngoài ra, còn có sự xuấthiện của nhiều nhà văn sinh ra sau chiến tranh, với những trang viết chủ yếutập trung khai thác số phận con ngời thời hậu chiến

Chiến tranh là những biến động có tác động sâu rộng đến đời sống xãhội khi nó đang diễn ra và cả khi nó đã kết thúc Với những gì mà dân tộc đãtrải qua thì nó vẫn là một vấn đề lớn của con ngời Việt Nam, không chỉ trongquá khứ mà còn cả hiện tại và tơng lai Thế hệ trẻ hôm nay vẫn không ngừngviết về chiến tranh và cuộc sống thời hậu chiến chứng tỏ đề tài chiến tranh vẫn

Trang 21

là một siêu đề tài, một vỉa ngầm cha đợc khai thác hết Nhà văn Nguyễn MinhChâu đã từng nhận xét: “So với tầm vóc sâu rộng của hiện thực đời sống bộ

đội và nhân dân trong một phần t thế kỷ qua thì công việc của mình mới chỉ

đặt chân lên cái bậc của tòa thâm cung đồ sộ, đầy biến động và thần bí, vừamang tính chất thời cuộc vừa mang tính chất lịch sử đó” “Chúng ta mới chỉnói đợc một phần sự tích của những ngời anh hùng vô danh ngoài mặt trậncũng nh những ngời mẹ ngời vợ ngoài hậu phơng Rất nhiều những cuộc đời,những con ngời bình thờng nhng chứa đựng số phận của đất nớc, chứa đựngmột bài học lớn về đờng đời, đang cần ngòi bút của nhà văn soi rọi trên tranggiấy”

Chính vì vậy, văn học nói chung truyện ngắn nói riêng trong những nămqua đã đạt đợc những thành tựu đáng chú ý gây xôn xao trong d luận Truyệnngắn ngày càng thể hiện sinh động, đầy đủ nhịp đập của cuộc sống, bổ sungnhững hạn chế, khuyết điểm của truyện ngắn giai đoạn trớc Trên hành trìnhcủa sự phát triển, truyện ngắn hôm nay luôn tự khẳng định mình trong tiếntrình văn học dân tộc

1.3 Nhìn chung về nhân vật nữ trong truyện ngắn viết về chiến tranh

Hình tợng ngời phụ nữ đã trở thành dòng chảy trong suốt văn học từ cổ

điển đến hiện đại ở mỗi thời kỳ, ngời phụ nữ lại đợc nhìn nhận và đánh giákhác nhau Trong truyện ngắn về đề tài chiến tranh, nhân vật nữ chiếm một vịtrí quan trọng với nhiều đặc điểm nổi bật về phẩm chất và số phận

Nhân vật nữ trong truyện ngắn thời chống Pháp hiện lên còn khá đơngiản, sơ lợc qua một số sáng tác của Hồ Phơng, Nguyễn Khải, Tô Hoài,…Trong mỗi tác phẩm nhà văn không xem xét con ngời ở góc độ cá nhân màkhám phá họ ở bình diện tập thể cộng đồng, giai cấp Tuy nhiên, truyện ngắngiai đoạn này cũng đã xây dựng đợc những nhân vật nổi bật về tính cách và số

phận: Chi (Th nhà - Hồ Phơng), Mị (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài)…

Bớc sang thời chống mĩ các nhà văn rất chú trọng trong việc xây dựnghình tợng ngời phụ nữ điển hình, trởng thành trong chiến đấu Họ là nhữngngời phụ nữ đảm đơng nhiều vai trò: ngời vợ chờ chồng, ngời mẹ thơng con

âm thầm hi sinh cho đến ngày đất nớc toàn thắng, ngời chiến sĩ xung phongnơi lửa đạn ở phơng diện nào ngời phụ nữ cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ củamình Ta bắt gặp họ trong các sáng tác của: Nguyễn Thi, Anh Đức, NguyễnKhải, Nguyễn Minh Châu, Dơng Thị Xuân Quý, Vũ Bằng… Sự xuất hiệnnhân vật ngời phụ nữ trong truyện ngắn về đề tài chiến tranh, với những phẩm

Trang 22

chất cao đẹp, sáng ngời là một sự ghi công, sự cổ vũ to lớn đối với những ngờiphụ nữ Việt Nam đã và đang chiến đấu trên khắp mọi nẻo đờng của đất nớc.

Họ đã làm nên sinh khí mới cho cuộc chiến đấu, tiếp sức cho những chiếnthắng giòn giã trên chiến trờng Việc khám phá, khắc họa đời sống nội tâmnhân vật nữ trong truyện ngắn giai đoạn này cũng đợc nhà văn chú ý khaithác, làm cho các nhân vật hiện lên với vẻ đẹp lý tởng Nhà văn cũng đã bắt

đầu chú ý thể hiện những mất mát, đau thơng mà chiến tranh mang lại cho con

ngời Không hiểu vì sao đêm nay tôi buồn (Vũ Bằng), Ráng đỏ (Đỗ Chu),…

Tuy nhiên, nhân vật nữ trong truyện ngắn giai đoạn này chủ yếu đợc đặt trongmối quan hệ với cộng đồng hơn là đại diện cho cá nhân Ngời phụ nữ với đờisống tâm linh, quan hệ họ hàng, dòng tộc ít đợc khai thác, đặc biệt chuyệntình yêu, tình dục hầu nh không đợc nhắc đến Nhà văn tuy đã có chú ý đi vào

đời sống bên trong của nhân vật, nhng đời sống nội tâm ấy cha đợc phân tíchmột cách toàn diện

Bớc sang văn học thời kỳ đổi mới, nhân vật ngời phụ nữ ngày càng xuấthiện nhiều hơn, đóng vai trò trung tâm khi nhà văn bắt đầu trăn trở về hiệnthực cuộc sống Truyện ngắn sau 1975 miêu tả chiến tranh ít nhiều mang màusắc bi kịch, đem đến cho văn học giai đoạn này âm hởng khắc khoải của nỗibuồn chiến tranh Niềm u uẩn đó không phải là cái h không ảo ảnh mà đợcchạm khắc ngay trên số phận nhỏ bé của ngời phụ nữ Vẻ đẹp hùng tráng đầylãng mạn năm xa giờ dần đợc thay thế bằng cái nhìn hiện thực về chiến tranhqua những số phận cụ thể, chủ yếu là những ngời lính nữ trở về từ chiến trờnghay những ngời vợ ngời, ngời mẹ hậu phơng Bản chất của chiến tranh là ácliệt, vô nhân đạo, hủy hoại cuộc sống và nhân tính của con ngời, là bi kịch củacon ngời nói chung, nhng với ngời phụ nữ nó tàn khốc hơn gấp nhiều lần

Trong Ngời sót lại của rừng cời, Võ Thị Hảo đã thốt lên rằng: “việc chiến

tranh lôi những ngời phụ nữ vào cuộc chiến thật khủng kiếp tôi sẵn sàng chết

hai lần cho họ khỏi lâm vào cảnh ấy” Trong Thiên sứ, Phạm Thị Hoài cũng

không kém phần chua chát: “trong th anh ta, chiến tranh mang bộ mặt tơi róihào hùng Tôi lo âu, bởi thật ra chiến tranh mang bộ mặt đàn bà xót xa khắckhoải” Mỗi nhà văn một cách nói khác nhau nhng họ có chung một quan

điểm khi lột tả bộ mặt thật của chiến tranh không gì hơn là nói tới nỗi đau màngời phụ nữ phải gánh chịu Nhân vật nữ đã trở thành đối tợng để nhà văn gửigắm suy nghĩ của mình về lẽ nhân sinh, về sự sống cái chết, về nỗi đau khổ vàhạnh phúc dù trong chiến tranh hay trong cuộc sống đời thờng

Trang 23

Nh vậy, nhân vật nữ trong tác phẩm văn học nói chung, truyện ngắn nóiriêng không còn là những hình bóng mờ nhạt Họ đã trở thành những hình t-ợng đậm nét, có vị trí nổi bật Nhà văn quan tâm khai thác hình tợng này khiviết về chiến tranh cũng là một cách quan niệm về sâu sắc con ngời Từ 1945

đến nay, nhân vật nữ trong các truyện ngắn về đề tài chiến tranh có một vị trí

đặc biệt và sức hấp dẫn riêng so với nhân vật nữ trong văn học nói chung.Trong truyện ngắn về đề tài chiến tranh chúng tôi chủ yếu khai thác hình tợngnhân vật ngời lính nữ và nhân vật nữ ở hậu phơng Điểm qua hai loại nhân vật

ở hai không gian khác nhau này, chúng ta sẽ thấy đợc điểm giống nhau cơ bảncủa những ngời phụ nữ và đồng thời cũng nhận ra sự khác biệt của hai loạinhân vật này

1.3.1 Nhân vật ngời lính nữ

Truyện ngắn sau 1945 lấy bối cảnh chiến tranh, không khí chiến trận đểthể hiện mối quan hệ đối lập giữa ta và địch, giữa chính nghĩa và phi nghĩa.Ngời lính trở thành hình tợng trung tâm xuyên suốt quá trình vận động và pháttriển của văn học cách mạng Ngời lính trở thành con ngời đẹp nhất, là nhữngngời đợc cả xã hội u ái và ngỡng mộ Họ là những con ngời mang lí tởng củadân tộc, kết tinh những phẩm chất cao quý của cộng đồng Chiến trờng chính

là môi trờng để rèn luyện, thử thách lòng dũng cảm, ý chí và bản lĩnh của mỗicon ngời Nói đến ngời lính ta nghĩ ngay tới những đấng mày râu sức dài vairộng, hiên ngang bất khuất nơi sa trờng ngời phụ nữ đợc coi là phái yếu, phái

đẹp cần đợc chăm sóc và bảo vệ Nhng trong văn học sau 1945 đã xuất hiệnhình tợng mới - ngời lính nữ với một vẻ đẹp mới khỏe khắn, mạnh mẽ Nớcmất, nhà tan, họ ra đi vì tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc và trở thành mộthình tợng trung tâm, một đối tợng thẩm mĩ riêng biệt của văn học

Hoàn cảnh đã tạo nên những ngời anh hùng trong chiến tranh Nhân vật ngờilính nữ trong văn học sau 1945 là hiện thân cho thế hệ trẻ Việt Nam hăng say,nhiệt tình trên đờng hành quân cứu nớc Họ không phải là những ngời bình thờngbớc ra từ cuộc sống đời thờng với những lo toan cơm áo, cũng không phải lànhững cô gái tân thời trong tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn ở họ có sự kết tinhphẩm chất cao đẹp của ngời phụ nữ Việt Nam vừa truyền thống vừa hiện đại.Chiến tranh chính là hoàn cảnh, là điều kiện để cái đẹp trong mỗi con ngời đợcthăng hoa tỏa sáng Trong truyện ngắn về đề tài chiến tranh, nhân vật ngời lính nữxuất hiện với tần suất ít hơn nhân vật ngời lính nam nhng họ lại đợc sự quan tâm u

ái đặc biệt của nhà văn Dù chiến tranh khốc liệt hay trong cuộc sống thời bình,khi viết về ngời lính nữ cũng đều toát lên vẻ đẹp từ trong tâm hồn của mỗi con ng-

Trang 24

ời Cuộc kháng chiến trờng kỳ gian khổ có họ mà trở nên đẹp đẽ hùng tráng hơn

nh: Nguyệt (Mảnh trăng cuối rừng - Nguyễn Minh Châu), Sử (đồng tro - Đinh Quang Nhã), Phớc (Hoa rừng - Dơng Thị xuân Quý), chuyên (Ráng đỏ - Đỗ

Chu),… Hình ảnh trẻ trung, đáng yêu của những ngời con gái này rất đợc các nhàvăn chú ý thể hiện Chẳng hạn: Phơng Định thì "thích bịa ra lời bài hát" rồi cờichảy cả nớc mắt, Nho thì thích ăn kẹo, Thao thì thích chép lời bài hát, thích thêuthùa… Minh, Thành, Bạo thì “đùn đẩy nhau chiếc bát thủng”, trêu đùa với nhau

Dù sống ở nơi ác liệt nhất của chiến trờng, đối mặt hàng ngày với thần chết những

họ vẫn có những phút giây vui vẻ, mộng mơ, hình ảnh về họ thật đẹp, thật trongsáng

Văn học giai đoạn 1945-1975 nói đến những vẻ đẹp khác nhau của ngờilính nữ qua cái nhìn sử thi lãng mạn Tức là thuần về cảm hứng ngợi ca vẻ đẹpcủa họ trong chiến tranh Chiến trờng có khốc liệt nh thế nào thì nhân vật vẫnxuất hiện với khuôn mặt rạng rỡ và tâm hồn thanh thản, luôn sẵn sàng đơng

đầu với mọi khó khăn nguy hiểm Tình yêu, niềm tin của họ là bất diệt Văn

học sau 1975 vẫn tiếp tục khẳng định, ngợi ca những phẩm chất cao đẹp củangời lính nữ nhng nâng lên một tầm cao mới Với độ lùi về thời gian nhà vănhôm nay có cơ hội để nhìn lại cuộc chiến và kiểm chứng hậu quả của nó Nhà văn

đi sâu vào hiện thực bất thờng của chiến tranh để thấy đợc những đau thơngmất mát mà họ phải gánh chịu Đó là cái chết đầy đau đớn của bốn cô gái trẻ

trong rừng cời (Ngời sót lại của rừng cời - Võ Thị Hảo), của Lan (Một đêm

cả đời ngời - Kiều Vợng), ngời nữ chiến sĩ quân lơng (Họ đã trở thành đàn

ông - Phạm Ngọc Tiến),… Chiến tranh không chỉ là sự ác liệt của bom đạn, sự

thiếu thốn vật chất mà hơn hết là nỗi đau day dứt về mặt tinh thần, những quẫn cựa

về mặt tâm lí, sinh lí kể cả sự thèm khát nhục dục của mỗi con ngời nh: các cô gái

trẻ trong Ngời sót lại của rừng cời (Võ Thị Hảo), Truyền thuyết quán tiên (Xuân

Thiều), Gió dại (Nguyễn Quang Thiều), Đốm lửa (Nguyễn Thị Minh Thuý),

Chiến tranh kết thúc, cuộc sống trở lại muôn mặt đời thờng Trong văn học

đã có sự mở rộng về phạm vi đề tài Nhân vật ngời lính nữ trong những truyệnngắn về đề tài chiến tranh sau 1975 không nhiều nh giai đoạn 1945-1975 nhnglại sâu sắc và lắng đọng hơn Họ vẫn tiếp tục là nguồn cảm hứng cho sáng tạonghệ thuật nhng nhà văn lại đặt nhân vật trong nhiều mối quan hệ khác Sự trở

về của: Mây (Ngời bến sông Châu), Thảo (Ngời sót lại của rừng cời), Thục

(Chỗ dựa)… khiến cho ngời đọc không khỏi bồi hồi, đau xót Chiến tranh đã

cớp đi sự tơi trẻ của ngời phụ nữ biến họ thành những con ngời héo hon, tật

Trang 25

nguyền mang trong mình cả những vết thơng về thể xác và tâm hồn Trở vềvới cuộc sống đời thờng, họ vẫn phải chịu bao nỗi nhọc nhằn đắng cay đóchính là cảm hứng chung trong văn học sau ngày giải phóng.

Nh vậy, nếu ngời lính là hình tợng trung tâm của văn học viết về đề tàichiến tranh sau 1945 thì ngời lính nữ là một sáng tạo thành công của nó Ngờiphụ nữ với nét riêng về giới tính nay hoá thân trong vai trò ngời lính bảo vệquê hơng đem lại cho văn học một sắc màu mới mẻ Đặc biệt, sau 1975 nhàvăn không chỉ miêu tả ngời lính trên chiến trờng mạnh mẽ, dũng cảm mà cònmiêu tả họ trong cuộc sống thời hậu chiến, để lại những khoảng lặng đầy suy

t cho bạn đọc

1.3.2 Nhân vật ngời phụ nữ hậu phơng

Khi đất nớc có chiến tranh, thanh niên trai tráng đều ra trận nơi hậu

ph-ơng ngời phụ nữ vừa phải đóng vai trò ngời mẹ, ngời vợ nhng đồng thời cũng

đóng vai trò ngời đàn ông trong gia đình Không những thế họ còn tham giacác tổ chức đoàn thể, vừa sản xuất, vừa cầm súng bảo vệ quê hơng Hình ảnhngời mẹ, ngời vợ nơi hậu phơng đã trở thành điểm tựa, trở thành niềm tin củangời chiến sĩ nơi trận mạc suốt những năm tháng qua Cũng viết về ngời phụnữ có chồng ra trận, nhng so về tầm t tởng họ khác xa với ngời chinh phụtrong văn chơng cổ vì họ ý thức đợc vai trò, trách nhiệm của mình trong cuộckháng chiến vĩ đại của dân tộc Trớc 1975, hình ảnh ngời phụ nữ hậu phơnghiện lên thật toàn vẹn qua truyện ngắn của các nhà văn nh: Nguyễn Kiên, Bùihiển, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Quang sáng, Anh Đức, Nguyễn Thi,Nguyễn Minh Châu…

Sau 1975 các nhà văn đã dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, không hề nétránh sự thật Nhà văn có thể nói tất cả mọi chuyện: nỗi cô đơn, sự đau khổ vềthể xác và tinh thần, niềm vui và sự đắng cay của cuộc đời đặc biệt là những

cảnh ngộ và số phận con ngời đợc thể hiện rõ trong: Hai ngời đàn bà ở xóm

trại (Nguyễn Quang Thiều), Cỏ lau (Nguyễn Minh Châu), Xa kia chị đẹp nhất làng (Tạ Duy Anh), Tiếng vạc sành (Phạm Trung Khâu)…

Trong văn học 1945-1975, chúng ta đã quá quen thuộc với hình ảnh

ng-ời phụ nữ vợt lên hoàn cảnh với ý chí và nghị lực phi thờng Họ ít cảm thấy cô

đơn, đau khổ dằn vặt Truyện ngắn sau 1975 lại đi sâu vào tâm thức, vào đờisống tình cảm và phát hiện ra những khao khát riêng t, những kỳ vọng của ng-

ời phụ nữ trong thực tế khách quan Đằng sau mỗi ngời phụ nữ giản dị, camchịu là một tâm hồn nhạy cảm khao khát yêu thơng và hạnh phúc Trong chiến

Trang 26

tranh, đàn ông trai tráng đều ra trận, để lại nơi quê nhà ngời phụ nữ sống âmthầm trong nỗi cô đơn khắc khoải, nh một nhà thơ đã từng nói “những ngời vợmòn chân bên gối gạo canh khuya” chiến tranh kéo dài lâu hơn sức chịu

đựng của con ngời, nó rút dần đi tuổi trẻ, sinh lực của ngời đàn bà Họ phảichịu đựng một cuộc sống cô đơn, chịu đựng nỗi dày vò của nhu cầu bản năng

Để chống trả lại nỗi cô đơn ấy, có những ngời đã tìm đến với chiến trờng, cóngời vùi đầu vào những công việc nặng nhọc, lại có ngời tìm đến ngời đàn ôngkhác để lấp chỗ trống, để rồi chính họ lại rơi vào bi kịch với nỗi đau đớn và

day dứt không nguôi Thoải (Thím Thoải - Hạnh Lê), Lệ (Một quảng đời và cả

cuộc đời - Phạm Duy Tơng) đều là nhng phụ nữ yêu thơng chồng tha thiết,

nh-ng sốnh-ng tronh-ng sự cô đơn trốnh-ng vắnh-ng đã khiến họ làm nhữnh-ng việc có lỗi vớichồng, có lỗi với lơng tâm Thoải bị kích động bởi một ly rợu mạnh và chị đã

đánh mất đi tất cả: danh dự, tình yêu, hạnh phúc Lệ cũng rất đau khổ nhụcnhã trớc hành động của mình Chị yêu chồng tha thiết ngay cả lúc chị phảnbội anh “Dù h hỏng đáng tội nhng trái tim em vẫn luôn hớng về anh Cả khithể xác em phản bội anh… Em khổ sở và nhục nhã lắm anh ơi…” Thơng

(Truyện sót lại ở thung lũng Chớp Ri - Nguyễn Quang Lập) hiểu rõ bản chất

của Hoài là một kẻ hèn nhát, cơ hội nhng cô lại không thể xa rời đợc Hoài vìcô cần một chỗ dựa, một ngời đàn ông để khỏa lấp nỗi cô đơn, chống chếnhtrong lòng Những ngời phụ nữ này ý thức rất rõ về việc làm của mình, vì vậy

họ càng cảm thấy đau khổ và day dứt

Ngời phụ nữ hậu phơng không phải là nạn nhân trực tiếp của chiếntranh, nhng chiến tranh lại có tác động rất lớn đến cuộc đời của họ Sau chiếntranh, biết bao cảnh mẹ góa con côi, ngời đàn bà đã hoá đá chờ chồng Sự hisinh của họ âm thầm lặng lẽ nhng cũng không kém phần cao cả Trong truyện

ngắn Cỏ lau, hình ảnh hòn vọng phu với đủ mọi kiểu dáng đã thể hiện đợc nỗi

đau của biết bao ngời phụ nữ: “khắp bốn phơng trời, hòn vọng phu đứng nhannhản, đủ mọi hình dáng, đủ t thế Cả thế giới đàn bà đã sống trải qua bao thờigian, chiến binh dờng nh đang tụ hội về đây, mỗi ngời một ngọn núi, đang

đứng một mình vò võ chon von trên các chóp núi cao nhất, ngời ôm con bếnách, ngời hai tay buôn thỏng xuống, mặt quay về đủ hớng, các ngả chân trời

có lửa cháy” [13, 448] Bên cạnh hình ảnh những ngời phụ nữ có chồng ra trậncòn là hình ảnh ngời mẹ chiến sĩ dịu dàng, nhân hậu hi sinh cả đời vì chồng

con nhng đến cuối đời vẫn cha đợc thanh thản nh: Bức tranh của Nguyễn Minh Châu, Núi đợi của Nh Lan, Thời gian của Cao Duy Thảo, Bến trần

gian của Lu Minh Sơn…

Trang 27

Có thể thấy, bên cạnh hình tợng ngời lính nữ, hình tợng ngời phụ nữ hậuphơng đóng góp phần tô điểm cho vẻ đẹp ngời phụ nữ trong truyện ngắn về đềtài chiến tranh từ 1945 đến nay Họ vừa mang những vẻ đẹp truyền thống củangời phụ nữ việt Nam từ ngàn đời, vừa có thêm những vẻ đẹp trong thời đạimới Điều đáng nghi nhận là trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, cách nhà văn

đã dành cho nhân vật nữ sự trân trọng yêu mến Vì thế, họ hiện lên trong tácphẩm vừa chân thực vừa mang tính biểu tợng, chuyên chở những dụng ý nghệthuật của nhà văn

Nh vậy, truyện ngắn là một thể loại có u thế trong việc thể hiện tài năngsáng tạo của nhà văn Chính mảng văn học đã làm cho truyện ngắn đa dạng vàphong phú Nhân vật nữ trong truyện ngắn viết về đề tài chiến tranh trớc vàsau 1975 có số lợng khá lớn Trong mỗi giai đoạn lại đợc khám phá ở nhữngkhía cạnh khác nhau Song tất cả đều làm nên những tác phẩm bất hủ, manglại nhiều d vị cho độc giả Qua cái nhìn khái quát về truyện ngắn và nhân vậtnữ trong truyện ngắn viết về đề tài chiến tranh từ 1945 đến nay, chúng ta cóthể thấy rằng: với u thế của mình trong việc thể hiện đời sống, thể loại truyệnngắn đã góp phần không nhỏ trong việc xây dựng hình tợng ngời phụ nữ trongvăn học Nhà văn đã chớp lấy những phút giây chân thực và sống động nhất,ghi lại những mảnh đời riêng giữa những mảnh đời chung để từ đó tái hiện lạinhững hình tợng nhân vật nữ tiêu biểu Chiến tranh đợc xây dựng nh một tìnhhuống đặc biệt để ngời phụ nữ phát huy đầy đủ vẻ đẹp của mình Nhng nócũng chính là nguồn gốc có tác động mạnh đến đời sống cá nhân của họ tạonên những bi kịch day dứt không nguôi

Trang 28

Chơng 2

Vẻ đẹp và số phận nhân vật nữ trong truyện ngắn về đề tài chiến tranh từ 1945 đến nay 2.1 Vẻ đẹp của nhân vật nữ trong truyện ngắn về đề tài chiến tranh

Hoà bình đem lại độc lập tự do, hạnh phúc nhng chiến tranh cũng gópphần rèn luyện thử thách để vẻ đẹp trong mỗi con ngời có điều kiện toả sáng.Nhân vật nữ trong truyện ngắn về đề tài chiến tranh vừa là ngời chiến sĩ dũngcảm trên mặt trận chống quân thù vừa là những ngời mẹ, ngời vợ dịu dàng,trung hậu, đảm đang dù ở nơi đâu, dù trong hoàn cảnh nào họ cũng khôngngừng vơn tới chiếm lĩnh và phô bày vẻ đẹp của mình Vẻ đẹp của họ khôngchỉ đợc thể hiện qua ngoại hình, qua hành động, lời nói mà còn là vẻ đẹp tâmhồn ẩn dấu bên trong Viết về đề tài chiến tranh nhng nhân vật nữ không vì thế

mà trở nên đơn điệu nhàm chán Ngợc lại họ chiếm vị trí quan trọng trong cấutrúc tác phẩm đợc miêu tả rõ nét, phong phú về tính cách, số phận

2.1.1 Vẻ đẹp của tinh thần dũng cảm, quên mình vì Tổ quốc

Hoàn cảnh chiến tranh đã sản sinh ra những con ngời anh hùng, đó lànhững ngời mang t tởng của thời đại họ đợc xem là hiện thân cho sức mạnhcủa cộng đồng, dân tộc Hoà chung vào không khí cả nớc đang sôi sục khí thế

đấu tranh chống giặc ngoại xâm, không chỉ trai tráng ra trận mà những ngờiphụ nữ vốn đợc xem là chân yếu tay mềm cũng xung phong ra trớc đầu tênmũi đạn Góp phần làm nên chiến thắng vẻ vang của dân tộc, tiếp nối truyềnthống xa kia của phụ nữ Việt Nam: “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”

Nhìn lại chặng đờng của lịch sử dân tộc trong suốt bốn nghìn năm dựngnớc và giữ nớc, vẻ đẹp của sự dũng cảm quên mình vì tổ quốc đã đợc bộc lộ vàtỏa sáng Văn học dân tộc từ ngàn xa đã khắc bao tấm gơng anh hùng liệt nữ

đã viết nên những trang sử hào hùng cho dân tộc Đó là hình ảnh của Bà Trng,

Bà Triệu, nữ tớng Lê Chân… trong văn học dân gian; là cô Chí, cô Hạnh trong

Trùng Quang tâm sử của Phan Bội Châu đầu thế kỷ XX và tiếp nối là những

tấm gơng anh hùng liệt nữ Võ Thị Sáu, Trần Thị Lý… trong kháng chiếnchống Pháp và chống Mĩ ở mỗi giai đoạn của lịch sử thì tinh thần đấu tranh,phản kháng kẻ thù lại đợc thể hiện trên những bình diện khác nhau Nhng dù ởthời đại nào họ đều có chung một đặc điểm là lòng yêu nớc, căm thù giặc sâusắc, sẵn sàng hi sinh cho độc lập tự do của tổ quốc Tuy nhiên, ở mỗi giai

đoạn khác nhau của lịch sử thì cái nhìn về ngời phụ nữ cũng có sự thay đổi

Văn học sau 1945 đã nhìn nhận và thể hiện một cách khá rõ nét, toàndiện về ngời phụ nữ, với ý thức giác ngộ về dân tộc, giai cấp và quy luật phát

Trang 29

triển tất yếu của lịch sử Tinh thần đấu tranh phản kháng không chỉ nói lênlòng yêu nớc của họ mà còn thể hiện sức mạnh quật cờng trong mỗi con ngờinhỏ bé ấy Chính tinh thần đó là động lực giúp họ luôn tự giác có trách nhiệmnhiệt tình trong mọi công việc, thậm chí phải đánh đổi bằng cả tính mạng củabản thân mình

Trong truyện ngắn thời kháng chiến chống Mĩ, có sự xuất hiện của mộtlực lợng đặc biệt là những nữ thanh niên xung phong trên tuyến đờng TrờngSơn huyền thoại nối liền Bắc - Nam Lực lợng này có vai trò hết sức đặc biệt:

mở đờng, phá bom, san lấp hố bom, trực đờng dây liên lạc… đảm bảo cho con

đờng huyết mạch ấy đợc thông suốt cho những đoàn quân, đoàn xe ra trậnsuốt đêm ngày Văn học thời kì này đã ghi lại đợc nhiều hình ảnh đẹp, chânthực, cao cả của những nữ thanh niên Trờng Sơn trong những ngày lửa đạn hếtsức khốc liệt Họ đến với chiến trờng từ mọi nẻo đờng của đất nớc, từ nhữngmiền quê khác nhau: chốn phồn hoa đô hội, những nơi lam lũ đói nghèo Nh-

ng họ đều gặp gỡ, hội tụ ở một điểm chung là lòng yêu nớc căm thù giặc sẵnsàng chiến đấu hi sinh vì độc lập dân tộc Nhân vật nữ trong truyện ngắn về đềtài chiến tranh thờng mang vẻ đẹp hào hùng tơi tắn, những vẻ đẹp giàu chất sửthi, đầy chất thơ Họ đã thể hiện đợc niềm tin, tinh thần lạc quan vào cuộckháng chiến và chiến thắng tất yếu của dân tộc tất cả điều đó đã góp phầnlàm nên âm hởng hào hùng nhng không kém phần lãng mạn của bản anh hùng

ca chiến trận Ta dễ nhận ra điều ấy trong Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh

Khuê, Một ngày không bình thờng của Phạm Hoa, Ráng đỏ của Đỗ Chu, Mảnh

trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu, Ráng đỏ của Đỗ Chu,…

Nguyệt trong Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu là nữ thanh

niên xung phong sống và chiến đấu trên đoạn đờng ác liệt nhất của chiến ờng Xuyên suốt tác phẩm là hình ảnh cô gái trẻ trung xinh đẹp, dũng cảm vàluôn bình tĩnh quyết đoán trong mọi tình huống Nguyệt giống nh ngọn đèntrong đêm tối, trở thành niềm tin, niềm hi vọng cho mỗi chuyến xe băng quatrên đờng ý chí kiên cờng, thông minh và đầy bản lĩnh lại đợc ẩn dấu bêntrong hình hài bé nhỏ của cô thanh niên xung phong Trong chiến tranh, ranhgiới giữa sự sống và cái chết trở nên quá đỗi mong manh, nhng cô đã coi th-ờng mọi hiểm nguy, không bỏ mặc đồng đội Cô nói với Lãm: “anh đã cho tôi

tr-đi nhờ xe, không lẽ nguy hiểm lại bỏ mặc anh hay sao” [13, 89] Câu nói đóthể hiện đợc quan niệm sống cao đẹp, bản lĩnh anh hùng cho dù đó là nhữngngời phụ nữ chân yếu, tay mềm Lời nói ấy đợc chứng minh qua những hành

Trang 30

đi, giữa đêm lạnh giá, không quản ngại cô nhanh nhẹn lội qua ngầm giúp Lãmbuộc lại dây tời kéo xe lên Đến quãng khó đi và tối cô nhảy xuống dò đờngtrớc làm lộ tiêu cho xe Lãm vợt lên thoát hiểm Khi địch ném bom tọa độ,Nguyệt đã đẩy Lãm vào chỗ an toàn nhất còn mình đứng che với lí do: “Anh

bị thơng thì xe cũng mất” Trong đêm tối tăm hoang vu, lạnh lẽo của núi rừngTrờng Sơn đại ngàn và trong khoảnh khắc cái chết cận kề gang tấc “địch quâytròn trên đầu nh xay lúa, rất thấp, thả pháo sáng và bắn mời hai ly”, Nguyệtvẫn rất bình tĩnh chỉ đờng cho xe chạy, mỗi lời nói của cô đều rất chính xác,cứng cỏi: “anh ngoặt sang trái Trớc mặt anh có hố bom đấy Chuẩn bị đếnmột con dốc có cua ” Cô thuộc đờng đi lối lại của chiến trờng nh lòng bàntay, tự tin, bình tĩnh khi hớng dẫn cho Lãm lái xe vợt qua chỗ nguy hiểm

điều đó chứng tỏ cô là một ngời từng trải xông pha nơi trận mạc, từng có thờigian dài gắn bó với chiến trờng Thậm chí, khi bị thơng cô vẫn rất lạc quan,bản lĩnh, vẫn cời: “Anh yên tâm vết thơng chỉ bị sớt qua da thôi Từ sáng đếngiờ, em có thể lên đến tận trời đợc!” Hành động và tinh thần dũng cảm sẵnsàng hi sinh vì đồng đội của Nguyệt trái ngợc với những đánh giá ban đầu củaLãm Anh không thể ngờ rằng một cô gái nhỏ nhắn xinh xắn với “đôi gót chânbóng hồng sạch sẽ” lại có thể mạnh mẽ và dũng cảm đến nh vậy Lãm thúnhận “lúc ấy trong lòng tôi dậy lên một tình yêu Nguyệt gần nh mê muội lẫncảm phục” [13, 91] Chiến trờng thật ác liệt, nhng cũng chính là điều kiện rènluyện, thử thách con ngời, để vẻ đẹp đợc thăng hoa tỏa sáng

Truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi (Lê Minh Khuê) là câu chuyện của

ba cô gái trẻ từ ba vùng quê khác nhau đến với con đờng Trờng Sơn huyềnthoại trong những ngày tháng ác liệt nhất Họ phải ở trong một cái hang dớichân cao điểm, tách xa đơn vị Nhiệm vụ chính của họ là quan sát địch némbom đo khối lợng đất đá phải san lấp do địch gây ra, đánh dấu vị trí các tráibom cha nổ và phá bom Đây là công việc hết sức nguy hiểm vì phải chạy trêncao điểm giữa ban ngày và máy bay địch có thể đến bất cứ lúc nào “chúng tôichạy trên cao điểm giữa ban ngày Mà ban ngày chạy trên cao điểm khôngphải là chuyện chơi thần chết là một tay không thích đùa Hắn ta lẫn trongruột những quả bom” [54, 445] Dù sống và chiến đấu nơi trọng điểm củachiến trờng, dù có bị thơng họ vẫn quyết bám trụ không rời vị trí chiến đấu

Ba cô gái mỗi ngời một gơng mặt, một tính cách nhng ở họ đều có chungphẩm chất tốt đẹp của ngời lính Trờng Sơn là không sợ khó khăn gian khổ, sẵnsàng hi sinh vì độc lập tự do của đất nớc Phơng Định vốn là một cô gái Hàthành xinh đẹp, kiêu kỳ, nghịch ngợm và bớng bỉnh không biết chuyện gánh

Trang 31

đất là gì, nghe tiếng bom rơi đạn nổ là muốn ngất xỉu Đến với chiến trờng côtrở thành ngời lính dũng cảm, trên cao điểm công việc phá bom mìn, gánh đất,san lấp đất trở thành công việc quen thuộc hàng ngày: “Quen rồi Một ngàychúng tôi phá bom đến năm lần Ngày nào ít: ba lần Tôi có nghĩ tới cái chết.Nhng một cái chết mờ nhạt, không cụ thể Còn cái chính: Liệu mìn có nổkhông? không thì làm cách nào cho mìn nổ lần thứ hai? Tôi nghĩ thế, nghĩthêm: đứng cẩn thận, mảnh bom gim vào cánh tay thì khá phiền” [54, 455].Cũng nh Phơng Định, Nho là một cô gái mảnh khảnh dễ thơng cô nhìn nh

“một que kem trắng muốt”, nhng đằng sau cái dáng vẻ yếu ớt, mỏng manh ấylại là một con ngời dũng cảm, gan dạ Dù có bị thơng cũng không muốn phiền

hà đến đồng đội của mình: “không chết đâu Đơn vị đang làm đờng cơ mà.Việc gì phải khiến cho nhiều ngời lo lắng thế” [54, 457] Trong những ngàytháng ác liệt nhất của chiến trờng, họ vẫn hồn nhiên vui tơi và tràn đầy sứcsống chiến trờng khắc nghiệt không làm cho vẻ đẹp của ngời phụ nữ bị lu mờ

mà ngợc lại chiến tranh là hoàn cảnh để họ bộc lộ tất cả những vẻ đẹp đángquý đáng yêu của mình

Nhân vật nữ trong truyện ngắn về đề tài chiến tranh là những con ngờigan dạ dũng cảm sẵn sàng đơng đầu với những khó khăn thậm chí những hisinh mất mát Vẻ đẹp của lòng dũng cảm đợc thể hiện một cách sinh động

trong cuộc đấu tranh gian khổ, ác liệt với kẻ thù Chuyên trong truyện ngắn

Ráng đỏ của Đỗ Chu là nữ thanh niên xung phong xinh đẹp và dũng cảm.

Trong lần bắn phá ác liệt của địch, đoàn xe chở đạn có nguy cơ bị lộ, cácchiến sĩ lái xe đang lúng túng không biết phải làm nh thế nào, cô đã cùng vớimột chiến sĩ lái xe sang một hớng khác để thu hút hỏa tiễn của địch Bọn địch

đang gầm rú, bắn phá trên đầu đoàn xe trở đạn vội vã bay về hớng đó Nhờhành động dũng cảm, quên mình của cô mà đoàn xe đợc cứu nhng Chuyên

đã hi sinh Cô hi sinh khi đang ở độ tuổi đẹp nhất của cuộc đời khi tình yêumới bắt đầu chớm nở Hình ảnh ngời con gái nhỏ bé lao ra giữa trận địa thuhút mọi luồng đạn về mình đã trở thành một hình ảnh đẹp đẽ để lại những dấu

ấn khó phai trong lòng độc giả, để lại những giá trị bền vững cho thế hệ maisau

Đợc đến với chiến trờng, cống hiến sức mình cho độc lập tự do của tổ

quốc là khao khát của biết bao thế hệ ngời Việt Nam yêu nớc Quỳ trong Ngời

đàn bà trên chuyến tàu tốc hành của Nguyễn Minh Châu đã đa cả tuổi thanh

xuân của mình vào chiến trờng để phục vụ kháng chiến Chị đã nói với đồngchí của mình: “Ai mà chẳng có một thời tuổi trẻ hở đồng chí? Hai mơi năm về

Trang 32

trớc tôi tốt nghiệp lớp mời đã có giấy về nhà gọi đi học ngành khoa học tựnhiên ở nớc ngoài nhng hồi đó cũng nh nhiều ngời con gái khác trong chống

Mĩ, tôi đã từ chối không thiết đi học nữa mà khoác ba lô đi vào Trờng Sơn, ở

đây tôi đã thử sức với mọi công việc, không còn sót một việc gì: diễn viên văncông, đánh máy, cấp dỡng, in litô, giao liên dẫn đờng, y tá chụp ảnh, viết báo,vác súng đi lùng biệt kích, gác nghĩa trang liệt sĩ, và thậm chí còn lái xe nữa…Vùng quê tôi con gái đi vào Trờng Sơn đông lắm, thành phố nhỏ chúng tôi cótới mấy trăm đứa Chúng tôi cái lớp con gái ấy may mắn là đợc sống cái thờitrẻ thật là sôi động và cũng thật gian khổ hết mức” [13, 146] Lời kể thể hiệnniềm tự hào của những ngời con gái mời chín đôi mơi sẵn sàng hi sinh vì lợiích chung của dân tộc Đến với chiến trờng, họ nhanh chóng làm quen vàthích nghi với môi trờng chiến đấu, nhờ tinh thần vợt lên mọi hoàn cảnh, sẵnsàng hi sinh vì tổ quốc Rõ ràng nhân vật nữ sau 1945 đã ý thức đợc vai tròcông dân của mình đối với đất nớc, dân tộc Hình ảnh nữ chiến sĩ mang vẻ đẹpkhoẻ khắn, tự tin trên con đờng hành quân cứu nớc trở thành nên một hình t-ợng đẹp trong văn học viết về chiến tranh những năm tháng qua

Trong văn học viết về chiến tranh chúng ta còn bắt gặp hình ảnh quenthuộc của những cô giao liên, những o du kích thông minh và dũng cảm Thu

(Chiếc lợc ngà - Nguyễn Quang Sáng) là một cô gái thông minh, bản lĩnh

Ng-ời ta kháo nhau rằng: “Cô có cái mũi rất thính, cô dùng mũi để nghe mùi địch

và phân biệt đâu là Mĩ đâu là ngụy” [61, 70] Bằng kinh nghiệm và sự dạn dàychiến đấu cô có thể phân biệt đợc đâu là ánh sáng của đèn địch, đâu là sángcủa sao trời, tiếng máy bay ở gần hay ở xa… Cái bản lĩnh ấy đợc thể hiện quanhững lần cô đa đón anh em bộ đội Một lần dẫn đoàn khách sắp sửa quasông, phát hiện ra bị lọt vào ổ phục kích của địch, không chút bối rối cô nóivới đồng đội, cố ý để địch nghe thấy: “Tình hình yên, không có gì, anh trở lạidẫn khách đi, còn tôi sang sông lắc thuyền qua” [61, 69] Nhờ ám hiệu đó mà

đồng đội của cô đã đa khách qua sông một cách an toàn, còn cô vẫn khôngquên cài lại hai quả lựu đạn tiêu diệt sinh lực địch Nếu chẳng may bị địchphát hiện, cô sẵn sàng thu hút luồng đạn về phía mình để cứu đồng đội Thu

đã giành đợc niềm tin và tình cảm đặc biệt của anh em bộ đội ngời khách quasông thầm nghĩ: “Ngồi cùng xuồng với cô, tôi thấy vững hơn ngồi trong côngsự” Sau mỗi lần hoàn thành nhiệm vụ trở về dù rất mệt nhọc nhng cô đều phơi

phới tràn đầy niềm vui Trong truyện ngắn Khói của Anh Đức ta lại bắt gặp

hình ảnh ngời phụ nữ vừa kiên cờng trong đấu tranh cách mạng vừa dịu dàng

đôn hậu trong tình yêu khi bị mũi chĩa của kẻ thù soi xuống hầm, Quế đã lấy

Trang 33

vai mình đỡ lấy để hầm không bị lộ Tuy rất đau đớn nhng “Quế bình tĩnh rútkhăn sọc quàng cổ, áp nhẹ tấm khăn vào mũi chĩa đang cắm phập trong vai cô.

Đợi chúng rút mũi chĩa lên, cô đa chiếc khăn khéo léo vuốt sạch máu ở mũichĩa” nhờ vậy mà căn hầm không bị địch phát hiện Một cô gái có thể khóckhi thấy ngời yêu chịu khổ nhng trớc kẻ thù lại vô cùng bình tĩnh, gan dạ

Truyện ngắn Mai của Thanh Quế là hành trình đi tìm ngời con gái đã hi sinh

của vị đại tá già, cũng là hành trình đi tìm và khẳng định vẻ đẹp của những nữchiến sĩ giao liên âm thầm chiến đấu trên mọi nẻo đờng của đất nớc Nhữngcô gái bé nhỏ, ngoan hiền đợc đồng bào đồng chí hết lời ngợi ca nhng đứng tr-

ớc kẻ thù lại là những ngời kiên cờng, dũng cảm thà chết chứ không thể làm lộ

bí mật của Đảng, không làm tổn hại đến Cách mạng Các cô trở thành niền tin,niềm tự hào của đồng bào trong cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại của dân tộc

Trong truyện ngắn Phụ nữ thành của Nguyễn Văn Bổng đã phát hiện ra những

phẩm chất cao đẹp của những ngời phụ nữ rất đỗi bình dị ở cuộc sống đời ờng Họ là những ngời mẹ, ngời chị, những em nhỏ tần tảo sớm hôm làm ănbuôn bán, thơng chồng, thơng con nhng khi đất nớc cần họ lại trở thành nhữngcon ngời vô cùng dũng cảm sẵn sàng đi theo kháng chiến, đi làm cách mạng

th-Đọc Mảnh trăng cuối rừng, Những ngôi sao xa xôi, Chiếc lợc ngà và

nhiều truyện ngắn khác viết về đề tài chiến tranh, ta cảm nhận đợc một vẻ đẹp

kỳ diệu ở ngời phụ nữ, đó là tinh thần dũng cảm quên mình xả thân vì tổ quốc.Những phẩm chất này đợc xem là của ngời đàn ông thời loạn, nhng khi tổquốc cần, ngời phụ nữ đã giã từ vẻ liễu yếu đào tơ vốn có để tự biến mìnhthành ngời anh hùng của dân tộc Truyện ngắn sau 1945, đặc biệt là ở giai

đoạn 1945-1975 rất chú ý khai thác tô đậm vẻ đẹp này ở nhân vật nữ Với sựmiêu tả sinh động, giàu sắc thái biểu cảm, nhà văn đã góp phần lý giải nguyênnhân chiến thắng của đất nớc Việt Nam bé nhỏ trớc hai kẻ thù lớn là Pháp và

Mĩ, đó là vì đất nớc này đã sinh ra những ngời phụ nữ: “Anh hùng, bất khuất,trung hậu, đảm đang.”

2.1.2 Vẻ đẹp của lòng chung thuỷ sắt son

Chung thủy, sắt son là một phẩm chất cao quý của ngời phụ nữ Việt Nam

có từ ngàn xa Hình ảnh về ngời vợ chờ chồng hoá đá vẫn vẹn nguyên trongtâm thức của dân tộc Ta có thể bắt gặp hình ảnh ngời phụ nữ mòn mỏi chờ

chồng trong văn học trung đại với câu chuyện Ngời con gái Nam Xơng của Nguyễn Dữ, Chinh phụ ngâm khúc của Đoàn thị Điểm Những ngời phụ nữ

ấy tuy không sống cùng thời đại nhng điểm gặp gỡ của họ chính là sự chờ đợinhững ngời chồng đi lính Có lẽ ở thời nào cũng vậy, sự chờ đợi lòng chung

Trang 34

thủy luôn gắn với hình ảnh ngời phụ nữ Đó chính là nguồn sức mạnh, độnglực giúp cho con ngời vợt qua mọi khó khăn gian khổ trong cuộc sống Đồngthời nó tạo nên những giá trị tinh thần có ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp xâydựng và bảo vệ tổ quốc

Trong truyện ngắn viết về đề tài chiến tranh, ngời phụ nữ với những phẩm

chất dịu dàng, nhân hậu, giàu đức hi sinh xuất hiện rất nhiều Nguyệt (Mảnh

trăng cuối rừng - Nguyễn Minh Châu) không chỉ là cô thanh niên xung phong

gan dạ dũng cảm mà còn là một ngời con gái thủy chung son sắt Nguyệt yêuLãm qua lời những bức th mà Lãm gửi cho ngời chị gái, từ sự cảm kích ngờicon trai đã trốn nhà ra đi theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc Cô đã yêu vàchung thủy đợi chờ một ngời con trai mà mình cha biết mặt, điều đó đã làmcho Lãm vô cùng cảm động: “Qua bao nhiêu năm sống trong bom đạn và tànphá, mà một ngời con gái vẫn giữ trong lòng hình ảnh ngời con trai cha hề gặp

và cha hề hứa hẹn một điều gì ? Trong lòng cô ta cái sợi chỉ xanh bé nhỏ vàóng ánh qua thời gian và bom đạn vẫn không phai nhạt không hề đứt ?” [13,84] Trong chiến tranh, sự sống và cái chết cách nhau trong gang tấc nhngNguyệt vẫn giữ đợc một niềm tin tuyệt đối Tình yêu thuỷ chung son sắt càngtôn lên vẻ đẹp của ngời phụ nữ trong kháng chiến Đúng nh lời chị Tính đãnhận xét về Nguyệt “trên đời này khó tìm đợc một ngời con gái nh thế” [13,85] Đây là một tình yêu tiêu biểu của thời chiến vì ở họ

có sự hoà hợp giữa khát vọng chung và tình yêu đôi lứa

Chiến tranh vốn ác liệt, tàn khốc lại kéo dài quá lâu hơn mức chịu đựngcủa con ngời Biết bao ngời lính ra đi khi còn rất trẻ để lại hậu phơng ngờiyêu, ngời vợ hiền vò võ đợi chờ Ngay cả khi cuộc chiến đã lùi xa, cuộc sống

đời thờng mở ra với vô số những biến động quanh co, nhng tình yêu và lòng

chung thuỷ của ngời phụ nữ vẫn không hề thay đổi Chị Túc (Xa kia chị đẹp

nhất làng - Tạ Duy Anh) đã cảm phục, rồi yêu những ngời lính trận nhng các

anh ra đi và mãi mãi không trở về Từ một cô gái trẻ trung xinh đẹp nhất làng,chị trở thành ngời đàn bà quá lứa lỡ thì, tàn tạ héo úa trong làng đã có đa trẻ

bi bô gọi chị bằng “bà Túc” nhng cha bao giờ chị thôi chờ đợi Ngời thiếu nữ

trong truyện ngắn Hồn trinh nữ của Võ Thị Hảo bất chấp thực tại về cuộc đời

của bà, của mẹ vẫn một lòng chung thủy đợi chờ ngời yêu trở về suốt mời bảynăm ròng rã: “Đã 17 năm rồi, cô gái chờ ngời lính ấy Từ một thiếu nữ nh nụhoa chớm nở, nàng đã trở thành cô gái quá lứa lỡ thì” Cuộc đời con ngời thậtngắn ngủi, tuổi xuân của ngời phụ đã qua đi thì không bao giờ quay trở lại,vậy mà ngời phụ nữ vẫn âm thầm chờ đợi hi sinh tuổi xuân, kìm nén mọi

Trang 35

mong ớc và nhu cầu cá nhân mà không một lời oán trách Hình ảnh nàng TôThị chờ chồng đến khi hóa đá gợi nên nỗi xót xa cho bao thế hệ nhng lại làmột bằng chứng hùng hồn cho tấm lòng thủy chung son sắt của ngời phụ nữViệt Nam ở đâu đó trên đất nớc này câu truyện của nàng Tô Thị vẫn luôn

hiện diện Ngời phụ nữ trong truyện ngắn Giếng trong của Bùi Hiển là một

nàng Tô Thị nh thế Cô có số phận rất bất hạnh, cả gia đình đều chết dới bàntay của giặc khâm phục, cảm kích trớc những ngời lính giải phóng, cô đã yêu

Đại đội trởng Vinh và trao cho anh tất cả tình yêu trong trắng đầu đời củamình Chiến tranh với những cuộc hành quân liên tiếp, bất ngờ khiến hai ngờikhông có nhiều thời gian bên nhau Trớc khi chia tay ngời lính ấy đã hứa hếtchiến tranh sẽ quay về cới cô Vinh ra đi và không bao giờ còn trở lại, tình yêubắt đầu cũng là lúc hai ngời vĩnh viễn mất nhau Anh hi sinh khi cha kịp thựchiện lời hứa của mình để lại ngời mẹ già suốt đời chờ con, một ngời vợ cha cớisuốt đời thờ chồng Chiến tranh đã qua đi mấy chục năm, ai may mắn cònsống đều đã trở về, vậy mà ngời con gái ấy vẫn một lòng chờ đợi ngày anh trởlại Với cô, anh chỉ đi xa rồi sẽ có một ngày anh trở về: “ chồng tôi đấy ảnh

đi xa, cha về” Biết bao nhiêu hi vọng dù mỏng manh, biết bao nhiêu nỗi đaughìm xé trong câu nói tởng chừng nh rất đơn giản ấy

Thuỷ chung với ngời sống đã đành nhng còn có những ngời phụ nữ vẫnmột lòng chờ đợi ngời yêu thơng cho dù ngời lính ấy đã hi sinh Tình yêu ấy

đã vợt qua mọi thử thách của thời gian thật đáng trân trọng, khâm phục An

-Mật trong truyện ngắn Hai ngời đàn bà ở xóm trại của Nguyễn Quang Thiều

lấy chồng từ khi còn rất trẻ, chồng của họ ra trận và không bao giờ còn trở lại.Hai ngời đàn bà chờ đợi chồng từ khi còn là những cô gái trẻ mời tám đôi mơicho đến khi thành những bà lão lớn tuổi Họ sống trong nỗi cô đơn khôngchồng, không con Dù đã nhận giấy báo tử nhng hai ngời phụ nữ vẫn chờ, vẫn

hi vọng một phép màu có thể xảy ra Tết nào họ cũng gói nhiều bánh chng vớiniềm hi vọng: “Tết này ai đó sẽ về” Cho đến cuối đời, vẫn là hình ảnh hai bàlão già nua cô đơn sống trong tâm trạng chờ đợi chồng trở về và mình sẽ cócon

Để giữ trọn sự thủy chung đối với ngời yêu, ngời chồng của mình, ngờiphụ nữ sẵn sàng chịu đựng bao đau khổ thậm chí là cái chết Ngời phụ nữ

trong truyện ngắn Im lặng của Nguyễn Ngọc Tấn là một ngời nh thế Chị là du

kích ở vùng hậu địch Hải - chồng chị, phải đi công tác liên miên, thỉnhthoảng mới đảo về qua nhà đợc vài tiếng rồi đi Lợi dụng hoạt động bí mật,một ngời cùng công tác với Hải là Lộc đến phao tin chồng chị đã hi sinh và c-

Trang 36

ỡng hiếp chị trớc khi hắn trốn về với địch Ngời đàn bà yếu ớt suốt đời chỉ biếtcầm mái chèo ấy không thể chống lại đợc sự thèm muốn của một kẻ độc ác,dã tâm Chị bị làm nhục nhng không dám kêu vì chị nghĩ Lộc là một trinh sátgiỏi, liều lĩnh, gan dạ “nếu mất hắn sẽ mất đi một ngời đắc lực của cơ sở, mấtsức che trở thiêng liêng của đồng bào Chị không nỡ để hắn bị bắt, vì nghĩ nếukhông chịu đợc tra tấn biết đâu nó sẽ làm hại đến ngời khác” [54, 362] Chị đã

“im lặng” vì lẽ ấy nhng lại không dấu diếm mà dũng cảm nói thật với chồngmong tìm đợc sự thông cảm chở che của anh Hải không những không thểthông cảm mà đã tát chị, coi chị nh một ngời nhơ bẩn gây ra tội lỗi sau này

anh kể lại: “Việc thân thể vợ tôi bị xâm phạm có lẽ không đau bằng cái tát này” Hải cũng nhận thấy rằng: “tại sao những đau khổ nhỏ nhặt họ lại chịu

đựng một mình, không hé răng với chồng, nhng những đau khổ lớn hơn ngời

ta dám nói thật ngay với mình Rõ ràng là họ mong tìm ở mình một sự che trởchứ không phải là thái độ nh tôi”[61, 106] Trớc khi ra Bắc tập kết Hải đã yêucầu vợ: “em hãy bảo vệ tình yêu nh sinh mạng của mình Thà chết còn hơnchịu nhục” Để giữ trọn lời hứa với chồng chị đã phải chấp nhận đày đoạ thânmình làm cho mình xấu, già đi thậm chí chị đã cạo trọc đầu đi tu Nhng dù cótrốn chạy thế nào cũng không thoát khỏi sự trả thù hèn hạ của Lộc Cuối cùng,chị đã phải chọn cái chết để giữ trọn trinh tiết với chồng Từ nhân vật này ngời

đọc cảm nhận đợc một sự hi sinh thầm lặng nhng hết sức dũng cảm, kiên cờngcủa ngời phụ nữ Việt Nam Vẻ đẹp ấy sẵn có trong bản chất, nay đợc tôi luyệntrong môi trờng chiến tranh càng thêm đẹp đẽ

Trong truyện ngắn viết về đề tài chiến tranh xuất hiện nhiều nhân vật nữchỉ biết yêu có một lần duy nhất dù họ đã lấy chồng và sinh con đẻ cái (Thai -

Cỏ lau, Hạnh - Bên đờng chiến tranh, Thuỳ - Bến trần gian) Thai là ngời phụ

nữ chỉ yêu đợc một lần, bao năm trôi qua nhng tình cảm chị dành cho ngờichồng đã hi sinh vẫn không hề thay đổi Đi đâu chị cũng mang theo bát hơngcủa ngời chồng cũ, không năm nào không làm giỗ cho anh Gặp lại nhau khicả hai đã đi hơn nửa cuộc đời, nhng tình yêu son sắt mà chị dành cho anh vẫnnguyên vẹn nồng nàn nh thuở ban đầu: “lúc nào em cũng cứ tởng anh hãycòn sống Suốt bao chục năm trời rồi vẫn nh vậy Em vẫn sống với anh… ”

[61, 179] Hạnh (Bên đờng chiến tranh - Nguyễn Minh Châu) có mối tình đẹp

đẽ trong sáng với ngời chiến sĩ trẻ sống cùng với gia đình chị Tình yêu của họcha kịp đơm hoa kết trái thì chiến tranh đã chia cắt mỗi ngời một nơi Baonhiêu năm trôi qua, dù chị đã có gia đình nhng trong lòng vẫn không thôi nhớ

về ngời yêu năm xa Để gặp đợc ngời yêu chị đã dựng một ngôi nhà bên đờng

Trang 37

hi vọng một ngày nào đó sẽ gặp lại đợc ngời yêu của mình trên đờng hànhquân “Hôm nay là cuộc vui gặp mặt… thực sự em sung sớng biết bao khi biếtrằng anh vẫn còn sống Ngọn đèn ba dây hãy thắp sáng lên, trong ngôi nhànày em đã cấy giữ một nửa trái tim, cả cuộc đời em từ thủa còn xanh tóc cho

đến nay khi tóc đã bạc có bao giờ em thôi nghĩ đến anh, khắc khoải, trông chờanh, mặc dầu em vẫn biết vì trăm công nghìn việc…” Chị đã gặp đợc anh, nóihết với anh những điều mà bao lâu nay chị giữ kín trong lòng rồi mới yên tâmtrở về xuôi với chồng Lòng chung thuỷ son sắt của ngời đàn bà khiến chochồng họ càng thêm yêu thơng và kính trọng vợ mình Phái nói về vợ “baonhiêu năm rồi cô ấy không thôi nhớ về ông” Ngời chồng mới của Thai đãtừng có một ngời vợ thiếu chung thuỷ ông lại tìm thấy những đức tính ấy ởThai, ngời đàn bà bao năm sống cùng ông nhng luôn nghĩ về ngời chồng đãmất “Thai thuộc loại đàn bà cổ Nhng tôi lại quý cái tính cách ấy Khổ sởnhục nhã nhng lại vẫn phải quý trọng vợ”

Nét đẹp toát lên từ phẩm chất dịu dàng, nhân hậu, thuỷ chung son sắt củangời phụ nữ đợc miêu tả rất nhiều trong truyện ngắn về đề tài chiến tranh từ

1945 đến nay Vẻ đẹp góp phần làm mềm lại, làm tơi mát sự tàn bạo, khốcliệt, sự nghiệt ngã tận cùng của chiến tranh Những ngời con gái Việt Nam nh:Nguyệt, Hạnh, An, Mật,… là những biểu tợng đẹp về lòng chung thuỷ, là

điểm tựa tinh thần, là niềm tin của những ngời lính đang chiến đấu nơi sa ờng Nhà văn chú ý khắc đậm phẩm chất này của ngời phụ nữ trong các tácphẩm về đề tài chiến tranh là có ý nghĩa sâu xa nh vậy

tr-2.1.3 Vẻ đẹp của lòng nhân hậu, vị tha, giàu đức hi sinh

Ngời phụ nữ không chỉ dịu dàng, đằm thắm trong tình yêu mà trong cuộcsống đời thờng họ cũng luôn là ngời bao dung nhân hậu Bản thân ngời phụ nữtrong cuộc sống cũng gặp không biết bao nhiêu đau khổ, mất mát nhng họ lạiluôn nghĩ và hành động vì ngời khác đó là một phẩm chất tốt đẹp của ngờiphụ nữ Việt nam từ bao đời nay Trong truyện ngắn về đề tài chiến tranh, tabắt gặp rất nhiều những ngời phụ nữ âm thầm lặng lẽ hi sinh vì ngời kháckhông một lời kêu ca, oán trách Thậm chí, có những ngời đã hi sinh tính

mạng của mình để bảo vệ ngời thân và đồng đội Mây (Ngời bến sông Châu

-Sơng Nguyệt Minh) đã lấy thân mình che cho ngời thơng binh nặng, ngời

th-ơng binh còn sống nhng cô y sĩ thì bị bom phạt mất một chân Mẹ của Lành

(Cà na đắng - Nhất Phợng) vì cứu ngời chiến sĩ cộng sản mà bị bắn ngay tại chỗ, còn Lành thì bị bắt, tra tấn cho đến bại liệt Chị Tâm (Thị trấn những cây

Trang 38

bàng cụt - Nguyễn Quang Thiều) lấy chồng là một ngời thơng binh, tàn tật.

Nhng cao cả hơn hết là khi chị quyết định sinh con để xoa dịu nỗi đau choanh Xót xa thay cả bốn lần sinh nở đều không thành Đến lần thứ năm sinhcon đứa trẻ sống nhng chị lại ra đi Nhng chị mãn nguyện vì đã làm đúngthiên chức của một ngời vợ, ngời mẹ là “sinh ra sự sống chứ không phải cái

chết” Tơng tự, trong truyện ngắn Dây neo trần gian ngời lính bất hạnh trở về

từ cuộc chiến, ngời đã mang theo mình một niềm tin định mệnh: “Những ngời

đã trở về để nằm vào cái huyệt đã đào sẵn cho mình” anh lấy vợ nhng khôngdám sinh con do bị ám ảnh bởi những trận tắm dới màn phun chất hoá học.Anh sợ sẽ “đẻ ra một quái thai không đầu hoặc không tay” Ngày ngày anhchìm trong rợu, nhọc nhằn theo dõi cái chết đến với mình qua sự ra đi củanhững ngời đồng đội Ngời con gái trong truyện đã bứt từng sợi tóc mình bệnthành chín mơi chín lọn tóc mong sẽ là sợi dây níu giữ anh ở lại trần gian, mặc

dù cô không phải là vợ của anh Chính sự hi sinh của cô đã khiến anh còn cảmthấy mình có giá trị, ai đó còn mong muốn níu giữ mình lại nơi trần gian này

Rõ ràng, ngời phụ nữ chịu nhiều mất mát, đau thơng nhng họ không phàn nàn,không kêu ca gì mà âm thầm chịu đựng, tự nguyện hi sinh vì ngời khác

Vân (Im lặng - Nguyễn Ngọc Tấn) vốn là du kích, từ nhỏ đã nổi tiếng

tinh nghịch và thông minh chị bị địch cỡng bức, đổ cho chị căn bệnh quái ác

đến trọc đầu, ghẻ lở, mất khả năng sinh nở Ngời yêu đã không thông cảm mà

bỏ rơi chị, khiến Vân vô cùng đau khổ nhiều khi muốn tự tử tâm hồn chị đầyoán hờn, luôn sống với tâm trạng nửa tỉnh nửa mê, xa lánh mọi cuộc vui,muốn lao vào công việc để quên đi tất cả nhng trong sâu thẳm tâm hồn chịlại luôn luôn khao khát tình yêu và hạnh phúc Thông cảm với hoàn cảnh củaHải, chị đã hết lòng chăm sóc, chia sẻ chuyện đời bất hạnh với anh Hải đã

đánh thức nơi chị khả năng yêu thơng và khao khát đợc yêu thơng chị tìm

đến với Hải nhng anh cũng không đủ tỉnh táo để đón nhận chị Để cứu Hải,chị đã bị nớc lũ cuốn đi nhng đó là điều bí mật mà anh không bao giờ biết đ-

ợc Đọc truyện ngắn về đề tài chiến tranh, ta dễ dàng nhận thấy nhân vật nữhầu hết là những ngời giàu tình cảm, tự nguyện hi sinh vì ngời khác mà khôngcần đền đáp Tình cảm họ giành cho những ngời yêu thơng, cho đồng đội là vô

bờ bến Truyện ngắn Họ đã trở thành đàn ông của Phạm Ngọc Tiến kể về một

nữ chiến sĩ quân lơng trong cánh rừng Trờng Sơn vào những năm tháng khốcliệt Chị vốn là một nữ sinh khoa văn xinh đẹp và duyên dáng Chị có một tìnhyêu đẹp trong sáng đến vô ngần Trớc hôm ngời yêu ra trận, hai ngời đã có cả

đêm bên nhau, ngời lính ấy rất muốn chị sẽ thuộc về anh mãi mãi Nhng chị

Trang 39

đã từ chối anh, chị không muốn điều thiêng liêng đẹp đẽ ấy lại diễn ra dới bầutrời đầy bom đạn chết chóc Chị hẹn anh vào ngày chiến thắng trở về Nhngchiến tranh đã cuốn anh đi, ngời lính ấy đã mãi mãi rời xa chị Một buổi sáng,

có hai ngời chiến sĩ trẻ vô tình ngắm chị tắm bên bờ suối và chị tình cờ nghe

đợc câu chuyện của họ:

“- Đẹp quá! Hệt nh thần vệ nữ

- …

- Lần đầu tiên tao đợc nhìn thấy con gái rõ thế này

- Tao cũng vậy thôi

- …

- Tao cha có ngời yêu đã đành còn mày

- Nếu tao muốn thì có thể biết đợc cô ấy Tội nghiệp cô ấy cứ giục cới,mày bảo mình đi biết khi nào về Con gái có thì, tao không muốn cô ấy cộtvào mình để phải đằng đẵng chờ đợi

- Tao ở thành phố nhà không đến nỗi, lại đợc chiều chuộng, cái gì cũngbiết cả Hiềm một nỗi bây giờ nằm xuống, mình tiếng là thằng con trai lừnglững mà cha thành đàn ông kể cũng tiếc” [54, 312]

Những lời nói của hai ngời chiến sĩ ấy khiến chị vô cùng xúc động Chịnhớ lại mong ớc của anh trớc đêm lên đờng và cảm thấy thơng anh vô hạn.Chị tự trách mình: “Sao đêm ấy không dâng hiến tất cả sự trinh trắng của đờicon gái cho anh? Liệu anh có nh hai ngời lính trẻ kia không? nếu linh hồnanh có lang thang tiếc nuối thì chị quả là ngời có tội” [61, 316] Chính vì niềmmong ớc thầm kín của những ngời lính, từ đó chị đã có một quyết định hết sứclạ lùng Chị trao thân, dâng hiến hết mình cho những ngời chiến sĩ trớc khi ratrận Họ sẽ trở thành những ngời đàn ông thực thụ và không bao giờ phảimang niềm tiếc nuối nếu chẳng may hi sinh Đây là một quyết định hết sứctáo bạo, không ít kẻ đã lên án chị, coi chị là một ngời phụ nữ xấu xa, phảntruyền thống, kể cả với những ngời sống ở thời bình khi chiến tranh đã qua đirất lâu rồi Chính sự hi sinh của chị đã tạo nên niềm tin, sức mạnh cho nhữngngời lính vợt qua mọi khó khăn gian khổ thậm chí vợt qua cái chết để trở về:

“Cha cháu là một ngời đã trở thành đàn ông khi đi qua cuộc đời cô ấy Mỗikhi gặp khó khăn tởng chừng nh gục ngã, bao giờ cha cháu cũng gợng dậy đ-

ợc Vì cái gì? Chính vì ngời đàn bà năm trớc Cho dù thời gian qua đi nhngnhân cách của cô ấy không bao giờ bị hoen ố” [54, 309] Chị hiến dâng với tấtcả tấm lòng trân trọng đối với những ngời lính Chị muốn làm một điều gì đó

Trang 40

chính điều đó đã tạo nên sức mạnh cho những ngời lính trớc khi vào nhữngtrận đánh, khi đối mặt với kẻ thù, cái chết chị dâng hiến với một tấm lòng hếtsức chân thành Những ngời lính đã đi qua cuộc đời chị dù có hi sinh cũngkhông bao giờ còn cảm thấy hối tiếc về cuộc đời Việc trao thân cho nhữngngời lính của chị không làm cho ngời đọc cảm thấy ghê sợ mà còn khiến cho

họ thêm cảm phục chị bội phần

Xuyến (Viên bi đất - Trúc Phơng) trong lúc nghỉ ngơi trên chiến trờng,

chị mơ đợc ân ái cùng ngời chồng đã mất thì bị một ngời đồng đội cỡng bức.Chị biết rằng nếu kêu cứu thì ngời lính kia phải chịu sự kỉ luật khắc nghiệt củachiến trờng Chị im lặng chịu đựng đau đớn để cứu ngời đồng đội vô tráchnhiệm, thiếu kỷ luật Cũng vì thế mà chị có thai nhng tìm đâu đợc cha đứa bégiữa cuộc chiến nghiêng ngửa mất còn này Cái thai vô thừa nhận ấy đã giếtchết cuộc đời chính trị của chị, thẻ thơng binh không đợc làm, lơng bổngkhông có gì, bao nhiêu năm vẫn chỉ là một hộ lý Chiến tranh đã qua đi mờinăm rồi, những gì xảy ra trong chiến tranh đã dần nhạt phai giờ đây, chị sắpsửa đi bớc nữa với một ngời lính tập kết goá vợ Xuyến cùng Thuận - là ngời

đồng đội, ngời bạn thân của vợ chồng chị, ngời mà chị rất mực tin tởng và tôntrọng đi tìm mộ chồng chị Nhng không ngờ trong chuyến đi này Xuyến biết

đợc sự thật đau lòng chính Thuận là ngời lính bớng bỉnh, vô trách nhiệm năm

xa Đau đớn và thất vọng chị bỏ dở việc tìm kiếm vội vàng trở về và tái giá.Qua đó ta thấy sự hi sinh của ngời phụ nữ là vô bờ bến, họ chập nhận thiệt thòi

đắng cay về mình để bảo vệ đồng đội nhng cuối cùng lại phải gánh chịu baonỗi xót xa cho mình

Vẻ đẹp của lòng nhân hậu, vị tha còn đợc thể hiện qua Quỳ trong truyện

ngắn Ngời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành Chị đã cứu vớt cuộc đời của kỹ s

Ph một chuyên viên cơ khí cỡ hàng đầu quốc gia bán rẻ linh hồn cho đồngtiền, trở thành một kẻ móc ngoặc, tham ô, xấu xa bỉ ổi Bằng tình thơng củamình chị đã giúp anh trở lại thành một ngời có ích: “Tôi phải chọn lấy, giữatình yêu hạnh phúc và cái trách nhiệm của tôi đối với Ph, cũng là giấc mơ củaanh ấy mà tôi mang nặng trong lòng khi trở về hậu phơng, nh một ngời mẹmang thai” [13, 184] Chị đã giúp đỡ Ph để anh trở lại với cuộc sống, trở thànhmột ngời có ích cũng là thực hiện ớc mơ của Hòa khi anh còn sống Hồng

(Cây số 42 - Dũng Hà) đã cứu vớt cuộc đời của một tên lính Lê Dơng bị bắt

làm tù binh Qua một thời gian tìm hiểu, cảm thông với cuộc đời bất hạnh củamột ngời tù binh da đen cô đã đồng ý làm vợ anh ta và đến một đất nớc xa xôi

Ngày đăng: 21/12/2013, 12:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh (1995), “Đổi mới văn học vì sự phát triển”, Tạp chí Văn học (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới văn học vì sự phát triển”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1995
2. Vũ Tuấn Anh (1996), “Quá trình văn học đơng đại nhìn từ phơng diện thể loại”, Tạp chí Văn học (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình văn học đơng đại nhìn từ phơng diện thểloại”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1996
3. Lại Nguyên Ân (1978), Nội dung thể tài và sự phát triển của thể loại trong nền văn học Việt Nam mới - một thời đại mới trong văn học, Nxb Văn học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nội dung thể tài và sự phát triển của thể loại trongnền văn học Việt Nam mới - một thời đại mới trong văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Văn họcHà Nội
Năm: 1978
4. Lại Nguyên Ân (1986), “Văn học gần đây diện mạo và vấn đề”, Tạp chí Văn nghệ Quân đội (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học gần đây diện mạo và vấn đề”, Tạp chí "Vănnghệ Quân đội
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1986
5. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
6. M.Bakhtin (2003), Lý lu n v thi pháp ti u thuy t, ậ à ể ế Ph m V nh C d ch, ạ ĩ ư ị Nxb H i nh v n, H N i. ộ à ă à ộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý lu n v thi pháp ti u thuy t, ậ à ể ế
Tác giả: M.Bakhtin
Nhà XB: Nxb H i nh v n
Năm: 2003
7. Y Ban (1998), Truyện ngắn Y Ban, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn Y Ban
Tác giả: Y Ban
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1998
8. Nguyễn Thị Bình (2007), Văn xuôi Việt Nam 1975-1995 - những đổi mới cơbản, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam 1975-1995 - những đổi mới cơ"bản
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
9. Trần Cơng (1986), “Về một vài hớng tiếp cận với đề tài chiến tranh”, Tạp chí Văn học (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một vài hớng tiếp cận với đề tài chiến tranh”, Tạp chí"Văn học
Tác giả: Trần Cơng
Năm: 1986
10. Nguyễn Minh Châu (1980), “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn học”, Tạp chí Văn nghệ (49) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn học”,Tạp chí "Văn nghệ
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Năm: 1980
11. Nguyễn Minh Châu (2002), Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu (tác phẩm và d luận), Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Năm: 2002
12. Nguyễn Minh Châu (2002), Phê bình và tiểu luận, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình và tiểu luận
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2002
13. Nguyễn Minh Châu (2006), Tuyển tập Nguyễn Minh Châu (Truyện ngắn), Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Nguyễn Minh Châu
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2006
14. Tr ươ ng Th Chớnh ị (2008), Cảm hứng phê phán trong truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến nay, Lu n v n Th c s , ậ ă ạ ĩ Đạ ọ i h c Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm hứng phê phán trong truyện ngắn ViệtNam từ 1986 đến nay
Tác giả: Tr ươ ng Th Chớnh ị
Năm: 2008
15. Hồng Diệu (2001), “Viết về chiến tranh”, Tạp chí Văn nghệ Quân đội (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viết về chiến tranh”, Tạp chí "Văn nghệ Quân đội
Tác giả: Hồng Diệu
Năm: 2001
16. Trơng Đăng Dung (2001), “Những đặc điểm của hệ thống lý luận văn học Mác xít thế kỷ XX”, Tạp chí Văn học (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc điểm của hệ thống lý luận văn họcMác xít thế kỷ XX”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Trơng Đăng Dung
Năm: 2001
17. Đinh Xuân Dũng (1990), Hiện thực chiến tranh và sáng tạo của nhà văn, Nxb Quân đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện thực chiến tranh và sáng tạo của nhà văn
Tác giả: Đinh Xuân Dũng
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1990
18. Đinh Xuân Dũng (2001), Văn học Việt Nam hai giai đoạn của sự phát triển, Tạp chí Văn nghệ Quân đội (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hai giai đoạn của sự pháttriển," Tạp chí "Văn nghệ Quân đội
Tác giả: Đinh Xuân Dũng
Năm: 2001
19. Phan Cử Đệ (chủ biên, 2005), Văn học việt Nam thế kỷ xx, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học việt Nam thế kỷ xx
Nhà XB: Nxb Giáo dục
20. Đào Đồng Điện (2006), Nhân vật nữ trong văn xuôi Việt Nam từ 1986 đến nay, Luận văn thạc sĩ, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân vật nữ trong văn xuôi Việt Nam từ 1986 đếnnay
Tác giả: Đào Đồng Điện
Năm: 2006

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w