Tác phẩm còn được chuyển thể sang nhiều loại hình nghệ thuật khác: hí kịch, điện ảnh, phim truyền hình,…Người ta thường nhắc đến hai từ liêu trai như: Gương mặt liêu trai, hiện tượng li
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTrƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HÀ THỊ VINH TÂM
NHÂN VẬT CỦA LIÊU TRAI CHÍ DỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
VINH, 201
Trang 2Dù rất nỗ lực khi thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi khó tránh khỏi những thiếu sót Rất mong được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô giáo
và những ý kiến trao đổi của các bạn.
Vinh, tháng 12 năm 2010 Tác giả luận văn
Hà Thị Vinh Tâm
Trang 3MỤC LỤC
Trang MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài 1
2.Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 9
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
6.Phương pháp nghiên cứu 10
7 Đóng góp và cấu trúc của luận văn 10
Chương 1: Hư và thực ở phương diện nhân vật của Liêu Trai chí dị 11 1.1 Giới thuyết một số vấn đề 11
1.1.1 Nhân vật 11
1.1.2 Truyện truyền kỳ 12
1.1.3 Hư và thực 20
1.2 Mối quan hệ giữa hư và thực 24
1.2.1 Cái thực được hư hoá 27
1.1.2 Cái hư được thực hoá 36
1.3 Ý nghĩa của thủ pháp “thực giả hư chi, hư giả thực chi” 42
Chương 2: Các loại nhân vật chủ yếu của Liêu Trai chí dị 45
2.1 Thống kê, phân tích số liệu 45
2.2 Các loại nhân vật chủ yếu 48
2.2.1 Nhân vật là người 49
2.2.2 Nhân vật ảo dị 72
Chương 3: Các mô hình nhân vật phổ biến của Liêu Trai chí dị 89
3.1 Nhân vật người- nhân vật ảo dị 89
3.1.1.Nhân vật người- yêu tinh 90
3.1.2 Nhân vật người- ma, quỷ 96
3.1.3 Nhân vật người- thần, tiên 99
3.1.4 Nhân vật người- dị nhân 10
1 3.2 Nhân vật người- người 103
3.3 Nhân vật ảo dị - nhân vật ảo dị 10
5 Chương 4: Nghệ thuật xây dựng nhân vật của Liêu Trai chí dị 109
Trang 44.1 Các thủ pháp nghệ thuật xây dựng nhân vật 109
4.1.1 Các thủ pháp ngoại hiện 109
4.1.2 Các thủ pháp miêu tả tâm lý 117
4.2 Kết cấu xây dựng nhân vật 125
4.2.1.Kết cấu xây dựng nhân vật theo lối bổ dọc 126
4.2.2 Kết cấu xây dựng nhân vật theo lối tương phản 126
KẾT LUẬN 129
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 131
TÀI LIỆU THAM KHẢO 132
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Nhân vật là phạm trù quan trọng của tác phẩm tự sự Nghiên cứu nhân vật không chỉ biết về nhân vật mà còn góp phần vào việc nhận thức các giá trị khác của tác phẩm
Truyện truyền kỳ có hai yếu tố nổi bật là thực và hư Giá trị đặc sắc của
bất cứ truyện truyền kỳ nào cũng được đồng thời tạo nên từ hai yếu tố trên Điều đó được thể hiện rõ nhất ở phương diện nhân vật- một trong những chìa
khóa tạo nên sức hấp dẫn của truyện truyền kỳ
Trang 51.2 Liêu Trai chí dị là tác phẩm đỉnh cao của truyện truyền kỳ Trung
Quốc Tác phẩm được ca ngợi là “đoản thiên tiểu thuyết chi vương” (vua của truyện ngắn) Kể từ khi được khắc in lần đầu tiên (năm Càn Long thứ 31- năm
1766) đến nay, Liêu Trai chí dị đã vượt qua được sự thử thách của thời gian,
vượt qua biên giới một nước ảnh hưởng đến nhiều dân tộc Tác phẩm được chuyển sang nhiều ngôn ngữ Năm 1916 được H.Giles chuyển sang Anh ngữ
lần đầu tiên dưới nhan đề Strange Stories from a Chinese Studio Tác phẩm
còn được chuyển thể sang nhiều loại hình nghệ thuật khác: hí kịch, điện ảnh,
phim truyền hình,…Người ta thường nhắc đến hai từ liêu trai như: Gương mặt liêu trai, hiện tượng liêu trai, kiểu liêu trai, với nghĩa: kì dị, lạ thường,
ma quái…Có thể nói Liêu Trai chí dị có một sức sống mãnh liệt, diệu kì trong
đời sống tinh thần của nhân loại không chỉ vì giá trị hiện thực sâu sắc, toàn diện mà còn vì nghệ thuật viết truyện truyền kỳ điêu luyện, tài hoa Nhà nghiên cứu Nguyễn Huệ Chi nhận định: “Với gần 500 truyện ngắn truyền kỳ
xen lẫn chí quái tập hợp trong bộ Liêu Trai chí dị, ông đã dựng nên một thế
giới kì ảo muôn hình nghìn vẻ, làm say mê bao bạn đọc trong hơn 300 năm qua, bắt người ta phải nghiền ngẫm, khám phá không biết chán bức tranh thực- ảo đầy bí ẩn của ông” [10, 28]
Từ trước đến nay, ở nước ta việc nghiên cứu truyện truyền kỳ nói chung và nghiên cứu nhân vật truyện truyền kỳ nói riêng chưa nhiều Nghiên cứu đề tài này góp phần khắc phục tình trạng ấy
1.3.Liêu Trai chí dị có ảnh hưởng đáng kể đến truyện truyền kỳ Việt Nam và nhiều thể loại nghệ thuật khác Liêu Trai vốn là tên phòng văn của tác giả đuợc người ta gọi như là một loại tác phẩm (truyện liêu trai) Nghiên cứu nhân vật trong Liêu Trai chí dị góp phần nhận thức những ảnh hưởng đó
1.4 Hiện nay trong chương trình Ngữ Văn trung học cơ sở và trung học phổ thông có một số tác phẩm thuộc truyện truyền kỳ: Chuyện người con gái
Trang 6Nam Xương, Chuyện chức phán sự ở đền Tản Viên (Nguyễn Dữ), Con hổ có nghĩa (Vũ Trinh), Dế chọi (Bồ Tùng Linh), Nghiên cứu đề tài này góp phần
vào việc dạy học các tác phẩm đó tốt hơn
2 Lịch sử vấn đề
Nói đến thành tựu tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc, người ta không thể
bỏ qua Liêu Trai chí dị, bởi giá trị phong phú của nó cũng như tính đại biểu
cho thành tựu đoản thiên tiểu thuyết truyền kỳ Trung Quốc Tiểu thuyết truyền kỳ Trung Quốc phát triển rực rỡ giữa đời Đường, tiếp tục được tiếp nối vào đời Tống Nguyên song bút lực không còn được như trước; sang đầu đời Minh, truyền kỳ mới hưng thịnh trở lại và đến đời Thanh, thể loại này đạt đến
đỉnh cao viên mãn với Liêu Trai chí dị của văn sĩ Bồ Tùng Linh.
2.1 Bồ Tùng Linh (1640-1715), người tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc, tự
là Lưu Tiên ( 留仙) lại có tự là Kiếm Thần ( 剑臣), biệt hiệu: Liễu Tuyền cư
sĩ ( 柳泉居士), tự xưng là Dị Sử thị (剑史氏), người đời vẫn gọi là Liêu Trai tiên sinh (聊剑先生) Bồ Tùng Linh là thầy giáo nghèo ở làng quê, học giỏi,
18 tuổi đã đỗ đầu huyện, phủ, tỉnh trong khoa thi Đồng tử, được bổ Bác sĩ đệ
tử viên nhưng sau đó thi mãi không đỗ đạt gì, đến năm 71 tuổi mới đỗ Cống sinh và chỉ 4 năm sau thì mất Trong suốt thời gian hơn 40 năm từ khi hỏng
thi nhiều lần đến khi đậu cử nhân, ông trước tác nhiều bằng cổ văn Ông là tác
giả của nhiều thơ, tiểu thuyết và truyện ngắn Về tiểu thuyết có Liêu Trai văn tập gồm 12 quyển Về thơ có Liêu Trai thi tập gồm 6 quyển với hơn 1000 bài
thơ, 170 bài từ, 14 vở ca khúc dân gian và 3 vở tạp kịch Nhưng nổi tiếng nhất
là tập tiểu thuyết truyền kỳ đoản thiên Liêu Trai chí dị Tác phẩm lúc mới
hoàn thành gồm 8 quyển, có cả thảy 491 truyện, ước hơn 40 vạn chữ, sáng tác vào đầu đời nhà Thanh, được đánh giá là đỉnh cao của tiểu thuyết văn
ngôn Trung Quốc Liêu Trai chí dị giống một bộ tranh liên hoàn Truyện tập
Trang 7hợp các câu chuyện dân gian, phảng phất giống các truyện quái dị đời Lục triều, các truyện truyền kỳ đời Đường nhưng vẫn có một tính cách riêng khá độc đáo
2.2 Từ lâu bộ tiểu thuyết bằng văn ngôn Liêu Trai chí dị là một sáng
tạo nghệ thuật độc đáo được các nhà nghiên cứu thừa nhận trên nhiều phương
diện Nhiều vấn đề của Liêu Trai chí dị được các học giả Trung Quốc và ngoại
quốc rất quan tâm, đặc biệt là trong nhiều cuộc hội thảo quốc gia và quốc tế
về Bồ Tùng Linh được tổ chức từ 1988 đến nay Do đó từ lâu đã có nhiều
công trình nghiên cứu về Liêu Trai chí dị.
Trong Lời giới thiệu cuốn Liêu Trai chí dị do nhà xuất bản văn học
nghệ thuật quốc gia in ở Maxcơva năm 1957, viện sĩ N.T.Phêđôrencô đánh giá: Bồ Tùng Linh là “tác giả truyện ngắn xuất sắc” của Trung Quốc Năm
1950, ông được UNESCO kỉ niệm như một danh nhân văn hóa thế giới
Bộ Liêu Trai chí dị được nhiều người đánh giá cao Theo Nguyễn Cẩm
Xuyên: “Riêng ở Trung Quốc: truyện truyền kỳ ma quái cũng nhiều, trong đó một tác phẩm vừa hấp dẫn người xem bởi nhiều tình tiết, vừa kỳ dị lại vừa
phản ánh cuộc sống thực của xã hội Trung Hoa lúc bấy giờ là Liêu Trai chí
dị” [80] Các tác giả Tiểu thuyết cổ Trung Quốc đánh giá: “Trung Quốc gọi là
đoản thiên tiểu thuyết Có hàng vạn truyện, hàng trăm tuyển tập nhưng Liêu Trai chí dị là nổi tiếng hơn cả” [74, 10 ]
Lỗ Tấn trong Sơ lược lịch sử tiểu thuyết Trung Quốc đã tìm hiểu cụ thể:
“Liêu Trai chí dị cũng có chia làm mười sáu quyển bốn trăm ba mươi mốt
chương, Tùng Linh đến tuổi năm mươi mới viết xong ( ) Lại tương truyền rằng người ẩn sĩ ở Sơn Dương (Vương Sỹ Trinh) khen ngợi sách muốn mua
mà không được, cho nên tiếng tăm lại càng lên, người ta đua nhau kể và sao
chép ( ) Sách Liêu Trai chí dị lưu hành như gió đã hơn 100 năm, người mô
phỏng, kẻ tán tụng đều đông” [66, 272-278] Đến khoảng đời Gia Tĩnh, tiểu
Trang 8thuyết truyền kỳ đời Đường lại nổi lên, “từ đó người bắt chước đâu đâu cũng thế, các văn nhân đại để đều thích viết một ít bài theo thể truyền kỳ Còn
chuyện làm tiểu thuyết hợp lại thành một tập, thì có Liêu Trai chí dị là có
tiếng hơn cả” [66, 444]
Đặc trưng của tiểu thuyết chí quái từ Hán Ngụy về sau cho đến Lục Triều là “tùng tàn, tiểu ngữ” (nhặt nhạnh chuyện vặt), “đạo thính đồ thuyết” (chuyện kể ngoài đường), nói chung là những mẩu chuyện ngắn gọn, kỳ lạ trong dân gian, không trang nghiêm chính thức gì, người biên soạn chỉ chép
lại coi là sự thật Liêu Trai chí dị mặc dù kế thừa những mẩu chuyện chí nhân,
chí quái và truyền kỳ trước đó nhưng nó “đã rũ bỏ hết cái chất phác, vụng về”
và “đạo thính đồ thuyết” của tiểu thuyết chí quái buổi đầu Các tác giả cuốn
Trung Quốc nhất tuyệt khẳng định những thành tựu nghệ thuật nổi bật của Liêu Trai chí dị: “Tác giả dụng ý khắc họa hình tượng và tính cách nhân vật,
khéo léo đan kết các tình tiết câu chuyện kể lại một cách khéo léo hấp dẫn,
đẹp đẽ xúc động ( ) Cả về tư tưởng lẫn nghệ thuật, Liêu Trai chí dị đều đã
đẩy tiểu thuyết chí quái lên đến đỉnh cao, trở thành niềm kiêu hãnh vĩnh hằng của tiểu thuyết chí quái” [11, 228-229]
Chương Bồi Hoàn, Lạc Ngọc Minh trong Văn học sử Trung Quốc, tập 3,
dành gần mười trang nghiên cứu về “Liêu Trai chí dị và những tiểu thuyết
đoản thiên khác” Các tác giả đã chú ý đến những tiểu thuyết văn ngôn trước
đó và chỉ ra rằng: “Việc sáng tác những tiểu thuyết văn ngôn kể lại những câu chuyện quỷ quái linh dị, được xem là một biện pháp gửi gắm nỗi buồn của tác giả vào những truyện kỳ dị, là một hiện tượng khá phổ biến trong giới sĩ đại phu trong cuối đời Minh trở về sau Văn thể này đến thời Bồ Tùng Linh, càng
được phát huy đến mức cao độ trong quyển Liêu Trai chí dị này” [29, 603]
Họ chú ý đến cuộc đời tác giả Bồ Tùng Linh và những nét chính của tác phẩm: dung lượng, nguồn gốc, nội dung, tư tưởng nghệ thuật, Các tác giả đã
Trang 9đánh giá: “Tư tưởng của Bồ Tùng Linh rất phức tạp ( ) Những tác phẩm
chiếm địa vị chủ đạo trong bộ Liêu Trai chí dị là phê phán xã hội hiện thực và
ảo tưởng về một cuộc sống tốt đẹp” [29, 605] Bên cạnh đó các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra một trong những nguyên nhân khiến mọi người ưa thích bộ truyện này chính là có nhiều chuyện kể về tình yêu giữa con người và hồ tinh
Các tác giả của cuốn Tiểu thuyết cổ Trung Quốc đã rút ra nhận xét về nguồn ảnh hưởng văn hóa dân gian trong sáng tác Liêu Trai chí dị: “Cuộc
sống gần gũi với quảng đại quần chúng khiến Bồ Tùng Linh có mối giao cảm nhạy bén với đời sống văn hóa cộng đồng Điều này đã đưa ông đến với bầu trời bao la của những truyện thần kỳ, huyền bí, lưu truyền trong dân gian
Liêu Trai chí dị chính là sự chưng cất của Bồ Tùng Linh từ kho tàng văn hóa dân gian ấy” [74, 264] Hơn thế, họ đã có nhận định sâu sắc về yếu tố hư và thực trong tác phẩm đoản thiên này: “Bước vào thế giới của Liêu Trai, không
khí hư-thực cứ lung linh huyền ảo, chúng ta như được bao bọc trong bầu không gian đậm đặc chất huyền thoại của Trung Hoa cổ trung đại Song thực
tế Liêu Trai chí dị không đơn thuần là những chuyện ma quỷ hay thần tiên
Một người có cuộc đời thăng trầm như Bồ Tùng Linh viết sách không để mà
“kể láo chơi”( ) Dù tác giả cố ý che dấu câu chuyện bằng lớp màn hư ảo nhưng người đọc vẫn nhận ra cốt lõi hiện thực của nó” [74, 263-264] Đồng thời các tác giả đó khẳng định tài năng viết truyện truyền kỳ kiệt xuất của
Bồ Tùng Linh: “Tác giả Liêu Trai chí dị là nhà giáo nông thôn đã say mê
sưu tầm chuyện lạ và sáng tạo lại theo một tiêu chí nhân văn cao cả và một
tư duy nghệ thuật mới mẻ Bồ Tùng Linh sẽ được đọc về lâu về dài trong cuộc sống hiện đại” [74, 10]
Trần Xuân Đề trong cuốn Về những bộ tiểu thuyết cổ điển hay nhất của Trung Quốc khẳng định khả năng phản ánh hiện thực rộng lớn của tác phẩm:
“Liêu Trai chí dị của Bồ Tùng Linh, Thuỷ hử hậu truyện của Trần Thầm,
Trang 10Thuyết nhạc toàn truyện của Tiền Thái v.v là thành tựu lớn nhất của giai đoạn
văn học đầu đời Thanh Cả ba sử dụng những hình tượng nghệ thuật muôn màu muôn vẻ phản ánh cuộc sống của nhân dân, đề cao tinh thần dân tộc Họ trực tiếp hoặc gián tiếp tái hiện cuộc sống của xã hội và hơi thở của thời đại ” [18 , 178]
Tác giả cuốn 180 nhà văn Trung Quốc nhận định về khuynh hướng sáng tác của tác giả Bồ Tùng Linh trong cuốn Liêu Trai chí dị đồng thời
khẳng định vị trí của tác phẩm trên văn đàn thế giới: “Bồ Tùng Linh đem chủ nghĩa lãng mạn của tiểu thuyết thời Lục triều kết hợp với chủ nghĩa hiện thực trong tiểu thuyết nhà Đường hình thành phong cách lãng mạn kết hợp với
hiện thực rất độc đáo để sáng tác Liêu Trai chí dị (…) Trong lịch sử văn học Trung Quốc, Liêu Trai chí dị đã mở ra một giai đoạn phát triển mới cho tiểu
thuyết văn ngôn mà những thành tựu ông đạt được vô cùng xuất sắc Trong
văn học thế giới, tập truyện này cũng có vị trí quan trọng, đến nay Liêu Trai chí dị đã được dịch ra mười mấy thứ tiếng” [31, 196].
Có những tác giả lại chú ý đến một trong những vấn đề nổi trội trong
tác phẩm này là vấn đề tính dục Hồ Đắc Duy có bài viết với nhan đề: Lệch lạc tình dục trong tác phẩm Liêu Trai chí dị của Bồ Tùng Linh [17], Trần Thế
Hương có bài: Liêu Trai chí dị từ góc nhìn tính dục học [35].
Nguyễn Huệ Chi trong bài Một vài phương diện tư tưởng và nghệ thuật của Bồ Tùng Linh trong Liêu Trai chí dị đã chỉ ra “Tư tưởng của Bồ Tùng
Linh là cả một khối phức tạp chứ không thuần nhất” [10, 28] Ông vừa là đại biểu trung thành của Nho giáo, vừa có trong mình những nhân tố phi Nho giáo, vừa tin vào kiếp luân hồi của nhà Phật vừa cảm tình với phép thuật trường sinh của giới đạo sĩ, Điều này chi phối đến việc xây dựng thế giới
hình tượng nhân vật trong Liêu Trai chí dị Nguyễn Huệ Chi đã phân tích kiểu
nhân vật nho sinh, nhân vật đạo sĩ và nhân vật người phụ nữ Từ đó nhà
Trang 11nghiên cứu giải thích căn nguyên vấn đề: “Có phải có một sự phân thân trong chính con người tác giả: một Bồ Tùng Linh trong niềm cảm hứng lãng mạn
mê cuồng và một Bồ Tùng Linh hoàn toàn tỉnh táo? Một Bồ Tùng Linh nghệ
sĩ và một Bồ Tùng Linh đặc biệt nho sĩ?” [10, 32]
Nguyễn Thị Bích Dung trong bài viết: Chân dung kẻ sĩ - thương nhân trong Liêu Trai chí dị của Bồ Tùng Linh đã có nhiều phát hiện về kiểu nhân
vật thương nhân vốn xuất phát là những nho sinh bất đắc chí trong thi cử Từ
đó nhận ra được những tư tưởng tiến bộ mới mẻ, vượt thời đại của ông trong quan niệm về thời thế, về thương nhân- nho sĩ [13]
Đề cập đến nhân vật trong Liêu Trai chí dị còn có các công trình khác đáng lưu ý: Giới thiệu bộ truyện Liêu Trai chí dị và tác giả Bồ Tùng Linh (Đàm Quang Hưng) [33]; Phong cách nghệ thuật Liêu Trai (Trần Văn Trọng) [77], Thơ văn cổ Trung Hoa- mảnh đất quen mà lạ (Nguyễn Khắc Phi) [55];…
Bên cạnh đó, có thể kể đến các công trình nghiên cứu về truyện truyền kỳ liên
quan đến tác phẩm Liêu Trai chí dị: Những biến đổi của yếu tố kỳ và thực trong truyện ngắn truyền kỳ Việt Nam (Vũ Thanh) [70]; Truyện truyền kỳ Trung Quốc (Lâm Ngữ Đường) [19]; Lý luận văn học nghệ thuật cổ điển Trung Quốc (100 điều) (Khâu Chấn Thanh), (Mai Xuân Hải dịch) [68]; Cái
“kì” trong tiểu thuyết truyền kì (Đinh Phan Cẩm Vân) [78];v.v
Nhìn chung, các công trình đã có những thành tựu nghiên cứu đáng kể
về nhân vật trong truyện truyền kỳ nói chung và nhân vật trong Liêu Trai chí
dị nói riêng Các thành tựu nghiên cứu đó thực sự đóng vai trò rất lớn trong
việc gợi ý cho những người đi sau tiếp tục triển khai những đề tài liên quan
đến tác phẩm Liêu Trai chí dị
Khi nghiên cứu vấn đề nhân vật trong Liêu Trai chí dị của Bồ Tùng
Linh, các nhà nghiên cứu chưa có sự so sánh một cách thoả đáng với một số tác phẩm truyện truyền kỳ khác và một số tác phẩm thuộc thể loại khác trong
Trang 12tự sự Trung đại (truyện ký, tiểu thuyết chương hồi, ) để thấy rõ những nét khu biệt đặc trưng làm nên đặc sắc riêng, sức hấp dẫn riêng của cuốn “thiên
cổ kỳ thư” này
Các công trình chỉ chưa nghiên cứu thế giới nhân vật trong bộ tiểu
thuyết truyền kỳ Liêu Trai chí dị một cách toàn diện, khái quát để từ đó hệ
thống được các loại nhân vật chủ yếu và các mô hình xây dựng nhân vật phổ biến trong bộ tiểu thuyết đoản thiên nổi tiếng này
Hầu hết các công trình nghiên cứu đều chưa đề cập tới nghệ thuật xây
dựng nhân vật đặc sắc trong Liêu Trai chí dị một cách hệ thống và chưa chỉ ra
được ảnh hưởng của những phương thức xây dựng nhân vật này đến văn xuôi Việt Nam trung đại và hiện đại (truyện truyền kỳ, truyện ngắn ảo dị, tiểu thuyết kỳ ảo, )
Nghiên cứu nhân vật trong Liêu Trai chí dị vẫn là điều cần thiết Với
thái độ thực sự cầu thị, chúng tôi đã tiếp thu có chọn lọc những kiến giải của người đi trước, đồng thời tiếp tục tìm hiểu, triển khai một cách có hệ thống về
đề tài này để hiểu hơn về thế giới nghệ thuật, tài năng văn chương cùng với những tiến bộ về mặt tư tưởng của văn sĩ Bồ Tùng Linh
3 Mục đích nghiên cứu
3.1 Nhận thức những phương thức phản ánh hiện thực và biểu lộ tư
tưởng tình cảm độc đáo ở phương diện nhân vật trong Liêu Trai chí dị.
3.2 Khái quát các loại nhân vật chủ yếu và các mô hình xây dựng nhân
vật phổ biến trong Liêu Trai chí dị.
3.3 Nhận định những phương thức nghệ thuật chủ yếu trong việc tổ
chức, xây dựng thế giới nhân vật Liêu Trai chí dị của Bồ Tùng Linh Từ đó,
bước đầu thấy được ảnh hưởng của những phương thức xây dựng nhân vật
trong Liêu Trai chí dị đến văn xuôi Việt Nam trung đại và hiện đại (truyện
truyền kỳ, truyện ngắn ảo dị, tiểu thuyết kỳ ảo, )
Trang 133.4 Khu biệt các vấn đề trên ở nhân vật Liêu Trai chí dị so với một số
tác phẩm truyện truyền kỳ khác và một số tác phẩm thuộc thể loại khác trong
tự sự trung đại ( truyện ký, tiểu thuyết chương hồi, )
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1.Nhận ra đặc trưng khu biệt của thể loại truyện truyền kỳ biểu hiện ở
phương diện nhân vật trong Liêu Trai chí dị Đó là vấn đề hư và thực.
4.2 Khảo sát, thống kê để phát hiện, nghiên cứu, khái quát được các loại nhân vật chủ yếu và các mô hình xây dựng nhân vật phổ biến trong tác
phẩm Liêu Trai chí dị của Bồ Tùng Linh.
4.3 Nghiên cứu các phương diện nghệ thuật xây dựng nhân vật chủ yếu
và đặc sắc của Liêu Trai chí dị
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung chú trọng nghiên cứu về nhân vật của Liêu Trai
chí dị Các phương diện khác làm nên chỉnh thể nghệ thuật của Liêu Trai chí dị- dĩ nhiên luận văn vẫn quan tâm nhưng chỉ dùng làm cơ sở để làm nổi bật đặc điểm của thế giới nhân vật trong Liêu Trai chí dị.
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi chọn một trong những văn bản dịch có số truyện vừa phải
và đáng tin cậy nhất để nghiên cứu Đó là bộ Liêu Trai chí dị ( Lời bình:
Tản Đà, lời bạt: Chu Văn) gồm 78 truyện của Nxb Văn học, Hà Nội, 2002
6 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu văn học phổ biến như:
thống kê- phân loại, hệ thống, đối sánh, phân tích, tổng hợp, Trong đó chú trọng phương pháp hệ thống và phương pháp đối sánh
7 Đóng góp và cấu trúc của luận văn
7.1 Đóng góp của luận văn
Trang 14Đây là đề tài nghiên cứu một cách hệ thống về nhân vật của Liêu Trai chí dị Từ góc nhìn đặc trưng truyện truyền kỳ chỉ ra được hai yếu tố hạt nhân xây dựng nên thế giới nhân vật trong Liêu Trai chí dị đó là hư và thực; từ việc khảo sát, thống kê chi tiết thế giới nhân vật đã khái quát được các loại nhân
vật chủ yếu, các mô hình nhân vật phổ biến của tác phẩm; đồng thời chỉ ra
được nghệ thuật xây dựng nhân vật của Liêu Trai chí dị.
7.2 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn được trình bày
trong bốn chương:
Chương 1: Hư và thực ở phương diện nhân vật của Liêu Trai chí dị
Chương 2: Các loại nhân vật chủ yếu của Liêu Trai chí dị
Chương 3: Các mô hình nhân vật phổ biến của Liêu Trai chí dị
Chương 4: Nghệ thuật xây dựng nhân vật của Liêu Trai chí dị
Cuối cùng là Tài liệu tham khảo
CHƯƠNG 1: YẾU TỐ HƯ VÀ THỰC Ở PHƯƠNG DIỆN NHÂN VẬT
CỦA LIÊU TRAI CHÍ DỊ
1.1 Giới thuyết một số vấn đề
1.1.1 Nhân vật
Thuật ngữ “nhân vật” lấy từ tiếng Pháp và có nguồn gốc La-tinh:
personal Nhân vật văn học in dấu những xu hướng tiến hóa của tư duy nghệ
thuật Nhân vật là nơi tập trung thể hiện ý đồ nghệ thuật, những quan niệm về con người và cuộc sống của nhà văn Nhân vật là: “Hình tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ Bên cạnh con người, nhân vật văn học, có khi còn là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gán cho những đặc
Trang 15điểm giống như con người” [3, 241] “Hệ thống nhân vật bộc lộ nội dung của tác phẩm, nhưng tự nó lại là một trong các phương diện của kết cấu tác phẩm” [57, 212] Nhân vật là trung tâm của mọi sự miêu tả nghệ thuật Chức năng cơ bản của nhân vật là khái quát những quy luật của cuộc sống, là phương tiện khái quát tính cách số phận của con người và các quan niệm về chúng Nhân vật là hình chiếu của những dồn nén tâm lý hoặc sự phản chiếu thế giới tư tưởng của tác giả hoặc được coi như hình chiếu của đời sống xã hội Hay nói cách khác đó là nơi gửi gắm thông điệp của nhà văn và cũng là nơi tiếp nhận, giải mã những vấn đề hiện thực hoặc phi hiện thực cốt yếu được đặt ra trong tác phẩm Vì vậy nhân vật luôn gắn bó chặt chẽ với chủ đề tư tưởng tác phẩm.
Nhân vật văn học và con người thật không đồng nhất Nhân vật văn học thể hiện quan niệm nghệ thuật và lý tưởng thẩm mỹ của nhà văn về con người, là phương tiện để nhà văn khái quát tính cách, số phận con người Tuy nhiên nhân vật văn học được thể hiện bằng nhiều phương tiện nghệ thuật Nhân vật văn học mang tính ước lệ, “không phải giản đơn là những bản dập của con người sống mà là những hình tượng được khắc họa phù hợp với ý đồ
tư tưởng của tác giả” (B.Brếch) Nhân vật có mối quan hệ mật thiết với các yếu tố nghệ thuật khác trong chỉnh thể tác phẩm “Nhân vật là một chất liệu có tính bản thể của tự sự ( ) cần phải được ứng xử như một hệ thống có quan hệ nội tại và giá trị của các yếu tố được tạo sinh từ mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên hệ thống này” [42, 242-243] Nhân vật văn học vừa có đặc điểm phổ quát vừa có đặc điểm cá biệt của thể loại
1.1.2 Truyện truyền kỳ
Lâm Ngữ Đường khẳng định: “Đoản thiên tiểu thuyết chỉ thực sự thành một hình thức nghệ thuật kể, từ đời Đường (thế kỷ 8 và thế kỷ 9), trong đó những đoản thiên tiểu thuyết dồi dào tính nghệ thuật nhất lại là loại truyền kỳ Loại truyện truyền kỳ này đều ngắn gọn, thường vào khoảng nghìn chữ trở
Trang 16lại, viết theo lối văn cổ, đặc biệt sống động, lạ kỳ, vô cùng kích thích trí tưởng tượng” [19, 6]
“Tiểu thuyết truyền kỳ” được các tác giả cuốn Từ điển Văn học (bộ mới)
giới thuyết khá đầy đủ, chi tiết:
Đó là “một hình thức văn xuôi tự sự cổ điển Trung Quốc, vốn bắt nguồn
từ truyện kể dân gian, sau được các nhà văn nâng lên thành bác học, sử dụng những môtip kỳ quái hoang đường, lồng trong một cốt truyện có ý nghĩa trần
thế, nhằm gợi hứng thú cho người đọc” [28, 1730] Tiểu thuyết truyền kỳ có
nhiều đặc điểm nổi bật Trong đó có những đặc điểm đáng lưu ý, đó là: Thứ nhất, nó có dung lượng ngắn, kết cấu không phải theo truyện dài thu ngắn- phần nào đã có dáng dấp của thể loại truyện ngắn cận hiện đại Thứ hai, có sự tham gia của yếu tố thần kỳ vào câu chuyện Nhưng đó không phải là do những lực lượng tự nhiên được nhân hóa như kiểu thần thoại, hoặc những nhân vật có phép lạ như: trời, bụt, thần tiên,…trong truyện cổ tích thần kỳ mà phần lớn ở ngay hình thức phi nhân tính của nhân vật (ma quỷ, hồ ly, vật hóa người) Tuy nhiên, trong truyện bao giờ cũng có những nhân vật là người thật, và chính những nhân vật mang hình thức “phi nhân” thì cũng chỉ là cách điệu, phóng đại của tâm lý, tính cách một loại người nào đấy Vì thế truyện truyền kỳ có giá trị nhân bản sâu sắc
Xét theo lịch sử, “tiểu thuyết truyền kỳ” có kế thừa một số nhân tố từ tiểu
thuyết chí quái thời Lục triều nhưng đã vượt bậc về nhiều mặt, nên có thể nói đây là sản phẩm cả một thời đại mới: triều đại nhà Đường (618- 907) “Cái tên
“truyền kỳ”, từ thời Đường tới thời Minh tuy đã trải qua bốn lần thay đổi, nhưng chưa hề tách rời khỏi những tác phẩm có tính cách tự sự như loại tiểu thuyết, hý kịch vốn vẫn có tình tiết” [Dẫn theo 68, 130] Hai chữ “truyền kỳ” mãi đến giai đoạn Vãn Đường mới chính thức khai sinh trong tên gọi tập sách của Bùi Hình tuy vậy thể loại truyền kỳ thì đã được xác lập ngay từ thời sơ
Trang 17Đường với các truyện: Cổ kính ký- Vương Độ, Du tiên quật- Trương Thuốc,…
đến giai đoạn Trung Đường, tiểu thuyết truyền kỳ bước vào thời kỳ phồn thịnh chưa từng có, tác phẩm nhiều, tác gia danh tiếng cũng nhiều, có mặt hầu hết
các thiên truyện ưu tú nhất: Nam Kha Thái thú truyện- Lý Công Tá; Oanh Oanh truyện- Nguyên Chẩn;…Truyện truyền kỳ đời Đường kế thừa truyền thống chí
quái thời Lục triều, tuy nhiên hai loại tác phẩm này cũng có sự khác biệt Chí quái chủ yếu viết về thần linh quái đản, còn nhân vật chủ yếu trong truyện truyền kỳ là con người Vào thời Vãn Đường tiểu thuyết truyền kỳ dưới hình thức từng chương riêng rẽ có giá trị kiệt xuất không còn bao nhiêu, chỉ thấy
một vài thiên lưu lại như: Vô Song truyện; Linh ứng truyện;…đều không rõ tác giả Tuy các tập truyện truyền kỳ lại xuất hiện với số lượng rất lớn như: Huyền quái lục- Ngưu Tăng Nhụ, Tục huyền quái lục- Lý Phục Ngôn,…nhưng rất ít
truyện còn giữ được cách miêu tả sinh động, tinh tế như trước mà đa số các truyện đều vụn vặt, cốt truyện giản lược
Trong ba thế kỷ, “truyện truyền kỳ” là sự sáng tạo nghệ thuật có ý thức Bản thân thể loại đã tự vận động, đổi mới so với tiểu thuyết chí quái ở bốn điểm lớn: Thứ nhất, về đề tài đây là một bước ngoặt quan trọng, phản ánh sự biến chuyển từ nội dung ma quái sang nội dung xã hội, và từ xã hội nông nghiệp sang xã hội thị dân, mặc dù cái vỏ kỳ ảo vẫn còn; Thứ hai, về kết cấu, tiểu thuyết truyền kỳ đã trở thành những đoản thiên tiểu thuyết tương đối hoàn chỉnh, cốt truyện đa dạng, tình tiết phong phú, hấp dẫn; Thứ ba, nhân vật của truyện truyền kỳ nói chung được xây dựng với dụng ý nghệ thuật cao, không đơn giản như hình tượng nghệ thuật của truyện chí quái ; Thứ tư, ngôn ngữ của tiểu thuyết truyền kỳ là đan xen biền văn, tản văn và biến văn, việc biểu hiện sắc thái tình cảm qua lời thoại của nhân vật cũng trở nên uyển chuyển, nhuần nhị hơn
Trang 18Một điều đáng ghi nhận nữa là “Bước tiến của truyện truyền kỳ tuy vượt lên rất xa trong nghệ thuật tiểu thuyết so với chí quái nhưng trên một tiến trình lịch sử, vẫn có những bước thăng trầm nhất định Vào giai đoạn Vãn Đường yếu tố thần quái lại chi phối cảm hứng nhà văn, và nhiều tập sắc thế tục trong nội dung xã hội của thể loại bị hạ thấp, nghệ thuật sút kém trông thấy Nhưng xét đến cùng, nỗi khao khát tìm biết những điều quái dị trong thế giới khách quan vốn là một tâm thức xã hội, một nhu cầu không thể dập tắt của con người thời trung đại, chính nó lại đặt ra cho truyện truyền kỳ một thử thách mới: phải
nỗ lực tìm tòi biến cải về nghệ thuật để chuyển bằng được cái “quái” trở thành một đối tượng thẩm mỹ cao hơn Và sau bốn, năm thế kỷ không có đóng góp gì đáng kể, tưởng chừng đã bị hình thức thoại bản đời Tống lấn át, đến giai đoạn Minh- Thanh, văn học Trung Quốc lại chứng kiến một bước đột khởi của tiểu thuyết truyền kỳ: nhiều tập truyện có tiếng lần lượt xuất hiện trở lại chiếm lĩnh
vị trí hàng đầu trong thể loại đoản thiên ( ) Nhiều truyện có độ dài vượt hẳn truyền kỳ đời Đường” [28, 1731] Điều đáng kể là tuy chưa thuộc vào chặng đường hoàn kết nhưng các tập truyền kỳ thời này lại có ảnh hưởng khá rộng
Tiêu biểu là Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu
Bước nhảy vọt của “tiểu thuyết truyền kỳ” Trung Quốc phải kể từ sau đời Gia Tĩnh đến khoảng niên hiệu Khang Hy (1662-1722) nhà Thanh Nhiều cây bút truyền kỳ kế tiếp nhau xuất hiện: Thái Vũ, Từ Phương, Vương Sỹ Trinh, Bấy nhiêu văn nhân đã đóng góp vào giai đoạn này hàng chục tập truyện làm cho “tiểu thuyết truyền kỳ” khởi sắc “Điều quan trọng hơn, họ đã làm nền cho sự ra đời một kiệt tác hàng đầu của toàn bộ dòng văn học truyền
kỳ: bộ Liêu Trai chí dị của Bồ Tùng Linh Với việc xuất hiện Liêu Trai chí dị,
tiểu thuyết truyền kỳ đã lấy lại được phong độ và sức chinh phục của nó trên
văn đàn ( ) Dầu sao, sau Liêu Trai chí dị, thể loại truyền kỳ hình như đã phát
triển đến cực hạn Bước kế sau đó tuy có rôm rả nhưng không còn gì thật mới
Trang 19mẻ, về một mặt nào đó là sự chững lại để đi vào chặng đường suy tàn” [28, 1732].
Sự suy tàn của thể loại truyền kỳ có nhiều nguyên nhân Trước hết là do những mâu thuẫn giằng xé đang làm rạn vỡ từng bước sự bình ổn của nó, và các chính sách nghiệt ngã đối với trí thức, nhất là chính sách “văn tự ngục” được ban hành Mặt khác, sức sống khoẻ mạnh của ngôn ngữ bạch thoại cũng đẩy tiểu thuyết văn ngôn vào thế già cỗi Bên cạnh đó, thành tựu đột xuất của
Liêu Trai chí dị đã gây nên một hiện tượng bắt chước, mô phỏng bất lợi cho
sáng tạo nghệ thuật Nhiều cây bút xuất hiện sau Bồ Tùng Linh đã đi theo vết chân của ông trong việc phối hợp giữa “kỳ” và “quái” nhưng lại không nắm
được sự sáng tạo tài hoa của tác giả Liêu Trai chí dị trong những kết hợp thiên
tài ấy, nên họ đã vô tình trở lại với thể chí quái đời Tấn mà rời xa thể truyền kỳ
Cũng có người theo được bút pháp của Liêu Trai chí dị, song do không vượt nổi sức ám ảnh của bút lực Bồ Tùng Linh, họ bắt chước Liêu Trai chí dị nhưng
đa số các truyện lập ý không cao, nội dung tủn mủn, “năng lực biểu hiện nghệ
thuật không khoẻ” (Tích liễu chích đàm của Phùng Khởi Phong) “Cũng như
cuối giai đoạn truyền kỳ đời Đường có sự trở lại lối viết chí quái, chắp nối, vụn vặt, thành từng mẩu đầu Ngô mình Sở, hiện tượng mô phỏng sao chép cách
viết Liêu Trai chí dị ở giai đoạn suy tàn của tiểu thuyết truyền kỳ thời cuối
Thanh làm mất dần sức sống của thể loại cũng là điều dễ thấy Cho đến thời hiện đại, tiểu thuyết truyền kỳ Trung Quốc vẫn còn xuất hiện nhưng đặc trưng nghệ thuật đã thay đổi Đó chỉ là truyện ngắn hiện đại mô phỏng truyền kỳ.” [28, 8199]
Liêu Trai chí dị với cái “bản lai chân diện mục” của nó mới được coi là
một bộ truyện “chí dị” (ghi chép chuyện lạ) của Bồ Tùng Linh Chính tính hệ thống của bộ truyện mới làm nên giá trị của tác phẩm vẫn được coi là một
Trang 20trong những phản ánh nghệ thuật độc đáo của cuộc sống xã hội và văn hóa Trung Quốc thời Thanh
“Đoản thiên tiểu thuyết truyền kỳ” là một thể loại văn học độc đáo Đoản thiên tiểu thuyết là nói đến hình thức kết cấu của tác phẩm bao gồm nhiều truyện ngắn hoàn chỉnh xâu chuỗi lại trong một hệ thống chặt chẽ thành một chỉnh thể tác phẩm nghệ thuật toàn vẹn Đây là tập hợp những tác phẩm
tự sự cỡ nhỏ có dung lượng ngắn chỉ vài chục trang, khả năng phản ánh rất hạn hẹp, biến cố và các sự kiện tương đối ít thường chỉ tập trung trong một không gian nhất định Điều này hoàn toàn khác với tiểu thuyết trường thiên, câu chuyện sẽ được kéo dài ở nhiều chương nhiều hồi khác nhau trong thời gian dài và không gian rộng Nếu xét ở cấp độ chỉnh thể nghệ thuật thì mỗi
truyện ngắn trong Liêu Trai chí dịlà một chỉnh thể nghệ thuật toàn vẹn Đó là những câu chuyện riêng lẻ hoàn chỉnh tưởng chừng như không liên quan đến nhau nhưng nội dung tư tưởng lại quan hệ với nhau bởi nó được xây dựng trên một số chủ đề lớn Dưới góc độ kết cấu liên văn bản thì mỗi truyện ngắn
là một yếu tố cấu thành nên một chỉnh thể nghệ thuật lớn hơn, đó là bộ Liêu Trai chí dị Nhà văn Lỗ Tấn đã từng gọi tiểu thuyết đoản thiên là “một bức
tranh được ghép từ các mảnh giấy vụn” Đây là một sáng tạo độc đáo của tác giả Bồ Tùng Linh Chính vì vậy, tác phẩm vừa phản ánh các mảng đề tài riêng
lẻ, vừa khái quát những vấn đề rộng lớn mang tính chất thời đại
“Truyền kỳ” là nói đến đề tài của tác phẩm thường đề cập đến những chuyện kỳ lạ, hư ảo “Như tên gọi của thể loại, truyện truyền kỳ dùng yếu tố
kỳ ảo làm phương thức nghệ thuật để phản ánh cuộc sống Yếu tố kỳ ảo có thể là nhân vật, sự vật, cốt truyện Cũng cần lưu ý trong yếu tố kỳ thì kỳ ảo là chủ yếu nhưng không loại trừ yếu tố kỳ lạ không đồng nhất với yếu tố kỳ ảo” [71, 201] Yếu tố kỳ là yếu tố đóng vai trò hết sức quan trọng trong tác phẩm truyền kỳ, nó “tạo nên sức hấp dẫn bề nổi cho câu chuyện truyền kỳ như được
Trang 21khoác cái áo sặc sỡ, bắt mắt ( ) Vì vậy có thể nói “kỳ” là quan niệm, là cái nhìn về thế giới của truyền kỳ” [78, 49-53]
Với ưu thế đó, “truyện truyền kỳ” trở thành một thể loại có tính chất quốc tế Nó được sử dụng phổ biến trên một không gian rộng lớn gồm Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam, trong hàng chục thế kỷ Truyền kỳ là một kiểu truyện ngắn, có nguồn gốc từ Trung Quốc được truyền vào Việt
Nam và thực sự phát triển ở thế kỉ XV với Thánh Tông di thảo tương truyền của Lê Thánh Tông, phát triển rực rỡ ở thế kỷ XVI với Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ Thể loại này còn tiếp tục phát triển ở thế kỷ XVIII với Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm, thế kỷ XIX với Tân truyền kỳ lục của Phạm Quý Thích, Lan Trì kiến văn lục của Vũ Trinh,…
Ở Việt Nam khái niệm “truyện truyền kỳ” được hiểu rộng hẹp khác nhau Có nhà nghiên cứu xếp tất cả các tác phẩm văn xuôi có yếu tố thần linh
ma quái hoặc kỳ dị vào “truyện truyền kỳ” Có người nêu thêm tiêu chí hư cấu của nhà văn và cho rằng chỉ xếp vào truyện truyền kỳ những truyện có con người là nhân vật chính chứ không phải thần linh ma quỷ
“Tiểu thuyết truyền kỳ” có sức hấp dẫn, cuốn hút người đọc chính là bởi yếu tố hư cấu Đó là “nhân kỳ sự thậm kỳ đặc, vị kinh nhân kiến nhi truyền chi” (tình tiết của nó khác lạ độc đáo, chưa được người nhìn thấy và lưu truyền) Có những tình tiết mới mẻ và độc đáo, thì mới có thể khắc họa được hình tượng nhân vật có tính cách rõ ràng Lý Ngư cho rằng: “Có tình tiết lạ mới có văn chương lạ? Có văn chương lạ mới có thể viết ra nhân vật lạ” (Hữu
kỳ sự, phương hữu kỳ văn, hữu kỳ văn, tài hữu khả năng tả xuất kỳ nhân) [Dẫn theo 68, 131] M.Gocki xem tình tiết là một thủ pháp quan trọng trong việc miêu tả tính cách nhân vật, là “lịch sử cấu thành và phát triển của tính cách” [Dẫn theo 68, 131] Các tình tiết lạ có vai trò rất quan trọng trong việc
xây dựng thế giới nhân vật Liêu Trai chí dị muôn hình muôn sắc Nó góp phần
Trang 22đưa tác phẩm này trở thành một thành tựu chói lọi của thể loại “tiểu thuyết
truyền kỳ”, “dường như làm lu mờ hết mọi đỉnh cao của thể loại này trong bất
kỳ giai đoạn nào về trước Nó là bước phủ định “tiểu thuyết thơ văn” dưới thời Cù Hựu, trả lại cho tiểu thuyết truyền kỳ ngôn ngữ tản văn pha chút ít biền văn dưới thời Đường Tống Nó cũng đưa tiểu thuyết đoản thiên đến trình
độ hiện đại, mặc dù một bộ phận vẫn chưa đoạn tuyệt với hình thức truyện kể
xen bút ký” [28, 1732] Các tác giả của cuốn Trung Quốc nhất tuyệt đánh giá rất cao Liêu Trai chí dị: “Bồ Tùng Linh đời Thanh dùng “phương pháp truyền kì” sáng tác Liêu Trai chí dị Các hý khúc và tiểu thuyết này đến nay vẫn là bộ
phận tổ thành quan trọng trong đời sống nghệ thuật của mọi người” [11, 218]
Trong Liêu Trai không phải viết “kỳ” để mà “kỳ”, để “kể láo chơi” hay “mua
vui cũng được một vài trống canh” mà để gửi gắm, để ngụ ý răn dạy Các nhân vật, các chi tiết đều có yêu ghét, có chê trách, có ngợi ca, có khuyến khích, Nó đã thể hiện được “yếu chỉ của đoản thiên tiểu thuyết là miêu tả nhân tính “Chích liền tóe máu ”(ý nói đánh trúng điểm yếu) hoặc biểu hiện những tri kiến chân thực, sáng rỡ trong cuộc sống, nhân đó khêu gợi lòng trắc
ẩn của nhân loại, tình yêu và lòng đồng tình khiến người đọc cảm thấy khoái cảm” [19, 5] Cũng vì vậy ở mỗi truyện hầu như đều tìm thấy sự “chân thú”
trong các yếu tố hư Theo Thang Hiển Tổ, hư “là vô số những mâu thuẫn hiện
thực phức tạp biến hóa lẫn nhau, dẫn tới những biến hóa của ảo tưởng chủ quan, của tưởng tượng” [Dẫn theo 68, 136] Theo đó, cái kì lạ, hư ảo bắt nguồn từ cuộc sống hiện thực
Tóm lại, lẽ tồn tại của “truyện truyền kỳ” là ở chỗ đưa đến một bức tranh lạ về thế giới hiện thực và con người bằng những cách nhìn khác
Trong “truyện truyền kỳ”, nhân vật có vị trí hết sức quan trọng Đối với văn xuôi tự sự nói chung, “sự lựa chọn nhân vật, xây dựng những mối quan
hệ giữa các nhân vật là điểm hội tụ nội dung tác phẩm, là phương tiện nghệ
Trang 23thuật thể hiện quan niệm về con người, về xã hội của mỗi tác giả” [37, 65] Nhân vật chính là phương tiện quan trọng bậc nhất thể hiện tư tưởng trong tác phẩm tự sự nói chung, tiểu thuyết truyền kỳ nói riêng “Nó là phương diện thứ nhất của các tác phẩm ấy” [57, 18], quyết định phần lớn cốt truyện, kết cấu, việc lựa chọn chi tiết và các phương tiện ngôn ngữ Do đó “khi thuyết minh tư tưởng của các tác phẩm tự sự, kịch, điều quan trọng trước hết là phải hiểu chức năng của hệ thống nhân vật, nội dung và ý nghĩa của nó” [57, 215-216].
Hệ thống nhân vật thể hiện trình độ tư duy nghệ thuật của thời đại văn học, thể loại và từng tác giả Nhìn từ góc độ khắc họa tính cách nhân vật thì văn học thời Hán Ngụy, Lục Triều còn đơn giản, sơ lược Đến truyền kỳ đời Đường hình tượng nhân vật được khắc họa sinh động hơn Đến văn học Minh Thanh, các bộ tiểu thuyết mới chú trọng khắc họa hình tượng nhân vật hoàn
chỉnh trong đó có Liêu Trai chí dị
Nhân vật trong “truyện truyền kỳ” góp phần khu biệt đặc trưng thể loại Thường tác giả chỉ kể một đoạn đời của nhân vật, thậm chí chỉ đóng khung trong một giấc mộng, một cuộc trò chuyện, một cuộc gặp gỡ,… Sự xuất hiện của nhân vật thường gắn liền với hành trạng của nhân vật (họ tên, nguồn gốc xuất thân, quê quán, tính cách, ) Nhân vật được phân theo loại thiện- ác, tốt- xấu, nhưng nhiều khi đã có tính cách riêng, đôi lúc đã có bóng dáng “con người cảm nghĩ” bên cạnh “con người hành động” Có những nhân vật là những hình tượng tính cách, dù tính cách ấy định hình “tĩnh” chứ không
“động” Qua các sự kiện, biến cố, tính cách ngày càng được bộc lộ rõ nét Nhìn chung hình thức thể hiện nội tâm nhân vật trong truyền kỳ còn khá đơn
giản, thường dùng thơ để “ngụ tình” Nhân vật trong Liêu Trai chí dị tuy cũng
không nằm ngoài các đặc điểm đó nhưng đạt đến một trình độ cao hơn
Thành tựu đáng kể của Liêu Trai chí dị là việc kết hợp yếu tố hư và
thực để khắc họa thành công hệ thống hình tượng nhân vật, xây dựng được
Trang 24một thế giới nhân vật đa dạng có tính cách sắc nét, nội tâm phong phú đồng thời hình thành nên một số mô hình xây dựng nhân vật khá độc đáo mang
đậm nét đặc trưng thể loại Với thành tựu đó, Liêu Trai chí dị trở thành một
hiện tượng lạ và kỳ vĩ trong văn học Trung Quốc
1.1.3 Hư và thực
Hư và thực là một cặp phạm trù quan trọng trong mỹ học Trung Quốc
cổ điển Hai đặc tính này có ở mọi thể loại chứ không riêng gì truyền kỳ vì nó
là bản chất của sáng tạo nghệ thuật Nói như Tạ Triệu Chế đời Minh: “Phàm tiểu thuyết hay tạp kịch, hý khúc đều phải “nửa hư, nửa thực” (hư thực tương bán) Cơ sở thống nhất hư với thực phải đạt được tình và cảnh đều thực sự phù hợp” [Dẫn theo 25, 111] Truyền kỳ là một thể loại văn xuôi độc đáo
“Truyền kỳ là sao chép sự kỳ quái” ( Đào Duy Anh), là truyền đi một sự lạ
Đó là thể loại “thuật kỳ kí dị” (thuật điều kỳ lạ, ghi sự khác thường- Lăng Vân Hàn), “kì văn dị sự” (văn lạ, việc lạ), “phi kỳ bất truyền” (không lạ không truyền) Truyền kỳ phản ánh hiện thực qua kết hợp cái thực với cái kỳ
lạ, hư ảo Do đó, hạt nhân tự sự đầu tiên phải kể đến đó là yếu tố kỳ và thực Nghiên cứu hư và thực cũng có sự giao thoa với kỳ và thực nhưng nội hàm khái niệm hư rộng hơn vì không phải mọi cái hư đều kỳ Bởi vậy khi nghiên cứu yếu tố hư và thực không chỉ thấy rõ được đặc trưng thể loại truyền kỳ nói
riêng mà còn khám phá được bản chất sáng tạo của nghệ thuật nói chung
1.1.3.1.Hư
Hư/ siêu thực tức là nói đến những điều mà theo nhãn quan thông
thường là không có trong thực tế Đó là sản phẩm của sự hư cấu, tưởng tượng
Cái hư này nằm trong ý đồ sáng tạo nghệ thuật của nhà văn Nó gắn chặt với
ngòi bút sáng tạo văn chương của tác giả, là nhân tố không thể thiếu trong bất
kì thể loại tác phẩm văn chương nào tuy nhiên ở mỗi thể loại, mỗi tác phẩm lại có những đặc trưng nhất định
Trang 25Tìm hiểu nghệ thuật Liêu Trai chí dị, dễ nhận thấy sự hiện diện của yếu
tố thần kỳ Yếu tố thần kỳ vốn là đặc trưng cơ bản trong thi pháp của truyện
truyền kỳ thời Đường đến Thái bình quảng ký thời Tống được xác định như
nội dung nghệ thuật chủ yếu của tiểu thuyết chí quái chí dị, rồi đến thời Minh Thanh đã phát triển thành một phương pháp sáng tác Sự vận dụng thi pháp
“thuật kỳ ký dị” vào việc phản ảnh hiện thực xã hội trên đường hướng đề cao các giá trị tinh thần nhân dân - thị dân đã khiến dòng tiểu thuyết chí quái chí
dị thời Minh Thanh dần dần mang nội dung hiện thực chủ nghĩa “Có thể nói đây là một loại “chủ nghĩa hiện thực huyền ảo” kiểu phương Đông thời cổ, ở
đó thế giới thần tiên hồ quỷ trong trí tưởng tượng của con người đã trở thành một phương tiện đặc biệt để phản ảnh hiện thực xã hội và biểu đạt nguyện vọng nhân sinh Nhưng khác với chủ nghĩa hiện thực huyền ảo thế kỷ XX, phương pháp sáng tác này ở Bồ Tùng Linh lại có mối liên hệ máu thịt với văn
hóa truyền thống, vì Liêu Trai chí dị sử dụng cốt truyện của nhiều truyện cổ
lưu hành đương thời và các sáng tác của người trước, trong đó chắc chắn có
không ít là truyện kể dân gian” [67] Cái hư trong truyện truyền kỳ trung cổ phương Đông khác với sự biến dị trong thần thoại Phương Tây: Trong truyện
thần thoại phương Tây đó là sự trừng phạt nghiêm khắc đối với hiện tượng thoái hóa của nhân tính, không hi vọng hướng thiện còn truyện chí quái ở phương Đông ngay thời kỳ đầu đã bộc lộ khuynh hướng truy cầu chân- thiện-
mỹ và đến Liêu Trai chí dị đã phát triển đến mức thành thục Có ý kiến cho rằng nếu tước bỏ yếu tố kỳ ảo của Miếng da lừa (Banzac) thì cốt truyện vẫn đứng vững, trong khi đó nếu tước bỏ yếu tố kỳ ảo thì cốt truyện Liêu Trai chẳng còn là một sinh mệnh nghệ thuật nữa Rõ ràng, yếu tố kỳ ảo/ hư trong Liêu Trai không chỉ là một phạm trù tư duy nghệ thuật mà còn là một phạm
trù thẩm mỹ, hơn nữa còn là một trong hai yếu tố căn cốt tạo nên cốt truyện- yếu tố mấu chốt của tác phẩm tự sự Mặc dù có sự kế thừa truyền thống chí
Trang 26quái nhưng cái hư ở đây đã khác hẳn về chất so với tiểu thuyết chí quái Trong tiểu thuyết chí quái cái hư gần với cái quái dị, chủ yếu viết về thần linh quái đản còn trong Liêu Trai chí dị cái hư giàu tính hiện thực, không gây cảm
giác quái đản, hoang đường, chủ yếu nhằm viết về con người nên tạo sự gần
gũi, gia tăng về phương diện mỹ cảm của tác phẩm Cái hư trong truyền kỳ
cũng hoàn toàn khác với thể loại truyện viễn tưởng vì nó có sự biến đổi giữa
cái hư và cái thực dựa trên hệ quy chiếu thực tại còn truyện viễn tưởng không
có sự biến đổi giữa hai yếu tố này Bên cạnh đó, cái hư trong truyền kỳ có
những điểm khác với truyện cổ tích thần kỳ Truyện cổ tích thần kỳ là một thể loại của văn học dân gian- những sáng tạo mang tính tập thể được lưu truyền bằng miệng do dó nó chỉ nói được đại thể còn truyện truyền kỳ là thể loại của văn học viết, do một cá nhân cụ thể sáng tạo ra và được lưu truyền bằng chữ viết nên nó có khả năng miêu tả một cách chi tiết Do vậy nhân vật trong truyện truyền kì hiện lên một cách đầy đặn, cụ thể, sinh động, sắc nét hơn nhiều Hơn nữa lý tưởng thẩm mỹ của truyện cổ tích là thể hiện khát vọng của người dân lao động về cuộc sống ấm no, hạnh phúc, công bằng còn truyện truyền kỳ thể hiện lý tưởng thẩm mỹ Nho giáo Vì thế, truyện cổ tích thần kỳ miêu tả các nhân vật ảo dị hoàn toàn biệt lập với con người, chỉ có chức năng trợ giúp cho những nhân vật lương thiện thực hiện ước mơ còn trong truyện
truyền kỳ mà cụ thể là ở Liêu Trai chí dị, loại nhân vật này và con người có
quan hệ gần gũi với nhau, cùng chung sống, cùng tồn tại, cùng hít thở một bầu không khí Nhân vật trong truyện truyền kỳ giàu hơi thở cuộc sống trần tục, chịu hệ lụy của cuộc đời trần thế
1.1.3.2.Thực
Thực ở đây là những giá trị mà theo nhãn quan thông thường, người ta
nhận thức được Nó là bức tranh cuộc sống thấm đẫm hơi thở thời đại và nóng hổi tính thời sự được phản ánh vào trong tác phẩm qua đó chuyển tải những
Trang 27tư tưởng, tình cảm của nhà văn Bức tranh hiện thực không chỉ đóng khung trong chốn quan trường, cung vua, phủ chúa mà nó còn mở rộng phạm vi đến muôn mặt của đời thường, liên quan đến những vấn đề, những con người bình
thường
Truyện truyền kỳ phản ánh hiện thực qua cái hư Ở Liêu Trai chí dị cái
hư và cái thực thống nhất, biểu hiện ý thức nghệ thuật sâu sắc của tác giả- ý
thức của người sáng tạo (chứ không phải ý thức của người sưu tầm, kể chuyện) Bồ Tùng Linh sống trong không khí chính trị chuyên chế, với chế độ học phiệt của nhà Thanh Luật của nhà Thanh ghi rõ: “phàm đào kép diễn tạp kịch không được đóng vai các vua chúa, hoàng hậu, cung phi, trung thần tiết liệt Ai vi phạm bị phạt trăm tượng nhưng đóng thần tiên, nghĩa phu, đạo sĩ,
liệt phụ, con hiền dâu thảo thì được” [ Dẫn theo 73, 12] Bởi thế, lẽ tất nhiên
Bồ Tùng Linh phải sáng tạo những sự việc hư hư thực thực như thế mới có thể phản ánh được cuộc sống khốn khổ của dân nghèo và bày tỏ được sự
khinh bỉ, phê phán đối với giai cấp thống trị suy đồi Yếu tố hư giúp nhà văn phản ánh hiện thực cuộc sống có chiều sâu và toàn vẹn hơn Trong Liêu Trai chí dị cái hư và cái thực hòa quyện vào nhau, biến đổi theo tư duy nghệ thuật
của nhà văn Nó xử lý toàn bộ thế giới nghệ thuật của tác phẩm từ những yếu
tố ngôn ngữ, không gian, thời gian đến tình huống truyện và đặc biệt là hệ thống hình tượng nhân vật
1.2 Mối quan hệ giữa hư và thực trong Liêu Trai chí dị
Trong sáng tạo văn học nghệ thuật, tưởng tượng là một yếu tố quan trọng góp phần nâng đỡ cho tác phẩm vươn tới những tầm cao nghệ thuật mới trong mối liên hệ với hiện thực cuộc sống cũng đầy những rắc rối, bộn bề Lênin đã từng nói: “Trong mọi sự khái quát dù là đơn giản nhất, trong một ý niệm sơ đẳng nhất cũng đều có một mẩu nhất định của tưởng tượng” [Dẫn theo 34] Mọi sự tưởng tượng đều có cơ sở hiện thực
Trang 28Quan niệm “vạn vật hữu linh” đã tạo cho con người thời trung đại ý thức về ranh giới không rõ ràng giữa cõi trần và cõi âm, thế giới thực và thế giới ảo dị Quan niệm này đã ảnh hưởng khá sâu đậm trong văn học, nhất là
đối với các tác phẩm thuộc thể loại truyền kỳ như Liêu Trai chí dị Bồ Tùng
Linh đã có quan niệm về hư và thực theo kiểu không ranh giới- nói theo lời
của Khổng Tử trong Luận ngữ “Tế thần như thần tại ” (cúng thần coi như có
thần)
Bồ Tùng Linh viết Liêu Trai chí dị xuất phát từ sự dung hợp của nhiều
nhân tố Theo Khâu Chấn Thanh, Bồ Tùng Linh cho rằng mình sở dĩ viết những nhân vật, những sự kiện kỳ lạ quái đản bởi vì “nhã ái sưu thần” (mình thích sưu tầm chuyện thần), “hỷ nhân đàm quỷ” (khoái người nói chuyện quỷ) Ông tìm kiếm chuyện lạ mà dọn sẵn chè thuốc trước cửa, đón những
ông lão nhà quê, những người dân cày, mời họ kể chuyện Ông “bèn nghe
xong là cầm bút ghi chép, rồi biên tập mà thành” (văn tắc mệnh bút, toại dĩ thành biên), gửi gắm tâm tư tình cảm của mình trong đó Khi đọc truyện này,
một người bạn đồng hương là Vương Sĩ Trinh đã cảm khái viết Đề thi:
Phiên âm:
Cô vọng ngôn chi, cô thính chi, Đậu bằng qua giá, vũ như ti
Liệu ưng yếm tác nhân gian ngữ,
Ái thính thu phần quỷ xướng thi.
Dịch thơ:
Nói láo mà chơi, nghe láo chơi;
Giàn dưa lún phún hạt mưa rơi
Chuyện đời hẳn chán không buồn nhắc,
Thơ thẩn nghe ma đọc mấy lời
(Tản Đà dịch)
Trang 29Bồ Tùng Linh họa lại:
"Chí dị" thư thành, cộng tiếu chi,
Bố bào tiêu sác, mấn như ty
Thập niên phá đắc Hoàng-châu ý, Lãnh vũ, hàn đăng, dạ thoại thi
Dịch thơ:
“Chí dị” làm xong, cất tiếng cười, Tóc mai trắng nõn, áo bào tơi
Mười năm mới hiểu lời Tô tử
Mưa lạnh, đèn tàn, kể láo chơi !
“Cả hai bài thơ khái quát một thái độ, một hướng sáng tác Dù
rằng “nói láo mà chơi, nghe láo chơi” nhưng cả tập, mấy trăm truyện Liêu Trai chí dị lại không phải là như thế, mà lại mang một dụng ý nghiêm túc:
phản ánh cuộc sống thực để răn đời” [80] Liêu Trai chí dị còn kế thừa truyền
thống văn học trước đó, nhất là truyền kỳ đời Đường, thoại bản Tống Nguyên, Theo Lâm Ngữ Đường “Nói rộng ra, triều Tống là thời đại của văn học theo chủ nghĩa duy lý, đời Đường là thời đại của văn học lãng mạn tưởng
tượng” [19, 6] Do vậy, Liêu Trai chí dị vừa giàu tinh thần hiện thực vừa đậm
đà màu sắc lãng mạn đồng thời mang đậm phong cách sáng tạo độc đáo của nhà văn Bồ Tùng Linh tự viết lấy lời đề tựa: “Tài không được như Can Bửu, thường thích việc sưu tầm, tình giống với Hàng Châu ưa nghe nói chuyện quỷ Rồi thì cầm bút nhân chép thành chương; lâu rồi tất thảy người bốn phương lại dùng ống bưu trạm mà gửi đến cho, nhân thế mà sự vật tụ tập được tốt, tích luỹ được nhiều thêm Thế là nói việc góp nhặt dành dụm đã lâu rồi, song trong sách cũng có nhiều sự tích lấy từ truyền kỳ đời Đường rồi
chuyển hóa ra (chẳng hạn truyện: Phượng Dương Sĩ Nhân, Tục hoàng lương),
điều này không tự nói ra, đó là bắt chước người xưa mà giấu đi vậy” [Dẫn
Trang 30theo 66, 272] Liêu Trai chí dị chịu ảnh hưởng rõ rệt của hai văn phong: chí
quái thời Ngụy Tấn và truyền kì Đường Cũng có người như Kỉ Quân (thời Kiền Long) cho đó là nhược điểm Nhưng “thực ra Bồ Tùng Linh đã tiếp thu chỗ mạnh, hạn chế chỗ yếu của chí quái lẫn truyền kì So với chí quái thì miêu
tả tường tận hơn, tỉ mỉ hơn; so với truyền kì thì cô đọng hàm súc hơn” [58, 77] Bồ Tùng Linh còn chịu sự chi phối của bối cảnh và nhãn quan của thời
đại Ông cũng như Ngô Kính Tử- tác giả của Chuyện làng nho đều sống trong
không khí ngột ngạt vì sự khủng bố tư tưởng của chế độ nhà Thanh nhưng hai tác giả có hai lối viết riêng “Ngô Kính Tử không thể công khai phát biểu những lời chỉ trích phê phán tập đoàn thống trị Mãn Thanh, nên ông đành mượn chuyện trở lui về dĩ vãng- Minh Thành Hóa, 1487 Bồ Tùng Linh ra đời giữa lúc mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn dân tộc sâu sắc, sự thống trị tư tưởng quá ư hà khắc, do đó không thể công khai khiêu khiêu chiến với lưỡi dao oan nghiệt của giai cấp thống trị Mãn Thanh, cho nên ông đành mượn chuyện yêu
ma quỷ quái gửi thác lòng cô phẫn, biểu hiện tâm tư tình cảm của bản thân ”
[18 181] Nhờ yếu tố hư mà ước vọng của con người về cái đẹp, cái thiện
luôn được thực hiện một cách thỏa đáng
Cái hư và cái thực ở phương diện nhân vật trong Liêu Trai chí dị được thể hiện ở hai khía cạnh: Cái thực được hư hóa và cái hư được thực hóa.
1.2.1 Cái thực được hư hoá
Cái thực ở Liêu Trai chí dị là toàn bộ muôn mặt cuộc sống thực tế được bộc lộ một các sinh động, toàn vẹn “Trong bộ truyện Liêu Trai chí dị cũng
chứa rất nhiều truyện nói về những khía cạnh khác nhau của người đời thời
đó, hoặc rõ ràng hiển nhiên, hoặc ngầm ý chỉ trích sự cai trị khốc liệt, tàn bạo của triều đình Mãn Thanh đương thời, và đặc biệt tư tưởng dân chủ rất cấp tiến trong vấn đề tình yêu và hôn nhân” [21] Bồ Tùng Linh viết tập truyện
Liêu Trai chí dị trong một khoảng thời gian rất dài cỡ bốn chục năm Ngay
Trang 31trong tập thứ nhất, ông có nhắc đến biến cố Giáp thân (1644) khi ông vừa được 4 tuổi thì Trung Quốc bị biến loạn, nhà Thanh thay thế nhà Minh
“Dùng câu chuyện chồn báo tin Linh quan sắp tẩy uế hạ giới nhân dịp tế lễ
trời đất, ông viết chồn cho hay là biến cố sẽ xẩy ra Và ông chắc chắn đã biết được bao nhiêu chuyện thối nát của chính quyền, của lũ quan chức tham nhũng, ăn tiền vô tội vạ, dân chúng oán than, đói khát nghèo khổ Bồ Tùng Linh đã đỗ tú tài năm 18 tuổi, nhưng rồi sau đó ông thi trượt liên miên cho đến năm ông 71 tuổi mới đậu cử nhân Trong 52 năm trường lận đận trong thi
cử, chắc chắn là ông phải có rất nhiều kinh nghiệm sống, hiểu rõ về nhân tình
thế thái, về con người và thời đại mà ông sống
Trong Liêu Trai chí dị, Bồ Tùng Linh đã phản ánh một cách đầy đủ các
giai cấp, tầng lớp trong xã hội: từ vua, quan đến tầng lớp bình dân, tầng lớp dưới đáy của xã hội (ca nữ, trộm cắp, giết người, cờ bạc,…), thương nhân, nho sĩ, tăng ni phật tử, đạo sĩ, pháp sư,…Nhiều sắc diện cuộc sống hiện thực được bộc lộ rõ nét qua hệ thống hình tượng này Đó là bức tranh hiện thực xã hội dưới chế độ phong kiến nhà Thanh đầy rẫy bất công, mục ruỗng, bẩn thỉu,
vô lý, tàn ác, vô nhân đạo Đó là những khát vọng, mong ước rất bình dị, cụ thể, đậm chất đời thường của con người trần thế: thực hiện lẽ công bằng, sống
ấm no, hạnh phúc, có tình yêu, hôn nhân tự do,… Khi phản ánh mỗi giai tầng, tác giả đều đặt ra những vấn đề xã hội thiết thực Đối với vua, quan là vấn đề
an dân, trị nước nhưng đáng buồn thay vua, quan trong xã hội Liêu Trai chí dị
hầu hết là những kẻ cậy quyền, cậy thế ức hiếp dân lành, độc ác, tham ô, tranh giành quyền lực với chế độ chính trị mục nát, hà khắc Đối với tầng lớp bình dân là mong ước được sống ấm no, hạnh phúc, công bằng nhưng luôn bị áp bức, chà đạp, đè nén, hãm hại Điều này được thể hiện rất rõ trong các thiên
truyện: Xúc chức, Mỹ nhân cứu mạng, Mộng lang, Nối giấc kê vàng, Kiều nữ, Hướng Cảo,…“Qua cái nhìn của Bồ Tùng Linh, thế giới hiện ra như một bức
Trang 32tranh muôn màu sắc, hiện thực cuộc sống được trình hiện trước mắt người đọc vừa bi đát vừa hài hước, vừa thống thiết ly kỳ vừa đau thương ai oán, vừa khao khát hy vọng vừa thất vọng tràn trề ” [77, 82] Mỗi thiên truyện đều chứa đựng dung lượng cuộc sống rộng lớn Người đọc tìm thấy trong tác phẩm nhiều kiến thức về mọi mặt cuộc sống từ đạo đức, pháp luật, chính trị,
tôn giáo, văn hóa, giáo dục, ái tình,…Quả là đúng đắn khi đánh giá Liêu Trai chí dị là bộ “bách khoa toàn thư” về cuộc sống, là “pho sử sống” của thời đại! Toàn bộ cái thực này được hư hóa một cách nhuần nhuyễn, nghĩa là được hư
cấu tưởng tượng một cách tài tình tạo nên sức hấp dẫn lạ kỳ cho tác phẩm
Tác giả biến câu chuyện hiện thực thông thường thành câu chuyện ly
kì, nhân vật vốn là những con người bình thường được “kì lạ hóa” Một số
truyện trong phần đầu của tập truyện như Hoàng Anh, Cát Cân, Chương A Đoan, Thanh Nga, Trúc Thanh đã mở đầu cho cái li kì hấp dẫn của mỗi thiên
truyện và toàn tập truyện Thế giới kỳ ảo, “dường có dường không là đẹp” (dĩ nhược hữu nhược vụ vi mĩ) Tác giả tạo nên những biến hóa lạ thường: người
biến thành chim (Trúc Thanh), thành tiên (Thanh Nga), thành hổ (Hướng Cảo), thành dế (Xúc chức) …, ngược lại ong (Liên Hoa công chúa), chim (Cáp dị),
ma (Nhiếp Tiểu Thiện, Liên Toả, Tiểu Tạ, ), hồ ( Liên Hương, Hồ thiếp, Hồ mộng, Hồ hài, Tân thập tứ nương, ), hoa (Hoàng Anh, Cát Cân) biến hoá thành người Do vậy, “Trong Liêu Trai độc giả như lạc vào thế giới của cổ
tích, thần thoại Những môtíp “biến hình”, “hóa thân ”, “đội lốt ”, “phục sinh
”, “đầu thai ”, đầy rẫy trong tác phẩm ” [76, 77] Tác giả xử lý tình huống truyện khéo léo, tạo nên những cuộc “kì ngộ”, “kì duyên”: hồ với người, ma với người, người với tiên,…Tất cả các nhân vật này đều có khả năng kì lạ với
những hành trạng, nói năng, ứng xử khác thường góp phần hư hóa câu chuyện
có thực
Trang 33Trong truyện Xúc chức, lệ cung tiến dế đã làm bao gia đình khốn đốn
và cũng có người nhờ tìm ra dế mà được “thành danh” là điều có thực trong
lịch sử Truyện đã phản ánh một sự thật từng được ghi nhận trong sử sách ở
ngay câu mở đầu tác phẩm: “Thời Tuyên Đức trong cung rất chuộng trò chơi chọi dế, hằng năm trưng thu dế trong dân” Một thời trong dân gian lưu truyền câu đồng dao: “Con dế kêu ran, Tuyên Đức hoàng đế ham” Trong thời bấy giờ, vua công khai ra sắc lệnh cho tri phủ Tô Châu phải một nghìn con, đúng
kỳ hạn, đúng “phẩm cấp” Quan thì “dùng hình phạt nghiêm khắc đốc thúc bà con” [40, 366- 367] còn dân thì “từ người khỏe mạnh cho đến con trẻ, thường quần tụ trong đám cỏ, nghiêng tai đi đi lại lại, bộ mặt khó đăm đăm chỉ sợ mất dế” [40, 366- 367] Trong truyện tác giả đã dẫn dắt cụ thể từ việc “Quan tỉnh đòi cung tiến thường xuyên Quan huyện đòi lý trưởng phải cung cấp Bọn lý dịch thì sách nhiễu nhân dân Mỗi đầu dế phải nộp đủ làm khuynh gia bại sản mấy nhà” Cuối cùng mọi hậu quả gánh nặng đều đè lên cuộc sống người dân
vô tội Thành Danh là một nạn nhân tiêu biểu Anh ta vốn là đồng sinh bị ép làm một chân chức dịch trong làng “mới chưa đầy một năm mà gia sản nhỏ mọn của anh ta cơ hồ đã kiệt, gặp vụ nộp thuế buồn lo đến nỗi chỉ muốn chết
đi cho rảnh” Con người ta chỉ có đi vào con đường cùng, vào ngõ cụt mới tìm đến cách kết thúc cuộc đời Thành Danh lúc này cũng đang bị dồn vào sự bế tắc Không chỉ bị vò xé về tinh thần, anh ta còn bị tra tấn về thể xác: “phải chịu đòn trăm gậy, đôi mông máu be bét” Thảm cảnh gia đình Thành Danh, tâm trạng của anh ta khi không tìm ra dế, khi dế chết, con mất, rơi vào bế tắc:
từ “lo buồn quá chỉ muốn chết” đến “trăn trở”, “lạnh toát xương sống” rồi
“như đứt hơi tắc họng”, “nằm dài”, “lòng buồn rười rượi”, Đúng là những
chi tiết nghệ thuật giàu sức gợi “Chỉ mấy chữ cô liêu như vậy, mà có cảm giác như hàng chục, hàng trăm chữ ở đầu ngọn bút, khiến người đọc liên tưởng dồn dập” [Dẫn theo 68, 281] Nhờ việc sử dụng các chi tiết hoang
Trang 34đường kỳ ảo mà sau mỗi bế tắc đến với gia đình anh câu chuyện được tiến triển Đó là chi tiết: cô đồng gù có tài bói toán cầu thần xuất hiện đã trao cho
vợ anh mảnh giấy sơ đồ chỉ dẫn, nhờ vậy anh ta đã tìm được con dế to khỏe; chi tiết sau khi con trai tự vẫn “nửa đêm con sống lại” nhưng “vẫn trơ ra như khúc gỗ, bằn bặt ngủ lịm” sau đó hồn đứa bé biến thành con dế “đầu vuông,
đùi dài, dáng ve sầu, cánh hoa mai” biết nhảy tọt vào tay áo, chọi khỏe thắng
các con dế khác và thắng cả gà, biết nhảy múa theo các tiết điệu, biết làm đẹp lòng vua quan Nhờ có dế mà anh chức dịch hiền lành, khốn khổ được vinh
hiển “vượt qua các bậc quyền quý” Với những chi tiết hiện thực được hư hóa
truyện đã vẽ nên bộ mặt vua quan phong kiến nhà Thanh tàn nhẫn, độc ác, vô nhân đạo, đẩy người dân rơi vào thảm cảnh sống dở, chết dở, biến người dân thành thứ đồ chơi mua vui đến mức họ phải đánh đổi bằng cả sinh mệnh, dòng dõi…
Chốn trường thi nhốn nháo và chế độ khoa cử thối nát là một mảng đề tài hiện thực sống động mà Bồ Tùng Linh muốn hê tung lên với tất cả sự căm phẫn qua nhiều hình tượng nhân vật nho sĩ “thượng vàng hạ cám” và quan chấm thi “mắt mù, đầu quáng” Chuyện lạ lùng, phi lý cứ nghiễm nhiên trở thành chuyện tự nhiên, tất yếu! Bản thân Bồ Tùng Linh từng chịu mọi nỗi ê chề và sự dày vò của chế độ khoa cử, nên ông hiểu cái ấm ức, hậm hực sự bất bình căm phẫn của cử tử Vì ông là người hiểu rất sâu sắc bản chất giả dối, hủ lậu của chế độ nhà Thanh thời đó cho nên đã đánh thì đánh rất đau Nói như
Lỗ Tấn trong bài Viết sau tập nấm mồ: “Vì họ từ trong thành lũy cũ ra, cho
nên họ biết tình hình khá rõ ràng, khi đã trở giáo lại đâm, dễ khiến kẻ thù toi mạng” Ông đã dùng ngòi bút của mình để phê phán một cách toàn diện sự ruỗng nát suy đồi của chế độ khoa cử đặc biệt là công kích lũ quan chấm thi
Trong truyện Tư Văn lang có những kẻ dốt nát “văn ngửi không được” vẫn
đậu cao như: Dư Hàng còn người giỏi văn thì thi rớt như: Vương Bình Tử Đó
Trang 35là sự thật đáng buồn, đáng kinh tởm trong xã hội nhưng chi tiết có nhân vật ông sư mù có thể đốt văn người khác ngửi bằng mũi mà đánh giá được hay dở
là chi tiết phi hiện thực mang âm hưởng mỉa mai, chế giễu khoa cử sâu cay
Trong truyện Hướng Cảo, Thương Tam Quan, tác giả đã phản ánh thực
trạng xã hội bất công, quan lại tham của đút lót bẻ cong công lý: kẻ giết người nhởn nhơ; người bị giết oan không được minh oan Tất cả bộ mặt hiện thực đầy trớ trêu, đau lòng này xuất hiện từ tình cảm thâm trầm thương thời mẫn
thế của tác giả đối với xã hội đương thời Ở Hướng Cảo nàng kỹ nữ Ba Tư
muốn hoàn lương thì trở thành gái góa, Thạnh cưới người con gái mình yêu thì bị đánh đến chết, người em gái đau đớn đưa đơn kiện lên quan thì quan làm ngơ vì đã nhạn tiền hối lộ- đó là những sự thật đau lòng “Cực chẳng đã”, Cảo phải tự tìm cách trả thù cho anh trai Quyết tâm trả thù của nàng ngùn ngụt sự căm phẫn dù mưa lớn, gió táp bốn bề dữ dội, thân thể đau đớn, tê liệt, rét run nàng vẫn không từ Quyết tâm đó đã cảm hóa được đạo sĩ và nhờ đạo
sĩ nàng biến thành hổ, trả được mối thù Chi tiết lạ lùng này làm người đọc hả
lòng, hả dạ biết bao! Thương Tam Quan là câu chuyện về nàng Tam Quan
phải hy sinh hạnh phúc riêng tư và tuổi xuân, đem thân gái dặm trường trả thù
cho cha vì cha chết oan không được giải Cái thực này được hư hóa với chi
tiết sau khi treo cổ tự tử, nàng chết rồi mà “nét mặt vẫn đẹp như ngọc, vỗ về thì thân thể tay chân nóng ấm lại” và còn trừng trị cả hai anh chàng máu dê
“dở trò khả ố” Với chi tiết ấy, phải chăng là ngòi bút tác giả nhằm thần thánh
hóa cô gái Tam Quan có tấm lòng thơm thảo? Những chi tiết được hư hóa này
không chỉ làm cho hình tượng nhân vật thêm sinh động, hấp dẫn mà còn làm câu chuyện trở nên li kì, biến hóa khôn lường vừa tô đậm thêm giá trị hiện thực, tăng thêm sức mạnh tố cáo và đồng thời góp phần làm nên vẻ đẹp nhân văn cho tác phẩm Quả là “việc lạ có thể khai mở lòng người ta, khiến người
Trang 36ta phấn khởi tinh thần” (kỳ vật túc thác nhân hung ức, khởi nhân tinh thần- chữ dùng của Thang Hiển Tổ tập).
Hơn nữa, tác giả còn đặt nhân vật - vốn là những con người bình
thường trong không gian hư ảo, thời gian hư ảo
Về không gian nghệ thuật, tác giả đặt nhân vật vào trong không gian hư
ảo Có không gian: thiên đình (truyện Bạch Vu Ngọc, Lôi Tào, ), long cung (trong truyện La Sát hải thị, Trúc Thanh, ), hang sâu (Kiều Na, Tân thập tứ nương, Phiên Phiên, Dạ Xoa quốc, ), âm phủ (Chương A Đoan, Liên Thành, Cầm Sắt, Lý Bá Ngôn, ) Đó là không gian nhằm mở rộng phạm vi hoạt động
cho nhân vật “Khung cảnh mê ảo và nhân vật kỳ ảo đã tương hỗ, bổ sung lẫn nhau, do đó làm phát sinh các tình tiết ly kỳ, làm thành hiệu quả nghệ thuật kỳ
diệu” [77, 85] Truyện Mộng lang đã phản ánh một sự thật về những kẻ quan
lại quyền cao chức trọng nhưng tàn ác, tham lam, lòng lang dạ sói, ỷ thế làm xằng, coi “danh vị quý báu của triều đình như món hàng đem bán lấy tiền làm giàu, tha hồ so đo gầy béo” Đặc biệt hình tượng nhân vật Giáp chỉ biết ăn của đút lót, mua quan bán tước với quan niệm: “Quyền cho thăng hay truất là ở các đấng bậc ttreen chứ đâu phải ở dân trăm họ Bề trên hài lòng thì tao nhất định là vị quan tốt Thương yêu trăm họ thì làm sao được các quan trên vui lòng” Toàn bộ câu chuyện hướng vào triết lý “ác giả, ác báo” qua các chi tiết
hư cấu Đó là chi tiết giấc mộng thấy sói của người cha và kết cục bi thảm của Giáp: bị chặt đầu sau được Tể quan cho gắn đầu lại nhờ phúc ấm của người cha nhưng đầu bị gắn lệch “bả vai đỡ lấy hàm”, “mắt có thể tự nhìn thấy sau
lưng và không ai coi y là người nữa” Trong truyện Trúc Thanh, chi tiết Ngư
Dung nhà nghèo, thi trượt, không một đồng dính túi phải đi ăn xin, “bi phẫn
mà khấn vái trước bàn thờ thần”, bị bất tỉnh nhờ mọi người giúp đỡ mà tỉnh dậy, về được quê hương là những chi tiết giàu màu sắc hiện thực; tuy nhiên nhiều chi tiết kỳ lạ kể từ khi chàng nằm mộng được yết kiến Ngô Vương,
Trang 37cuộc đời chàng thay đổi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác một cách li kỳ là hư hóa: biến thành quạ kết vợ chồng với Trúc Thanh, sau ba năm về quê trở lại
nơi miếu cũ thì gặp người xưa giờ đã là thần nữ sông Hán Họ ăn ở và có với
nhau ba người con ở dưới thủy cung, Truyện đã thể hiện mong ước tình yêu đích thực, hôn nhân tự do vượt qua muôn ngàn khó khăn, cách trở, gieo vào
lòng người niềm tin tưởng, lạc quan về cuộc sống Trong nhiều chuyện khác
nữa như: Củng tiên, Trần Vân Thê, Liên Hoa công chúa, tác giả dùng nhiều
chi tiết hư ảo để thể hiện mong ước một tình yêu trong trắng, thủy chung “Vô luận người yêu của họ là hồ ly, ma quỷ, hay yêu tinh của hoa, của cá, họ vẫn tôn trọng nhau với quan niệm bình đẳng, đúng mực” [18, 188] Đó là quan niệm tình yêu hôn nhân mới mẻ, tiến bộ, đáng trân trọng của văn sĩ họ Bồ
Về thời gian, tác giả tạo nên thời gian hư ảo- thời gian “mở rộng và vận động tự do với các duyên kiếp tiếp nối đổi thay để răn đe, thưởng phạt các hành vi của con người Những con người với các “kiếp” khác nhau, sống trong các thế giới khác nhau đều ít nhiều liên quan với quan niệm triết học của Phật giáo, Đạo giáo và cả phần mê tín trong dân gian, nhưng tất cả đều được Bồ Tùng Linh sử dụng với tư cách là các phương tiện nghệ thuật để thể hiện quan niệm và tư tưởng của mình” [22, 54] Tiêu biểu như trong các
truyện: Liên Thành, Chương A Đoan, Lâm Tứ Nương, Lôi Tào,
Ngay đến cả tâm lý từng loại nhân vật cũng được tác giả hư hóa tạo nên màu sắc hư hư thực thực cho câu chuyện Ví dụ truyện: Phượng Dương Sĩ Nhân, tác giả miêu tả tinh tế tâm lý người làm vợ khi xa chồng thì nhớ đến da
diết khôn nguôi: “Một đêm chị ta nằm nghỉ, bóng trăng lung linh ve vuốt tấm rèm the cửa sổ, càng làm thổn thức thêm nỗi nhớ nhung”, khi chồng âu yếm người phụ nữ khác thì “vừa buồn, vừa giận”, ghen tuông, đau khổ,…Tâm lý rất thực ấy càng được tô đậm qua chi tiết hư cấu hoang đường: hai vợ chồng
và người em trai ở cách xa nhau cùng nằm mộng gặp người đẹp trong đêm
Trang 38khuya rồi dẫn đến sự xô xát “máu chảy, đầu rơi” Trong truyện Vương Tử An, tác giả tỏ ra hiểu rõ tâm lý của biết bao nho sĩ “trầy trật hoài trong sự lều
chõng” ao ước mong được đỗ đạt làm quan đến điên dại qua giấc mộng trong cơn say bằng những lời nói và hành động dị thường Gần đến ngày treo bảng xướng danh, anh ta phấp phỏng uống một trận rượu thật say Bỗng trong giấc ngủ chập chờn thấy có người phi ngựa đến báo đỗ tiến sĩ được vào điện thí Anh ta liền nghĩ không thể không ra oai với xóm làng, bèn lớn tiếng gọi lí trưởng, gọi mãi chẳng thấy ai, bà vợ không chịu nổi bèn lên tiếng: “Trong nhà chỉ có bà lão giúp việc, ngày thổi cơm, đêm đốt lò cho ông, làm gì có trưởng ban, trưởng biếc gì? Thôi, đợi đến khi ông rạc xương ra” Anh ta nghe vậy mới dần dần tỉnh ra” Vậy là ở đây, với dùng “ngòi bút biến hoá ảo diệu phi thường” tác giả “ký thác cái u tình phẫn uất nghìn đời cộng với nỗi bi phẫn
cá nhân dồn nén nên đã thác vào ảo mộng để gửi gắm” [77, 82] Truyện Liên Thành đã diễn tả sâu sắc diễn biến tâm lý tình yêu chân thực của đôi trai tài gái sắc Kiều Sinh - Liên Thành qua những chi tiết hư ảo: Kiều Sinh cắt thịt ở
ngực mình để trộn vào thuốc chữa bệnh cho Liên Thành, hai người được hồi sinh nhờ Cố sinh giúp đỡ, Tất cả những chi tiết đó đã làm cho thiên tình sử
của họ thêm lãng mạn, lung linh, huyền diệu Quả thực yếu tố hư đã nâng
cánh tưởng tượng không chỉ của tác giả trong quá trình sáng tạo thế giới nghệ thuật mà còn cả người đọc trong quá trình tiếp nhận tác phẩm
“Truyền kỳ là truyền những tình tiết khác lạ vậy” (Truyền kỳ giả, truyền kỳ sự chi kỳ yên giả dã) nhưng cũng có “những tình tiết không ly kỳ
mà vẫn kỳ” (bất kỳ nhi kỳ) [Dẫn theo 68, 137- 139] Cái điều “không ly kỳ
mà vẫn ly kỳ” chính là từ trong những sự kiện bình thường khơi gợi được những chủ đề khác thường rung động lòng người, viết nên những hình tượng nhân vật có sức ám ảnh lớn đối với người đọc Chẳng hạn như trong truyện
Vụ án tình si, ông quan tri phủ đã xử án thật kỳ tài Trong lúc trắng đen lẫn
Trang 39lộn, mọi sự việc đều rất rắc rối, ông đã không xử án một cách bừa bãi như mấy vị quan trước mà rất cẩn trọng Ông tra hỏi cặn kẽ mọi việc, mọi nhân vật liên quan từ chàng Ngạc đến cô gái Yên Chi đến Vương thị, Túc Giới và Mao Đại Ông bắt mọi đối tượng tình nghi giết bố của Yên Chi ra miếu Thành Hoàng, quỳ phục trước hương án Mặc dù ông đã giả vờ nói có thần nhân báo mộng cho ông biết về kẻ sát nhân nhưng vẫn không có kẻ nào nhận tội Cuối cùng ông đã dùng trí để xử án Ông sai người xoa than lên vách rồi cho người lấy chăn che kín các cửa đền, không để cho ánh sáng lọt vào; trật trần lưng bọn chúng ra dẫn vào trong buồng tối, đưa một chậu nước vào bắt đứa nào cũng phải rửa tay rồi sắp hàng đứng dưới bức vách Nước rửa tay chính là nước muội đen Xong xuôi ông mới ra lệnh bọn chúng quay mặt vào vách, cấm không được động đậy để thần nhân viết vào lưng kẻ có tội Kẻ giết người
sợ thần viết vào lưng, cho nên trong bóng tối đã quay lại tựa vào vách, đến khi sắp ra lại lấy tay che lưng nên có vệt đen Vì vậy kẻ sát nhân cứng đầu cuối cùng đã bị lộ tẩy Quan tri phủ đúng là anh minh, tài giỏi, đức độ xứng đáng là vị “phụ mẫu” của muôn dân!
Lỗ Tấn đã ca ngợi: “Chuyện trong sách kể chủ yếu là chuyện thần tiên, chuyện ma cáo, chuyện yêu tinh, quỷ li quỷ vị ( ) Nói chuyện yêu quái mà thường thấy đầy đủ tình người, thông suốt việc đời, làm cho người ta thấy gần
gũi được, không phải đáng sợ lắm” [66, 444] Quả thực trước kia đã có tiểu thuyết “chí dị”, nhưng đến Liêu Trai chí dị, Bồ Tùng Linh đem đến cho thể
loại này một nội dung mới đó là ý thức châm biếm phê phán hiện thực xã hội
Việc xâu chuỗi các truyện ngắn thành một chỉnh thể nghệ thuật toàn
vẹn là một đặc điểm đặc biệt của bộ Liêu Trai chí dị Tất cả chỉnh thể nghệ
thuật này bị chi phối bởi điểm nhìn kỳ ảo hoang đường của nhà văn Thường thì trong một truyện ngắn, yếu tố kỳ ảo xuất hiện như một tình tiết với mục đích nối kết các sự kiện đã xảy ra trong truyện Mặc dù các yếu tố kỳ ảo
Trang 40hoang đường, mang tính chất siêu nhiên xuất hiện theo trình tự logic của câu chuyện không xa lạ đối với văn học Trung Quốc trước đó nhưng đối với Bồ Tùng Linh đã sử dụng một cách có ý thức và sáng tạo Mỗi truyện, yếu tố kỳ
ảo xuất hiện không giống nhau khiến cho tác phẩm thêm muôn phần hấp dẫn
Ý nghĩa hiện thực của Liêu Trai chí dị do đó nhiều khi trở nên sắc nét và có
tác động mạnh mẽ lạ thường
Tóm lại, “đây thực ra là đặc điểm tư duy nghệ thuật của Liêu Trai chí dị
đồng thời cũng là mô típ nghệ thuật dân gian giúp người đọc có thể hoá thân trong chốc lát để thoát khỏi hiện thực đen tối Điều ấy cho thấy dù bị áp bức tàn bạo nhưng trong lòng nhân dân luôn có một niềm tin vào chính nghĩa và công lí” [22, 60]
1.2.2 Cái hư được thực hoá
Cái hư trong Liêu Trai chí dị cũng được tác giả thực hóa một cách tài tình Vũ Thanh đã từng nhận xét: “Bồ Tùng Linh đã sử dụng cái kỳ siêu đến
mức nó như chính hình ảnh của hiện thực sống động” [70 , 25]
Thế giới kỳ ảo mang dáng dấp con người với những buồn vui, lo toan, khát vọng cháy bỏng Điều này trước hết được thể hiện qua hệ thống hình
tượng nhân vật ảo dị Nhân vật ma trong truyện: Nhiếp Tiểu Thiện, Liên Tỏa, Liên Hương, Hoạn Nương, Tiểu Tạ,…; nhân vật hồ tinh, chồn tinh trong truyện: Kiều Na, Hồ hài, Tiểu Mai, Hồ mộng, Báo ứng trước mắt, Hồ thiếp,…
Nhân vật là tinh loài vật ( hoa, mộc, chuột, chim, ong, ngựa, rồng,…) trong truyện: Hoàng Anh, Cát Cân, Thủy mảng thảo, Giang Thành, A Anh, Cáp dị, Liên Hoa công chúa,… hầu hết đều là những người đẹp có tài năng kì lạ, có
phẩm hạnh cao quý khát khao được làm người sống ở trần gian để được sống,
được yêu thương; Nhân vật thần tiên trong truyện Ba ông tiên, Thanh Nga, Lôi Tào, Phấn Điệp, Vân Thúy Tiên…là những nhân vật có phép thuật kỳ lạ,
biến hóa khôn lường nhưng luôn gần gũi, tham gia vào đời sống hiện thực