1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhân vật con người nhỏ bé trong văn xuôi a puskin

85 767 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xu Hướng Tiểu Thuyết Hóa Trong Phóng Sự Vũ Trọng Phụng
Tác giả Lê Thị Bình
Người hướng dẫn PGS.TS. Đinh Trí Dũng
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý Luận Văn Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 220,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì thế tìm hiểu xu ớng tiểu thuyết hoá trong phóng sự Vũ trọng Phụng là một cách để hiểu rõ hơn cả hai thể loại trong sáng tác của ông.. Việc tìm hiểu xu hớng tiểu thuyết trong các phóng

Trang 1

Trờng đại học vinh

lê thị bình

xu hớng tiểu thuyết hóa trong phóng sự

vũ trọng phụng

Luận văn thạc sĩ ngữ văn

Trang 2

Vinh - 2007

Trang 3

Trờng đại học vinh

Trang 4

Mở đầu 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tợng, phạm vi nghiên cứu 6

4 Nhiệm vụ và phơng pháp nghiên cứu 6

5 Cấu trúc luận văn 7

Chơng 1 Phóng sự Vũ Trọng Phụng trong bức tranh chung của phóng sự văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945 8

1.1 Một số vấn đề lý luận về thể loại 8

1.2 Bức tranh chung của phóng sự trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945 16

1.3 Nhìn chung về phóng sự Vũ Trọng Phụng 24

Chơng 2 Xu hớng tiểu thuyết hóa trong phóng sự Vũ Trọng Phụng nhìn từ góc độ nhân vật và tổ chức cốt truyện 27

2.1 Xu hớng tiểu thuyết hóa trong phóng sự Vũ Trọng Phụng nhìn từ góc độ nhân vật 27

2.2 Xu hớng tiểu thuyết hóa trong phóng sự Vũ Trọng Phụng nhìn từ góc độ tổ chức cốt truyện 48

Chơng 3 Xu hớng tiểu thuyết hóa trong phóng sự Vũ Trọng Phụng nhìn từ góc độ tổ chức trần thuật 53

3.1 Tổ chức trần thuật trong tiểu thuyết 53

3.2 Tổ chức trần thuật trong phóng sự 55

3.3 Xu hớng tiểu thuyết hóa về tổ chức trần thuật ở phóng sự Vũ Trọng Phụng 55

3.4 ý nghĩa của xu hớng tiểu thuyết hóa trong phóng sự Vũ Trọng Phụng 68

Kết luận 74

Trang 5

Tµi liÖu tham kh¶o 77

Trang 6

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Vũ Trọng Phụng là một nhà văn có vị trí quan trọng trong văn học Việt Nam nói chung và văn học hiện thực phê phán nói riêng Chỉ với thời gian cha đầy mời năm cầm bút làm báo và viết văn, bằng tài năng và sức lao động nghệ thuật phi thờng của mình, Vũ Trọng Phụng đã vơn tới những đỉnh cao rực

rỡ cả trong sự nghiệp văn chơng và báo chí Tám tiểu thuyết và bảy thiên phóng

sự xuất sắc đã đa ông lên vị trí một “tiểu thuyết gia trác tuyệt” trên địa hạt văn chơng và “ông vua phóng sự đất Bắc” trong làng báo Điều đáng nói ở đây là phóng sự của ông có xu hớng tiểu thuyết hoá, còn các tiểu thuyết lại luôn có sự

đan xen hoà quyện một số đặc điểm của thể loại phóng sự Vì thế tìm hiểu xu ớng tiểu thuyết hoá trong phóng sự Vũ trọng Phụng là một cách để hiểu rõ hơn cả hai thể loại trong sáng tác của ông

h-1.2 Trong các thể loại báo chí, phóng sự vốn đợc xem là một thể loại nhạy bén linh hoạt, luôn bám sát dòng chảy hiện thực, luôn nhạy cảm trớc những vấn đề thời sự xã hội Là một nhà báo xuất sắc, Vũ Trọng Phụng đã tìm thấy mảnh đất để phát huy hết tài năng của mình trong nghề báo đó là phóng sự Các phóng sự của ông chứa đựng một hiện thực phong phú với dung lợng chất sống đầy ắp, sống động, mang sức khái quát cao và có giá trị tố cáo sâu sắc, mạnh mẽ Chính vì thế so với Tam Lang Vũ Đình Chí, Tiêu Liêu Vũ Bằng, Vũ Trọng Phụng là ngời đến sau, là đàn em nhng ông đã bỏ xa Tam Lang, Tiêu Liêu bởi tài năng đặc biệt sắc sảo, bản lĩnh nghệ thuật già dặn trong việc sử dụng ngôn từ hình ảnh, mà qua những ngôn từ ấy, hình ảnh ấy mặt trái của hiện thực xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX đã bị phơi trần với đầy rẫy những tệ nạn xấu xa Và những thiên phóng sự đó nh những chàng lính ngự lâm

cừ khôi, bảo vệ vững chắc cho cái ngai vàng của “ông vua phóng sự đất Bắc mà cho đến nay cha có ngời nào kế vị” (Nguyễn Hoài Thanh) Tìm hiểu xu hớng

Trang 7

tiểu thuyết hoá trong phóng sự Vũ Trọng Phụng là tìm hiểu phong cách nghệ thuật phóng sự của ngời có công lớn đa thể loại này phát triển thành thục.

1.3 Hiện đại hoá văn học là một quá trình chuyển hoá nền văn học dân tộc từ phạm trù văn học trung đại sang phạm trù văn học hiện đại Với tài năng

và cá tính sáng tạo riêng, Vũ Trọng Phụng đã tạo nên cái mới, cái hiện đại, góp phần quan trọng vào quá trình hiện đại hoá nền văn học dân tộc những năm 30 của thế kỷ vừa qua Đó là khả năng vận dụng để tạo nên sự giao thoa các thể loại một cách linh hoạt, uyển chuyển Bằng chứng cho điều này là sự thể hiện chất phóng sự trong tiểu thuyết và những yếu tố tiểu thuyết trong phóng sự của

ông Việc tìm hiểu xu hớng tiểu thuyết trong các phóng sự của Vũ Trọng Phụng

là một cách để khẳng định bản sắc hiện đại trong tác phẩm của một nhà văn có

vị trí quan trọng trong nền văn học dân tộc, vị trí mà không phải ngời cầm bút chuyên nghiệp nào cũng có thể có đợc

1.4 Thêm một lý do nữa là trong nhà trờng phổ thông, học sinh chỉ đợc tiếp nhận Vũ Trọng Phụng qua thể loại tiểu thuyết, còn các tác phẩm phóng sự thì rất ít đợc tiếp cận Việc tìm hiểu thêm về phóng sự của ông là một cách để

có cái nhìn toàn diện hơn về tài năng văn học lớn của trào lu hiện thực phê phán nói riêng và văn học Việt Nam nói chung, góp phần vào quá trình dạy và học văn một cách có hiệu quả hơn

Với những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài Xu hớng tiểu thuyết hoá trong phóng sự Vũ Trọng Phụng” để làm luận văn Với đề tài này, hy vọng sẽ

góp thêm một tiếng nói nhằm khẳng định tài năng và vị trí của Vũ Trọng Phụng trong nền văn học dân tộc

2 Lịch sử vấn đề

Vũ Trọng Phụng đợc xem là một hiện tợng văn học độc đáo và phức tạp trong nền văn học Việt Nam Ngay từ những tác phẩm đầu tiên ông đã đợc giới nghiên cứu phê bình quan tâm triệt để Ngời ta tranh luận về ông ngay khi ông còn sống và ngời ta càng viết nhiều về ông sau khi ông qua đời Theo Nguyễn

Trang 8

Quang Trung trong sách Tiếng cời Vũ Trọng Phụng xuất bản năm 2002 đã

thống kê có hơn 200 bài tiểu luận văn học cùng nhiều cuốn sách, chuyên đề, luận văn, luận án nhng chủ yếu tập trung vào tiểu thuyết, còn về phóng sự thì những bài nghiên cứu cha nhiều Do phạm vi của luận văn, chúng tôi không có

điều kiện trình bày tất cả các công trình mà chỉ cố gắng điểm lại một số những bài viết nổi bật có những đóng góp nhất định trên hành trình tìm hiểu thể loại sở trờng của nhà văn này

Trong Vũ Trọng Phụng - tác giả và tác phẩm, Nguyễn Đăng Mạnh có

bài Vũ Trọng Phụng, ông vua phóng sự ở bài viết này, ông đã đi vào tìm hiểu

thế mạnh chung của phóng sự Vũ Trọng Phụng Ông viết: “Vũ Trọng Phụng ờng nh sinh ra để viết phóng sự và viết tiểu thuyết (phóng sự của Vũ Trọng Phụng có yếu tố tiểu thuyết và tiểu thuyết của ông thờng có chất phóng sự), một óc ký hoạ tài tình, có thể tóm tắt đợc rất nhanh những mẫu ngời khác nhau bằng vài nét phác thảo bạo tay Nhiều chơng viết thật đầy tài năng, nh chiếu lên trớc mắt ngời đọc những đoạn phim vừa có giá trị t liệu, vừa có giá trị nghệ thuật, đặc biệt là những đoạn đối thoại đầy kịch tính bằng ngôn ngữ

d-và giọng điệu “nghề nghiệp” [29,320] Trong lời giới thiệu Tuyển tập Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Đăng Mạnh cũng đã có những đánh giá chân xác về

phong cách, giá trị văn chơng và quá trình chuyển biến t tởng của tác giả đồng thời đã bày tỏ sự nâng niu với những thiên phóng sự của Thiên H bởi chúng

“có giá trị phê phán mạnh mẽ”, “góc cạnh, sắc sảo rất Vũ Trọng Phụng” [28,42]

Nh vậy, Nguyễn Đăng Mạnh đã khẳng định tài năng viết phóng sự của nhà văn họ Vũ và cho rằng trong phóng sự của Vũ Trọng Phụng có yếu tố tiểu thuyết nhng ông đã không đi vào phân tích để chỉ ra những biểu hiện của nó

Cũng trong Vũ Trọng Phụng- tác giả và tác phẩm, Nguyễn Hoài Thanh

có bài Nghệ thuật tiếp cận hiện thực trong phóng sự của Vũ Trọng Phụng

Trong bài viết này Hoài Thanh đã phân tích để cho thấy đợc trong phóng sự của

Trang 9

mình, Vũ Trọng Phụng đã tiếp cận hiện thực ở ba góc độ là góc độ cơ cấu tổ chức, góc độ nghề nghiệp, “kỹ nghệ” và ở những điểm nhìn khác nhau

Gặp gỡ với ý kiến này, Lê Dục Tú khi khái quát một số nét đặc sắc về nghệ thuật viết phóng sự trong bài viết Ký Việt Nam giai đoạn 1900-1945 đã

chỉ ra cách tiếp cận hiện thực đa dạng trong phóng sự Vũ Trọng Phụng: “Lúc nhìn từ phía bên trong (Lục sì, Kỹ nghệ lấy Tây), lúc thì nhìn từ phía sau - từ phía “cổng hậu” (Cơm thầy cơm cô), lúc thì nhìn trên diện rộng (Một huyện

ăn tết) ” [50,391]

Cả Nguyễn Hoài Thanh và Lê Dục Tú đều nhất trí quan điểm là chính sự sáng tạo trong phơng thức tiếp cận hiện thực của Vũ Trọng Phụng đã làm cho vấn đề nổi bật và sâu sắc hơn

Bên cạnh bài viết này, Hoài Thanh còn có bài Chất khẩu ngữ trong lời văn phóng sự Vũ Trọng Phụng Ông cho rằng nhà văn họ Vũ viết phóng sự

bằng thứ ngôn ngữ của đời sống, trong đó chất khẩu ngữ nổi lên nh một yếu tố cơ bản của lời văn nghệ thuật “Có thể nói khẩu ngữ tự nhiên dày đặc làm cho lời văn của ông vang động những âm thanh nh chính cuộc đời và có sức lôi cuốn mạnh mẽ” [50,300]

Cùng nghiên cứu về ngôn ngữ, Nguyễn Văn Phợng qua luận án Ngôn từ nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng trong phóng sự và tiểu thuyết không những đi

vào khảo sát nhịp điệu câu văn mà còn chỉ ra và gọi tên đợc những lớp ngôn từ

đặc biệt trong phóng sự của nhà văn này: ngôn từ giễu nhại, phản lãng mạn; ngôn

từ dục tính và đặc tả thân xác; ngôn từ cờng điệu, phóng đại để huỷ diệt, triệt hạ; ngôn từ đối thoại các thể hoá, độc thoại nội tâm và phức điệu

Tôn Thảo Miên trong Vũ Trọng Phụng toàn tập đã đa ra những ý kiến

xác đáng khi nhấn mạnh thành tựu trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng trên bình diện ngôn ngữ: “Ông là một trong những nhà văn góp phần đáng kể vào việc hiện đại hoá văn xuôi quốc ngữ” [35,36]

Trang 10

Với sự khéo léo trong phân tích, nhà nghiên cứu Văn Tâm trong bài Ông vua phóng sự đất Bắc với thể ký đã có cái nhìn khái quát về phóng sự Vũ Trọng

Phụng trong việc thể hiện rõ ràng và thành công hai đặc trng cơ bản của ký Đó

là ngời thật, việc thật và sự xuất hiện của nhân vật trần thuật “tôi” - là chính tác giả “Vũ Trọng Phụng viết phóng sự ( ) thành công xuất sắc khiến đợc mệnh danh “Ông vua phóng sự đất Bắc”, ( ) chính là do thiên tài nghệ thuật nhạy cảm với công năng lợi hại của 2 đặc trng cơ bản của thể ký, “Vua” họ Vũ

không chỉ nghiêm chỉnh tuân thủ, hơn nữa còn ra sức khai thác sức mạnh nghệ

thuật của 2 đặc trng căn bản (đồng thời cũng là 2 công cụ nghệ thuật) ấy trong

những phóng sự của mình” [50,24]

Trong Vũ Trọng Phụng bàn về phóng sự và tiểu thuyết tả chân, Nguyễn

Ngọc Thiện đã đề cao giá trị hiện thực và sức mạnh tố cáo trong phóng sự và tiểu thuyết tả chân của Vũ: “chỉ tả sự thực toàn một giống thực” ( ) “đó là sự…thực có ý vị chứ chẳng cốt nêu cái thực hoàn toàn” [50,205], “không thể kết án nhà văn tả chân khi họ miêu tả những thói xấu của xã hội, những cái đê tiện của ngời đời và gọi chúng bằng cái tên thật của nó” [50,206]

Cùng ý kiến này, Lê Tràng Kiều khẳng định “Vũ Trọng Phụng là một tay thiện nghệ trong văn tả thực” là “nhà văn tả thực mở đầu cho nền phóng sự ở n-

ớc ta” [50,317]

Hồ Thế Hà trong bài viết Phóng sự Vũ Trọng Phụng - đặc điểm không gian nghệ thuật lại đi sâu và tìm hiểu những biểu hiện về không gian nghệ thuật

trong phóng sự của Thiên H Theo ông có hai loại không gian nổi bật đó là

“không gian xã hội hằng ngày” và “không gian hoà quyện với thời gian và tâm lý” [50,251], “nhân vật và môi trờng vừa trở nên đồng loã vừa trợt dài xuống hố sâu tội lỗi của một xã hội “ối a bông phèng” (Nguyễn Tuân) của những kẻ vô liêm sỉ, tha hoá trong xã hội Âu hoá buổi đầu”

Nói tóm lại, những bài viết bàn luận về tác phẩm của Vũ thì nhiều, nhng chủ yếu là bàn về tiểu thuyết, còn về phóng sự cha nhiều và cha có một nhà

Trang 11

nghiên cứu nào đi sâu vào khám phá xu hớng “tiểu thuyết hoá” trong phóng sự của ông Chính vì thế với đề tài này, chúng tôi muốn tìm hiểu kỹ hơn về phóng

sự Vũ Trọng Phụng theo hớng trên, bởi đây là nét độc đáo trong tác phẩm của

“ông vua phóng sự đất Bắc”, nó thể hiện sự thâm nhập lẫn nhau giữa các thể loại trong quá trình vận động, sinh thành, phát triển để tạo ra thể loại mới

“không chỉ là nó mà còn rộng hơn nó”

3 Đối tợng, phạm vi nghiên cứu

Đối tợng nghiên cứu chính của đề tài là những biểu hiện của xu hớng tiểu thuyết hoá trong phóng sự Vũ Trọng Phụng

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những tập phóng sự của Vũ Trọng Phụng từ những năm đầu cho đến những năm cuối cùng trong sự nghiệp sáng tác của ông Đó là những tác phẩm: (Cạm bẫy ngời (1933), Kỹ nghệ lấy Tây

(1934), Dân biểu và dân biểu (1935), Cơm thầy cơm cô (1936), Vẽ nhọ bôi hề

(1936), Một huyện ăn tết (1936), Lục sì (1937), (trong đó Vẽ nhọ bôi hề và Dân biểu và dân biểu không thực sự tiêu biểu cho đề tài của luận văn này), vì

thế chúng tôi tập trung nghiên cứu về xu hớng tiểu thuyết hoá trong năm tác phẩm còn lại

4 Nhiệm vụ và phơng pháp nghiên cứu

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là thông qua cái nhìn khái quát, toàn diện về phóng sự vũ Trọng Phụng để làm sáng tỏ những biểu hiện của xu hớng tiểu thuyết hoá trong phóng sự của ông Trên cơ sở này khẳng định tính hiện

đại, tính độc đáo trong phóng sự Vũ Trọng Phụng, đồng thời khẳng định ý nghĩa to lớn mang giá trị đích thực mà “những đứa con tinh thần” của nhà văn

họ Vũ thể hiện

Phơng pháp nghiên cứu: phơng pháp phân tích - tổng hợp, đối chiếu- so sánh

Trang 12

5 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, luận văn triển khai thành 3 chơng:

Chơng 1 Phóng sự Vũ Trọng Phụng trong bức tranh chung của phóng

sự văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945

Chơng 2 Xu hớng tiểu thuyết hoá trong phóng sự Vũ Trọng Phụng

nhìn từ góc độ nhân vật và tổ chức cốt truyện

Chơng 3 Xu hớng tiểu thuyết hoá trong phóng sự Vũ Trọng Phụng

nhìn từ góc độ tổ chức trần thuật

Trang 13

Chơng 1

Phóng sự Vũ Trọng Phụng trong bức tranh chung của phóng sự văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945

1.1 Một số vấn đề lý luận về thể loại

1.1.1 Xung quanh khái niệm tiểu thuyết

1.1.1.1 Những quan niệm về tiểu thuyết

Tiểu thuyết theo nghĩa xa là một tác phẩm văn xuôi hay văn vần viết bằng tiếng Roman địa phơng, đó là khái niệm chỉ một thể lớn nhất của loại tác phẩm tự sự Nó là một thể đặc biệt phổ biến trong thời kỳ cận hiện đại, có thể chứa đựng trong mình nó một lúc nhiều sự kiện, nhiều biến cố, cuộc đời, có thể

có nhiều bức tranh phong tục tập quán tiêu biểu của thời đại Do “Tiểu thuyết là thể loại văn chơng duy nhất đang biến chuyển và còn cha định hình Những lực cấu thành thể loại còn đang hoạt động trớc mắt chúng ta, thể loại tiểu thuyết ra

đời và trởng thành dới ánh sáng thanh thiên bạch nhật của lịch sử Nòng cốt thể loại của tiểu thuyết cha hề rắn lại và chúng ta cha thể dự đoán đợc hết những khả năng uyển chuyển của nó” [4,21] nên để tìm một định nghĩa, khái niệm tuyệt đối là một vấn đề không đơn giản Do giới nghiên cứu đứng trên chỗ đứng khác nhau để đánh giá tiểu thuyết nên không thể có một định nghĩa trọn vẹn về thể loại này Có ngời nhìn tiểu thuyết dới góc độ truyền thống, ngời nhìn ở góc

độ hiện đại, có ngời nhìn ở góc độ tâm lý, lại có ngời nhìn ở góc độ cốt truyện Hêghen gọi tiểu thuyết là “sử thi t sản hiện đại”, Biêlinxky xem tiểu thuyết là

“sự tái hiện thực tại với sự thật trần trụi của nó”, là “xây dựng một bức tranh toàn vẹn, sinh động và thống nhất”

Bakhtin, nhà nghiên cứu lý luận văn học nghệ thuật Nga, xem tiểu thuyết

là sản phẩm tiêu biểu nhất của thời đại mới của lịch sử nhân loại, một bớc nhảy vọt của hàng ngàn năm văn học thế giới, hớng tới thực hiện một triết học nhân bản về con ngời, một luận thuyết về con ngời nh một bản ngã cá nhân (trong sự

Trang 14

tồn tại và đối thoại với các bản ngã khác), đợc hình thành và phát triển trên cơ

sở “một cảm quan mới về thời gian”, nó đợc xây dựng “ở khu vực tiếp xúc với các thời hiện tại không hoàn thành”, “cơ sở của nó là kinh nghiệm cá nhân và sáng tạo tự do” Ngôn ngữ tiểu thuyết là một thứ ngôn ngữ có tính đa thanh, các lớp ngôn ngữ soi sáng lẫn nhau, bổ sung cho nhau, do đó mà thiết lập một quan

hệ mới giữa ngôn ngữ và thế giới hiện thực

ở Việt Nam, từ năm 1921, đã có bài Bàn về tiểu thuyết của Phạm Quỳnh

đăng trên tờ Nam Phong Trọng Khiêm trong Kim Anh lệ sử (1924) lại đa ra sự

so sánh sự khác biệt giữa tiểu thuyết ta và tiểu thuyết Tàu Thạch Lam, Khái

H-ng, Nhất Linh, Vũ Bằng đều có những ý kiến khá sắc sảo Tuy nhiên tất cả mới chỉ là những ý tởng ban đầu, cha có cái nhìn hệ thống về tiểu thuyết Sau cách mạng các nhà lý luận ở cả hai miền Nam Bắc nh Phan Cự Đệ, Trần Đình Sử, Hoàng Ngọc Hiến, Thanh Lãng, Nguyễn Văn Trung đã có mối quan tâm sâu săc với tiểu thuyết Nhiều ý kiến xác đáng đợc đa ra và những ý kiến ấy có nhiều điểm thống nhất Cho đến nay, ý kiến của nhóm Lê Bá Hán, Trần Đình

Sử, Nguyễn Khắc Phi trong sách Từ điển thuật ngữ văn học xem tiểu thuyết là:

“tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng” [25] là ý kiến tơng đối bao quát về đặc tr-

ng thể loại

1.1.1.2 Đặc trng của tiểu thuyết

Mỗi thể loại có một phơng thức tiếp cận đời sống riêng, một phơng thức cấu trúc tác phẩm riêng và một phơng thức tổ chức lời văn riêng Đó là những

điểm quan trọng để tạo nên đặc trng của mỗi thể loại tác phẩm văn học

Tiểu thuyết là một thể lớn của loại tác phẩm tự sự Ngoài những đặc trng của thể, tiểu thuyết còn có những đặc trng riêng của loại

Trang 15

Tiểu thuyết nhìn cuộc đời dới góc độ đời t Tiểu thuyết quan tâm đến đời sống con ngời khác với sử thi Tiểu thuyết đặt vấn đề thân phận con ngời trong xã hội, lý giải số phận ấy Con ngời với những bớc thăng trầm của số phận là

đặc trng nổi bật của t duy tiểu thuyết

Nhân vật trong tiểu thuyết là nhân vật nếm trải, bị cuộc đời xô đẩy, quăng quật Và sau cả một qua trình lăn lộn giữa sóng gió cuộc đời, nếm trải sự cay đắng nhân vật đã tự rút ra cho mình bài học kinh nghiệm về bản thân, những triết lý sâu sắc về cuộc đời

Tiểu thuyết phản ánh cuộc đời nh nó vốn có, bề bộn, ngổn ngang, sinh

động, đa dạng, ít đợc lý tởng hoá, lãng mạn hoá Ngời viết có cái nhìn tỉnh táo trớc cuộc đời Cuộc sống dới cái nhìn tiểu thuyết hiện lên hết sức sinh động Đó

là chất văn xuôi mà tiểu thuyết mang trong mình, nó hoàn toàn khác với thơ

Trong tiểu thuyết có nhiều thành phần ngoài cốt truyện nh giới thiệu, trình bày nhân vật, hoàn cảnh, phân tích thế giới tâm lý nhân vật một cách tỉ mỉ từng những thay đổi tế vi nhất Nhờ thế nhân vật đợc hiện lên một cách đa dạng nhất, sâu sắc nhất

Khoảng cách giữa ngời trần thuật và nội dung trần thuật trong tiểu thuyết

đợc rút ngắn Vấn đề tiểu thuyết đặt ra là vấn đề của hiện tại, vấn đề cùng thời với ngời trần thuật Ngôn ngữ trong tiểu thuyết cũng trở nên đa giọng, phức điệu

nh chính cuộc đời

Tiểu thuyết là một thể loại có khả năng tổng hợp cao, nó có thể phối hợp với nhiều thể khác để tạo ra nhều dạng tiểu thuyết nh tiểu thuyết sử thi, tiểu thuyết thế sự trữ tình, tiểu thuyết kịch

1.1.2 Về khái niệm phóng sự

1.1.2.1 Một số quan niệm về thể loại phóng sự

Theo tiếng Latinh, phóng sự là Reportage, có nghĩa là thông báo một tin mới, một chuyến đi, một sự việc gì đó Song cho đến nay, khái niệm cụ thể về phóng sự vẫn cha thống nhất và tồn tại nhiều quan điểm khác nhau Phóng sự

Trang 16

vẫn và đang là thể loại hết sức trẻ trung, đang đợc tiếp tục hoàn thiện và phát triển từng bớc.

Ngời Pháp với óc hài hớc, dí dỏm quan niệm rằng mỗi tác phẩm phóng

sự là một cuộc điều tra đối với con ngời, những số phận bí ẩn kỳ lạ T duy logic của ngời Đức hớng họ tới việc xem phóng sự đơn thuần chỉ là đa tin Còn với ngời Mĩ, những con ngời thực dụng lại luôn quan tâm đến phóng sự nh là một thể loại có thể mô tả, tờng thuật các cuộc họp Ngời Trung Quốc có cách nhìn

về phóng sự hết sức rộng rãi với các từ: ký sự, thông tấn, phỏng vấn ký, trát ký

Xu hớng thứ hai quan niệm: Phóng sự là một thể loại báo chí tổng hợp,

kế thừa phong cách sáng tạo của tất cả các loại báo chí khác và cả văn học Chính vì vậy, phóng sự vừa có khả năng phản ánh những sự việc, hiện tợng nổi bật của thời cuộc lại vừa có khả năng đem đến cho công chúng những xúc cảm thẫm mỹ từ cái hay, cái đẹp của cuộc sống con ngời cụ thể

ở nớc ta phóng sự chỉ mới thực sự phát triển vào những năm 30 nhng đã nhanh chóng đạt đợc dấu ấn rực rỡ Các nhà nghiên cứu đã dày công khám phá thể loại này và đa ra khá nhiều quan niệm Cuốn Từ điển tiếng việt nhận định:

“Phóng sự là thể văn chú trọng diễn tả sự thật mà anh trông thấy và giải pháp các vấn đề do sự thật ấy nêu ra” Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại nhấn

mạnh: “Những thiên phóng sự xứng đáng với cái tên của nó đều có cái chức vụ giúp cho ngời đời trong sự đào thải và cải cách Ngời viết phóng sự chân chính bao giờ cũng là bênh vực lẽ phải, bênh vực sự công bình” [33,505] Phơng Lựu

Trang 17

cho rằng: phóng sự là loại ký phi cốt truyện theo lối kết cấu liên tởng” Đặc điểm của thể loại ký này là sự chi phối mạnh mẽ của yếu tố chủ quan: trữ tình và chính luận Hà Minh Đức cũng trình bày cách hiểu của mình khi so sánh sự tơng đồng

và khác biệt giữa phóng sự và ký sự, để từ đó đi đến khẳng định: “Phóng sự đòi hỏi tính thời sự trực tiếp Phóng sự đợc viết ra nhằm giải đáp những vấn đề nào

đó mà xã hội đang quan tâm” [12,229]

1.1.2.2 Đặc trng cơ bản của thể loại phóng sự

* Tính chân thực

Theo tác giả cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, tính chân thực là khái niệm

để chỉ “phẩm chất tạo nên sức hấp dẫn, thuyết phục của văn học thể hiện sự phù hợp sinh động giữa sự phản ánh của văn học với đối tợng của nó, sự phản ánh giữa chân lý nghệ thuật và chân lý đời sống, giữa sự sáng tạo nghệ thuật với tất yếu lịch sử” [25,232] Nh vậy chúng ta có thể hiểu một tác phẩm văn học chỉ

đạt đến tính chân thực khi nó khám phá đợc nét bản chất, quy luật phát triển của cuộc sống con ngời

Tính chân thực cũng đợc xem là sứ mệnh của phóng sự Phóng sự có khả năng tái hiện đời sống một cách có bề dày và chiều sâu với những “sự thật xác thực, dồi dào nóng hổi” (Phơng Lựu) Đến với phóng sự, ngời ta có thể nhận thức rõ cái cốt lõi của vấn đề mà tác giả đang trình bày với những mâu thuẫn phát sinh và cách giải quyết cụ thể, tỉ mỉ Chính vì thế, một số ngời viết phơng Tây đề ra 6 nguyên tắc cho phóng sự nhằm hớng vào tìm hiểu xác thực của đối tợng miêu tả Những quy định trên mang nhiều tính chất hình thức nhng nó nói lên đợc yêu cầu của phóng sự là phải bắt rễ vào đời sống, gắn chặt với đời sống

* Tính thời sự

Đây là một tính chất có thể xem là không thể thiếu của thể loại phóng sự

Nó là điểm khác nhau cơ bản nhằm phân biệt phóng sự với các thể loại khác của

ký văn học nh tuỳ bút, hồi ký, bút ký Vấn đề đặt ra trong phóng sự không phải

Trang 18

là vấn đề của ngày hôm qua mà phải là vấn đề của hôm nay, của bây giờ, nóng hổi đang thu hút sự chú ý quan tâm cao độ của d luận xã hội

Tính thời sự thờng đi liền với tính bức xúc của vấn đề Phóng sự không chỉ đơn thuần là đa thông tin về các sự kiện mới, không chỉ đơn thuần là tờng trình lại sự kiện, trình bày lại vấn đề mà là tập trung vào trọng điểm mấu chốt của vấn đề, xoáy vào đấy, đa ra đợc những giả thiết, đa ra những kiến giải, những phơng án trả lời, những đánh giá chính xác về những vấn đề của hiện thực, giúp độc giả nhận ra chân tớng của sự việc Từ sự đa tin một cách chính xác, nhạy bén, nhanh chóng, phóng sự có khả năng đáp ứng đợc những bớc chuyển mình gấp gáp, những sự biến đổi không ngừng của đời sống và phù hợp với nhu cầu nắm bắt thông tin của công chúng Chính điều này đòi hỏi ngời viết phóng sự phải có cái nhìn nhanh nhạy, toàn diện, bao quát vấn đề, khả năng nắm bắt và đánh giá vấn đề một cách chính xác, có chiều sâu

tu từ nh so sánh, ẩn dụ, liên tởng, châm biếm, hài hớc đợc tác giả sử sụng hết sức uyển chuyển, khéo léo Nhiều tác phẩm phóng sự đã vận dụng nhiều hình thức kết cấu linh hoạt nh kết cấu cốt truyện, kết cấu chơng hồi, kết cấu theo trật

tự thời gian tuyến tính Giọng điệu vô cùng phong phú, đa dạng, lý luận khách quan, sắc bén Qua đó tác giả có thể trình bày ý kiến mà không tạo cảm giác áp

đặt cho độc giả Độc giả bị hấp dẫn khi đợc nắm bắt những thông tin nóng,

nh-ng cành-ng cảm thấy hấp dẫn hơn khi bên dới nhữnh-ng thônh-ng tin ấy là sự phân tích,

sự đánh giá, sự nhận định xác đáng, sắc sảo của tác giả

* Phơng thức phản ánh bằng hình tợng thông qua h cấu nghệ thuật

Trang 19

“H cấu nghệ thuật là một hoạt động đặc thù của sáng tạo nghệ thuật, trợ giúp cho những dạng thức nghệ thuật tồn tại có thể có, và nói chung, trợ giúp cho ý niệm về những gì có thể có và phải có” [25,165]

Đối với sáng tác văn học, phạm vi áp dụng h cấu tuỳ thuộc vào đặc trng thể loại văn học Tiểu thuyết là một thể loại đợc phép sử dụng h cấu nhiều nhất, hay nói đúng hơn là trong tiểu thuyết thì h cấu và trí tởng tợng của nhà văn là chính Còn với phóng sự, nếu quan niệm h cấu theo nghĩa nhà văn tởng tợng ra thì không đợc h cấu vì phải tôn trọng tính xác thực của đối tợng miêu tả, nhng nếu hiểu h cấu là hành động của nhà văn làm hiện thực trong phóng sự nói riêng

và ký nói chung nổi bật hơn điển hình đời sống, tạo ấn tợng sâu sắc với ngời

đọc thì phóng sự đợc phép h cấu, nên h cấu Bởi phóng sự muốn vơn đến chỗ có giá trị văn học thì không thể nằm ngoài quy luật của nghệ thuật, mà trong nghệ thuật thì không đặt ra vấn đề chính xác tuyệt đối

* Sự xuất hiện của cái tôi trần thuật giàu cảm xúc lý trí

Trong phóng sự, “cái tôi trần thuật” đợc thể hiện một cách sinh động

và có cá tính Cái tôi ấy vừa là nhân chứng khách quan, đồng thời là ngời thẩm định, ngời trình bày, lý giải và kết nối các sự kiện đợc tác giả đề cập tới

Cái trôi trần thuật trong phóng sự nghệ thuật khác với cái tôi trần thuật trong phóng sự thông tấn ở báo chí, do sự chi phối của thông tin thời sự, thông tin xác thực nên tác giả thờng hạn chế bộc lộ trực tiếp cảm xúc và suy nghĩ của bản thân Trong phóng sự nghệ thuật, cái tôi trần thuật luôn có thiên hớng bộc

lộ tính khuynh hớng, thể hiện những nghĩ suy, rung động trong quá trình tiếp cận hiện thực Cái tôi này có khi xuất hiện trực tiếp với đại từ nhân xng ngôi thứ nhất “tôi”, có khi ẩn mình trong sự kiện để dẫn dắt câu chuyện mà mình “mắt thấy tai nghe”

Nh vậy, dù bộc lộ dới hình thức trực tiếp hay gián tiếp, thì điều quan trọng nhất mà cái tôi trần thuật hớng đến chính là phải bộc lộ chính kiến của

Trang 20

cá nhân, phê phán và bài trừ cái xấu, khẳng định và ngợi ca cái đẹp, vun đắp cái đẹp, cái tiến bộ Đó chính là giá trị nhân văn mà mỗi phóng sự muốn đạt tới.

1.1.3 Tiểu thuyết hoá phóng sự và những biểu hiện của nó

Trong cuộc sống, chúng ta có thói quen dùng các từ nh lạ hoá, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ khí hoá “Hoá” ở đây mang nghĩa nh sự biến đổi,

chuyển hớng khác đi, từ cái này sang cái kia, cái trớc chi phối cái sau, cái sau chịu ảnh hởng của cái trớc Nếu xét theo công thức A hoá B thì A sẽ chi phối B,

B chịu ảnh hởng của A, biến đổi và mang một số đặc điểm của A Nếu nói

“công nghiệp hoá nông nghiệp” có nghĩa là tất cả những hoạt động sản xuất của ngành nông nghiệp sẽ đợc áp dụng những tiến bộ của kỹ thuật công nghiệp nhmáy móc để cải tiến năng suất, giảm sức ngời, giảm quỹ thời gian Nông nghiệp vẫn là nông nghiệp, nhng nhìn vào đó ngời ta thấy sự có mặt của công nghiệp

Với “tiểu thuyết hoá phóng sự’ thì có thể hiểu rằng trong phóng sự có sử dụng, có ảnh hởng một số đặc điểm của thể loại tiểu thuyết Cụ thể là ở cách xây dựng cốt truyện nhiều tình tiết, biến cố, xây dựng nhân vật ít nhiều có lôgic tính cách, mang dáng dấp “điển hình hoá”, ngôn ngữ trần thuật đa thanh, đa giọng điệu, điểm nhìn trần thuật thay đổi linh hoạt Có thể thấy tiểu thuyết và phóng sự là hai thể loại đều đang vận động, phát triển, và sự giao thoa giữa chúng sẽ tạo ra một thể loại mới vừa mang đặc điểm của loại này vừa mang đặc

điểm của loại kia Sự giao thoa thể loại là một trong những đặc điểm nổi bật của hiện đại hoá văn học

1.2 Bức tranh chung của phóng sự trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945

1930-1.2.1 Nguyên nhân thúc đẩy sự ra đời và phát triển của thể loại phóng sự

Văn học phản ánh hiện thực cuộc sống, khi cuộc sống thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi của văn học Báo chí là một phơng tiện truyền thông nắm bắt

Trang 21

kịp thời nhất, nhanh nhạy nhất sự thay đổi đó Việc thể loại phóng sự ra đời và phát triển mạnh mẽ ở giai đoạn 1930-1945 không phải là một sự ngẫu nhiên, mà luôn có nguyên nhân của nó

lệ thực sự của Pháp, xã hội Việt Nam rơi vào tình trạng bi đát, đảo điên Con ngời sống dới bầu không khí ngột ngạt, bức bối đã lâm vào tình trạng hoang mang cực độ Chính sách Âu hoá đã đánh lạc hớng, lôi cuốn thế hệ thanh niên vào những phong trào giải trí vô bổ, ru ngủ họ, nhằm làm họ lãng quên đi nỗi nhục mất nớc, quên đi nhiệm vụ đấu tranh cho độc lập dân tộc Và từ những phong trào Âu hoá trẻ trung, biết bao tệ nạn nảy sinh trong xã hội Những sòng bạc, tiệm nhảy, cô đầu, nhà chứa mà thực dân Pháp mở ra đã đa dân Việt Nam,

đặc biệt là tầng lớp thanh niên vào lối sống truỵ lạc, đồi bại, những lối sống làm băng hoại đạo đức truyền thống Bên cạnh đấy, thực dân Pháp lợi dụng tôn giáo

mê hoặc các tầng lớp nhân dân Các tổ chức tôn giáo xuất hiện ngày một nhiều,

số lợng các tín đồ gia tăng một cách nhanh chóng Cơ cấu xã hội Việt Nam biến

đổi một cách sâu sắc, nhiều tầng lớp, nhiều giai cấp mới xuất hiện, đặc biệt là ở thành thị Giai cấp phong kiến dới dạng bù nhìn, giai cấp t sản đợc hình thành nhng yếu ớt và què quặt Mâu thuẫn giai cấp giữa phong kiến và t sản, giữa t sản

và vô sản, và tình trạng phân hoá của các tầng lớp trung lu ngày càng lớn

Sau thắng lợi của mặt trận bình dân, chế độ báo chí kiểm duyệt bị bãi bỏ, báo chí đợc hoạt động công khai và phát triển mạnh mẽ Cũng nh nhiều tài liệu

Trang 22

nghiên cứu đã cho rằng: phóng sự ra đời đầu tiên ở châu Âu vào cuối thế kỷ 19 gắn với sự thắng lợi của cuộc đấu tranh và tự do dân chủ báo chí kéo dài suốt ba thế kỷ và sự phát triển vợt bậc của t tởng dân chủ, tiến bộ ở các nớc phơng Tây thì sự phát triển của báo chí Việt Nam cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự phát triển của thể loại phóng sự trong nớc, bởi thể loại phóng sự rất gần gũi với báo chí và do tính chất đặc trng là tính thời sự nên phần lớn các phóng sự đều đợc đăng trên báo trớc, ngời đọc đến với phóng sự trớc tiên thông qua con đờng báo chí, sau đó khi đã nhận đợc sự quan tâm của d luận mới đem

in thành sách (ví dụ nh Cạm bẫy ngời của Vũ Trọng Phụng xuất hiện lần đầu

tiên trên báo Nhật Tân, sau đó nhà xuất bản Đời nay in thành sách, Hà Nội lầm than của Trọng Lang, đăng lần đầu tiên trên báo Ngày nay và sau đợc cũng

đợc Nhà xuất bản Đời nay in thành sách, Việc làng của Ngô Tất Tố đăng trên

Hà Nội Tân Văn và sau đợc xuất bản thành tập bởi Nhà xuất bản Mai Lĩnh -

Hà Nội) Theo nhiều nhà nghiên cứu thì từ cuối thế kỷ 19 cho đến thế kỷ 20,

nhiều nhà in hiện đại nh Tân Dân, Hàn Thuyên, Minh Đức đã xuất hiện ở nớc

ta Nó tạo điều kiện cho văn học và báo chí phát triển Hàng trăm tờ báo, kỷ yếu, và tạp chí cùng có mặt trong đời sống tinh thần của ngời dân Việt Nam Năm 1937 có 110 tờ nhật báo, 159 kỷ yếu và tạp chí Năm 1938 có 128 tờ nhật báo và 160 kỷ yếu và tạp chí Năm 1939 có 128 tờ nhật báo và 170 kỷ yếu và tạp chí Những tờ báo, tờ tạp chí, kỷ yếu là nơi cung cấp nguồn thông tin nhanh, mạnh và có sức tác động lớn tới đời sống văn hoá xã hội nớc nhà Rất nhiều thể loại văn học- báo chí có mặt nh ký sự, tuỳ bút, bút ký và phóng sự Với sự hùng mạnh ấy, báo chí là nơi để các nhà thơ, nhà văn thể hiện tài năng tâm huyết và bản lĩnh nghệ thuật của mình Nhiều nhà văn có tên tuổi bắt đầu thử sức ở địa hạt phóng sự Đội ngũ những cây bút phóng sự ngày càng đông đảo với các tên tuổi nh Vũ Trọng Phụng, Trọng Lang, Ngô Tất Tố, Thạch Lam, Tam Lang, Vũ Bằng, Nguyễn Đình Lạp Nh vậy, sự phát triển của thể loại phóng sự những năm ba mơi của thế kỷ XX là kết quả, là thành tựu của một quá trình tr-

Trang 23

ởng thành và lớn mạnh của nền báo chí có tốc độ phát triển khác thờng, tạo nên những kỳ biến trong xã hội

1.2.1.2 Nguyên nhân chủ quan

Trong “cơn giông tố đảo điên thời thuộc Pháp”, những con ngời có tài, có tâm cùng với đất nớc không thể dửng dng mà đã tìm đến văn học, đến báo chí

để bày tỏ thái độ, để bày tỏ sự suy t, trăn trở của mình trớc những vấn đề xã hội

Họ khát khao có thể bao quát đợc hiện thực ấy một cách kịp thời và chính xác nhất và họ tìm thấy ở thể loại phóng sự một cách thể hiện trực tiếp nhất, nhanh nhất những vấn đề nhức nhối, mới nảy sinh trong xã hội Văn, thơ, tiểu thuyết

có thể dùng để phán ánh hiện thực nhng không thể nhanh nhạy, không thể đáp ứng kịp thời nhu cầu cấp bách ấy của con ngời thời đại Trong lúc các thể loại khác đang cần thời gian để t duy, để nghiền ngẫm thì phóng sự xông xáo tiến vào hiện thực bằng tính khách quan, nhạy bén, thẳng thắn nhìn vào mặt trái của xã hội, nó đã góp phần thoã mãn nhu cầu thẫm mĩ của một lớp công chúng cảm thấy đã không còn hào hứng với tiểu thuyết lãng mạn đơng thời Các nhà văn, nhà báo đã nắm bắt đúng vấn đề cần làm, cần nắm giữ đã bớc sang địa hạt phóng sự, dồn tâm sức vào nó, đa nó phát triển nhanh chóng và thuần thục

1.2.2 Những đặc điểm khái quát về phóng sự Việt Nam giai đoạn 1930- 1945

Có thể nói rằng, cha bao giờ phóng sự lại phát triển mạnh mẽ nh giai

đoạn 1930 - 1945 Trên báo chí, trong sách, phóng sự có mặt với số lợng lớn với những tác phẩm có khi dày đến hàng trăm trang, bao quát đợc nhiều vấn đề trong xã hội Chỉ với hơn thập kỷ, phóng sự đã đạt đợc thành tựu đáng kể cả về

số lợng lẫn chất lợng Cạm bẫy ngời (1933), Kỹ nghệ lấy Tây (1934), Dân biểu

và dân biểu (1935), Cơm thầy cơm cô (1937), Lục sì (1937), Một huyện ăn tết

(1939) của Vũ Trọng Phụng Tam Lang với Tôi kéo xe (1932), Đêm sông Hơng

(1938) Trọng Lang với Trong làng chạy (1935), Đời bí mật của s vãi (1935),

Gà chọi (1935), Đồng bóng (1936), Hà Nội làm than (1937), Làm dân (1938),

Trang 24

Làm tiền (1939), Đời các ông lang (1941) Thanh niên truỵ lạc (1937-1938), Chợ phiên đi tới đâu (1937), Vụ án tình (1938), Cờng hào (1938) của Nguyễn

Đình Lạp Ngô Tất Tố với Tập án cái đình (1939), Việc làng (1940) Thạch

Lam có Hà Nội băm sáu phố phờng

Nói đến phóng sự Việt Nam 1932-1945 là nói đến khả năng khám phá và khai thác hiện thực một cách triệt để Đó là một kho t liệu dồi dào, quý giá mà sau bao nhiêu năm, nhìn vào đấy ngời ta có thể thấy một cách chân thực và sinh

động hình ảnh bức tranh xã hội Việt Nam đầu thế kỷ và đó cũng là mảng màu sắc linh động của nghệ thuật báo chí kết hợp với văn chơng Nhìn phóng sự Việt Nam có thể nhìn ở hai phơng diện: nội dung và nghệ thuật

1.2.2.1 Về nội dung

Với cách phản ánh hiện thực cuộc sống dới dạng nguyên mẫu, có nghĩa

là cuộc sống đợc đa vào trong phóng sự ở dạng nguyên chất của nó, bề bộn, ngổn ngang, sinh động Dựa trên những sự kiện của đời sống thực, phóng sự

có khả năng thuyết phục ngời đọc rất lớn, đặc biệt trong cuộc sống xã hội

đ-ơng thời Mặt trái của xã hội nh những cảnh sống khổ nhục, những cảnh ăn chơi truỵ lạc, những mánh khoé lừa lọc, cớp bóc một cách hợp pháp, những hủ tục nặng nề ở nông thôn đợc phóng sự bóc trần, thẳng thắn, rõ ràng

Với hai mảng đề tài chủ yếu là viết về nông thôn và thành thị, phóng sự hầu nh đã bao quát đợc toàn bộ những vấn đề xã hội Những tác phẩm viết về cuộc sống sinh hoạt ở đô thị chiếm số lợng nhiều hơn cả Bởi đây là nơi diễn ra những đổi thay một cách nhanh chóng và sâu sắc nhất trớc tác động của những chính sách kinh tế - chính trị - văn hoá của thực dân Pháp Cuộc sống của những ngời dân nghèo thành thị với nỗi lo cơm áo gạo tiền, gắn liền với những sinh hoạt đời thờng là sự có mặt của những món quà Hà Nội cùng tồn tại song song với những tệ nạn nhức nhối nh mại dâm, cờ bạc, hút xách Những ngời phu ngày đêm gồng lng kéo xe, chịu đựng bao nhiêu khổ nhục, và nỗi vất vả để mong kiếm đợc vài hào bạc mang về nuôi con là hình ảnh quen thuộc tồn tại

Trang 25

song song với hình ảnh những cô gái nhà thổ Cho đến bây giờ khi đọc lại những tác phẩm nh Hà Nội lầm than của Trọng Lang, Đêm sông Hơng của

Tam Lang, Lục sì của Vũ Trọng Phụng, chúng ta không khỏi giật mình Tệ nạn

mại dâm mà bây giờ xã hội tốn bao tiền của và công sức để triệt phá đã phát triển gần nh đỉnh cao và đợc xem là hợp pháp trong xã hội Việt Nam những năm ba mơi của thế kỷ XX Cuộc sống của những cô gái giang hồ, bán thân nuôi miệng hiện lên ở đủ mọi góc độ, đủ mọi vẻ Những ánh đèn màu huyền ảo, tiếng nhạc hân hoan cùng cái vẻ bề ngoài choáng lộn của những cô gái làm trong các quán ba, tiệm nhảy không thể thay đổi đợc cuộc đời thực của những cô gái bán hoa Cuộc sống của họ là nỗi đau khổ, cực nhục, là nô lệ thân xác cho khách làng chơi Gắn vào họ là cảm giác gai ngời vì tởm lợm bởi mùi ô uế Thân phận của những ngời phụ nữ đợc đem ra đổi lấy năm xu, một hào sau mỗi

đêm vui Họ còn là nơi để bệnh phong tình có thể nhân lên, lan ra trong xã hội Với Lục sì, có thể nói Vũ Trọng Phụng đã làm cho ngời đọc thực sự cảm thấy

sợ cái sự ô uế đến tởm lợm khi đọc những trang viết về gái mãi dâm, nhng đồng thời cũng thấy xót thơng cho thân phận họ, thân phận của những trò chơi biết nói, biết hát và sống bằng những đồng tiền đã đổi bằng cả danh dự và nhân phẩm

Với Kỹ nghệ lấy Tây, số phận của những ngời đàn bà An Nam tởng có vẻ

khá hơn nhng thực chất cũng không hơn gì những ngời đàn bà trong nhà Lục sì Chỉ có điều nó lại núp dới danh nghĩa của hai tiếng "vợ chồng” Cái mối lơng duyên ấy đợc định đoạt bởi tiền của ngời đàn ông Hết tiền, tình “vợ chồng” cũng chấm dứt Những ngời đàn bà ấy sống bằng nghề “lấy chồng Tây” Nghe

ra có vẻ nực cời song đúng là nó đã nuôi sống bao nhiêu con ngời trong cái làng

me đó Và số phận của những đứa con lai, những đứa con luôn ngậm ngùi không có tổ quốc - sản phẩm bất đắc dĩ của cái nghề ấy là một cuộc sống thiếu hẳn tình thơng yêu, chăm sóc của cha mẹ

Trang 26

Bên cạnh mại dâm là nạn cờ bạc, và cái nạn này nó cũng đợc xem nh là một nghề, một phơng tiện để kiếm cơm Con cháu thần Đổ Bác đã tạo lập đợc một tập đoàn bịp Giới bịp có chân rết ở khắp mọi nơi, sẵn sàng đa ra để lừa tiền thiên hạ bởi cả mấy chục ngón bịp tinh vi Bạn bè mất tin, bố con mâu thuẫn, lừa gạt nhau đạo đức xã hội băng hoại, xuống dốc chỉ bởi đồng tiền

Nếu chọn ô sin bây giờ là mốt của những gia đình giàu có, ngời ta khoe giàu bằng cách khoe ô sin “xịn” đến mức nào, thì ô sin xa cũng đã trở thành một nghề kiếm cơm của bao nhiêu con ngời Cái nghề ấy đợc gọi là “cơm thầy cơm cô” mà ở đấy giá trị con ngời không ngang bằng với giá loài vật Thông qua lời

về cuộc đời những con ngời đi ở, ngời ta còn nhìn thấy cả bản chất, cả tính cách của những ông chủ bà chủ, xấu xa, keo kiệt và độc ác

Hà thành đau đầu bởi những tệ nạn, còn nông thôn Việt Nam lại ngạt thở bởi những hủ tục phong kiến nặng nề Dù không nhiều tác phẩm nh mảng viết

về đề tài ở thành thị nhng nó cũng cho ta thấy đợc cuộc sống của bao nhiêu con ngời sau luỹ tre làng Su cao, thuế nặng, quan tham chèn ép cha đủ, tâm lý “một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp” đè nặng trong tâm trí bao nhiêu con ng-

ời ở nông thôn đã làm bao gia đình tan nát, bao nhiêu con ngời rơi vào cảnh ngộ

bi thơng

Bên cạnh những đề tài viết về nông thôn, các tác giả hớng sự chú ý của mình về các nhà tù với biết bao nhiêu số phận của những ngời tù chính trị đang hàng ngày chịu những cảnh tra tấn, đối xử dã man của bọn thực dân Ngục Kon Tum của Lê Văn Hiến, Đảo Côn Lôn của Nguyễn Đức Chính, Khám Lớn Sài Gòn của Phan Văn Hùm là bản cáo trạng đanh thép chế độ nhà tù của thực

dân Pháp, quan trọng hơn nó là bằng chứng hùng hồn về tinh thần cộng sản kiên cờng của những ngời chiến sĩ đấu tranh cho quyền độc lập dân tộc

Nhìn vào những tác phẩm phóng sự, hiện lên bức tranh đầy màu sắc về xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ Có những mảng màu tối thẫm, dầy vết hằn, nhng cũng có những mảng sáng màu Phơi bày đợc thực trạng tồi tệ của xã hội, lên án, tố cáo sự tàn bạo của chế độ thực dân, và mặc dù các nhà viết phóng

Trang 27

sự cha chỉ ra đợc một con đờng đấu tranh để tự giải phóng, nhng với thái độ

đứng về những ngời lao động khốn khổ, có thể cho thấy thái độ tích cực của họ Những tác phẩm ấy mang ý nghĩa cảnh tỉnh đạo đức xã hội và cảnh tỉnh lơng tri con ngời

1.2.2.2 Về nghệ thuật

Là một thể loại mới non trẻ, song phóng sự 1932-1945 đã đạt đợc những hiệu quả đáng kể về mặt nghệ thuật Mỗi tác phẩm phóng sự mang một phong cách nghệ thuật riêng và sự đa dạng phong cách đó đã làm nên nét độc đáo riêng của phóng sự Việt Nam 1932-1945

Trớc hết phải nói đến nghệ thuật tiếp cận hiện thực của phóng sự giai

đoạn nay Đó là nghệ thuật tiếp cận hiện thực ở nhiều góc độ Tiếp cận hiện thực từ mặt trái của xã hội, từ đặc trng nghề nghiệp, công việc, từ những mối quan hệ đan xen nhau với sự xuất hiện của tác giả trong t cách nh là ngời trong cuộc để chứng kiến Từ cách tiếp cận hiện thực ấy, mỗi nhà văn, nhà báo lại đặt tiêu đề cho tác phẩm hết sức đa nghĩa, ấn tợng Đó là cách đặt tiêu đề theo lối tiểu thuyết

Một điểm hết sức quan trọng trong đặc điểm nghệ thuật phóng sự giai

đoạn này là sự xâm nhập, đan xen nhau giữa phóng sự và tiểu thuyết Đó là cách kết cấu tác phẩm nh một cuốn tiểu thuyết, có hệ thống nhân vật xuyên suốt toàn

bộ tác phẩm, có cốt truyện gần nh hoàn chỉnh Từng nội dung vấn đề, từng sự kiện thời sự nóng hổi đợc khai thác, xây dựng thành một câu chuyện có chủ đề,

có kết cấu với những tình tiết mang đậm tính chân thực vừa chi tiết lại vừa khái quát; ở việc xây dựng cốt truyện theo mô hình cấu trúc mới - cấu trúc tác phẩm dới dạng số phận, mảnh đời của một nhân vật hoặc một đám đông nhân vật sống động với những trang viết thấm đẫm tính văn chơng, tính triết lý Bên cạnh nhân vật “Tôi” - tác giả và cũng là nhân chứng và một thế giới nhân vật đông

đúc là một số nhân vật văn học ít nhiều có tính cách điển hình trong hoàn cảnh

điển hình Tiêu biểu phải kể đến phóng sự của Nguyễn Đình Lạp với Ngõ hẻm

Trang 28

Ngoại ô, Vũ Trọng Phụng với Cạm bẫy ngời, Cơm thầy cơm cô Nghệ

thuật trào phúng và cách tổ chức sắp xếp câu chữ tài hoa Bên cạnh lời văn mang đậm dấu ấn của ngôn ngữ đời thờng đợc tạo bởi chất liệu ngôn từ giàu chất khẩu ngữ đã đạt đến kỹ năng thành thục với lối đa nhiều thành ngữ, tiếng lóng vào tác phẩm là lời văn của lối văn chơng “Tây học” với những câu văn hiện đại, dài về số từ, rộng về thông tin, chặt về quan hệ các thành phần Đây là nét tiêu biểu của nghệ thuật tiểu thuyết đợc thể hiện trong phóng sự

Nghệ thuật trần thuật lôi cuốn với cái tôi trần thuật có tính chất lỡng thể,

đa năng, biến hoá, điểm nhìn nghệ thuật thay đổi linh hoạt cộng với cách thức

kể chuyện hết sức sinh động Nắm bắt thông tin tài tình và xử lý thông tin khéo léo, t liệu đợc xâu chuỗi lôgic và hết sức nghệ thuật Cách tổ chức tình huống, dẫn dắt tình tiết câu chuyện đầy bất ngờ và hấp dẫn, phong phú và đa dạng, từ tình huống ngẫu nhiên đến tình huống ngợc đời đến tình huống cãi lộn bất ngờ đã làm nên tính hấp dẫn của tác phẩm Điều quan trọng là những yếu tố hình thức trên gắn kết, hoà quyện nhuần nhuyễn với nội dung phản ánh tạo ra một hiệu quả lớn trong việc tác động vào tâm trí độc giả, tạo ra trong lòng độc giả một sự thích thú, một sự say mê Chính vì thế những thiên phóng sự nổi tiếng đợc độc giả đón nhận và hởng ứng nhiệt tình khi họ nhận ra những tình huống phức tạp, những trò đời trớ trêu, nhận ra cái mặt trái đen tối, nhố nhăng của xã hội Nhìn vào đó họ có thể tự đa mình vợt qua những nhỏ nhặt tầm th-ờng, vơn tới cái đích cuối cùng là Chân - Thiện - Mỹ

1.3 Nhìn chung về phóng sự Vũ Trọng Phụng

1.3.1 Phóng sự trong sự nghiệp văn học Vũ Trọng Phụng

Đã có ý kiến cho rằng nếu nh Nguyễn Công Hoan là tác giả tiêu biểu cho văn học hiện thực phê phán ở thời kỳ đầu với những tập truyện ngắn có giá trị, Ngô Tất Tố trong tiểu phẩm văn học báo chí thì Tam Lang Vũ Đình Chí, Tiêu Liêu Vũ Bằng và Thiên H Vũ Trọng Phụng là những ngời mở đầu cho thể phóng sự trong văn học hiện thực phê phán Cùng với những ngời đồng nghiệp

Trang 29

dồn tâm sức vào phóng sự, Vũ Trọng Phụng ghi đợc dấu ấn riêng của mình trong làng báo và chính phóng sự đã khẳng định vị trí của Vũ Trọng Phụng với văn giới đơng thời

Cầm bút từ rất sớm do hoàn cảnh thúc bách và do cả nhu cầu cần đợc viết nhng Vũ Trọng Phụng cha tạo đợc ấn tợng trong lòng độc giả Vở kịch Không một tiếng vang là sáng tác đầu tay Với tác phẩm này, Vũ nhận tiếng chê nhiều

hơn tiếng khen bởi tác phẩm không thành công, nhân vật trở thành cái loa phát ngôn cho t tởng nhà văn Nhng đến khi Cạm bẫy ngời ra mắt khán giả “thì cái

tên Vũ Trọng Phụng đã nổi lên nh cồn, lẫy lừng trong chớp mắt, quen thuộc với bất cứ ai biết cầm tờ báo đọc suốt từ Bắc tới Nam” (Nguyễn Ngọc Thiện) Lúc này ngời ta quan tâm đến Vũ Trọng Phụng nhiều hơn ai hết Các cuộc tranh luận về ông đã làm cho không khí văn đàn vốn đã phức tạp lại càng phức tạp hơn trong xã hội bấy giờ Dờng nh cảm nhận đợc phóng sự là thể loại sở trờng,

là thế mạnh của mình, Vũ Trọng Phụng liên tục cho ra đời những thiên phóng

sự mới Và khi Kỹ Nghệ lấy Tây, Lục sì, Một huyện ăn tết, Cơm thầy cơm cô

trình làng thì ngời ta gọi ông là “ông vua phóng sự đất Bắc” Khí chất nhà văn, nhà báo trong con ngời ông lồ lộ trên những trang phóng sự đã khiến cho phóng sự của ông không chỉ phản ánh thức thời, nóng hổi cái hiện thực và vấn đề xã hội nhức nhối mà nó còn có sức ám ảnh, lay tỉnh, cật vấn thờng chỉ

1.3.2 Phóng sự Vũ Trọng Phụng thể hiện một phong cách mới

Có ai đó đã rất có lý khi cho rằng: “ngời đọc chỉ ủng hộ và tạo nên số phận tốt đẹp cho những tác phẩm chân chính một khi những tác phẩm ấy đề cập

đến hiện thực đời sống đích thực của họ, nói về họ và vì họ” Chính vì thế,

Trang 30

không phải ngẫu nhiên mà phóng sự Vũ Trọng Phụng lại nhận đợc nhiều sự quan tâm của độc giả đến nh vậy Cùng với rất nhiều những tác phẩm khác nh-

ng phóng sự của ông không thể bị trộn lẫn, không bị nhoè mờ, mà luôn luôn gắn chặt với sự yêu thích của độc giả là bởi Vũ Trọng Phụng viết phóng sự bằng ngòi bút sắc sảo, hết sức tài tình trong cách nhìn nhận và xử lý t liệu để có thể tạo ra một cấu trúc hoàn hảo nhất của thể phóng sự, biến thể văn báo chí này thực sự thành một thể văn học, nghĩa là ông đã nghệ thuật hoá nó, tăng cờng cho nó phẩm chất văn chơng Đồng thời, khi sáng tác ông luôn dựa trên những quan điểm nghệ thuật hết sức đúng đắn Vũ Trọng Phụng cho rằng một tác phẩm phóng sự đích thực không thể hớng đến những gì cao xa, huyền ảo, thơ mộng mà phải đi vào phanh phui những căn bệnh trầm kha của xã hội, những

đói rét bệnh tật và bất công của loài ngời Tụng ca xuôi chiều, tô hồng hiện thực

“lấy lụa là, gấm vóc phủ lên trên” không phải là nhiệm vụ của phóng sự mà trái lại ông yêu cầu “phải mổ nó ra, mặc lòng nó bẩn, nó khó chịu cho khứu quan” [36,133] Chính vì thế, các phóng sự của ông chứa một dung lợng đầy ắp chất sống, với nhiều gơng mặt, nhiều lớp ngời khác nhau Chúng có sức khái quát và tổng hợp cao, là bức tranh xã hội rộng lớn, có giá trị tố cáo sâu sắc và mạnh

mẽ Ngòi bút của ông không chỉ phản ánh những sự kiện hiện tợng đơn lẻ, mà

“thực sự đào sâu vào hiện thực, phơi bày những mặt trái thối tha, ghê tởm của cái ung nhọt thị thành Việt Nam những năm ba mơi đầy ắp những ổ mại dâm, những tệ nghiện hút, cùng phờng lu manh, trộm cắp và nhan nhản những trẻ

em bị đày đoạ, trôi dạt trong kiếp tôi đòi”

Với Vũ Trọng Phụng, mỗi thiên phóng sự còn phải có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa phẩm chất nghệ thuật và tính khoa học Chính vì thế phóng sự của

ông không những khơi gợi đợc hứng thú thẫm mỹ nơi độc giả mà còn có trách nhiệm giúp họ có những hiểu biết thêm về các kiến thức khoa học Lục sì có thể

xem là “mẫu mực về văn chơng phục vụ xã hội và khoa học” đúng nh Hoàng Thiếu Sơn đã khẳng định: “Cuốn phóng sự này nên đọc nh là một cuốn sách khoa

Trang 31

học hơn là một cuốn sách văn chơng Nói nh thế không phải gạt nó ra khỏi di sản văn học của dân tộc mà để tự hào đúng mức là ta có một tác phẩm văn chơng khoa học chứ không hoàn toàn sách văn chơng” [39,7].

Phóng sự của Vũ Trọng Phụng có đặc điểm là luôn luôn thể hiện xu hớng tiểu thuyết hoá Xu hớng tiểu thuyết hoá này thể hiện trên nhiều phơng diện

Đây chính là điểm làm nên tính hiện đại trong tác phẩm Vũ Trọng Phụng Về quy mô thì tác phẩm của ông có dung lợng lớn, đa số là những tập phóng sự có dung lợng đến vài trăm trang Chính vì thế, giá trị văn chơng ở thể phóng sự của

ông là rất lớn: đó là tổ chức cốt truyện, xây dựng thế giới nhân vật, cách sử dụng h cấu, ngôn ngữ sống động linh hoạt giàu chất sống, giàu hình ảnh Điều

đặc biệt là chỉ cần đọc một đoạn phóng sự, ngời ta cũng có thể nhận ngay ra tác giả là Vũ Trọng Phụng, bởi giọng văn của ông thực sự rất riêng, riêng từ cái cách sử dụng từ ngữ, sử dụng hình ảnh, nó vừa hài hớc, gây cời, vừa gai góc, sắc lạnh, nhng lại cũng rất tình cảm và đầy tính triết lý

Trang 32

2.1.1 Nhân vật trong tiểu thuyết

Nếu nh nhà khoa học khái quát cuộc sống bằng những công thức, những khái niệm thì nhà văn khái quát hiện thực cuộc sống bằng nhân vật Đó là cách khái quát qua cái cụ thể, cảm tính Khi nhà văn muốn phát biểu quan điểm của mình về hiện thực thì không trực tiếp nói ra mà thông qua việc tái hiện số phận nhân vật để nói cái khái quát ấy Những nhân vật đợc xây dựng nhằm tái hiện lại tính cách tiêu biểu của cả một thời đại, tái hiện lại cả bức tranh đời sống vô cùng rộng lớn

Trong các loại hình nghệ thuật chỉ có văn học mới thể hiện con ngời một cách toàn vẹn nhất, sinh động nhất, dù tất cả những loại hình nghệ thuật ấy đều nhằm hớng tới những biểu hiện của cuộc sống con ngời Bởi trong tác phẩm văn học, thông qua chất liệu ngôn từ, nhân vật đợc hiện lên một cách toàn diện nhiều mặt từ ngoại hình, nội tâm, lời nói, hoạt động, ngoại cảnh Tuy nhiên không phải trong văn học, ở bất cứ thể loại nào, nhân vật cũng đợc xây dựng

nh nhau, bởi nó phụ thuộc vào đặc trng thể loại

Nhân vật trong tiểu thuyết là những nhân vật đợc xây dựng một cách tỉ

mỉ và toàn diện bởi tiểu thuyết nhìn cuộc đời dới góc độ đời t của con ngời Nhân vật trong tiểu thuyết là những nhân vật đợc quan tâm khắc hoạ, mô tả trực tiếp về ngoại hình Đó là những con ngời cụ thể, gắn với hình hài riêng từ mắt, mũi, miệng, dáng hình, điệu đi, quần áo Tác giả có thể đi sâu vào miêu tả chi tiết một đôi mắt, một mái tóc, một hàm răng hay một làn da Và những chi tiết

Trang 33

về ngoại hình này nó nhằm thể hiện quan niệm của nhà văn về cuộc đời và con ngời

Hành động của nhân vật đợc thể hiện một cách rõ ràng bởi hành động là kết quả của quá trình nhận thức Khi đặt nhân vật vào những sự kiện, biến cố để cho nhân vật hành động là một cách cốt truyện đợc triển khai Xây dựng nhân vật tiểu thuyết, tác giả rất chú ý cho nhân vật thể hiện hành động của mình

Bên cạnh ngoại hình, hành động, ngôn ngữ của nhân vật cũng đợc chú trọng, bởi thông qua ngôn ngữ, ngời ta có thể hiểu đợc một cách chân thực nhiều mặt của chủ thể đó nh nghề nghiệp, trình độ, tình cảm, quan điểm Với những nhà văn có tài, ngôn ngữ nhân vật là một biện pháp chủ đạo Có thể chỉ cần một câu nói, ngời đọc đã hiểu đợc một phần con ngời nhân vật

Thế giới nội tâm của con ngời là một thế giới vô cùng phong phú, phức tạp, đầy bí ẩn với những biến thái tế vi Nhờ có ngôn từ mà văn học thâm nhập

đợc vào thế giới bên trong của con ngời, cắt nghĩa những động lực bí ẩn của nó

và qua đó nhân vật đợc hiện lên tròn trịa hơn Thế giới nội tâm của nhân vật trong tiểu thuyết đợc xây dựng nh một quá trình, có điểm đầu, có phát triển, có biến động, có đấu tranh nội tâm, có mâu thuẫn, có sự giằng xé tâm lý theo sự kiện lịch sử xã hội Có khi cả cuốn tiểu thuyết đợc xây dựng trên cơ sở phát triển của quá trình phát triển tâm lý của một nhân vật chính mà ngời đọc vẫn không cảm thấy nhàm chán Đây là một thế mạnh riêng của văn học so với loại hình nghệ thuật khác

Con ngời luôn để lại dấu ấn của mình ở môi trờng mình sống, và thông qua môi trờng ấy, ngoại cảnh ấy cách nhìn cuộc sống, t tởng, tính cách nhân vật

đợc hiện lên Vì thế miêu tả môi trờng sống là một cách khắc hoạ rõ nét hơn nhân vật trong tiểu thuyết

Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết rất phong phú và nhiều kiểu dạng Nhân vật thuộc những giai cấp khác nhau, lĩnh vực chuyên môn khác nhau, thế

hệ khác nhau Đó là một thế giới nhân vật nhiều tầng bậc, số lợng nhân vật phụ là rất nhiều, nó làm nên nhiều chi tiết, nhiều sự kiện, nhiều điểm nút, mắt

Trang 34

nối theo yêu cầu đòi hỏi của quy mô tiểu thuyết Điều quan trọng là dù có thể bắt đầu từ một hình mẫu nào đấy nhng những nhân vật trong tiểu thuyết là những nhân vật đợc tạo nên từ sự h cấu, từ trí tởng tợng hợp lý của nhà văn

2.1.2 Nhân vật trong phóng sự

Là một thể loại nhỏ trong ký, phóng sự cũng mang đặc trng của ký Là một thể loại có đặc trng là ngời thật, vì thế nhân vật trong phóng sự là những nhân vật không đòi hỏi phải mô tả một cách cụ thể ở tất cả các mặt, nhân vật ít

đợc chú ý đến ngoại hình, thế giới nội tâm không chú trọng Càng nhiều nhân vật phụ càng làm giãn tính tập trung của thể loại Sức mạnh của thể ký nói chung và trong phóng sự nói riêng chính là sức sống nội tại của nguyên mẫu hiện thực Bản thân quy luật vận động đời sống đã lựa chọn cho nhà văn những con ngời, những sự kiện mang tính điển hình Những nguyên mẫu, những t liệu sống động ấy của cuộc đời dới ngòi bút của tác giả đã trở thành những điển hình có tầm khái quát cao Từ những “ngời thật, việc thật” ấy đã cảm hoá lòng ngời, mang đến nhận thức và niềm tin cho độc giả, góp phần đắc lực vào việc phản ánh trung thực những vấn đề bức xúc, nóng hổi nhất của đời sống hàng ngày

2.1.3 Tổ chức thế giới nhân vật trong phóng sự Vũ Trọng Phụng

2.1.3.1 Nhìn chung về thế giới nhân vật trong phóng sự Vũ Trọng Phụng

Thế giới nhân vật trong phóng sự Vũ Trọng Phụng là một thế giới đông

đảo, chủ yếu là nhân vật đám đông Đó là một đạo quân rách rới, nhếch nhác, dắt díu nhau ở chợ bán ngời Hà Nội với những mụ chủ thầu hết sức xảo quyệt

Họ là những ngời nông dân gắn bó với đồng quê, bị cái đói xua đuổi đã bơn bả

ra Hà thành hoa lệ mong kiếm đợc một công việc để có đồng công duy trì sự tồn tại, với những điều kiện tối thiểu nhất là miếng ăn chống đói và chỗ ngủ qua

đêm Những em nhỏ thơ ngây đợc đặc tả nh những cô hồn đói khát, nhớp nháp,

ăn chực nằm chừ để mà hy vọng đợc bán sức lao động ngang với giá súc vật

Trang 35

Thế nhng, than ơi! Hà Nội phồn hoa rực rỡ ánh đèn đã “cất tiếng gọi dân quê bỏ những nơi đồng khô cỏ héo đến đây để chết đói lần một thứ hai sau khi bỏ cửa,

bỏ nhà Nó làm cho giá con ngời ngang hàng với giá loài vật Nó đã làm cho bọn trẻ đực vào nhà hoả lò và một bọn trẻ cái làm nghề mại dâm!” [34,16]

Đọc phóng sự Vũ Trọng Phụng, ngời đọc nhìn thấy những ngời đàn bà

n-ớc thuộc địa An Nam với đầy đủ hình dạng, to béo hay gầy nhẵng, nhỏ thó, xinh đẹp hay xấu xí, khôn ngoan hay đần độn, khéo léo hay vụng về Họ ở đủ mọi lứa tuổi, già có, trẻ có, đang trong tuổi “nghề” và đã hết tuổi “nghề” Những ngời đàn bà vốn dĩ xuất thân lơng thiện, trớc kia có ngời đã có thời thanh xuân hoa mộng, kẻ đón ngời đa Nay họ trở thành những me Tây- những bà vợ Tây mà thực chất chỉ là “một thứ gái bao kiêm đầy tớ có thời hạn cho những tên lính viễn chinh đủ màu da hung hãn và nát rợu” “Vợ” và “chồng”, tình nghĩa giữa hai từ ấy đợc xác định bằng tiền mà ngời đàn ông đa về để nuôi sống ngời

đàn bà và những đứa con cả của chung và cả riêng Tiền hết, cái mối nhân duyên mua bán ấy cũng hết và tồn tại đằng sau đó là khuôn mặt bầy trẻ con lai vô tội, lít nhít, thiếu sự yêu thơng, chăm sóc Chúng thậm chí không biết cả bố mình là ai

Không dới danh nghĩa vợ chồng, những ngời đàn bà trong nhà Lục sì lại

là những ngời mua đứt bán đoạn ái tình với bất kể ngời đàn ông nào có đủ tiền

để trả cho một cuộc mây ma Từ những anh lính da trắng cao to, đẹp trai hay những chàng da đen nát rợu, từ ông tham, ông ký, ông cai, lính lệ đến những anh chàng phu xe chạy mớt mồ hôi họ vẫn chấp nhận bán thân để đổi tiền, thậm chí số tiền ấy chỉ là vài hào lẻ Và kết quả của những cuộc mua bán đấy là ngời đàn bà làm nghề bán thân nuôi miệng phải vào nhà Lục sì để “cải tạo và học tập”, để đọc ra rả những bài học về “vệ sinh nam nữ và giao cấu học đờng”,

để đợc cấp giấy phép hành nghề một cách quang minh chính đại Chen chân vào

đó là bóng dáng của những cô cậu trai thanh gái lịch Hà thành, trốn bố mẹ dắt

Trang 36

nhau đi ngủ săm rồi tình cờ mà đợc vào nhà lục sì, rồi tình cờ mà nghi ngờ nhau, ghen tuông nhau.

Không phải chỉ có bọn cơm thầy cơm cô, không phải chỉ có me Tây, gái

điếm, tồn tại chung trong thế giới nhân vật ở phóng sự Vũ Trọng Phụng là những nhân vật trong làng bịp Đó là ấm B, Ký Vũ, Ba Mỹ Ký, Xuân, Vân, Cả ủn Kế sinh nhai của những con ngời này là “đi săn mòng”, là thiết kế, sáng tạo đủ các ngón nghề cờ gian bạc lận để có thể “nhét đất thó vào mũi thiên hạ

mà lấy tiền” Họ là những đệ tử trung thành của thần Đổ Bác Lòng trung thành khiến một ông bố đem số tiền đi bốc thuốc cho đứa con ốm sắp chết ở nhà nớng hết vào canh bạc đỏ đen, để khi rũ rợi nh một cái xác quay về vẫn không biết mình bị bịp bởi đứa cháu ruột; một đứa con dẫn bịp về nhà để moi tiền của bố;

đàn bà dẫn nhân tình giả vào cuộc đỏ đen cho nhân tình thật “thịt” Lòng trung thành đã khiến những con ngời này đổ dồn thời gian, tâm huyết, sức lực và niềm say mê sáng tạo để có thể tạo ra khí giới tối u phục vụ cho những cuộc đi “chinh phạt”, đi “săn mòng” của quân tớng làng bịp Lòng trung thành khiến dân bịp cảm thấy bực mình vì tiếc nuối khi phải bỏ lỡ một buổi “săn mòng” chỉ vì phải

đa tang một lính chiến trong làng bịp về với nơi bắt đầu và cũng là nơi kết thúc một cuộc đời

Thế giới nhân vật trong phóng sự Vũ Trọng Phụng còn là hình ảnh những quan huyện, lục sự, thầy nho lỡ thời, cai cơ, lính lệ - cả một bộ máy chính quyền móc ngoặc tham nhũng, “tống tiền trắng trợn”, “ăn cớp có giấy phép” ở các làng xã buộc các chức sắc địa phơng phải hối lộ cho chúng mới đợc yên thân

Nhân vật trong phóng sự của Vũ Trọng Phụng chịu sự tác động của hoàn cảnh sống Họ chấp nhận sự sa ngã, mang trong mình t tởng thù đời và luôn biện minh cho hành động của mình

Con sen Đũi (Cơm thầy cơm cô) đã từng phân bua: “Thân tôi đến nỗi thế

này có phải tại tôi đâu? Mà cái thân tôi đã đến nớc này thì tôi còn giữ gìn làm

Trang 37

gì mà tôi chả đâm đầu vào cái nghề hoa nguyệt cho bõ dây oan một phen” [34,38].

ấm B (Cạm bẫy ngời) thì nói: “Tha ông nếu tôi có thật không ra gì thì

cái đó cũng chẳng phải lỗi tự tôi, tôi đã bị hại về hoàn cảnh xấu của xã hội” [34,216]

ái (Kỹ nghệ lấy Tây) thì biện hộ: “Tấm thân nh hòn ngọc có vết rồi,

không bao giờ tôi dám nghĩ đến việc lấy một ngời chồng tử tế nữa Khi một

ng-ời đã sa ngã, hoặc tự mình, hoặc do ngng-ời khác xô đẩy cũng vậy, đã ngã một làn rồi là cứ ngã mãi” [34,453]

Hoàn cảnh sống nh một chiếc giá đỡ, nhng cũng nh bàn tay xô đẩy từ phía sau làm cho nhân vật sa ngã mà không có cách gì kháng cự, không có cách gì để đứng dậy Họ ngồi luôn ở đấy nhìn cuộc đời với ánh mắt thù hằn và nuôi ý

định trả thù và sẵn sàng trả thù khi có cơ hội Chính vì thế mà ấm B đã nói:

“Tôi đã khốn khổ, ê trệ - ê trệ nhiều phen lắm hai ông ạ - cho nên chính ngày nay tôi đang trả thù cái bọn đã làm tôi h hỏng, đã ngăn rào mọi đờng công danh tiến thủ của tôi Đó có là công lý không? Tôi tởng làm việc thiện để đền ơn việc thiện, lấy việc ác để trả nghĩa việc ác, ấy mới là biết sống ở đời ” [34,217] Bà Kiểm Lâm (Kỹ nghệ lấy Tây) cũng phát biểu: “Hạng ngời chúng tôi là hạng ng-

ời bỏ đi ông ạ Dù xã hội không khinh đi chăng nữa, chúng tôi cũng đã tự biết phận mình Bây giờ nghèo hèn, tôi cũng chẳng sợ ai cời, chỉ cố chí làm giàu để sau này có thể ở ác đợc lại với những kẻ đã khinh tôi mà thôi” Con sen Đũi cũng nói: “Thoạt đầu cũng muốn xin ra ngay Thế nhng mà về sau, nghĩ rằng mình cần báo thù, có báo thù đợc mới hả dạ nên tôi cứ nhẫn nhục ở lại làm anh

ạ” [34,32]

Khuynh hớng khái quát triết lý chi phối mạnh mẽ đến hệ thống nhân vật trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng Hầu nh nhân vật nào trong tác phẩm của

ông cũng là một “triết gia” hiểu theo nghĩa thích suy luận, khái quát bất kể ngời

đó là nông dân, gái điếm, me Tây, trùm bạc bịp hay thầy cai, thầy phán Tất nhiên mỗi ngời có một giọng điệu triết lý riêng song ở họ ta thấy đợc quan điểm

Trang 38

bất cần Họ cho rằng chính xã hội, chính xã hội đã làm thay đổi cuộc đời họ, biến cuộc đời họ từ hớng đi bằng phẳng, bình an, hay thăng tiến rẽ vào ngõ cụt, quay ra cũng không đợc mà tiến cũng không xong Họ luôn mặc cảm mình là những ngời đã bị bỏ đi, có cố để đứng lên cũng không đứng lên đợc nữa, vì thế

họ cũng không cần đếm xỉa đến ngời khác, tự làm những việc mà mình cho là phải

Có thể thấy rằng, nhà văn đã tôn trọng nguyên tắc của chủ nghĩa hiện thực, gắn con ngời với hoàn cảnh sống, môi trờng sống cụ thể Và chính trong hoàn cảnh sống, môi trờng sống “có vấn đề” sẽ bắt buộc nhân vật thể hiện bản chất, tính cách thật của mình Cái t tởng trả thù đời của những nhân vật này nó bắt nguồn từ “sự cô độc, sự lo sợ, sự hiếp đáp của kẻ khác, sự thèm thuồng những cái mình chẳng bao giờ có dần dần làm cho trò Tý (tên sữa của Vũ Trọng Phụng) càng ngày càng trở nên xa lánh mọi ngời và lòng cậu càng rắn lại vì thù ghét Cái mầm phẫn uất ấy trong tâm hồn Vũ Trọng Phụng cứ lớn dần lên cùng với thời gian Đến khi Vũ Trọng Phụng cầm bút thì cái căn bệnh ấy căm ghét uất ức ấy phá tung ra ngoài, chảy tràn ra trên những trang viết “và thấm vào nhân vật” [40,108]

Là một thế giới nhân vật đông đảo, song những nhân vật của Vũ Trọng Phụng không ai lẫn vào ai, không ai bị nhoè mờ Mỗi nhân vật là một nét riêng

Họ nói bằng đủ giọng, nhng mỗi nhân vật có một giọng điệu riêng của mình, cách nói riêng của mình Ngời đọc chỉ cần nghe nhân vật nói cũng đủ hình dung

ra nhân vật Chính vì thế ngời đọc có cảm giác đợc tiếp xúc, đợc đối thoại với rất nhiều ngời Sự đa dạng phong cách ấy làm cho ngời đọc cảm thấy thích thú, bởi họ có thể nhìn thấy rất nhiều, nhìn ra rất nhiều vấn đề mà nếu chỉ một ngời

sẽ không giúp họ thấy điều đó

2.1.3.2 Xu hớng tiểu thuyết hóa trong tổ chức nhân vật

Trong thế giới nhân vật đông đảo, sống động, đa dạng nh một bức tranh

đầy màu sắc ấy, có những nhân vật hiện lên với những nét bút phác thảo, nhng

Trang 39

cũng có không ít những nhân vật đợc xây dựng với bút pháp mang hơi hớng của tiểu thuyết đã trở thành một hình tợng nhân vật sống động - nhân vật tiểu thuyết Kết cấu mở của thể loại đã cho phép phóng sự Vũ Trọng Phụng đề cập

đến những sự kiện trong một quãng đời hay cả cuộc đời nhân vật Chính vì thế, trong phóng sự của nhà văn họ Vũ, ta có thể thấy những nhân vật có số phận, ít nhiều có lôgic tính cách và những nhân vật mang dáng dấp “điển hình hoá”

* Nhân vật có số phận, ít nhiều có logic tính cách

Trong Cơm thầy cơm cô, con sen Đũi hiện lên là một nhân vật có một số

phận khá hoàn chỉnh Ngời đọc có thể tóm tắt cuộc đời cô ta nh sau: Đũi sinh ra

và lớn lên ở một vùng nông thôn nghèo, nhng cũng biết Hán tự khá nhiều Khi cô ta 10 tuổi thì cô là con một bác Nhiêu ngang ngạnh trong làng Cả làng không ai trị nổi bác Nhiêu Năm 12 tuổi, bác Nhiêu trở thành ông lý trởng

“cứng cổ ra phết” và nghiễm nhiên cái Đũi trở thành con một ông lý Thế nhng sau khi “ông Lý là ông Lý, thì cũng nh từ khi loài ngời là loài ngời, của cải của

ông Lý cứ việc từ trong nhà “đội nón ra đi” Con ông Lý đội nón ra tỉnh đi ở 13 tuổi con sen ở với một me Tây hết duyên, về già nhng dâm đãng và xấu xa Me Tây đã biến con sen của mình trở thành một món hàng bán cho khách làng chơi lấy tiền Cái Đũi “gặp nạn” nhng không thể làm gì vì sợ phải ngồi tù ấy trớ trêu thay cho cái sự đời, ngời bị hại không dám kiện vì sợ kẻ hại mình sẽ làm cho mình ngồi tù mọt gông Sau cái biến cố ấy, con sen Đũi bỗng trở nên thay

đổi Đi làm con ở cho nhà giàu, gặp ngay phải chủ nhà keo kiệt, độc ác Cái Đũi nảy sinh t tởng trả thù Nó trả thù bằng cách xô cả hai đứa con nhà chủ vào trò chơi ái tình để moi tiền Cái Đũi trở nên dạn dĩ, khôn ngoan hơn, tính toán từng hành động để đem lại kết quả cao nhất Một logic tính cách với sự phát triển, thay đổi bài bản và hợp quy luật Đầu tiên đi ở là sự lo lắng muốn giúp đỡ ngời thân, sau đó là sự an thân, cố gắng chăm chỉ kiếm tiền, sau đấy là tâm lý trả thù

đời và tìm mọi cách để trả thù và cô ta trả thù đợc Và rồi trong suy nghĩ của cái

Đũi lại nảy sinh ham muốn mới, tham vọng mới, đó là tìm mọi cách để đợc làm

Trang 40

cô đầu hòng thay đổi cuộc đời, để có thể đợc yêu chiều mà ngồi lên đầu thiên hạ

“Tôi muốn cho chúng nó phải mê tôi, yêu tôi, bắt nhân tình với tôi, chiều chuộng tôi kia Rồi anh xem, con này mà lên làm nhà tơ thì rồi nhiều thằng khổ” [34,41]

Cha thật sự có chiều sâu, song ở nhân vật con sen Đũi đã có những bớc phát triển tâm lý khá rõ ràng Nhân vật phải lăn lộn, phải nếm trải cay đắng, sóng gió cuộc đời, bị cuộc đời xô đẩy, quăng quật, nhân vật rút ra đợc bài học kinh nghiệm cho bản thân, rút ra đợc những triết lý khá sâu sắc ở đời “Đang phải hầu hạ ngời ta mà nhảy tót lên ngang hàng với ngời ta! Làm nhà trò thời mới có phen lên làm bà Phán, bà Ký, chỉ làm con sen thôi thì khổ lắm anh ạ”,

“úi, chao ơi, càng những quân giàu có thì lại càng keo bẩn, chó đểu không ra loài ngời” [34,30]

Bên cạnh số phận con sen Đũi là số phận của bà Đồng Đền ở phủ Lạng

Số phận của nhân vật này có lịch sử rất ly kỳ, gây ngạc nhiên cho tất thảy mọi ngời Từ cái thời “mơn mởn đào tơ”, bà Đồng đền bây giờ có tên là bà T Bạc Nhan sắc của bà thuộc loại “mẫu dạ xoa” Bà làm bạn dăm năm với một ngài sắng đa - một con ngời mà mỹ thuật cha phát triển, đẻ đợc một cô con gái Vài năm sau, ông sắng đa về nớc rồi chẳng thấy sang Lại vài năm sau, bà bèn lấy

“lá gió cành chim” ra làm một nghề Sau một lần hầu hạ quan T thầy thuốc, bà trở thành vợ quan T mà không biết là do sự thơng hại hay ái tình Lại vài năm sau, ông quan T về nớc rồi cũng chẳng trở lại Năm sau bà đi bớc nữa, ngời này cũng quay về mẫu quốc sau một thời gian Lần này bà đành thủ tiết Điều đáng nói là ông nào về nớc cũng để lại cho bà nào là nhà gạch đầy dẫy, bạc đầy rơng

Bà ôm đống tài sản trong tay, kén rể hiền An Nam để mai sau chôn cất cho mình tử tế Anh giáo học về làm rể cho đợc dăm năm đã cầu trời khấn Phật vật chết mẹ vợ Bà biết nhng chẳng đếm xỉa gì đến “chỉ ngày đêm “tấu lạy Vua mẫu” xin ban ơn cho dân gian, múa vung khói nhang mà hé hé hé!”

Suzanne - một cô đầm lai xinh xắn Từ khi sinh ra đến khi trở thành thiếu nữ cô không hề biết mặt bố mình là ai Hiện lên giữa những ngời đàn bà làm nghề lấy chồng Tây, Suzanne nh đứng về một thái cực khác Cô hiểu đời và

Ngày đăng: 21/12/2013, 12:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tạ Duy Anh (2000), Nghệ thuật viết truyện ngắn và ký, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật viết truyện ngắn và ký
Tác giả: Tạ Duy Anh
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2000
2. M.Arnauđôp (1978), Tâm lý học sáng tạo văn học, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học sáng tạo văn học
Tác giả: M.Arnauđôp
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1978
3. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
4. M. Bakhtin (Phạm Vĩnh C dịch, 1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
5. M. Bakhtin (1993), Những vấn đề thi pháp của Đoxtoiepxki, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp của Đoxtoiepxki
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
6. Nguyễn Văn Dân (2004), Phơng pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phơng pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2004
7. Đinh Trí Dũng (2000), Một số vấn đề của lịch sử văn học Việt Nam từ 1900 - 1945, Đại học Vinh, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề của lịch sử văn học Việt Nam từ 1900 - 1945
Tác giả: Đinh Trí Dũng
Năm: 2000
8. Đinh Trí Dũng (2005), Nhân vật tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng, Nxb Khoa học Xã hội - Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân vật tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng
Tác giả: Đinh Trí Dũng
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội - Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây
Năm: 2005
9. Đặng Anh Đào (1994), Tài năng và ngời thởng thức, Nxb Hội Nhà văn, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài năng và ngời thởng thức
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1994
10. Phan Cự Đệ (chủ biên, 2004), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ XX
Nhà XB: Nxb Giáo dục
11. Hà Minh Đức (1998), Văn học Việt Nam hiện đại, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1998
12. Hà Minh Đức (chủ biên, 2001), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
13. Hoàng Ngọc Hiến (1992), Năm bài giảng về thể loại, Trờng Viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năm bài giảng về thể loại
Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến
Năm: 1992
14. Trần Văn Hiến (2000), Ba phong cách trào phúng trong văn học Việt Nam - Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba phong cách trào phúng trong văn học Việt Nam - Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao
Tác giả: Trần Văn Hiến
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
15. Đỗ Văn Khang (chủ biên, 1997), Mỹ học đại cơng, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ học đại cơng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
16. Nguyễn Hoành Khung (1997), Tổng tập văn học Việt Nam, tập 29B, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng tập văn học Việt Nam, tập 29B
Tác giả: Nguyễn Hoành Khung
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1997
17. Tam Lang (2002), Làm dân, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm dân
Tác giả: Tam Lang
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2002
18. Trọng Lang (2002), Tôi kéo xe, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôi kéo xe
Tác giả: Trọng Lang
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2002
19. Phơng Lựu (chủ biên, 1997), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
20. Vũ Thị Thanh Minh (2006), “Một số đặc điểm của phóng sự Việt Nam giai đoạn 1932 - 1942”, Văn học, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm của phóng sự Việt Nam giai đoạn 1932 - 1942”, "Văn học
Tác giả: Vũ Thị Thanh Minh
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w