1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn ảnh hưởng tương tác của rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản đến sự ổn định của các ngân hàng thương mại cổ phần việt nam

78 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đến những năm gần đây, qua nhiều năm, với nhiều kinh nghiệm được rút ra, NHNN đã xây dựng các chính sách nhằm kiểm soát chặt chẽ việc cấp tín dụng của các NHTM, kiểm tra mục đích rút vốn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN VŨ TRƯỜNG

ẢNH HƯỞNG TƯƠNG TÁC CỦA RỦI RO TÍN DỤNG VÀ RỦI RO THANH KHOẢN ĐẾN SỰ ỔN ĐỊNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN VŨ TRƯỜNG

ẢNH HƯỞNG TƯƠNG TÁC CỦA RỦI RO TÍN DỤNG VÀ RỦI RO THANH KHOẢN ĐẾN SỰ ỔN ĐỊNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính–Ngân hàng (Hướng ứng dụng)

Mã số: 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS NGUYỄN THỊ NGỌC TRANG

TP Hồ Chí Minh – 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan bài luận văn thạc sĩ kinh tế hướng ứng dụng với chủ đề “Ảnh hưởng tương tác của rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản đến sự ổn định của các Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam” là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi theo sự chỉ dạy, hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Trang Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là chính xác, có nguồn gốc

rõ ràng và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung và tính trung thực của luận văn này

TP Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 06 năm 2019

Nguyễn Vũ Trường

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG, DANH MỤC HÌNH

TÓM TẮT ĐỀ TÀI

ABSTRACT

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 4

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

1.5 Mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 5

1.6 Nội dung đề tài 6

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM 7

2.1 Cơ sở lý thuyết 7

2.1.1 Sự ổn định của Ngân hàng 7

2.1.2 Khái niệm rủi ro và phân loại các loại rủi ro cơ bản trong hoạt động của Ngân hàng 8

2.1.3 Rủi ro thanh khoản tác động đến sự ổn định của Ngân hàng 11

2.1.4 Rủi ro tín dụng tác động đến sự ổn định của Ngân hàng 14

2.2 Tổng quan về mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản và ảnh hưởng của sự tương tác này đến sự ổn định của Ngân hàng 17

2.2.1 Mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản 17

2.2.2 Ảnh hưởng mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản đến sự ổn định của Ngân hàng 20

Trang 5

2.3 Tình hình quản trị rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản tại các Ngân hàng

Thương mại Cổ phần Việt Nam 23

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 30

3.1 Mô hình nghiên cứu 30

3.2 Mô tả biến 33

3.2.1 Biến phụ thuộc 33

3.2.2 Biến độc lập 33

3.2 Dữ liệu 39

3.3 Phương pháp nghiên cứu 42

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43

4.1 Thông kê mô tả biến 43

4.2 Mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản 46

4.3 Tác động của mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản đến sự ổn định của các Ngân hàng Thương mại Cổ phần tại Việt Nam 48

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN 56

5.1 Kết luận 56

5.2 Một số nội dung đề xuất giải pháp và khuyến nghị 57

5.3 Hạn chế của đề tài 59

5.4 Hướng phát triển của đề tài 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC: KẾT QUẢ CHẠY MÔ HÌNH HỒI QUY

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

NHTM Ngân hàng Thương mại Commercial Bank

NHNN Ngân hàng Nhà nước Việt Nam The State Bank of Viet Nam NHNNg Ngân hàng nước ngoài Foreign Bank

RRTK Rủi ro thanh khoản Liquidity Risk

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2-1 Rủi ro chính các tổ chức tài chính vi mô phải đối mặt 10

Bảng 2-2 Tỷ lệ nợ xấu của 20 NHTM trong năm 2018 28

Bảng 3-1 Mô tả biến phụ thuộc 36

Bảng 3-2 Danh sách các Ngân hàng trong mẫu nghiên cứu 40

Bảng 4-1 Thống kê mô tả biến 43

Bảng 4-2 Ma trận tương quan giữa các biến 45

Bảng 4-3 Kết quả hồi quy tương tác giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng 47

Bảng 4-4 Kiểm định tính vững bởi mô hình PVAR 48

Bảng 4-5 Tác động rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng đến sự ổn định của ngân hàng 49

Bảng 4-6 Tổng hợp tỷ lệ thanh khoản của các Ngân hàng trong năm 2018 53

DANH MỤC HÌNH Hình 2-1 Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng của top 10 NH năm 2017 - 2018 27

Hình 2-2 Số dư nợ xấu của 20 NHTM trong năm 2018 28

Trang 8

TÓM TẮT ĐỀ TÀI

Ngân hàng thương mại là tổ chức tài chính có vai trò quan trọng trên thị trường tài chính, luôn bị tác động bởi nhiều yếu tố, trong đó rủi ro là yếu tố được đề cập Luận văn này sẽ chỉ ra các loại rủi ro tác động đến sự bất ổn của Ngân hàng, trong

đó, tiêu biểu là rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản Ngoài ra, xem xét sự tương tác giữa hai loại rủi ro này và tác động của sự tương tác này đến sự ổn định của Ngân hàng Với phương pháp hồi quy ước lượng dữ liệu dạng bảng, chủ yếu bằng GMM, nghiên cứu đối với 26 Ngân hàng TMCP tại Việt Nam trong giai đoạn 2007 - 2018,

mô hình nghiên cứu cho thấy có sự tác động cùng chiều giữa rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản Rủi ro tín dụng tăng thì làm giảm sự ổn định của ngân hàng và thanh khoản tăng làm Ngân hàng ổn định hơn Ngoài ra, luận văn có thể xác định được giá trị thanh khoản có thể bù đắp cho rủi ro tín dụng mà Ngân hàng đang gánh chịu nhằm tạo sự ổn định của Ngân hàng Luận văn đưa ra cho nhà hoạch định chính sách các khuyến nghị, biện pháp nhằm chủ động trong việc giám sát và phòng ngừa rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản

Từ khóa: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, sự ổn định của Ngân hàng

Trang 9

ABSTRACT

Commercial banks are financial institutions with an important role in the financial market, always affected by many factors, of which risk is the mentioned factor This thesis will point out the types of risks affecting the instability of the Bank,

in which, typically credit and liquidity risks In addition, consider the interaction between these two types of risks and the impact of this interaction on the stability of the Bank With the regression method of estimating tabular data, mainly by GMM, research for 26 commercial banks in Vietnam in the period of 2007-2018, the research model shows a positive relationship between credit risk and liquidity risk Increasing credit risk reduces stability of banks and increased liquidity makes the Bank more stable In addition, the thesis can determine the liquidity value that can compensate for the credit risks that the Bank is facing in order to create stability of the Bank The dissertation gives policy makers recommendations and measures to be proactive in monitoring and preventing credit and liquidity risks

Keywords: credit risk, liquidity risk, bank stability.

Trang 10

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI

1.1 Đặt vấn đề

Ngành ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính ở hầu hết các quốc gia (San và Heng, 2013) Các ngân hàng góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của một quốc gia bằng cách huy động các nguồn vốn từ các đối tượng có vốn nhàn rỗi và sử dụng các nguồn vốn này để tài trợ cho hầu hết các ngành sản xuất của nền kinh tế (Alkhazaleh và Almsafir, 2014) Với vai trò quan trọng bậc nhất trong nền kinh tế của mình, Ngân hàng luôn gánh chịu sự nguy hiểm trong sự ổn định của từng Ngân hàng, đòi hỏi các nhà quản lý bắt buộc phải có những chính sách trong việc quản trị rủi ro của Ngân hàng, hạn chế sự tác động cả yếu tố bên trong lẫn bên ngoài, đặc biệt là các cuộc khủng hoảng tài chính

Cuộc khủng hoảng tài chính gần đây đã dẫn đến những thất bại của ngân hàng, tác động tiêu cực đến nền kinh tế thực Do đó, một sự chú ý đặc biệt đến hậu quả của

sự bất ổn tài chính đối với nền kinh tế đã được thiết lập (Agnello & Sousa, 2012) Hơn nữa, trong nền kinh tế thị trường không hoàn hảo, bắt buộc phải bảo vệ người gửi tiền trước những thất bại của ngân hàng (Dewatripont & Tirole, 1994) Do đó, hệ thống ngân hàng cần xác định các yếu kém của ngân hàng Mặt khác, các ngân hàng phải chịu một số rủi ro tài chính Theo Cecchetti và Schoenholtz (2011), những rủi

ro tài chính này bao gồm việc người gửi tiền sẽ đột ngột rút tiền gửi (rủi ro thanh khoản), người vay sẽ không trả nợ đúng hạn (rủi ro tín dụng), lãi suất sẽ thay đổi (rủi

ro lãi suất), hệ thống máy tính của ngân hàng sẽ sụp đổ hoặc các tòa nhà của họ sẽ bị đốt cháy (rủi ro hoạt động) Tuy nhiên, trong số những rủi ro này, rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản không chỉ là rủi ro quan trọng nhất mà các ngân hàng gặp phải mà còn liên quan trực tiếp đến những gì ngân hàng làm và nguyên nhân tại sao ngân hàng thất bại

Tại Việt Nam, một nền kinh tế đang phát triển mạnh mẽ với sự lớn mạnh của các chủ thể tài chính cũng bộc lộ nhiều yếu điểm Hoạt động thị trường tài chính góp phần thúc đẩy nhưng cũng mang lại nhiều rủi ro cho các tổ chức tài chính trong đó

Trang 11

chính là các Ngân hàng Thương mại Cổ phần Các NHTM ở Việt Nam có vai trò chính như một tổ chức điều tiết nguồn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt mở rộng, kết nối được nền kinh tế Việt Nam với các quốc gia và khu vực khác trên thế giới thông qua các chức năng đặc thù, hoạt động cấp tín dụng, tài trợ vốn cho nền kinh tế Trong những khoảng thời gian gần đây, các NHTM luôn gặp phải nhiều khó khăn khi áp lực cạnh tranh trên thị trường càng lớn, số lượng NHTM gia tăng nên việc làm thế nào để vừa hoạt động hiệu quả, vừa kiểm soát được ngành nghề gắn liền liền với rủi ro này, đặc biệt trong việc quản trị nhằm đảm bảo sự ổn định của Ngân hàng

Nhắc đến sự ổn định của các Ngân hàng TMCP tại Việt Nam, chúng ta thường

sẽ nghĩ đến vấn đề đầu tiên đó là nợ xấu Nợ xấu như là một sợi dây chun có thể siết chặt Ngân hàng trong bất cứ trường hợp nào nếu Ngân hàng không thể đảm bảo rằng

có thể quản lý được nợ xấu đó Đa số các NHTM tại Việt Nam gặp khó khăn khi không đủ thanh khoản để bù đắp cho nợ xấu đã xảy ra dẫn đến nguy cơ phá sản, hoạt động yếu kém buộc phải sáp nhập, hợp nhất Điển hình, vào tháng 12/2011, ba ngân hàng Đệ Nhất, Tín Nghĩa và Sài Gòn sáp nhập hình thành nên Ngân hàng TMCP Sài Gòn Nguyên nhân là do ba ngân hàng có vốn chỉ 1000 tỷ đồng này gặp khó khăn về thanh khoản, dùng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn Vào tháng 8/2012, Ngân hàng TMCP Phát triển nhà Hà Nội (Habubank) bị sáp nhập vào Ngân hàng Sài Gòn-

Hà Nội (SHB) vì khi đó Habubank được cho là ngân hàng có nợ xấu cao 32% do cho khách hàng Vinashin vay khoảng 3.700 tỷ đồng không có khả năng trả nợ Đến những năm gần đây, qua nhiều năm, với nhiều kinh nghiệm được rút ra, NHNN đã xây dựng các chính sách nhằm kiểm soát chặt chẽ việc cấp tín dụng của các NHTM, kiểm tra mục đích rút vốn của các doanh nghiệp, giúp cho Ngân hàng có thể quản trị được rủi

ro mà có thể gặp phải, ảnh hưởng mạnh mẽ đến hiệu quả hoạt động kinh doanh.Các NHTM luôn xác định rằng, rủi ro tín dụng là điều mà họ chắc chắn phải đối diện vì khi cho vay, họ không thể dự phóng và biết trước được trong tương lai khách hàng sẽ như thế nào để đảm bảo được rằng sẽ thu hồi toàn bộ vốn mà họ đã cấp cho khách hàng, nên việc gặp rủi ro tín dụng là điều rất dễ gặp phải Khi NHTM bị tác động bởi

Trang 12

rủi ro tín dụng sẽ kéo theo những vấn đề khác như thanh khoản của Ngân hàng, tài sản, tỷ lệ an toàn vốn đảm bảo theo đúng quy định của NHNN…., trong đó vấn đề thanh khoản là vấn đề quan trọng nhất khi một Ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng vì

có thể ảnh hưởng toàn bộ đến hoạt động của Ngân hàng, không thể đáp ứng nhu cầu rút tiền của người gửi tiền Do đó, hiện nay, các NHTM tại Việt Nam luôn đưa vấn

đề quản trị rủi ro tín dụng và gia tăng thanh khoản lên hàng đầu nhằm chuẩn bị cho việc đối mặt với hai loại rủi ro này, dù có gặp phải vấn đề trong rủi ro tín dụng như không thể thu hồi vốn đã cho vay thì NHTM phải có các chính sách khác như gia tăng giá trị thanh khoản để đủ bù đắp cho khoản rủi ro tín dụng mà NHTM đang gặp phải để đảm bảo sự ổn định trong hoạt động của Ngân hàng

Các nghiên cứu về tác động của rủi ro tín dụng hay rủi ro thanh khoản đến sự

ổn định của Ngân hàng đã được phân tích, đánh giá rất cụ thể, tuy nhiên khi nhắc đến rủi ro trong sự ổn định của Ngân hàng thì các nhà phân tích sẽ nhấn mạnh đề cập đến rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản? Vậy hai loại rủi ro này có sự tương quan gì lẫn nhau khi tác động lên sự ổn định của Ngân hàng mà các nhà nghiên cứu trước đây đã

bỏ qua? Sự cần thiết trong việc xác định sự ảnh hưởng của tương tác của hai loại rủi

ro này đến sự ổn định của Ngân hàng tại Việt Nam để giúp cho các nhà quản lý ngoại trừ việc tập trung vào hạn chế rủi ro tín dụng hay rủi ro thanh khoản thì cần xác định

sự tương quan giữa hai loại rủi ro này và tránh bỏ sót khi xem xét đến các yếu tố tác động đến sự ổn định của Ngân hàng Đó chính là lý do tại sao học viên chọn đề tài

“Ảnh hưởng tương tác của rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản đến sự ổn định của các Ngân hàng Thương mại Cổ phần tại Việt Nam” làm bài luận văn thạc sĩ

theo hướng ứng dụng

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: ảnh hưởng tương tác của rủi ro tín dụng và rủi

ro thanh khoản đến sự ổn định của các Ngân hàng TMCP tại Việt Nam Cụ thể là rủi

ro thanh khoản và rủi ro tín dụng riêng lẻ hay đồng thời đến sự ổn định của Ngân

Trang 13

hàng, đồng thời mở rộng xem xét đến mối quan hệ của rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng

Từ đó, đưa ra các hàm ý chính sách cho những người quản lý hệ thống ngân hàng về việc xem xét phân tích sự tác động đồng thời hay riêng lẻ đến sự ổn định của Ngân hàng, loại trừ khả năng chỉ tập trung vào rủi ro tín dụng hay rủi ro thanh khoản

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Từ mục tiêu nghiên cứu, luận văn cũng đặt ra một số câu hỏi để trả lời mục tiêu của bài nghiên cứu này, cụ thể như sau:

Thứ nhất, rủi ro thanh khoản tác động đến sự ổn định của các Ngân hàng TMCP tại Việt Nam như thế nào?

Thứ hai, rủi ro tín dụng tác động đến sự ổn định của các Ngân hàng TMCP tại Việt Nam như thế nào?

Thứ ba, liệu rằng rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng có đồng thời tác động đến sự ổn định của Ngân hàng TMCP tại Việt Nam?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu:

Bài nghiên cứu xem xét đến các yếu tố tác động đến sự ổn định của ngân hàng, trong đó hai yếu tố chính là rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng được xem như là yếu tố quyết định đến sự ổn định của Ngân hàng, từ đó tác giả tiếp tục xem xét đến

sự tác động của tương tác rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng cho thấy được sự tác động đồng thời hay riêng lẻ của hai yếu tố này đến sự ổn định của Ngân hàng Ngoài

ra để xem xét toàn diện các yếu tố tác động đến hoạt động của Ngân hàng bao gồm yếu tố bên trong như quy mô, hiệu quả, tỷ lệ an toàn vốn, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản hay các yếu tố thị trường như tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát, khủng hoảng tài chính….cũng là các yếu tố được nghiên cứu trong luận văn này

Trang 14

Sự ổn định của Ngân hàng được đo lường bởi chỉ số Z-score được đo lường dựa trên sự hồi quy ước lượng của các yếu tố độc lập phía trên

 Phạm vi nghiên cứu:

Tác giả thực hiện nghiên cứu với dữ liệu với 264 quan sát, trong đó có 26 Ngân hàng Thương mại cổ phần đang hoạt động tại Việt Nam, đồng thời bộ dữ liệu này được xác định trong khoảng thời gian từ năm 2007 - 2018

1.5 Mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

 Mô hình nghiên cứu

Bài nghiên cứu sử dụng mô hình đo lường biến phụ thuộc sự ổn định trong Ngân hàng đại diện là biến Z-score trong bài viết “The effects of liquidity risk and credit risk on bank stability: Evidence from the MENA region” của tác giả Ameni Ghenimi, Hasna Chaibi, Mohamed Ali Brahim Omri năm 2017

 Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng dữ liệu dạng bảng và từ đó áp dụng phương pháp ước lượng

dữ liệu dạng bảng để giải thích sự tác động của các yếu tố tác động đến sự ổn định của Ngân hàng Dựa vào các bài nghiên cứu trước đây, luận văn sử dụng phương pháp hồi quy GMM để ước lượng phương trình nghiên cứu giải thích sự tác động cùng chiều (+) hay ngược chiều (-) đến sự ổn định của Ngân hàng thông qua các yếu

tố trong đó hai yếu tố chính là rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản

Theo đó, sự vượt trội trong phương pháp hồi quy GMM so với các phương pháp khác sẽ là một công cụ mạnh để giúp học viên tìm ra được kết quả của mô hình Phương pháp hồi quy GMM sẽ khắc phục được các hiện tượng biến nội sinh, không

có tự tương quan và không có phương sai thay đổi từ đó cho ra kết quả chỉ bằng một phương pháp ước lượng đầy đủ các điều kiện nêu trên Luận văn sẽ tiến hành kiểm tra phương sai thay đổi, tự tương quan để có cơ sở lựa chọn phương pháp hồi quy thích hợp đối với dữ liệu mô hình mà luận văn nghiên cứu

Trang 15

1.6 Nội dung đề tài

Luận văn bao gồm 5 chương:

Chương 1: Giới thiệu đề tài

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan bằng chứng thực nghiệm

Chương 3: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách

Trang 16

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN BẰNG CHỨNG

THỰC NGHIỆM 2.1 Cơ sở lý thuyết

2.1.1 Sự ổn định của Ngân hàng

Sự ổn định của Ngân hàng được hiểu như một Ngân hàng có thể hoạt động an toàn, hiệu quả, thực hiện tốt vai trò, chức năng của mình trong nền kinh tế, có thể đủ khả năng tồn tại, phát triển bền vững khi thị trường gặp nhiều khó khăn, các cú sốc, trong đó Ngân hàng là tổ chức bị ảnh hưởng trực tiếp

Để đo lường sự ổn định của Ngân hàng, bài viết nghiên cứu và chỉ ra hai yếu

tố đo lường sự ổn định của Ngân hàng dựa trên các nghiên cứu trước đây (Roy (1952), Blair và Heggestad (1978) và Boyd và Graham (1988), đo lường bởi Z-score) đó là hiệu quả trong việc sử dụng tài sản – yếu tố nòng cốt trong hoạt động tín dụng, đảm bảo sức khỏe tài chính và tỷ lệ vốn chủ sở hữu trong tổng tài sản để đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn, giúp Ngân hàng hoạt động ổn định

Được đề cập ở trên, NHTM là một tổ chức định chế tài chính, có vai trò quan trọng trong việc điều tiết nguồn vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn; trung gian thanh toán; cam kết, tài trợ, bảo lãnh cho người vay vốn; thực hiện các hoạt động bảo

vệ, quản lý tài sản; thực hiện chính sách tiền tệ của Chính phủ; đặc biệt, NHTM là cầu nối cho sự phát triển kinh tế đối ngoại giữa các quốc gia Để thực hiện được các chức năng này, NHTM buộc phải có đủ “sức khỏe” trong nền kinh tế, quản lý và quản trị ngân hàng đòi hỏi cao sự chắc chắn, chặt chẽ trong việc loại trừ các yếu tố rủi ro, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển, ổn định, an toàn của Ngân hàng

Tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến sự ổn định của Ngân hàng, không ngoại trừ bất kỳ yếu tố bên ngoài và bên trong được kiểm soát trong việc quản trị Ngân hàng bao gồm:

Trang 17

- Yếu tố bên ngoài: các yêu tố bên ngoài hợp thành một môi trường kinh doanh của Ngân hàng, Ngân hàng bị ảnh hưởng và chi phối bởi nó Các yếu tố này bao gồm các yêu tố vĩ mô và yếu tố vi mô:

+ Yếu tố vĩ mô: các nhân tố đến từ thị trường quốc tế; yếu tố từ nền kinh tế; chính trị, pháp luật và chính sách của Chính phủ; môi trường, văn hóa, xã hội; dân số; tự nhiên

+ Yếu tố vi mô: Khách hàng; các đối thủ cạnh tranh hiện hữu; các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn; các thị trường tài chính thay thế là các yếu tố ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển bền vững của Ngân hàng

- Yếu tố bên trong: Có khá nhiều yếu tố bên trong ảnh hưởng đến sự ổn định, phát triển của Ngân hàng, mỗi yếu tố đều ảnh hưởng một cách tiêu cực hoặc tích cực, phụ thuộc khá nhiều vào năng lực quản trị, điều hành của Ban quản

lý ngân hàng Các yếu tố được kể đến như: Nguồn nhân lực; năng lực quản trị, điều hành của Ban quản lý; các sản phẩm của Ngân hàng; công nghệ sử dụng trong hoạt động Ngân hàng

Để ổn định được hoạt động của Ngân hàng, hướng tới tăng trưởng và phát triển bền vững, việc quản trị, điều hành Ngân hàng là đặc biệt quan trọng, nhằm đảm bảo Ngân hàng sẽ không bị tác động tiêu cực từ các yếu tố này, hình thành nên các rủi ro mà Ngân hàng sẽ mắc phải Ban quản lý cần quản trị được các rủi ro và thực hiện các chính sách nhằm loại trừ các yếu tố rủi ro nhằm tạo hiệu quả trong hoạt động của Ngân hàng mang tính chất ổn định và bền vững

2.1.2 Khái niệm rủi ro và phân loại các loại rủi ro cơ bản trong hoạt động của Ngân hàng

Có rất nhiều các tiếp cận khác nhau về rủi ro, nhưng cách tiếp cận phổ biến nhất khi xem rủi ro như là khả năng xuất hiện các khoản thiệt hại tài chính Những chứng khoán nào có khả năng xuất hiện các khoản lỗ lớn hơn được xem như có rủi

ro lớn hơn những chứng khoán có khả năng xuất hiện khoản lỗ thấp hơn

Trang 18

Nói một cách khác, thuật ngữ rủi ro được sử dụng với ý nghĩa thay thế qua lại lẫn nhau với thuật ngữ không chắc chắn để mô tả sự biến đổi các tỷ suất sinh lợi liên quan đến một chứng khoán hay một tài sản nào đó

Tuy có nhiều quan niệm khác nhau về rủi ro tùy thuộc và chủ thể và hoạt động của nó trong mối quan hệ tạo nên rủi ro, nhưng nhìn chung rủi ro là một sự bất trắc không mong đợi, không sinh lời, gây ra thiệt hại và có thể đo lường được

Từ đó, rủi ro sẽ luôn song hành cùng tỷ suất sinh lời mà tổ chức kinh tế muốn hướng đến Các nhà quản trị sẽ không thể loại trừ được rủi ro mà chỉ có thể phát hiện

để kịp thời đưa ra các biện pháp chủ động xử lý Trong bối cảnh hoạt động kinh tế có

sự canh tranh gay gắt, các tổ chức kinh tế nói chung và Ngân hàng nói riêng, rủi ro không thể tránh khỏi nên việc quản trị rủi ro là một điều tất yếu để đảm bảo trong thiệt hại từ tác hại của rủi ro

Trong quá trình tồn tại, hoạt động các ngân hàng luôn phải đối phó với rất nhiều vấn đề, mà quan trọng nhất là duy trì được thường xuyên tình trạng cân đối giữa nhu cầu và khả năng có được nguồn vốn trong mọi điều kiện để đảm bảo sự ổn định, vững chắc về tài chính cho ngân hàng và làm thoả mãn nhu cầu của khách hàng Muốn vậy, các nhà quản trị ngân hàng không thể không tập trung vào vấn đề quản trị rủi ro khi muốn tối đa hoá lợi nhuận và đưa ra được các biện pháp giảm thiểu thiệt hại cho ngân hàng Trên thực tế, rủi ro ngân hàng có thể xuất hiện tại tất cả các nghiệp

vụ của ngân hàng như: thanh toán, tín dụng, tiền gửi, ngoại tệ, đầu tư Vì vậy, rủi ro của ngân hàng luôn được các ngân hàng luôn tại các nước phát triển đặc biệt chú trọng nghiên cứu, phân tích, thậm chí ngay cả khi nền kinh tế đang rất ổn định

Clara-Iulia, Zinca (2015) dựa trên các tiêu chuẩn về đánh giá rủi ro ở các tổ chức để đề xuất giải pháp quản lý rủi ro như phát triển mô hình rủi ro hiệu quả và sáng tạo, phát triển văn hóa rủi ro, tư duy lại việc phân bổ vốn, tăng chất lượng các khoản phải thu Tác giả đề cập đến các rủi ro trong hoạt động ngân hàng, từ đó phát triển tầm nhìn giảm thiểu rủi ro và tập trung các rủi ro có ý nghĩa, sử dụng công nghệ trong việc quản trị rủi ro như quy định rõ vai trò, trách nhiệm, tạo ra sự phối hợp ở

Trang 19

mức độ cao nhất, đánh giá mức độ giảm thiểu được rủi ro và chi phí quản trị rủi ro và lợi ích từ việc quản trị rủi ro

Theo Ủy ban Basel (1999) cho rằng rủi ro của các tổ chức tài chính trong đó bao gồm các Ngân hàng Thương mại được phân thành tám loại: rủi ro tín dụng, rủi

ro thị trường, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động, rủi ro pháp lý và rủi

ro danh tiếng

Hay Steinwand (2000) cho rằng rủi ro lớn phải mà các tổ chức tài chính vi mô phải đối mặt như sau:

Bảng 2-1 Rủi ro chính các tổ chức tài chính vi mô phải đối mặt

Rủi ro tài chính Rủi ro hoạt động Rủi ro chiến lược

Rủi ro tín dụng Rủi ro giao dịch Rủi ro quản trị

Rủi ro giao dịch Rủi ro nguồn nhân lực

Hiệu quả giám sát

và cấu trúc quản trị kém

Rủi ro danh mục Rủi ro thông tin và công nghệ

Rủi ro thanh khoản Rủi ro gian lận

Rủi ro thị trường Rủi ro pháp lý và sự

bên ngoài

Rủi ro danh mục đầu tư

Nguồn: Steinwand (2000)

Trong số các loại rủi ro mà các tổ chức tài chính nói chung và Ngân hàng Thương mại nói riêng phải đối mặt thì bốn loại rủi ro cơ bản, thường gặp nhất đó là

rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất và rủi ro tỷ giá hối đoái Trong đó,

rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản được xem như là hai loại rủi ro có ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định trong ngân hàng với tác động đến các hoạt động như cho vay, huy động vốn, tài trợ… Khi thực hiện quản trị rủi ro tài chính trong Tổ chức tín dụng

Trang 20

thì hai loại rủi ro này được xem xét và đánh giá một cách chi tiết, cụ thể trong việc

xác định các yếu tố này tác động như thế nào đến sự ổn định của Ngân hàng

2.1.3 Rủi ro thanh khoản tác động đến sự ổn định của Ngân hàng

Rủi ro thanh khoản là rủi ro gắn liền với tính thanh khoản của Ngân hàng

Tính thanh khoản được xem như khả năng tức thời (the short-run ability) về việc đáp ứng nhu cầu rút tiền gửi và giải ngân các khoán tín dụng đã cam kết của ngân hàng thương mại (Basel, 2010)

Rủi ro thanh khoản gắn liền với tính thanh khoản của Ngân hàng, nên Ngân hàng gặp rủi ro thanh khoản là khi ngân hàng không cung ứng đủ lượng tiền mặt cho việc thanh khoản tức thời, hoặc cung ứng với một chi phí rất cao

Rủi ro thanh khoản gây ra tổn thất cho ngân hàng khi nhu cầu thanh khoản thực tế vượt quá khả năng thanh khoản dự kiến Rủi ro thanh khoản làm gia tăng các chi phí để đáp ứng nhu cầu thanh khoản như phải huy động vốn với lãi suất cao hơn, hoặc khả năng thanh toán của Ngân hàng mất đi

Rủi ro thanh khoản phát sinh khi người gửi tiền mất lòng tin vào Ngân hàng, hoặc có nhu cầu rút tiền mang tính chất tức thời mà Ngân hàng không dự tính trước được đòi hỏi Ngân hàng phải chi trả ngay lập tức một khoản tiền lớn hơn mức bình thường Khi đó, Ngân hàng buộc phải huy động vốn trong tình trạng tức thời nên phải chịu một khoản lãi suất cao, hoặc tiêu cực hơn, Ngân hàng buộc bán các tài sản để thực hiện các nhu cầu của người gửi tiền, điều này có thể ảnh hưởng đến khả năng phá sản của Ngân hàng

Chính từ những ảnh hưởng rủi ro thanh khoản ảnh hưởng đến sự ổn định của Ngân hàng, những nhà quản trị rủi ro trong Ngân hàng buộc phải tìm cách hạn chế những tác động xấu nhất của loại rủi ro này Tuy nhiên, điều tiên quyết, nhà quản trị

cần nắm rõ, bản chất của hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản:

Trang 21

- Thứ nhất, tổng nguồn cung thanh khoản và tổng nhu cầu thanh khoản luôn có

sự chênh lệch tại một thời điểm, do đó tình trạng thặng dư hay thâm hụt thanh khoản thường xuyên xảy ra;

- Thứ hai, tính thanh khoản luôn luôn tỷ lệ nghịch với khả năng sinh lời Một tài sản có tính thanh khoản càng cao, hiệu suất sinh lời của tài sản càng thấp

và ngược lại, một tài sản có tính thanh khoản càng thấp thì hiệu suất sinh lời của tài sản càng cao

Nguyên nhân dẫn đến xảy ra rủi ro thanh khoản trong Ngân hàng

Rủi ro thanh khoản trong Ngân hàng xảy ra khi tính thanh khoản của Ngân hàng bị tác động bởi các nguyên nhân đến từ nhiều yếu tố làm suy giảm hoặc mất đi tính thanh khoản trong hệ thống hoạt động Theo Peter S Rose (2001), các nguyên nhân dẫn đến xảy ra rủi ro thanh khoản trong ngân hàng bao gồm nhóm nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan:

Nhóm nguyên nhân khách quan bao gồm:

- Sự mất ổn định kinh tế vĩ mô: bị ảnh hưởng quá nhiều bởi diễn biến của nền kinh tế vĩ mô, sự thay đổi này làm cho Ngân hàng không kịp đề phòng với những hoạt đồng của người đi vay, người gửi tiền, làm cho Ngân hàng dễ bị mất thanh khoản;

- Ngân hàng vay mượn quá nhiều các khoản tiền gửi ngắn hạn từ người gửi tiền, định chế tài chính, tổ chức tín dụng khác và đầu tư dài hạn, do đó làm mất cân đối giữa nguồn và sử dụng nguồn, đặc biệt trong việc nguồn thu từ đầu tư dài dạn nhỏ và dài hạn, không đáp ứng các khoản tiền gửi ngắn hạn đến hạn;

- Sự thay đổi của lãi suất có thể tác động đến người gửi tiền và người cho vay vốn Khi lãi suất giảm, người gửi tiền sẽ rút tiền đi đầu tư nơi khác có tỷ suất sinh lợi cao hơn, người vay vốn sẽ tập trung các khoản tín dụng có lãi suất thấp nhiều hơn, dẫn đến Ngân hàng buộc phải huy động khoản tiền lớn để trả cho người gửi tiền và cho người vay vốn vay tiền;

- Nhu cầu thanh khoản, gửi tiền, rút ra của khách hàng ngày càng tăng;

Trang 22

- Ngân hàng làm giảm niềm tin của khách hàng dẫn đến mất sự tín nhiệm, khách hàng có thể rút tiền ồ ạt để tránh rủi ro, gây ra hậu quả cho việc thanh khoản của Ngân hàng;

- Thông tin từ các đơn vị điều hành chính sách tiền tệ yếu kém, dẫn đến Ngân hàng không thể cập nhật tình hình diễn biến thị trường để chuẩn bị cho nhu cầu của khách hàng

Nhóm nguyên nhân chủ quan bao gồm:

Việc thực thi chính sách quản trị rủi ro của Ban điều hành Ngân hàng là yếu

tố cơ bản trong nhóm nguyên nhân chủ quan gây ra rủi ro thanh khoản trong hoạt động của Ngân hàng, chẳng hạn như:

- Tăng trưởng tín dụng quá mức so với nguồn vốn;

- Sự bất cập cơ cấu kỳ hạn của tài sản có và tài sản nợ (liên quan trực tiếp trong việc cân đối giữa nguồn và sử dụng nguồn);

- Mật độ tập trung tiền gửi cao, cấu trúc tiền gửi kém ổn định;

- Khả năng tiếp cận thị trường kém được thể hiện qua việc huy động vốn kém, hoặc huy động được với chi phí cao, hoạt động cho vay không hiệu quả;

- Việc quản trị và quản lý rủi ro thanh khoản không phù hợp, đôi khi còn kém hiệu quả như việc dự trữ của Ngân hàng không đủ bù nhu cầu chi trả, không đáp ứng được trong trường có biến cố thanh khoản xảy ra hoặc việc sở hữu các chứng khoán có tính thanh khoản thấp là một điển hình

Rủi ro thanh khoản tác động đến sự ổn định của Ngân hàng

Với vai trò quan trọng như là một trung gian tài chính, điều phối nền kinh tế, khi gặp phải rủi ro thanh khoản, Ngân hàng sẽ gặp phải sự bất ổn trong hoạt động của mình:

- Trong hoạt động kinh doanh, khi gặp phải rủi ro thanh khoản Ngân hàng buộc phải chạy đua huy động vốn dẫn đến lãi suất huy động cao, chi phí bỏ ra cao hơn, từ đó, để đảm bảo hiệu quả trong hoạt động thì Ngân hàng cho vay lãi suất cao, việc này sẽ làm cho các khách hàng vay vốn sẽ hạn chế đề nghị cấp

Trang 23

tín dụng, điều này làm cho hoạt động của Ngân hàng bị lỗ; (Ryan N.Banerjee, HitoshiMio, 2018)

- Rủi ro thanh khoản làm giảm khả năng đáp ứng nhu cầu rút tiền của người gửi tiền của Ngân hàng, làm cho người rút tiền mất niềm tin vào Ngân hàng, dẫn đến có thể rút tiền ồ ạt, buộc Ngân hàng phải huy động vốn hoặc bán tài sản, hậu quả lớn nhất dẫn đến nguy sơ phá sản của Ngân hàng (Valla, N & Saes-Escorbiac, B & Tiesset, M., 2006)

- Ngoài việc đáp ứng nhu cầu của người rút tiền, việc huy động vốn khó khăn, với chi phí cao Ngân hàng còn gặp nhiều khó khăn khi cấp tín dụng cho người vay vốn vì lãi suất cao, dẫn đến làm giảm hiệu quả hoạt động của Ngân hàng (Valla, N & Saes-Escorbiac, B & Tiesset, M., 2006)

- Có một số nghiên cứu phân tích tác động của rủi ro thanh khoản đến sự ổn định của ngân hàng (Wagner, 2007; Čihák và Hesse, 2010; Cornetta và cộng

sự, 2011; Beck và cộng sự, 2013; Almarzoqi và cộng sự, 2015) Wagner (2007) cho rằng rủi ro thanh khoản có tác động tiêu cực đến sự ổn định của ngân hàng Tài sản có tính thanh khoản cao hơn, ban đầu, cải thiện sự ổn định của ngân hàng và làm cho khủng hoảng ít tốn kém hơn Đặc biệt, ngân hàng bắt đầu chấp nhận rủi ro để tăng lợi nhuận, điều này bù đắp cho tác động cùng chiều ban đầu và tăng sự bất ổn của ngân hàng Cornetta và cộng sự (2011) thấy rằng các ngân hàng, với tài sản thanh khoản cao, ngân hàng sẽ gia tăng thanh khoản và giảm cho vay trong cuộc khủng hoảng tài chính Almarzoqi và cộng sự (2015) báo cáo kết quả tương tự trong khi Cihak và Hesse (2010) phát hiện ra không có mối quan hệ nào giữa rủi ro thanh khoản và sự ổn định đối với các Ngân hàng Hồi giáo lớn hơn nhưng mối quan hệ tiêu cực đáng kể được

áp dụng cho các Ngân hàng Hồi giáo nhỏ

2.1.4 Rủi ro tín dụng tác động đến sự ổn định của Ngân hàng

Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất mà tổ chức tín dụng,

chi nhánh ngân hàng nước ngoài gánh chịu đối với khoản nợ do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của

Trang 24

mình theo cam kết (Thông tư 02/2013/TT-NHNN) Rủi ro tín dụng ở hai góc độ là

rủi ro từ huy động vốn và rủi ro trong cho vay

Rủi ro tín dụng thường khó kiểm soát và dẫn đến những thiệt hại, thất thoát về vốn và thu nhập của ngân hàng Hoạt động phòng ngừa hạn chế rủi ro tín dụng được thực hiện tốt sẽ đem lại những lợi ích cho ngân hàng như: (i) Giảm chi phí, nâng cao được thu nhập, bảo toàn vốn cho Ngân hàng; (ii) Tạo niềm tin cho khách hàng gửi tiền và nhà đầu tư; (iii) Tạo tiền đề để mở rộng thị trường và tăng uy tín, vị thế, hình ảnh, thị phần cho ngân hàng

Phân loại rủi ro tín dụng có nhiều cách phân loại và tiếp cận rủi ro tín dụng khác nhau, sau đây là một số cách phân loại phổ biến:

- Căn cứ vào nguồn gốc của rủi ro tín dụng có thể chia rủi ro tín dụng làm 2 nhóm: rủi ro đạo đức và rủi ro do sự lựa chọn đối nghịch;

- Căn cứ vào mức độ tổn thất, có thể chia rủi ro tín dụng ra làm 2 loại là rủi ro mất vốn và rủi ro đọng vốn;

- Căn cứ theo đối tượng sử dụng, có thể chia làm ba nhóm: rủi ro khách hàng cá thể; rủi ro công ty, tổ chức kinh tế, định chế tài chính; rủi ro quốc gia hay khu vực địa lý;

- Căn cứ phạm vi của rủi ro tín dụng, có thể phân rủi ro tín dụng thành rủi ro cá biệt và rủi ro hệ thống

- Căn cứ vào giai đoạn phát sinh rủi ro, chia làm ba nhóm: rủi ro trước cho vay, rủi ro trong cho vay và rủi ro sau cho vay

- Căn cứ vào quy mô ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến hoạt động của ngân hàng, rủi ro tín dụng được chia thành rủi ro khoản vay và rủi ro danh mục

Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng trong Ngân hàng

Nhóm nguyên nhân khách quan:

- Nguyên nhân từ môi trường chính trị và pháp lý;

- Nguyên nhân từ môi trường kinh tế;

- Nguyên nhân từ phía khách hàng vay vốn

Trang 25

Nhóm nguyên nhân chủ quan bao gồm:

- Chính sách tín dụng của ngân hàng;

- Trình độ yếu kém và vi phạm đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tín dụng;

- Thiếu giám sát và quản trị rủi ro sau khi cho vay;

- Lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ các ngân hàng;

- Sự hợp tác giữa các NHTM quá lỏng lẻo, vai trò của có quan quản lý chưa thực sự hiệu quả;

- Mô hình tín dụng thiết kế lỏng lẻo;

- Tập trung hóa danh mục tín dụng;

- Không thực hiện việc đánh giá hoạt động tín dụng thường xuyên

Rủi ro tín dụng tác động đến sự ổn định của Ngân hàng

Rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động của các Ngân hàng vì 80% hoạt động của Ngân hàng là cho vay, cấp tín dụng cho nền kinh tế Tại thời điểm cho vay, Ngân hàng không thể dự phóng và biết chắc chắn được trong tương lai khả năng trả nợ khách hàng như thế nào và liệu có biến cố nào xảy ra đối với đối tượng Ngân hàng đang cho vay không, nên việc mà Ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng là khó tránh khỏi và điều này tác động trực tiếp đến sự ổn định của Ngân hàng

- Rủi ro tín dụng làm giảm thu nhập của ngân hàng: Khi ngân hàng không thu hồi được nợ do quá hạn, Ngân hàng sẽ mất đi khoản lợi nhuận phát sinh từ các hoạt động như: không thu hồi lãi vay, chi phí của nguồn huy động cho vay, chi phí trích lập dự phòng rủi ro theo quy định của NHNN Ngoài ra, chi phí trong việc giải quyết, xử lý tài sản đảm bảo, khởi kiện để thu hồi nợ làm giảm doanh số, mất giá trị của khoản cho vay làm giảm thu nhập của Ngân hàng (Altunbas và các cộng sự, 2000)

- Rủi ro tín dụng làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng: Khi ngân hàng cho vay, Ngân hàng thay vì huy động tiền gửi nhỏ lẻ từ các tổ chức, cá nhân thì phải đi vay liên ngân hàng để đảm bảo được khả năng cấp tín dụng, đáp ứng nhu cầu của người đi vay Ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng, tỷ lệ nợ

Trang 26

quá hạn trên tổng dư nợ cao không những làm giảm thu nhập của ngân hàng

mà còn làm giảm nguồn vốn, đồng thời làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng, nguy cơ cao dẫn đến phá sản (Fan, L., Shaffer, S (2004))

- Rủi ro tín dụng làm giảm uy tín và năng lực cạnh tranh của ngân hàng: tỷ lệ

nợ quá hạn trên tổng dư nợ cao là một tiêu chí trong việc đánh giá Ngân hàng

có hoạt động tốt trong việc cấp tín dụng, làm ảnh hưởng đến tâm lý đối tác của ngân hàng, dẫn đến việc huy động vốn trở nên khó khăn hơn và gặp nhiều trở ngại trong việc cạnh tranh với các ngân hàng khác Khi mất khả năng thanh toán, buộc Ngân hàng phải đi huy động một khối lượng vốn khá lớn trên thị trường liên ngân hàng với chi phí cao, làm ảnh hưởng đến uy tín và chất lượng của Ngân hàng (Boyd, J H., & Graham, S L (1988))

2.2 Tổng quan về mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản và ảnh hưởng của sự tương tác này đến sự ổn định của Ngân hàng

2.2.1 Mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản

Việc xem xét khái niệm, nguyên nhân, và tác động cơ bản của rủi ro tín dụng

và rủi ro thanh khoản ở phần trên sẽ cho thấy tính thanh khoản và sự mất ổn định trong hoạt động tín dụng có mối quan hệ với nhau Một ngân hàng khi mất đi tính thanh khoản, sẽ dễ dàng vấp phải sự mất ổn định trong hoạt động tín dụng, khi người gửi tiền ồ ạt rút tiền, khiến cho Ngân hàng không đáp ứng kịp thời cả việc trả tiền cho người gửi tiền và cấp vốn cho người đi vay, từ đó sẽ đối mặt với việc hoạt động kinh doanh không hiệu quả và chi phí vốn quá cao (huy động gấp, bán tài sản…), có nguy

cơ dẫn đến phá sản

Trước đây, đã từng có rất nhiều nghiên cứu đã xem xét và phân tích mối quan

hệ này, nhằm mục đích không loại trừ mối quan hệ rủi ro này tác động đến hoạt động của ngân hàng, thay vì xem xét một trong hai yếu tố một cách đơn lẻ

Theo Dermine (1986), rủi ro thanh khoản được xem như một chi phí làm giảm lợi nhuận Một khoản vay mặc định làm tăng rủi ro thanh khoản do dòng tiền giảm

và khấu hao mà nó gây ra Dựa trên lý thuyết trung gian tài chính (Bryant, 1980;

Trang 27

Diamond & Dybvig, 1983) và cách tiếp cận tổ chức công nghiệp đối với ngân hàng, đặc trưng trong mô hình tổ chức ngân hàng Monti-Klein (Prisman, Slovin, & Sushka, 1986), có một mối quan hệ giữa thanh khoản và rủi ro tín dụng

Trong khi đó, nghiên cứu của He và Xiong (2012) phân tích mối quan hệ của rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản từ các quỹ tài chính, khẳng định rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng chính là nguyên nhân dẫn đến sự mất khả năng thanh toán

và nguy cơ vỡ nợ trong ngân hàng Tương đồng với kết quả này, nghiên cứu của Brunnermeier và Oehmke (2013) cũng chỉ ra rằng, những công ty, đặc biệt là những

tổ chức tài chính rất dễ rơi vào tình trạng cấu trúc nợ ngắn hạn từ đó làm tăng tỷ lệ

nợ qua các năm

Theo Samartin (2003) và Iyer và Puri (2012), dựa trên các mô hình, cho thấy rủi ro tài sản ngân hàng gây ra cú sốc ngân hàng Dựa trên các mô hình nghiên cứu, cho rằng rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng tương quan cùng chiều và cùng tác động vào sự bất ổn của ngân hàng

Diamond và Rajan (2005) cho thấy có mối quan hệ cùng chiều giữa thanh khoản và rủi ro tín dụng Họ làm rõ rằng nếu có quá nhiều dự án kinh tế được tài trợ bằng các khoản vay, ngân hàng không thể đáp ứng nhu cầu của người gửi tiền Do

đó, những người gửi tiền này sẽ đòi lại tiền của họ nếu những tài sản này giảm giá trị Điều này ngụ ý rằng thanh khoản và rủi ro tín dụng có quan hệ cùng chiều

Ngân hàng sẽ sử dụng tất cả các khoản vay và làm giảm thanh khoản Kết quả

là việc gia tăng rủi ro tín dụng đi kèm với gia tăng rủi ro thanh khoản bởi nhu cầu của người gửi tiền Các công ty tài chính tăng các khoản nợ phải liên tục được gia hạn và

sử dụng để tài trợ cho các tài sản vì nhiều khoản nợ trong hệ thống ngân hàng mang lại rủi ro ngân hàng cao hơn (Acharya & Viswanathan, 2011)

Acharya và Mora (2013) chỉ ra rằng, sự thất bại của những ngân hàng trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế và bị thiệt hại do sự mất khả năng thanh toán từ giai đoạn trước khi vỡ nợ thực sự xảy ra

Trang 28

Nikomara, Taghavi và Diman (2013) nghiên cứu mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và thanh khoản đối với các ngân hàng Iran Nghiên cứu đề xuất bao gồm tất cả các ngân hàng tư nhân và chính phủ trong giai đoạn 2005-2012 Họ kết luận rằng có một mối quan hệ cùng chiều và có ý nghĩa giữa rủi ro tín dụng và thanh khoản

Ejoh, Okpa và Inyang (2014) xem xét mối quan hệ và ảnh hưởng của rủi ro tín dụng và thanh khoản đối với xác suất mặc định của các ngân hàng Nigeria Nghiên cứu này bao gồm Ngân hàng đầu tiên của Nigeria Plc và thông qua thiết kế nghiên cứu thử nghiệm trong đó bảng câu hỏi được dành cho một mẫu gồm 80 câu trả lời

Họ thấy rằng có một mối quan hệ cùng chiều giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng

Imbierowicz và Rauch (2014) kiểm tra mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản

và rủi ro tín dụng tại các ngân hàng Mỹ Nghiên cứu của họ bao gồm một mẫu của tất cả các ngân hàng thương mại tại Hoa Kỳ trong giai đoạn 1998-2010 Họ cho thấy mối quan hệ cùng chiều giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng, nhưng không có mối quan hệ qua lại giữa cả hai rủi ro

Louati, Abida và Boujelbene (2015) kiểm tra và so sánh hành vi của các ngân hàng Hồi giáo và thông thường liên quan đến tỷ lệ an toàn vốn Các tác giả sử dụng

dữ liệu từ 12 quốc gia khu vực Trung Đông – Bắc Phi và các quốc gia Đông Nam Á trong giai đoạn 2005 - 2012 Chúng cho thấy rằng có một mối quan hệ ngược chiều đáng kể giữa tỷ lệ thanh khoản và rủi ro tín dụng của các ngân hàng thông thường

Laidroo (2016) nghiên cứu sự khác biệt ở các ngân hàng thuộc sở hữu nước ngoài tăng trưởng cho vay và các yếu tố quyết định so với các ngân hàng trong nước thuộc sở hữu tư nhân Nghiên cứu của họ bao gồm một mẫu dữ liệu cấp ngân hàng Trung và Đông Âu (CEE) trong giai đoạn 2004 - 2012 Các tác giả này thấy rằng vốn ngân hàng vẫn là yếu tố quyết định tăng trưởng cho vay quan trọng đối với các ngân hàng tư nhân trong nước trong giai đoạn không khủng hoảng, trong khi thanh khoản ngân hàng có tầm quan trọng lớn hơn đối với các ngân hàng tư nhân trong nước trong thời kỳ khủng hoảng

Trang 29

2.2.2 Ảnh hưởng mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản đến sự ổn định của Ngân hàng

Một nội dung chính của tài liệu thực nghiệm như Rashid và Jabeen (2016) kiểm tra các yếu tố quyết định cụ thể về tài chính và kinh tế vĩ mô đối với hoạt động của các ngân hàng Hồi giáo và ngân hàng thông thường ở Pakistan trong giai đoạn 2006-2012 Họ thấy rằng hiệu quả hoạt động, chi phí chung và dự trữ là những yếu

tố quyết định đáng kể đến hoạt động của các ngân hàng thông thường, trong khi tiền gửi, hiệu quả hoạt động và sự tập trung thị trường là những yếu tố quyết định quan trọng của ngân hàng Hồi Giáo Họ cũng kết luận tác động của GDP và lãi suất cho vay đối với hiệu suất đối với các ngân hàng Hồi giáo và ngân hàng thông thường

Meyer và Pfifer (1970), Martin (1977), Espahbodi (1991) và Kolari, Glennon, Shin và Caputo (2002) cho thấy rủi ro mặc định của các ngân hàng chủ yếu là do vốn hóa thấp, thu nhập thấp, gia tăng quá mức với một số các loại cho vay và cố định cho vay quá mức Cole và White (2012), và DeYoung và Torna (2013) nhận thấy rằng các hoạt động ngân hàng đầu tư quá mức, vốn chủ sở hữu thấp, tập trung quá mức và điều kiện kinh tế vĩ mô xấu tại các vùng lân cận của các ngân hàng ảnh hương đến các khoản vay bất động sản, làm tăng các khoản tiền gửi có kỳ hạn của ngân hàng trong cuộc khủng hoảng tài chính Họ thấy rằng rủi ro tín dụng đóng một phần quan trọng trong sự ổn định của ngân hàng, và phần lớn bỏ qua rủi ro thanh khoản

Tuy nhiên, như nhấn mạnh bởi Acharya và các cộng sự (2016), Bouwman (2013) và Calomiris và các cộng sự (2015), các công cụ điều tiết ngân hàng có thể thay thế Trên cơ sở mô hình lý thuyết được đặc trưng bởi sự thay thế tài sản và theo đuổi quản lý các vấn đề lợi ích cá nhân, Acharya và các cộng sự (2016) đề xuất một quy định vốn tối ưu của các ngân hàng Đối với họ, để đối phó với hai vấn đề này, quy định tối ưu về vốn đòi hỏi một khoản phí vốn ở hai cấp độ Ở cấp độ đầu tiên, vốn tối thiểu sẽ phải đối mặt với vấn đề thay thế tài sản làm giảm đòn bẩy Tuy nhiên,

họ làm suy yếu quy luật thị trường Ở cấp độ thứ hai, vốn có thể gia tăng sẽ loại bỏ

sự thay đổi này Tuy nhiên, cần đầu tư vào tài sản phi rủi ro (tiền mặt) Vì vậy, các

Trang 30

tác giả cho thấy rằng với các yêu cầu về vốn ở hai cấp độ, hệ thống ngân hàng ổn định hơn

Brunnermeier và cộng sự (2009) đề xuất rằng việc tăng nhu cầu vốn có thể đồng thời quản lý rủi ro thanh khoản và khả năng thanh toán của các ngân hàng Sau Ratnovski (2013), các ngân hàng có vấn đề về tái cấp vốn có thể là do vấn đề về khả năng thanh toán Điều này gây ra rằng sự kết hợp đồng thời của các yêu cầu thanh khoản và minh bạch về khả năng thanh toán sẽ giải quyết vấn đề tái cấp vốn của các ngân hàng

Mặt khác, Calomiris và các cộng sự (2015) phát triển một lý thuyết về yêu cầu thanh khoản ngân hàng trong đó họ cho thấy rằng các ngân hàng nên được điều tiết

về phía tài sản thay vì vốn Đối với họ, các ngân hàng nên nắm giữ nhiều tài sản thanh khoản hơn cho phép họ đối mặt với rủi ro thanh khoản và quản lý và giám sát tốt hơn các rủi ro mà họ gặp phải Tuy nhiên, sự tương tác giữa rủi ro tín dụng và thanh khoản ảnh hưởng đến sự ổn định của các ngân hàng

Gần đây, Hassan và cộng sự (2016) cho rằng tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng dẫn đến giảm đáng kể tạo ra các kịch bản căng thẳng của các ngân hàng ở Thổ Nhĩ Kỳ trong giai đoạn từ tháng 1 năm 2006 đến tháng 10 năm 2014

Berger và Bouwman (2009) về mặt thực nghiệm cho thấy cuộc khủng hoảng ngân hàng năm 2007 xảy ra trước sự cố về thanh khoản đáng kể của các ngân hàng

Mỹ Vazquez và Federico (2015) phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc thanh khoản

và đòn bẩy được thực hiện bởi các ngân hàng và tác động đến sự ổn định của họ trong cuộc khủng hoảng tài chính Họ cho thấy các ngân hàng có cấu trúc thanh khoản thấp (mức rủi ro thanh khoản cao) và đòn bẩy cao trước cuộc khủng hoảng có nguy cơ phá sản cao nhất Demirguç-Kunt và Huizinga (2010) thấy rằng sự phụ thuộc của các ngân hàng vào thị trường liên ngân hàng làm tăng khả năng phá sản của họ

Ozsuca và Akbostanci (2016) kiểm tra các đặc điểm của ngân hàng về hành vi chấp nhận rủi ro của ngành ngân hàng Thổ Nhĩ Kỳ cũng như sự tồn tại của kênh chấp

Trang 31

nhận rủi ro của chính sách tiền tệ ở Thổ Nhĩ Kỳ trong giai đoạn 2002 - 2012 Các tác giả kết luận rằng các ngân hàng lớn, thanh khoản và vốn hóa tốt thường ít chịu rủi ro

Mở rộng mô hình của Leland (1994) và Leland và Toft (1996), He và Xiong (2012c) cho thấy, trong bối cảnh đổi mới nợ doanh nghiệp, sự suy giảm của thanh khoản thị trường dẫn đến sự tương tác giữa thanh khoản và rủi ro tín dụng điều này đặc trưng bởi sự gia tăng phí bảo hiểm rủi ro của thanh khoản và tín dụng Sự tương tác này dẫn đến sự gia tăng rủi ro thất bại kinh doanh Berger và Bouwman (2013) kiểm tra vai trò của vốn pháp định trong việc cải thiện khả năng phục hồi của các ngân hàng trong cuộc khủng hoảng, và thấy rằng vốn làm giảm khả năng thất bại của ngân hàng

Imbierowicz và Rauch (2014) phân tích mối quan hệ giữa thanh khoản và rủi

ro tín dụng, và tác động của chúng đối với sự vững chắc của 4.300 ngân hàng thương mại Mỹ trong giai đoạn 1998 - 2010, bao gồm 254 ngân hàng thất bại trong cuộc khủng hoảng Kết quả cho thấy rủi ro tín dụng và thanh khoản cùng ảnh hưởng đến xác suất thất bại của các ngân hàng Hơn nữa, Ejoh và cộng sự (2014) xem xét ảnh hưởng của rủi ro tín dụng và thanh khoản đến xác suất mặc định của các ngân hàng Nigeria Nghiên cứu bao gồm mối tương quan giữa First Bank của Nigeria Plc và của Pearson cho thấy rằng có một ảnh hưởng chung của rủi ro thanh khoản và tín dụng đối với xác suất thất bại của ngân hàng

Vai trò của các ngân hàng với tư cách là nhà cung cấp thanh khoản rất quan trọng trong cuộc khủng hoảng tài chính (Acharya và Mora, 2013) Họ cung cấp bằng chứng cho thấy các ngân hàng thất bại trong cuộc khủng hoảng tài chính gần đây bị thiếu hụt thanh khoản ngay trước khi vỡ nợ thực tế Nghiên cứu cho thấy các ngân hàng thất bại hoặc gần như thất bại thu hút tiền gửi bằng cách đưa ra lãi suất cao Một cách gián tiếp, kết quả chỉ ra rằng sự hiện diện chung (xảy ra) của rủi ro thanh khoản

và rủi ro tín dụng có thể đẩy các ngân hàng vào tình trạng vỡ nợ

Trang 32

ThS Mai Thị Phương Thùy - Đại học Văn Lang, 2019 cho rằng rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng có mối quan hệ cùng chiều với nhau, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam

2.3 Tình hình quản trị rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản tại các Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam

Vấn đề rủi ro và quản trị rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng Việt Nam hiện nay đã trở nên bức thiết Quản trị hoạt động rủi ro là cách thức tốt nhất mà tất cả các chủ thể kinh doanh cần thực hiện để không bị mất vốn đầu

tư Để thực hiện quản lý rủi ro hoạt động hiệu quả, các ngân hàng sẽ cần thực hiện cách thức thu thập dữ liệu tổn thất hiệu quả, cải thiện hành vi, văn hóa hướng đến quản trị hoạt động rủi ro toàn ngân hàng và cải thiện chất lượng dữ liệu tổn thất

Trong những năm của cuộc khủng hoảng suy thoái kinh tế năm 2007 - 2008 bùng nổ từ nền kinh tế Mỹ, đã lan truyền mạnh mẽ trên thế giới, ảnh hưởng đặc biệt đến các tổ chức tài chính, trong đó có các NHTM Năm 2008 “bong bóng” bất động sản xuất hiện tại Mỹ với trên một triệu chủ nhà đất đối mặt với nguy cơ tịch thu tài sản thế nợ Các khoản nợ xấu khiến nhiều ngân hàng thua lỗ nặng Nhiều ngân hàng phải tiến hành sáp nhập và thậm chí tuyên bố phá sản như: Lehman Brothers, Merrill Lynch, Countrywide Financial, Bear Stearns, Ameribank…trong khi đó, các ngân hàng thương mại tạo nên một hệ thống như mạch máu của nền kinh tế, điều này dẫn đến sự ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền kinh tế ở Mỹ nói riêng và toàn thế giới nói chung

Các NHTM Việt Nam cũng bị tác động lớn, chỉ số lạm phát gia tăng, lãi suất tăng cao, tác động mạnh mẽ, trực tiếp đến hoạt động cấp tín dụng, cho vay, tiền gửi của Ngân hàng Chính phủ Việt Nam đã phải lập tức đưa ra các giải pháp để đẩy lùi

sự tác động này, phục hồi sự phát triển, tiền đề cho sự tăng trưởng của các Ngân hàng, chủ yếu mang lại sự tăng trưởng cho nền kinh tế

Trong quá trình hoạt động, phát triển của ngân hàng, tất yếu cũng đi kèm với không ít rủi ro Các rủi ro này có thể xuất phát từ những nguyên nhân nội tại, mà nổi bật là rủi ro thanh khoản, lẫn các yếu tố ngoại lai, như khủng hoảng niềm tin

Trang 33

Rủi ro thanh khoản bắt nguồn từ chính bản chất của hoạt động ngân hàng,

đó là huy động để cho vay Nếu như các ngân hàng cất trữ toàn bộ nguồn vốn huy động trong két sắt, để đảm bảo khả năng thanh toán cho người gửi tiền, lúc này, ngân hàng sẽ không còn là trung gian tài chính mà chỉ đơn thuần là một tổ chức nhận bảo quản tiền gửi Do đó, thay vì cất trữ toàn bộ, các ngân hàng chỉ dự trữ một tỷ lệ nguồn vốn nhất định, phần còn lại dùng để cho vay và đầu tư Khi dòng tiền thu từ cho vay

và đầu tư không khớp kỳ hạn với dòng tiền thanh toán vốn huy động, ngân hàng gặp phải rủi ro thanh khoản Mức chênh lệch kỳ hạn càng lớn, khả năng thanh toán khi người gửi tiền đến rút tiền gửi càng thấp, rủi ro trong hoạt động của ngân hàng càng cao Chính vì vậy, để duy trì hoạt động liên tục, ngân hàng luôn phải chuẩn bị các công cụ nhằm quản trị và giảm thiểu rủi ro thanh khoản Đối mặt với rủi ro thanh khoản, Chính phủ đã đưa ra những quy định cụ thể nhằm đảm bảo được khả năng chi trả trong hoạt động huy động vốn và cấp tín dụng, cho vay của Ngân hàng Thông tư 36/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014 do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành

và văn bản sửa đổi, bổ sung là Thông tư 19/2017/TT-NHNN ngày 28/12/2017 có quy định cụ thể các giới hạn, tỷ lệ an toàn cho các Tổ chức tín dụng và chi nhánh NHNNg, bao gồm:

- Tỷ lệ dự trữ thanh khoản: Chỉ số thể hiện được tổng giá trị tài sản có tính

thanh khoản cao có sẵn để đáp ứng được nhu cầu chi trả đến hạn và phát sinh ngoài dự kiến của các Ngân hàng thương mại Tỷ lệ này được xác định bằng

tỷ lệ phần trăm của Tổng tài sản có tính thanh khoản cao trên Tổng nợ phải trả của Ngân hàng Đối với các Ngân hàng thương mại tỷ lệ này bắt buộc lớn hơn hoặc bằng 10%;

- Tỷ lệ khả năng chi trả trong vòng 30 ngày: Các TCTD, chi nhánh NHNNg

phải tính toán và duy trì khả năng chi trả trong vòng 30 ngày, được tính toán bằng tỷ lệ phần trăm của tổng tài sản có tính thanh khoản cao trên dòng tiền ra ròng trong 30 ngày tiếp theo Đối với các Ngân hàng thương mại, tỷ lệ này luôn duy trì ở mức tối thiểu là 50% đối với Đồng Việt Nam và 10% đối với Ngoại tệ;

Trang 34

- Tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn, dài hạn: Tỷ lệ này giảm thiểu tối đa việc bất cân xứng giữa việc bất cân xứng

trong kỳ hạn của các khoản cho vay của Ngân hàng Tỷ lệ này được tính theo phần trăm của Tổng dư nợ cho vay trung, dài hạn trừ đi nguồn huy động trung, dài hạn trên nguồn huy động ngắn hạn Đối với TCTD, chi nhánh NHNNg, tỷ

lệ này chỉ được duy trì tối đa là 40% Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được mua, đầu tư trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh so với Tổng Nợ phải trả bình quân của tháng liền kề trước đó theo tỷ

lệ tối đa là 30% đối với Ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và 10% đối với Tổ chức tín dụng phi ngân hàng

- Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng số dư tiền gửi: Tỷ lệ này xác định khả năng

chi trả của Ngân hàng khi nhu cầu đến hạn của người gửi tiền và rút vốn của người đi vay Tỷ lệ này luôn duy trì ở mức 80% đối với Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Ngoài ra, hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản trong NHTM Việt Nam được điều tiết chặt chẽ bởi chính sách điều hành của Ngân hàng Nhà Nước, với các mục tiêu:

- NHTM có quyền chủ động trong việc hoạch định ra các kế hoạch, phương pháp để tăng cường tính thanh khoản nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh có hiệu quả Tuy nhiên, với tính chất của ngành Ngân hàng, pháp luật đã đưa ra các quy định, quy trình để hạn chế tối đa các rủi ro xảy ra, ảnh hưởng đến hoạt động Ngân hàng, xa hơn nữa là ảnh hưởng tới toàn bộ nền kinh tế Từ đó, NHTM có quyền chủ động đưa ra các ban kiểm tra, kiểm soát theo quy định nội bộ của NHTM nhưng tối thiểu phải đảm bảo các nội dung quy định của pháp luật

- Ngân hàng Nhà Nước là đơn vị giám sát việc thực hiện các quy trình, quy định của NHTM trong hoạt động của Ngân hàng để đảm bảo sự hiệu quả trong hoạt động kinh doanh, điều tiết và chi phối hoạt động của nền kinh tế Tuy nhiên, một khi tính thanh khoản của NHTM bị đe dọa, NHNN là đơn vị thực hiện các

Trang 35

chính sách nhằm hỗ trợ và bảo vệ sự an toàn của NHTM như các hoạt động tái tài trợ, tái chiết khấu và quan trọng nhất là điều hành hoạt động trong nghiệp

vụ thị trường mở

Sự quản lý chặt chẽ và chính sách quy định rõ ràng giúp cho các nhà quản lý Ngân hàng thấy rõ được sự ảnh hưởng, tác động của rủi ro thanh khoản đến sự ổn định của Ngân hàng, giúp cho nhà quản lý có được các công cụ để thực hiện quản trị rủi ro này Từ đó, hệ thống ngân hàng có những bước phát triển nhanh, ổn định và an toàn, đảm bảo việc thanh khoản trong hoạt động kinh doanh

Đối với rủi ro tín dụng, có thể nói đây là một loại rủi ro mà được các Ngân

hàng quan tâm hàng đầu trong hoạt động kinh doanh, vì có thể ảnh hưởng đầu tiên và quyết định đến sự tồn tại của Ngân hàng, liên quan mật thiết đến an toàn vốn, cân đối giữa vốn tự có và cho vay của Ngân hàng

Hoạt động quản trị rủi ro trong hoạt động tín dụng tại các Ngân hàng TMCP Việt Nam được hiểu một cách đơn thuần như việc điều hành nhằm đảm bảo cho tăng trưởng hoạt động tín dụng hiệu quả, duy trì tối thiểu mức nợ xấu, đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng

Đối với hệ thống các ngân hàng thương mại: nợ xấu sẽ khiến các ngân hàng thương mại sử dụng vốn kém hiệu quả, giảm lợi nhuận, chịu rủi ro dòng tiền, giảm khả năng thanh toán cho các khoản thanh toán của ngân hàng Đặc biệt, nếu tình trạng

nợ xấu diễn ra thường xuyên, liên tục và không được xử lý dứt điểm sẽ khiến các ngân hàng thương mại bị mất uy tín trong hoạt động kinh doanh tín dụng của mình

Trong những năm gần đây, Ngân hàng Nhà nước đã đưa ra các chính sách cụ thể để nhằm giảm thiếu tối đa rủi ro trong hoạt động tín dụng của các Tổ chức tín dụng, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài Theo Thông tư 36/2014/TT-NHNN ngày

20/11/2014 và văn bản sửa đổi bổ sung, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu phản ánh mức đủ

vốn của TCTD, chi nhánh NHNNg trên cơ sở giá trị vốn tự có và mức độ rủi ro trong hoạt động của TCTD, chi nhánh NHNNg TCTD, chi nhánh NHNg phải luôn duy trì

tỷ lệ này ở mức 9%

Trang 36

Tình hình nợ xấu ở các Ngân hàng Thương mại Việt Nam đã có thay đổi đáng

kể sau Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/06/2017 về thí điểm xử lý nợ xấu của các Tổ chức tín dụng Ngân hàng Nhà nước thông tin, đối với công tác xử lý nợ xấu, ước tính đến cuối tháng 12/2018, toàn hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) đã xử

lý được 149,22 nghìn tỷ đồng nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của hệ thống TCTD là 1,89%, giảm so với mức 2,46% cuối năm 2016 và mức 1,99% cuối năm 2017

Nguồn: Vietstock Finance

Theo thống kê từ báo cáo tài chính của 20 ngân hàng được chọn mẫu, tổng số

dư nợ xấu của các ngân hàng (nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5) vào cuối năm 2018 là 70.297

tỉ đồng, tăng 9,8% so với năm trước Hay tương đương với tăng hơn 6.200 tỉ đồng nợ xấu Tuy nhiên, mức tăng của nợ xấu vẫn kém tăng trưởng cho vay khách hàng các ngân hàng (13,8%)

Hình 2-1 Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng của top 10 NH năm 2017 - 2018

Trang 37

Hình 2-2 Số dư nợ xấu của 20 NHTM trong năm 2018

Nguồn: BCTC 20 NHTM năm 2018 và 2017

Bảng 2-2 Tỷ lệ nợ xấu của 20 NHTM trong năm 2018

STT Ngân hàng 31/12/2018 31/12/2017 Tỷ lệ thay đổi

Trang 38

số lượng ngân hàng yếu kém, nâng cao năng lực của các ngân hàng thương mại đặc biệt là về chất lượng tài sản, khả năng sinh lời, hệ số an toàn vốn và năng lực quản trị

Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 41/2016/TT-NHNN quy định

tỷ lệ an toàn vốn đối với TCTD (phương pháp tiêu chuẩn của Basel II) và Thông tư

số 13/2018/TT-NHNN quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ của Ngân hàng Thương mại nhằm tạo khung pháp lý để các ngân hàng thực hiện trụ cột 1, trụ cột 2 và trụ cột

3 của Basel II

Điều này tạo ra nền tảng giúp các ngân hàng Việt Nam tiếp cận với thị trường vốn quốc tế một cách dễ dàng, với chi phí thấp và tăng mức độ tin cậy của các định chế tài chính toàn cầu, các nhà đầu tư, tổ chức quốc tế khác đối với Việt Nam

Trang 39

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

3.1 Mô hình nghiên cứu

Trước đây, khi phân tích tác động của các rủi ro đến hoạt động của Ngân hàng, đặc biệt là rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản, các tác giả đã nhấn mạnh được tác động của từng loại rủi ro ảnh hưởng như thế nào đến sự ổn định của Ngân hàng

Bài viết đưa ra những mô hình để xem xét về sự tương tác, mối quan hệ của rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản và tác động của mối quan hệ này đến sự ổn định của Ngân hàng Những nghiên cứu đã phân tích được sự ảnh hưởng của mối quan hệ này đến sự ổn định của Ngân hàng như Cole và White (2012), DeYoung và Torna (2013), Leland (1994), Leland và Toft (1996) và He và Xiong (2012c) Gần đây nhất, bài nghiên cứu của các tác giả Ameni Ghenimi, Hasna Chaibi, Mohamed Ali Brahim Omri (2017) đã nghiên cứu tác động của rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng đến sự

ổn định của Ngân hàng tại các quốc gia khu vực Trung Đông – Bắc Phi giai đoạn

2006 - 2013 bằng cách sử dụng mô hình hồi quy 2SLS, PVAR để xem xét mối quan

hệ nhân quả giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng Tiếp đó, các tác giả sử dụng

mô hình hồi quy biến số Z-score để xem xét tác động của hai loại rủi ro này đến sự

- Đầu tiên, tác giả sử dụng mô hình bình phương tối thiểu 2 giai đoạn (2SLS)

để xem xét sự tương tác, mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng:

𝑐𝑟𝑒𝑑𝑖𝑡 𝑟𝑖𝑠𝑘𝑖,𝑡 = C + 𝛽1𝑐𝑟𝑒𝑑𝑖𝑡 𝑟𝑖𝑠𝑘𝑖,𝑡−1+ 𝛽2𝑙𝑖𝑞𝑢𝑖𝑑𝑖𝑡𝑦 𝑟𝑖𝑠𝑘𝑖,𝑡 +

∑𝐽𝑗=1𝛽𝑗𝐵𝑎𝑛𝑘𝑖,𝑡𝑗 + ∑𝐿 𝛽𝑙𝑀𝑎𝑐𝑟𝑜𝑡𝑙

𝑙=1 + 𝜀𝑖,𝑡 (1)

Ngày đăng: 22/07/2021, 20:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm