Nhạc tính lại chính là cơ sở để khu biệt ngôn ngữ thơ với ngôn ngữ văn xuôi, cho nên tìm hiểu: Nhịp điệu trong thơ bảy chữ của Tố Hữu chúng ta sẽ nhận thấy sự kế thừa và cách tân so với
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh
o0o
Hoàng thị tuyết anh
nhịp điệu trong thơ bảy chữ
của tố hữu
luận văn thạc sĩ ngữ văn
Trang 2Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh
o0o
Hoàng thị tuyết anh
nhịp điệu trong thơ bảy chữ
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
1.1.Nhà thơ Tố Hữu có một vai trò quan trọng trên thi đàn cũng nhưtrong nền văn học sử nước nhà Suốt nhiều thập kỷ qua, Tố Hữu luôn được
coi là “con chim đầu đàn của thơ ca cách mạng Việt Nam hiện đại” [22;5] Phong Lan và Mai Hương trong bài viết “Tố Hữu- Người đốt lửa và Người gieo hạt” đã khẳng định:
“Trên bầu trời văn học Việt Nam hiện đại, Tố Hữu luôn được coi là ngôi sao sáng ngời, là người mở đầu và dẫn đầu tiêu biểu cho thơ ca cách mạng Sáu mươi năm gắn bó với họat động cách mạng và sáng tạo thơ ca, ông đã thực sự tạo nên được niềm yêu mến, đam mê bền chắc trong lòng nhiều thế hệ độc giả Ông là người đem đến cho công chúng và rồi cũng nhận lại được từ
họ một sự đồng điệu, đồng cảm, đồng tình tuyệt diệu- đáng là niềm ao ước của mọi sự nghiệp thơ ca, kể cả những nhà thơ lớn cùng thời với ông” [22;11] Vì
vậy, Tố Hữu đã thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu và phê bìnhvăn học Các công trình và bài viết phần lớn tập trung tìm hiểu phong cáchnhà thơ hoặc bước đầu tiếp cận thơ Tố Hữu trên quan điểm ngôn ngữ học
như: luật phối thanh, luật bằng trắc và nhạc điệu trong thơ Vấn đề: Nhịp điệu trong thơ bảy chữ của Tố Hữu còn chưa được nhìn nhận với tư cách là một đối tượng nghiªn cøu độc lập Bëi vËy nghiên cứu đề tài: Nhịp điệu trong thơ bảy chữ của Tố Hữu, chúng tôi hy vọng góp phần bổ sung vào công
trình nghiên cứu về Tố Hữu và thơ của ông
1.2 Nhịp điệu là một trong ba yếu tố cơ bản (cùng với thanh điệu vàvần) tạo nên nhạc tính cho thơ Nhạc tính lại chính là cơ sở để khu biệt ngôn
ngữ thơ với ngôn ngữ văn xuôi, cho nên tìm hiểu: Nhịp điệu trong thơ bảy chữ của Tố Hữu chúng ta sẽ nhận thấy sự kế thừa và cách tân so với nhịp
điệu trong thơ thất ngôn truyền thống; đồng thời sẽ làm sáng tỏ nhịp thơ làmột trong những yếu tố quan trọng tạo nên tiết tấu, giai điệu, âm hưởng cho
Trang 4câu thơ, bài thơ, có giá trị góp phần khu biệt thi ca và văn xuôi Qua đó, luậnvăn nhằm khẳng định mỗi một câu thơ không chỉ được hiểu theo một cách mà
có thể được hiểu theo nhiều cách, nó phụ thuộc vào cách ngắt nhịp của câuthơ đó Những trạng thái, các cung bậc tình cảm có thể biến đổi tương ứng vớicác cách ngắt nhịp trong câu thơ
1.3 Hơn nửa thế kỷ qua, thơ Tố Hữu không chỉ là đối tượng nghiêncứu của giới văn học nghệ thuật mà còn là đối tượng để dạy và học trong nhàtrường phổ thông và đại học Thơ Tố Hữu thực sự là sự hội tụ của những lẽsống lớn của thời đại, tiếng nói tâm tình của công chúng và đã trở thành tiếnghát của dân tộc Từ trong lòng cuộc sống, thơ ông đã có được tiếng vang xagiữa dòng đời và có sức lắng đọng bền lâu trong lòng đông đảo độc giả Sứcmạnh cảm hóa, đồng hóa, mối giao cảm ấy đã góp phần đưa thơ ông vượt quaquy luật sàng lọc nghiệt ngã của thời gian để trở thành nhà thơ không chỉ của
hôm qua, hôm nay mà còn của cả mai sau Nghiên cứu Nhịp điệu trong thơ bảy chữ của Tố Hữu còn mang một ý nghĩa thiết thực, góp phần phục vụ
giảng dạy và học tập thơ Tố Hữu trong chương trình ngữ văn ở học đường
2 Lịch sử vấn đề
Dưới góc nhìn ngôn ngữ học, các công trình nghiên cứu về thơ Tố Hữuhầu hết đều khẳng định trong ngôn ngữ thơ Tố Hữu có đặc điểm về tínhnhạc, nhưng nhạc tính đó được biểu hiện cụ thể như thế nào thì gần như chưa
có được tiếng nói chung Đây cũng là xu hướng của giới nghiên cứu khi bàn
về tính nhạc trong thơ Việt Nam Các tác giả như: Dương Quảng Hàm (1943),Nguyễn Trung Thu (1968), Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức (1971), BùiCông Hùng (1983), Hữu Đạt (1996), Lạc Nam (1993), Nguyễn Phan Cảnh(2001), Mai Ngọc Chừ (2005),…ở những quy mô nhất định đều nhấn mạnhvai trò của nhạc điệu của thơ như:
- Dựa vào các thuộc tính của âm thanh ngôn ngữ (như: độ cao, độmạnh, độ dài) để nhấn mạnh yếu tố thanh điệu và luật phối thanh tạo ra âmsắc trầm bổng và giai điệu, nhạc điệu cho câu thơ, có các công trình của
Trang 5Dương Quảng Hàm (1943), Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức (1971), LạcNam (1993),…
- Nhấn mạnh yếu tố nhịp điệu, xem nhịp điệu là sức mạnh cơ bản, năng lực
cơ bản của câu thơ và tính cộng hưởng của nhịp điệu tạo nên dòng âm nhạc cho thơcủa tác giả: Nguyễn Trung Thu (1968), Nguyễn Phan Cảnh (2001)
- Trong công trình “ Góp phần tìm hiểu nghệ thuật thơ ca,” tác giả Bùi
Công Hùng (1983) đã đề cập tới việc nghiên cứu thơ từ góc độ âm nhạc songchưa làm nổi bật được sự khác biệt giữa tính nhạc trong ngôn ngữ thơ vớingôn ngữ âm nhạc
- Với công trình “Ngôn ngữ thơ Việt Nam”, tác giả Hữu Đạt (1996) đã
phần nào chỉ ra đặt điểm về tính nhạc trong ngôn ngữ thơ Việt Nam thể hiệntrong cách kết hợp âm thanh, cách hòa phối các thanh điệu theo một kiểu nhấtđịnh nào đó trong câu thơ, khổ thơ và một bài thơ cụ thể
- Quan tâm đến các đơn vị âm thanh như nguyên âm, phụ âm trong sựkết hợp với nhau để tạo nên vần thơ và sự hòa âm của vần thơ kết hợp vớinhịp làm nên nhạc tính cho thơ lµ c¸ch tiÕp cËn cña tác giả Mai Ngọc Chừ(2005)
Hầu hết các tác giả tập trung nhấn mạnh nhạc điệu trong thơ được hìnhthành từ sự hòa phối thanh điệu, sự hòa âm trong vần thơ và sự lặp lại đều đặnnhững âm thanh nào đó trong thơ (còn gọi là nhịp điệu)
Một số bài viết và khóa luận tốt nghiệp Đại học, luận văn cao họcchuyên ngành ngôn ngữ những năm gần đây có liên quan đến luận văn củachúng tôi như sau:
Phạm Minh Thúy với “Nhịp trong thơ lục bát của Tố Hữu”, Luận văn
cao học khóa 5, Đại học sư phạm Hà Nội,1982
Nguyễn Phương Thùy với “Vần, nhịp, thanh điệu trong thơ mới bảy chữ”, tạp chí ngôn ngữ 2004, số 11 (đã đưa ra những dẫn liệu về Xuân Diệu
và Tố Hữu)
Trang 6Nguyễn Thị Đào với: “Bằng trắc lục bỏt Tố Hữu”, Khúa luận tốt
nghiệp đại học, Đại Học Vinh – 2004
Nhỡn chung, xu hướng của tỏc giả là tập trung vào một yếu tố nào đú
để làm nổi bật nhạc điệu trong thơ Cũng đi theo hớng này, chỳng tụi lựa chọn
đề tài: Nhịp điệu trong thơ bảy chữ của Tố Hữu, một mặt chỉ ra sự kế thừa
và cỏch tõn của Tố Hữu trong cỏch tổ chức nhịp điệu, mặt khỏc gúp phần làmsỏng tỏ nhạc điệu trong thơ Tố Hữu núi riờng, thơ Việt Nam núi chung
3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiờn cứu
3.1 Đối tượng nghiờn cứu
Luận văn khảo sỏt nhịp điệu trong thơ bảy chữ của Tố Hữu, cụ thể làkhảo sỏt nhịp thơ và cỏch ngắt nhịp của cõu thơ, bài thơ
3.2 Nhiệm vụ nghiờn cứu
Chúng tôi đặt ra cho luận văn phải giải quyết những công việc sau đây:
- Thống kờ cỏc bài thơ bảy chữ của Tố Hữu sau đú xỏc lập cỏc khuụnnhịp và cỏc cỏch ngắt nhịp trong cõu thơ bảy chữ Khảo sỏt tần số xuất hiện
để xỏc định loại nhịp phổ biến
- Qua miờu tả và phõn tớch cỏch tổ chức nhịp điệu trong thơ bảy chữcủa Tố Hữu, chỉ ra sự kế thừa và cỏch tõn về hỡnh thức thơ theo khuynhhướng tự do húa So sỏnh Tố Hữu với Xuõn Diệu, Chế Lan Viờn, Hàn Mặc
Tử và Nguyễn Bớnh để đỏnh giỏ chung về vai trũ của nhịp điệu, từ đấy chỉ ranhững nột riờng trong phong cỏch ngụn ngữ thơ Tố Hữu
- Xem xột nhịp điệu trong mối quan hệ với vần điệu và thanh điệu đểthấy được sự chi phối của cỏc yếu tố trong việc tổ chức nhạc tớnh trong thơbảy chữ của Tố Hữu
4 Nguồn tư liệu và phương nghiờn cứu
4.1 Nguồn tư liệu
Tố Hữu cú 284 bài thơ thuộc bảy chặng đường thơ đó được giới thiệu
trong cuốn “ Thơ Tố Hữu” của Nhà xuất bản Văn húa thụng tin, 2002 Trong
đú thơ bảy chữ của Tố Hữu cú 64 bài, chiếm khoảng 22,6%
Trang 7Thơ bảy chữ của Tố Hữu được thể hiện ở bảy chặng đường thơ nhưsau:
- Từ ấy (1937 - 1946), 13 bài: Từ ấy, Vú em, Hỏi cụ Ngáo, Dửngdưng, Con chim của tôi, Nhớ đồng, Dậy lên thanh niên, Người lính đêm,Người về, Dưới trưa, Tương thân, Đi, Xuân nhân loại
- Việt Bắc (1946-1954), 1bài: Tình khoai sắn
- Gió lộng (1955-1961), 5 bài: Quê mẹ, Vinh quang tổ quốc chúng ta,Hoa tím, Mục Nam Quan, Em ơi…Ba Lan…
- Ra trận (1962-1971), 11 bài: Lá thư Bến Tre, Miền Nam, Từ Cu-ba,Tiễn đưa, Những ngọn đèn, Tấm ảnh, Táo rụng, Tri âm, Chuyện thơ, Tâm sự,Bác ơi!
- Máu và hoa (1972-1977), 1 bài: Việt Nam máu và hoa
- Một tiếng đờn(1979-1992), 21 bài: Bài thơ đang viết, Đêm cuối năm,Sáng đầu năm, Xuân đấy, Ngẫu hứng, Ngọn lửa, Gửi theo anh Xuân Diệu,Thật giả, Lạc đường, Quảng cáo, Cái bánh đời, Hôn anh, Giao thừa, Một tiếngđờn, Anh sáo mù, Lòng anh, Hiên ngang Cu-ba, Xuân đang ở đâu…, ChùaHương, Chân trời mới, Duyên thầm
- Ta với ta(1993-2002), 12 bài: Huế lại huy hoàng, tiếng còi xa, Thămbác, Chiều đông, Mùa xuân mới, Qua cầu Công lý, về chiến khu xưa, Ta vẫn
là xuân, Vạn Xuân, Chào xuân 99!, Nghĩa trang Trường Sơn, Đường chín,Nhớ anh Lê Văn Lương
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Để xác lập tư liệu cho đề tài, chúng tôi dùng phương pháp thèng kê vàphân loại Trước hết chúng tôi tiến hành thống kê các bài thơ bảy chữ của tácgiả, sau đó phân loại và xác lập các loại nhịp và cách ngắt nhịp trong câu thơ,bài thơ đó
- Để xử lý tư liệu nhằm gi¶i quyÕt các nhiệm vụ đã đề ra, chúng tôidùng phương pháp phân tích và miêu tả, chỉ ra những cách tân sáng tạo của
Tố Hữu trong tổ chức nhịp điệu thơ bảy chữ
Trang 8- Trước một đối tượng như vậy, luận văn cần sử dụng phương pháp sosánh đối chiếu: So sánh thơ bảy chữ của Tố Hữu với thơ thất ngôn truyềnthống và thơ bảy chữ của Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, NguyễnBính, để thấy được phong cách ngôn ngữ riêng của Tố Hữu.
5 Đóng góp của luận văn
- Lần đầu tiên nhịp điệu câu thơ bảy chữ của Tố Hữu được khảo sát
một cách đầy đủ và có hệ thống dưới góc độ ngôn ngữ học
- Từ việc chỉ ra sù kế thừa và cách tân của Tố Hữu về nhịp điệu, vàcách tổ chức nhịp điệu trong thơ bảy chữ, luận văn cho thấy tài năng của TốHữu trong cách sử dụng ngôn từ, cụ thể là cách ngắt nhịp Từ đó góp phầnchứng tỏ thêm rằng Tố Hữu là “Ngôi sao sáng ngời, là người mở đầu và dẫnđầu tiêu biểu cho thơ ca cách mạng”
- Những kết quả trong khóa luận góp phần cung cấp t liệu cho việcnghiên cứu nhịp điệu trong thơ Tư liệu của khóa luận có thể ứng dụng vàoviệc giảng dạy thơ ở nhà trường cũng như việc cảm thụ thơ Tố Hữu sâu sắc vàhiệu quả hơn
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, khóa luận gồm 3 chương:
- Chương 1: Những giới thuyết liên quan đến đề tài
- Chương 2: Nhịp điệu trong thơ bảy chữ của Tố Hữu
- Chương 3: Nhạc điệu trong thơ bảy chữ của Tố Hữu
Trang 9chơng 1 Những giới thuyết liên quan đến đề tài
1.1 Vài nét về Tố Hữu và thơ Tố Hữu
1.1.1 Vài nét về Tố Hữu
Tố Hữu tên thật là Nguyễn Kim Thành, sinh ngày 04- 10- 1920 tại làngPhù Lai, nay thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế,trong một gia đình nhà nho nghèo Cha ông rất ham thơ và rất thích su tầm cadao, tục ngữ Mẹ ông vốn là con của một nhà nho, bà cũng thuộc rất nhiều cadao và tục ngữ Từ nhỏ Tố Hữu đã sớm đợc cha dạy làm thơ theo lối cổ Ôngsớm mồ côi mẹ, tuổi niên thiếu đã xa nhà vào Đà Nẵng học tiểu học Năm 13tuổi, Tố Hữu vào học trờng Quốc học Huế Xứ Huế với thiên nhiên thơ mộng vànền văn hoá phong phú, độc đáo đã ảnh hởng lớn đến hồn thơ Tố Hữu
Lớn lên giữa lúc phong trào cách mạng do Đảng cộng sản Đông Dơnglãnh đạo đang phát triển mạnh mẽ, Tố Hữu đã sớm giác ngộ lý tởng cộng sản vàhăng hái tham gia hoạt động cách mạng Năm 1936, ông gia nhập Đoàn thanhniên cộng sản và trở thành ngời lãnh đạo Đoàn thanh niên dân chủ ở Huế Năm
1937, Tố Hữu bắt đầu có thơ đăng báo Năm 1938, Tố Hữu gia nhập Đảng cộngsản Đông Dơng Tháng 4 năm 1939, Tố Hữu đã bị thực dân Pháp bắt giam.Tháng 3 năm 1942, Tố Hữu vợt ngục Đắc Lay, trở về hoạt động bí mật tạiThanh Hoá Tháng 8- 1945, Tố Hữu là chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa Thừa ThiênHuế và sau đó là bí th xứ uỷ Trung Kỳ Năm 1946, kháng chiến toàn quốc bùng
nổ, Tố Hữu trở lại Thanh Hoá hoạt động và là bí th tỉnh uỷ Thanh Hoá Năm
1947, Tố Hữu đợc trung ơng Đảng điều động ra Việt Bắc phụ trách công tácvăn nghệ và là trởng tiểu ban văn nghệ trung ơng Năm 1948, thành lập Hội vănnghệ Việt Nam, Tố Hữu tham gia Ban chấp hành Hội Năm 1951, tại Đại hộilần thứ hai của Đảng, Tố Hữu đợc bầu là uỷ viên dự khuyết trung ơng Đảng, vànăm 1955 là uỷ viên chính thức trung ơng Đảng Năm 1960, tại Đại hội lần thứ
ba của Đảng, Tố Hữu đợc bầu vào Ban chấp hành trung ơng Đảng và là uỷ viên
Trang 10ban bí th trung ơng Đảng từ năm 1960 – 1980 Năm 1976, tại Đại hội lần thứ
t của Đảng, Tố Hữu đợc bầu làm uỷ viên dự khuyết của Bộ chính trị và bí thtrung ơng Đảng Từ năm 1980 ông là uỷ viên Bộ chính trị và từ năm 1981 đợc
cử giữ chức Phó chủ tịch Hội đồng bộ trởng Năm 1982, tại Đại hội lần thứnăm của Đảng, Tố Hữu đợc bầu làm uỷ viên của Bộ chính trị, bí th trung ơng
Đảng Ngoài ra, Tố Hữu từng đảm nhiệm các cơng vị: Hiệu trởng TrờngNguyễn ái Quốc, Trởng ban thống nhất trung ơng Đảng, Trởng ban tuyênhuấn trung ơng, Trởng ban khoa giáo Trung ơng Tố Hữu mất ngày 09- 02-
2002 tại Hà Nội, sau một thời gian lâm bệnh nặng
1.1.2.Sự nghiệp sáng tác
Tố Hữu là một tác gia lớn có vị trí quan trọng trong nền văn học Việt Namhiện đại Hơn 60 năm cầm bút, ông đã để lại cho đời một di sản văn học đồ sộvới các thể loại nh: thơ, dịch thuật, lý luận, Cả ba thể loại này Tố Hữu đều đạtnhững thành tựu lớn, để lại những dấu ấn riêng
Tháng 10.1937 là mốc khởi đầu trong cuộc đời sáng tác của Tố Hữu Khi
ấy ông đợc đăng liền một số bài thơ, nh: Mồ côi, Hai đứa bé, Vú em, Năm
1946 ông xuất bản tập thơ đầu, lấy tên “Thơ”, do Hội văn hoá Cứu quốc ViệtNam xuất bản tại Hà Nội Năm 1959, tập thơ này đợc in lại có bổ sung và đổitên thành tập thơ “Từ ấy ” Năm 1954,Tố Hữu xuất bản tập thơ: “ Việt Bắc”.Sau đó, ông liên tục cho ra đời nhiều tạp thơ lớn, nh: “ Gió lộng” ( 1961), “ Ratrận” ( 1972), “ Máu và hoa” ( 1978), “ Một tiếng đờn” ( 1992), “ Ta với ta”( 1999)
Hầu nh các tập thơ của Tố Hữu vừa có giá trị ở trong nớc, lại vừa có giá trị ởngoài nớc, cho nên chúng đợc dịch sang nớc ngoài và đã chiếm lĩnh đợc sự yêu thíchcủa đông đảo độc giả ở nớc ngoài “ Từ ấy” đợc Phạm Huy Thông dịch sang tiếngPháp mang tựa đề: “Depuis” Tuyển tập thơ Tố Hữu đợc Đào Anh Kha dịch ra Quốc
tế ngữ mang tựa đề Esperanto, năm 1964 “ Máu và hoa - Con đờng thơ của Tố Hữu”
đợc M Gansef dịch ra tiếng Pháp có tựa đề Sang et Fleuss - Le Chemin du poete TốHữu, năm 1975 “Tố Hữu - Thơ” đợc Trần Đơng dịch ra tiếng Đức với tựa đề Tố HữuGedich te
Trang 11Về mặt lý luận, Tố Hữu đã có những đóng góp đáng kể Với hàng loạt cáctác phẩm nh: “ Về văn học và nghệ thuật” (1972); “ Xây dựng một nền vănnghệ lớn xứng đáng với nhân dân ta, thời đại ta” (1973); “Cuộc sống cách mạng
và văn học nghệ thuật” (1981); “Phấn đấu vì một nền văn nghệ xã hội chủnghĩa” (1982)
Về dịch thuật, Tố Hữu đợc đánh giá là dịch giả trung thành với nguyên tácnhng đã truyền đạt đợc cái hồn của nguyên tác đến độc giả Việt Nam Một sốtác phẩm thơ của Nga, Pháp đã đợc Tố Hữu dịch sang tiếng Việt khá thànhcông, nh “Đợi anh về” của Ximônốp, dịch năm 1998; “Nhà thơ tặng Đảng củamình” của Aragông;
Cuộc đời sáng tạo không mệt mỏi của Tố Hữu đã để lại cho chúng takhoảng 25 tập sách, trong số đó có 7 tập thơ lớn, đang đợc giới nghiên cứuquan tâm, một số tác phẩm thơ dịch từ thơ nớc ngoài sang tiếng Việt, 4 tácphẩm lý luận và rất nhiều cuộc nói chuyện về thơ và văn nghệ Con đờng thơcủa Tố Hữu gắn bó chặt chẽ với con đờng đấu tranh của cách mạng Việt Nam.Hoạt động chủ yếu trong cuộc đời Tố Hữu là làm cách mạng và làm thơ cáchmạng Bởi vậy khi có ngời hỏi nhà thơ rằng: công việc hoạt động chính trị có
ảnh hởng đến việc làm thơ hay không thì Tố Hữu đã trả lời: “60 năm qua, tôihoạt động trên nhiều lĩnh vực Công tác chính trị, kinh tế đòi hỏi trí tuệ và tính
cụ thể, chính xác, còn thơ lại yêu cầu tình cảm, sự xúc động của tâm hồn, tínhtrừu tợng Đối với tôi, hoạt động chính trị và sáng tác thơ dù khác nhau nhngvẫn có cái gốc chung là nhiệm vụ cách mạng và đều phải “thấu nhân tình” Sau
đó nhà thơ sáng tác bài “Chuyện thơ”:
Làm bí thơ hoài có bí thơ?
Rằng: Thơ với Đảng nặng duyên tơ
Thuyền bơi có lái qua ma gió
Không lái thuyền trôi lạc bến bờ
( Chuyện thơ - Tập Ra trận)
Thực tế trong cuộc đời sáng tác của Tố Hữu đã chứng minh hơn 60 nămsáng tạo thơ ca, Tố Hữu đã đạt nhiều giải thởng lớn Những giải thởng của nhà
Trang 12thơ nh: giải nhất giải thởng văn học của Hội văn nghệ Việt Nam (1954 – 1955)cho tập thơ “Việt Bắc”; giải thởng văn học Đông Nam á của Thái Lan năm
1996 cho tập thơ “ Một tiếng đờn”; giải thởng văn học Hồ Chí Minh về văn hoánghệ thuật (đợt 1) năm 1996 Hơn thế, thơ Tố Hữu chiếm lĩnh đợc sự đam mê,yêu thích của nhiều độc giả trong và ngoài nớc, xứng đáng đợc giới phê bìnhnghiên cứu văn học đánh giá là “nhà thơ xuất sắc của thơ ca cách mạng” TốHữu đã để lại nhiều quan niệm súc tích về thơ nh: “Thơ là tiếng nói hồn nhiên nhấtcủa tâm hồn con ngời trớc cuộc đời”; thơ là “ cái nhuỵ của cuộc sống”; thơ làchuyện đồng điệu; thơ là tiếng nói tri âm; thơ là tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếngnói đồng chí; thơ là kết quả của sự “nhập tâm”, trí tuệ, tài năng của nhân dân; thơkhông phải là văn chơng mà chính là gan ruột; thơ biểu hiện tính chất của cuộcsống Có thể nói, các định nghĩa về thơ xoay quanh hai vấn đề “ đời sống và tấmlòng nhà thơ trớc cuộc đời” ở vấn đề nào “thơ” cũng phải là “ tinh chất”; là “nhuỵcủa cuộc sống” và “nhuỵ của tâm hồn” Tình cảm cách mạng là cái gốc của hồnthơ và sự sáng tạo Do đó, làm thơ tuy phát sinh từ tấm lòng riêng của Tố Hữu nh-
ng đã gắn bó từ trong ngọn nguồn với lý tởng và tình cảm chung của quần chúngcách mạng
Trang 13ngời cùng khổ là ngời thành thị nh: những em bé mồ côi, em bé đi ở, em bé hátrong, cô gái giang hồ, chị vú em, lão đầy tớ là những nhân vật trữ tình trongthơ ông.
Có thể nói, lòng yêu thơng những ngời cùng khổ của Tố Hữu mang tínhgiai cấp Một thi sĩ Hy Lạp đã nói: Bạn ơi! Lớp ngời nghèo khổ là những ngôisao lấp lánh trên ngàn không nhìn xa thì bạn tởng nó mờ, nó nhỏ Nhng đếngần thì thấy nó lớn, nó sáng vô cùng Tố Hữu không những tiến đến gần mà cònchung sống nỗi đau buồn với những ngời ấy nên ý thơ vừa hoà cảm thiết tha lạicũng vừa căm hờn chua chát Và qua những thân hình tiều tuỵ ấy nhà thơ vẫnnhận thấy một tâm hồn trong sáng, một tinh thần quật khởi nên Tố Hữu đã nhennhóm trong họ lòng căm uất kẻ thù, tinh thần quật khởi và ý chí đấu tranh quyếtliệt
Yêu thơng những cuộc đời bị hắt hủi, đoạ đày, Tố Hữu vạch trần mọi bấtcông của xã hội và chỉ ra cho họ con đờng đi lên Đó là con đờng đấu tranhgiành lấy hạnh phúc và tự do, độc lập Không lúc nào Tố Hữu không nhắc tớihai chữ ấy ở trong lòng Cảm động nhất là khi anh nói với chính mình Cái tôinhà thơ hết sức trong sáng, hồn nhiên, khát khao lý tởng và đến khi gặp lý tởngthì say sa cống hiến cuộc đời và tuổi trẻ của mình cho sự nghiệp giải phóng dântộc, giải phóng giai cấp Tố Hữu viết:
Đi, bạn ơi, đi! Sống đủ đầySống trào sinh lực, bốc men saySống tung sóng gió thanh cao mới Sống mạnh, dù trong một phút giây (Đi- Tập Từ ấy) Tranh đấu là con đờng duy nhất của ngời cách mạng Không phải nhà thơkhông thấy cái buồn, cái cô đơn, đau khổ của cuộc đời bị giam hãm, bởi “ Cô
đơn thay là cảnh thân tù” Nhà thơ nằm trong tù nghe những tiếng bên ngoài đãthốt ra những lời lay động cả lòng ta, thể hiện khát vọng tự do, khát vọng đợcchiến đấu để giải phóng dân tộc Nhng ngay từ buổi đầu đến với lý tởng cáchmạng, Tố Hữu đã tự xác định đợc con đờng cách mạng là đầy gian khổ và
Trang 14chông gai Qua thực tế đấu tranh, nhà thơ đã rút ra đợc những bài học kinhnghiệm để tự rèn luyện mình và có một thái độ đúng đắn mà bài học đầu tiên làlạc quan Lạc quan tin tởng vào lý tởng cộng sản không có nghĩa là niềm tin vào
lý tởng lúc nào cũng thể hiện một cách trực tiếp trong thơ Mà niềm tin của lý ởng phải đợc vận dụng nh là quan điểm tiếp cận, đánh giá và khái quát hiệnthực trong những sáng tác của nhà thơ Giữa những ngày đen tối của cách mạng,nhà thơ vẫn mang một niềm tin vững chắc và tơng lai, khẳng định tiền đồ xánlạn của dân tộc Qua hàng loạt các hình ảnh quần chúng nh: anh bộ đội, em béthiếu niên nhi đồng, bà mẹ, lãnh tụ Hồ Chí Minh Nhà thơ đã gián tiếp gửigắm đợc niềm tin của mình vào lý tởng cách mạng
Hình ảnh anh bộ đội vai nặng ba lô, chân đạp rừng gai đá sắc, trèo đèolội suối, cùng ăn cơm vắt thấm nớc, dãi gió nằm sơng vẫn dũng cảm, kiên cờng,tin vào tơng lai chiến thắng kẻ thù Ngay cả khi cái chết kề bên, họ vẫn anhdũng, hiên ngang
Cảnh tợng vĩ đại toàn dân đứng lên giết giặc tác động mạnh mẽ vào cảmquan thẩm mỹ của nhà thơ Cái tôi nhà thơ muốn ẩn mình sau những nhân vậtquần chúng cách mạng đi vào trong thơ Tố Hữu từ hiện thực cách mạng Thếgiới nghệ thuật của ông trở thành hình ảnh thu nhỏ của cuộc kháng chiến toàndân, toàn diện của quê hơng, đất nớc đứng lên giết giặc Những khái quát nghệthuật của Tố Hữu về hiện thực lịch sử ngày càng vơn tới ý nghĩa rộng lớn hơn
Đồng thời, cái tôi tác giả cũng xuất hiện trở lại một cách đậm nét trong thế giớihình tợng: khi thì hớn hở giữa miền Bắc mùa xuân, khi nhớ Huế quê mẹ tuổichín mời, khi thì nửa đời tóc bạc tìm đờng thăm quê
Ta nhận thấy, cái tôi Tố Hữu trong “Từ ấy” và cái tôi Tố Hữu trong nhữngtập thơ sau này không hoàn toàn là một ở “ Từ ấy” ngời nghệ sĩ chỉ muốn đạidiện cho chính cá nhân cá thể của mình Nó gần với cái tôi ở trong Thơ mới (thểhiện tính cá thể), nhng khác cái tôi trong Thơ mới ở chỗ rất riêng và đáng yêu.Cái tôi Tố Hữu từ cuối tập Việt Bắc, và nhất là từ tập Gió lộng trở đi không còn
nh vậy nữa Nó hầu nh mất hẳn cái riêng để trở thành cái ta chung của quầnchúng, của Đảng, của dân tộc Nó tự đặt mình trên đỉnh cao của thời đại, trò
Trang 15chuyện với lịch sử, với nhân loại Nhà thơ tự xem mình là trờng hợp tiêu biểucủa mối quan hệ giữa Đảng, cuộc sống và thơ Ông tin đây là một mối lơngduyên bền chặt
1.1.3.2 Chất thơ và phơng thức thể hiện
Nếu các phơng diện quan niệm về con ngời, thể tài, cảm hứng trữ tình côngdân cho ta biết cách nắm bắt đời sống của tác giả thì chất thơ và phơng thức thểhiện sẽ cho ta thấy đặc điểm hình thức thơ của Tố Hữu Sự vận động và pháttriển của thơ suy cho cùng bao giờ cũng là sự vận động, phát triển của quan hệthơ và đời sống, của quan niệm về thơ, t duy thơ Sự đổi mới quan niệm về thơgắn liền với sự đổi mới các phơng thức, phơng tiện thể hiện thơ, làm biến đổicác hình thức thơ truyền thống Một quan niệm về thơ mà không gắn với hìnhthức thơ nhất định thì mới chỉ là lời tuyên bố Ngợc lại, một hình thức thơ thật
sự là mới bao giờ cũng bao hàm một quan niệm mới ở bên trong Tiêu chuẩncủa hình thức thơ không chỉ là nhuần nhị, mới mẻ mà chủ yếu là khả năng thâmnhập vào chiều sâu của hiện thực và tầm hồn con ngời thời đại, có khả năng trởthành tiếng nói của thời đại
Thơ Tố Hữu thực sự là tiếng nói lớn của thời đại Nhng điều đó không cónghĩa là mọi đặc điểm làm nên hình thức thơ Tố Hữu đã đợc khẳng định Hìnhthức thơ bao gồm lời thơ, thể thơ, từ ngữ, hình ảnh, nhịp điệu, các hình thức tổchức câu thơ, bài thơ Ngôn ngữ thơ thoát thai từ ngôn ngữ đời sống hàng ngàynhng nó không phải là ngôn ngữ hàng ngày Đó là ngôn ngữ của ngôn ngữ, làmã của mã Chính điều đó đòi hỏi ở thơ những phơng thức, phơng tiện riêngmang tính kế thừa bền vững từ đời này qua đời khác Thơ trữ tình lại càngchứng tỏ điều đó bởi lẽ thơ trữ tình qua ngôn từ cô đọng, hàm súc mà tác độngvào sâu thẳm tâm hồn và sự liên tởng của ngời đọc Do đó, thiếu các phơng tiệntruyền thống cất giữ những kinh nghiệm, suy nghĩ, cảm thụ thi vị lâu đời thì thơkhó lòng đến đợc với công chúng Không phải mọi đổi mới về hình thức thơ đềuthành công cả Một tiếng thơ thực sự có sức sống bao giờ cũng là sự kết hợp độc
đáo truyền thống và cách tân trên lĩnh vực hình thức thơ Thơ Tố Hữu mang tínhnhân dân và tính dân tộc sâu sắc, đậm đà đồng thời đạt đến mức độ nhuần nhị,
Trang 16thấm thía Điều đó đợc thể hiện ở các phơng thức tổ chức lời thơ, thể hiện chấtthơ và đây là cái lõi thể hiện sự kết hợp giữa truyền thống và cách tân sáng tạo Ngôn ngữ thơ Tố Hữu thuộc ngôn ngữ thơ trữ tình điệu nói, khác với thơ cổ
điển thuộc lối ngâm vịnh Thành tựu xuất sắc này của Tố Hữu và cũng là củathơ ca Việt Nam hiện đại có lẽ bắt đầu từ Thơ mới lãng mạn của những Thế Lữ,Chế Lan Viên, Huy Cận, Nguyễn Bính Các nhà thơ mới đã góp phần khẳng
định chắc chắn cho thơ trữ tình điệu nói Trong khi phần lớn thơ ca cách mạngcha thoát khỏi sự ràng buộc của thơ trữ tình điệu ngâm thì Tố Hữu chính là nhàthơ mới cách mạng phát triển thơ trữ tình điệu nói trong lĩnh vực thơ chính trịcông dân, đa tiếng nói cách mạng vào thơ, nâng tiếng nói tâm tình đời t thànhtiếng nói chính luận, hùng biện Thơ trữ tình điệu nói có những khả năng màthơ điệu ngâm không có đợc nh dùng đại từ nhân xng ngôi thứ nhất cho phépnhà thơ bộc lộ thái độ, t tởng, lập trờng, tình cảm của mình một cách dứt khoát
Do đó, hầu hết thơ Tố Hữu đều bắt đầu bằng chữ “tôi” hoặc “ta”, “chúng ta”.Cái tôi trong thơ Tố Hữu khơi mạch nguồn năng lợng mới trong thơ ca cáchmạng, tạo nên tiếng nói quyền uy cách mạng của thơ Tố Hữu Trong thơ TốHữu ta còn thấy các lời chêm, hô ngữ, thán ngữ, tiếng chào xuất hiện dày đặclàm cho lời thơ đầy ắp giọng điệu cảm xúc (em hỡi, hãy nghe đây, anh vệ quốcquân ơi, voi hăng lên nhé, ôi, phải chi lòng đợc thảnh thơi, đó anh coi ,ừ saonhỉ , cớ chi , xa gì , Sài Gòn ơi )
Thơ Tố Hữu xuất hiện nhiều lời nói tranh biện, lí lẽ, tuyên bố, khẳng định
đòi hỏi phải ngắt nhịp câu thơ tự nhiên ra thành nhiều khúc, tạo liên hệ vắt dònggiữa các dòng thơ, câu thơ Ta thờng bắt gặp trong thơ Tố Hữu dùng dấu chấmcâu ngay giữa dòng thơ làm cho hình thức câu thơ bị bẻ gãy, tạo thành các câunói (Ta giữ cho ai? Mảnh đất này/ Việt Nam! Hai tiếng gọi hôm nay ) Do đó,trong nhiều trờng hợp Tố Hữu đã tái hiện các lời đối thoại, lời độc thoại manggiọng điệu cụ thể, cảm tính của các bà mẹ, các chị, các anh (Bà Bủ, mẹ Suốt,
Hồ Giáo, anh Núp ) Những đặc điểm cú pháp nh đã trình bày hợp thành đặctrng thơ trữ tình điệu nói của Tố Hữu Chính lối thơ mới đa năng làm biến đổihình thức thơ dân tộc Các nhà nghiên cứu khi bàn về sự đổi mới hình thức
Trang 17trong thơ Tố Hữu đã có nhiều nhận xét khá xác đáng Chẳng hạn, Lê Đình Kịkhẳng định Tố Hữu đã đổi mới nhịp điệu câu thơ truyền thống qua thống kê thơlục bát, các trờng hợp ngắt nhịp ở chữ thứ ba trong câu sáu và câu tám đã trởthành dấu hiệu đặc trng Xét kỹ các trờng hợp ấy (Hơng Giang ơi/ dòng sôngêm; Tố Nh ơi/ lệ chảy quanh thân Kiều) ta thấy đó là sự ngắt nhịp tạo nên doviệc đa lời nói vào thơ - đây là những hiện tợng và quan hệ đời sống mới không
dễ dàng diễn đạt theo nhịp chẵn cân đối, nhịp nhàng của truyền thống Đối vớicâu thơ bảy chữ, cách ngắt nhịp của Tố Hữu, theo tác giả Nguyễn Văn Hạnh[17] là đã mở rộng kích thớc, biến đổi hình dáng của câu thơ bảy chữ Còn theo
Lê Đình Kị: “Có thể nói, Tố Hữu đã tháo tung câu thơ bảy chữ cổ truyền (thơ
Đờng luật), hay có sẵn (Thơ mới) và làm một sự lắp ghép lại” [ 21; 502] Đó làkết quả của việc đa lời nói vào thơ, làm cho câu thơ có sự cách tân về nhịp điệu(chẳng hạn: Cả muôn triệu một lời đáp:/ Có; Vâng./ Bác nói./ Chúng con ngherõ ) Đó là những câu thơ bảy chữ điệu nói hiện đại Do đó, đọc thơ Tố Hữu, takhông thể ngắt nhịp một cách đều đặn cố hữu của thể thơ mà phải tuân theonhịp điệu của lời nói đợc diễn đạt Nhng cái độc đáo trong thơ Tố Hữu khôngchỉ thuần tuý là thơ trữ tình điệu nói mà ở chỗ có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữatrữ tình điệu nói với hình thức của các thể thơ cố truyền Trên cái nền của cáchình thức thơ truyền thống Tố Hữu thực hiện một sự cách tân làm cho phơngthức thể hiện của các thể thơ truyền thống thêm đa dạng, phong phú và hiện đại
Là thơ trữ tình điệu nói, Tố Hữu đã tạo đợc nhiều giọng nói đa dạng, phongphú cho thơ trữ tình cách mạng Trong thơ Tố Hữu ta thấy có giọng nói rắn rỏi,dõng dạc, khúc chiết của nhà tuyên truyền; có giọng nói của ngời chiến sĩ cáchmạng trẻ tuổi tâm huyết, say mê lý tởng cách mạng; có tiếng nói đồng chí, bạn
bè ấm áp, chân tình; có tiếng nói mến thơng ruột thịt “con của vạn nhà” Có thểkhẳng định rằng Tố Hữu đã xây dựng đợc những hình tợng giọng nói có hồn, cónội dung sâu sắc vì ông ý thức đợc sứ mệnh của thơ là tuyên truyền cách mạng
Cố nhiên những giọng nói trong hành trình thơ Tố Hữu có sự phát triển và càng
về sau càng đằm thắm, ân tình
Trang 18Nói thơ Tố Hữu là thơ trữ tình điệu nói là xác định chất liệu ngôn ngữ vàcách tổ chức lời thơ của ông Dĩ nhiên, ngôn ngữ thơ Tố Hữu không hoàn toàn
là lời nói thông thờng Ông thờng gọi thơ mình là “tiếng hát”, “lời ca” nên ngôn
từ trong thơ thể hiện một thế giới bừng sáng, nóng bỏng, bốc cháy (mặt trờichân lý, đỏ nh sao hoả, sáng sao kim, chói lọi khối sao băng, muôn vạn vì saodẫn đờng ) Ông thờng dùng những hình ảnh nồng cháy, mạnh mẽ (ngọn đuốc,tim ta làm ngọn lửa, lửa cháy trong lòng ta, thơ mang cánh lửa, lửa kêu lửa giữamiền Nam rực lửa, nóng rực tim ta, ngọn đèn công lý )
Ngôn ngữ thơ Tố Hữu là ngôn ngữ giàu âm điệu, giàu tiếng vang Âm vangtrong thơ Tố Hữu cũng là cái âm vang của thơ trữ tình điệu nói Biện pháp cơbản để tạo âm vang trong ngôn từ là trùng điệp, là sự lặp lại một đơn vị ngônngữ nào đó Biện pháp trùng điệp đợc nhà thơ sử dụng dày đặc ở tất cả mọi cấp
độ: khổ thơ, câu thơ, nhng thờng dùng nhất là dùng điệp vần, điệp thanh, điệp
từ, điệp ý
Tóm lại, Tố Hữu sử dụng nhiều thể thơ cổ truyền của dân tộc nhng căn bảnthơ ông là thơ trữ tình điệu nói Ngôn ngữ thơ Tố Hữu vì vậy vừa có cái trangnghiêm của lời nói chính trị nhng vừa có cái đằm thắm của một tâm hồn thơrộng mở, giàu giọng điệu đời sống, vừa cổ kính trang nghiêm nhng cũng vừa
độc đáo, hiện đại
1.2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.2.1 Sự khác biệt giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi
Khác với văn xuôi, thơ ca là thể loại chỉ dùng một lợng hữu hạn các đơn
vị ngôn ngữ để biểu hiện cái vô hạn của cuộc sống xã hội, cũng nh những tâm
sự thầm kín trong đời sống nội tâm con ngời Phan Ngọc trong quá trình xâydựng bộ Phong cách học cấu trúc tiếng Việt định nghĩa: Thơ là một cách tổchức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt ngời tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc,
và phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức ngôn ngữ này Theo tác giả, nóihình thức tổ chức ngôn ngữ của thơ hết sức quái đản, tức là thơ ca có hình thức
tổ chức ngôn ngữ đặc biệt Việc nghiên cứu các đặc điểm ngôn ngữ của nó làmột trong những yêu cầu của thi pháp học hiện đại
Trang 19Nh đã biết, đặc trng nổi bật của ngôn từ thơ ca, xét về mặt ngôn ngữ học
là sự tổ chức âm thanh một cách hài hoà và có quy luật chặt chẽ Do đó, ngônngữ thơ hàm súc, giàu hình ảnh và có nhạc điệu Tác giả Sóng Hồng viết: Thơ
là một hình thái nghệ thuật cao quý, tinh vi Thơ là tình cảm và lý trí kết hợpmột cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật Tình cảm và lý trí ấy đợc diễn đạtbằng những hình tợng đẹp đẽ qua những lời thơ trong sáng vang lên nhịp điệukhác thờng Vì vậy, thơ cần một hình thức tổ chức ngôn ngữ đặc biệt với độ “tinh luyện” cao nên đòi hỏi sự công phu, trau chuốt và sức sáng tạo mạnh mẽcủa thi sĩ
Tômasépki nhận xét: Ngôn ngữ thơ không dày đặc nh trong văn xuôi, màchia cắt ra thành những phần ngắn hay dài theo âm luật Các thành phần nàychia ra thành câu thơ và thờng thờng lại chia thành các dòng thơ nhỏ hơn Bởivậy, khi cùng một nội dung, nhng khi viết văn xuôi lại khác, còn khi làm thơ lạikhác Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến viết: Bất
kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ ngời già, ngời trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái,dân tộc, hễ là ngời Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổquốc Ai có súng dùng súng, ai có gơm dùng gơm, không có gơm thì dùngcuốc, thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân cứu nớc Cùng nộidung kêu gọi toàn quốc kháng chiến nh thế nhng trong bài thơ Bài ca du kích,Ngời lại viết:
Tác giả Gôntrarốp lại cho rằng: Cấu trúc âm thanh của ngôn ngữ văn xuôichỉ có một bình diện, nghĩa là ngữ điệu và giọng điệu trùng khít với nhau; còn
Trang 20ngữ điệu và giọng điệu trong thơ không trùng khít với nhau Trong thơ giọng
điệu và ngữ điệu (cụ thể là cách đọc) cho phép câu thơ đợc ngắt nhịp một cách
tự do hơn văn xuôi Do vậy, bản thân giọng đọc và cách đọc cũng làm gia tănglợng thông tin cho câu thơ ngoài giá trị thông tin của bản thân văn bản
Sự khác biệt thứ hai giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi, đó là khác về
đặc trng riêng Mặc dù ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi đều thuộc loại ngôn ngữcủa phong cách nghệ thuật nhng ngôn ngữ thơ mang đặc trng riêng là có tính nhạc.Tính nhạc đợc tạo thành bởi nhiều yếu tố nh: kết cấu ngữ pháp, từ vựng, nhng chủyếu nó đợc tạo bởi ba yếu tố cơ bản, đó là: vần điệu, thanh điệu và nhịp điệu Cũngkhai thác ngôn ngữ tự nhiên nhng chỉ có thơ mới có nhạc Bởi vì trong ngôn ngữ thơ,các tham số thanh học của ngôn ngữ mới đợc tổ chức một cách chặt chẽ Các tham
số của thanh học bao gồm: các thuộc tính âm thanh (độ cao, độ mạnh, độ dài) và các
đơn vị âm thanh (nguyên âm, phụ âm) Các thuộc âm thanh đợc lu giữ truyền đạttrong khi tổ chức các quá trình thơ ca, làm nên tiết tấu cho thơ Các đơn vị âmthanh thì đợc lu giữ - truyền đạt trong khi tổ chức các quá trình thể loại làm nên vầnthơ Tác giả Nguyễn Phan Cảnh trong cuốn “ Ngôn ngữ thơ” khẳng định: “ Chínhgiới hiệu quả của tiết tấu và vần này mà đã chỉ cho phép xuất hiện các hợp thành thipháp chơng trình hoá mang cơ chế tự điều chỉnh trong mình; thơ ca đã đi vào quỹ
đạo của những hệ bền vững” [ 3; 132 ] Đồng thời, cũng dới hiệu quả này mà chấtliệu ngôn ngữ ở đây có nét riêng rất tiêu biểu là đặc trng nhạc tính, tơng tự nh tiếttấu và hoà thanh trong âm nhạc Nhiều bài thơ, do có tính nhạc đã trở thành phần lờicho nhiều ca khúc
Ngoài ra, giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi có một sự khác biệtnữa, đó là ngôn ngữ văn xuôi cần sự chính xác – tờng minh, còn ngôn ngữ thơlại cần phải có sự đa nghĩa, có sự tiềm ẩn, hàm súc, sâu xa
1.2.2.Thơ thất ngôn và thơ mới bảy chữ
1.2.2.1 Thơ thất ngôn
Thơ thất ngôn hay còn gọi là thơ thất ngôn Đờng luật là thể thơ đợc đặt ra
từ đời nhà Đờng của Trung Hoa (618 - 907), phải theo niêm, luật nhất định;tuân thủ những quy định chặt chẽ về số câu, số chữ, về cách gieo vần, về niêm
Trang 21luật bằng - trắc và phép đối Thơ thất ngôn thờng tồn tại ở hai dạng chính, đó làthơ thất ngôn tứ tuyệt và thơ thất ngôn bát cú Trong đó, thơ thất ngôn tứ tuyệt
là thơ mà mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có 7 chữ; còn thơ thất ngôn bát cú là thơ
mà mỗi bài thơ có 8 câu, mỗi câu có 7 chữ Để hiểu đợc thơ thất ngôn một cách
rõ nét chúng ta chỉ cần tìm hiểu thơ thất ngôn bát cú vì nó sẽ bao trùm cả thơthất ngôn tứ tuyệt
Thơ thất ngôn bát cú là thể thơ với những niêm luật chặt chẽ và cấu trúccủa bài thơ gồm 4 phần: đề - thực - luận - kết Một bài thơ thất ngôn đợc làmtheo một trong hai thể: thể bằng (còn gọi là biến thể) hoặc thể trắc (còn gọi làchính thể) Căn cứ vào chữ thứ hai của câu thơ đầu mỗi bài thơ mà khẳng định
đợc bài thơ ấy làm theo thể nào Nếu chữ thứ hai của câu thơ đầu bài thơ mangthanh bằng thì bài thơ ấy đợc làm theo thể bằng Ngợc lại, chữ thứ hai của câuthơ đầu bài thơ mang thanh trắc, thì bài thơ ấy đợc làm theo thể trắc
Bởi thơ thất ngôn bát cú là một dạng chính của thơ Đờng luật nên khitìm hiểu thơ t hấ t ng ô n, luận văn chúng tôi sẽ thông qua một số đặc điểmcủa thơ Đòng luật Thơ Đờng luật còn có tên gọi khác là thơ cách luật.Thơ cách luật là thể thơ đã đợc bổ sung các luật lệ vào thơ cổ phong nhniêm, luật, đối, vần Mặc dù có nguồn gốc từ một thể thơ của TrungQuốc, nhng khi vào Việt Nam, thơ Đờng luật không hề phức tạp, chỉtuân thủ một số nguyên tắc nhất định Cụ thể là cách gieo vần, ngắtnhịp, Nếu nh thơ thất ngôn thờng ngắt theo loại nhịp cố định là 4/3 thìcách gieo vần trong thể loại thơ này phải tu ân thủ một số nguyên tắc sau:
- Thờng gieo vần bằng
- Suốt bài thơ thờng chỉ hiệp theo một vần Ngời xa gọi lối hiệp vần này
là độc vận Nếu gieo vần sai, không hiệp vần với nhau thì gọi là lạc vận Còn
nh gieo vần gợng ép, không hiệp lắm thì gọi là cỡng áp
- Vần chỉ đặt ở cuối câu, không gieo ở giữa câu Trong thơ thất ngôn bát
cú thì có 5 vần ở cuối các câu: 1, 2, 4, 6 và 8 Còn trong thơ thất ngôn tứ tuyệtthì có 3 vần ở cuối các câu 1, 2 và 4
Trang 22Thơ thất ngôn Đờng luật, thanh điệu liên quan đến hai vấn đề: niêm vàluật Luật bằng trắc là cách sắp xếp các tiếng bằng,tiếng trắc trong các câu củamột bài thơ Đa số các câu có sự hài hoà, cân xứng về thanh điệu Sự phân bố vềthanh bằng và thanh trắc tơng đối đều đặn Có 4 khuôn mẫu thanh điệu nhất
định: BBTTTBB, TTBBTTB, BBTTBBT, TTBBBTT Tuy nhiên, phải đảm bảo cảhai yêu cầu: “ Nhất tam ngũ bất luận” và “ Nhị tứ lục phân minh” cho nên cũng
có thể có sự sắp xếp theo: BTB và TBT Niêm là sự phù hợp về âm luật của haicâu thơ trong bài thơ Hai câu thơ niêm với nhau khi chữ thứ hai của câu thơtheo một luật, hoặc cùng là bằng, hoặc cùng là trắc Ví dụ: Thể thất ngôn bátcú: Câu 1 niêm với câu 8, câu 2 niêm với câu 3, câu 4 niêm với câu 5, câu 6niêm với câu 7 Còn nh ở thể thất ngôn tứ tuyệt: Câu 1 niêm với câu 4, câu 2niêm với câu 3
1.2.2.2 Thơ mới bảy chữ
Nh đã biết, thơ thất ngôn thuộc loại thơ cũ, hay gọi là thơ cổ điển, xuất hiện
tr-ớc năm 1932, chiếm một vị trí quan trọng trong thơ Việt Nam Thơ mới bảy chữ đãdựa trên nền thể loại thơ thất ngôn cổ điển để sáng tạo và cách tân về ngôn ngữ, vần
điệu, thanh điệu và nhịp điệu, Mặc dù vậy, thơ mới 7 chữ vẫn dựa vào hai khuônthanh cơ bản của thơ thất ngôn truyền thống là BTB và TBT Có điều, khác với thơthất ngôn truyền thống, thơ mới bảy chữ đợc chia khổ Khổ thơ mới bảy chữ thờnggồm 4 câu, mỗi câu 7 chữ Mỗi khổ thơ mới 7 chữ giống nh một bài thất ngôn tứtuyệt, có luật bằng - trắc, thể thơ, kiểu vần, loại nhịp Mỗi khổ thờng đợc làm theomột thể thanh điệu nhất định, tính theo chữ thứ hai của dòng thơ thứ nhất Nếu chữ đó
là thanh bằng ta sẽ có thể bằng, dẫn theo tiếng thứ hai của câu 2 là thanh trắc, tiếngthứ hai của câu 3 cũng là thanh trắc và tiếng thứ hai của câu 4 là thanh bằng Nếu chữ
đó là thanh trắc thì ta có thể trắc, dẫn theo tiếng thứ hai của câu 2 là thanh bằng, tiếngthứ hai của câu 3 là thanh bằng, còn tiếng thứ hai của câu 4 là thanh trắc
1.2.2.3 Thơ bảy chữ của Tố Hữu
Thơ bảy chữ của Tố Hữu có nhiều những sáng tạo và cách tân rất độc
đáo Trong thơ bảy chữ của Tố Hữu chúng ta bắt gặp rất nhiều kiểu thanh điệu,nhịp điệu và vần lạ để chuyển tải thế giới tâm hồn đa dạng và phong phú của
Trang 23nhà thơ Nhiều lúc, Tố Hữu đã phá vỡ cái khuôn phép quá khắt khe để cảm xúccủa mình chi phối luật thơ chứ nhất quyết không chịu làm theo một khuôn mẫu
có sẵn Thơ mới bảy chữ của Tố Hữu vẫn dựa trên những luật lệ cơ bản của thơthất ngôn truyền thống, một mặt kế thừa nó, mặt khác sáng tạo nó thành cái mới
và độc đáo hơn
1.2.3 Nhịp điệu và vai trò của nhịp điệu trong thơ
Bất cứ thể thơ nào cũng có một cấu trúc nhịp điệu nhất định Theo ĐinhVăn Đức – Nguyễn Phơng Thuỳ “ Nhịp thơ là một trong những yếu tố quantrọng tạo nên tiết tấu, giai điệu, âm hởng trong câu thơ, có giá trị góp phần khubiệt thi ca với văn xuôi” [10; 915] Một câu thơ có thể đợc hiểu theo nhiềucách khác nhau, tuỳ thuộc vào cách ngắt nhịp khác nhau Những trạng thái vàcác cung bậc tình cảm có sự biến thiên tơng ứng với các cách ngắt nhịp trongthơ Nguyễn Trung Thu khẳng định: “ Xa nay, dù là làm thơ theo kiểu nào đinữa ngời ta cũng không thể bỏ qua nhịp điệu ở nớc ngoài cũng nh ở nớc ta,những ngời ủng hộ nhiều nhất cho thơ không vần cũng khẳng định vai tròkhông thể thiếu đợc của nhịp điệu đối với thơ Thơ có thể thiếu vần, nhng thiếunhịp điệu thì thơ không còn là thơ nữa.” [42; 228] Ngôn ngữ thơ luôn đợc tổchức thành những vế tơng đơng, chiếu ứng lên nhau trên những vị trí nhất địnhnên mỗi vế tơng đơng nhỏ nhất (ngắn nhất) sẽ là một nhịp; lớn hơn là dòng; lớnhơn nữa có thể là khổ thơ Cho đến nay, giới nghiên cứu cha có một quan điểmhay một định nghĩa thống nhất và phổ quát về nhịp nói chung và nhịp trong thơnói riêng Tuy nhiên hiểu một cách đơn giản nh Hà Minh Đức thì: “Nhịp là kếtquả của sự chuyển động nhịp nhàng, sự lặp lại đều đặn những âm thanh nào đótrong thơ” [12; 36 ] Còn theo từ điển của Hoàng Phê thì nhịp điệu là: sự lặp lạimột cách tuần hoàn các âm thanh và nhạc, sắp xếp theo những hình thức nhất
định Nhịp điệu trong thơ là nhịp trên cơ sở lao động, dựa vào hơi thở, gắn liềnvới cảm xúc; dựa và bản chất chất liệu ngôn ngữ Điều này đã đợc tác giảTômasépki khẳng định: “ Nhịp các bài thơ đợc xây dựng trên bản chất củachính vật liệu ngôn ngữ, dù cơ cấu bài thơ có riêng biệt và đặc thù bao nhiêu đinữa thì cơ cấu ấy cũng thuộc về một ngôn ngữ và không đợc lặp lại ngoài giới
Trang 24hạn của các hình thức dân tộc trong lời nói” Có thể nói, âm thanh một mặt tạothành ngôn ngữ, là hình thức vật chất trong cái biểu đạt của ngôn ngữ; mặt khác
âm thanh còn có chức năng biểu cảm Bởi vì âm thanh tự thân nó chẳng có ýnghĩa gì, chẳng có biểu hiện gì; nhng trong biểu đạt con ngời có thể sử dụngyếu tố ngữ âm theo những quy ớc nhất định để tăng thêm sức biểu đạt của mình.Coi trọng vai trò của âm thanh trong biểu đạt là một nhu cầu, một thói quen,một yêu cầu thẩm mỹ của ngời Việt Vì vậy, ngời Việt đã triệt để khai thác độcao và đờng nét của thanh điệu cùng với tính chất gọn gàng, tách bạch của từng
âm tiết để tạo nên nhịp điệu, tiết tấu cho ngôn từ thi ca Nhịp điệu trong thơ cótính chất mỹ học do con ngời sáng tạo ra để biểu hiện t tởng, tình cảm Nhữngtrạng thái, cung bậc tình cảm có sự biểu hiện tơng ứng với cách ngắt nhịp trongcâu thơ Nh vậy, nhịp điệu không thuần tuý là những ngân vang bên ngoài đikèm ý thơ mà giọng điệu, sắc thái, và cờng độ của cảm xúc thơ hoà quyện, tồntại ngay trong chính dòng âm nhạc của thi ca, tạo thành năng lợng cơ bản chocâu thơ Nhịp điệu là một cái gì đó vừa cụ thể, vừa mơ hồ vang vọng từ trongtrái tim nhà thơ đến trái tim ngời đọc Đó chính là nhịp điệu tâm hồn, nhMaiacôpxki đã khẳng định:’’ Nhịp điệu là sức mạnh cơ bản, năng lực cơ bảncủa câu thơ, không giải thích đợc nó đâu, chỉ có thể nói về nhịp điệu nh nói về
từ lực hay điện - đó là những dạng của năng lợng.”
Nhịp điệu có tính chất ổn định do đợc chọn lọc và tiêu chuẩn hoá về mặtthẩm mỹ theo các thể loại văn học Cùng với vần điệu và thanh điệu, nhịp điệugóp phần quan trọng tạo nên giai điệu nhạc tính cho thơ
Trong thơ thất ngôn Đờng luật, nhịp điệu câu thơ xuất hiện trên cơ sở lặplại và luân phiên các đơn vị âm luật theo sự cấu tạo của ngôn ngữ Do vậy, thơthất ngôn Đờng luật thờng ngắt nhịp 4/3 Các thi gia truyền thống có tâm lýsáng tạo theo khuôn mẫu và tuân theo các quy tắc vận luật của thơ Đờng Cònthơ bảy chữ của các nhà thơ hiện đại nh Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính,
Tố Hữu, không chỉ kế thừa cách ngắt nhịp truyền thống của thơ ca cổ điển màcòn có nhiều sáng tạo, cách tân các cách ngắt nhịp, tạo nhịp một cách đa dạng,
Trang 25phong phú nhằm thực hiện dụng ý nghệ thuật, tạo nên một sự đột phá về nhịpthơ, tăng thêm tính nhạc cho thơ.
1.2.4 Câu thơ, khổ thơ và bài thơ
1.2.4.1 Câu thơ
Trong Thơ trữ tình Việt Nam 1975 1990,– tác giả Lê Lu Oanh địnhnghĩa: “ Câu thơ là dòng thơ, là một đơn vị nhịp điệu, đơn vị ý nghĩa, đơn vịliên kết trong bài thơ Trong quan hệ với cái tôi trữ tình, câu thơ nh một hìnhthức ngôn ngữ cụ thể trực tiếp của những quan niệm nghệ thuật của cái tôi trữtình” [34; 152] Câu thơ còn là đơn vị của lời văn, lời nói nghệ thuật
“ Hồi hộp nàng ra vịn cửa lầu”
(Vú em - Tập Từ ấy)
Trong thơ, câu không phải lúc nào cũng tuân thủ theo một lôgíc bình ờng Nhiều khi các từ, các vế câu mới nhìn tởng không có mối liên hệ lôgíc vớinhau nhng ngời đọc vẫn hiểu đợc mạch ngầm của các ý trong câu nhờ sự liên t-ởng hợp lý, có thể chấp nhận đợc:
Hì hà hì hục Lục cục lào cào Anh cuốc, em cuốc Đá lở đất nhào!
(Phá đờng)Hay:
Ta đi lên đèo
Ta leo lên dốc Voi ơi khó nhọcKhó nhọc cũng trèo!
Trang 26thúc bằng một khoảng nghỉ dài Giữa các khổ thơ đợc đánh dấu bằng khoảngcách lớn hơn khoảng cách giữa hai dòng thơ.” Yếu tố quan trọng nhất của khổthơ là sự thống nhất về vần Mỗi khổ thờng chỉ có một vần Nếu thay đổi vầnbài thơ sẽ chuyển sang khổ khác Khổ thơ bao giờ cũng trọn vẹn về mặt cúpháp Câu thơ có thể đợc vắt từ dòng này sang dòng khác hoặc có thể có sự bỏlửng để tiếp nối giữa các câu sau Song giữa các khổ thơ không thể có sự “ bắccầu” Ngữ điệu có thể thay đổi trong toàn bộ khổ thơ, song phải thể hiện đợcdấu hiệu kết thúc mà đa số là kết thúc với sự “ hạ giọng” Các khổ thơ có số l-ợng câu khác nhau Khổ ít nhất là một câu và không có giới hạn tối đa về số l-ợng câu thơ trong một khổ Nhịp điệu trong khổ thơ có sự thống nhất Mỗi khổchứa đựng một câu thơ bộc lộ một cảm quan về từ ngữ, cách tổ chức điểm nhìn,thể hiện một giọng điệu Thật vậy, mỗi câu thơ đợc biểu hiện bằng một dòngthơ chứ không đợc đánh dấu bằng dấu chấm câu nh ở văn xuôi Luận văn chúngtôi lấy quan niệm mỗi câu thơ là một dòng thơ để khảo sát và xử lý t liệu về vấn
đề câu thơ trong thơ mới bảy chữ của Tố Hữu
Câu thơ (hay còn gọi là câu trong thơ) cũng giống câu trong văn xuôi –
có thành phần câu bị tỉnh lợc đi để ngời đọc có đợc nhiều cách thẩm thấu, nhiềucách hiểu khác nhau Chẳng hạn, thành phần chủ ngữ trong câu thơ bị tỉnh lợc,
ở trong bài ca dao “ Tát nớc đầu đình :”
Hôm qua tát nớc đầu đình
Để quên cái áo trên cành hoa senThơ bảy chữ của Tố Hữu cũng có trờng hợp tỉnh lợc thành phần chủ ngữ.Trong một khổ thơ, chủ ngữ thờng nằm ở câu đầu, các câu thơ còn lại khôngxuất hiện nữa:
Tôi buộc lòng tôi với mọi ngời
Để tình trang trải khắp trăm nơi
Để hồn tôi với bao hồn khổGần gũi nhau thêm mạnh khối đời (Từ ấy-Tập Từ ấy)
Hay:
Trang 27Tôi đã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏKhông áo cơm cù bất cù bơ
( Từ ấy - Tập Từ ấy)
Câu thơ của Tố Hữu còn có sự vắng mặt của các liên từ để liên kết câu:
Nhớ em nghetiếng chổi treChị quétNhững đêm hè
Đêm đông gió rét (Tiếng chổi tre)
Các thành phần trong câu thơ đôi khi bị đảo lộn, không theo một trật tựthông thờng nh câu văn xuôi
Nghẹn ngào trở lại đẩy xe nôi ( Vú em – Tập Từ ấy)Giữa các khổ thơ khác nhau có thể có những cách ngắt nhịp khác nhau.Khổ thơ bảy chữ của Tố Hữu có những nét giống và khác với một bài thơ
tứ tuyệt Một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt gồm bốn câu, mỗi câu bảy chữ, tồn tạimột cách độc lập còn một khổ thơ bảy chữ của của Tố Hữu tơng đơng nh một
đoạn văn, có quan hệ với các khổ thơ khác để triển khai chủ đề chung của bàithơ Nh vậy, khổ thơ của thơ mới bảy chữ nói chung, thơ Tố Hữu nói riêngkhông tồn tại độc lập nh một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt đợc
1.2.4.3 Bài thơ
Bài thơ là một văn bản hoàn chỉnh về cấu tứ, bố cục Nó đợc hình thànhbởi những câu thơ, khổ thơ Không có sự hạn định về số câu, số khổ Theo ĐinhVăn Đức và Nguyễn Phơng Thuỳ: “Bài thơ bảy chữ mới có nét giống một vănbản văn xuôi về phơng diên tổ chức câu tứ, về bố cục, chỉ khác là thơ có nhịp,
có vần” [10; 917] Từ thơ cũ đến thơ mới đã có sự chuyển biến, hiện đại hoá kếtcấu bài thơ Trong thơ bảy chữ mới, khổ đầu có tính chất chủ đề nhất định Chủ
Trang 28đề đó đợc triển khai trong các khổ còn lại của bài thơ Kết cấu bài thơ bảy chữtrong thơ hiện nay có nhiều đổi khác so với thơ thất ngôn truyền thống Số khổcủa thơ mới bảy chữ không chỉ giới hạn là một trong hai mà là ba, bốn hoặcnhiều hơn nữa Tố Hữu có những bài thơ bảy chữ lên đến 13 khổ nh: Nhớ đồng,
Từ Cu Ba, Bác ơi, Về chiến khu xa; 14 khổ nh: Em ơi Ba Lan, Việt Nam máu
và hoa; 15 khổ nh: Lá th Bến Tre; 16 khổ nh: Quê mẹ; 17 khổ nh: Miền Nam Bài thơ mới bảy chữ vẫn đợc tổ chức theo bốn phần: đề - thực - luận -kết Tuy nhiên, sự sáng tạo của các nhà thơ là ở sự phân bố dung lợng câu thơ,khổ thơ cho mỗi phần đó trong mỗi bài thơ là khác nhau Phần thực và phầnluận sự phát triển về mặt dung lợng khổ thơ có thể tăng lên cao, tỷ lệ thuận với
số lợng khổ thơ trong bài Phần thực có thể gồm 3 khổ thơ (ở bài gồm 6 khổ), 4khổ thơ (ở bài gồm 7 khổ, 13 khổ), 5 khổ thơ (ở bài gồm 8 khổ hoặc 9 khổ), Cũng có tròng hợp một bài gồm nhiều khổ thơ nhng phần luận chiếm tỉ lệ rấtthấp: 1 khổ trong bài thơ có 5 khổ, 1 khổ trong bài thơ có 6 khổ, 1 khổ trong bàithơ có 7 khổ, 1 khổ trong bài thơ có 8 khổ
Nếu nh trong thơ thất ngôn truyền thống, chức năng của mỗi phần đề thực - luận - kết là rạch ròi thì ở thơ Tố Hữu nhiều khi có sự bứt phá khỏi nhữngràng buộc hình thức vốn đợc coi là quy tắc của thể thất ngôn bát cú cổ điển ởmột số khổ thơ đợc định vị là khổ kết, nghĩa là thâu tóm ý nghĩa cả bài nhngnhà thơ vẫn tiếp tục bàn luận cho rộng nghĩa đầu bài khiến độc giả có cảm giác
-nh ý tứ của khổ luận cứ thế mà tràn xuống khổ kết Bài thơ vì vậy kết lại rất tựnhiên bằng việc nối tiếp mạch cảm xúc chứ không bị gò ép trong một khuônmẫu cho sẵn
1.3 Cơ sở ngôn ngữ học của nhịp thơ và cách tổ chức nhịp trong thơ bảy chữ của Tố Hữu
1.3.1 Cơ sở ngôn ngữ học của việc ngắt nhịp thơ
Trong bài “Nhịp điệu câu thơ mới bảy chữ” của Nguyễn Hoài Nguyên,tác giả dựa vào 5 cơ sở ngắt nhịp trong thơ:
Trang 29- Ngắt nhịp dựa vào các dấu hiệu nhận dạng ngay từ trên bề mặt hìnhthức của câu thơ với các dấu câu: dấu chấm(.); dấu phẩy (,); dấu chấm cảm (!);dấu ngoặc kép ( “ ”); dấu gạch ngang, dấu cách;
Rồi từ hôm ấy, / ôm con chủ Trong cánh tay êm, / luống ngậm ngùi (Vú em – Tập Từ ấy) Tôi dẫu dành cơm / mớm nó ăn Đủ làm sao đợc: / thiếu không gian (Con chim của tôi – Tập Từ ấy) Anh về, / chắc chúng ngừng vui lại
Bỡ ngỡ rồi la: / “ Cha! / Cha ơi!”
(Ngời về – Tập Từ ấy) “ Đờng lên hạnh phúc” / đang phơi phới (Thăm Bác chiều đông – Tập Ta với ta) Mặt đất rung rinh / thế giới hồng
(Thăm Bác chiều đông- Tập Ta với ta)
- Ngắt nhịp dựa vào ngữ nghĩa của một cú đoạn hoặc một ngữ đoạn trongcâu thơ Ngữ đoạn là sự kết hợp giữa từ với từ hoặc tổ hợp từ tạo thành các ngữdanh từ, động từ, tính từ; còn cú đoạn là kết cấu chủ- vị hoặc đề- thuyết Mộtnhịp tơng đơng với một cú đoạn hay một ngữ đoạn:
Đờng bạch dơng/ sơng trắng/ nắng tràn (Em ơi Ba Lan - Tập Gió lộng)
Cu Ba,/ hòn đảo Lửa,/ đảo Say (Từ Cu Ba- Tập Ra trận) Phòng lặng,/ rèm buông,/ tắt ánh đèn!
Trang 30Chí ta/ nh núi Thiên Thai ấy (Quê mẹ- Tập Gió lộng) Lòng ta/ nh nớc Hơng Giang ấy
(Quê mẹ- Tập Gió lộng) Chỉ lo muôn mối/ nh lòng mẹ
(Bác ơi- Tập Ra trận)
- Ngắt nhịp theo vế đứng trớc hoặc đứng sau từ có vai trò liên kết:
Không đổi,/ nhng mà trôi cứ trôi
( Nhớ đồng- Tập Từ ấy) Chọn một dòng/ hay để nớc trôi?
(Dậy lên thanh niên- Tập Từ ấy)
Số phận/ hay do chế độ này?
(Vú em- Tập Từ ấy)
- Ngắt nhịp dựa vào phần đảo ngữ đợc xếp vào nhịp đầu tiên:
Nghẹn ngào/ trở lại đẩy xe nôi (Vú em- Tập Từ ấy) Hồi hộp/ nàng ra vịn cửa lầu
(Vú em- Tập Từ ấy) Gì sâu bằng/ những tra thơng nhớ
Hiu quạnh bên trong/ một tiếng hò!
(Nhớ đồng- Tập Từ ấy)
Tự hào/ con cháu một lòng chung (Mùa xuân mới- Tập Ta với ta)
1.3.2 Cách tổ chức nhịp trong thơ bảy chữ của Tố Hữu
Thơ bảy chữ của Tố Hữu vẫn lu giữ cách ngắt nhịp của thơ thất ngôntruyền thống Không những thế, tỷ lệ câu thơ ngắt nhịp 4/3 vẫn lớn nhất
Đóng góp của Tố Hữu là tìm ra những cách ngắt nhịp mới theo những tiêuchí hợp lý và theo cảm xúc đa dạng Trong 64 bài thơ bảy chữ, với 1319 câuthơ, Tố Hữu đã có 23 cách ngắt nhịp khác nhau Đây là một con số khôngnhỏ, đủ để chúng ta thấy đợc tài năng sáng tạo nghệ thuật tuyệt vời của TốHữu Nh trên đã nói, thơ Tố Hữu là thơ trữ tình điệu nói mà bộ phận thơ bảy
Trang 31chữ lại chiếm một vị trí hết sức quan trọng Để cho câu thơ thất ngôn truyềnthống thành câu thơ bảy chữ điệu nói hiện đại, Tố Hữu không tuân theo cácnhịp đều đặn cố hữu của thể thơ mà trong nhiều trờng hợp đã tháo tung câuthơ thất ngôn cổ truyền bằng các nhịp của lời nói, tạo ra nhịp điệu nói Nhngcái độc đáo, cái duyên của thơ Tố Hữu không chỉ ở điệu nói mà chủ yếu là ởchỗ ông kết hợp nhuần nhuyễn thơ điệu nói với hình thức của thể thơ thấtngôn cổ truyền Ông tạo nên một sự tơng phản nội tại giữa thể thơ thất ngôn
cổ truyền chỉnh tề với nhịp điệu lời nói làm cho câu thơ bảy chữ của ông giàusức biểu hiện Sự kết hợp hài hoà giữa nhịp điệu nói trong câu thơ bảy chữvới hình thức truyền thống có một ý nghĩa cách tân sâu sắc nên chúng ta cầntập trung nghiên cứu cách Tố Hữu ngắt nhịp câu thơ bảy chữ
1.4 Tiểu kết
Dễ dàng nhận ra những đóng góp lớn lao trên nhiều phơng diện của TốHữu đối với nền thơ ca hiện đại Việt Nam Ông đã tạo đợc một tiếng thơ trữtình công dân, một tiếng thơ cách mạng đầy quyền uy, trẻ trung và đa dạng
về sắc thái nhng lúc nào cũng có sức thuyết phục Tố Hữu đã phát triển toàndiện loại thơ trữ tình điệu nói, kết hợp tài tình điệu nói với các thể thơ cổtruyền dân tộc trong đó có thơ bảy chữ, trên cái nền thể thơ truyền thống tiếnhành một sự đổi mới tiếng thơ, hình thức thơ mà nổi bật là nhịp điệu thơ Đểtìm hiểu cụ thể hơn, chơng hai chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát các cách ngắtnhịp trong thơ bảy chữ Tố Hữu, xác lập các loại nhịp, tần số xuất hiện trongcâu thơ, khổ thơ, bài thơ, chỉ ra những sáng tạo, cách tân của nhà thơ tronglĩnh vực này
Trang 32chơng 2 Nhịp điệu trong thơ bảy chữ của Tố Hữu
2.1 Nhịp điệu trong câu thơ bảy chữ của Tố Hữu
2.1.1 Các cách ngắt nhịp truyền thống
2.1.1.1 Nhịp 4/3
Nhịp 4/3 là nhịp truyền thống của thơ thất ngôn Đờng luật Thơ thấtngôn tứ tuyệt và thơ thất ngôn bát cú Đờng luật đợc tổ chức ngắt nhịp theo 4/3của thơ cổ điển Cách ngắt nhịp này đợc xuất phát từ quan điểm thẩm mỹ củangời xa nh a vẻ đẹp đăng đối, hài hoà Ngắt nhịp theo nhịp 4/3 ít tạo đợc sự độtphá, hoặc khó truyền tải các cung bậc tình cảm một cách đa dạng, phong phú
Trang 33nhng lại tạo đợc sự nhịp nhàng, cân đối Chính vì nhịp 4/3 có những u thế này
mà Tố Hữu đã kế thừa cách ngắt nhịp 4/3 truyền thống và thu đợc những kếtquả cao Qua khảo sát 64 bài thơ bảy chữ của Tố Hữu, chúng tôi nhận thấy sốcâu thơ đợc ngắt theo nhịp 4/3 chiếm tỷ lệ cao nhất 721/ 1319 ≈ 54, 66%
ví dụ:
Từ ấy trong tôi/ bừng nắng hạ Mặt trời chân lý/ chói qua tim (Từ ấy – Tập Từ ấy)Nghe nói ngày xa/ lão chặt đầu
Đầu xanh đầu bạc,/ tội gì đâu?
Sao không chặt hết/ đầu bao đứa
Mũ mão rồng bay,/ áo phợng chầu?
(Hỏi cụ Ngáo - Tập Từ ấy)Huế không buồn nữa,/ Huế ta ơi
Mắt ớt trăm năm/ đã hé cờiNghìn mảnh tơng lai/ về phấp phớiTruyền đơn cờ đỏ/ gió tung trời (Quê mẹ - Tập Gió lộng)Khao khát trăm năm,/ mãi đợi chờ
Hôm nay vui đến,/ ngỡ trong mơ
Một trời êm ả,/ xanh không tởngMặt đất bình yên/ giấc trẻ thơ
(Việt Nam máu và hoa - Tập Máu và hoa)
2.1.1.2 Nhịp 3/4
Nhịp 3/4 có trong hát nói và trong hai câu thất của thể song thất lục bát nên
đ-ợc nhiều ngời nghiên cứu xếp vào nhịp truyền thống Trong thơ mới bảy chữ của TốHữu, nhịp 3/4 sử dụng nhiều thứ hai, chiếm tỷ lệ 292/ 1319 ≈ 21,13%
Ví dụ:
Không áo cơm,/ cù bất cù bơ
Trang 34(Cái bánh đời - Tập Một tiếng đờn)
2.1.2 Các cách ngắt nhịp không theo truyền thống
Tố Hữu đã sáng tạo ra các cách ngắt nhịp mới cho thơ bảy chữ của mìnhdựa vào cách ngắt nhịp truyền thống Cách ngắt nhịp không theo truyền thốngbao gồm các loại nhịp sau:
2.1.2.1 Nhịp biến thiên có hai nhịp
(Dậy lên thanh niên - Tập Từ ấy)Dậy lên,/ tất cả những thanh niên!
Dậy lên,/ hỡi những linh hồn thép (Dậy lên thanh niên - Tập Từ ấy)
Trang 35Huế ơi,/ quê mẹ của ta ơi!
(Quê mẹ - Tập Gió lộng)Bác ơi,/ tim Bác mênh mông thế
(Bác ơi - Tập Ra trận)Yêu Bác,/ lòng ta trong sáng hơn
(Bác ơi - Tập Ra trận)Cho bay,/ những hố bom làm huyệt
(Việt Nam máu và hoa - Tập Máu và hoa)
2.1.2.1.2 Nhịp 2/5 hoán đổi thành nhịp 5/2
Nhịp 5/2 là sự hoán đổi từ nhịp 2/5 Loại nhịp này, số lợngchiếm tỷ lệ 39/ 1319 ≈ 2,95%
Ví dụ:
Bắc Nam búa sét oai thần,/ chạy đâu?
(Quang vinh Tổ quốc chúng ta - Tập Gió lộng)Trong lòng ta hai tiếng:/ Miền Nam!
(Miền Nam - Tập Ra trận)Một nửa còn cay đắng:/ Miền Nam!
(Miền Nam - Tập Ra trận)Bác đã đi rồi sao,/ Bác ơi!
(Bác ơi - Tập Ra trận)
Ta hoá vàng nhân phẩm,/ lơng tâm (Việt Nam máu và hoa - Tập Máu và hoa)
Ôi,/ phải chi lòng đợc thảnh thơi (Bác ơi - Tập Ra trận)
Trang 36Sống,/ có những niềm vui đơn giản (Chân trời mới - Tập Một tiếng đờn)
Ôi!/ Đất nớc bao năm bom đạn (Chân trời mới - Tập Một tiếng đờn)
Ví dụ:
Lòng nhẹ,/ vui vui,/ bát ngát tình
(Tình khoai sắn - Tập Việt Bắc)Thới Lai,/ Thới Thuận,/ liền hai trận
Trang 37Tố Hữu có hai câu thơ bảy chữ ngắt nhịp 4/2/1, chiếm tỷ lệ 2/1319 ≈ 0,15% Nhịp 4/2/1 là kết quả tách nhịp 3 trong cách ngắt nhịp 4/3 mà thành.
Làm bí thơ hoài/ có bí / thơ?
(Chuyện thơ - Tập Ra trận)Vời vợi từng không,/ lồng lộng/ gió
(Anh sáo mù - Tập Một tiếng đờn)
2.1.2.2.3.Tách nhịp 4/3 thành nhịp 4/1/2
Loại nhịp 4/1/2 xuất hiện rất ít trong thơ Tố Hữu Chỉ có 1 câu thơ bảy chữ ngắt theo nhịp này, chiếm tỷ lệ 1/1319 ≈ 0,07% Nhịp 4/1/2 là kết qủa của việc tách nhịp 3 trong cách ngắt nhịp 4/3 mà thành
Bỡ ngỡ rồi la:/ “ Cha,/ Cha ơi!”
(Ngời về - Tập Từ ấy)
2.1.2.2.4 Tách nhịp 4/3 thành nhịp 3/1/3
Đây cũng là loại nhịp xuất hiện rất ít trong thơ bảy chữ của Tố Hữu, chiếm tỷ lệ 1/1319 ≈ 0,07% Nhịp 3/1/3 là kết quả tách nhịp 4 trong cách ngắt nhịp 4/3 mà thành
Đã từng thấy / Mẹ/ lăn trong máu (Dậy lên thanh niên - Tập Từ ấy)
2.1.2.2.5 Tách nhịp 4/3 thành nhịp 1/3/3
Tố Hữu có 9 câu thơ bảy chữ ngắt theo nhịp 1/3/3, chiếm tỷ lệ
9/1319 ≈ 0,68% Nhịp 1/3/3 là kết quả tách nhịp 4 trong cách ngắt nhịp 4/3 mà thành
Trang 38Nào,/ đứng lên đi!/ Đờng còn xa!
(Về chién khu xa - Tập Ta với ta)
Ôi!/ Bác đây rồi,/ sàn vách núi (Về chiến khu xa - Tập Ta với ta)
2.1.2.2.6 Tách nhịp 3/4 thành nhịp 3/2/2
Ngắt nhịp 3/2/2, thơ bảy chữ của Tố Hữu có 23 câu, chiếm tỷ lệ 23/1319 ≈ 1,74% Nhịp 3/2/2 là kết quả của việc tách nhịp 4 trong cách ngắt nhip 3/4 mà thành
Ví dụ:
Cờ đỏ sông,/ đồng lúa,/ bờ tre
(Quang vinh Tổ quốc chúng ta - Tập Gió lộng)
Ca ngàn năm:/ Ba Lan,/ Ba Lan
( Em ơi Ba Lan - Tập Gió lộng)Biết không anh?/ Giồng Keo,/ Giồng Trôm
( Lá th Bến Tre - Tập ra trận)Trong lòng anh,/ tên ấy:/ Miền Nam!
( Miền Nam - Tập Ra trận)Xanh ngát trời / quê ấy:/ Miền Nam!
( Miền Nam - Tập Ra trận)
2.1.2.2.7 Tách nhịp 3/4 thành nhịp 1/2/4
Tố Hữu có 5 câu thơ bảy chữ ngắt nhịp 1/2/4, chiếm tỷ lệ 5/1319 ≈ 0,37% Nhịp 1/2/4 là kết quả của việc tách nhịp 3 trong cách ngắt nhịp 3/4
Đây,/ Việt Nam/ dân chủ cộng hoà!
(Quang vinh Tổ quốc chúng ta - Tập Gió lộng)Mác-/ Lê-nin,/ thế giới Ngời Hiền
(Bác ơi - Tập Ra trận)
Ôi!/ Tra nay,/ bớc từng bậc đá
(Chùa Hơng - Tập Một tiéng đờn)
Ôi!/ Ngời xa/ mà lại rất gần
(Vạn Xuân - Tập Ta với ta)
Trang 39Ôi!/ Việt Nam,/ đất nớc nghĩa tình
(Chào xuân 99! - Tập Ta với ta)
2.1.2.2.8 Tách nhịp 3/4 thành nhịp 2/1/4
Loại nhịp này xuất hiện rất ít trong thơ bảy chữ của Tố Hữu Chỉ có một câu duy nhất ngắt nhịp 2/1/4 chiếm tỷ lệ 1/1319 ≈ 0,07% Nhịp 2/1/4 là kết quả của việc tách nhịp 3 trong cách ngắt nhịp 3/4 Chẳng hạn:
Sống mạnh,/ dù/ trong một phút giây
( Đi - Tập Từ ấy)
2.1.2.2.9 Tách nhịp 3/4 thành nhịp 3/3/1
Tố Hữu có hai câu thơ bảy chữ ngắt nhịp 3/3/1, chiếm tỷ lệ 2/1319 ≈
0,15% Nhịp 3/3/1 là kết quả của việc tách nhịp 4 trong cách ngắt nhịp 3/4 Chẳng hạn:
Bầy chó dữ,/ những con ngời -/ thú
( Miền Nam - Tập Ra trận)Sóng biển say/ cùng rợu mật,/ say
Trờng Sơn,/ Hy- mã- lạp,/ U- ran
(Xuân nhân loại - Tập Từ ấy)
Trang 40Lâu rồi,/ khao khát lắm,/ xuân ơi.
(Xuân nhân loại - Tập Từ ấy)Cu- Ba,/ hòn đảo Lửa,/ đảo Say
(Từ Cu- Ba - Tập Ra trận)Năm năm,/ thơng nhớ lắm,/ anh Lơng!
(Nhớ anh Lê Văn Lơng, -Tập Ta với ta)
2.1.2.2.12 Nhịp 1/5/1
Tố Hữu có 1 câu thơ bảy chữ ngắt nhịp 1/5/1, chiếm tỷ lệ 1/ 1319 ≈ 0,07%
Đây là cách ngắt nhịp khá đặc biệt, làm cho câu thơ gần với lời nói thông thờng
Ôi,/ sống làm sao nếu chẳng/ yêu (Gửi theo anh Xuân Diệu - Tập Một tiếng đờn)
2.1.2.3 Các loại biến thiên có 4 nhịp
2.1.2.3.1 Nhịp 3/1/1/2
Tố Hữu có 1 câu thơ bảy chữ ngắt nhịp 3/1/1/2, chiếm tỷ lệ 1/1319 ≈ 0,07%
Trái bởi kia/ vàng/ ngọt/ với ai
(Bác ơi - Tập Ra trận)
2.1.2.3.2 Nhịp 2/2/2/1
Tố Hữu có 1 câu thơ bảy chữ ngắt nhịp 2/2/2/1, chiếm tỷ lệ 1/1319 ≈ 0,07%
Tìm ai,/ con hỏi,/mẹ rằng:/ im!
(Quê mẹ - Tập Gió lộng)
2.1.2.3.3 Nhịp 1/2/1/3
Tố Hữu có 4 câu thơ bảy chữ ngắt nhịp 1/2/1/3, chiếm tỷ lệ 4/ 1319 ≈ 0,3%
Đi,/ bạn ơi,/ đi!/ Biệt tháng ngày