thời trong 10 năm nói trên, những quan điểm xây dựng nền văn nghệ mới đã đợc đề xuất, tạo dựng thông qua các hội nghị, các cuộc tranh luận do giới văn nghệ sỹ tổ chức mà tiêu biểu là Hội
Trang 1Vì là lần đầu tiên làm nghiên cứu khoa học nên tôi cũng không tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong nhận đợc sự góp ý từ các thầy cô, bạn bè.
Trang 22.2: Tranh luận Văn nghệ Việt Bắc 17
2.4: Tranh luận Văn nghệ Nam bộ 24
2.5: Cuộc tranh luận giữa Đặng Thai Mai và Tô 26
Ngọc Vân về vấn đề Tranh tuyên truyền và hội hoạ.
2.6: Cuộc tranh luận giữa Hà Xuân Trờng, Nguyễn 27
Đình Thi với Tô Ngọc Vân về vấn đề Quần chúng
và tiếp nhận nghệ thuật.
Chơng 3: Những vấn đề lý luận cơ bản đặt ra qua các
cuộc tranh luận.
3.1: Vấn đề Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa 28
3.2: Vấn đề Lý luận về thể loại 33
3.3: Vấn đề Tuyên truyền và nghệ thuật 41
3.4: Vấn đề công chúng và tiếp nhận nghệ thuật 46
Trơng Thị Hằng Nga - 40B2
Trang 3
Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài.
1.1 Thời kỳ văn học 1945 - 1954 có một vị trí khá quan trong trong chơng trình văn học ở nhà trờng Phổ thông cũng nh ở Đại học Chỉ tính riêng ở bậc Phổ thông trung học , nhiều tác phẩm văn học thời kỳ này đã đợc đa vào sách giáo khoa
ở cả hai mục chính khoá và đọc thêm: Tuyên ngôn Độc lập ( Hồ Chí Minh), Đôi mắt ( Nam Cao), Tây Tiến ( Quang Dũng), Bên kia sông Đuống ( Hoàng Cầm),
Đất nớc ( Nguyễn Đình Thi), Vợ chồng A Phủ ( Tô Hoài), Vợ nhặt ( Kim Lân ), Tin thắng trận ( Hồ Chí Minh ), Đồng chí ( Chính Hữu)…
1.2 Trong mời năm này ( 1945 -1954) đã có nhiều vấn đề lý luận cơ bản trong đờng lối văn nghệ đợc đặt ra và giải quyết qua các văn kiện của Đảng Đồng
Trơng Thị Hằng Nga - 40B2
Trang 4
thời trong 10 năm nói trên, những quan điểm xây dựng nền văn nghệ mới đã đợc đề xuất, tạo dựng thông qua các hội nghị, các cuộc tranh luận do giới văn nghệ sỹ tổ chức mà tiêu biểu là Hội nghị tranh luận Văn nghệ bộ đội, Hội nghị tranh luận Văn nghệ Việt Bắc, Hội nghị tranh luận sân khấu , Hội nghị Văn nghệ Nam bộ và nhiều cuộc tranh luận khác trên báo chí giữa Đặng Thai Mai với Tô Ngọc Vân, giữa Hà Xuân Trờng, Nguyễn Đình Thi cũng với Tô Ngọc Vân.
1.3 Thế nhng, cho đến nay các công trình nghiên cứu về các cuộc tranh luận gay gắt nhng thú vị nói trên đang còn quá ít, và cũng cha phải là một đối tợng nghiên cứu riêng độc lập
Đó là những lý do góp phần giải thích tại sao chúng tôi tìm đến đề tài này
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nh đã nói ở trên, vấn đề “nhìn lại các cuộc tranh luận văn nghệ 1945 - 1954” cha đợc nghiên cứu cụ thể với t cách là một đối tợng , độc lập nhng không phải là các nhà nghiên cứu, phê bình văn học cha đề cập đến Vấn đề mà đề tài quan tâm đã
đợc tìm hiểu ở những mức độ khác nhau trong các công trình nghiên cứu sau:
1) Vũ Đức Phúc Bàn về những cuộc đấu tranh t tởng trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại 1930 1954, – NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977
2) Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Trác, Trần Hữu Tá Văn học Việt Nam
1945 1975, NXB Giáo dục, tập 1, 1998–
3) Nhiều tác giả Văn học Việt Nam kháng chiến chống Pháp 1945 - 1954,
NXB, Khoa học xã hội, Hà Nội, 1986
Vũ Đức Phúc trong cuốn Bàn về những cuộc đấu tranh t tởng trong lịch sử Văn học Việt Nam hiện đại ( 1930 - 1954 ) cũng đã có nhìn nhận, đánh giá một số
cuộc tranh luận văn nghệ trong thời kỳ này
Về cuộc tranh luận vấn đề Tuyên truyền và nghệ thuật giữa Đặng Thai Mai
và Tô Ngọc Vân, tác giả khẳng định: Tranh tuyên truyền không phải là hội hoạ Hội Trơng Thị Hằng Nga - 40B2
Trang 5
hoạ có giá trị vĩnh cửu còn tranh tuyên truyền chỉ có giá trị nhất thời của Tô Ngọc Vân là sai lầm và thực chất đó là quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật dới một hình thức mới Vũ Đức Phúc cho rằng quan điểm phản bác lại của Đặng Thai Mai là
đúng đắn nhng còn có nhiều điểm mâu thuẫn Bởi rằng Đặng Thai Mai đề cao tác phẩm tiến bộ, yêu cầu nhà văn nghệ phải có thế giới quan, nhân sinh quan đúng, phê phán những tác phẩm lạc hậu, phản động nhng lại cho rằng những tác phẩm này cũng có thể là “ kiệt tác”, ngời viết ra nó có thể là “ đại văn hào ” Đặng Thai Mai còn có một thiếu sót là khi nói đến điều kiện chủ quan để sáng tác tốt, đồng chí nói
đến tình cảm, đến nhân sinh quan, thế giới quan, tài năng nhng không nói đến vốn sống, vốn hiểu biết thực tế đời sống của nhân dân lao động mà đây là một điều kiện nhà văn nghệ lúc ấy thiếu rất nhiều
Nhìn lại cuộc tranh luận về vấn đề Sáng tạo và tiếp nhận nghệ thuật, Vũ Đức
Phúc cho rằng : T tởng “Quần chúng phải học hội hoạ, rồi mới thởng thức đợc hội hoạ” của Tô Ngọc Vân là tỏ ra xem thờng quần chúng và hoài nghi về sự lãnh đạo nghệ thuật của Đảng Nhng đồng thời t tởng ấy cũng đã biểu hiện cái băn khoăn của ngời nghệ sỹ tha thiết với nghệ thuật nhng cha
tìm đợc con đờng đúng ý kiến ấy có phần đúng ở chỗ là góp phần nâng cao trình
độ thởng thức nghệ thuật của quần chúng
Cuộc tranh luận văn nghệ Việt Bắc 1949, theo Vũ Đức Phúc, có một
số nhợc điểm nh cha đánh giá đúng đợc phong trào sáng tác Nhng hội nghị cũng có nhiều thành công: “ Hội nghị làm cho anh em chúng ta nhận rõ giá trị trị của t tởng trong văn nghệ ”, “ Bao nhiêu năm đau xót gắng gỏi đã giúp chúng ta ngày nay biết
rõ con đờng phụng sự nhân dân ” “Hội nghị đã làm nổi bật công tác văn nghệ và công tác kháng chiến” Có thể nói, vấn đề văn nghệ phục vụ kháng chiến đến đây đ-
ợc giải quyết, sự lãnh đạo của Đảng đợc mọi ngời thừa nhận Đó là những đánh giá chung, tổng quan về Hội nghị Còn khi đánh giá riêng về vấn đề hiện thực xã hội Trơng Thị Hằng Nga - 40B2
Trang 6
chủ nghĩa do Nguyễn Đình Thi trình bày, Vũ Đức Phúc cho rằng định nghĩa mà Nguyễn Đình Thi đa ra cha khoa học lắm Định nghĩa đó đã làm cho ngời đọc tởng
là phơng pháp này chỉ đòi hỏi tả con ngời tốt , nhân vật tích cực Hơn nữa, định nghĩa của đồng chí Nguyễn Đình Thi nói tới “ Thời đại xã hội chủ nghĩa” làm cho ngời ta còn ngờ ngợ Không biết có áp dụng đợc phơng pháp này dới chế độ dân chủ nhân dân hay không Nhìn chung tranh luận có nhiều điểm tốt nhng cha xứng
đáng với tầm quan trọng vấn đề đa ra, nhiều điểm cha sáng tỏ
Về Hội nghị sân khấu 1950, Vũ Đức Phúc đánh giá Hội nghị đã quá khắt khe với chèo , nghiệt ngã với tuồng và bất công đối với cải lơng Nghị quyết của Hội nghị có một số điểm sai trái với đờng lối của Đảng về việc kế thừa vốn văn nghệ cũ Trong cuốn Văn học Việt Nam kháng chiến chống Pháp 1945 1954, k– hi nói tới cuộc thảo luận về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong Hội nghị tranh luận văn nghệ Việt Bắc, các tác giả cho rằng cuộc thảo luận thiếu phần sâu sắc, cha tổng kết đợc toàn bộ ý kiến của các nhà lý luận, phê bình trớc đây về phơng pháp này Nhìn lại cuộc tranh luận về thơ Nguyễn Đình Thi cũng ở Hội nghị tranh luận văn nghệ Việt Bắc, các tác giả đánh giá đó là một hình thức phê bình văn học rất mới mẻ và có nhiều ý kiến phong phú Tuy có nhiều ý kiến đề cao quá đáng, hoặc phê phán cực đoan nhng nhìn chung các ý kiến đã phân tích đợc nhợc điểm của thơ Nguyễn Đình Thi
Vấn đề về tuồng, chèo, cải lơng cũng đợc các tác giả của cuốn Văn
học Việt Nam kháng chiến chống Pháp năm 1945 - 1954 đề cập tới Công
trình nghiên cứu này chú ý nhiều đến nghị quyết của Hội nghị sân khấu đối với ba thể loại trên Về tuồng, Hội nghị kết luận: Thể hiện một thái độ khoa học, biện chứng Tuy vậy , Hội nghị cũng tỏ ra cha tin tởng ở khả năng của tuồng trong việc thể hiện con ngời và hiện thực kháng chiến
Trơng Thị Hằng Nga - 40B2
Trang 7
Về chèo, Hội nghị tranh luận vẫn có một số ý kiến lệch lạc và sai lầm Nhng Nghị quyết hội nghị đã thể hiện quan điểm đánh giá đúng đắn về chèo qua một số
Do đó đề tài của chúng tôi cố gắng nhìn nhận đối tợng nghiên cứu một cách sâu hơn, toàn diện hơn Cố nhiên đề tài của chúng tôi coi những kết quả của ngời đi trớc là những tiền đề quan trọng nhằm định hớng cho công việc tiếp theo
3 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm:
- Dựng lại diễn biến của các cuộc tranh luận Văn nghệ thời kỳ 1945 – 1954
- Khái quát những vần đề lý luận cơ bản đặt ra qua các cuộc tranh luận
- Đánh giá các cuộc tranh luận và vấn đề lý luận đặt ra qua các cuộc tranh luận ấy trong tơng quan với đời sống văn học 1945 – 1954, rút ra những bài học cần thiết đối với văn học hiện nay
4 Phơng pháp nghiên cứu
Để thích hợp với đối tợng nghiên cứu, đề tài sử dụng :
- Phơng pháp lịch sử ( Lý luận đơc xem xét trong tơng quan với thời điểm xuất hiện )
Trang 85 Cấu trúc luận văn.
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, luận văn gồm 3 chơng:
Chơng 1: Những sự kiện quan trọng trong đời sống xã hội, văn hoá , văn nghệ thời kỳ 1945 - 1954
Chơng 2: Diễn biến của các cuộc tranh luận văn nghệ thời kỳ 1945 - 1954 Chơng 3: Những vấn đề lí luận cơ bản đặt ra qua các cuộc tranh luận
Trang 9Những năm đầu thập kỷ 40 dân tộc Việt Nam chịu sự đô hộ của Thực dân Pháp và phát xít Nhật Đời sống nhân dân cực khổ , điêu đứng Tình hình xã hội vô cùng đen tối.
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đa đất nớc ta bớc sang một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do, thủ tiêu nền thống trị của thực dân phong kiến Ngày 2 - 9 - 1945, Chính phủ lâm thời ra mắt quốc dân Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
Cách mạng tháng Tám thành công là một sự kiện trọng đại của lịch sử ở thế
kỷ XX Cách mạng đã làm thay đổi sâu sắc những nền tảng tinh thần của đời sống xã hội Việt Nam Từ một dân tộc đắm chìm trong nô lệ nay bỗng chốc trở thành một dân tộc độc lập - tự do , nhân dân lao động đợc làm chủ vận mệnh của mình
Đây là một cuộc cách mạng mới mẻ, triệt để và sâu sắc nhất trong lịch sử dân tộc ta
Nó không những đập tan ách đô hộ của thực dân Pháp và phát xít Nhật mà còn lật
đổ chế độ phong kiến , xoá bỏ ách bóc lột, đa lại bình đẳng và hạnh phúc cho toàn dân Với chính thể “ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà” lần đầu tiên trong lịch sử , nhân dân lao động đợc tôn vinh, đợc thực sự làm chủ đất nớc Bởi vậy Cách mạng đã trở thành ngày hội của quần chúng , cuốn hút hàng chục triệu ngời từ Bắc chí Nam phấn khởi tin yêu đi theo cờ đỏ sao vàng của chính quyền dân chủ mới Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám dờng nh đã làm hồi sinh , tái tạo lại đời sống tinh thần xã hội Việt Nam Thế hệ già trẻ từ mọi miền đất nớc đều hân hoan náo nức trong buổi bình minh của thời kỳ lịch sử mới Họ đặt hết niềm tin mãnh liệt vào Cách mạng Tố Hữu vui trong cảm xúc sung sớng , hả hê
Ngực lép bốn ngàn năm tra nay cơn gió mạnh
Thổi phồng lên tim bỗng hoa mặt trời
( Huế tháng Tám )
Trơng Thị Hằng Nga - 40B2
Trang 10
Niềm vui bất tuyệt trớc thành công của Cách mạng còn cha dứt thì tiếng súng xâm lăng của thực dân Pháp xuất hiện trở lại ở Nam Bộ Theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả nớc sục sôi đứng lên kháng chiến
Tình hình chính trị rất rối ren, các đảng phái chính trị phản động, nh Việt Nam Cách mạng đồng minh của Nguyễn Hải Thần, Việt Nam Quốc dân đảng của
Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Trờng Tam theo chân quân Tởng Giới Thạch trở về chống phá Cách mạng Bọn trốt kít ngóc đầu dậy, lập đảng , tung truyền đơn, hô hào dân chúng nổi loạn Bọn điạ chủ t sản mại bản ngấm ngầm chống đối chính quyền cách mạng
Về kinh tế chính quyền cách mạng gặp nhiều khó khăn Dới chính sách bốc lột của Pháp, Nhật, công thơng nghiệp nhỏ yếu và đình đốn, thủ công nghiệp bị phá sản, nông nghiệp bị phá hoại nghiêm trọng, tài chính thiếu thốn Dân chúng lại trải qua nạn đói khủng khiếp
Chính quyền non trẻ cùng lúc phải giải quyết hàng loạt vấn đề nh chống giặc
đói, chống giặc dốt, giặc ngoại xâm Chúng ta giải quyết nạn đói bằng “ hủ gạo tiết kiệm”, tăng gia sản xuất, đẩy lùi giặc dốt, bằng phong trào bình dân học vụ, đồng thời động viên nhập ngũ Nam tiến chống thực dân Pháp xâm lợc Hiệp định sơ bộ ( 6 -3-1946) và Tạm ớc ( 14- 9 -1946) ký kết với Pháp đã cho chúng ta thời gian hoà hoãn để chuẩn bị lực lợng đối phó Nhng với dã tâm xâm lợc của Pháp, điều gì đến
đã phải đến Ngày 19 tháng 12 năm 1946 tiếng súng toàn quốc chống thực dân Pháp bắt đầu
Toàn quốc kháng chiến Đây là sự kiện trọng đại tập trung sức lực của Đảng
và nhân dân Chúng ta vừa đánh giặc, vừa xây dựng lực lợng vũ trang, vừa phát triển kinh tế, văn hoá giáo dục ở vùng tự do và một phần ở các khu dân c du kích,
đồng thời đẩy mạnh phong trào xoá nạn mù chữ Một khối lợng lớn công việc đòi hỏi rất nhiều công sức của Đảng, Nhà nớc và nhân dân
Trơng Thị Hằng Nga - 40B2
Trang 11
Trong chín năm kháng chiến trờng kỳ gian khổ , chúng ta đi từ thắng lợi này
đến thắng lợi khác Chiến thắng Điện Biên phủ ( 7- 5- 1954) tiêu diệt hoàn toàn tập
đoàn cứ điểm đó, buộc chính phủ Pháp phải thơng lợng và ký hiệp định Giơnevơ về
Đông Dơng ( 20- 7-1954 ), bên cạnh đó còn nhiều sự kiện quan trọng nh: Đại hội
Đại biểu toàn quốc lần thứ 2 của Đảng ( 2- 1951) quyết định đa Đảng ra hoạt động công khai với tên Đảng Lao động Việt Nam
Năm 1953, sắc lệnh về Giảm tô và Cải cách ruộng đất do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề xuất đã đáp ứng yêu cầu căn bản và cấp bách của hàng triệu nông dân Nó
là chỗ dựa vững chắc cho nông dân đấu tranh tiêu diệt chế độ bóc lột phong kiến, góp phần đa kháng chiến thắng lợi
1.2 Những sự kiện lớn về văn hoá , văn nghệ
Cách mạng tháng Tám mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc đồng thời cũng mở ra một thời kỳ mới phát triển rực rỡ của văn học nghệ thuật nớc nhà Nhìn tổng thể 10 năm văn học ( 1945 - 1954) có thể chia làm hai giai đoạn:
Giai đoạn 1945 - 1946 Đây là thời kỳ bản lề của văn học chuyển mình theo Cách mạng Nhờ cách mạng tháng Tám, văn nghệ sĩ đã hai lần đợc giải phóng Cùng với một tầng lớp nhân dân, họ thoát ách nô lệ Ngòi bút của họ đợc cởi bỏ xiềng xích Ngời nghệ sĩ đã có sức nhìn sâu sắc hơn về quá khứ, xa hơn về tơng lai
Các nhà văn lãng mạn nhanh chóng chuyển mình , Nguyễn Tuân hoà với cái niềm vui chung với quần chúng để nhìn lại mình: “ Cái giờ nghiêm trọng của mày
đã điểm Bây giờ hoặc không có bao giờ nữa Mày phải kiên quyết lấy mày ra làm…lửa đốt cháy hết những phong cách cũ của tâm tởng mày”[21,34] Hoài Thanh tự nhận mình là “ nạn nhân của thời đại chữ tôi ”, đã nhận thấy “ đời sống của cá nhân không có ý nghĩa gì trong đời sống bao la của đoàn thể ” [ 35,5] Nhìn lại mình để thấm thía hết cảm xúc mới mẻ do cách mạng đem lại
Trơng Thị Hằng Nga - 40B2
Trang 12
Các nhà thơ cách mạng, chủ yếu Tố Hữu, mặc dù bận nhiều công việc vẫn cất cao tiếng nói trữ tình giàu chất chiến đấu và hiện thực, tiêu biểu là tập thơ Việt Bắc
Cách mạng thành công, ngay lập tức xuất hiện một phong trào sáng tác rầm
rộ, sôi nổi Lớp nhà văn trớc Cách mạng, lớp nhà văn trẻ sau Cách mạng kề vai sát cánh bên nhau tạo nên một không khí mới cho văn học : mới về cả nội dung và mới cả hình thức biểu hiện Cùng với sáng tác của các nhà văn , nhà thơ chuyên nghiệp
là sáng tác của phong trào văn nghệ quần chúng sôi nổi, rộng khắp
Giai đoạn 1946-1954 Văn học đi vào cuộc sống chiến đấu giữ nớc của toàn dân và lớn mạnh không ngừng Giai đoạn văn học này có thể chia ra làm hai chặng:
- 1947-1949 Kháng chiến bùng nổ, đông đảo văn nghệ sĩ hăng hái bớc vào cuộc chiến đấu chung
Kháng chiến bùng lên biệt Thủ đô
Lên đờng rảo bớc khoác ba lô
Mang theo ý chí ngời dân Việt
Thà chết không làm vong quốc nô
(Tú Mỡ – Tự thuật)
Phong trào quần chúng vốn đã nảy nở từ những ngày đầu cách mạng giờ đây phát triển sôi nổi hẳn lên và giữ vai trò chủ yếu trong sinh hoạt văn nghệ kháng chiến
Những cây bút trẻ nh Chính Hữu, Hoàng Trung Thông, Quang Dũng, Hồ
Ph-ơng có những sáng tác đầu tay Những cây bút này thừa nhiệt tình, nh… ng vẫn còn thiếu bản lĩnh nghệ thuật, chất lợng tác phẩm không đều Có thể coi đây là giai đoạn
họ mới tập dợt, làm quen với nghệ thuật
ở các văn nghệ sĩ cũ, sự chuyển đổi trong quá trình sáng cha rõ và sâu Có những nghệ sĩ trớc đó hăng say đón chào Cách mạng thì giờ đây ngừng sáng tác chuyển sang hoạt động ở lĩnh vực khác Xuân Diệu là một ví dụ Sau Ngọn quốc kỳ
Trơng Thị Hằng Nga - 40B2
Trang 13
và Hội nghị non sông đến thời kỳ này nhà thơ dờng nh cảm thấy lúng túng Nhiều
văn nghệ sĩ dờng nh cảm thấy bất lực trớc một hiện thực sôi động và không ngừng cuộn chảy về phía trớc
Để văn học chuyển mình theo phơng châm phục vụ kháng chiến đòi hỏi các văn nghệ sĩ phải có sự chuyển đổi bản thân mình Nhng thực tế đây là một công việc dễ chút nào Bởi lúc này đời sống văn học nớc ta đang rất phức tạp Trong đội ngũ văn nghệ sĩ đón chào Cách mạng rồi hăm hở tham gia kháng chiến, chúng ta bắt gặp những khuôn mặt rạng rỡ của nhiều ngời thuộc nhiều trào lu , khuynh hớng nghệ thuật khác nhau trớc Cách mạng tháng Tám Bên cạnh các nhà văn cách mạng
là các nhà văn hiện thực phê phán và các nhà văn nhà thơ lãng mạn Tuổi đời của
sự ” làm quen với công việc văn chơng
Họ cũng đến từ nhiều miền quê khác nhau trong Nam ngoài Bắc : Nam Bộ , Khu Năm, Bình Trị Thiên , Thanh - Nghệ - Tĩnh
Tâm t , suy nghĩ của mỗi ngời cầm bút về Cách mạng và kháng chiến cũng không giống nhau Có một số văn nghệ sĩ thì ngay từ đầu họ đã tìm đến với quần chúng Công nông binh nhằm thực hiện khẩu hiệu Dân tộc – Khoa học - Đại chúng Nhng cũng có một số văn nghệ sĩ vẫn còn do dự, băn khoăn , lo lắng trên con đờng trở về với dân tộc, với nhân dân nh các nhà văn lãng mạn Họ không dễ dàng khi rũ
bỏ những quan điểm sáng tác cũ đã ăn sâu trong tâm trí họ để tìm đến với những quan điểm sáng tác mới Vì thế có một số ngời cha nhập cuộc, họ chỉ là ngời quan sát mà thôi
Trơng Thị Hằng Nga - 40B2
Trang 14
Điều đó tạo nên một đội ngũ văn nghệ sĩ đa dạng và phong phú nhng cũng khá phức tạp Vấn đề này đặt ra một cách cấp bách cần phải có hớng giải quyết tốt
để đa văn nghệ chuyển mình theo hớng phục vụ kháng chiến
Tháng 7/1948 , tại Hội nghị Văn hoá toàn quốc lần thứ II , đồng chí Trờng Chinh trên cơng vị Tổng Bí th cuả Đảng đã trình bày văn kiện Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam Mở đầu tác giả trình bày quan hệ biện chứng giữa “ Văn hoá và
xã hội ” trên cơ sở đó đi đến khẳng định lập trờng văn hoá mác xít Vận dụng nguyên lí mác xít vào lịch sử “ Văn hoá Việt Nam xa và nay”, xác định “ tính chất
và nhiệm vụ dân chủ mới Việt Nam hiện thời”, Trờng Chinh đã khẳng định văn hoá cách mạng phải là: “ Mặt trận văn hoá thống nhất trong mặt trận dân tộc thống nhất” Đồng thời rộng hơn, ông cũng xác định : “ văn hoá Việt Nam trong mặt trận văn hoá trong mặt trận văn hoá dân chủ thế giới ”
Với một cấu trúc chặt chẽ , hợp lý, bao quát từ những nguyên lí chung tới những vấn đề cụ thể, thiết thực, từ tổng thể văn hoá đến văn hoá nghệ thuật, Chủ
nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam đã ghi vào đời sống văn hoá nớc ta một dấu ấn
quan trọng Lần đầu tiên, kể từ khi thành lập Đảng, sau khi nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, những ngời làm công tác văn hoá, văn học nghệ thuật Việt Nam mới có quan niệm văn hoá toàn diện trên lập trờng chủ nghĩa Mác - Lê nin Những gì Đề cơng văn hoá 1943 cha đề cập hoặc cha có điều kiện đề cập, lí giải cặn kẽ sẽ
đợc thực hiện bởi Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam ( 1948 ) sau đó 5 năm,
trong điều kiện mới, nói một cách hình ảnh nh văn kiện: “Súng đang rền nổ ngoài mặt trận Ngọn lúa xanh đã nhuốm cánh đồng Tiếng sắt rít , tiếng động cơ các x-ởng máy, đang hoà nhịp với tiếng lọc cọc của các xe thồ và tiếng đòn gánh kẽo kẹt trên vai các đoàn tiếp tế, vận tải Mấy cái đầu khoa học đang chụm lại trong các phòng thí nghiệm của quân giới hoặc bên phòng mổ của các bệnh viện Giọng đánh vần vang lên trong các xóm làng hẻo lánh Đài phát thanh ngày ngày đa tin Việt Nam kháng chiến ra thế giới sau các nhạc điệu “ Diệt phát xít”, “ Tiến quân ca” Trơng Thị Hằng Nga - 40B2
Trang 15
Cả một bộ máy kháng chiến của dân tộc Việt Nam ầm ầm chuyển động Cả một dân tộc thống nhất dới sự lãnh đạo của Hồ Chủ tịch, đang ra sức phấn đấu trên các mặt trận : Quân sự, chính trị, kinh tế và văn hoá” [ 5,52].
ý nghĩa của văn kiện Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam ngày càng
khẳng định trong thực tiễn, thành “ kim chỉ nam cho toàn thể văn nghệ sĩ trong lần nhận đờng thứ nhất”, đi vào Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân” ( Phan Cự Đệ )[ 11,3,84 ] Vũ Đức Phúc quả quyết : “Trong lịch sử văn học Việt Nam, từ xa cho đến năm 1948, cha bao giờ có một tác phẩm lí luận có ảnh hởng vừa nhanh chóng, sâu rộng vừa tốt đẹp, nh Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam của đồng chí Trờng
Chinh” [ 29, 106] Theo nhìn nhận và suy nghĩ của Vũ Đức Phúc : “ Bản báo cáo
đã giải đáp đúng tất cả những vấn đề lí luận cơ bản về văn hoá văn nghệ mà lúc ấy mọi ngời đang tranh cãi, vạch ra một cách kỹ càng đờng lối về việc thừa kế vốn văn hoá văn nghệ dân chủ mới ” [ 30, 47] Năm 1975, Nh Phong viết trong bài: Đọc laị bản báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam rằng “ Giới văn hoá đã tìm thấy
trong đó những lời giải đáp sâu sắc toàn diện và cả hệ thống chặt chẽ cho những băn khoăn, suy nghĩ của mình từ lâu về vấn đề xây dựng một nền văn hoá chân chính của dân tộc”[31,7 ] Từ ngày Cách mạng tháng Tám thành công đến 1948 mới có ba năm, ba năm cho một cuộc nhận đờng trầy trật, gian khổ Nhiều văn nghệ sĩ khao khát, có nhu cầu hiểu biết về Chủ nghĩa Mác - Lê nin , về cuộc Cách mạng mà
Đảng ta, nhân dân ta đang theo duổi và kiên trì thực hiện thì Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam đã kịp thời đáp ứng đòi hỏi của văn nghệ sĩ Hà Xuân Trờng nhớ lại:
“ Trên tờ Sinh hoạt nội bộ hồi đó do anh Trần Quang Huy làm Th ký, toà soạn có
bài phê bình tình trạng trí thức vận của anh em Bài viết phê phán cả hai: Một là xem thờng, coi nhẹ anh em, do tự ti về kiến thức và trình độ, chính nhờ sự thực tế
đó, và niềm tin khao khát về chủ nghĩa Mác, về Cách mạng, nên bản báo cáo của anh Trờng Chinh đợc toàn thể những ngời dự Đại hội văn hoá lần thứ hai nhiệt liệt
Trơng Thị Hằng Nga - 40B2
Trang 16
hởng ứng và thán phục Có thể nói đây là lần đầu tiên anh em đợc nghe một bản báo cáo vừa văn chơng, vừa trí tuệ, mang tính lý luận, và thực tiễn sâu sắc.”[ 21, 211].
- 1950 - 1954 : Các nhà thơ , nhà văn lớp trớc đã thực sự đi vào đời sống kháng chiến và phản ánh đợc không khí sôi sục của dân tộc đang kháng chiến Những băn khoăn thắc mắc đợc cởi bỏ Các văn nghệ sĩ trẻ lớn lên theo kháng chiến, qua một thời gian dài học tập và tích luỹ kinh nghiệm không ngừng để tự khẳng định mình
ở thời kỳ này, lý luận Xây dựng nền văn nghệ nhân dân do Tố Hữu trình
bày tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ hai, 1951, có ý nghĩa thực sự quan trọng Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã lật đổ chế độ thực dân và ngai vàng phong kiến, mở ra một thời đại mới cho Văn nghệ Việt Nam
Dới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã dành đợc chính quyền, giành lại quyền sống của con ngời, giành lại quyền hởng thụ những thành tựu văn nghệ của dân tộc, quyền sáng tạo một nền văn nghệ mới Nền văn nghệ mới phải mang những
đặc điểm mới, trớc đó cha có Nền văn nghệ ấy phải thuộc về nhân dân, do nhân dân tham gia xây dựng Vì vậy cần phải có lí luận về nền văn nghệ mới với những
đặc trng nói trên Từ thực tế đó tại Đại hội toàn quốc lần thứ hai của Đảng tháng2-
1951, Tố Hữu trình bày báo cáo Xây dựng văn nghệ nhân dân Việt Nam Khái niệm
Văn nghệ nhân dân mà Tố Hữu nói tới là: “ Sự nghiệp của nhân dân, đối tợng phục
vụ của văn nghệ là nhân dân, phong trào văn nghệ quần chúng là nguồn gốc là cơ sở của nền văn nghệ mới ”
[ 18,23] Xác định này hết sức quan trọng vì nó phân biệt với nền văn nghệ cũ mà
đặc trng cơ bản là phục vụ cho một tiểu số ít ngời Lí luận Xây dựng nền văn nghệ nhân dân nhằm đa tác phẩm văn nghệ đến với nhân dân, phổ cập đợc trong nhân
dân, chuyển tải t tởng, tình cảm của nhân dân Nghĩa là, làm cho mỗi ngời mang trong mình tài năng nghệ thuật, t chất nghệ sĩ đều có cơ may và điều kiện phát triển Với báo cáo của Tố Hữu, lần đầu tiên trong đờng lối văn nghệ kháng chiến, lí luận Trơng Thị Hằng Nga - 40B2
Trang 17
Xây dựng văn nghệ nhân dân Việt Nam đợc trình bày chi tiết từ sáng tác đến tiếp
nhận , từ nghệ sĩ đến công chúng, từ lí luận đến thực tiễn với những yêu cầu, nhiệm
vụ cụ thể trớc mắt cũng nh tơng lai lâu dài : “ Đoàn kết rộng rãi những công tác văn nghệ trong sự kháng chiến kiến quốc bảo vệ hoà bình thế giới ”[ 18,85], “ Đẩy mạnh sáng tác và biểu diễn , nâng cao giá trị t tởng và văn nghệ thụât của tác phẩm
”[18, 87], “Bồi dỡng , hớng dẫn phong trào văn nghệ quần chúng”[ 18, 97], “ Tích cực đấu tranh chống văn nghệ phản động Pháp – Mỹ ” [ 18, 100], “ Tăng cờng sự lãnh đạo và của chính phủ về văn nghệ ”[ 18, 100]
Ngoài hai văn kiện quan trọng của Trờng Chinh và Tố Hữu, các cuộc tranh luận Văn nghệ trên bàn hội nghị hoặc trên báo chí thời kỳ 1945-1954 góp phần giải phóng t tởng, tạo đợc sự gắn nối máu thịt giữa văn nghệ sĩ với cuộc sống rộng lớn
và cao đẹp của nhân dân để giải quyết bớc đầu nhng rất căn bản n
Những vấn đề tởng nh đơn giản nhng tất yếu: Viết cái gì? Viết nh thế nào?
khi đã trả lời câu hỏi Viết cho ai? không phải ngẫu nhiên, biểu tợng của tạp chí văn
nghệ (1948-1954) là hình ảnh cửa sổ trông ra trời cao với một ngôi sao sáng-một biểu tợng đẹp, mang ý nghĩa hớng vào cuộc đời lớn do Đảng lãnh đạo
Giải thởng văn nghệ 1951 – 1952 khẳng định sự tiến bộ của văn học kháng chiến Văn nghệ sĩ tích luỹ đợc vốn sống, gây mầm cho những sáng tạo sau này
Trơng Thị Hằng Nga - 40B2
Trang 18
Ch ơng 2
Diễn biến của các cuộc tranh luận
Thời kỳ 1945 - 1954
2.1 Hội nghị Văn nghệ bộ đội
Ngày 9/4/1949 Hội nghị Văn nghệ bộ đội đã diễn ra trên một đỉnh đồi cao tại Việt Bắc Hội nghị đã cuốn hút đợc đông đảo các văn nghệ sĩ khắp nơi về dự: “ Hôm trớc đã có tiếng thì thào kháo nhau Bọn văn nghệ Việt Nam đến đông lắm phải cẩn thận không thì lụt”[ 26,194] Họ không phải chỉ là cây bút quân đội nh: Chính Hữu, An Bá Đảm, Văn Hồng, Hà Minh Tuân, Văn Chung, Quang Phòng, Thâm Tâm, Thôi Hữu, Hoàng Lộc, Minh Diệp; không chỉ là các nghệ sĩ chuyên nghiệp
nh : Nguyễn Tuân , Tố Hữu, Xuân Khoát, Thế Lữ, Xuân Diệu, Thanh Tịnh mà…còn có cả những chàng thanh niên : “ Sống giữa dòng thế kỷ, dá xạm phong sơng, mắt đã từng nhìn vào mắt giặc, tay đã từng nhuốm máu giặc, từ những nơi đầy vang tiếng súng ”[ 26,195] cũng về đủ Hội nghị nhằm hớng tới mục đích đa văn nghệ phục vụ kịp thời và thiết thực hơn nữa đối với cuộc kháng chiến toàn quốc, đồng thời tiếp tục mở rộng và phát triển lực lợng văn nghệ quân đội Hội nghị đợc tiến
Trơng Thị Hằng Nga - 40B2
Trang 19
hành dới sự điều khiển của Thiếu tớng Văn Tiến Dũng, Cục trởng Cục Chính trị và
ông Lý Ban, Cục phó Cục Chính trị quân đội Chủ tịch đoàn gồm có Thâm Tâm, Trần Độ, Chính Hữu
Sau bài Diễn văn khai mạc của Thiếu tớng Văn Tiên Dũng, ông Trần Độ báo cáo về tình hình văn nghệ bộ đội ngay sau cuộc chiến thắng Việt Bắc và vấn đề phát triển văn nghệ bộ đội Theo Trần Độ: Một đội quân cách mạng cần phải có văn nghệ Bộ đội ta xúc cảm mạnh, có ý thức, những hành động của họ tô vẽ lịch sử tự
họ đã phát hiện ra nền “Văn nghệ tiêu biểu nhất của thời đại tiêu biểu nhất trong lịch sử Việt Nam” Nhng sau một năm công tác văn nghệ, kết quả còn chập chững
Ông kêu gọi sự giúp đỡ của anh em văn nghệ ngoài và mong rằng trong bộ đội sẽ mọc lên những Ehrenbourg những Simonov, bốc cao ngọn triều tổng phản công và làm rõ cuộc chiến đấu thần thánh của dân tộc [26,196Tiếp đó các đại biểu đã trình bày các bản tham luận và Hội nghị đã dành thời gian để thảo luận kĩ các vấn đề đặt
ra trong các bản tham luận đó Khi
Nguyễn Đình Thi thuyết trình về Hiện thực xã hội chủ nghĩa, những vấn đề ý
thức, thái độ, linh động, nội dung, hình thức, điển hình đợc nêu ra Ngời ta nhận thấy rằng bộ đội rất chú ý đến những vấn đề này Cuộc tranh luận sôi nổi kéo dài
đến sẩm tối [26,199] Bài Điển hình bộ đội của Tân Sắc cũng làm hội nghị vui từ
đầu đến cuối “Những điển hình cá nhân (nông dân, công nhân, tri thức, tiểu t sản, học sinh, lu manh), những điển hình đơn vị trong khu tự do, ở vùng tạm chiếm, trong những ngày an táng hay kỉ niệm , sự biến đổi của tất cả những con ng… ời khác nhau ấy thành ngời lính Việt Nam điển hình, đợc phân tích rất khoa học bằng một lối hành văn ngộ nghĩnh”[26,199] Tiếp đó hội nghị nghe và thảo luận về Điển hình dân quân của Đào Phan, Nhiếp ảnh của Vũ Năng An, Văn nghệ đột kích của
Minh Bắc
Ngoài việc nghe và thảo luận các vấn đề đợc đặt ra qua các bản tham luận của các văn nghệ sĩ, Hội nghị tranh luận Văn nghệ bộ đội còn là nơi, là dịp để các Trơng Thị Hằng Nga - 40B2
Trang 20
nghệ sĩ gặp nhau, trao đổi kinh nghiệm với nhau: “Từng nhóm cũ, mới, anh, em túm tụm và những câu chuyện sôi nổi, kinh nghiệm của những ngời đã sáng tác nhiều, thắc mắc của những anh mới viết, nguyện vọng của các anh, yêu cầu của các anh
đối với Hội Văn nghệ rồi cả những cuộc tranh luận náo nhiệt về quan niệm”[26,200] Họ còn tranh thủ cả những giờ nghỉ để “bá vai nhau thủ thỉ Những buổi tra họ tìm nhau ở các nhà sàn, họ hẹn gặp nhau bên bờ suối, trên bãi vô lê, họ
đọc cho nhau nghe những bài thơ, những chuyện ngắn, những bút ký, những kịch mới ”[26,200] Những buổi nói chuyện thân mật ấy đã làm cho Hội nghị trở nên…
đầm ấm, tấp nập, nhiều kết quả hơn
Hội nghị Văn nghệ bộ đội đánh dấu một bớc khởi đầu tốt đẹp cho phong trào văn nghệ sĩ đầu quân “Đến đây, “cô dâu” Tố Hữu với bộ mặt không e thẹn của những cô gái mới “xuất giá” bớc lên trình diện nhà chồng: gia đình bộ đội Cô dâu Thế Lữ với đôi mắt còn khá trẻ trung cũng tiến lê theo Giữa những tiếng hoan hô chào mừng đám cới của hai bạn đầu quân, hai nhà thơ ôm nhau, tóc bạc bên đầu xanh, khăng khít nh đôi lời gắn bó” [26,203]
Có thể nói rằng lần đầu tiên kể từ khi chúng ta có Nhà nớc, có quân đội do
Đảng lãnh đạo, một Hội nghị Văn nghệ bộ đội đã đợc tổ chức khá quy mô Xoá bỏ mặc cảm ngăn cách, tạo đợc mối quan hệ gắn bó, hỗ trợ giữa văn nghệ sĩ trong và ngoài quân đội là một thành công của hội nghị Điều này thể hiện rõ trong thời gian Hội nghị diễn ra và nhất là trong ngày bế mạc Hội nghị “Họ cùng ca, cùng hát, cùng ngâm Những ngời bạn Trung Hoa cũng tới dự Vui với anh em, họ nhảy múa những điệu Trung Hoa để chào mừng Hội nghị Văn Trung, một thanh niên Trung Hoa và Nguyễn Đình Thi, kẻ hát tiếng Tàu, ngời hát tiếng Việt, cùng trình bày một bài dân ca tơi thắm của Phần Lan theo nhịp đàn của Hồng Vân, Lơng Ngọc Trác
”[26,203-204] Và cũng thể hiện rõ qua những bài phát biểu cảm tởng của đại biểu các khu, các đơn vị Tất cả cùng hớng tới một mục đích chung là phục vụ sự nghiệp kháng chiến nhanh chóng đi đến thắng lợi Đây cũng là điều mà ông Lý Ban đã
Trơng Thị Hằng Nga - 40B2
Trang 21
nhắc nhở anh em trong buổi bế mạc Hội nghị: “Bộ đội, nhân dân là những ngời sáng tạo ra lịch sử Văn nghệ sĩ là ngời ghi chép lại lịch sử, các đồng chí nên cố làm sao vừa sáng tạo đợc lịch sử vừa ghi chép đợc lịch sử Tôi tin tởng rằng các đồng chí
sẽ làm đợc hai nhiệm vụ đó” [26,204]
Nhà văn Nguyễn Huy Tởng trong bản Tờng thuật Hội nghị đã bình luận: “ Trong lịch sử Việt Nam, đây là cuộc hội nghị văn nghệ đầu tiên Đứng trớc giai
đoạn chuẩn bị tổng phản công: nó mang một trách nhiệm lớn, thúc đẩy chiến thắng” [26,194]
2.2 Tranh luận Văn nghệ Việt Bắc.
Từ 25 tới 28/9/1949 qua mời một phiên họp, Hội nghị Văn nghệ Việt Bắc đã thu hút sự tham gia của nhiều văn nghệ sĩ khắp ba miền, hoạt động trên nhiều bộ môn nghệ thuật: Văn học, âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, nhiếp ảnh, hội hoạ Họ là…những đại biểu của các báo Sự thật, Cứu quốc, Vệ quốc quân, Quân chính tập san,
đại biểu của Tổng đoàn thanh niên, Tổng Liên đoàn lao động, Liên hiệp phụ nữ Mấy học viên lớp văn cho quân đội do Hội phụ trách Mấy học viên lớp kịch của
Đoàn Sân khấu Một số diễn viên, một thơng binh trong Đoàn Nhạc sĩ, tiểu đoàn pháo binh mà Hội mới mở đầu Một chiến sĩ, anh Siêu Hải Mục đích của Hội nghị…nhằm tổ chức tranh luận, trao đổi để giải quyết những vớng mắc trong sáng tác văn nghệ những năm đầu kháng chiến Hội
nghị họp dới quyền chủ toạ của Nguyễn Tuân, Tố Hữu, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Đỗ Cung Các ông thay phiên nhau điều khiển các phiên hợp của hội nghị
Hội nghị tranh luận Văn nghệ Việt Bắc thực sự là một sự kiện lớn của đời sống văn nghệ thời bấy giờ Hội nghị diễn ra trong bối cảnh sôi động và hào hứng của đội ngũ văn nghệ sĩ đang tích cực tham gia kháng chiến chống Pháp Hội nghị diễn ra với nội dung tranh luận rất phong phú bao gồm nhiều vấn đề, nhiều loại hình nghệ thuật : Văn học , Hội hoạ , nhiếp ảnh , sân khấu Trong nội bộ văn học, Hội
Trơng Thị Hằng Nga - 40B2
Trang 22
nghị không chỉ tranh luận , không chỉ khép khung trong phạm vi lí luận mà chạm tới thực tiễn sáng tác cụ thể của nhiều ngời.
Từng vấn đề tranh luận không chỉ thu hút mối quan tâm của những ngời trong ngành mà còn có sức lôi cuốn cả những ngời ngoài ngành , khác lĩnh vực vào cuộc Từng vấn đề mà các bản thuyết trình của các đại biểu đa ra đã đợc Hội nghị lắng nghe và thảo luận rất kỹ
Bản thuyết trình Xây dựng văn nghệ nhân dân do Tố Hữu trình bày đã đặt ra
mở đầu nêu những thức mắc về vấn đề lãnh đạo văn nghệ Cách mạng của các thành phần giai cấp khác nhau đang tham gia kháng chiến Ông đặt vấn đề : 1 ) Sự lãnh
đạo văn nghệ của giai cấp công nhân nh thế nào? Sự tham gia lãnh đạo của giai cấp khác nh thế nào? 2) Tiểu t sản thành thị và tiểu t sản thôn quê tham dự văn nghệ nhân dân nh thế nào? 3) Nếu thành phần tiểu t sản đó không thể vô sản hoá đợc thì
họ sáng tác thế nào?
Nếu họ đứng trên lập trờng dân tộc nhân dân , đứng trên lập trờng của họ , lấy đề tài của thành phần họ để sáng tác thì sáng tác của họ có thành công hay không? 5) Ai cũng nhận rằng hiện nay phần đông cán bộ huấn luyện văn nghệ đều
là tiểu t sản Nh vậy công tác huấn luyện của họ có tác dụng nh thế nào ? [ 26 ,59, Trơng Thị Hằng Nga - 40B2
Trang 23
59 ] Tham gia thảo luận , Thế Lữ cho rằng : “ địa vị văn nghệ không phải là để xây
đắp cho sự nghiệp chung của dân tộc ” Do đó đối với chúng ta , sự cải tạo t tởng là cần thiết [ 26, 597] Nguyễn Đình Thi phát biểu : “ Vai trò của gaii cấp công nhân là
đi dầu trong việc tạo ra một cách sống mới
( ) Văn nghệ bây giờ không đòi hỏi ngời văn nghệ sĩ phải công nhân hoá mới sáng tác đợc ( ) Vấn đề đối với ng… ời nghệ sĩ bấy giờ không phải trở thành anh lính , anh thợ, anh nông dân Vấn đề chính là phải gần gũi họ, để biết xúc cảm, những nguyện vọng cuả họ Vấn đề là không phải bỏ mình đi mà chính là tự cải tạo mình ” [ 26,597] Xuân Trờng khẳng định dứt khoát : Chế độ ta là chế độ dân chủ mới…Văn nghệ dân chủ mới khi bắt buộc phải đứng trên lập trờng nhân dân Tiểu t sản hay vô sản mà không đứng trên lập trờng nhân dân , chúng ta đều đã phá Trái lại nếu họ đứng trên lập trờng nhân dân thì quần chúng đều hoan nghênh” [ 26, 598]
Trả lời những vấn đề thắc mắc của Đỗ Đức Dục, Tố Hữu giải thích :
“ Trong công cuộc giải phóng dân tộc, công nhân là kẻ đi đầu thì công nhân cũng
có thể đi đầu trong công cuộc xây dựng nền văn nghệ nhân dân ( ) Trong thực…trạng xã hội, ta phải nhận rõ ngoài công nhân ra không thể có một giai cấp nào khác nhận định đợc đúng nguyện vọng của dân tộc, bớc tiến của con ngời Vì sao? Vì…các gai cấp khác vấn còn vấn vít với t hữu , đến cá nhân họ Cho nên đời sống cảm xúc họ là đời sống cảm xúc t hữu, không phải cảm xúc của ngời giải phóng” [ 26, 598] Ông nói tiếp: “ Anh Dục còn nêu ra một vấn đề quan trọng: Anh em văn nghệ
sĩ ta đều xuất thân ở giai cấp tiểu t sản Vậy làm thế nào những văn nghệ sĩ ấy đóng
đợc vai trò xây dựng văn nghệ nhân dân bấy giờ? Theo ý tôi trớc hết giai cấp t sản tuy căn bản là bất định và còn nhuộm máu cá nhân chủ nghĩa, nhng dân tộc ta là một dân tộc bị áp bức, bị bóc lột cho nên giai cấp tiểu t sản ở nớc ta vẫn luôn luôn tha thiết với sự nghiệp giải phóng con ngời với Cách mạng, với kháng chiến Họ vẫn vui lòng đi theo con đờng Cách mạng mà công nhân vạch ra, và dới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân họ dự phần tạo ra cuộc sống mới” [ 26, 598 - 599]
Trơng Thị Hằng Nga - 40B2
Trang 24
Đoàn Phú Tứ nhân danh Chủ tịch đoàn kết luận “ Nói đến Cách mạng hoá t tởng, quần chúng hoá sinh hoạt” nhng Cách mạng hoá nh thế nào? Có những cản trở gì? Có những điều kiện gì giúp ta? Chúng ta hãy rà soát lại cuộc đời, rút lấy kinh nghiệm bản thân, tìm một phơng pháp để thực hiện sự cải tạo của chúng ta”[ 26, 600].
Lời đề nghị của Đoàn Phú Tứ đợc Hội nghị nhiệt liệt vỗ tay hoan nghênh Chủ tịch đoàn lần lợt mời Thế Lữ, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Tuân, Nguyễn Xuân Khoát, Anh Thơ, nói về kinh nghiệm bản thân Đ… ợc soi tỏ bởi vấn đề “ Cách mạng hoá t tởng, quần chúng hoá sinh hoạt ” Qua tranh luận, “ Mấy con ngời nghệ
sĩ tiểu t sản ấy, thoát thai dới chế độ thực dân, bâng khuâng giữa hai thế kỷ, vừa hoang mang, vừa tin tởng, vừa đau đớn, vừa vui mừng đã có hiệu lực biến cuộc thảo luận thành những câu chuyện tâm huyết” [ 26, 600] Các nghệ sĩ đã tự giác lên diễn
đàn tự kiểm điểm những sai lầm của mình một cách chân thành
Sáng ngày 26 , tức vào phiên họp thứ ba , Hội nghị chuyển sang thảo luận vấn đề kinh nghiệm những chuyến đi Các văn nghệ sĩ đã trình bày những chuyến
đi , rút kinh nghiệm trớc, đem vào cho chuyến đi lớn sắp tới Đó là chuyến đi “ Đi với du kích Bắc Ninh ” của Nguyễn Hồng, “ Chiến dịch Sông Thao” của Tố Hữu
Tiếp đó Hội nghị tiếp tục nghe và thảo luận vấn đề Hiện thực xã hội chủ nghĩa do Nguyễn Đình Thi thuyết trình Vấn đề về âm nhạc , hội hoạ, nhiếp ảnh,
đặc biệt là tập Đờng vui của Nguyễn Tuân, Độc tấu của Thanh Tịnh, Thơ không vần của Nguyễn Đình Thi cũng đã đợc Hội nghị đa ra thảo luận sôi nổi
- Phê bình Độc tấu của Thanh Tịnh.
Mở đầu cuộc phê bình, Thanh Tịnh tự dới thiệu : “ Đứa con độc tấu trớc đây tôi không đợc hiểu rõ có đợc công nhận hay không , thì hôm nay nó đợc gọi tên đến Hội nghị Độc tấu chính là một đứa con hoang , sự hoài nghi của anh em cũng làm tôi hoài nghi ”[ 26, 622] Sau khi nêu rõ nguyên nhân viết độc tấu, ông nói về tác dụng phục vụ tuyên truyền kịp thời của nó : “Độc tấu là một cái loa tuyên truyền” [ Trơng Thị Hằng Nga - 40B2
Trang 25
26, 622] Góp ý cho độc tấu, Phạm Văn Khoa khẳng định: “ Tôi nhận thấy độc tấu rất đợc quần chúng yêu thích Nó đã có công” [ 26, 623] Nguyễn Đình Thi cho rằng : “ Độc tấu là thứ vè mới của thời đại Độc tấu có giá trị nghệ thuật thì cũng…giống nh bài vè hay, nó sẽ đợc lu lại Anh Thanh Tịnh muốn thành công thì nghệ thuật của anh không nên coi thờng quần chúng ” [ 26,624] Tố Hữu kết luận : “
Độc tấu cần Vì tôi coi nó nh một tờ báo cáo văn học vậy tôi đề nghị phải phát…triển độc tấu” [ 26, 624]
- Phê bình Đờng vui của Nguyễn Tuân.
Bản tham luận của Nguyễn Hồng về tập Đờng vui đã nhận xét mở đầu cho
cuộc tranh luận Sau những lời biểu dơng ca ngợi, Nguyên Hồng nhận xét : “ Anh yêu mình quá, dựng mình lên nhiều quá Anh đi tìm riêng cho anh cái đẹp thích hợp Nếu Nguyễn Tuân thấy sự vật đẹp , thì sự vật ấy còn có đẹp nữa không? Anh lồng sự vật vào con mắt đẹp ấy nên nó mất một phàn khách quan của nó ” [ 26, 614] Phê phán thái độ chủ quan của Nguyễn Tuân trong tuỳ bút Đờng vui Nguyên
Hồng đề nghị: “Văn chơng của kháng chiến phải lao ngời ta đến quân thù Đờng vui có cái đẹp nhng không có cái sôi lên … Đờng vui thiếu ý nghĩ dân tộc, thiếu ý
nghĩ của đại bộ phận dân tộc đang đổ máu trào nớc mắt”[26, 215] Nguyên Hồng yêu cầu tuỳ bút của Nguyễn Tuân không đợc thả hồn theo cái đẹp chủ quan của riêng ông “ Văn chơng kháng chiến phải lao ngời ta đến quân thù ” Nghĩa là phải
cổ vũ nhiệt tình cho chiến đấu Tiếp đó là ý kiến tranh luận của Nguyễn Đình Phúc : “ Tôi khó chịu vì anh Nguyễn trớc vẫn còn Anh dùng chữ ngời chơi đồ cổ Bây giờ cái cầu kỳ không còn đợc ngời ta thích lắm ”[ 26, 216].Tiếp tục là ý kiến tranh luận của Kim Lân , Nguyễn Đình Thi trớc những ý kiến sôi nổi nhiệt tình của nhiều ngời, Nguyễn Tuân thành tâm nhận “khuyết điểm” của Đờng vui.
Hội nghị tranh luận Việt Bắc năm 1949 thực sự có ý nghĩa và âm vang khá
đặc biệt trong sự chuyển biến ý thức văn học thời bấy giờ và nhiều thập kỷ
Trơng Thị Hằng Nga - 40B2
Trang 26
về sau Điều này đã đợc thể hiện quá rõ qua Tổng kết của Tố Hữu ở t cách thành viên Chủ tịch đoàn :
- Hội nghị đã giúp văn nghệ sĩ thấu hiểu các giá trị t tởng trong văn nghệ mà trớc kia họ coi là một công việc thuần tuý bản năng
- Làm nổi bật sự gắn bó chặt chẽ giữa sự nghiệp văn học nghệ thuật với sự nghiệp kháng chiến kiến quốc
- Một trong những biểu hiện sinh động , đẹp đẽ cho thành công của Hội nghị
là sau Hội nghị phong trào văn nghệ sĩ đầu quân đợc tiến hành sôi nổi, hào hứng nhiệt tình và quyết tâm “ đem hết năng lực văn nghệ phục vụ cho công tác chính trị trong quân đội, giúp vui cho các chiến sĩ nhất là ở tuyền tuyến bằng văn, hoạ, nhạc, kịch, nhiếp ảnh, góp sức vào cuộc chiến thắng của quân đội quốc gia Việt Nam ”
nh chỉ thị của Thờng vụ Trung ơng Hội Văn nghệ Việt Nam gửi các Chi hội Văn nghệ toàn quốc [ 26, 724] Hãy xem: Trong đoàn văn nghệ ở Việt Bắc đi chiến dịch Thu Đông 1949 là những gơng mặt các văn nghệ sĩ thân quen và chính họ đã góp phần tạo dựng nên diện mạo nền văn nghệ Cách mạng và kháng chiến: Mai Văn Hiến , Trần Đăng, Đỗ Nhuận, Thanh Tịnh, Nguyễn Đắc, Quang Phòng , Văn Chung, Sơn Cớc, Hoàng Tích Linh, Nguyên Hồng, Kim Lân, Văn Cao, Văn Giáo,
Lu Quang Thuận, Đinh Ngọc Quý, Nguyễn Tuân , Thế Lữ, Nguyễn Đình Thi, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Đỗ Cung, Đoàn Phú Tứ…
- Qua và sau Hội nghị , đội ngũ văn nghệ sĩ đông đảo càng đoàn kết trong các cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc , xây dựng đất nớc
- Đánh dấu một giai đoạn mới, một tác phong mới trong văn nghệ: Tác phong phê bình , tự phê bình trên tinh thần bình đẳng, dân chủ
Tổng Th ký hội văn nghệ Việt Nam, nhà văn Nguyễn Tuân, ngời điều hành một trong nhiều phiên họp cởi mở bộc lộ : “ Phải điều khiển phiên họp này, mới đầu tôi thấy mệt ghê lắm Đối phó với mấy ông viết kịch nh thế nào? Tôi vẫn có thành
Trơng Thị Hằng Nga - 40B2
Trang 27
kiến là mấy ông viết kịch xa nay nhiều mồm mép , tôi nghĩ rằng phiên họp sẽ gay
go lắm Đến nay tôi mới thấy là tôi nhầm Thật tình tôi vui sớng lắm Vì vậy thấy anh em kịch nào cũng cùng chung một băn khoăn lớn”[26 - 692]
2 3 Tranh luận Sân khấu năm 1950.
Từ ngày 20 - 22/05/1950 Ban Thờng vụ Hội Văn nghệ Việt Nam và Đoàn Sân khấu Việt Nam đã tổ chức một Hội nghị tranh luận Sân khấu, nhằm tháo gỡ v-ớng mắc để sáng tác và biểu diễn sân khấu tốt hơn Hội nghị đã thu hút đợc đông
đảo các đại biểu đến dự Sau Lời khai mạc của Thế Lữ, Đặt vấn đề của Tố Hữu ,
các đại biểu đã sôi nổi , hào hứng tranh luận về các vấn đề Kịch bộ đội ( của Chính
Hữu) , Kịch công nhân ( của Quang Huy), Kịch nông dân
( của Kim Lân), Kịch với thiếu nhi ( Của Trúc Lâm ), Phụ nữ với kịch (của Song
Kim) Nhng sôi nổi, nhiệt tình gay gắt nhất vẫn là vấn đề về tuồng, chèo, cải lơng
Không khí của những ngày hội nghị sôi nổi, phấn chấn tới mức nh ghi chép của Tô Hoài : “ ồn ào từ các hội trờng ra các ngả đờng, tuồng, chèo, cải lơng vẫn còn bốc ngùn ngụt Mặc dù một số bạn cng nó chẳng là bao Nhng ai cũng nhớ nh
in nét mặt Lu Hữu Phớc cố bình tĩnh bám riết từng lời nói của đối thủ Phan Khôi, Nguyễn Đình Thi, Võ Đức Diên, Đoàn Phú Tứ Cái bàn tay có điện giật, chốc chốc lại giơ lên, luôn luôn giơ lên của Tống Ngọc Hạp loi choi xin Chủ tịch đoàn một giây thôi cũng đợc ” [ 27 - 650] Sôi nổi không chỉ bằng lý luận, bằng tranh luận mà còn bằng : “ Cặp kính trắng của nhạc sĩ Tống Ngọc Hạp nghênh lên giữa đám đông , quay bốn phía dần giải gốc gác cải lơng : biểu diễn cải lơng : Biểu diễn từ vọng cổ bốn nhịp , run rẩy rồi thì chèo Bắc Tô Vũ mục d… ơng, cái giọng cổ rất ấm của anh Minh vừa dứt, Thanh Tịnh bớc ra cất mũ “hiến các bạn” bài chèo kinh Rồi cụ Phan Khôi đứng giữa hai hàng ghế hát chèo Quảng, điệu hát quê hơng mà từ khi ở Việt Bắc, mỗi khi hào hứng cụ lại cất giọng lên”[27,650] Cuộc tranh luận xoay quanh vấn đề là có nên để cho các loại hình nghệ thuật tuồng, chèo, cải lơng tồn tại trong
đời sống hàng ngày nữa hay không Vấn đề này đã đợc các đại biểu thảo luận, bàn Trơng Thị Hằng Nga - 40B2
Trang 28
bạc kỹ lỡng không kém phần gay go, quyết liệt bởi những ý kiến trái ngợc nhau Ngời thì cho là nên để nó tồn tại, ngời thì cho là nên loại bỏ nó ra khỏi đời sống văn nghệ Sau mấy ngày tranh luận, Hội nghị cũng đã đi đến hồi kết thúc Hội nghị đã dựa trên quan điểm quần chúng để đa ra những kết luận về số phận của tuồng, chèo, cải lơng.
Nhận xét về những ngày Hội nghị sân khấu 1950, Tô Hoài xúc động chia sẻ:
“ Trong tinh thần thống nhất chân thành, các anh, chị em làm kịch thực sự chung
l-ng đấu sức, một quan niệm, một ý chí phục vụ nhân dân dới ánh sál-ng rực rỡ của hịên thực Xã hội chủ nghĩa” [27,659] Có thể xem đây là thành công lớn nhất của Hội nghị tranh luận sân khấu 1950
2.4.Tranh luận Văn nghệ Nam Bộ
Ngày 3-1 –1950 Chi hội Văn nghệ Nam Bộ đợc thành lập Chi hội ở các tỉnh hoạt động dới sự lãnh đạo của Trung ơng và Đảng bộ ở Nam Bộ Chi hội đợc thành lập nhằm hớng dẫn hoạt động văn nghệ của quần chúng và của các ban văn nghệ chuyên nghiệp
Nhằm làm tốt nhiệm vụ của mình, Chi hội đã tổ chức nhiều cuộc họp để thảo luận một số vấn đề văn nghệ nóng bỏng hiện thời Trong số các cuộc họp đó phải kể
đến cuộc họp vào tháng giêng năm 1951 ở khu 9 ở cuộc họp này Chi hội đã sơ kết những khuyết điểm trong thời gian qua và vạch ra phơng hớng mới trong công tác văn nghệ Vấn đề trọng tâm đợc đem ra thảo luận là vấn đề đa văn nghệ đi sâu vào quần chúng, trên các hình thức xa và nay, đẩy mạnh công tác phục vụ cho nhân dân Để giải quyết vấn đề trên đây , Hội nghị đã đi đến một số kết luận đáng chú ý:
1 Chống chủ nghĩa vong bản , quay về với gốc rễ quần chúng, gốc rễ lao
động, gốc rễ dân tộc ta, đi đôi với việc học tập kinh nghiệm của nhân dân các nớc khác, đó là kinh nghiệm tiên tiến của nhân dân Liên Xô, Trung Quốc Muốn chống chủ nghĩa vong bản phải chống chủ nghĩa thế giới do đế quốc thực dân đang ra sức
Trơng Thị Hằng Nga - 40B2
Trang 29
tuyên truyền ở Sài Gòn chợ lớn và phải chống trả ảnh hởng của chủ nghĩa khách quan đang tồn tại trong một số văn nghệ sĩ chuyên nghiệp.
Sáng tác phục vụ cho nhân dân, đẩy mạnh việc sử dụng thơ lục bát Căn cứ
địa của ta là nông thôn, tuyệt đại đa số nhân dân trong các căn cứ địa là nông dân Công nhân của nớc ta cũng là ngời nông dân vừa bỏ ruộng đất đi vào nhà máy cha lâu , bản chất của họ vẫn là nông dân Làm cuộc cách mạng văn nghệ ở một nớc thuộc địa nông nghiệp lạc hậu, lại đang ở vào thế lấy thôn bao vây thành thị , mà không thấy vấn đề lãnh đạo của giai cấp công nhân đối với nông dân là một sai lầm lớn Sáng tác cho đại chúng, chủ yếu là sáng tác cho nông dân, xây dựng văn nghệ dân tộc chủ yếu là đi sâu vào nông dân để su tầm Vì nông dân là kẻ bảo vệ vốn văn nghệ dân tộc, trong khi bọn địa chủ và t sản mại bản phá hoại tất cả đem bán tất cả cái gì của dân tộc, nhằm đổi lấy quyền lợi bỉ ổi và nhằm thoả mãn thị hiếu đen tối của chúng Muốn phục vụ nông dân phải đẩy mạnh việc sử dụng thơ lục bát và
ca dao “ Đành rằng mỗi nhà thơ có quyền chọn lối thơ nào mà bạn ấy a thích nếu bạn ấy muốn cho nông dân dễ thông cảm, bạn ấy không thể coi nhẹ giá trị thơ lục bát Thơ lục bát là thể thơ đặc biệt của dân tộc Việt Nam là một sản phẩm văn nghệ quý báu của dân tộc ta hình thành trong quá trình sản xuất và đấu tranh bao thế kỷ Chúng ta không phản đối thơ 8 chữ, 5 chữ, 3 chữ Nhng chúng ta cần đẩy mạnh sáng tác thơ lục bát; không phải là hoàn toàn dùng nó nh cũ mà còn phải cải biên nó khi cần thiết , cải biên lúc nào và ở chỗ nào không thể chứa đựng đợc nhiều tác phẩm mới của thời đại ” [ 13, 33 - 34]
2) Đi sâu vào tâm hồn và tình cảm dân tộc , tận dụng các hình thức văn nghệ xa và nay
Hội nghị nhận định rằng sở dĩ phong trào văn nghệ không đi sâu vào quần chúng là vì hai lý do: một là vì tình cảm của văn nghệ sĩ cha phải là tình cảm của quần chúng, hai là những hình thức văn nghệ đang đợc sử dụng phần nhiều là xa lạ với quần chúng Vì vậy Hội nghị nhất trí nhấn mạnh anh em văn nghệ học tập quần
Trơng Thị Hằng Nga - 40B2
Trang 30
chúng , cùng quần chúng đấu tranh sản xuất, làm cho tâm hồn và tình cảm của bản thân anh em đồng nhất tâm hồn và tình cảm của quần chúng , tích cực trong dân tộc Hội nghị cũng đã quyết định nghiên cứu sử dụng các hình thức khác nhau của văn nghệ dân tộc nh là: Tranh tứ bình, tranh lục bình, dân ca, múa ngựa , hát hề ,v.v Muốn làm đợc điều này trớc tiên là phải cải tạo t tởng, thay đổi quan điểm sáng tác của một số nhà văn Nhng Hội nghị vẫn còn do dự ở một điểm: Có nên sử dụng văn nghệ thuật cải lơng không? Và có nên sử dụng ca vọng cổ không? Và hát
bộ , sử dụng đến mức độ nào?
Nhìn chung Hội nghị Nam bộ đã phê phán mạnh mẽ những mặt tiêu cực trong văn nghệ sĩ, những hình ảnh của những tiêu cực ấy đối với thực tiễn văn nghệ kháng chiến nớc ta song Hội nghị cũng bộc lộ những mặt hạn chế thiếu sót nh: đề lên rất cao thể thơ lục bát, qúa coi trọng những sáng tác nhằm mục đích tuyên truyền cổ động, ít tính nghệ thuật
II.5 Cuộc tranh luận giữa Đặng Thai Mai với Tô Ngọc Vân về vấn đề
Tuyên truyền và nghệ thuật.
Ngoài các cuộc tranh luận tại các Hội nghị, hội thảo thời kỳ 1945-1954, trên báo chí cũng diễn ra nhiều cuộc tranh luận sôi nổi, hào hứng giữa những ngời hoạt
động chính trị với nghệ sĩ, giữa nhà lý luận với nhà sáng tác Tiêu biểu là cuộc tranh luận bất phân thắng bại giữa nhà lý luận Đặng Thai Mai và hoạ sĩ Tô Ngọc Vân về
Tranh tuyên truyền với hội hoạ.
Cuộc tranh luận về Tranh tuyên truyền và hội hoạ diễn ra vào những năm
1948, 1949 Cuộc tranh luận nổ ra từ bài nghị luận của hoạ sĩ Tô Ngọc Vân với nhan đề Tranh tuyên truyền và hội hoạ đăng trên tạp chí Tự do, số1, tháng 7/1947
Tranh luận khá gay gắt với Tô Ngọc Vân là nhà lí luận Đặng Thai Mai với bài viết
Vài ý nghĩ về nghệ thuật Khi đọc bài của Đặng Thai Mai, Tô Ngọc Vân cũng tỏ ra
rất khó chịu và đã đáp lại bằng bài Vẫn tranh tuyên truyền và hội hoạ, một bài viết
gần mời trang đợc đăng trên tạp chí Văn nghệ số 2-1948 Cuộc tranh luận bất phân Trơng Thị Hằng Nga - 40B2
Trang 31
thắng bại và kéo dài tới năm 1953, với bốn tháng chỉnh huấn, do ảnh hởng của ý thức giai cấp và quan điểm về quần chúng cách mạng, cùng với không khí căng thẳng của những ngày đó, không biết Tô Ngọc Vân có thực lòng hay không, nhng
ông đã hoàn toàn sám hối Tô Ngọc Vân tự kiểm điểm lại con đờng nghệ thuật của mình, khẩu hiệu “Nghệ thuật là hởng lạc”đợc thay bằng khẩu hiệu “Nghệ thuật không làm chính trị”.Không làm chính trị, trốn tránh đấu tranh để yên ổn hởng lạc, những khẩu hiệu thâm độc đó đã chỉ đạo cuộc đời nghệ sĩ và sáng tác của tôi từ lúc vào tuổi thanh niên cho đến mãi vào kháng chiến vẫn còn đeo đẳng, luẩn quẩn trong vòng bế tắc chật hẹp: hởng lạc để có nhục cảm mà sáng tác, sáng tác mà hởng lạc
Đi tìm gợi hứng trong hởng lạc dâm ô để tô điểm lại cái dâm ô biến thành nghệ thuật Phá hoại con ngời mình và con ngời của ngời khác, thực hiện âm mu đầu độc của bọn cớp nớc, giúp chúng gieo tai vạ cho nhân dân (Tâm sự của một ngời bị đầu
độc) [34, 37]
2.6 Cuộc tranh luận giữa Hà Xuân Trờng, Nguyễn Đình Thi với Tô Ngọc
Vân về vấn đề Quần chúng và tiếp nhận nghệ thuật.
Cùng với cuộc tranh luận sôi nổi, gay gắt về vấn đề Tuyên truyền và hội hoạ mà
nhìn rộng ra là Tuyên truyền và nghệ thuật giữa Đặng Thai Mai với Tô Ngọc Vân
thì ở thời kì 1945-1954 còn phải kể đến một cuộc tranh luận tiêu biểu, không kém phần hào hứng, quyết liệt giữa HàXuân Trờng, Nguyễn Đình Thi cũng với Tô Ngọc Vân về vấn đề Học hay không học mà nhìn xa hơn là Sáng tác và tiếp nhận nghệ thuật Cuộc tranh luận này đã thu hút đợc sự quan tâm rất mạnh mẽ của d luận quần
chúng
Cuộc tranh luận này xuất phát từ bài: Học hay không học của Tô Ngọc Vân
đăng trên tạp chí Văn nghệ, số 10-1949 Bài viết đã đi ngợc lại nhận xét của Trờng Chinh trong văn kiện Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam và trong xu thế lịch sử
lúc bấy giờ í kiến của Tô Ngọc Vân bị phê phán triệt để và thổi bùng lên một cuộc tranh luận gay gắt giữa các nghệ sĩ mà tiêu biểu nhất là Hà Xuân Trờng và Nguyễn Trơng Thị Hằng Nga - 40B2