Sự xuất hiện của loại hình nhân vật trí thức trong truyện ngắn sau 1986 vừa đánh dấu sự tiếp nối mạch cảm hứng lâu đời của văn học, vừa tạo tiền đề cho việc hình thành một lối viết mới,
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-CAO THỊ HỒNG PHƯƠNG
NHÂN VẬT TRÍ THỨC TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1986
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
Trang 2MỤC LỤC Trang
Mở đầu ………
1 Lý do chọn đề tài………
2 Lịch sử vấn đề ………
3 Nhiệm vụ nghiên cứu ………
4 Phạm vi và phương pháp nghiên cứu………
5 Đóng góp của luận văn……….
6 Cấu trúc của luận văn………
Chương 1 Nhìn chung về nhân vật trí thức trong truyện ngắn Việt Nam hiện đại ………
1.1 Truyện ngắn và những ưu thế đặc trưng của thể loại ………
1.1.1 Khái niệm truyện ngắn………
1.1.2 Những ưu thế đặc trưng của thể loại truyện ngắn ………
1.2 Nhân vật và vai trò của nhân vật trong truyện ngắn……….
1.2.1 Khái niệm nhân vật và các kiểu nhân vật trong thể loại truyện ngắn………
1.2.2 Vai trò của nhân vật trong thể loại truyện ngắn………
1.2.3 Đặc trưng của nhân vật văn xuôi hiện đại………
1.3 Nhìn chung về loại hình nhân vật trí thức trong truyện ngắn Việt Nam hiện đại………
1.3.1 Khái niệm người trí thức và nhân vật trí thức……….
1.3.2 Nhân vật trí thức trong các truyện ngắn trước cách mạng Tháng Tám 1945………
1.3.3 Nhân vật trí thức trong truyện ngắn trong và sau chiến tranh (1945 -1986) ………
1.3.4 Nhân vật trí thức trong các truyện ngắn từ 1986 đến nay……….
1 1 3 7 7 8 8
9 9 9 11 14
14 18 18
20 20 23 24 30
Trang 3Chương 2: Loại hình nhân vật trí thức trong truyện ngắn Việt Nam sau
1986 ……… ………
2.1 Sự đa dạng của nhân vật trí thức trong truyện ngắn VN sau 1986………
2.1.1 Nhân vật trí thức là nhà văn, nhà báo………
2.1.2 Nhân vật trí thức là nghệ sĩ………
2.1.3 Nhân vật trí thức là công chức nhà nước………
2.1.4 Nhân vật trí thức là giáo viên………
2.1.5 Nhân vật trí thức là học sinh, sinh viên………
2.2 Các loại hình nhân vật trí thức trong truyện ngắn Việt Nam sau 1986…. 2.2.1 Nhân vật trí thức là những con người cao đẹp………
2.2.2 Nhân vật trí thức bị tha hóa………
2.2.3 Nhân vật trí thức là những con người lạc thời……….
2.3 Những bi kịch của nhân vật trí thức trong truyện ngắn Việt Nam sau 1986……… ………
2.3.1 Bi kịch vì cuộc sống cơm áo và tình yêu, hôn nhân, gia đình ……
2.3.2 Bi kịch vì chạy theo tiền tài, danh vọng……….
2.3.3 Bi kịch “vỡ mộng”, muốn cống hiến, muốn sáng tạo mà không
được……… ………
2.3.4 Những băn khoăn và niềm tin của nhà văn vào người trí thức …. Chương 3: Nghệ thuật thể hiện nhân vật trí thức trong truyện ngắn Việt Nam sau 1986………
3.1 Nhân vật gắn với sự đa dạng của tình huống truyện………
3.1.1 Khái niệm tình huống………
3.1.2 Tình huống gay cấn, éo le và tình huống đơn giản………
3.1.3 Tình huống bi kịch và tình huống hài kịch……….
3.1.4 Tình huống xung đột bên ngoài và tình huống xung đột bên trong 3.2 Sự xuất hiện phổ biến của kiểu nhân vật tư tưởng………
3.2.1 Khái niệm nhân vật tư tưởng………
35 35 37 41 44 47 50 54 54 61 68
76 76 79
81 83
88 88 88 89 93 98 102 102
Trang 43.2.2 Nhân vật tư tưởng thể hiện ý thức nghề nghiệp……….
3.2.3 Nhân vật tư tưởng thể hiện ý thức tồn tại trong đời sống tinh thần 3.3 Chú trọng thể hiện thế giới nội tâm………
3.3.1 Nội tâm nhân vật được miêu tả qua những bi kịch tinh thần……
3.3.2 Nội tâm nhân vật thể hiên qua ngôn ngữ độc thoại………
3.3.3 Nội tâm nhân vật bộc lộ qua ngôn ngữ đối thoại………
3.3.4 Nội tâm nhân vật được miêu tả qua lời trần thuật của tác giả…
3.4 Đa giọng điệu khi thể hiện nhân vật trí thức………
3.4.1 Khái niệm giọng điệu và hiện tượng đa giọng điệu trong truyện ngắn Việt Nam sau 1986……….
3.4.2 Giọng chiêm nghiệm triết lý………
3.4.3 Giọng giễu nhại, phê phán………
3.4.4 Giọng trữ tình sâu lắng………
Kết luận………
Tài liệu tham khảo……….
104 105 107 108 111 114 116 120
120 121 127 133 140 143
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Qúa trình đổi mới của văn học Việt Nam sau 1986 diễn ra trên rất nhiều
bình diện ở thể loại, đề tài, nhân vật, nội dung, giọng điệu, hình thức thể hiện…
Và ở lĩnh vực nào cũng có những thành quả đáng ghi nhận Đặc biệt là ở thể loại truyện ngắn Tìm hiểu những nét đặc sắc về các bình diện trong quá trình cách tân, đổi mới của truyện ngắn từ sau 1986 đến nay là một việc làm cấp thiết và có
ý nghĩa giúp chúng ta có thể phần nào nhận diện thành tựu truyện ngắn Việt Nam sau 1986
Trong văn xuôi Việt Nam sau Đổi mới, sự xuất hiện ngày càng nhiều của loại hình nhân vật trí thức trở thành một hiện tượng rất đáng quan tâm Đây là loại hình nhân vật thể hiện rõ ý thức nhập cuộc của nhà văn trong thời kỳ mới Sự xuất hiện của loại hình nhân vật trí thức trong truyện ngắn sau 1986 vừa đánh dấu sự tiếp nối mạch cảm hứng lâu đời của văn học, vừa tạo tiền đề cho việc hình thành một lối viết mới, thể hiện những đổi mới trong phương thức tư duy và hình thức thể hiện của các tác giả
Chọn loại hình nhân vật này qua việc khảo sát các sáng tác của các nhà văn tiêu biểu, chủ yếu là qua thể loại truyện ngắn sẽ giúp cho chúng ta định hình được những đặc điểm của loại hình nhân vật này trong văn xuôi đương đại bởi những ưu thế nổi trội của truyện ngắn mà một số thể loại khác không có được
1.2 Nhân vật là “linh hồn của tác phẩm văn học” Nhân vật trí thức là một
trong những loại hình nhân vật quan trọng tạo nên thế giới nhân vật trong văn học Và có thể nói rằng, đây là mảng nhân vật phong phú nhất, thể hiện rõ nét nhất những quan niệm nghệ thuật của nhà văn qua các sáng tác của mình Sự trỗi dậy của ý thức cá nhân cùng với sự tác động của nền kinh tế thị trường đã làm trỗi dậy nhu cầu thức tỉnh gắn liền với cảm hứng khám phá, nghiền ngẫm hiện thực, nhu cầu công bố tư tưởng riêng trong thái độ “nhập cuộc” của nhà văn Đó
là một nguyên nhân sâu xa của việc xuất hiện một cách phổ biến loại hình nhân vật trí thức
Nhân vật trí thức là một mảng đề tài màu mỡ để nhiều nhà văn nghiên cứu, khám phá Từ trước đến nay đã có rất nhiều tác giả thành công với đề tài này mà tiêu biểu là Nam Cao, Thạch Lam, Nguyễn Huy Tưởng… Việc đào bới sâu bản
Trang 6thể tâm hồn mình và những người cùng giới, cùng tầng lớp với mình là một cách giải thích của các nhà văn về thế giới xung quanh, là một cách khám phá của chính họ về hiện thực cuộc sống Việc các nhà văn như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt
Hà, Nguyễn Quang Thân các nhà văn nữ như Trần Thùy Mai, Phan Thị Vàng Anh, Lê Minh Khuê, Y Ban, Lý Lan… và một số nhà văn hải ngoại như Nguyễn Mộng Giác tiếp tục khai thác về lớp nhân vật này cho thấy đó là một vỉa quặng không bao giờ vơi cạn Và càng đọc họ, ta càng thấy thế giới của nhân vật trí thức hiện lên thật vô cùng phong phú, đa dạng, phức tạp và cũng đầy những
nguồn cơn, những nỗi niềm và cả những bi kịch thường thấy trong đời sống Tìm
hiểu loại hình nhân vật trí thức trong truyện ngắn giúp chúng ta hiểu hơn vai trò của nhân vật trong thể loại truyện ngắn
1.3 Trong xu thế Đổi mới, nền giáo dục của nước ta cũng đã có những bước
cách tân đáng kể Chương trình hiện hành đã phần nào đáp ứng được nhu cầu thiết thực của xã hội qua việc đưa vào những văn bản nhật dụng, văn bản nghị luận và bên cạnh đó vẫn giữ những tác phẩm đảm bảo “chất văn” để giúp học sinh hoàn thiện về cả kỹ năng viết văn, làm văn và cả nuôi dưỡng những tình cảm nhân ái, tốt đẹp Những tác phẩm là thể loại truyện ngắn xuất hiện rất nhiều trong chương trình THCS và THPT đã cho thấy tầm quan trọng của truyện ngắn Những tác phẩm ra đời sau năm 1975 được đưa vào chương trình cũng đã giúp cho học sinh có một cách nhận diện đầy đủ hơn về bức tranh văn học nước nhà Trong số các tác phẩm đó, những tác phẩm có sự xuất hiện của nhân vật trí thức
như: nhân vật người họa sĩ trong truyện Bức tranh (Nguyễn Minh Châu), nhân vật Nhĩ trong truyện Bến quê (Nguyễn Minh Châu) và tiếp đó là nhân vật người nghệ sĩ nhiếp ảnh trong truyện Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu) đã
cho thấy sự xuất hiện đóng vai trò “thay thế” của nhân vật trí thức trong hệ thống hình tượng nhân vật của nền văn học mới Vì thế, nghiên cứu đề tài này sẽ đóng góp ý nghĩa thiết thực trong việc tìm hiểu một cách rõ hơn nguyên nhân của
sự xuất hiện loại hình nhân vật này trong truyện ngắn thời kỳ đổi mới và giúp chúng ta giảng dạy tốt hơn loại hình nhân vật này qua các truyện ngắn sau 1975
Những lí do trên khiến chúng tôi lựa chọn đề tài Nhân vật trí thức trong truyện ngắn Việt Nam sau 1986.
Trang 72.1 Nhóm các bài viết, công trình nghiên cứu khái quát về một thời kỳ văn
học
Trong luận án Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975 (Đại học quốc gia Hà Nội, 1996), tác giả Nguyễn Thị Bình đưa ra một ý kiến gợi
mở cho chúng tôi thực hiện đề tài này: “đặc điểm nổi bật của văn xuôi Việt Nam
là vai trò của nhân vật trí thức trong cơ cấu thành phần nhân vật… Nhân vật trí thức trở thành đối tượng gửi gắm thích hợp nhất sự tự ý thức của văn học Sự xuất của loại truyện luận đề rất nhiều đi cùng với nó là các nhân vật tư tưởng mà nhân vật có khả năng chứa đựng nhiều tư tưởng hơn cả tất sẽ là nhân vật trí thức” [6]
Tác giả Phạm Thị Thu Hương (2007) trong luận văn Thạc sĩ Nhân vật nhà văn trong văn xuôi sau 1986 đến nay [36] đã nhận thấy sự xuất hiện có tính quy luật của hình tượng nhân vật nhà văn trong cả tiểu thuyết cũng như truyện ngắn Tác giả thấy rõ ý thức nghề nghiệp đã tác động hết sức to lớn tới hoạt động sáng tạo văn học trong đó nhà văn là loại hình nhân vật độc đáo thể hiện rõ ý thức sáng tạo của người sáng tạo Chính sự xuất hiện của loại nhân vật này có một ý nghĩa hết sức to lớn trong việc thể hiện những cách tân mới mẻ trong nghệ thuật
về đạo đức và các nạn nhân của xã hội.Vì thế đây là một hướng để chúng tôi
Trang 8nghiên cứu thêm về nhân vật người trí thức trong truyện ngắn Việt Nam giai đoạn sau 1986 [12].
Tác giả Lưu Thị Thu Hà (2008) trong Luận văn thạc sĩ Sự vận động của truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến nay, nhìn từ góc độ hình thức thể loại đã cho
chúng tôi những gợi ý quan trọng về kết cấu của truyện ngắn Việt Nam hiện đại giai đoạn 1986 – 2000 và về các loại hình nhân vật trong đó có những nhận xét sắc sảo về loại nhân vật cô đơn: “Với sự xuất hiện của con người cá thể, sự bừng tỉnh của ý thức cá nhân, con người thường xuyên đối diện với chính mình Thêm vào đó, bước vào thời kỳ mở cửa, nhiều giá trị đạo đức, xã hội bị đảo lộn so với thời chiến Con người dễ bị ngợp, dễ cảm thấy cô đơn trong cái môi trường sống nhộn nhạo của chính mình” [18]
Tác giả Hồ Thị Vân Anh (2008) trong khóa luận tốt nghiệp Những đặc điểm nổi bật của truyện ngắn Việt Nam năm năm đầu thế kỷ (2001 - 2005) cũng
đã có những nhìn nhận khái quát về sự phát triển của thể loại truyện ngắn của văn học đương đại Luận văn này đã giúp chúng tôi tìm hiểu một số đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn sau 1986 ở cảm hứng, giọng điệu, nghệ thuật xây dựng tình huống cũng như miêu tả nội tâm nhân vật [1]
Về cơ bản, các công trình nghiên cứu, các bài viết loại này mới chỉ dừng lại
ở những nhận định khái quát về loại hình nhân vật trí thức hoặc một loại nhân vật trong nhân vật trí thức, chưa có sự đi sâu đánh giá một cách hệ thống về loại hình nhân vật này
2.2 Nhóm các bài báo đi sâu đánh giá về nhân vật trí thức trong một tác
giả văn học cụ thể
Tác giả Anh Chi trong bài "Ma Văn Kháng và dòng chảy văn chương "
(Kỳ 1) (http://www.nguoidaibieu.com.vn/Trangchu/VN/) đã có ý kiến khá sâu sắc
trong các sáng tác về người trí thức của Ma Văn Kháng: “Trong thế giới nhân vật của anh, người trí thức đương thời có vai trò quan trọng, là linh hồn và tư tưởng của nhiều tác phẩm Ma Văn Kháng đã phải nghĩ ngợi rất nhiều về thân phận của tầng lớp trí thức” [11]
Tác giả Phan Thị Thanh Hà trong “Đặc trưng nghệ thuật văn xuôi Nguyễn Quang Thân sau 1975” (2008) cũng nhận thấy sự phong phú, đa dạng của các loại nhân vật trong hệ thống nhân vật trí thức trong sáng tác của tác giả này: “Đó
Trang 9là một thế giới sinh động đa dạng, đầy đủ tầng lớp, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, sống trong những bối cảnh khác nhau: nông thôn, thành thị… nghĩa là nhân vật trí thức của Nguyễn Quang Thân hiện diện trong không gian “mở” đan
kẽ những mảng màu tối, sáng với những cung bậc khác nhau Họ là kỹ sư, nhà văn, nhà báo, tổng biên tập, phó tiến sỹ ngôn ngữ học, nhà khoa học… Họ là người hiểu biết về lĩnh vực chuyên môn của mình, có khát vọng, hoài bão và có nhân cách [21]
Tác giả Hoàng Ngọc Hiến trong bài viết “Tôi không chúc bạn thuận buồm xuôi gió” nhận xét về thế gới nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp: “Những nhân vật nhếch nhác đốn mạt hầu hết cũng là người lao động Họ là nông dân, công nhân, thợ thủ công đồng thời là giáo viên, là cán bộ nhà nước” (Phạm Xuân Nguyên
sưu tầm và biên soạn (2001), Ði Tìm Nguyễn Huy Thiệp, NXB Văn hóa thông
tin, Hà Nội)
Tác giả Đào Thủy Nguyên (2001) trong "Thế giới nhân vật Nguyễn Khải
trong cảm hứng nghiên cứu - phân tích" (Tạp chí nghiên cứu văn học - 11) cũng
nhận thấy sự xuất hiện với mức độ dày đặc của nhân vật trí thức trong các sáng tác của Nguyễn Khải: "Nguyễn Khải đặc biệt chú ý tới tầng lớp trí thức Phải chăng vì họ là tầng lớp nhạy cảm nhất đối với mọi ấm lạnh của thời thế, họ nhiều suy tư trăn trở, nhiều lo âu trước cuộc đời hay đây là loại nhân vật mà ông thuộc nhất và có khả năng viết về họ một cách sâu sắc nhất" [56]
Tác giả Duy Thanh trong bài viết Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp thì đã viết rằng :
“Nguyễn Huy Thiệp là cây bút của những con người bị sỉ nhục Tác giả rung lên hồi chuông báo động về sự tha hóa của con người nói chung và tầng lớp trí thức nói riêng” [58]
Tác giả Thu Hương (2002) đã nêu ra vấn đề với tác giả Nguyễn Việt Hà
“Trong tiểu thuyết, truyện ngắn hay kịch bản của anh luôn có một nhân vật là trí thức có tài, trong sáng nhưng bất cần, lập dị” Tác giả đã trả lời: “Cái gọi là lý tưởng của giới trí thức rất mù mờ Họ thông tuệ, ưu tú, muốn cống hiến, đóng góp cho cuộc đời, nhưng không khí đời sống Việt Nam hiện nay rất bình ổn Chính điều này không tạo điều kiện tối ưu cho trí thức bộc lộ khả năng Trí thức phải luôn tự hỏi, luôn băn khoăn về cuộc sống, về tình yêu và sự nghiệp” [33]
Trang 10Những truyện ngắn của Nguyễn Việt Hà cho thấy sự băn khoăn trăn trở của nhà văn về tầng lớp trí thức trong cuộc sống hiện tại
Cũng như các công trình nghiên cứu, các bài viết về một thời kỳ văn học, những bài viết này cũng mới chỉ dừng lại ở những nhận định khái quát về một trong các biểu hiện của nhân vật trí thức: về nguyên nhân dẫn đến nhân vật trí thức chiếm vị trí trung tâm trong các hình tượng văn học, về bi kịch và sự tha hóa của người trí thức hay sự phong phú, đa dạng của nhân vật trí thức Nhìn chung chưa có sự đi sâu đánh giá một cách hệ thống về loại hình nhân vật trí thức trong truyện ngắn Việt Nam sau 1986
2.3 Nhóm công trình nghiên cứu về nhân vật trí thức ở các tác giả riêng lẻ
Đề tài Nhân vật trí thức trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng của tác giả
Nguyễn Thị Tiến, Luận văn thạc sĩ Ngữ văn (2007), Đại học Vinh Tác giả đã chỉ
ra những đặc điểm cơ bản của nhân vật trí thức trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng
và nghệ thuật xây dựng nhân vật trí thức của ông qua không gian nghệ thuật, qua miêu tả thế giới nội tâm và qua những cách sáng tạo từ ngữ mới mẻ Những nghiên cứu này giúp chúng tôi đối chiếu với nhân vật trí thức trong truyện ngắn
Ma Văn Kháng
Đề tài Nhân vật trí thức trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp của tác giả
Nguyễn Thị Hoa (2007), Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Vinh cũng đã xem xét nhân vật trí thức của tác giả này ở nhiều khía cạnh Trong đó tác giả đặc biệt chú
ý đến những đặc điểm của nhân vật trí thức trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
và nghệ thuật xây dựng loại hình nhân vật này ở các khía cạnh miêu tả ngoại hình, miêu tả tâm lý, nét riêng về ngôn ngữ của nhân vật Những tìm tòi này là những gợi ý quan trọng để chúng tôi thực hiện luận văn
Đề tài Truyện ngắn Ma Văn Kháng từ nửa sau những năm 80 đến nay của
tác giả Nguyễn Thị Thúy Hà (1999), Luận văn Thạc sĩ, Đại học Vinh cũng có đề cập đến những nhân vật trí thức tha hóa, biến chất, những con người có phẩm cách cao đẹp và những con người cô đơn nhưng còn ở dạng sơ lược
Đề tài Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Khải của tác giả Trần
Thị Thanh (2007), Luận văn Thạc sĩ, Đại học Vinh đã có những phát hiện thú vị
về nhân vật tư tưởng trong sáng tác của Nguyễn Khải Trong đó tác giả đã đặc biệt chú ý đến hệ thống nhân vật tư tưởng là các nhà văn, nhà báo, những người
Trang 11già Điều đó cho thấy nhân vật trí thức trong truyện ngắn Nguyễn Khải vẫn chưa được nghiên cứu thấu đáo.
Nhìn chung ở các khóa luận tốt nghiệp và luận văn thạc sĩ này đều đã chỉ ra những biểu hiện khá rõ nét của nhân vật trí thức trong các sáng tác của các nhà văn trên Tuy nhiên mỗi tác giả chỉ mới dừng lại ở mức độ hệ thống theo sáng tác của mỗi tác giả
Qua lịch sử nghiên cứu vấn đề nhân vật trí thức như đã miêu tả sơ lược ở trên, với đề tài này, chúng tôi mong muốn tìm hiểu một cách có hệ thống về loại hình nhân vật trí thức trong truyện ngắn Việt Nam sau Đổi mới Việc khái quát toàn diện lại những gì mà các nhà nghiên cứu, các học viên trước đây đã bàn bạc, xem xét vấn đề một cách thấu đáo hơn về loại hình nhân vật này là một việc làm cần thiết có ý nghĩa về mặt khoa học cũng như thực tiễn Những “khoảng mở” từ
các đề tài nghiên cứu, các bài báo trên đã giúp chúng tôi lựa chọn đề tài: Nhân vật trí thức trong truyện ngắn Việt Nam sau 1986
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Tìm hiểu một số vấn đề lý thuyết về thể loại truyện ngắn và mối quan
hệ giữa nhân vật trí thức với ưu thế đặc trưng của thể loại truyện ngắn
3.2 Làm rõ sự đa dạng và những đặc điểm của nhân vật người trí thức trong truyện ngắn sau 1986, qua đó hiểu hơn về nghệ thuật tổ chức và xây dựng nhân vật trong truyện ngắn
3.3 Tìm hiểu những nghệ thuật thể hiện nhân vật người trí thức trong truyện ngắn Việt Nam sau năm 1986 để có một cái nhìn hoàn chỉnh hơn về sự vận động và phát triển của thể loại truyện ngắn sau Đổi mới
4 Phạm vi và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phạm vi nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi chủ yếu khảo sát các truyện ngắn của các nhà văn như: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Trần Thùy Mai, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Quang Thân, Hồ Anh Thái … ngoài ra có sự so sánh đối chiếu với một số tuyển tập truyện ngắn của các tác giả khác trước và trong giai đoạn này Cụ thể là:
1 Phan Thị Vàng Anh, Tuyển tập truyện ngắn,
Http://www.3c.com.vn/e-books/TruyennganPhanThiVangAnh
Trang 122 Nguyễn Minh Châu truyện ngắn (2003), Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
3 Nguyễn Việt Hà (2003), Của rơi, Nxb Văn học, Hà Nội.
4 Trần Thùy Mai (2001), Qủy trong trăng, Nxb trẻ, TP Hồ Chí Minh
5 Trần Thùy Mai (2003), Thập tự hoa, Nxb Thuận Hóa
6 Trần Thùy Mai (2007), Lửa hoàng cung, Nxb phụ nữ, Hà Nội.
7 Nhiều tác giả (2000), Truyện ngắn hay vµ ®o¹t gi¶i 1957 - 1999, Nxb Hải
phòng
8 Nhiều tác giả (2004)- Truyện ngắn hay 2004, Nxb Thanh Hoá
9 Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Khải (1999), Nxb Văn học, Hà Nội.
10.Nguyễn Khải (2003), Sống ở đời, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội
11.Ma Văn Kháng (2002), TruyÖn ng¾n chän läc, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội 12.Ma Văn Kháng (2008), Trốn nợ, Nxb Phụ nữ, Hà Nội.
13.Hồ Anh Thái (2005), Sắp đặt và diễn, Nxb Héi nhµ v¨n, Hà Nội
14 Hồ Anh Thái (tuyển) (2005)- Văn mới 5 năm đầu thế kỷ, Nxb Hội
nhà văn
15.Nguyễn Quang Thân, Tuyển tập truyện ngắn,
http://quangthan.googlepages.com/test
16.Nguyễn Huy Thiệp (2002), Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, Nxb văn hóa
thông tin, Hà Nội
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu chính sau:
Phương pháp loại hình
Phương pháp hệ thống
Phương pháp so sánh – đối chiếu
Phương pháp phân tích – tổng hợp
5 Đóng góp của luận văn
Đây là công trình đầu tiên có sự tìm hiểu một cách có hệ thống về nhân vật trí thức trong các sáng tác của các nhà văn đương đại, qua đó hiểu hơn nghệ thuật
tổ chức và xây dựng nhân vật trong truyện ngắn hiện đại Những nghiên cứu của luận văn sẽ góp ý nghĩa thiết thực vào việc giảng dạy truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975
6 Cấu trúc của luận văn
Trang 13Nội dung chính của luận văn được triển khai thành 3 chương.
Chương 1 Nhìn chung về nhân vật trí thức trong truyện ngắn Việt Nam
hiện đại
Chương 2 Loại hình nhân vật trí thức trong truyện ngắn Việt Nam sau
1986
Chương 3 Nghệ thuật thể hiện nhân vật trí thức trong truyện ngắn
Việt Nam sau 1986
CHƯƠNG 1 NHÌN CHUNG VỀ NHÂN VẬT TRÍ THỨC TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 1.1 Truyện ngắn và những ưu thế đặc trưng của thể loại
1.1.1 Khái niệm truyện ngắn
Truyện ngắn xuất hiện trên một tạp chí xuất bản đầu thế kỷ 19, phát triển lên đến đỉnh cao nhờ những sáng tác xuất sắc của văn hào Nga A Chekhov và trở thành một hình thức nghệ thuật lớn của văn học thế kỷ 20 Từ những truyện ngắn truyền thống "thường nặng về kể, nhịp chậm, truyện phải có đầu có đuôi, kết thúc có hậu hoặc không có hậu…" [8] đã phát triển lên thành truyện ngắn hiện đại với những thay đổi lớn về người kể chuyện, về cơ cấu, vai trò nhân vật, không gian, thời gian và cả cốt truyện Thể loại "thích ứng nhanh với đời sống" này đã chiếm một vị trí xứng đáng trong nền văn học hiện đại Nó trở thành thể loại năng động nhất, thường 1được các nhà văn lựa chọn để chuyển tải những
Trang 14góc nhìn về đời sống Cho đến nay, vẫn tồn tại nhiều cách nhìn, quan niệm về truyện ngắn tùy theo chỗ đứng và quan điểm của người nghiên cứu.
Nhìn truyện ngắn như một trạng thái đặc biệt, đột xuất của cuộc sống hàng ngày, Pautopxky quan niệm: “Thực chất truyện ngắn là gì? Tôi nghĩ rằng truyện ngắn là một truyện được viết ngắn gọn trong đó cái không bình thường hiện ra như một cái gì bình thường Và cái gì bình thường hiện ra như cái gì không bình thường” [78, 63]
Quan tâm nhấn mạnh truyện ngắn ở yếu tố tình huống, Nguyễn Kiên định nghĩa: “Tôi cho rằng truyện ngắn là một trường hợp trong quan hệ giữa con người và đời sống có những khoảnh khắc nào đó, một mối quan hệ nào đó được bộc lộ Truyện ngắn phải nắm bắt được trường hợp ấy Trường hợp ở đây có khi
là một màn kịch chớp nhoáng Có khi là một trạng thái tâm lý, một biến chuyển tình cảm… Nhưng nhìn chung có thể gọi truyện ngắn là một trường hợp”
Nguyễn Công Hoan khi chia sẻ một số kinh nghiệm viết truyện ngắn đã lưu mọi người cần chú đặc biệt đến chi tiết cuả truyện ngắn: “ Truyện ngắn không phải là truyện mà là một vấn đề được xây dựng bằng chi tiết với sự bố cục chặt chẽ và bằng thái độ với cách đặt câu, dùng tiếng có cân nhắc… Muốn truyện ngắn là truyện chỉ nên lấy một trong ngần ấy chi tiết làm chính, làm chủ đề cho truyện Những chi tiết trong truyện chỉ nên xoay quanh chủ đề ấy thôi ”
Nhà văn Bùi Hiển thì cho rằng: “Truyện ngắn lấy một khoảnh khắc trong cuộc đời con người mà dựng nên Có khi nhân vật đặt trước một vấn đề phải băn khoăn, suy nghĩ, lựa chọn, quyết định Có khi chỉ là một cảnh sống và làm việc bình thường, trong đó nhân vật biểu lộ ý chí, tình cảm của mình Có khi có những hành động mãnh liệt, những tình tiết éo le Có khi chỉ là một tâm trạng, một nỗi buồn vui, một ý chớm nở Nhưng phải chọn khoảnh khắc mà nhân vật thể hiện đầy đủ nhất”
Từ góc độ đối sánh truyện ngắn với tiểu thuyết, nhà văn Nguyên Ngọc đưa
ra quan niệm về truyện ngắn như sau: “Truyện ngắn là một bộ phận của truyện nói chung Không nhất thiết phải trói buộc truyện ngắn vào những khuôn khổ gò
bó Truyện ngắn có nhiều vẻ, có truyện viết về cả một đời người, lại có truyện chỉ ghi lại một vài giây phút thoáng qua”
Trang 15Như vậy, có thể thấy truyện ngắn là một thể loại còn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau nhưng nhìn chung, chúng ta vẫn thấy có một số đặc điểm cơ bản
thống nhất Theo Từ điển văn học (bộ mới) thì “Truyện ngắn là hình thức tự sự
cỡ nhỏ Truyện ngắn khác truyện vừa ở dung lượng nhỏ hơn, tập trung mô tả một mảnh của cuộc sống hay một vài biến cố xảy ra trong một giai đoạn nào đó của cuộc sống nhân vật, biểu hiện một mặt nào đó của tính cách nhân vật, thể hiện khía cạnh nào đó của vấn đề xã hội Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một không gian và thời gian hạn chế Kết cấu của truyện ngắn không chia thành nhiều tuyến phức tạp Truyện ngắn được viết ra để đọc liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ nên đặc điểm của truyện ngắn là ngắn gọn Để thể hiện nổi bật tư tưởng, chủ đề, khắc họa nét tính cách của nhân vật đòi hỏi nhà văn viết truyện ngắn phải có trình độ điêu luyện" [69]
Từ những định nghĩa trên, chúng tôi rút ra những đặc điểm chính của thể loại truyện ngắn như sau:
Thứ nhất, đó là một thể tài tự sự cỡ nhỏ Nhỏ có nghĩa là từ vài trang đến vài chục trang Một câu chuyện được kể nghệ thuật nhưng không được phép kể dài dòng Câu chuyện đó phải có sức ám ảnh, tạo ấn tượng duy nhất, mạnh mẽ đồng thời tạo liên tưởng ở người đọc
Thứ hai, tính quy định về dung lượng và cốt truyện của truyện ngắn tập trung vào một vài biến cố, một mặt nào đó của đời sống, các sự kiện được tập trung trong một không gian nhất định
Thứ ba, nhân vật của truyện ngắn thường được làm sáng tỏ, thể hiện một trạng thái tâm thế con người thời đại
Thứ tư, chi tiết và lời văn là những yếu tố đóng vai trò quan trọng Đặc biệt
là chi tiết bởi nó có tính biểu tượng
1.1.2 Những ưu thế đặc trưng của thể loại truyện ngắn
Truyện ngắn là thể loại văn học rất nhạy cảm với những biến đổi của đời sống xã hội Với hình thức gọn nhẹ, truyện ngắn luôn bắt kịp những vận động của xã hội và tái hiện được mọi biến thái của đời sống vật chất cũng như tinh thần của con người Tính chất năng động của thể loại truyện ngắn đã đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao của cuộc sống “Truyện ngắn tự nó đã hàm chứa cái thú vị của những điều sâu sắc trong một hình thức nhỏ gọn và truyền
Trang 16dẫn cực nhanh những thông tin mới mẻ Đây là thể loại văn học có nội khí “một lời mà thiên cổ, một gợi mà trăm suy” [45, 293].
Truyện ngắn là một trong những hình thức của thời đại bởi như Biêlinxky đã từng nói "Nếu có tư tưởng của thời đại thì cũng có hình thức của thời đại" Mặc
dù bị hạn chế về hiện thực được phản ánh, hạn chế về những vấn đề nhân sinh, hạn chế về số trang, số chữ, thời gian tiếp nhận tác phẩm nhưng truyện ngắn lại
có ưu thế trong việc xoáy sâu vào một điểm quan trọng trong cuộc đời nhân vật
để làm sáng rõ tính cách của nhân vật, từ đó làm bật lên một vấn đề nào đó của
hiện thực Chính “bản chất đặc trưng thể loại của truyện ngắn cho phép nó và
buộc nó phải vượt qua sự mô tả, kể lể dài dòng, nhanh chóng dồn nén lại, đúc đến đặc sệt và nhọn hoắt ngay hiện thực” [72, 65] Với hình thức “tất cả trong một”, truyện ngắn có hiệu quả đặc biệt, như một bức tranh hiện lên với trọn vẹn
màu sắc, đưa lại cho người đọc sự thỏa mãn đầy đủ nhất (Edga Poe)
Thất vọng trước khả năng nắm bắt cuộc sống của tiểu thuyết thời kỳ này, nhà nghiên cứu Nguyên Ngọc viết: “Văn học đã chọn lấy một thể loại khác để làm cái công việc mà tiểu thuyết chưa làm được, một thể loại tự bản thân nó, do chính đặc điểm thể loại của nó, đòi hỏi khái quát: truyện ngắn… Truyện ngắn đạt được dung lượng nặng như vậy chính là vì nó được cả một giai đoạn văn học của phóng sự và tiểu thuyết tích lũy và chuẩn bị cho nó Nó có ngồn ngộn tư liệu xã hội để mà làm công việc chưng cất, chắt lọc… Rõ ràng, trong các thể loại, truyện ngắn đã tiến xa hơn cả” Nhà phê bình Bùi Việt Thắng cũng khẳng định: “Nhìn tổng thể, truyện ngắn 1975 - 2000 vượt trội so với thơ và kịch vì nhiều lý do - trong đó phải kể đến sự ưu ái của đời sống là mảnh đất màu mỡ cho các thể của văn xuôi phát triển Nếu có thể so sánh thì truyện ngắn Việt Nam trong thế kỷ 20
có hai thời hoàng kim của nó: 1930 - 1945 và 1986 - 2000”
Truyện ngắn là tác phẩm tự sự hiện đại, khám phá đời sống như một thực tại theo nguyên tắc tư duy tiểu thuyết Truyện ngắn mô tả đời sống như thực tại đang diễn ra Nhờ chiếm lĩnh đời sống theo nguyên tắc tư duy tiểu thuyết nên cấu trúc của thể loại truyện ngắn được đổi mới về căn bản so với truyện ngắn truyền thống Ở truyện ngắn hiện đại, những thành phần cơ bản của tự sự như cốt truyện, kết cấu, nhân vật, nghệ thuật trần thuật đều được hiện đại hóa Toàn bộ thế giới nghệ thuật của tác phẩm đều được tạo dựng bằng những chi tiết mang
Trang 17đậm hơi thở của đời sống và cá tính sáng tạo của nhà văn Vì vậy trong cuộc sống hiện đại, truyện ngắn là một thể tài chiếm ưu thế trong việc phát hiện mọi vấn đề của cuộc sống và được các tác giả cũng như người đọc quan tâm, lựa chọn Đây cũng là nguyên nhân khiến truyện ngắn trở thành đối tượng thu hút nhiều công trình phê bình, nghiên cứu về giai đoạn này Các công trình, bài viết nhìn chung đều đánh giá cao đóng góp của truyện ngắn trong việc phản ánh hiện
thực đời sống xã hội Phạm Xuân Nguyên trong bài Truyện ngắn và cuộc sống hôm nay đánh giá: “Truyện ngắn hôm nay tiếp xúc, xới lật các mảng hiện thực ở
cả hai chiều quá khứ và hiện tại để mong góp một tiếng nói định vị cho người đọc, một thái độ nhìn nhận, đánh giá những việc, những người của bây giờ, nơi đây” [59]
Truyện ngắn thường chớp lấy những khoảnh khắc của kiếp người, lại có thể chú trọng đến nhiều loại người, cho nên, những vấn đề thời sự, nổi cộm nhất của cuộc sống được nó nắm bắt một cách nhanh chóng, nhạy bén Sự nhanh chóng nhạy bén này không chỉ thể hiện ở việc nắm bắt vấn đề, mà chỉ tính riêng đến thời gian để ra đời một truyện ngắn cũng có thể nói lên điều đó Nhà tiểu thuyết phát hiện ra một vấn đề, nhưng để viết được một tiểu thuyết có dung lượng vừa phải, ít nhất nghệ sĩ phải mất một năm Những vấn đề nóng hổi của thời đại, những cách nhìn nhận mới về con người loé lên trong đầu nhà văn, có thể nói, thời gian để quan niệm ấy hoá thân thành thế giới nghệ thuật sẽ không cần nhiều như tiểu thuyết Đây là một đặc điểm gắn liền với báo chí của thể loại cỡ nhỏ này Cùng thể hiện quan niệm con người khó mà hoà hợp được khi bước từ thời chiến vào thời bình, Bảo Ninh đã sử dụng đến dung lượng hàng trăm trang trong
tiểu thuyết Thân phận tình yêu, còn Nguyễn Huy Thiệp chỉ cần dùng một truyện ngắn với dung lượng vài chục trang mà cũng không kém phần ấn tượng (Tướng
về hưu)
Truyện ngắn không chỉ nắm bắt một cách nhanh nhạy, mà còn thể hiện một cách ấn tượng và linh hoạt những khía cạnh trong quan niệm nghệ thuật về con người Không phải là trong tiểu thuyết không xuất hiện những kiểu người như trong truyện ngắn, chỉ có điều những nhân vật đó xuất hiện với tư cách nhân vật phụ nên thường không gây được sự chú ý của người đọc, nhà văn không tập trung làm sáng tỏ những quan niệm mà loại nhân vật này có khả năng thể hiện
Trang 18Những nhân vật phụ trong tiểu thuyết trở nên ấn tượng hơn, những quan niệm về con người được thể hiện trong những nhân vật đó trở nên sắc nét hơn khi đi vào truyện ngắn, bởi vì trong truyện ngắn, những nhân vật đó trở thành nhân vật chính, mọi chi tiết, sự kiện, ngôn từ chỉ tập trung làm sáng tỏ nhân vật đó, con người đó
Truyện ngắn không chỉ tạo điều kiện cho nhà văn thể nghiệm và triển khai những khía cạnh mới mẻ, linh hoạt trong quan niệm nghệ thuật về con người mà còn tạo điều kiện khai thác khả năng đồng sáng tạo của độc giả Đặt con người vào trong "tổng hoà các mối quan hệ xã hội", bên cạnh ý thức, nhân vật còn hiện diện cả phần nội tâm, tiềm thức và vô thức, các tác giả truyện ngắn đã khơi gợi ở người đọc cách lý giải, nhìn nhận con người Truyện ngắn thường nêu ra các vấn
đề của nhân sinh để người đọc tự suy ngẫm, lí giải theo quan niệm của riêng mình Phương thức tồn tại đầy đủ nhất của tác phẩm văn học chính là tồn tại trong chủ quan tác giả, trong văn bản và trong sự tiếp nhận của độc giả Khai thác sự đồng sáng tạo từ phía người tiếp nhận không chỉ tạo nên tính dân chủ trong tiếp nhận mà còn tăng sức nặng của những vấn đề được đặt ra Những vấn
đề nhà văn chỉ nêu lên sẽ lớn dần trong sự tiếp nhận Người đọc không đơn giản
là người tiếp nhận một cách thụ động mà còn là người tích cực chủ động tham gia cùng nhà văn vào việc nhìn nhận về con người, bổ sung những quan niệm của mình Chính vì thế, hình tượng nghệ thuật nói chung và quan niệm nghệ thuật về con người nói riêng trong truyện ngắn trở nên phong phú và sâu sắc hơn Vấn đề đặt ra đối với sáng tác văn học nói chung không đơn giản là chuyện nhà văn viết cái gì, mà là chuyện nhà văn đã gợi lên được điều gì trong lòng độc giả sau khi đọc xong truyện đó Truyện ngắn đã làm được điều này nhờ sức gợi của mình
Để tạo nên sức gợi, bên cạnh việc lựa chọn cách trần thuật, tác giả truyện ngắn cũng rất chú trọng đến lựa chọn những sự kiện, chi tiết thể hiện các khả năng có thể có của cuộc đời con người Những số phận, những con người, những sự kiện phức tạp tự nó đã cho phép nhiều cách hiểu khác nhau Truyện ngắn thường sử dụng cách trần thuật đầy ẩn ý, thường sử dụng các biểu tượng đa nghĩa Chính điều này đã tạo nên tính hàm súc, cô đọng, chất thơ của thể loại, đồng thời phát huy khả năng đồng sáng tạo của độc giả trong việc đưa ra những quan niệm về con người, về cuộc sống nhân sinh Người đọc sẽ luôn trăn trở về cách nhìn nhận
Trang 19con người cùng Nam Cao khi đọc Lão Hạc, Chí Phèo, Tư cách mõ ; sẽ luôn bị
ám ảnh, và cùng Nguyễn Huy Thiệp suy nghĩ về con người khi đọc những truyện
ngắn của ông như: Sang sông, Tướng về hưu, Không có vua
Như vậy, có thể thấy, truyện ngắn chứa đựng trong hình thức nhỏ bé của nó bao nhiêu là sức nặng Vì thế, viết được thành công một truyện ngắn không phải
là điều dễ dàng A.Tonxtoi cho rằng "truyện ngắn là một hình thức nghệ thuật khó khăn bậc nhất" Phadeep thì phát biểu: "Truyện ngắn là một trong những thể tài văn học khó nhất, đòi hỏi một công phu lao động lớn" [72, 121] Nhà văn Nguyên Ngọc thì cho rằng: “Dung lượng truyện ngắn hiện nay rất lớn, trong độ
ba trang mấy nghìn chữ mà nhìn rõ mặt cuộc đời, một kiếp người, một thời đại Các truyện ngắn bây giờ rất nặng Dung lượng của nó là dung lượng của cả cuốn tiểu thuyết” (Dẫn theo [30]) Lã Nguyên thì nhận thấy: "Đưa truyện ngắn xích gần lại tiểu thuyết là nét đổi mới quan trọng bậc nhất mà ta có thể thấy trong sáng tác của Ma Văn Kháng và nhiều cây bút khác" [57, 15] Đọc các truyện ngắn của các tác giả Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Quang Thân,… quả thực có khả năng chuyển tải hiện thực hết sức lớn lao
Sự nở rộ của truyện ngắn Việt Nam sau 1986 cho thấy tài năng nghệ thuật của các nhà văn chúng ta đã đạt đến độ chín và trong đó chúng ta cần tìm hiểu tư tưởng và ý đồ nghệ thuật của các tác giả qua các sáng tác ấy, đặc biệt là qua loại hình nhân vật xuất hiện phổ biến, lặp đi lặp lại trong hàng ngàn tác phẩm: Loại hình nhân vật trí thức
1.2 Nhân vật và vai trò của nhân vật trong truyện ngắn
1.2.1 Khái niệm nhân vật và các kiểu nhân vật trong thể loại truyện ngắn 1.2.1.1 Khái niệm nhân vật
Văn học là loại hình nghệ thuật đặc biệt thể hiến sự khám phá, giao tiếp, chiếm lĩnh hiện thực ở cả bề rộng lẫn chiều sâu Nhân vật là một trong những phương thức hữu hiệu và đắc lực để thể hiện sự cọ xát, giao tiếp, khái quát hiện thực một cách hình tượng
Nếu nhân vật trong tiểu thuyết là cả một thế giới nhân vật thì nhân vật trong truyện ngắn là một mảnh nhỏ của thế giới nhân vật ấy, Do dung lượng có hạn nên hệ thống nhân vật trong truyện ngắn không nhiều Nhân vật trong truyện
Trang 20ngắn thường là hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con người Nhân vật văn học thể hiện quan niệm nghệ thuật
và lý tưởng thẩm mỹ của nhà văn về con người Vì thế, nhân vật luôn gắn liền với chủ đề của tác phẩm Một tác phẩm văn học không thể thiếu nhân vật bởi
"nhân vật là hình thức cơ bản và quan trọng nhất để thông qua đó văn học tái hiện cuộc sống một cách hình ảnh, hình tượng" Văn học chỉ tái hiện được hiện thực thông qua những nhân vật nhất định, đóng vai trò như những "tấm gương cuộc đời" [64, 27] Vì vậy, qua những “lát cắt”, những “trường hợp”, những
“khoảnh khắc” của tâm trạng, tính cách, cách ứng xử của nhân vật trong truyện ngắn, người đọc sẽ nhận ra rất nhiều điều về cuộc sống hôm nay
Nhân vật văn học là hình tượng nghệ thuật về con người nên nó là một đơn
vị nghệ thuật đấy tính ước lệ Nó không sao chụp đầy đủ mọi chi tiết, biểu hiện của con người Vì thế, không thể đồng nhất nhân vật với con người thật trong đời sống, ngay cả trường hợp nhà văn sử dụng nguyên mẫu để xây dựng nhân vật bởi thực chất, nhân vật chỉ là những "sinh thể trên giấy" Nhân vật văn học là con người được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm văn học bằng phương tiện ngôn ngữ Giới hạn của nhân vật không bị thu hẹp trong phạm vi con người mà nhân vật có thể là sự vật, loài vật, ít nhiều mang bóng dáng, tính cách của con người, được sử dụng các phương thức khác nhau để thể hiện con người Đó là con người thực, có tên hoặc không có Đó cũng có thể là ẩn dụ về con người: ví dụ: thần linh, ma quỷ, quái vật, đồ vật… Tuy nhiên, nhân vật văn học có khi còn được dùng ẩn dụ để chỉ một hiện tượng nổi bật trong đời sống chứ không phải là một nhân vật cụ thể nào Vì thế, nhân vật văn học là một hiện tượng ước lệ có những dấu hiệu để ta nhận ra tên, qua tiểu sử, nghề nghiệp Sự xuất hiện của nhân vật trí thức trong hàng loạt các tác phẩm truyện ngắn sau 1986 cho thấy nhu cầu bức thiết muốn phản ánh thực tại xã hội của các nhà văn về giới của mình
1.2.1.2 Cách phân chia kiểu nhân vật
Căn cứ vào vai trò của nhân vật trong triển khai cốt truyện gồm có: nhân
vật chính và nhân vật phụ
Nhân vật chính là nhân vật đóng vai trò chủ đạo xuất hiện nhiều trong tác phẩm, trong câu chuyện, liên quan đến các sự kiện chủ yếu của tác phẩm Nhân vật này là cơ sở để tác giả triển khai đề tài của mình Nhân vật chính thường xuất
Trang 21hiện nhiều lần trong tác phẩm và được nhà văn khắc họa đầy đặn bằng nhiều loại chi tiết: Chi tiết tiểu sử, chi tiết ngoại hình, chi tiết nhân cách và xung đột Nhân vật chính còn là nơi thể hiện những cách tân rõ nét về nghệ thuật của nhà văn Loại nhân vật này trong truyện ngắn sau 1986 được thể hiện ở các loại nhân vật
cơ bản như: Nhân vật người nông dân, nhân vật người lính trở về, nhân vật trí thức, nhân vật lịch sử Trong đó, nhân vật trí thức là một trong loại nhân vật chính cơ bản nên chúng tôi sẽ khai thác loại nhân vật này cụ thể hơn ở chương 2 Nhân vật phụ là những nhân vật giữ vị trí thứ yếu trong diễn biến của cốt truyện so với nhân vật chính Loại nhân vật này có thể có cuộc đời, tính cách riêng hoặc chỉ thấp thoáng trong các tác phẩm để làm nổi bật nhân vật chính Một tác phẩm không thể có duy nhất nhân vật chính hay nhân vật trung tâm mà phải có các nhân vật phụ để nhân vật chính hiện lên một cách đầy đủ và toàn vẹn hơn Trong quan hệ với loại hình nhân vật trí thức trong truyện ngắn sau 1986 thì cũng có khá nhiều nhân vật phụ là nhân vật trí thức, góp phần làm sáng ró quan niệm nghệ thuật của nhà văn, tư tưởng chủ đề tác phẩm
Căn cứ vào tác động của nhân vật đối với sự phát triển của xã hội gắn với
những đối kháng mâu thuẫn trong tác phẩm gồm có nhân vật chính diện và nhân vật phản diện
Nhân vật chính diện (còn gọi là nhân vật tích cực) là những nhân vật thể hiện những giá trị tinh thần, những phẩm chất đẹp đẽ, những hành vi cao cả của con người được nhà văn miêu tả, khẳng định, đề cao theo lý tưởng thẩm mỹ xã hội Loại nhân vật này được thể hiện trong truyện ngắn sau 1986 qua các nhân vật trí thức là những con người có nhân cách cao đẹp, có lý tưởng, hoài bão cao
cả Nhân vật Trang (Khói trên sông Hương), Na (Người bán linh hồn), ông Thại (Tóc Huyền màu bạc trắng), Nam (Trăng soi sân nhỏ), Thầy giáo Triệu (Những bài học nông thôn) …
Nhân vật phản diện là nhân vật có phẩm chất, tính cách xấu xa, trái ngược với đạo lý và lý tưởng của con người, được nhân vật miêu tả trong tác phẩm với thái độ chế diễu, lên án, phủ định Loại nhân vật này trong truyện ngắn hiện đại
là những con người bị tha hóa bởi tiền bạc và quyền lực, sẵn sáng chà đạp lên lương tâm, đạo đức và nhân phẩm con người Có thể tìm thấy trong truyện ngắn
Trang 22Việt Nam hiện đại rất nhiều loại nhân vật này: Đoài (Không có vua), Huấn (Chân dung), Phú (Quê nội), Hoạt (Am bà cô)…
Căn cứ vào cấu trúc nhân vật có nhân vật chức năng, nhân vật loại hình và
nhân vật tư tưởng
Nhân vật chức năng là loại nhân vật không có đời sống nội tâm đặc điểm
cố định từ đầu đến cuối tác phẩm tồn tại trong đấy chỉ nhằm một số chức năng nhất định Nhân vật chức năng thường xuất hiện trong văn học cổ và trung đại Nhân vật chức năng vì vậy trở thành cái tượng trưng trong đời sống tinh thần Nhân vật chức năng thường xuất hiện trong văn học cổ và trung đại còn trong văn học hiện đại nhân vật thường được chú trọng khai thác ở chiều sâu, ở thế giới nội tâm
Nhân vật loại hình là loại nhân vật thể hiện tập trung một loại phẩm chất, tính cách nào đó của con người hoặc những phẩm chất, đặc điểm về tính cách, đạo đức của một loại người một thời đại nhằm khái quát chung về tính cách điển
hình (ví dụ nhân vật Nguyệt trong Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh
Châu) Trong các truyện ngắn của Ma Văn Kháng có khá nhiều nhân vật loại hình được thể hiện qua những mối quan hệ cơ bản như Mẹ chồng – nàng dâu, Mẹ ghẻ - con chồng để từ đó nhà văn bộc lộ nên những suy nghĩ về tình thương của con người trong đời sống Chỉ vì những quan niệm “thâm căn cố đế” về mối quan
hệ này mà nhiều khi họ đối xử với nhau thật tàn nhẫn: Bồ nông ở biển, Kiểm - chú bé con người, Một chốn nương thân, Mẹ và con…
Nhân vật tính cách là loại nhân vật phức tạp, được miêu tả như một nhân cách, một cá nhân có cá tính nổi bật Loại nhân vật này có mối tương quan chặt chẽ với môi trường sống, với những tình huống trong cuộc đời Nhân vật này vì vậy thường có những mâu thuẫn nội tại, có những nghịch lý và có những chuyển hoá Do đó, tính cách của nhân vật thường có một quá trình tự phát triển khiến cho nhân vật không giản đơn là chính nó Trong truyện ngắn sau 1986 dạng nhân vật này khá nhiều do nhà văn tiếp cận ở những khía cạnh rất riêng tư,
rất gần gũi trong đời sống Thủy trong Tướng về hưu, Tuấn trong Người bán linh hồn có thể là những tính cách tiêu biểu cho thời buổi cơ chế thị trường Vừa thực
dụng, tàn nhẫn nhưng lại có gì đó rất “thức thời” Tính cách nhân vật này không
Trang 23thể xét đoán theo một khía cạnh mà phải nhìn trong mối quan hệ đa chiều của cuộc sống.
Còn nhân vật tư tưởng là loại nhân vật tập trung thể hiện một tư tưởng, một
ý thức tồn tại trong đời sống xã hội Nhân vật tư tưởng là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ nhưng nó không phải là cái loa phát ngôn cho tư tưởng tác giả Loại nhân vật này có thể bao hàm trong nó những phẩm chất, tính cách, nhân cách, cá tính (nhưng đấy không phải là yếu tố cơ bản) Loại nhân vật này sẽ được chúng tôi trình bày rõ nét hơn ở chương 3
Như vậy, có thể thấy, nhân vật trong truyện ngắn là một hệ thống các nhân vật vô cùng phong phú, đa dạng Và do nó là phương tiện khái quát hiện thực nên tiếp xúc với bất kỳ tác phẩm văn học nào, người đọc cũng cần tìm hiểu, lĩnh hội cho hết nội dung cuộc sống và nội dung tư tưởng thể hiện qua nhân vật Sự phân loại nhân vật văn học cũng chỉ mang ý nghĩa tương đối bởi trong thực tế đời sống văn học, nhân vật rất phong phú, đa dạng Nhân vật văn học chiếm vị trí quan trọng đặc biệt đối với tác phẩm văn học Nắm được hệ thống nhân vật cũng chính
là đã nắm được "mã" để khám phá chiều sâu thế giới nghệ thuật ấy
1.2.2 Vai trò của nhân vật trong thể loại truyện ngắn
Đối với phương thức tự sự, nhân vật là một trong những yếu tố quan trọng biểu hiện những biến đổi ở cấp độ ý thức, quan niệm của văn học Tác phẩm văn học không thể thiếu nhân vật vì nhân vật chính là người dẫn dắt người đọc vào thế giới riêng của đời sống trong một giai đoạn lịch sử nhất định Vai trò của nhân vật đã được xác định là "có chức năng quan trọng là khái quát những tính cách, các số phận con người và các quan niệm về chúng… Giữ vị trí then chốt của truyện, giữ vị trí trung tâm trong việc thể hiện đề tài, chủ đề và tư tưởng tác phẩm" [64, 277] Nhà văn Vũ Thị Thường – người chuyên viết truyện ngắn cũng cho rằng: “Truyện ngắn sống bằng nhân vật Điều tối quan trọng là nhân vật ấy phải có hồn và đấy là yếu tố phân biệt nhân vật này với nhân vật khác Nó cũng
là tiêu chuẩn cơ bản để nhà văn lựa chọn chi tiết”
Nhân vật văn học là phương tiện khái quát hiện thực Qua nhân vật nhà văn muốn phản ánh đời sống bởi chức năng của nhân vật là khái quát quy luật cuộc sống con người, những suy nghĩ, ước ao, kì vọng của con người Cho nên, nhà
Trang 24văn xây dựng nhân vật là thể hiện những cá nhân nhất định và quan niệm đánh giá về cá nhân đó
Nhân vật là phương tiện khái quát tính cách số phận con người Tính cách nhân vật là một hiện tượng xã hội lịch sử xuất hiện trong một hiện thực khách quan, qua đó nhân vật dẫn dắt ta đến với đời sống xã hội Nhân vật là quan niệm tính cách tư tưởng mà tác giả muốn thể hiện Nhân vật không phải là con người thật nên không thể phán xét nó ở ngoài đời mà phải đặt trong mối quan hệ tình
huống truyện và ý đồ sáng tạo của nhà văn Vì thế, có thể nói nhân vật là linh hồn của mọi tác phẩm văn học.
1.2.3 Đặc trưng của nhân vật văn xuôi hiện đại
Trong một tác phẩm văn học, nhân vật là sự biểu hiện khả năng chiếm lĩnh thế giới nghệ thuật cùng với tư tưởng nghệ thuật, lý tưởng thẩm mỹ của nhà văn
về con người Trong đó, tác phẩm tự sự tỏ rõ ưu thế vượt trội trong việc khắc họa nhân vật trên mọi phương diện, cả số lượng và chất lượng, hình thức và nội dung, nội tâm và hành độn, các chặng đường phát triển, khả năng theo dõi, quan sát nhân vật trong biên độ không gian, thời gian rộng lớn Do đó, trong qúa trình sáng tác các nhà văn rất coi trọng việc xây dựng nhân vật Xây dựng nhân vật trở thành vấn đề cốt tử, then chốt của tác phẩm tự sự bởi nó là một tín hiệu thẩm mỹ Nhân vật chính là yếu tố dẫn dắt độc giả vào thế giới riêng đầy bí ẩn của đời sống trong một thời kỳ nhất định nên mỗi thời kỳ lịch sử nhân vật văn học lại mang những đặc trưng riêng, chịu sự chi phối của tư tưởng và ý thức hệ xã hội Nhân vật văn học trong tác phẩm văn xuôi hiện đại vì thế có những điểm khác biệt lớn so với nhân vật văn xuôi truyền thống và mang những đặc trưng cơ bản sau:
Nếu như trong văn học truyền thống, nhân vật văn xuôi là những con người điển hình có khả năng đại diện, có ý nghĩa tiêu biểu mà qua đó người đọc có thể cảm nhận được các hiện tượng cùng loại thì nhân vật văn xuôi ngày nay đang mất dần kiểu nhân vật điển hình ấy Nhân vật trong văn xuôi hiện đại ngày nay không có tính chất tiêu biểu cho một xã hội, một thời đại Các nhà văn ngày nay
đã từ chối những chiếc áo may sẵn chật hẹp, họ sáng tạo nên rất nhiều kiểu loại nhân vật khác nhau Đó có thể là nhân vật có tên hoặc không có tên, hoặc có những cái tên rất đặc biệt như Bóng Rổ, Hai Triệu, Ba Triệu (Hồ Anh Thái) hay
Trang 25là những ký hiệu như Homo A, Homo Z (Phạm Thị Hoài)… Họ ít được nhắc tới
và vô danh trong cuộc sống hàng ngày Điều đó cho thấy, con người trở nên bé nhỏ và dị biệt đến nỗi nó chỉ đại diện cho chính bản thân nó, không có cá nhân nào có thể thay thế được nó
Nếu như nhân vật văn xuôi truyền thống được xây dựng bằng những chi tiết,
sự kiện, bằng những hành vi ứng xử trước hoàn cảnh thì văn xuôi ngày nay ngày càng chú trọng đến tâm lý Chi tiết, sự kiện cũng được chú trọng nhưng quan trọng nhất vẫn là thế giới nội tâm phức tạp ngổn ngang của nó Vì thế mà Trần
Nho Thìn (Thể hiện con người văn chương thời cổ) đã khái quát: "Trong xu
hướng hiện nay, các nhà văn đi sâu vào khai thác đặc điểm tâm lý, tính cách ở từng cá nhân, tạo nên một thế giới nhân vật sinh động" Pospolev cũng cho rằng:
"Thể hiện tâm lý là phương thức quan trọng để chiếm lĩnh con người bằng nghệ thuật" Ngoài ra, nhân vật trong văn xuôi, đặc biệt là nhân vật trong truyện ngắn còn phần nhiều là nhân vật tư tưởng Sự xuất hiện dày đặc của nhân vật tư tưởng
ở hầu hết các tác giả cho thấy, nhân vật trong văn xuôi hiện đại chứa đựng trong
nó bao nhiêu sức nặng mà người đọc phải hết sức chú tâm mới có thể khai thác hết vẻ đẹp của nó
Có thể nói, nhân vật văn xuôi trong truyện ngắn sau 1986 không phải là con người đơn giản như trước đây nữa mà là con người đa chiều với nhiều kiểu dáng, nhiều phức tạp của tâm hồn, với nhiều nhu cầu thiết thực Nó biểu hiện sự hòa hợp giữa con người tự nhiên, con người xã hội và con người tâm linh Và chính các tác giả là người đã tạo ra sự phong phú đa dạng dường như vô tận cho nhân vật của mình Trong đó, thế giới nhân vật trí thức trong truyện ngắn sau
1986 hiện lên cũng hết sức phong phú, muôn màu muôn vẻ mà từ khai thác loại hình nhân vật này ta có thể hiểu được cơ bản nghệ thuật xây dựng nhân vật của các tác giả văn xuôi hiện đại
1.3 Nhìn chung về loại hình nhân vật trí thức trong truyện ngắn Việt Nam hiện đại.
1.3.1 Khái niệm người trí thức và nhân vật trí thức
1.3.1.1 Khái niệm người trí thức
Trang 26Trong thành phần cấu tạo nên xã hội, trí thức là một bộ phận đặc biệt Họ tuy giữ tỷ lệ không cao trong dân số nhưng với đặc thù của trí tuệ và tâm hồn, nhìn chung họ là bộ phận dân cư tiên tiến nhất của xã hội.
Khái niệm trí thức (intellectuel, savant…) từ trước đến nay đã có rất nhiều cách gọi khác nhau Theo tiếng Hán, trí thức được gọi là thức giả, học giả, hiền tài, sĩ phu…, theo tiếng Việt là kẻ sĩ, kẻ có học, người lao động trí óc…
Trong quan niệm truyền thống, trí thức là những người có học hành, chữ nghĩa Đó là anh học trò thư sinh, là cụ đồ nho, là bậc sĩ phu phong kiến Trong quan niệm thời hiện đại, trí thức là lớp người sản xuất ra các giá trị tinh thần, đẻ
ra các ý tưởng, các phát kiến làm thay đổi nhận thức về tự nhiên và xã hội của loài người Như vậy là từ xưa đến nay, tầng lớp này luôn giữ một vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển của xã hội Như Ivanov-Razumnik (1907) đã viết:
“Tầng lớp trí thức là nhóm người chống thái độ tiểu tư sản, về mặt đạo đức và phi đẳng cấp, phi giai cấp, có tính kế thừa về mặt xã hội học, có khả năng sáng tạo ra những hình thức mới và lí tưởng mới, tích cực hoạt động để biến chúng thành hiện thực nhằm giải phóng cá nhân về mặt thể chất, trí tuệ và xã hội Tầng lớp trí thức là cơ quan nhận thức của cơ thể xã hội, là toàn bộ các lực lượng sống động của nhân dân" [65]
Về người trí thức, Nghị quyết TW Đảng nêu rõ: “Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội" (Dẫn theo [88])
Như vậy, từ cách hiểu nôm na đến cách hiểu chung nhất, cốt lõi nhất trong khái niệm người trí thức là chất trí tuệ - tiền đề của lao động trí óc Đây là yếu tố
cơ bản để từ đó phân biệt với lao động chân tay
Hai mươi năm gần đây, các truyện ngắn, tiểu thuyết, bài báo đề cập rất nhiều đến vai trò của người trí thức, thậm chí có hẳn một chuyên mục bàn luận, đánh giá về người trí thức ở mọi khía cạnh, mọi vấn đề chứng tỏ sự xuất hiện ngày càng đông đảo của tầng lớp trí thức và sự chi phối của họ với đời sống Đã
có khoảng hơn ba mươi bài viết về đề tài này trên talawas quả thực là một điều rất đáng quan tâm
Trang 27Theo tác giả Trịnh Thị Hà, “Người trí thức không chỉ là người có học vấn Người trí thức là người có trách nhiệm cao, có khát vọng mãnh liệt với đất nước Người trí thức phải biết giữ gìn và tô điểm cho bản sắc văn hóa dân tộc ngày
càng đẹp hơn, làm hoàn thiện hơn đất nước, xã hội, con người” [219, 52] Đặt trong mối quan hệ của các nhân vật của Nguyễn Khải thì những nhân vật như bà
cô (Nếp nhà) cô Hiền (Một người Hà Nội) là những con người giữ vai trò hết sức
thiêng liêng gìn giữ mạch nguồn văn hóa dân tộc Những lời dặn dò của cô với con cháu về việc gìn giữ những nét văn hóa trong giao tiếp, sinh hoạt, trong lời
ăn tiếng nói thật nghiêm khắc biết bao: "Chúng mày là người Hà Nội thì cách đi đứng nói năng phải có chuẩn, không được tự nhiên, buông tuồng” [35, 258] Đã
có nhân vật trí thức nào trong truyện ngắn sau 1986 có được một tính cách, bản lĩnh đặc biệt như vậy? Thái độ trân trọng, nâng niu và cố giữ những nét văn hóa xưa của Hà Nội của người phụ nữ này khiến chúng ta phải suy ngẫm Đó là lời nhắc nhở không chỉ giữ gìn vốn văn hóa của riêng Hà Nội mà còn là giữ được gốc gác của mỗi vùng miền trước sự tác động của những nền văn hóa mới Cho nên, mặc dù bà Hiền không phải là trí thức theo nghĩa chuẩn của khái niệm này nhưng chúng tôi vẫn xếp bà vào nhóm nhân vật trí thức có nhân cách cao đẹp
1.3.1.2 Về nhân vật người trí thức
Mọi giới thuyết, định nghĩa, chỉ có thể phát huy được tác dụng cao nhất khi
nó thiết thực cho việc tiếp cận đối tượng nghiên cứu của đề tài Theo hướng đó chúng tôi thấy các định nghĩa trên về người trí thức tất nhiên là đã khái quát được những đặc điểm cơ bản nhất của người trí thức nhưng cái khung chung của nó còn quá rộng Nó nghiêng về phù hợp với một loại người trong xã hội đã đạt đến một trình độ phát triển đồng đều nhất định về khoa học kỹ thuật và cơ sở vật chất Còn nếu soi vào thực tiễn xã hội Việt Nam những năm sau Đổi mới với những khó khăn về kinh tế xã hội - mà đó là bối cảnh sống chung của các nhân vật trí thức trong đề tài mà chúng tôi nghiên cứu thì các định nghĩa đó e là chưa sát với đối tượng nghiên cứu Mặt khác, khi nhân vật này được thể hiện trong một thể loại chỉ chú trọng khai thác những "khoảnh khắc" của đời sống, "một tình huống nào đó xảy ra trong cuộc đời con người" nên những hình tượng nhân vật trí thức trong các truyện ngắn mà chúng ta khảo sát, nghiên cứu ở đây sẽ có nhưng không nhiều những hình tượng điển hình, tiêu biểu mang tính chất đại
Trang 28diện cho tầng lớp trí thức trong xã hội Việt Nam sau 1986 Nghĩa là, qua việc tìm hiểu các đặc điểm của người trí thức, qua việc tìm hiểu đời sống tinh thần của họ chúng ta sẽ nhận chân được bộ mặt của tầng lớp trí thức trong xã hội, thấy được những điều mà các nhà văn muốn phản ánh qua tầng lớp đặc biệt này
Trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ vẫn còn mang "hình hài phong kiến và chế độ tiểu nông gia trưởng" [43, 17] nên trong tâm thức, trong quan niệm chung của xã hội, người trí thức sẽ gần gũi với thực tế cuộc sống hơn Vì thế, khi trở thành nhân vật văn học họ cũng sẽ hiện lên với những đặc điểm bình thường nhất bên cạnh những con người lao động khác (lao động chân tay) Phong Lê cho rằng: "Kiểu người được gọi là trí thức theo cách hiểu có chữ nghĩa, có qúa trình đào tạo để trở thành một khối công nhân viên - cán bộ nhà giáo, nhà văn, kỹ sư, bác sĩ… trong hệ thống thang bậc của đời sống công quyền trong phân biệt với những người lao động chân tay, ít học như công nhân, nông dân hoặc lao động tự do" [43, 19]
Từ các định nghĩa trên cho thấy, nhân vật người trí thức là hình tượng văn học được xây dựng nên trong các tác phẩm văn học mang những đặc điểm của người trí thức, được sáng tạo theo ý đồ nghệ thuật của nhà văn
Trong một cách hiểu như vậy, chúng ta sẽ tìm hiểu các nhân vật trí thức mà văn học giai đoạn này phản ánh một cách dễ dàng hơn, phù hợp hơn với đối tượng nhân vật người trí thức, trong đó có truyện ngắn Việt Nam sau 1986
1.3.2 Nhân vật trí thức trong các truyện ngắn trước cách mạng Tháng Tám 1945.
Sự trỗi dậy của ý thức cá nhân đã làm cho không chỉ có trong thơ, các nhà thơ tự nói về mình: “Tôi chỉ là một khách tình si” (Thế Lữ) hay Xuân Diệu “Là thi sĩ nghĩa là ru với gió, Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” mà các nhà văn cũng viết rất nhiều về nghề nghiệp của mình Tiêu biểu là trong các sáng tác của Thạch Lam và Nam Cao
Trong các sáng tác của Thạch Lam nhân vật trí thức tiểu tư sản cũng hiện lên khá rõ nét qua sự trăn trở lặng lẽ của nhà văn Đó là tầng lớp tiểu tư sản, học sinh, viên chức nghèo đói đang sống lay lắt, bấp bênh trong cuộc sống đô thị
(Bào - Người bạn trẻ, Sinh - Đói…) Đó là người trí thức bất chợt trong một khoảnh khắc của cuộc đời đã tự thức tỉnh mình bởi ánh sáng lương tâm (Tình
Trang 29xưa, Người bạn cũ, Một cơn giận, Sợi tóc…) Còn với những trí thức mà sự tha hóa trong tâm hồn đã trở thành đỉnh điểm (Tâm, Trở về) [88] thì ngòi bút phê phán của Thạch Lam lại trở nên hết sức điềm tĩnh, lặng lẽ lần lượt bóc tách, phơi bày… Như vậy, so với trước đó, hình ảnh người trí thức đã có những điểm nhấn
ấn tượng Họ là những con người của đời sống nội tâm, của những suy tư trăn trở, dằn vặt trước cái tầm thường, hạn hẹp của đời sống để hướng tới cái cao đẹp Tuy nhiên, phải đến Nam Cao thì vấn đề người trí thức mới được đặt ra một cách bức thiết, sát thực tiễn và ám ảnh nhất Theo sự tổng hợp của tác giả Trần Hữu Lam thì thế giới nhân vật trong đề tài trí thức tiểu tư sản của Nam Cao gồm
có: Các giáo khổ trường tư (Điền trong Trăng sáng, Thứ , Oanh, San trong Sống mòn), Những nhà văn nghèo (Hộ trong Đời thừa, Điền trong Trăng sáng, nhân vật tôi trong Mua nhà), Những viên chức hạng bét (Hài trong Quên điều độ), Những học sinh (Truyện tình) [9] … Trong bối cảnh lịch sử Việt Nam thời Pháp thuộc những năm 40, nhân vật người trí thức của Nam Cao cũng từng khắc khoải như vậy Đó là những nhân vật trí thức rơi vào bi kịch vỡ mộng, chế độ Pháp
thuộc thời đó đã chặt đứt đôi cánh ước mơ của họ: (Nam Cao), Điền (Trăng sáng), Thứ (Sống Mòn), Hộ (Đời thừa) đều vật vã, đau đớn trong dằn vặt mâu
thuẫn giữa ước mơ và hiện thực, tiêu biểu là Hộ Hộ có tài Lúc đầu, anh viết rất thận trọng Mang một hoài bão lớn: "hắn băn khoăn nghĩ đến một tác phẩm nó sẽ làm mờ hết các tác phẩm cùng ra một thời", "Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có" Thế nhưng, từ khi phải lo kiếm tiền nuôi vợ con, Hộ "cho
in nhiều cuốn văn viết vội", hắn xấu hổ khi đọc lại văn mình, tự xỉ vả mình "là một thằng khốn nạn", "là một kẻ bất lương!" Người trí thức trong các truyện ngắn của Nam Cao khát vọng là thế, nghị lực là thế nhưng rút cục vẫn chỉ là những kẻ sống mòn, những cuộc "đời thừa" Và ý thức cho đến khi chết họ vẫn
"chưa làm gì cả, chết mà chưa sống" là một trăn trở đầy nhức nhối của nhà văn tài năng này về vai trò, trách nhiệm của kẻ trí thức trước thời cuộc
1.3.3 Nhân vật trí thức trong truyện ngắn trong và sau chiến tranh (1945 -1985)
Cách mạng Tháng Tám thành công đã tạo nên những bước ngoặt lớn trong đời sống chính trị xã hội Đối với các nhà văn, đó là một bước ngoặt lớn về tư
Trang 30tưởng Sau một thời gian dài đắm mình trong cái tôi cô đơn, tuyệt vọng và rầu rĩ các nhà văn đã nhận ra cần phải thay đổi về thế giới quan, nhân sinh quan Và theo quán tính, nhân vật trí thức lại tiếp tục xuất hiện bởi đó vẫn là thế giới mà
họ am hiểu nhất Sự ra đời của truyện ngắn Đôi mắt (Nam Cao - 1948) – truyện
ngắn có ý nghĩa mở đường cho nến văn học mới, đánh dấu bước phát triển mới cho nền văn học cách mạng Hình tượng nhân vật người trí thức hiện lên qua nhân vật Hoàng và Độ, còn xa lạ với cuộc sống chiến đấu mới Họ cũng có những mặt tốt, mặt tích cực như Độ nhưng cũng còn có sự hoài nghi như Hoàng Nam Cao đã phản ánh một cách trung thực sự lựa chọn của người trí thức trước dòng chảy của lịch sử Tiếp theo đó là một loạt các truyện ngắn của các tác giả Nguyễn Khải, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng… Tuy nhiên, do đặc thù tầng lớp, trước mắt người trí thức lúc đó có rất nhiều ngả đường để họ lựa chọn, quyết định cho tương lai cuộc đời mình Hoàn cảnh lịch sử đã bắt buộc người trí thức phải "cùng xương thịt với nhân dân" Mà muốn vậy, họ phải tự gột rửa mình, phải tự tái sinh, làm mới mình bằng một cuộc cách mạng tinh thần âm thầm mà quyết liệt để từ đó họ vượt lên chính mình Nhưng khi giai đoạn nhận đường đã qua, khi cuộc kháng chiến đã đi vào quỹ đạo ổn định,, khi tiếng nói cá nhân ít có điều kiện cất lên thì đề tài người trí thức lắng lại, nhân vật trí thức chỉ là một "đường viền" mờ nhạt với dụng ý đối sánh để làm tôn nổi những nhân vật trung tâm, phù hợp với quan điểm thẩm mỹ thời đại Trong giai đoạn này, người trí thức hầu như không đi vào văn học với tư cách là một đề tài trọn vẹn như văn học trước đây mà được trộn lẫn vào đề tài khác Cụ thể và quen thuộc nhất là đề tài người lính và chiến tranh cách mạng Do đó, ta thường thấy, hình ảnh quen thuộc của thời kỳ này là những học sinh vừa rời ghế nhà trường, những sinh viên, những trí thức trẻ từ giã cuộc sống êm đềm, bước vào chiến trường làm người lính Qua các truyện ngắn thời kỳ này ta vẫn nhận ra được những vẻ đẹp, những nét riêng của nhân vật trí thức Cuộc sống kháng chiến tuy khắc nghiệt nhưng họ đã tích lũy được một vốn sống khá phong phú để rồi họ trưởng thành hơn Họ trở thành những nhà văn tiêu biểu của cả một thời
kỳ lịch sử
Trong truyện ngắn Nguyễn Khải thời kỳ đầu, nhân vật trí thức là những
giáo viên, là chủ nhiệm chính trị nông trường như Cừ (Đứa con nuôi – 1960) với
Trang 31phẩm chất tốt đẹp nhận nuôi bé Tấm vì hoàn cảnh đáng thương của em Ngoài tình bố con mà anh ấp ủ, anh còn thấy mình "phải có trách nhiệm đối với một thế
hệ đang lớn lên Phải gây cho nó có lòng tin yêu, có cách sống thẳng thắn, cởi
mở thì nó mới trở thành một công dân tốt của cái xã hội hết sức mới mẻ” [33,
82-83], là Tuy Kiền (Tầm nhìn xa -1963) với bản tính khá thực dụng, là những nhà văn, nhà báo phục vụ cho cuộc kháng chiến (Nhân vật Tôi trong Người lãng mạn) Trong Người lãng mạn, khác với “tôi” chịu khó viết, từ những bài giải đáp,
hướng dẫn các bài điều trị thông thường, cách sơ cứu các vết thương đến truyện ngắn chiến đấu, mẩu chuyện sinh hoạt và cả vui cười… Vì thế, từ một người dẫu còn non nớt nhưng rồi vẫn có thể viết được nhân vật tôi đã trở thành một “cây
bút quan trọng” của một tờ báo tỉnh đội, rồi trở thành nhà văn trong khi đó anh
Q vẫn là “một người mơ mộng mà không chuẩn bị Anh ôm ấp một giấc mộng quá lớn, lớn hơn anh nhiều nhưng lại không chịu lớn theo trong qúa trình tập dượt Anh không chịu được sự chỉ trích Anh không có gan phơi bày những chỗ yếu kém non nớt của anh” vì thế giấc mơ làm một “người chỉ huy quân sự xuất
sắc như Napoleon hay một nhà văn có tên tuổi như những người trong nhóm Tự lực văn đoàn” đã không thể thực hiện được Truyện ngắn này đã chỉ cho các nhà
văn thấy qúa trình trưởng thành của một nhà văn nói riêng và con người nói chung là phải luôn tự mình nỗ lực thực hiện mơ ước Phải bắt đầu từ những việc làm nhỏ nhặt nhất để rèn luyện cho mình thành thục các kỹ năng Cái tháp cao nào cũng phải xây từ mặt đất lên, con người ta không thể ngồi đó mơ mộng mà mong thành công đến với mình
Ở Nguyễn Khải, hình tượng nhân vật trí thức cũng có rất nhiều biến chuyển Những truyện ngắn viết vào những năm cuối chiến tranh đã cho thấy những sự báo của nhà văn về bản tính bảo thủ cố chấp của nhân vật trí thức Chỉ ra những sai lầm trong quan niệm, cách nghĩ, cách sống của một người thuộc tầng lớp mình là một điều khá mới mẻ và chính từ những hình tượng nhân vật như vậy đã đưa đến sự nở rộ của một mảng đề tài mới: Mảng đề tài hạnh phúc gia đình trong
giới trí thức Truyện ngắn Một trường hợp li dị -1974 là một sự quan sát tinh tế,
kỹ lưỡng của Nguyễn Khải về trường hợp của anh P Trong thâm tâm anh P, mặc dầu là người rất yêu vợ, thương con nhưng mỗi lần vợ chồng cãi nhau về một vấn đề gì đó là anh bị ám ảnh bởi ý định rất kỳ quặc "Mình phải thắng! Cô ta
Trang 32phải thua! Mình là người có lý, duy nhất có lý" Và rồi anh chị P chia tay nhau
vì những lần anh hiếu thắng như vậy Anh từ chối xin lỗi vợ, anh không thể hạ mình trước vợ dù anh vẫn rất yêu vợ chỉ bởi một lý do rất đơn giản: "Dẫu có lỗi tôi vẫn là người chồng Người chồng xin lỗi vợ thì không còn là người chồng nữa" Anh đã đánh đổi hạnh phúc gia đình và tương lai của các con anh chỉ vì chút sĩ diện hão của anh trí thức, chỉ vì anh là "người chủ được kính trọng của gia đình" [38, 184] Câu chuyện tưởng chừng như hết sức riêng tư nhưng tác giả đã gửi gắm vào đó bao nhiêu điều sâu sắc Hãy dẹp bỏ những tự ái vặt, những sĩ diện hão của giới trí thức mà nâng niu, gìn giữ hạnh phúc gia đình
Trong các truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu ta cũng nhận ra bóng dáng của các nhân vật trí thức, chỉ có điều đây là những người trí thức khoác áo lính đang thực hiện những nhiệm vụ cao cả với dân tộc Đó là cô học sinh Nguyệt
trong Mảnh trăng cuối rừng vừa rời ghế nhà trường, xung phong làm cô thanh
niên xung phong ở ngầm Đá Xanh Cô mang trong mình một tình yêu nước, một niềm tin cháy bỏng, mãnh liệt mà Nguyễn Minh Châu gọi đó là "sợi chỉ xanh óng ánh" Nhưng với cảm quan nhạy bén của một nghệ sĩ có tài, Nguyễn Minh Châu
đã bắt đầu để ý đến một loại nhân vật trí thức khác: Loại nhân vật trí thức tha hóa
trong điều kiện khắc nghiệt của chiến tranh Đó là hình ảnh của Quang trong Con giông Là một sỹ quan có tài, đẹp trai nhưng không chịu đựng được cuộc sống
kham khổ "ăn rau tàu bay, ăn củ đoác, uống nước suối" [10, 181 , Quang đã ]
phản bội lại những người đồng chí của mình Ngoài ra có một số truyện ngắn khác được viết trước 1986 nhưng do những tư tưởng tiến bộ của nó mà chúng tôi xếp những truyện ngắn này vào nhóm những truyện ngắn sau Đổi mới Cụ thể là
các tác phẩm: Bức tranh, Bến quê, Chiếc thuyền ngoài xa ….
Ở Ma Văn Kháng, trong những năm sau chiến tranh, nhà văn chú ý khai thác những bất hạnh trong hạnh phúc riêng tư của những người trí thức Trong
Mẹ và con (1981), tác giả khai thác những khát khao hạnh phúc gia đình của chị
Duyên - một nữ bác sĩ đã bốn mươi hai tuổi nhưng còn rất trẻ Tất cả các đường nét trên khuôn mặt cùng dáng hình, mái tóc đều giữ được sự trẻ trung lâu nhất Tình yêu của chị với ông thiếu tá dù rất đậm sâu, và chị cũng khát khao có một con người hiểu và yêu thương chị như thế để bớt đi nỗi cô đơn trống vắng nhưng rồi trước thái độ của mẹ chồng, của đứa con gái ngây thơ chưa hiểu lòng mẹ, chị
Trang 33đành sống trong những "giằng xé xót đau" [38, 191] Nhưng rồi, con gái chị "đã lớn khôn", đã hiểu được những nỗi đau trong lòng chị và chấp nhận cho chị "đi bước nữa" Đó là một cái kết có hậu, thể hiện niềm mong mỏi hạnh phúc đơn sơ
sẽ đến với những con người chịu đựng quá nhiều bất hạnh
Bên cạnh đó, tác giả cũng viết về những người trí thức hết sức xấu xa Đó là
hình ảnh ông Phú (Quê nội- 1981) vô tình bạc nghĩa với người vợ cũ Cuộc sống
khá giả của gia đình anh hiện tại: Nhà hai tầng, có ô tô đưa đón riêng, đời sống vật chất tinh thần phong phú, sung túc hơn hẳn so với những người lúc bấy giờ nhưng anh ta vì "tiếc cái nhẫn vàng một đồng cân" đã tặng cho người vợ cũ - mẹ cái Thía nên đưa con gái về thăm quê nội với mục đích "xin lại chiếc nhẫn cưới" Trong khi đứa con gái với người vợ sau được anh ta chiều chuộng hết mực thì con gái người vợ cũ anh không hề mảy may quan tâm đến Cô bé sống một cuộc sống nghèo túng, vất vả, thua thiệt đủ đường Đằng sau cái vẻ ngoài "một gã đàn ông có chút học vấn, tinh khôn, dáng người đường bệ, sang trọng" ấy là một nhân cách hết sức bỉ ổi, đáng để người đời "đàm tiếu và khinh miệt" [41, 215-
217] Nhà văn đã lên tiếng cảnh báo sự suy thoái đạo đức trong một bộ phận giới công chức lúc bấy giờ
Hình ảnh đứa con gái yêu của ông Nhân (Đợi chờ )- một phó tiến sĩ hóa học
được đi du học ở nước ngoài, có học thức mà thiếu nhận thức, đối xử vô ơn bạc nghĩa với người cha già suốt một đời cặm cụi, chăm bẵm cho mình cũng khiến cho người đọc suy ngẫm Đáp lại tấm lòng của người cha chờ đợi cô sau sáu năm trời, cô đi biền biệt cả mấy ngày trời, không thèm về xem lại mái ấm mà cha cô
đã chăm sóc cho cô lớn khôn, giỏi giang từ đấy Cô cũng không thèm biết rằng cha cô đã chết trong cơn nhiễm trùng uốn ván và vì suy kiệt cả sức lực và tinh thần Nhà văn cũng khai thác những nhân vật trí thức khác với sự may mắn sẵn
có mà cuộc đời giành cho anh ta như trạm trưởng Hưng trong Ngày đẹp trời
(1984) Hưng như một bức tranh tương phản với ông Thiềng Cuộc đời của anh
ta cứ gặp hết thuận lợi này đến thuận lợi khác, như trải sẵn thảm cho anh Nhưng cũng chính với những con người đạt được mọi thứ quá dễ dàng này sẽ nảy sinh căn bệnh nhìn mọi việc một cách thực dụng, thẳng tuột
Ở Hồ Anh Thái, những truyện ngắn của anh giai đoạn đầu sáng tác cũng viết về nhân vật trí thức Tác giả khai thác chính thế giới của những người trí
Trang 34thức trẻ tuổi băn khoăn lựa chọn con đường đi cho mình trong cái thời buổi nhố
nhăng ấy Có chàng trai thì mải sa vào Những cuộc kiếm tìm (1985), có chàng trai không biết lựa chọn cho mình một con đường đi như trong Chàng trai đợi ở bến xe (1984) Khải là một sinh viên vừa tốt nghiệp đại học nhưng không có ý
chí và nghị lực Thời gian làm đồ án tốt nghiệp anh đổi đề tài đến năm lần vì những lý do chẳng ra làm sao Lúc thì "thầy giáo lạnh lùng và ít cởi mở", lúc thì
đề tài "phải sục rất nhiều thư viện mới tìm được tài liệu" và mong tìm được một
đề tài thật dễ để không phải nhọc công, mất thời gian Bản tính của "ăn sẵn" một anh chàng sinh viên chây lười khiến trong tình yêu anh ta cũng không dám đầu tư thời gian Anh "không quen nhọc lòng để đạt được một cái gì đó" dù sau này lòng anh "ân hận và hối tiếc" Vì thế, khi Khoát đưa ra một đề nghị khá hấp dẫn:
"Đá bóng thuê, được ăn ngày hai bữa cơm, ăn lương hợp đồng và tiền bồi dưỡng" thì anh chấp nhận ngay với thái độ hồ hởi nhưng sau đó thì quay sang cầu cứu người em trai sinh đôi của mình Nhưng sau đó, Khải nhận ra những sai
lầm của mình: "Tôi giống như người định bơi sang bờ bên kia nhưng bị nước
cuốn đi xa mãi, xa hẳn cái nơi định đến” Tôi muốn ăn sẵn, thì người ta nấu nướng và tự đem đến mời mọc Nhưng khi sắp phải dọn thi tôi rút lui Tôi để cho
sự đời xô đẩy vào một bữa tiệc thịnh soạn" [74, 174-185]
Sự băn khoăn tìm kiếm đường đi đích thực cho mình của những người trí thức trẻ tuổi này cho thấy Hồ Anh Thái rất băn khoăn về hướng đi của giới trí thức Sự lựa chọn của họ có thể sai lầm nhưng rồi cuối cùng, họ đã nhận ra được đâu là chân lý, đâu là cuộc sống của người trí thức chân chính Họ tự thấy mình cần phải thay đổi, không thể mãi làm "chiếc đèn hậu sau chiếc xe đạp", nhờ có ánh sáng của các loại xe khác mới có thể tự mình sáng lên
Những sáng tác giai đoạn đầu của Trần Thùy Mai cũng là những sáng tác về đời sống của văn nghệ sĩ trong hoàn cảnh khó khăn của đất nước Nhà văn đã vô cùng nâng niu, trân trọng những khao khát, những ước vọng được cống hiến hết
mình cho nghệ thuật của những nghệ sĩ là diễn viên, họa sĩ, ca sĩ… Đêm tái sinh
(1984) là một câu chuyện xúc động về một diễn viên đã cống hiến hết mình cho nghệ thuật và cô đã ra đi, đồng thời là tái sinh trong đêm diễn cuối cùng ấy Là một diễn viên xiếc đã phấn đấu gần hết cuộc đời nghệ thuật của mình nhưng rồi Ngân vẫn không thể chen chân vào "biên chế" Đoàn xiếc Hà Nội Cái viễn cảnh
Trang 35"Ngày về vườn sẽ là bà cụ bán ô mai ở vỉa hè kiếm sống, chẳng ai nhớ tới Ngân đoàn xiếc Hà Nội nữa" khiến tinh thần của cô tụt dốc Và sức khỏe của cô cũng vậy Từ chỗ có thể lắc tới tám cái vòng, bây giờ ngay cả năm cái vòng cô cũng không thể lắc nổi Cô tham gia đợt lưu diễn cuối năm ở vùng biên giới Cao Bằng này là nhằm có một chỗ đứng sau gần nửa đời đam mê nó Cô hiểu sức khỏe mình "bây giờ chẳng còn làm được gì nữa đâu" nhưng khi cảm nhận được niềm khao khát đón đợi những tiết mục hay cô "đã cống hiến hết mình" Và sự xung kích của cô, sự cống hiến hết mình vì nghệ thuật của cô đã được đền bù xứng đáng.
"Năm sáu, bảy, tám chiếc vòng lớn trắng đang quay quanh thân thể mảnh
dẻ của Ngân, tấm thân đang rung chuyển hết sức nhẹ nhàng Mỗi chiếc vòng chỉ tựa vào thân cô có một điểm mà cứ quay mãi không rơi xuống Dường như ở điểm đó, năng lượng của người Ngân đã chuyển vào chiếc vòng, cho nó sự vận động linh hoạt kỳ lạ Ngân vừa múa vừa cười, say sưa, những bắp thịt lúc nãy cứng bao nhiêu thì bây giờ mềm mại uyển chuyển bấy nhiêu Chín, mười, mười một, mười hai Bây giờ thì cả bộ vòng nhôm mười hai chiếc quay tít và người xem chỉ thấy người diễn thấp thoáng với chiếc áo thun đỏ trong một khối hình trụ sáng loáng dao động" Sự cống hiến hết mình vì nghệ thuật của cô đã khiến
cho những người dân miền núi vốn im lặng, kín đáo trong biểu hiện tình cảm, bây giờ "tiếng ồn ào vang lên, dường như bốn bức tường chung quanh rạp bị bốc bay đi, bay xa vì một cơn bão… tiếng la tung hô nhốn nháo của công chúng đang
bị kích động" [51, 102-103]
Trong các truyện ngắn của Nguyễn Quang Thân trước 1986, những nhân vật
trí thức cũng được ông đề cập tới qua một số sáng tác En xi(1975), Người đi không cùng chuyến tàu (1980) trong đó tiêu biểu nhất là truyện Chân dung
(1985) Họa sĩ Phát - một họa sĩ bậc thầy trong giới họa sĩ, có tài vẽ chân dung người khác bằng những dự cảm, bằng sự hiểu biết thấu suốt về tâm hồn họ Nhưng điều lạ kỳ trong lần vẽ hôm nay, ấy là một vệt mực từ đâu ra ám lên tác phẩm nghệ thuật của ông Vạt đen ấy làm cho "con mắt phải của Huấn như bị vỡ
ra từ bên trong, chảy xuống một vệt màu xám làm gò má bị phỏng rộp lên" như
là thối rữa Nó làm cho "gương mặt hòa nhã" của Huấn ngoài đời thực trở nên đầy độc địa, như mặt của một con quỷ Ông đã cố công vẽ lại bức chân dung ấy
Trang 36bằng tất cả tâm hồn và trái tim nhưng vô ích Và ông nhận ra: "Bức chân dung đã quá thành công Ông đã vẽ đúng cái cần vẽ: sự thật về một con người" Qua bức chân dung ấy, chúng ta nhận ra một sự thật khủng khiếp được ẩn giấu Huấn, người đã được thầy Hoàng dìu dắt chính là người đã phản bội lại thầy giáo của mình Hắn ta đã viết một bức thư nặc danh gửi cho thầy và kết quả là, một cơn nhồi máu cơ tim đã giúp anh ta lên thay vị trí của thầy một cách rất nghiễm nhiên, đường hoàng Qua hai hình ảnh đầy chất biểu tượng: Bức tranh của họa sĩ Phát và bức ảnh của nhà nhiếp ảnh Chung, nhà văn đã mượn thứ "nghệ thuật biểu hiện cái bên trong không trông thấy qua đường nét hữu hình" để vạch trần bản chất của một con người mà ai cũng lầm tưởng đó là một người tốt và hoàn toàn xứng đáng thay thế một người có nhân cách cao cả, độ lượng như thầy Hoàng
[77]
Có thể thấy, mặc dù số lượng chưa thể nói là nhiều và cách thể hiện nhân vật trí thức chưa có sự thay đổi lớn trong nghệ thuật thể hiện nhưng sự phong phú, đa dạng của đời sống trí thức đã được hiện lên một cách sinh động trong các truyện ngắn Chính thực tiễn phong phú của đời sống với những “sóng ngầm chất chứa bên trong” đã là nguồn tư liệu phong phú cho các nhà văn thỏa sức khai vỡ Chính nó góp phần tạo nên diện mạo riêng của nhân vật văn xuôi Việt Nam sau
1975 và được phát triển thành xu thế chung của văn xuôi sau 1986, cụ thể là ở thể loại truyện ngắn
1.3.4 Nhân vật trí thức trong các truyện ngắn từ 1986 đến nay
Với truyền thống phát triển khá lâu, truyện ngắn là thể loại được nhiều nhà văn lựa chọn, đặc biệt là sau 1986, khi cuộc sống con người dường như gấp gáp hơn, năng động hơn Các nhà văn có tên tuổi, những cây bút tiêu biểu của văn học thời chiến nhận thức rất rõ yêu cầu mới của văn học nên cũng đã tự làm mới mình và ghi được nhiều thành công Từ 1986 đến nay, cùng với những cây bút như Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Trần Thị Trường, Dạ Ngân, Nguyễn Quang Thân là sự xuất hiện những gương mặt mới như Nguyễn Huy Thiệp, Lê Minh Khuê, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Việt Hà,
Tạ Duy Anh, Trần Thùy Mai,… đã khẳng định sự thắng thế của văn xuôi nói chung và truyện ngắn nói riêng Để có được thành công, các nhà văn của chúng
ta đã nỗ lực rất nhiều trong đổi mới tư duy, quan niệm, cách viết
Trang 37Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X họp từ ngày
9 đến ngày 17-7-2008 đã ra Nghị quyết về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đây là lần đầu tiên Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết về trí thức, do đó đã đề cập một cách toàn diện từ vai trò, khái niệm về trí thức đến việc đánh giá thực trạng đội ngũ trí thức và công tác xây dựng đội ngũ trí thức của Đảng và Nhà nước khi đổi mới (1986) đến nay; Nghị quyết xác định rõ mục tiêu, quan điểm chỉ đạo, nhiệm vụ và giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đánh giá vai trò của tri thức và đội ngũ trí
thức, Trung ương nhận định: “Trong mọi thời đại, tri thức luôn là nền tảng tiến
bộ xã hội, đội ngũ trí thức là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức Ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực đặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia trong chiến lược phát triển".
Trong bối cảnh những năm sau chiến tranh, khi cơ chế quan liêu bao cấp đã bộc lộ đến đỉnh điểm của nó với những hậu quả nặng nề, đời sống của người trí thức vô cùng khốn khó đã trở thành nhu cầu bức thiết muốn giãi bày của văn nghệ sĩ Cùng lúc đó, những đổi thay của thời kỳ mở cửa đã kéo theo nó những xáo trộn, pha tạp làm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống những người trí thức Với sự nhạy cảm sâu sắc của mình, bên cạnh đó là việc phải đối diện với những thói quen, nếp nghĩ truyền thống, các nhà văn đã thể hiện được tính chất căng thẳng, phức tạp của thời cuộc qua một loạt các hình tượng nhân vật trí thức Hình tượng nhân vật trí thức xuất hiện nhiều và trở thành hệ thống trong văn học thời
kỳ này báo hiệu sự ra đời của một loại hình nhân vật mới: Loại hình nhân vật trí thức.
Tác giả Nguyễn Thị Bình trong công trình nghiên cứu của mình đã nhận xét đặc điểm nổi bật của văn xuôi Việt Nam là “vai trò của nhân vật trí thức trong cơ cấu thành phần nhân vật” [6] Nghĩa là, sự xuất hiện của nhân vật trí thức là một quy luật tất yếu của nền văn học trong thời kỳ mới
Hình ảnh nhân vật người trí thức trong văn học ở những truyện ngắn sau
1886 này bắt đầu có những thay đổi, tiếp nối những dấu hiệu đổi mới của gần 10
Trang 38năm sau chiến tranh Khởi đầu là những truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải…
Qua truyện ngắn Bức tranh, Nguyễn Minh Châu đã đem đến cho người đọc
một cái nhìn mới về thế giới nội tâm của con người Trong những con người có địa vị xã hội, giành được nhiều phần thưởng cao quý, được xã hội tôn trọng vẫn
là con người đời thường với bao mặt khuất lấp, có "rồng phượng chen lẫn với ác quỷ, rắn rết" Những sáng tác của Nguyễn Minh Châu cho thấy những nỗ lực làm người mở đường và "đọc lời ai điếu cho một nền văn nghệ minh họa" của ông Hình ảnh người y sỹ Qùy cũng là một cách nhìn mới của nhà văn về người trí thức Y sỹ Qùy bề ngoài có thể được xem là một người phụ nữ lý tưởng: Cô được tất cả mọi người yêu quý, cô đã cứu vớt cuộc đời một con người - một tài năng chế tạo máy và đã hy sinh tình yêu của mình để có thể cứu vớt cuộc đời người đàn ông ấy Nhưng trong cuộc sống riêng tư cô lại là một người bất hạnh Cuộc đời của "người đàn bà quá ham hố" ấy là cuộc đời của một người suốt đời đi "tìm kiếm cái chân trời của những giá trị tuyệt đối hoàn mỹ - cái điều chẳng bao giờ có" [10, 146] Cô trở thành người đàn bà mộng du, đêm đêm lang thang trong những chuyến tàu mộng tưởng để tìm những điều không có thực trong cuộc đời
Về nhân vật trí thức trong sáng tác Ma Văn Kháng, tác giả Nguyễn Thị Huệ
đã có một nhận xét sâu sắc: "Nhân vật người trí thức đã như một ám ảnh khôn nguôi, một trăn trở day dứt, có sức thu hút lớn đối với ngòi bút của Ma Văn Kháng Cũng bắt đầu từ Mưa mùa hạ cho đến hàng loạt các sáng tác ở cuối thập niên 80, nhân vật người trí thức đã trở đi trở lại trong hầu hết các sáng tác của
Ma Văn Kháng" [31, 57]
Đó là cô Bường - hiệu trưởng trường cấp 2 nay là Phó chủ tịch huyện và
anh Thụy - trưởng ban tổ chức huyện ủy trong Trái chín mùa thu (1988) Điều
kiện lúc bấy giờ khiến những con người cô đơn muốn "rổ rá cạp lại" cũng thật khó đến với nhau do "tuổi tác, cương vị, hoàn cảnh, môi trường và dư luận" Họ muốn đến với nhau, "ghép nối hai mảnh đời còn lại để đắp đổi những thiệt thòi,
bù lấp cái rủi ro, chống trả lại cái gọi là số mệnh" mà cũng thật khó Những ngượng ngùng vì sợ miệng tiếng dư luận và những mất mát của một người vợ liệt
sĩ khiến hai con người tưởng chừng như có thể sống hạnh phúc bên nhau rồi cũng
Trang 39không thể đến được với nhau Họ đành giữ lại những tình cảm "hồn nhiên, cao thượng và đẹp đẽ" [38, 126-141] ấy cho riêng mình.
Tuy nhiên, trong thời buổi giao thời này, khi cơ hội kiếm tiền trở nên dễ dàng hơn thì trong quan niệm của số đông của những người trí thức cũng có sự thay đổi Quan niệm "một tạ chất xám không bằng một đám mồ hôi", trong thời buổi "có tiền là có tất cả", "tiền là vua", chưa bao giờ những giá trị tinh thần chân chính lại bị hoán vị, lộn sòng lên tất cả như vậy Chính điều này đã dẫn tới sự
xuất hiện của những nhân vật trí thức đáng lên án và phê phán Một chốn nương thân (1991), Người giúp việc (1988), Trăng soi sân nhỏ (1993), Cái Tý ngọ (1995), Trung du - chiều mưa buồn của Ma Văn Kháng đã phản ánh một cách
chân thực và sinh động chân dung của những người mang danh trí thức mà có
nhân cách, đạo đức thật đáng xấu hổ, và với một số kẻ còn có thể dùng chữ đáng ghê tởm
Nhân vật trí thức trong truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1986 mang những nét riêng biệt dễ nhận thấy Đó là là nhân vật xưng tôi mang bóng dáng nhà văn tự
kể về những người trong gia đình mình (Loại truyện này chiếm tỷ lệ lớn nhất):
Đã có những ngày vui, Nắng chiều, Một người Hà Nội, Người ngu, Mất toi một cuốn sách, Sống ở đời, Má hồng; chuyện láng giềng: Đời khổ, Thầy Minh, Danh dự; bạn bè: Phía khuất mặt người, Bạn viết cũ, Đàn ông, Chị Mai, Những mảnh đời mình gặp: Cặp vợ chồng ở chân động Từ Thức, Một bàn tay và chín bàn tay, Lãng tử, Một chiều mùa đông, Mẹ và các con… Một số ít nhân vật hiện lên qua ngôi kể thức ba như Lưu trong Đàn bà, Tú trong Người của nghề, ông Trắc trong Lạc thời… Nhân vật trí thức trong các sáng tác của Nguyễn Khải nhìn chung đó
là những con người có tài năng, có sự quan sát tỷ mỷ, có niềm đam mê lý tưởng mãnh liệt và có một tâm hồn giàu cảm xúc Nhà văn cứ nhẩn nha kể về những mảnh đời trong một kết cấu truyện không có gì mới nhưng vẫn thu hút được sự đón nhận của độc giả Và qua đó, chân dung về giới trí thức trong giai đoạn đầu Đổi mới hiện lên khá toàn diện và sâu sắc
Nhân vật trí thức chiếm 17/39 truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp trong đó:
Bác sĩ (Tướng về hưu, Thổ cẩm), Giáo viên (Những bài học nông thôn, Những người thợ xẻ, Sống dễ lắm, Sang sông), Công chức nhà nước (Tướng về hưu, Không có vua, Giọt máu, Chảy đi sông ơi, Huyền thoại phố phường) Học sinh,
Trang 40Sinh viên đại học (Những người thợ xẻ, Những bài học nông thôn) Nhà thơ, nhà văn (Sang sông, Cún, Tướng về hưu, Hạc vừa bay vừa kêu thảng thốt, Bài học tiếng Việt, Mưa ) Hầu như Nguyễn Huy Thiệp đều khai thác những mặt xấu xa,
bỉ ổi của những người trí thức, người có học Những con người ấy nếu sống trong môi trường đô thị thì có sự tha hóa trầm trọng trong nhân cách, trong bản lĩnh, trong cách sống Những con người còn giữ lại được phẩm chất tốt đẹp không nhiều và hầu hết họ sống ở môi trường nông thôn xa cách những ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường Đó là một cách nhìn riêng của Nguyễn Huy Thiệp và chúng ta sẽ bàn về những nhân vật của ông trong chương 2
Ở Nguyễn Quang Thân, bên cạnh các tiểu thuyết viết về người trí thức thì
các truyện ngắn như Cô gái hoàng hôn (1991), Hoa cho một đời người (1992), Lục bình, Hồi xuân (1994), Thuế giường, Tập về hưu, Thiên thạch, Người chồng chung thuỷ (1995), Mưa Sài Gòn, Gặp lại, Cây đắng cay (1997), Người đàn ông trên ban công, Hai người từ thị xã (2000), Vạt áo đời người (2001)… cũng đã
khắc họa đời sống của những người thuộc tầng lớp trí thức ở những không gian
mở và chạm tới những vấn đề nhức nhối của đất nước với những so lệch xót xa giữa ý tưởng và hiện thực của người trí thức Họ nhiều khi phải đối mặt với những thực tế phũ phàng nhưng nhìn chung, họ đều vượt qua những cám dỗ đời thường, giữ được cái Chân - Thiện - Mỹ trong tâm hồn Qua đó, nhà văn đặt ra nhiều vấn đề đối với người trí thức: “Vấn đề đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ trí thức ra sao? Tâm lý của trí thức ra sao? Những đặc trưng lao động sáng tạo của trí thức? môi trường và hành lang pháp lý để trí thức cống hiến cho công cuộc hiện đại hóa đất nước? Những trăn trở cũng như những hạn chế của trí thức ” [20, 77]
Ở Hồ Anh Thái các truyện ngắn như Món tái dê (1988), Mảnh vỡ của đàn ông (1991) Cây hoàng lan hóa thành cây si, Trại cá sấu, Lọt sàng xuống nia, Tin thật lòng (2002), Cả một dây theo nhau đi, Sân bay, Chạy quanh công viên mất một tháng, Phòng khách, Chín triệu, Hai triệu, Ba triệu và Bóng rổ, Tờ khai Visa, Sân bay, Chơi (2003), Nham, Sắp đặt (2004)… cũng đã khai thác rất thành
công những phương diện khác của người trí thức Đó là những sự lố lăng, kệch cỡm, là những thói hư tật xấu, là bản chất thực sự của con người, là sự vô dụng của những người mang danh trí thức