Tố Hữu và Xuân Diệu là hai tác giả có nhiều tác phẩm đợc chọn giảngdạy trong chơng trình các trờng phổ thông; Việc nghiên cứu thơ Tố Hữu và thơXuân Diệu đặc biệt nghiên cứu nhân vật “tôi
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh
khoa ngữ văn -− -
nhân vật “tôi” trong “từ ấy” của tố hữu
và trong thơ xuân diệu trớc 1945
Khoá luận tốt nghiệp
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam hiện đại
Giáo viên hớng dẫn : Lê Văn Tùng
Sinh viên thực hiện : Hoàng Thị Hờng
Lớp : 42E2 - Ngữ văn
Trang 2Vinh – 2006
Lời cảm ơn
Để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp với đề tài “Nhân vật “tôi“ trong
“Từ ấy“ của Tố Hữu và trong thơ Xuân Diệu trớc 1945“ Tôi đã đợc sự
giúp đỡ tận tình của các thầy trong tổ văn học Việt Nam, cùng các bạn đồng nghiệp, đặc biệt là thầy giáo hớng dẫn Lê Văn Tùng.
Qua đây tôi xin đợc bày tỏ lòng cảm ơn với tất cả các thầy đã không ngại khó khăn giúp đỡ tôi hoàn thành khoá luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 3A Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Khi nói đến nền thơ Việt Nam hiện đại, không ai có thể quên hai thi sỹlớn: Tố Hữu và Xuân Diệu Trớc 1945, mặc dù mỗi nhà thơ này sáng tác theonhững khuynh hớng nghệ thuật khác nhau nhng họ đều là sản phẩm độc đáo của một thời đại Tiếng thơ của họ đã mang lại cho một thế hệ công chúng Việt
Nam niềm say mê lý tởng và tình yêu cuộc sống Họ có mặt và trở thành thinhân trong một thời đại mà con ngời cá nhân đã có đợc một môi trờng thuận lợi
để tự giải thoát, nhng đồng thời xã hội thời kỳ đó cũng tiếp xúc tạo ra những thếlực thù địch mới của cá nhân con ngời Nhân vật “tôi” là nhân vật trung tâmtrong thơ hai ông trớc cách mạng Việc tìm hiểu nhân vật này trong thơ của haithi sỹ, có thể giúp ta nhận rõ hơn quan niệm nghệ thuật về con ngời của mỗi
ông, đồng thời có thể thấy đợc tính độc đáo, sự khác nhau trong cảm nhận vềcon ngời giữa hai tác giả Qua đó có thể hiểu sâu hơn thơ của hai nhà thơ
Tố Hữu (1920 - 2002), ông có một vai trò quan trọng trên thi đàn cũng
nh trong nền văn học hiện đại nớc nhà Ông luôn đợc coi là ngôi sao ngời sáng,
là ngời mở đầu và dẫn đầu tiêu biểu của nền thơ ca cách mạng Ông là ngời đã
đem đến cho công chúng và rồi cũng nhận đợc từ họ một sự đồng cảm, đồng
điệu, đồng tình tuyệt diệu - đáng là niềm ao ớc của mọi sự nghiệp thơ ca, kể cảnhững nhà thơ lớn cùng thời với ông Ông có ảnh hởng nhiều mặt đến quá trìnhvận động và phát triển của văn học Việt Nam thời hiện đại - đặc biệt là thơ ca
Sự nghiệp sáng tác của ông đã đạt đợc những giải thởng cao quý Nhữnggiải thởng đã chứng minh một điều rằng: Tố Hữu là một trong số ít các nhà thơ
có sức ảnh hởng sâu sắc tới lịch sử phát triển của dân tộc và thời đại Thơ ông làtiếng nói tận đáy lòng, là tiếng chân tình của con ngời đất Việt Ông đã thừa kế
và phát huy một cách rực rỡ nhất tài năng siêu việt mà ông cha ta đã để lại.Trong lĩnh vực này chúng ta thấy rằng sự đóng góp của thơ Tố Hữu vào nền thơ
ca Việt Nam hiện đại là vô cùng to lớn Tố Hữu đã chiếm lĩnh đợc tình cảm củaquần chúng nhân dân và trở thành nhà thơ yêu mến vào bậc nhất của cả một dân
Trang 4tộc, của cả một thế hệ Việc nghiên cứu nhân vật “tôi” trong “Từ ấy” là để gópphần làm sáng thêm vai trò, vị trí quan trọng đó của ông trong nền thơ ViệtNam hiện đại.
Xuân Diệu (1916 - 1985), là nhà thơ mới nhất trong phong trào thơ mới,nhà thơ lớn của thơ ca hiện đại Ông là một tác gia lớn trong nền văn học ViệtNam, với một phong cách riêng đặc sắc - Xuân Diệu đã để lại một khối lợng tácphẩm lớn, có giá trị lâu dài với nhiều thể loại Ngay từ khi mới xuất hiện trên thi
đàn, Xuân Diệu đã lọt vào “mắt xanh” của những ngời có tên tuổi và uy tíntrong giới văn nghệ sỹ Nhìn chung các bài viết đều thống nhất, đánh giá cao
đóng góp và vị trí hàng đầu của Xuân Diệu đối với phong trào Thơ mới
Thế Lữ nhận xét: “Thơ ông không phải là “văn chơng” nữa; đó là lời nói,
là tiếng reo vui hay năn nỉ, là sự chân thành cảm xúc, hoặc là những tình ý rạorực biến lẫn trong những thanh âm” [14; 8] Xuân Diệu, nhà thi sỹ của tuổixuân, của lòng yêu và của ánh sáng Là một tác giả đa tài và ta bắt gặp ở đâymột con ngời có trái tim yêu da diết, yêu đến hết và yêu đến chết Nhân vật
“tôi” trong thơ Xuân Diệu luôn khát khao tình yêu cuộc sống ở mọi cung bậc
Ông từng thú nhận:
“Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá
Chỉ biết yêu thôi chẳng hiểu gì”
Là một con ngời của đời, một ngời ở giữa loài ngời, là một con ngời sinh
ra để mà sống, Xuân Diệu say đắm với tình yêu và tha thiết với mùa xuân Nhânvật “tôi” trong thơ còn thể hiện sự buồn đau, nỗi cô đơn Nhiều khi nhân vật
“tôi” trong thơ xng là “ta” trong niềm tự cảm cô đơn ấy:
“Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất Không có chi bè bạn nổi cùng ta”
Đây là điểm sáng trung tâm của thơ Xuân Diệu, là ý thức mới mẻ về conngời cá nhân tạo ra tính độc đáo của thi pháp thơ Xuân Diệu
Xuân Diệu là tay thợ biết làm ta ngạc nhiên vì nghệ thuật dẻo dang vàcần mẫn Thơ Xuân Diệu chịu ảnh hởng của nhiều nguồn thơ ca Đặc điểm nổi
Trang 5bật của ngòi bút thơ Xuân Diệu là sự sáng tạo của thế giới hình ảnh phong phú,thơ Xuân Diệu giàu về ý tởng và phong phú về hình ảnh.
Chọn “Từ ấy” của Tố Hữu và Xuân Diệu trớc cách mạng 1945 làm đối ợng nghiên cứu còn có nhiều lý do khác nữa Tìm hiểu đề tài này chúng tôimuốn nhìn thấy sự tơng đồng và sự khác biệt của thơ Xuân Diệu Đây là hai thi
t-sỹ tiêu biểu cho hai trờng phái nghệ thuật cách mạng và lãng mạn lúc bấy giờ
Thông qua việc nghiên cứu này có thể tìm thấy sự gặp gỡ giữa văn học
lãng mạn với văn học cách mạng qua quan niệm về con ngời và qua đó ta có thểchứng minh văn học lãng mạn không hoàn toàn tiêu cực nh trớc đây nhìn nhận
mà vẫn có nhiều yếu tố tích cực lành mạnh
Tố Hữu và Xuân Diệu là hai tác giả có nhiều tác phẩm đợc chọn giảngdạy trong chơng trình các trờng phổ thông; Việc nghiên cứu thơ Tố Hữu và thơXuân Diệu đặc biệt nghiên cứu nhân vật “tôi” là một điều cần thiết, giúp chúngtôi đi sâu tìm hiểu các tác phẩm đó, sau này tôi có thể dạy tốt hơn thơ của hai
Đã có nhiều công trình nghiên cứu thơ Tố Hữu đạt đợc những thành tựu đáng
kể, các chuyên luận của các tác giả Việt Nam đã đi đến những nhận định vànhất trí về t tởng Tố Hữu: ông là một trong những nhà thơ xứng đáng tiêu biểucho dòng thơ ca hiện thực xã hội chủ nghĩa của dân tộc Việt Nam, Tổ quốc ViệtNam trong thời đại mới Tất cả mọi ngời đều tôn vinh ông là: ca sĩ cách mạng
Công trình nghiên cứu về thơ Tố Hữu nói chung và về tập “Từ ấy” nóiriêng có nhiều, nhng có bốn công trình lớn phải kể đến đó là:
Trang 6- Chuyên luận thơ Tố Hữu của Lê Đình Kỵ
- Tố Hữu nhà thơ cách mạng (nhiều tác giả)
- Tố Hữu về tác gia và tác phẩm (nhiều tác giả)
- Thi pháp thơ Tố Hữu của Trần Đình Sử
Công trình nghiên cứu của Lê Đình Kỵ với trên năm trăm trang, tác giả
đã đề cập tới thơ Tố Hữu một cách khá đầy đủ và có hệ thống Những vấn đềliên quan đến đề tài mà chúng tôi bắt đầu nghiên cứu đã đợc tác giả Lê Đình Kỵcung cấp khá nhiều t liệu Đó là những tài liệu quý báu để chúng tôi bổ sungthêm vào vấn đề mình đang nghiên cứu: chẳng hạn, nhân vật “tôi” đợc thể hiệnrất rõ qua tập “Từ ấy”, là những nhân vật chân thực, những con ngời tiêu biểucho lòng yêu nớc của nhân dân ta trong cách mạng Nhân vật “tôi” luôn đợc cácnhà nghiên cứu cũng nh bạn đọc quan tâm, bởi nó đợc thể hiện trên nhiều ph-
ơng diện Chúng tôi không chỉ đề cập đến bớc tiến về hình thức mà còn đề cập
đến cái “tôi” thể hiện nh thế nào trong tiến trình phát triển của dân tộc và thời
đại Nhân vật “tôi” trong “Từ ấy” đợc biểu hiện rõ ràng ở hành động, ở tínhchiến đấu; ngời ta đã quan tâm đến nhân vật “tôi” để thấy đợc khí thế cáchmạng trong trái tim của ngời thanh niên cách mạng trẻ tuổi khi bắt gặp lý tởngcộng sản “Từ ấy” - tiếng hát của một ngời thanh niên, một ngời cộng sản [15;213]
Công trình đợc xem là t liệu quý báu để nghiên cứu thơ Tố Hữu đó làcuốn: “Tố Hữu nhà thơ cách mạng” Đây là cuốn sách tập hợp những bài viếtcủa nhiều nhà nghiên cứu có tên tuổi Hay là cuốn “Chuyên luận thơ Tố Hữu”của Lê Đình Kỵ dù là cha có một hệ thống chặt chẽ, nhng có nhiều bài khá sâusắc Và công trình cũng khá thành công đó là: “Tố Hữu về tác giả và tác phẩm”
đây cũng là cuốn sách tập hợp đợc những bài viết khá sâu sắc về nội dung vàhình thức của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình Riêng tập thơ “Từ ấy” có nhữngbài đặc sắc nh:
+ Cái mới của “Từ ấy”, những bài thơ đầu tiên của Tố Hữu (Nh Phong).+ “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ” (Xuân Diệu)
+ Một bông hoa tơi thắm nhất của vờn thơ cách mạng (Phan Cự Đệ)
Trang 7+ “Từ ấy” - tiếng hát của một ngời thanh niên, một ngời cộng sản (HoàiThanh)
+ Nên xét thơ Tố Hữu nh một thực thể động (Huỳnh Lý)
Các bài viết này ít nhiều đã chỉ ra nhân vật “tôi” đợc thể hiện trong thơ
Tố Hữu nh thế nào, đồng thời đã nêu rõ đợc bớc chuyển của thơ Tố Hữu Tuynhiên các bài viết này có lẽ do chủ đích của các tác giả không phải nghiên cứu
để chỉ ra nhân vật “tôi” trong thơ Tố Hữu nên các tác giả cũng không đề cập
đến vấn đề này một cách sâu sắc
Với Xuân Diệu, cũng có nhiều công trình nghiên cứu khá thành công nhcuốn: “Xuân Diệu về tác gia và tác phẩm” đây cũng là cuốn sách tập hợp nhữngbài viết của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình Với tập “Thơ thơ” và “Gửi hơngcho gió” thì cũng có những bài đặc sắc:
+ Tựa tập Thơ thơ (Thế Lữ)
+ Thơ thơ và Xuân Diệu (Trần Thanh Mai)
+ Xuân Diệu nói về hai tập Thơ thơ và Gửi hơng cho gió (Hà Minh
Đức)+ Thế giới không gian nghệ thuật của Xuân Diệu qua Thơ thơ và Gửi
hơng cho gió (Lý Hoài Thu)
Tất cả đều là những gợi ý tốt đẹp, nhng cha ai tiến hành so sánh quanniệm con ngời giữa thơ Tố Hữu và thơ Xuân Diệu hay nói cách khác là cha thấy
đề cập đến Vì vậy, chúng tôi sẽ tiếp thu những phát hiện, những thành công củangời đi trớc và đặt ra những vấn đề mới để nghiên cứu sâu thêm về nhân vật
“tôi” trong thơ của hai ông
Cái mới của đề tài này ở chỗ chúng tôi tập trung khảo sát một số đặc
điểm hay nói đúng hơn là một số phẩm chất nghệ thuật nổi trội trong thơ TốHữu và thơ Xuân Diệu trớc cách mạng 1945 Đề tài nghiên cứu của chúng tôi là
sự tiếp nối một hớng đi, sự tìm tòi mà nhiều ngời đã thể hiện
Nhân vật “tôi” trong “Từ ấy” của Tố Hữu và trong “Thơ thơ”, “Gửi hơngcho gió” của Xuân Diệu là một vấn đề vẫn cha đợc nghiên cứu một cách thấu
đáo dới cái nhìn so sánh
Trang 83 Nhiệm vụ của đề tài
Đi vào nghiên cứu đề tài này chúng tôi tự đặt cho mình những nhiệm vụcơ bản sau:
- Nhiệm vụ thứ nhất: Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con ngời và
kiểu nhân vật “tôi” trong văn học
- Nhiệm vụ thứ hai: Làm rõ nhân vật “tôi” trong thơ Tố Hữu qua tập
“Từ ấy”
- Nhiệm vụ thứ ba: Chỉ ra đợc nhân vật “tôi” trong thơ Xuân Diệu
trớc cách mạng 1945 mà tiêu biểu qua 2 tập “Thơ thơ”, “Gửi hơngcho gió”
- Nhiệm vụ thứ t: Khái quát những điểm tơng đồng và độc đáo của
thơ Tố Hữu và Xuân Diệu trớc cách mạng
4 Phạm vi và đối tợng nghiên cứu
Nh tên đề tài đã xác định, phạm vi mà đề tài hớng tới là tìm hiểu:
“Nhân vật “tôi“ trong “Từ ấy“ của Tố Hữu và thơ Xuân Diệu trớc 1945“ Đây là một vấn đề hết sức phức tạp, đợc mở ra với nhiều hớng khác
nhau: xung quanh lý luận về cái tôi, hình tợng nhân vật “tôi” trong thơ Tố Hữu
và Xuân Diệu, kết cấu, giọng điệu, các thủ pháp nghệ thuật, cách tổ chức lờithơ do nhiều hạn chế trong khả năng tiếp nhận và chỉ ra trong khuôn khổ mộtluận văn nên chúng tôi chỉ giới hạn một phạm vi vấn đề trên hai bình diệnchính
- Những biểu hiện của nhân vật “tôi” trong “Từ ấy” của Tố Hữu và thơ
Xuân Diệu qua “Thơ thơ” và “Gửi hơng cho gió”
- Một số thủ pháp nghệ thuật cơ bản để thể hiện nhân vật “tôi” trong
những tập thơ trên
5 Phơng pháp nghiên cứu
- Xuất phát từ mục đích, nhiệm vụ của đề tài chúng tôi sử dụng phơng
pháp tổng hợp: Tổng hợp các ý kiến của những ngời đi trớc
- Phơng pháp khảo sát - phân tích nhân vật “tôi” là phơng pháp nghiên cứu
cơ bản
Trang 9- ở mức độ hạn chế, chúng tôi còn sử dụng phơng pháp thống kê, so sánh,
đối chiếu để làm nổi bật nét độc đáo - đặc sắc của phong cách thơ TốHữu và thơ Xuân Diệu trớc cách mạng
6 Điểm mới có thể đạt đợc của đề tài
(1) Qua các nét tơng đồng trong khi biểu hiện nhân vật “tôi” giữa Tố
Hữu và Xuân Diệu có thể nhìn ra sự gặp gỡ giữa hai tác giả cũng là
sự gặp gỡ giữa hai khuynh hớng nghệ thuật tiêu biểu trong thi camột thời đại Sự gặp gỡ đó là do âm hởng chung của khát vọng giảiphóng cá nhân con ngời trong thời đại đó nh một trong những khátvọng cơ bản nhất
(2) Sự khác biệt giữa hai ông là đơng nhiên, bởi đó là sự độc đáo của
hai khuynh hớng nghệ thuật, là dấu hiệu biểu hiện có tính quy luậttất yếu của văn học hiện đại: đa dạng, phong phú, phức tạp Khôngthể có một khuôn mẫu cố định nào cho sáng tạo của văn học hiện
đại
Trang 10B Phần Nội dung
Chơng 1 Quan niệm nghệ thuật về con ngời và
kiểu nhân vật “tôi” trong văn học
Một quan niệm về một hiện tợng nào đó vừa có tính chủ thể, lại vừa có sựtham gia của đối tợng khách thể, tức là vừa có tính chủ quan, lại vừa có tínhkhách quan
Quan niệm nghệ thuật về con ngời là một dạng quan niệm trong rất nhiềudạng quan niệm của con ngời về thế giới xung quanh Con ngời sống trong mộtmối quan hệ nào đó bao giờ cũng có quan niệm của mình về mối quan hệ đó
Quan niệm nghệ thuật về con ngời có chịu ảnh hởng của quan niệm triếthọc, quan niệm tôn giáo, quan niệm pháp luật, quan niệm đạo đức về con ng-
ời Nhng quan niệm nghệ thuật về con ngời không phải là sự lặp lại hay là sựminh hoạ cho các quan niệm khác về con ngời
1 Quan niệm nghệ thuật về con ngời
Trong triết học, quan niệm về con ngời là một phạm trù mang tính lịch
sử, chủ nghĩa duy tâm triết học có quan niệm về con ngời khác với chủ nghĩaduy vật Quan niệm về con ngời là quan niệm của mọi quan niệm Nhng nếukhông coi con ngời là mục đích thì sẽ dẫn con ngời đến tha hoá
Trong triết học phơng Tây hiện đại có một số quan niệm mới mẻ về conngời, nhng những quan niệm này đều bày tỏ cái nhìn bi quan về tơng lai củanhân loại
Trong văn học nghệ thuật, quan niệm con ngời là cách lý giải, cắt nghĩa,
đánh giá, nhìn nhận của nhà văn đối với các phẩm chất, tài năng, giá trị, cácnăng lực nhân tính, số phận và tơng lai của con ngời Nhà văn phải thông quamột hệ thống hình thức nghệ thuật trong tác phẩm để thể hiện quan niệm nghệthuật về con ngời của mình
Trang 11Quan niệm nghệ thuật về con ngời chịu ảnh hởng gián tiếp hoặc trực tiếpquan niệm triết học, pháp luật, chính trị, đạo đức…về con ngời, nhng không phải
là sự minh hoạ cho những quan niệm đó
Quan niệm nghệ thuật về con ngời là sự sáng tạo độc đáo của chủ quannhà văn để phát hiện ngày càng sâu sắc thế giới bí ẩn của con ngời Vì vậy, trớchết nó là phẩm chất mang tính chủ quan, nhng đồng thời cũng có sự tham giacủa các yếu tố khách quan
Quan niệm nghệ thuật về con ngời là một phát hiện mới của mỗi nhà vănkhi đi tìm những giá trị còn tiềm ẩn của con ngời, nghĩa là phát hiện ra nhữngmiền cha thấy của thế giới con ngời
Quan niệm nghệ thuật về con ngời của mỗi trào lu văn học, khuynh hớngnghệ thuật, một loại hình hay một thời đại văn học bao giờ cũng có mô hìnhriêng của mình để phân biệt với các trào lu khác, đến lợt từng tác giả cũng nhvậy
Quan niệm nghệ thuật về con ngời có thể đợc biểu hiện qua hệ thống cácyếu tố hình thức của tác phẩm từ ngôn ngữ đến kết cấu, hành động, thể loại, cốttruyện Nhng hình thức trực tiếp nhất và quan trọng nhất để biểu hiện quanniệm nghệ thuật về con ngời của nhà văn là kiểu nhân vật
+ Các yếu tố hình thức khác phải thông qua kiểu nhân vật mới góp phầnbiểu hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn Vì vậy kiểu nhân vật là yếu tốtrung tâm
+ Kiểu nhân vật theo cách phân loại của lý luận văn học khác với kiểunhân vật thi pháp học
Mỗi một loại hình văn học, một thời đại văn học hoặc là một trào lu, mộtkhuỵnh hớng nghệ thuật bao giờ cũng có mô hình nhân vật của riêng mình đểbiểu hiện con ngời chung cho cả thời đại, cho mỗi loại hình, đến lợt tác giảcũng có kiểu nhân vật độc đáo cho riêng mình và cuối cùng mỗi tác phẩm cókiểu nhân vật của nó
Trong lịch sử văn học Việt Nam có thể kể đến ba loại hình văn học: vănhọc dân gian, văn học viết trung đại và văn học viết hiện đại
Trang 12Mỗi loại hình này đều có mô hình nhân vật khác nhau đợc biểu hiệnkhác nhau.
Truyện cổ dân gian là sản phẩm nghệ thuật của con ngời trong thời đại
cổ, thơ ấu của nhân loại Truyện cổ là sản phẩm của sự tởng tợng, sáng tạo củacon ngời cổ đại về thế giới xung quanh mình Nhân vật trong truyện cổ cha phải
là những tính cách cá nhân, tâm lý cá nhân cũng cha đợc biểu hiện, là nhữngnhân vật mang tính chức năng Chẳng hạn, trong thần thoại: mỗi vị thần làmviệc nhất định do tác giả giao cho: Thần chống lụt (Sơn Tinh), Thần tạo ra ma(Thần ma), Thần tạo ra thế giới (Thần trụ trời), Thần đánh giặc (Thánh Gióng).Trong cổ tích mỗi nhân vật giữ một chức năng và hành động là để tập trung thểhiện chức năng đó Đó là những nhân vật đóng vai cái thiện (Tấm, ThạchSanh ) hoặc đóng vai cái ác (Cám, Lý Thông ), ở đây cha có nhân vật con ng-
ời cá nhân xuất hiện
Thời cổ đại đến thời trung đại nhận thức của con ngời về thế giới vàchính mình đã có những bớc tiến bộ Tuy vậy, do khoa học cha phát triển, nhất
là ở phơng Đông, nên khả năng nhận thức ấy vẫn còn bị hạn chế rất nhiều Vănhọc trung đại phản ánh cái nhìn hạn chế đó về con ngời Tất cả các phơng diệnnghệ thuật của văn học trung đại, trong đó có quan niệm nghệ thuật về con ngời
đều bị những quy định, luật lệ, quy tắc ràng buộc Cho nên trong quan niệmchính thống của văn học trung đại, quan niệm nghệ thuật về con ngời thờng lànhững mô hình bất biến mang tính chuẩn mực khắt khe tạo ra những kiểu nhânvật mang tính quy tắc cho việc mô tả con ngời, chẳng hạn:
Kiểu nhân vật con ngời vũ trụ–
Tam giáo của phơng Đông khác nhau về nhiều phơng diện nhng có một
điểm gặp nhau quan trọng mà ngời ta gọi là Tam giáo đồng nguyên Đó là quanniệm con ngời - vũ trụ Giữa con ngời với vũ trụ có mối quan hệ qua lại, giaocảm với nhau Văn học trung đại đã hình thành một kiểu nhân vật con ngời - vũtrụ mang tính công thức trong miêu tả Nhà văn trung đại lấy các phẩm chất,các đặc tính của vũ trụ làm thớc đo để đo con ngời xem con ngời đạt tới giới
Trang 13hạn nào khi so sánh với vũ trụ Tính quan niệm của kiểu nhân vật con ngời - vũtrụ có thể thấy ở hai mặt:
+ Con ngời trung đại luôn luôn khao khát tự nâng mình lên ngang tầmvới vũ trụ khi mà sức mạnh của họ, tài năng và trí tuệ của họ cha nhận thức đợcmột cách đầy đủ sự thật của vũ trụ
+ Con ngời Việt Nam và phơng Đông khao khát sống hoà mình vào thiênnhiên - vào vũ trụ để thoát khỏi cái chật hẹp, tù túng của thế gian, nhằm giảithoát t tởng tâm hồn khỏi những gì thấp hèn và nhỏ bé
Kiểu nhân vật con ngời phi ngã
ý thức phong kiến quy định tôn ti trật tự của xã hội, khép con ngời vào
“lễ” “Lễ” là cái quy tắc sống bắt buộc đối với mọi thành viên của xã hội phongkiến Khi vào văn học trung đại, con ngời đó là những nhân vật lệ thuộc, ít cátính, thậm chí không có, không bao giờ dám nói lên khát vọng cá nhân Do vậy,con ngời trong văn học thờng xuất hiện những nhân vật có tính cách một chiều,
đơn giản, vô bản sắc Con ngời trong văn học trung đại thờng thể hiện ý thứccộng đồng, lấy các phẩm chất của cộng đồng làm phẩm chất của mình
Văn học trung đại dị ứng với cái mới, coi thờng tuổi trẻ, trong văn họckhông xuất hiện nhân vật trẻ con với cách nhìn thi pháp Khuynh hớng chungcủa văn học trung đại là muốn lão hoá con ngời Còn khuynh hớng của văn họchiện đại là xuân hoá con ngời
Tuy bị những công thức miêu tả của thời đại ràng buộc cầm tù, nhng ýthức cá tính của nhà văn trung đại không bao giờ cam chịu một bề Cá tính sángtạo của nhà văn là động lực của tiến bộ nghệ thuật, nhà văn trung đại trongnhiều trờng hợp đã vợt qua những quy định chính thống trong quan niệm conngời để cho cá tính sáng tạo đợc tự do phát hiện thế giới con ngời sống độngphong phú trong hiện thực, do đó tạo những quan niệm của con ngời mới mẻnăng động
Đây là kết quả sáng tạo của cá tính nhà văn, mỗi lúc nó thoát ra ngoài sựcầm tù, cản trở của cái công thức nghệ thuật, của các quy tắc miêu tả con ngời
Trang 14Nhà văn đi sâu vào đời sống, tự mình phát hiện ra những giá trị mới trong thếgiới bí ẩn và phong phú của con ngời.
Văn học trung đại đã từng xuất hiện một kiểu con ngời cá nhân nhngphải chờ đến thế kỷ XVIII mới thật sự có một con ngời cá nhân trở thành hình t-ợng của văn học Đây là thời kỳ ngời Việt Nam mới bắt đầu có mối giao lu vớiphơng Tây qua con đờng ngoại thơng, ý tởng cá nhân từ phơng Tây đi vào ViệtNam, lần đầu tiên trong văn học xuất hiện con ngời cô độc, nhân vật này ngồimột mình và độc thoại nội tâm, đó là nhân vật trong “Chinh Phụ Ngâm” Nhânvật cô độc này cả gan đặt quyền sống, quyền hạnh phúc của mình lên trênquyền lực của Đế Vơng, họ khao khát đợc giải phóng, phá bỏ sự trói buộc Sựxuất hiện quan niệm con ngời cá nhân trong văn học thế kỷ XVIII đã sản sinhnhững nhân vật văn học có tính cách phức tạp, thậm chí có tính ngợc chiều Do
đó thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX ngời ta gọi thế kỷ văn học tài tử, trongquan niệm của nhà văn về con ngời cá nhân ngời ta thấy xuất hiện kiểu nhân vậtngời tài Cái tài là năng lực nhân tính của con ngời, ngời ta đa cái tài ra côngkhai, thách đố với xã hội Con ngời cá nhân khát khao hạnh phúc và bất hạnhtrong thơ Hồ Xuân Hơng, trong Truyện Kiều Quan niệm nghệ thuật về con ng-
ời trong văn học thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX là dấu hiệu dự báo sự ra đời quanniệm con ngời trong văn học hiện đại sau này
Văn học hiện đại xuất hiện cùng với sự xuất hiện con ngời cá nhân trongxã hội Do đó, nhân vật trung tâm của văn học hiện đại là con ngời cá nhân Conngời cá nhân là trung tâm của mọi mối quan hệ giữa nó với xã hội và với cánhân khác Cá nhân đánh giá các quan hệ của mình từ quyền lợi, khát vọng, từphẩm chất và nhân cách của chính cá nhân mình
Trong khi đó con ngời dới xã hội phong kiến lấy phẩm chất chung của cộng
đồng làm phẩm chất riêng của cá nhân Con ngời cá nhân trong văn học hiện đại làmột thế giới độc lập, tồn tại bình đẳng trong cộng đồng Văn học hiện đại ViệtNam cho đến nay vẫn chấp nhận ba trào lu: văn học cách mạng, văn học lãng mạn,văn học hiện thực phê phán - cả ba trào lu này đều lấy con ngời cá nhân và vậnmệnh của nó làm trung tâm để lý giải thế giới hiện thực
Trang 15Văn học cách mạng và văn học lãng mạn, đều dựng lên hình tợng con
ng-ời cá nhân, thể hiện qua hình thức nhân vật “tôi”, có khi đợc gọi là “ta”
Trong văn học cách mạng, con ngời “tôi” có cuộc sống gắn liền với sốphận của cộng đồng, của dân tộc và của cách mạng, sự gắn liền đó đợc thể hiệntrong quan hệ máu thịt giữa “tôi” (với t cách là nhân vật cá nhân, cá thể) vớinhân vật số đông (với t cách là con ngời tập thể, cộng đồng)
Con ngời cá nhân luôn đề cao con ngời tập thể, ca ngợi cộng đồng Nócảm thấy mình là một yếu tố máu thịt của số đông Do đó, trên đờng chiến đấu
nó có thể ngã xuống nhng lý tởng của nó vẫn tồn tại nơi con ngời số đông Chonên, nó cũng thấy mình là “những ngời không chết”
Trong khi đó văn học lãng mạn, cũng miêu tả nhân vật con ngời cá nhân,nhng đó là một cá nhân cô độc Chẳng hạn, trong Thơ mới mô hình con ngời làmột nhân vật cá nhân cô đơn, cô đơn khi khẳng định sức mạnh, vai trò, nhữngnăng lực nhân tính của cá nhân con ngời Cô đơn cả trong nỗi niềm bất hạnh vàbuồn khổ, cô đơn ngay cả trong khát vọng giải thoát, cô đơn luôn trong cái chết.Con ngời cá nhân này tách khỏi cộng đồng, số đông để sống với đời riêng củanó
Chẳng hạn nh bài thơ “Nhớ rừng” của Thế Lữ:
““Ta nằm dài trông ngày tháng dần qua“
“Ta biết ta chúa tể của muôn loài”
Hay tiêu biểu nhất là bài “Hy mã Lạp Sơn” của Xuân Diệu;
“…Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất Không có chi bè bạn nổi cùng ta““
Ông Trần Đình Sử viết: “Không thể lý giải một hệ thống văn, thơ mà bỏqua con ngời đợc thể hiện ở trong đó vấn đề quan niệm nghệ thuật về con ngờithực chất là vấn đề tính năng động của nghệ thuật trong việc phản ánh hiệnthực, lý giải con ngời thành các phơng tiện nghệ thuật, là vấn đề giới hạn, phạm
vi chiếm lĩnh đời sống của một hệ thống nghệ thuật, là khả năng thâm nhập của
nó vào các miền khác nhau của cuộc đời” [6; 13]
Trang 16Nhiều lúc con ngời cá nhân muốn thoát khỏi thế giới của cộng đồng đitìm một thế giới cho riêng mình:
“Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh Một vì sao trơ trọi cuối trời xa
Để nơi đó tháng ngày tôi lẩn tránh Những u phiền đau khổ với buồn lo”
(Chế Lan Viên)Con ngời cá nhân trong văn học hiện thực phê phán thờng là những conngời cá nhân bi kịch dới mọi hình thức Họ đều khát khao tìm lối thoát nhngcuối cùng tất cả đều bế tắc, rơi vào bất hạnh hoặc tiêu vong, để lại muôn đờinhững tiếng kêu xé ruột về lý do tồn tại của con ngời, về quyền con ngời
Trang 17Tố Hữu bớc vào làng thơ với tập “Từ ấy” đã gây nên chấn động lớn, đã
đem một luồng ánh sáng tơi mới soi đờng và dẫn đờng cho cả nền thơ ca đangtrong thời kỳ bế tắc Giữa lúc Xuân Diệu đang chìm đắm trong “niềm khắckhoải thời gian”, Huy Cận thì bất lực vì nỗi sầu nhân gian, Thế Lữ thì tìm đếncõi tiên nh một giải pháp cho tâm hồn, Chế Lan Viên thì đi vào một thế giớisiêu hình, còn Tố Hữu đàng hoàng xuất hiện giữa bầu bạn anh em, ông đứnggiữa hiện thực cuộc sống không siêu thoát, không né tránh khỏi hiện thực đó
Nếu nh Chế Lan Viên, Huy Cận, Xuân Diệu đã tìm đến thơ nh một biệnpháp tinh thần cho mình thoát khỏi hiện thực cuộc sống, thì với Tố Hữu thơ là
vũ khí đấu tranh cách mạng, với ông nghệ thuật không hề mâu thuẫn với đờisống: con ngời làm thơ với con ngời hành động chỉ là một, số là hành động, thơcũng hành động Thơ với Tố Hữu là hình thức tơi đẹp của hoạt động cách mạng,của cuộc sống:
“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lý chói qua tim”
(Từ ấy)Trớc cách mạng, thơ Tố Hữu đã khẳng định đợc ngay chỗ đứng củamình, bởi thơ ông đợc tiếp nhận ánh sáng của Đảng và trở thành ngọn đuốc dẫn
đờng cho văn đàn thơ ca cách mạng Vị trí ấy còn đợc đẩy lên một tầm cao mới,tầm vóc ấy xứng đáng với nhà thơ - chiến sỹ, nhà thơ cách mạng trong thời đạimới
Thơ Tố Hữu luôn luôn gắn bó và phản ánh chân thực những chặng đờngcách mạng đầy gian khổ, hy sinh nhng cũng nhiều thắng lợi vẻ vang của dân
Trang 18tộc, đồng thời đó cũng là những chặng đờng thể hiện sự vận động trong quan
điểm t tởng và trình độ nghệ thuật của chính nhà thơ Trên chặng đờng ấy, đặc
điểm nổi bật của thơ Tố Hữu là luôn có sự thống nhất hài hoàgiữa cái tôi và cái
ta chung, giữa tuyên truyền cách mạng với cảm hứng trữ tình Vì thế, Tố Hữuchiếm đợc sự mến mộ của nhiều thế hệ độc giả và ông nghiễm nhiên trở thànhnhà thơ quý mến bậc nhất của cả thế hệ, cả dân tộc Nói đến Tố Hữu, tức là nói
đến nhà thơ cộng sản Hơn nửa thế kỷ Thơ ông đã gắn bó với cuộc đấu tranhcủa toàn Đảng, toàn dân, Tố Hữu đã dùng thơ ca làm vũ khí đấu tranh cáchmạng Thơ Tố Hữu không chỉ phản ánh lịch sử, phản ánh thời đại mà còn phản
ánh tiến trình thơ ca dân tộc thế kỷ XX
2 Vài nét về tập thơ “Từ ấy”
Thơ Tố Hữu là nguồn mạch quan trọng tạo nên khuôn mặt đẹp của thơ cavăn học hiện đại “Từ ấy” là tập thơ đầu tay của ông, đợc sáng tác từ 1937 -
1946, tập thơ trớc hết là lòng cảm thơng da diết của ngời thanh niên tiểu t sản
đối với những ngời nghèo khổ, cô gái giang hồ tủi phận, em nhỏ bơ vơ, ngời giàvất vởng không nơi nơng tựa; có tâm trạng giày vò xót xa cho quê hơng đẹp cònchìm trong sơng khói ảm đảm của cuộc đời cũ, của ách thống trị thực dân
Nổi lên hơn cả là tuổi trẻ hiến dâng sẵn sàng chấp nhận mọi thử thách, tù
đày để đấu tranh cho lý tởng cách mạng ở “Từ ấy” Tố Hữu đã đặt ra nhiều vấn
đề trớc cuộc đời Ngời thanh niên trí thức, khi tâm hồn bừng sáng lý tởng cáchmạng, đã nhìn cuộc đời từ nhiều phía trong tầm xa và chiều sâu, trong quan hệgiữa cái chung và cái riêng, dân tộc và thời đại, sự sống và cái chết, hạnh phúc
và hy sinh
“Từ ấy” mang theo hơi thở và máu thịt của cuộc đời chung, nhng trớc hết
là của tác giả: sôi nổi, trẻ trung và thanh khiết; cái đẹp, cái cao cả của lý tởng,của cuộc đời đang đẩy lùi mọi cái xấu xa vẩn đục “Từ ấy” có phần là tiếng hát,
có phần là nỗi niềm tâm sự và có cả tiếng nói quyết tâm của ý chí trên con đờng
đấu tranh Cái “tôi” của một ngời cộng sản trẻ tuổi ghi dấu ấn đậm nét, mở ramột bớc ngoặt quan trọng cho một thời đại đang trong cơn bế tắc
Trang 19Lúc này con ngời có ý thức cá nhân xuất hiện trong thi ca cách mạng (nóphản bác cách nhìn cũ Vì văn học cách mạng chỉ có con ngời chung) Tuy vậy,con ngời cá nhân đợc thể hiện theo một khuynh hớng nghệ thuật riêng: Nó hớng
về ý thức tự làm chủ của cá nhân, ý thức trách nhiệm của cá nhân đối với cộng
đồng, con ngời cá nhân giác ngộ ý tởng chung của thời đại vào hoà bình vàodòng thác của thời đại
“Từ ấy” là bản cáo trạng gay gắt nhân danh phẩm giá của con ngời laokhổ, nhân danh chủ nghĩa nhân đạo để chống lại một chế độ tàn bạo, ngoan cố.Nhân danh cái đẹp của thiên nhiên và của nghệ thuật, của chân lý và công lý đểphản kháng với cái xấu xa, giả dối tàn bạo của những thế lực thù địch với conngời Nhân danh cái mới và sự sống chống lại cái lạc hậu và cái chết
“Từ ấy” là bản “huyết tâm th” của một chiến sỹ không hề do dự trớcnhiệm vụ, không hề lùi bớc trớc bạo lực của quân thù, không tuyệt vọng trênnhững bớc đờng thử thách đau đớn nhất Thi sỹ đã hé cho những con ngời truỵlạc, bất hạnh thấy đợc con đờng của viễn cảnh “ngày mai huy hoàng” Tiếng hátcủa thi sỹ là một hành động cách mạng, tất cả điều đó đều bao hàm một ý nghĩa
dự báo về tơng lai của nớc nhà, nhân loại
3 Sự biểu hiện con ngời cá nhân qua nhân vật “tôi”
3.1 Nhân vật “tôi“ giác ngộ lý tởng
Mỗi cuộc cách mạng đòi hỏi có nhà văn, nhà thơ của nó Tố Hữu đợc lịch
sử dành cho cái vinh dự khó khăn này: Trở thành nhà thơ của cách mạng ViệtNam
Tố Hữu là một thi sỹ - một chiến sỹ Thơ ông nhằm mục đích trớc hếtphục vụ cho cuộc đấu tranh cách mạng, cho những nhiệm vụ chính trị của mỗigiai đoạn cách mạng Đồng thời Tố Hữu cũng là một nhà thơ trữ tình kiểu mới.Tạo đợc sự thống nhất giữa tuyên truyền cách mạng và cảm hứng trữ tình TốHữu đã đem vào trong thơ cách mạng một tiếng nói trữ tình mới với những cảmxúc, tình cảm mang tính cụ thể trực tiếp; cảm hứng của cái “tôi” cá thể, nhng làmột cái “tôi” giữa mọi ngời trong cuộc đấu tranh cách mạng
Trang 20Có thể bao trùm trong thơ Tố Hữu là vấn đề lý tởng, lẽ sống của con ngời
là con đờng cách mạng, đó cũng là con đờng giải thoát cho mọi số phận cá nhân
bị đau khổ, áp bức Tháng 7/1938, Tố Hữu đợc kết nạp vào Đảng và từ đó Đảng
đã trở thành một ánh sáng kỳ diệu chiếu sáng rực rỡ của cả cuộc đời nhà thơ:
“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lý chói qua tim Hồn tôi là một vờn hoa lá
Rất đậm hơng và rộn tiếng chim”
(Từ ấy)Cái vờn thơ ngọt ngào hơng sắc và rộn ràng tiếng chim đó là tiếng hátcủa một trái tim tơi trẻ, là sự sôi nổi của một tâm hồn tự biểu hiện, là sự say sangât ngất của một chủ thể - trữ tình trong mối tình đầu với cách mạng Say sangây ngất là cảm giác ban đầu khi thi nhân tiếp xúc với ánh sáng chói chang rực
rỡ của lý tởng Bồng bột, say sa cũng là đặc điểm của tuổi hai mơi:
“Hai mơi tuổi, tim đang dào dạt máu Hai mơi tuổi hồn quay trong gió bão”
Có ngời xếp “Từ ấy” với “Dửng dng”, “Tháp đổ”, thực chất là nhữngphản đề nhằm phê phán những quan niệm thẩm mỹ lỗi thời của văn học lãngmạn Còn “Từ ấy” và “ánh sáng” mới đích thực là những tuyên ngôn của thơ cacách mạng “Từ ấy” đã giải quyết tấn bi kịch của cái tôi cá nhân cô đơn trongthơ ca lãng mạn Các nhà lãng mạn thời ấy một mặt thoát ly phong trào đấutranh chính trị của quần chúng, một mặt cũng không chạy theo cái xã hội quyềnlực, cái xã hội “kim tiền ô trọc” Họ tự hào kiêu hãnh với cái tôi cô đơn, đaukhổ một cách trong sạch của mình và cái bi kịch của họ cũng bắt đầu từ đấy
Tố Hữu đa thi nhân trở về với quần chúng Đa cái “tôi” hoà với cái “ta”,cái riêng hoà với cái chung Từ những tình cảm nhân đạo chủ nghĩa buổi đầuvới các em bé mồ côi hoặc bất hạnh (Mồ côi, Hai đứa bé, Tơng tri, Đi đi em ),những cô gái giang hồ dần dần trong thơ Tố Hữu nổi lên tình cảm giai cấp rộnglớn giữa những ngời lao động cùng khổ Tình đồng chí giữa những ngời đanghiến thân cho một lý tởng:
Trang 21“Tôi buộc lòng tôi với mọi ngời”
“Tôi đã là con của vạn nhà”
“Tôi để tình tôi trong các anh”
Khi ngồi trong nhà lao Tố Hữu cảm nhận sâu sắc nỗi cô đơn cách biệt vớicuộc đời sôi động bên ngoài:
“Chạnh lòng ta nổi nhớ bạn đời ơi”
Trong tập thơ “Từ ấy”, Tố Hữu có một danh từ riêng để gọi bạn bè, đồngchí của mình: “Bạn đời” Thơ Tố Hữu thờng là thơ gọi đàn, ít khi là thơ tâm sự, kýthác Chế Lan Viên cho rằng thơ Tố Hữu là thơ của một tình nhân, lúc nào cũngphải có một ai đó “để mà ơi, mà gọi”:
“Bạn đời ơi vui chút với trời hồng”
“Dậy mà đi, hỡi bạn dân nghèo ơi”
Tố Hữu là lá cờ Đảng nêu lên thành thơ cái lý tởng, cái triết học, cái lối sốngduy nhất đúng lúc bấy giờ:
“Bâng khuâng đứng giữa hai dòng nớc Chọn một dòng hay để nớc trôi”
Hoặc: “Đã vay dòng máu thơm thiên cổ
Phải trả cho ta mạch giống nòi”
Cái hấp dẫn ở đây trớc tiên là lý tởng Lý tởng cộng sản nó dạy cho talòng yêu thơng và căm thù:
“Quyết chiến đấu! Nào, ta liên hiệp lại Hỡi tù nhân khốn nạn của bần cùng Ngày mai đây, tất cả sẽ là chung Tất cả sẽ là vui và ánh sáng”
(Liên hiệp lại)Những bài thơ làm cho độc giả xúc động mãnh liệt bởi vì nó đã đợc đốtlên những lý tởng cách mạng: “Bài thơ sau khác bài thơ trớc, tập thơ này kháctập thơ kia nhng muôn nghìn nhịp đập cũng chỉ là của một con tim - tất cả sángtác 26 năm qua của Tố Hữu, chỉ là sự phát triển, nhân lên của một lý tởng ấy,
Trang 22xoay quanh một cái lõi ấy Tả tình hay tả cảnh, kể chuyện mình hay kể chuyệnngời, viết về các vấn đề lớn hay về một sự việc nhỏ, đối với anh là để nói cho đ-
ợc cái lý tởng cộng sản ấy thôi” [5; 73]
3.2 Nhân vật “tôi“ chiến đấu hy sinh, đau nỗi đau chung của đồng bào
và nhân loại
Tập thơ “Từ ấy” tràn đầy nhiệt huyết của một thanh niên yêu nớc và say
mê lý tởng cộng sản Trong mỗi tình sâu nặng với đất nớc, Tố Hữu vẫn giữatrọn tình yêu thơng với quê hơng xứ Huế Vì trong rất nhiều bài thơ hình ảnhsông Hơng, núi Ngự, đèo Bạch Mã, đèo Hải Vân, quê nội Phù Lai, quê ngoạiThanh Lơng, hiện lên tơi đẹp, đầy thơng nhớ (Nhớ đồng, Huế tháng Tám )
“Gì sâu bằng những tra thơng nhớ Hiu quạnh bên trong một tiếng hò”
“Sống rày đây mai đó Trong bụi đờng sơng gió Bên xó chợ chân thềm ”
Tố Hữu đã đem đến cho họ cả một trời hy vọng Hơn thế nữa, đã nungnấu cái uất hận của họ thành hồn chiến đấu, Tố Hữu chỉ cho họ đờng đi (Liênhiệp lại)
Trang 23Thái độ của thi sỹ là thái độ của một ngời chiến sỹ cộng sản hết sức phânminh trong cái ghét, cái yêu, quyết hy sinh không bao giờ nản chí, kết hợp lòngyêu nớc, yêu dân tộc trong trẻo, với tinh thần quốc tế cao cả Tố Hữu rất tin t-ởng ở lực lợng quần chúng:
“Đó nghe không bạn, hầm đang rã
Bởi khối ngời kia đã ngẩng đầu ”
Tố Hữu, khi nói đến những đồng chí đã hy sinh vì dân tộc, vì Tổ quốc, đacái chết của những đảng viên nh Phan Đăng Lu, Nguyễn Thị Minh Khai, HàHuy Tập , lời thơ của ngời chiến sỹ thanh niên luôn luôn đậm những giọt lệ ứamáu Những giọt nớc mắt không bao giờ làm nguội chí căm thù:
“Quyết hy sinh phá tan hết gông xiềng Cho Tổ quốc muôn muôn năm độc lập ”
“Tôi” thơng tiếc tính mạng của bạn bè, của anh chị em đồng chí, nhngkhi cần đến hy sinh của bản thân thì anh không hề do dự Trong những ngàytính mạng đã kề bên cái chết - hai mơi tuổi đầu xanh -, lời trăng trối của anhkhông hề vởn mảy may sợ hãi, luyến tiếc Trong tù ngục, cũng nh trong nhữngngày hoạt động, Tố Hữu vẫn nêu gơng một đời sống trong trắng, không thoảhiệp với quân thù Tố Hữu là lời tâm huyết của một chiến sỹ đang sống can
đảm, nêu cao lý tởng phục vụ nhân dân, phục vụ chính nghĩa
ở “Từ ấy”, ta thấy tình yêu vô hạn của “tôi” với quần chúng Nhng quầnchúng ở đây mới chỉ là những ngời lao khổ đòi giải phóng
“Tôi” kêu gọi thanh niên sống mãnh liệt,”dù trong một phút giây” nhng
đây là một hành động có định hớng, có mục đích tiến bộ:
“Phất ngọn cờ lên, tung bớc lên Với kho hùng khí của thanh niên Vang lừng mặt trận rung trăm trống Cách mạng quân ta cớp chính quyền”
(Dậy lên thanh niên)
Trang 24Tố Hữu kêu gọi thanh niên “dấn thân” vào cách mạng, tự nguyện dângtuổi xuân cho lý tởng cộng sản Hành động cách mạng không thể là hành động
tự phát, phiêu lu mà là hành động tự giác, có ý thức:
“Với cách mạng, tôi không hề đùa bỡn
Và không hề dám chối một nguy nan, Tôi vẫn tự nghĩ: Miễn quên thân
Dâng tất cả để tôn thờ chủ nghĩa”
(Trăng trối)
Tố Hữu đã ý thức đợc khi bớc chân vào cách mạng:
“Đời cách mạng, từ khi tôi đã hiểu Dấn thân vô là phải chịu tù đầy”
(Trăng trối)
Dù có phải hy sinh cả tính mạng cho dân tộc thì “tôi” vẫn sẵn sàng Conngời “tôi” luôn vui cùng nhân dân và cũng luôn đau với nỗi đau chung của đồngbào và nhân loại Tố Hữu đã gắn bó nối liền lòng mình với cuộc sống vô cùng vĩ
đại của vô vàn đồng chí, đồng bào và của cả nhân loại cần lao Quên mình vìhạnh phúc của dân tộc, của loài ngời Sự chiến đấu hy sinh còn toả ra rộng rãimãnh liệt hơn:
“Nhà ta tan? Nhng sồng vạn gia đình Phải hy sinh, phải nhất thiết hy sinh Lòng vô sản phải mang tình nhân loại!”
Sự hy sinh của “tôi” đã đợc thử thách nặng nề qua nhiều cảnh Nhngkhông hề mảy may nao núng, vẫn nguyên vẹn, bền bỉ và lớn dần lên mãi, lớndần lên theo với sức chiến đấu quyết liệt vì nhân dân quên mình:
“Ngực còn thoi thóp, tim còn đập Còn nghiến răng giơng thẳng nghĩa kỳ ”Nhân vật “tôi” luôn luôn thể hiện tính chiến đấu hy sinh, đau nỗi đauchung của nhân dân và nhân loại trong tập thơ “Từ ấy” một cách rất rõ rệt.Trong bài thơ “Bà má Hậu Giang” đã nổi bật lên hình ảnh ngời mẹ tần tảo nuôicác chiến sỹ cách mạng, đến phút cuối cũng không hề khai báo:
Trang 25“Má có chết, một mình má chết Cho các con trừ hết giặc Tây”
(Bà má Hậu Giang)Hay trong bài thơ “Con cá, chột na” tác giả viết:
“Im đi cái giọng mày Tao thà cam chịu chết”
Tố Hữu, luôn cho độc giả thấy đợc tinh thần chiến đấu và đức hy sinh củanhân vật “tôi” trong chiến đấu Luôn mang trong mình nỗi đau chung của nhândân và nhân loại, “tôi” đã tỏ tình nhân đạo cách mạng của mình với những em
bé mồ côi, những em lu lạc, em nhỏ đi ở, chị vú em, lão đầy tớ, cô gái buôn
h-ơng bán phấn trên sông Hh-ơng
Năm 1941, với khởi nghĩa Nam Kỳ, đã nổi lên bài “Bà má Hậu Giang”,một hình ảnh dũng cảm, thắm thiết của quần chúng nhân dân Năm 1942, TốHữu vợt ngục, ra với nhân dân, vào giữa quần chúng
“Tôi gặp bà con mới một lần
Mà sao lòng đã thấy yêu thân”
(Tơng thân)Trong giọng thơ đã chuyển vào một hơi ấm nóng, hoà thuộc, ruột thịt, hơithở Tố Hữu đã là lời nói rất nhuần nhuyễn, rất tự nhiên của quần chúng
“Chém cha ba đứa đánh phu Choa đói, choa rét, bay thù gì choa?
Bay coi Tây, Nhật là Cha Sớng chi bay hại nớc nhà, bà con?
Liệu hồn bỏ thói du côn Bằng không đòn lại trả đòn cho coi”
(Tiếng hát trên đê)Bảy mơi hai bài thơ, bài nào cũng nói đấu tranh cách mạng Trong thơnày, ở giai đoạn này, mỗi một hơi thở của Tố Hữu rõ thật là:
“Sống đã vì cách mạng, anh em ta
Trang 26Nhân vật “tôi” trong thơ không phải lúc nào cũng vui vẻ mà “tôi” cũng
có lúc buồn, nỗi buồn cô liêu đợc thể hiện qua thơ Tố Hữu và tiêu biểu là bài
“Tiếng hát đi đày” và “Nhớ đồng” Cái mới còn xen lẫn với những cái cũ trongmột niềm cô đơn:
“Xa rồi bóng dáng yêu thơng cũ Nhạt nhạt ngàn xa buồn cô liêu ”
(Tiếng hát đi đày)Nỗi buồn cô liêu đợc vang xa, vang mãi trong giọng thơ của Tố Hữu, nỗinhớ quê hơng trớc cảnh thiên nhiên:
“Đồng xanh gợn nhớ quê hơng ”
(Tiếng hát đi đày)
Tố Hữu đã đau khi nhớ về những ngời đã chiến đấu vì độc lập tự do của
Tổ quốc:
“Lòng đau lại nhớ các anh những ngày”
(Tiếng hát đi đày)Cái “tôi” buồn còn đợc thể hiện một cách sâu sắc trong bài thơ “Nhớ
đồng”:
“Gì sâu bằng những tra hiu quạnh
Ôi ruộng đồng quê thơng nhớ ơi!”
(Nhớ đồng)Hay: “Gì sâu bằng những tr a thơng nhớ
Hiu quạnh bên trong một tiếng hò”
(Nhớ đồng)
Trang 27Lãng mạn trong một cái quạnh hiu, nhớ thơng, xa xăm, u buồn Lãngmạn trong việc cá thể hoá các cảm nghĩ, không nói chung chung, nh thơ củanhiều chiến sỹ khác, mà nói xuyên qua trờng hợp cá thể của mình, của “tôi”.Cái “tôi” đây bao hàm hàng trăm nghìn chiến sỹ cộng sản chứ không cá nhâncô đơn; nhng đồng thời nó là “tôi” cảm xúc rất sâu, rất sắc, nhà thơ cách mạng
tự biểu hiện mình, tâm hồn nhà thơ cách mạng tự ca hát (Tranh đấu)
Khao khát tự do của nhân vật “tôi” đợc thể hiện trong bài “Tâm t trongtù”, bài thơ mang sự dào dạt, tràn trề cảm xúc, tai nghe, mắt không nhìn thấy,
mà ngời chiến sỹ trong ngục thông cảm, yêu mến cả trăm loài:
“ Tôi lắng nghe tiếng đời lăm náo nức
ở ngoài kia vui sớng biết bao nhiêu!
Nghe chim reo trong gió mạnh lên triều Nghe vội vã tiếng dơi chiều đập cánh Nghe lạc ngựa rùng chân bên giếng lạnh Dới đờng xa nghe tiếng guốc đi về ”Cái cảm giác tràn trề, “lãng mạn” đó mang một tình nhân đạo rất cao cả;vì thơng yêu cuộc sống, mà ngời chiến sỹ đứng dậy nh thép, đơng đầu với tất cảnhững tù ngục:
“ Tôi cha chết, nghĩa là cha hết hận Nghĩa là cha hết nhục của muôn đời Nghĩa là còn tranh đấu mãi không thôi Còn trừ diệt cả một loài thú độc
Có một tiếng còi xa trong gió rúc ”
(Tâm t trong tù)Khi bị cầm tù, khao khát tự do luôn trỗi dậy trong lòng nhân vật “tôi”
“Tâm t trong tù” có một hình ảnh rất sáng tạo, một sáng tạo vô hạn đau khổ, rất
đúng:
“Tôi chiều nay giam cấm hận trong lòng Chỉ là một giữa loài ngời đau khổ
Trang 28Tôi chỉ một con chim non bé nhỏ Vứt trong lồng con, giữa một lồng to Chuyển đời quay theo tiếng gọi tự do ”
(Tâm t trong tù)
“Tôi” còn rất trẻ, bị bỏ trong lồng là cái nhà lao, nhng bản thân cái lồngnhà lao lại bị bỏ trong cái lồng to hơn nữa: “Là Tổ quốc Việt Nam đang còn bịgiam, nô lệ! Chính những chiến sỹ cộng sản muốn phá cái lồng to ấy, nên họmới bị vứt vào trong cái lồng con” [12; 415]
Bài thơ “Tiếng hát đi đày” có một vị trí rất riêng, nó nói đợc cái đau buồncủa một con ngời phải đứt ruột đứt gan bỏ phố xá thân yêu, lìa đồng bào thânthuộc, từng bớc đi vào cõi hoang vắng tịch liêu, cõi đi đày, Bài thơ rất buồn,nhng nó không bi quan Câu thơ đã tả cao độ buổi chiều rừng, chim chiều rừnggọi kêu:
“Thông reo bờ suối rì rào Chim chiều chiu chít, ai nào kêu ai?”
Nhân vật “tôi” luôn khao khát đồng cảm cùng nhân loại Tố Hữu đã nângtình thơng mến đến mức một sự đam mê: đó là tình nhân loại mà thấm vào đếnmỗi tia máu; đó là tình thân mến của ngời cộng sản; trong tù “Tôi”xót xa chocả cái chết của con chim nhỏ:
“Nó chết rồi, con chim của tôi Con chim se sẻ mới ra đời ”Trong bài “Tếng hát sông Hơng”, Tố Hữu nói lên thân phận của cô gáilênh đênh trên dòng sông kiếm sống:
“Trăng lên trăng đứng trăng tàn
Đời em ôm chiếc thuyền nan xuôi dòng”
(Tiếng hát sông Hơng)Cuộc đời trôi nổi trên dòng sông cùng ngày tháng Cô gái đã từng thốt lên:
“Trời ơi em biết khi mô
Thân em hết nhục giày vò năm canh Thuyền em rách nát còn lành đợc không?”
Trang 29“Tôi” đã hiểu đợc “kiếp sống lênh đênh” của những con ngời cùng khổ
và “tôi” đồng cảm với họ Từ đó “tôi” thể hiện sự lạc quan trong cuộc sống:
“Răng không, cô gái trên sông Ngày mai cô sẽ từ trong tới ngoài Thơm nh hơng nhuỵ hoa lài Sạch nh nớc suối ban mai giữa rừng ”Trong tập thơ “Từ ấy”, ngoài cái “tôi” buồn, khao khát tự do, đồng cảmthì cái “tôi” lạc quan cũng nằm sâu trong tiềm thức của các bài thơ nh (Nhnhững con tàu, Những ngời không chết )
Khi những con ngời đã “say mùi hơng chân lý”, họ luôn hớng về một con
đờng, họ tin vào con đờng đó:
“Ta bớc tới chỉ một đờng: Cách mạng Vững lòng tin sẽ nắm chắc thành công”
(Nh những con tàu)Hay: “Hùng dũng tiến, đạp muôn đầu ngọn sóng
Tơng lai đó, trớc mặt ta, biển rộng Trên đầu ta, lồng lộng gió trời cao ”Rồi hình ảnh những con ngời luôn lạc quan và không hề sợ chết, dù cáichết có lúc đã kề bên:
“Chết hay không, nhân loại, những linh hồn
Đã từng đau khổ lắm, đã tiêu non Không! không! không!
Anh không chết Trong tôi ”
Trang 30Cái “tôi” khao khát và lạc quan luôn hoà quyện vào nhau trong thơ TốHữu “Tôi” đã “nghe” mùa xuân đang trở về:
“Song lòng ta đã nghe đâu đó
Có một mùa xuân phảng phất hơng”
(Xuân nhân loại)Hay: “Lâu rồi khao khát lắm, Xuân ơi
Nhân loại vơn lên ánh mặt trời Nhân loại trờn lên trên biển máu
Đang nghe xuân tới nở môi cời ”
Đối với một ngời, một chiến sỹ cách mạng - tự do là cái quý giá nhất, xacách nhân dân là điều đau khổ nhất Cho nên, cũng dễ hiểu thôi cái tâm trạng cô
đơn của “tôi”:
“Cô đơn thay là cảnh thân tù Tai mở rộng và lòng sôi rạo rực Tôi lắng nghe tiếng đời lăm náo nức
ở ngoài kia vui sớng biết bao nhiêu”
(Tâm t trong tù)
Tố Hữu đợc coi là nhà thơ của tình thơng mến, từ những bài thơ đầu tiên,niềm tin yêu của nhà thơ đã dành cho những ngời đáng yêu, đáng thơng nhấttrong xã hội cũ: Những trẻ em mồ côi, ngời đi ở, Tố Hữu đi vào thơ với bài
“Mồ côi”, mở đầu tập thơ “Từ ấy”:
“Con chim non chiu chít Lá động khoé tràn trề Chao ôi buồn da diết Chim ơi biết về đâu?”
Đối với cô gái sông Hơng bị đẩy đến một cuộc sống ô nhục, thái độ nhàthơ hết sức cu mang, trân trọng
ở trong tù, nhà thơ lắng nghe tiếng rao đêm của một em bé mà ớt lạnh têlòng và viết nên những vần thơ thật rung động:
Trang 31“Tiếng rao sao mà ớt lạnh tê lòng!”
(Một tiếng rao đêm)
ở trong tù, anh chia sẻ nổi bế tắc của ngời bạn công nhân sắp đợc tự do,nhng chỉ là để rơi vào cái vực thẳm của cuộc sống đói khổ, vợ con nheo nhócbên ngoài:
“Một đêm nữa, rồi thôi ra ngục tối
Mà lòng anh sao vẫn nặng trăm chiều”
(Đời thợ)
“Từ ấy”, từ khi trong lòng bừng lên ánh sáng của chính nghĩa và chân lýcách mạng, cũng là bớc đầu nhà thơ Tố Hữu nhận ra mối quan hệ khăng khítgiữa cá nhân và quần chúng, giữa cái riêng và cái chung lên trên hết:
“Tôi buộc lòng tôi với mọi ngời
Để tình trang trải với trăm nơi
Để hồn tôi với bao hồn khổ Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời”
(Từ ấy)Thông thờng thì Tố Hữu tránh phơi bày cái “tôi” của mình và hình nhmuốn nó tan biến vào cái “ta” chung Lần này, cái “tôi” của nhà thơ cũng vẫn làcái “ta” của dân tộc, giai cấp Nhng những tình cảm thể hiện là của riêng anh,mang lý lịch nhận dạng của riêng anh
Tố Hữu từng nói: “Đối với ngời cộng sản, cái lý tởng chung là cái lẽ sốngriêng lớn nhất của mình và mọi lẽ sống riêng đều có thể và phải nằm trong cái
lý tởng chung ở nớc ta con ngời đẹp nhất là Bác, phong cách Hồ Chí Minh làphong cách rất Việt Nam Rất riêng đấy mà cũng rất chung đấy” [1; 17]
Trong “Từ ấy” nhân vật “tôi” có khát vọng tắm mình trong bão táp cáchmạng gắn làm một với niềm “say tơng lai” Tơng lai thuộc về cách mạng, tơnglai là tuổi trẻ:
“Kiêu hãnh chút bạn đời ơi, tuổi trẻ Say tơng lai là tuổi của anh hùng ”
Trang 32(ý xuân)
4 Nghệ thuật biểu hiện nhân vật “tôi” trong tập thơ “Từ ấy”
4.1 Nhân vật “tôi“ gắn bó với nhân vật số đông
Con ngời “tôi” có cuộc sống gắn liền với số phận của cộng đồng, dân tộc
và của cách mạng Quan niệm con ngời ở tập “Từ ấy” có một vị trí quan trọng
Đó là khởi đầu của một thế giới mới Lần đầu tiên trong thơ Việt Nam, Tố Hữumang một quan niệm nghệ thuật về con ngời xã hội Có một số đông, tạo thànhmột lực lợng xã hội hùng hậu Tác phẩm tiêu biểu trong việc biểu hiện mốiquan hệ này là tập thơ “Từ ấy” và bài thơ đầu tiên xuất hiện quan hệ chặt chẽ ấycũng là bài thơ “Từ ấy”:
“Tôi buộc hồn tôi với mọi ngời Tôi đã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏ”
Trong tập thơ “Từ ấy”, có 72 bài thì có tới 46 bài xuất hiện từ số đông
Đây là một tỉ lệ tơng đối cao, chiếm tới 64% Trong 46 bài thơ, các từ chỉ nhânvật số đông xuất hiện 225 từ, hình ảnh nhân vật số đông phần lớn chỉ xuất hiệnmột lần và ít có sự lặp lại, nhng tần số xuất hiện lên tới 257 lần, tức là có nhiều
từ chỉ số đông đợc lặp lại nhiều lần trong bài và trong tập nh bài “Bà má HậuGiang”, hình ảnh “các con” đợc lặp lại tới 6 lần hay hình ảnh “các bà” lặp lạitới 7 lần trong bài “Tình thơng với chiến tranh”
Hình ảnh nhân vật số đông xuất hiện nhiều trong một số bài thơ nh:
“Tranh đấu” có tới 24 lần chiếm 9,33%, bài “Tình thơng với chiến tranh” có tới
18 lần, chiếm 7,0%, “Trăng trối” có tới 11 lần chiếm 4,28%, bài “Tâm t trongtù” xuất hiện 11 lần chiếm 4,28%… (đây là phần trăm so với số câu thơ xuấthiện trong tập)
Khả năng xây dựng nên những hình tợng tập thể kỳ vĩ, đầy sức mạnh,hào hùng, cha từng có trong văn thơ cách mạng đầu thế kỷ và thơ ca vô sản đ-
ơng thời
Trang 33Số đông ở đây không chỉ là số nhiều Nó có sự giàu có, phong phú, bấttận, vững bền, vô địch Đó là nhân dân, tuy con mắt còn rất trừu tợng
Cách mạng tháng Tám năm 1945, trớc một nhân dân cụ thể vùng lên cớpchính quyền, sự thể hiện của nhà thơ vẫn là “trăm họ”, “lòng muôn dân”, “máugiải phóng đã sôi dòng nhân loại”, “toàn dân chiến thắng giữ ngôi son” (Huếtháng Tám)
Những ngời ấy, không còn là con ngời của gia đình, không chỉ là “đồngbào”, “đồng chủng” nh trong văn thơ yêu nớc đầu thế kỷ, cũng không phải lànhững cá nhân cô đơn, đơn độc đứng trớc vũ trụ Đó là cá thể của loài, của số
đông đã tạo ra một tên gọi rất xác đáng là “bạn đời”, “bạn lòng”, “bạn muôn
đời” Đó cũng là đồng chí, những ngời cùng “đoàn thể” cách mạng: “Bao đồngchí, những ai còn, ai mất?” (Quanh quẩn)
“Danh dự của riêng thân, là của chung đồng chí” (Con cá, chột na)
“Bạn đời” là một ý niệm mang tính nhân dân rộng rãi, có cơ sở xã hội vàgiai cấp sâu sắc “Bạn đời” đã trở thành một nguyên tắc trong thế giới nghệthuật của Tố Hữu “Bạn đời” là những ngời hiểu nhau không đợi nói lên lời, lànhững ngời “chung lòng”, “chung tình”, “chung điệu”, chung “cừu hận”,chung “tơng lai”, những ngời sẽ thực hiện lý tởng cách mạng của nhân vật
“tôi”, nó hớng tới một công chúng hết sức rộng rãi chứ không hề khép kín “Bạn
đời” là ý niệm lý tởng hoá của con ngời chung, số đông trong thơ Tố Hữu
Cái mới của “Từ ấy” với thơ ca cách mạng là thể hiện lòng say mê conngời, muốn thờng xuyên gần gũi nó, cảm thấy sự tồn tại của nó Tình hữu ái đợcbiểu hiện tinh khiết, nồng nàn nh tình yêu nhng lại không mảy may t lợi, riêngt:
“Nơi bao nhiêu âu yếm tuổi thơ ngây Anh đã trút cho lòng em tất cả ”
(Đi đi, em) Hoài Thanh đã nhận định: “Thơ Tố Hữu là tiếng ca trong ngày hội” [9; 128]
“ồ vui quá rộn ràng trên vạn nẻo Bốn phơng trời và sau dấu muôn chân
Trang 34Cũng nh tôi, tất cả tuổi đang xuân Chen bớc nhẹ trong gió đầy ánh sáng”
(Hy vọng) Bài thơ “Từ ấy” là thời điểm giác ngộ lý tởng cách mạng của nhân vật
“tôi” Cuộc hội ngộ kỳ lạ này đã tạo nên chất men say của tình yêu đằm thắmvới lý tởng cách mạng và cuộc đời, niềm vui bắt gặp lý tởng:
“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lý chói qua tim Hồn tôi là một vờn hoa lá
Rất đậm hơng và rộn tiếng chim”
(Từ ấy)
Lý tởng cách mạng đã đem lại cho tâm hồn “tôi” một cảm hứng mới Bàithơ mang ý nghĩa của một tuyên ngôn nghệ thuật hay còn gọi là tuyên ngôn lýtởng sống Nhân vật “tôi” khẳng định sự gắn bó giữa cảm hứng thẩm mỹ, cảmhứng sáng tạo nghệ thuật với cách mạng:
“Tôi buộc lòng tôi với mọi ngời
Để tình trang trải với trăm nơi
Để hồn tôi với bao hồn khổ Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời”
(Từ ấy)
“Tôi” đã đặt mình vào giữa dòng đời và trong môi trờng rộng lớn củaquần chúng lao khổ “Tôi” đã tìm thấy niềm vui và sức mạnh mới tiếp nhận đợc
từ quần chúng lao động “Tôi” còn là tinh thần yêu ruột thịt:
“Tôi là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏ Không áo cơm, cù bất cù bơ ”
Đúng nh nhận xét của Chế Lan Viên: “Tất cả Tố Hữu, thi pháp, tuyênngôn, những yếu tố làm ra anh có thể tìm thấy trong tế bào, anh là nhà thơ của
Trang 35vạn nhà, buộc lòng mình cùng nhân loại, có phải vì lẽ ấy mà anh làm rất nhiềuthơ vì ngời” [13; 276].
Đến “Tâm t trong tù” thì “tôi” đã bị đẩy xa khỏi nhân dân, khỏi cộng
đồng: “Cô đơn thay là cảnh thân tù”
“Tôi” đã bị ngăn cách hoàn toàn với cuộc đời sôi động bên ngoài Cô đơn
là vì bị tù hãm, vì phải xa đồng chí, đồng bào Cảm giác cô đơn thể hiện sự gắn
bó tha thiết của ngời chiến sĩ với xã hội, với phong trào cách mạng, với cả mộtthế giới bên ngoài sôi động:
“Tai mở rộng là lòng sôi rạo rực Tôi lắng nghe tiếng đời lăn náo nức
ở ngoài kia vui sớng biết bao nhiêu ”
(Tâm t trong tù) Bao thèm muốn và khao khát đợc hoà nhập với cuộc đời bên ngoài, khaokhát tự do của chính mình “Tôi” với bốn bức tờng nhà giam là thế giới tù túng,tối tăm:
“Đây lạnh lẽo bốn tờng vôi khắc khổ
Đây xà lim, manh ván ghép sầm u ”
(Tâm t trong tù) Tất cả chỉ có vậy, thật đơn điệu, ảm đạm và quá nghiệt ngã với một tâmhồn trẻ tuổi đang tha thiết yêu đời, khao khát tự do:
“Nghe lạc ngựa rùng chân bên giếng lạnh Dới đờng xa nghe tiếng guốc đi về”
Trong cảnh ngộ mất tự do thì đến tiếng guốc cũng hàm chứa niềm khaokhát đợc sống Hoài Thanh đã viết: “Một tiếng guốc dới đờng xa nhà thơ ghivội, đã bao nhiêu năm rồi còn vang mãi trong thơ” [15; 340]
“Tôi” đã cảm nhận sâu sắc: cả xã hội bên ngoài thời đó chỉ là một nhà tù,nhng là một nhà tù khổng lồ, bao trùm vô số những nhà tù khác Do đó sự tù tộicủa cá nhân “tôi” chỉ là một bi kịch nhỏ giữa cái bi kịch vô cùng lớn của cuộc
Trang 36“Tôi chiều nay giam cấm hận trong lòng Chỉ là một giữa loài ngời đau khổ
Tôi chỉ một con chim non bé nhỏ Vứt trong lồng con giữa một lồng to”
(Tâm t trong tù)Trong thơ Tố Hữu, con ngời số đông, không hề che lấp cá nhân, nhng
đây là một cá nhân mới, một quan hệ mới của cá nhân, trong đoàn quân đó, cáccá nhân chỉ là một bộ phân, một đơn vị:
“Tôi chỉ một giữa muôn ngời đau khổ ”
“Tôi chỉ một giữa muôn ngời chiến đấu ”Nhân vật “tôi” đã khép lại bài thơ của mình với những lời thơ vang lênthật hào hùng nh tuyên ngôn về lẽ sống của con ngời:
“Tôi cha chết, nghĩa là cha hết hận Nghĩa là cha hết nhục của muôn đời Nghĩa là còn tranh đấu mãi không thôi”
(Tâm t trong tù)
Ông Đặng Thai Mai nhận xét: “Những câu thơ nh thế chính là bản quyếttâm th của một ngời chiến sĩ không hề do dự trớc nhiệm vụ, không hề lùi bớc tr-
ớc những bạo lực của quân thù” [15; 343]
Đến “Trăng trối”, “tôi” cảm thấy mình phút chết đã kề bên; ngời chiến sĩ
“thung dung tựa nghĩa”, rất bình tĩnh sáng suốt, mỉm một nụ cời:
“ Dù phải chết, chết một đời trai trẻ Liệm thân tàn bằng một mảnh chiếu con Rồi chân xơng rục thối dới chân cồn Hay phơi xác cho một đàn quạ rỉa?
Tôi chẳng tiếc, chỉ cời trong mai mỉa”
(Trăng trối)
Trang 37“Tôi” luôn ý thức về trách nhiệm với truyền thống cha ông và với cuộc
đời hiện tại không đợc xa rời hoặc lãng quên quá khứ Phải biết dấn thân, phảibiết hy sinh:
“Sống đã vì cách mạng, anh em ta Chết cũng vì cách mạng chẳng phiền hà”
(Trăng trối)
Thơ Tố Hữu trong tập “Từ ấy” là sự biểu hiện một cách chân thực cái
“tôi” hết sức trong sáng hồn nhiên của một thanh niên khao khát lý tởng, chiến
đấu hy sinh cho lý tởng ấy
4.2 Không gian, thời gian của nhân vật
Nhân vật “Tôi” đã xây dựng sắc nét hình tợng nghệ thuật về sự đối lậpgiữa hai thế giới, hình tợng con đờng cách mạng, đem vào thơ Việt Nam mộtkhông gian xã hội sôi động những sự biến lịch sử
“Tôi” đã sáng tạo ra hình tợng mới mẻ về không gian tù ngục của xã hộicũ:
“Tôi chỉ là một con chim non bé nhỏ Vứt trong lồng con giữa một lồng to”
(Tâm t trong tù)Hay: “Một đêm nữa, rồi thôi ra ngục tối
Mà lòng anh sao vẫn nặng trăm chiều Ngoài song giăng trăng sáng biết bao nhiêu
Mà anh thấy trời đen nh vực thẳm”
Nhạt nhạt ngàn xa buồn cô liêu ”
Trang 38(Tiếng hát đi đày)Thế giới của tình thơng, nhân tình, của cảm thông và thế giới mất nhân tính.Tác giả đã xây dựng hình tợng không gian xã hội đối lập Tầng cao của bọn giàusang, áp bức bóc lột, tầng dới, địa ngục, hầm ngời, thây rơi, máu chảy
“Ngổn ngang sơng lạnh đầy ao huyết Giữa lúc tầng cao, dội tiếng cời
Đó nghe không bạn, hầm đang rã
Bởi khối ngời kia đã ngẩng đầu”
(Hầm ngời)Hình tợng không gian quan trọng nhất đóng vai trò hình tợng xuyên suốttrong thế giới thơ Tố Hữu là con đờng cách mạng
“Đời cách mạng, từ khi tôi đã hiểu
Với cách mạng, tôi cha hề đùa bỡn ”
(Trăng trối)Con đờng là biểu tợng của sự thống nhất về không gian và thời gian, làkhông gian vận động, không gian của con ngời đi tới Trong thơ Tố Hữu, nhất làphần cuối “Từ ấy” trở đi, con đờng là không gian chủ yếu:
“Ta bớc tới chỉ một đờng: Cách mạng Vững lòng tin sẽ nắm chắc thành công”
(Nh những con tàu)Không gian nghệ thuật của thơ Tố Hữu là một không gian lộ thiên, đầy ánhsáng, ánh nắng, ấm áp, trong trẻo Sơng mù, giá lạnh, mùa đông chỉ là tạm thời Dới
ánh sáng ấy, mọi màu sắc, sự vật nh đều phát sáng Nhân vật “tôi” trong thơ thíchnắng tra, nắng hạ, nắng chói, những luồng ánh sáng cực mạnh Có thể nói cái “nắnghạ” trong bài “Từ ấy” năm xa toả chiếu tng bừng trong không gian thơ Tố Hữu.Nắng thiên nhiên và nắng lý tởng hoà quyện vào nhau làm một
Không gian của nhân vật “tôi” cũng đầy gió:
“Ngày mai gió mới ngàn phơng
Sẽ đa cô tới một vờn đầy xuân”
(Tiếng hát sông Hơng)
Trang 39“Tôi” mang lại cho thơ trữ tình một không gian mới mẻ, nhng lại rất gầngũi, quen thuộc, nó phù hợp nhất để thể hiện thời đại cách mạng sôi động hàohùng của chúng ta.
Thời gian nghệ thuật trong thơ Tố Hữu, là bớc phát triển của thời giannghệ thuật trong thơ ca dân tộc với nhiều biểu hiện phong phú Nổi bật nhất lànhân vật “tôi” đã xây dựng thành công hình tợng thời gian lịch sử trong thơ, đợcthể hiện ngay từ tập thơ “Từ ấy”, đây là một sáng tạo mới mẻ
Thời gian cá nhân “tôi” cũng là một hiện tợng cụ thể, lịch sử Thời giancủa nhân vật “tôi” trong thơ Tố Hữu là thời gian của con ngời, của nhân dân,dân tộc ở “Từ ấy”, thời gian lịch sử mới xuất hiện nh viễn cảnh của thời giancá nhân “Tôi” là ngời đầu tiên gắn thời gian đời t vào hệ quy chiếu thời đạimới, đều có thể đợc tái sinh trong xã hội ngày mai:
“Ngày mai trong giá trắng ngần Cô thôi sống kiếp đày thân giang hồ Ngày mai bao lớp đời dơ
Sẽ tan nh đám mây mờ đêm nay ”
(Tiếng hát sông Hơng)Dòng thời gian lịch sử trong thơ Tố Hữu, không tĩnh tại đồng đều Nóngày một dài ra, sâu thêm, theo sự phát triển của cách mạng Thời gian trongthơ đã góp phần thể hiện nhân vật “tôi”, nhất là trong “Từ ấy”, “tôi” đã khắchoạ thấm thía cảnh thời gian tù đọng đến khủng khiếp:
“Đâu những đờng cong bớc vạn đời Xóm nhà tranh thấp ngủ im hơi Giữa dòng ngày tháng âm u đó Không đổi, nhng mà trôi cứ trôi ”
(Nhớ đồng)
Sự cảm thụ thời gian của nhân vật “tôi” nói trên chi phối cách tổ chứcdòng cảm xúc trong thơ Tố Hữu Thời gian cá nhân và thời gian lịch sử hoà hợpthành một dòng duy nhất Thời gian mới là “nhân vật” chính trong thơ Tố Hữu
Trang 40Thời gian của nhân vật “tôi” cũng biết nhảy vọt, đó là thời gian chứa nhiều bí
ẩn mà ta cha biết, đến một lúc nào đó sẽ dâng trào, đột biến bất ngờ
Tất cả những điều trên đã cho độc giả thấy không gian và thời gian trongthơ Tố Hữu làm hiện hình nhân vật “tôi” một cách rõ nét
4.3 Kết cấu thơ với việc thể hiện nhân vật “tôi“
Kết cấu trong các bài thơ không bao giờ là hiện tợng kỹ thuật, hình thứcthuần tuý Nó mang đậm dấu ấn quan niệm chủ quan về thế giới và con ngờicủa nhân vật “tôi”, mang dấu ấn của thời đại
Kết cấu trong thơ có sự uyển chuyển và nhuần nhuyễn, tạo ra giọng điềutrữ tình Thành công của Tố Hữu là đã xây dựng đợc hình tợng nhân vật “tôi”kiểu mới, “tôi” giữa mọi ngời Đọc “Từ ấy”, ta luôn thấy một con ngời cá thểgiữa muôn ngời:
“Tôi chỉ một giữa muôn ngời đau khổ Tôi chỉ một giữa muôn ngời chiến đấu ”
Kết cấu thơ đã thể hiện đợc rõ nét cái “tôi” Chính cái “tôi” ấy mang vàothơ một điểm nhìn mới mẻ, điều này cha hề có trong kiểu nhà thơ vũ trụ siêu cáthể, và trong kiểu nhà thơ tự biểu hiện khép kín Kết cấu nhân vật “tôi” ý thức
về vai trò ở giữa mọi ngời, làm cho “tôi” một lúc hớng về nhiều đối tợng đãphát triển ở thơ Tố Hữu, cái “tôi” trữ tình nhiều vai Vì cái “tôi” nhiều vai này
đã làm cho tiếng thơ Tố Hữu phong phú, biến hoá, giàu âm điệu trữ tình hơn
Đồng thời nó cũng cho thấy trong thơ Tố Hữu đã mở rộng rất nhiều giới hạncủa cái “tôi” trữ tình cá nhân
Thơ trữ tình thực chất là sự chiếm lĩnh bằng nghệ thuật các loại kinhnghiệm đời sống qua một cá nhân Những bài thơ thành công của nhân vật “tôi”một phần là do kết cấu nghệ thuật tạo nên Lần đầu tiên trong thơ chính trị ViệtNam xuất hiện một cái “tôi” chân thành cởi mở, tự thể hiện niềm vui, niềm say
mê, nỗi buồn, sự đấu tranh bản thân trong những phút yếu đuối Hiểu đợc cáchmạng chính là con đờng giải phóng cá tính chân chính:
“Tôi đã sống những ngày điên phẫn uất Nhng cha hề một bữa nh hôm nay Tôi đã nghe ran nóng máu hăng say”