Mạc Ngôn với những lời tự bạch Nguyễn Thị Thại dịch, Nxb văn học 2004, tập hợp những bài nói chuyện của nhà văn Mạc Ngôn tại các trường đã học ở Trung Quốc và Mỹ nhằm giúp độc giả hiểu h
Trang 1Trêng §¹i häc Vinh Khoa ng÷ v¨n
Trang 2Trờng Đại học Vinh Khoa ngữ văn
Giáo viên hớng dẫn: ths Phan thị nga
Sinh viên thực hiện: đỗ thị trung hòa
Lớp: 48B - Văn
Vinh – 2011 2011
Trang 3L ời cảm ơn
Khóa luận này được hoàn thành nhờ sự giúp đỡ và hướng dẫn tận tình của Cô giáo, ThS Phan Thị Nga, cùng các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Văn học nước ngoài Khoa Ngữ văn, trường Đại học Vinh.
Nhân đây, cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới cô giáo hướng dẫn, các thầy cô, gia đình, bạn bè đã quan tâm, động viên tôi hoàn thành khóa luận này !
Mặc dù có nhiều cố gắng, song bước đầu thực hiện nghiên cứu khoa học nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong được sự góp ý của thầy cô, bạn bè !
Vinh, tháng 4 năm 2011
Tác giả
Đỗ Thị Trung Hòa
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn 0
MỤC LỤC 0
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 4
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Bố cục khóa luận 7
NỘI DUNG 8
Chương 1: NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG TÁC PHẨM TỰ SỰ 8
1.1 Tác phẩm tự sự 8
1.2 Người kể chuyện 9
1.2.1 Khái niệm 9
1.2.2 Các dạng người kể chuyện trong tác phẩm tụ sự 11
1.2.3 Đặc trưng của người kể chuyện trong tác phẩm tự sự 14
Chương 2: CÁC DẠNG THỨC NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG ĐÀN HƯƠNG HÌNH 18 2.1 Người kể chuyện ở ngôi thứ nhất xưng “tôi” 18
2.2 Người kể chuyện ngôi thứ ba 27
2.3 Người kể chuyện vừa ở ngôi thứ nhất, vừa ở ngôi thứ ba 32
Chương 3: VAI TRÒ CỦA NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG ĐÀN HƯƠNG HÌNH 34 3.1 Vai trò của người kể chuyện ngôi thứ nhất 34
3.2 Vai trò người kể chuyện ngôi thứ ba 39
3.3 Tác dụng của việc đan xen ngôi kể thứ nhất và ngôi kể thứ ba 40
KẾT LUẬN 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ngay từ khi còn nhỏ trong đầu tôi đã luôn thường trực cụm từ “Trung
Quốc” - đó là một người hàng xóm của Việt Nam, một quốc gia rất rộng lớn
và đông dân số vào bậc nhất của thế giới - đây chính là những điều tôi được
nghe người lớn kể lại Kể từ đó, trong tôi Trung Quốc như một đại dươngrộng lớn, sâu thẳm chứa đầy những điều mới lạ, bí ẩn Sự tò mò, ngưỡng mộtrong tôi cứ lớn dần lên từng ngày nhất là khi tôi được xem những bộ phimTây du kí, Tam quốc diễn nghĩa, Thuỷ hử, có những nhân vật thật đặc biệt:một chú khỉ được sinh ra từ một tảng đá biết bẩy hai phép biến hóa diệt trừđược bao yêu ma quỷ quái (Tôn Ngộ Không); một Gia Cát Lượng trí tuệ siêuphàm, dự đoán như thần, bày mưu hiến kế trăm trận trăm thắng; một VõTòng khoẻ mạnh tay không giết hổ, và bao nhiêu những nhân vật khác nhưTrư Bát Giới, Xa Tăng, Trương Phi, Quan Vân Trường nhân vật nào cũngđặc biệt và phi thường Tôi tự hỏi những nhân vật ấy có thật không hay chỉ làtưởng tượng, hư cấu? Những hoài nghi về đất nước, con người, văn hoá, lịch
sử Trung Quốc cứ canh cánh trong tôi Cho đến khi trưởng thành, đi học, từthầy cô, sách vở, bạn bè sự hiểu biết trong tôi về Trung Quốc ngày càngnhiều Nó tỉ lệ thuận với lòng đam mê học hỏi, kiếm tìm những gì liên quanđến nền văn hoá, lịch sử của quốc gia này Và thật may mắn, là một sinhviên khoa Ngữ Văn nên tôi có nhiều điều kiện và cơ hội được học hỏi và tiếpxúc với nền văn học của Trung Quốc, nhờ đó mà tôi đã giải đáp được nhữngthắc mắc thuở ấu thơ, đồng thời tiếp nhận thêm bao điều mới lạ và quý báu
Trung Quốc không chỉ là một quốc gia có bề dày lịch sử mà còn làmột dân tộc có truyền thống lâu đời với nhiều thành tựu xuất sắc trong lĩnhvực văn học Chỉ xét trên lĩnh vực thơ ca, cho đến nay chưa có một nền thơ
ca của một quốc gia nào có thể vượt được thơ Đường, bởi thành tựu mà nền
Trang 6thơ ca này thu được không chỉ là số lượng sáng tác đồ sộ (khoảng gần nămmươi nghìn bài thơ) mà còn là nội dung, tư tưởng nghệ thuật mà nó phảnánh Còn ở thể loại tiểu thuyết (đặc biệt là tiểu thuyết thời Minh - Thanh),thành tựu đạt được cũng không thua kém gì, nhiều bộ tiểu thuyết đã trở thành
cổ điển, mẫu mực nổi tiếng trên khắp thế giới, được bạn đọc yêu quý, hâm
mộ như Thuỷ hử, Tam quốc diễn nghĩa, Tây du kí, Hồng lâu mộng, Cho
đến nay, Trung quốc vẫn giữ được vị trí xứng đáng trong nền văn học nhânloại Nhất là những năm gần đây, cùng với chính sách cải cách mở cửa vềkinh tế, xã hội, văn học nghệ thuật Trung Quốc cũng thực sự cải cách, mởcửa và ngày càng thu được nhiều kết quả, được bạn đọc thế giới biết đến vớinhững khởi sắc đầy triển vọng Bên cạnh những tên tuổi đã được khẳng địnhtrên văn đàn như Vương Mông, Giả Bình Ao, Mao Thuẫn, Quỳnh Dao, thìMạc Ngôn cũng là một trong những tên tuổi được độc giả trong và ngoàinước mến mộ Tác phẩm của ông được dịch ra 18 thứ tiếng, trong đó cótiếng Việt Có nhiều ý kiến cho rằng Mạc Ngôn sẽ là nhà văn thứ hai củaTrung Quốc được giải Nô-ben văn học Tuy sự đánh giá có phần cảm tínhsong cũng cho thấy được vị trí quan trọng của nhà văn trong nền văn họcTrung Quốc
Tại Việt Nam, tiểu thuyết của Mạc Ngôn được ấn bản với số lượng lớn
gây lên "cơn sốt Mạc Ngôn" Theo TS Hồ Sĩ Hiệp, "Mạc Ngôn là nhà văn
đương đại Trung Quốc có nhiều tác phẩm được dịch và được dư luận Việt Nam chú ý nhiều nhất" Số lượng nhiều, nhưng người đọc không bao giờ
thấy chán vì sự trùng lặp, sự quen thuộc, công thức Bởi trong từng tácphẩm, từng trang, từng dòng đều đã khắc sâu một phong cách riêng của MạcNgôn Hơn nữa đề tài phản ánh của tiểu thuyết Mạc Ngôn rất rộng, có thể
nói: "Trên trời dưới đất, cổ kim, trong ngoài, xương khô trong mồ, u hồn
dưới gốc cây tùng, công tử vương tôn, tài tử giai nhân, sơn cùng thuỷ tận,
Trang 7dân tục phong tình" (Mạc Ngôn, Thiên mã thành không, Văn nghệ Quân giải
phóng, 2/1985) đều có mặt trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn
Tiểu thuyết của Mạc Ngôn phần lớn không có cốt truyện hoàn chỉnhnhư trong tiểu thuyết truyền thống mà chỉ còn là cái khung truyện mà thôi.Nhưng trong cái khung truyện ấy chứa đầy cảm giác, và những cảm giác ấychính là linh hồn của tiểu thuyết Mạc Ngôn Đây cũng chính là lí do vì sao
mà người ta gọi tiểu thuyết của Mạc Ngôn là tiểu thuyết "cảm giác mới".Tiểu thuyết cảm giác mới đối lập với tiểu thuyết hiện thực truyền thống, nókhông đơn thuần miêu tả hiện thực bên ngoài, mà nhấn mạnh cảm thụ trựcgiác, đưa cảm giác chủ quan vào trong khách thể đặng sáng tạo ra một hiệnthực mới mẻ
Năm 1981, Mạc Ngôn thành danh bởi tiểu thuyết "Củ cải đỏ trongsuốt" Đến "Cao lương đỏ" thì ông trở nên nổi tiếng trên văn đàn Năm 1999,trong một cuộc bình chọn lớn do Nxb Văn học Nhân dân và nhà sách BắcKinh tổ chức, cuốn "Gia tộc Cao lương đỏ" của ông đã được đưa vào danhmục "100 cuốn sách văn học Trung Quốc ưu tú 100 năm qua" Và gần đâynhất, thượng tuần tháng 11 năm 2003 tại Bắc Kinh , trong cuộc bình chọn sơ
bộ của giải văn học Mao Thuẫn lần thứ sáu (1998-2002), giải thưởng danh
giá nhất của văn học Trung Quốc, cuốn Đàn hương hình đã đứng đầu bảng
với số phiếu tối đa Mạc Ngôn đã trở thành nhà văn hạng nhất của TrungQuốc hiện nay
Ngay khi mới ra đời, tác phẩm đã gây tiếng vang lớn, lượng tiêu thụcủa cuốn tiểu thuyết có thể được xem là một “hiện tượng khổng lồ” Tácphẩm thu hút và hấp dẫn bạn đọc trên nhiều phương diện cả về nội dung vàhình thức, đặc biệt là nghệ thuật viết truyện Theo Nguyễn Khắc Phê thì
“Đàn hương hình là cuốn tiểu thuyết đáng đọc nhất hiện nay" [11].
Vì lòng ngưỡng mộ, yêu quý văn học Trung Quốc nói chung, Mạc
Ngôn nói riêng và vì giá trị của Đàn hương hình, khoá luận chúng tôi chú
Trang 8trọng tìm hiểu một khía cạnh nhỏ trong nghệ thuật của cuốn tiểu thuyết này
đó là “người kể chuyện trong "Đàn hương hình" của Mạc Ngôn”.
2 Lịch sử vấn đề
Mạc Ngôn tên thật là Quản Mạc Nghiệp, sinh tháng 2 năm 1955 tạiCao Mật, Sơn Đông, Trung Quốc Năm 1980, Mạc Ngôn bắt tay vào sáng tácvăn học, đến nay ông đã sáng tác được trên 200 tác phẩm, gồm nhiều tiểuthuyết, truyện ngắn, truyện vừa, phóng sự, tuỳ bút, trong đó có nhiều tácphẩm gây xôn xao dư luận và được bạn đọc trong ngoài nước đón nhận nồngnhiệt Có thể nói, Mạc Ngôn là một nhà văn có sức viết rất khoẻ, và hiện nayông đang ở thời kì sung mãn nhất của tay nghề và sự nghiệp văn học
Sáng tác của Mạc Ngôn được giới thiệu vào Việt Nam vào những nămđầu của thế kỉ XXI, nhờ các dịch giả Trần Đình HIến, Nguyễn Thi Thại Tỉ
lệ thuận với tuổi đời, tuổi nghề của nhà văn này là lòng hâm mộ của độc giảtrong đó có bạn đọc Việt Nam Giới phê bình nghiên cứu văn học ở ViệtNam cũng dần bị Mạc Ngôn và những sáng tác của ông thu hút Tuy số côngtrình nghiên cứu chưa nhiều, lại chủ yếu giới thiệu tìm hiểu về cuộc đời, sựnghiệp nhà văn, những công trình nghiên cứu hay những bài viết đi sâu vàotìm hiểu đặc sắc về nội dung, nghệ thuật của tác phẩm còn đang khiếm tốn,nhưng chúng tôi tin rằng đây mới chỉ là sự khởi đầu Với tài năng của MạcNgôn cùng với những giá trị mà tác phẩm của ông mang lại, thì trong tươnglai sáng tác của Mạc Ngôn sẽ là đề tài khiến các nhà nghiên cứu, phê bìnhtốn nhiều thời gian, công sức
Cho đến nay, theo hiểu biết của chúng tôi có các công trình nghiêncứu về Mạc Ngôn như sau:
Một số vấn đề văn học Trung Quốc thời kì mới (Hồ Sĩ Hiệp, Nxb TP.
Hồ Chí Minh, 2001), tác giả đã giới thiệu sơ lược về nhà văn Mạc Ngôn với
tư cách là một cây bút trẻ, chưa đi sâu vào sự nghiệp văn học của ông
Trang 9Mạc Ngôn chuyện văn, chuyện đời (Nguyễn Thị Thại ,Nxb Lao động,
2003), là công trình cung cấp cho độc giả Việt Nam những hiểu biết về cuộcđời và sự nghiệp của nhà văn một cách sâu sắc và đầy đủ nhất trong sốnhững công trình nghiên cứu về Mạc Ngôn của Việt Nam cho đến nay
Mạc Ngôn với những lời tự bạch (Nguyễn Thị Thại dịch, Nxb văn học
2004), tập hợp những bài nói chuyện của nhà văn Mạc Ngôn tại các trường
đã học ở Trung Quốc và Mỹ nhằm giúp độc giả hiểu hơn về con người vàcuộc đời nhà văn, đồng thời cũng trích dẫn những cuộc trả lời phỏng vấn
giữa Mạc Ngôn với các nhà văn, nhà báo nước ngoài về các tác phẩm Báu
vật của đời, Đàn hương hình, Các cuộc hỏi đáp xoay quanh một số vấn đề
cơ bản mà độc giả băn khoăn, thắc mắc như tên gọi, kết cấu, hoàn cảnh sángtác, giải thưởng, chưa có điều kiện đi sâu vào phân tích, mổ xẻ tác phẩm
Trên các báo, các tạp chí chuyên ngành như báo Văn nghệ, tạp chí
Nghiên cứu văn học mới chỉ xuất hiện các bài viết có tính chất giới thiệu
khái quát, hay những cảm nhận, những đánh giá sơ bộ ban đầu về những tác
phẩm của Mạc Ngôn Báo Văn nghệ, số 35-36 ra ngày 30/8 - 6/9/2003, trang
29 có bài dịch của Trần Minh Sơn " Mạc Ngôn - nhà văn của những ngườinông dân" giới thiệu đề tài thường được Mạc Ngôn khai thác là cuộc sốngcủa những người nông dân vùng Đông Bắc, Cao Mật
Gần gũi hơn với đề tài khóa luận của chúng tôi là bài viết: "Thế giới
nghệ thuật trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn" của PGS TS Lê Huy Tiêu, tạp
chí Văn học nước ngoài, số 4, năm 2003 Tác giả của bài viết đã đi sâu vào
tìm hiểu một số đặc sắc nghệ thuật trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn như: đềtài, cốt truyện, thủ pháp nghệ thuật, Bài viết cũng đã cung cấp một cái nhìntương đối hệ thống về nghệ thuật tiểu thuyết Mạc Ngôn
Tạp chí Sông Hương, số 116, 12/2002, Nguyễn Khắc Phê có bài: "Thế
giới nghệ thuật của Mạc Ngôn qua hai tiểu thuyết Báu vật của đời và Đàn hương hình" Tác giả đã bàn đến một số khía cạnh của nghệ thuật Đàn hương
Trang 10hình như bút pháp lạ hóa, truyền thống hóa, sự phóng đại, cường điệu hóa, ít
đề cập đến nghệ thuật người kể chuyện
Còn có thể kể thêm một số bài nghiên cứu về Mạc Ngôn như: "Những
cách tân về nghệ thuật trong tiểu thuyết Đàn hương hình" , Mai Đức Hán,
Tạp chí khoa học Đại học Vinh, tập 34, số 4B, 2005
Gần đây, Đàn hương hình của Mạc Ngôn đã thu hút được sự quan tâmchú ý của các học viên, sinh viên, nhiều người đã chọn đây làm một đề tàinghiên cứu để bảo vệ luận văn tốt nghiệp Năm 2006, Nguyễn Thị MinhQuân, Đại học Sư phạm Hà Nội, đã bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ với
đề tài: " Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Đàn hương hình của Mạc Ngôn" Hay " Một vài đặc sắc về phương diện nghệ thuật của Đàn hương hình(Mạc
Ngôn)", khoá luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Phương Thuần, Đại học Vinh,
5/2008
Nhìn chung, bài viết, công trình nghiên cứu về sự nghiệp sáng tác đặcbiệt tiểu thuyết của ông, nhưng như vậy vẫn còn chưa đủ, chưa tương xứngvới quy mô và tầm vóc của những tác phẩm này Sáng tác của Mạc Ngôn nói
chung và Đàn hương hình nói riêng vẫn là một mảnh đất màu mỡ để chúng
ta khai thác
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Khi thực hiện đề tài này, chúng tôi nhằm tìm hiểu một khía cạnh nhỏ
trong thế giới nghệ thuật của Mạc Ngôn, đó là người kể chuyện trong Đàn
hương hình Cụ thể khóa luận chỉ ra các dạng thức người kể chuyện trong Đàn hương hình cùng vai trò người kể chuyện trong tác phẩm để thấy được
nét đặc sắc trong nghệ thuật tự sự, đồng thời hiểu hơn về tài năng vănchương của nhà văn
Trang 114 Phạm vi nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này chúng tôi tiến hành khảo sát cuốn Đàn hương
hình do Trần Đình Hiến dịch, NXB Phụ nữ, năm 2004
5 Phương pháp nghiên cứu
Nhằm đạt được mục đích nghiên cứu trên, trong khi thực hiện chúngtôi đã sử dụng các phương pháp và thao tác sau: khảo sát, thống kê, phântích, và so sánh, đối chiếu để làm nổi bật nét đặc trưng trong nghệ thuật
người kể chuyện của tiểu thuyết Đàn hương hình.
6 Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính chúng tôi trình bàytrong ba chương:
Chương 1: Người kể chuyện trong tác phẩm tự sự
Chương 2: Các dạng thức người kể chuyện trong Đàn hương hình Chương 3: Vai trò của người kể chuyện trong Đàn hương hình
Trang 12NỘI DUNG Chương 1
NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG TÁC PHẨM TỰ SỰ
Để làm rõ vấn đề người kể chuyện trong tác phẩm tự sự, trước hết ta
cần phải tìm hiểu các khái niệm có liên quan như tác phẩm tự sự, người kể
chuyện.
1.1 Tác phẩm tự sự
Tự sự (tiếng Anh : narrative) là một phương thức tái hiện đời sống,bên cạnh hai phương thức khác là trữ tình và kịch, được dùng làm cơ sở đểphân loại tác phẩm văn học [3,385]
Giáo trình Lí luận văn học, Phương Lựu (chủ biên) cho rằng: tác phẩm
tự sự phản ánh đời sống trong tính khách quan của nó - qua con người, hành
vi, sự kiện được kể lại bởi một người kể chuyện nào đó Tác phẩm tự sựkhông chỉ phản ánh cái phần tồn tại vật chất với các việc làm, hành động củacon người, nó còn phản ánh thế giới bên trong bao gồm cảm xúc, tâm trạng,
ý nghĩ của con người Đây là loại văn có khả năng phản ánh hiện thực sâurộng nhất, có vị trí ngày càng quan trọng trong đời sống tinh thần của conngười Việt Nam Phân loại tác phẩm tự sự có nhiều cách:
Dựa vào nội dung, chủ đề ta có thể chia tác phẩm tự sự thành: tácphẩm mang chủ đề lịch sử dân tộc, thế sự đạo đức và đời tư
Căn cứ vào hình thức, tác phẩm tự sự có các thể loại cơ bản sau: anhhùng ca, trường ca, truyện thơ, thơ trường thiên, ngụ ngôn; tiểu thuyết,truyện vừa, truyện ngắn
Trang 131.2 Người kể chuyện
1.2.1 Khái niệm
Người kể chuyện (narrator) là một thuật ngữ công cụ của tự sự học.Trước đây, khái niệm này dường như bị bỏ qua, người ta chỉ nghiên cứunhân vật, ngôn ngữ, cốt truyện, các biện pháp tu từ Người kể chuyện trongvăn bản biến mất, gần như là vô hình hoặc bị đồng nhất với tác giả Nhữngnăm gần đây, sự ý thức về chủ thể văn học cùng với việc mở rộng tiếp thucác thành tựu lí luận trên thế giới đã tác động mạnh mẽ đến ý thức nhữngngười nghiên cứu văn học, họ quan tâm đến cách thể hiện như thế nào đểcuốn hút độc giả Trong hàng loạt thuật ngữ công cụ của tự sự học được xáclập nhằm cải thiện phương pháp làm việc và tạo ra hiệu quả tinh tế khi giải
mã tác phẩm văn học thì khái niệm người kể chuyện giữ vai trò quan trọng,
nó không chỉ là một yếu tố trong truyện kể mà nó tồn tại với tư cách là mộtphạm trù, một phương tiện để nhận thức thế giới nghệ thuật, nó có đặc điểmriêng, quy luật phát triển và có mối quan hệ với các yếu tố khác
Khi nhắc đến khái niệm người kể chuyện trong tác phẩm tự sự, nhiều người đã đồng nhất với khái niệm người trần thuật, người tự sự Cách hiểu
như vậy có đúng và hợp lí không ? Thực chất, cách hiểu này không phải làkhông có lí, bởi giữa các thuật ngữ này có sự gặp nhau ở nội hàm khái niệm.Đều là “hình tượng ước lệ” được tác giả tạo ra, để kể lại, trần thuật lại, dẫnlại câu chuyện trong tác phẩm tự sự và có quan hệ mật thiết với tác giả
Tuy nhiên, việc đồng nhất các khái niệm như vậy là chưa chính xác, vìbản chất các khái niệm này vẫn có sự khác nhau:
Trong Từ điển thuật ngữ văn học, Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn
Khắc Phi (đồng chủ biên), Nxb Giáo dục, cũng đã phân biệt rất rõ hai kháiniệm này:
Trang 14Người kể chuyện (tiếng Anh: narrator; tiếng pháp: narateur) là hìnhtượng ước lệ về người trần thuật trong tác phẩm văn học, chỉ xuất hiện khinào được kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm Đó có thể là hình tượngcủa chính tác giả (không nên đồng nhất hoàn toàn với tác giả ngoài đời) ;cũng có thể là một nhân vật đặc biệt do tác giả sáng tạo ra ; có thể là mộtngười biết câu chuyện nào đó Một tác phẩm có thể có một hoặc nhiều người
kể chuyện Hình tượng người kể chuyện đem lại cho tác phẩm một cái nhìn
và một sự đánh giá bổ sung về mặt tâm lí, nghề nghiệp hay lập trường xã hộicho cái nhìn tác giả, làm cho sự trình bày, tái tạo con người và đời sốngtrong tác phẩm thêm phong phú và nhiều phối cảnh
Trong tác phẩm tự sự, người kể chuyện có nhiệm vụ thay mặt tác giảtrình bày quan niệm, cách đánh giá về nhân vật và các biến cố xảy ra trongtác phẩm, thể hiện cái nhìn và tư duy về thế giới và con người Do đó, vai trò
và ảnh hưởng của người kể chuyện là rất lớn, nó góp phần làm nên tính độcđáo trong cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ
Người trần thuật (tiếng Nga: narrator ; tiếng Pháp: povestvovatel) làmột nhân vật hư cấu hoặc có thật, mà văn bản tự sự là do ngôn ngữ của anh
ta tạo thành Trong khi kể miệng, người trần thuật là một người sống sinhđộng Trong trần thuật viết phi văn học (báo chí, lịch sử), người trần thuậtnói chung đồng nhất với tác giả Nhưng trong tác phẩm trần thuật mang tínhchất văn học thì người trần thuật lại khác, nó bị trừu tượng hóa đi, trở thànhmột nhân vật hoặc ẩn hoặc hiện trong tác phẩm tự sự Người trần thuật nóichung thực hiện năm chức năng : chức năng kể chuyện, trần thuật ; chứcnăng truyền đạt, đóng vai một yếu tố của tổ chức tự sự ; chức năng chỉ dẫn,thuộc phương pháp trần thuật ; chức năng bình luận ; chức năng nhân vậthóa Cách thức thực hiện các chức năng trên ở người trần thuật miệng, trầnthuật phi văn học và trần thuật văn học hoàn toàn khác nhau
Trang 15Trong tác phẩm tự sự, người trần thuật có nhiệm vụ tường thuật, kểchuyện để phân tích, nghiên cứu, khêu gợi bình luận, cắt nghĩa những quan
hệ phức tạp giữa nhân vật với nhân vật, nhân vật với hoàn cảnh, Có thể nóihình tượng người trần thuật giữ một vai trò hết sức quan trọng và luôn luônmuốn hướng dẫn, gợi ý cho người học nên hiểu nhân vật, hoàn cảnh, thếnày hoặc thế khác Hay nói một cách khác, người trần thuật là loại người mốigiới giữa các hiện tượng được miêu tả và người nghe, là người chứng kiến và
cắt nghĩa các sự việc được xảy ra (Dẫn luận nghiên cứu văn học, G.N
Poxpelop chủ biên, người dịch Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Lê Ngọc Trà,Nxb Giáo dục, 1998) Theo Poxpelop, trần thuật tự sự bao giờ cũng đượctiến hành từ một người nào đó, trong sử thi, truyền thuyết, cổ tích, truyệnngắn luôn có một người trần thuật xuất hiện một cách trực tiếp hoặc giántiếp Ông cho rằng, có hai kiểu người trần thuật phổ biến là: “Hình thức thứnhất của miêu tả tự sự là trần thuật từ ngôi thứ ba không nhân vật hóa màđằng sau là tác giả Nhưng người trần thuật cũng hoàn toàn xuất hiện trongtác phẩm dưới hình thức cái “tôi” nào đó”
Chính sự khác nhau đó là động cơ khiến chúng tôi lựa chọn sử dụng
thuật ngữ người kể chuyện chứ không phải là người trần thuật trong khóa
luận này
1.2.2 Các dạng người kể chuyện trong tác phẩm tụ sự
Timofiev, trong giáo trình Nguyên lý lý luận văn học, 1962 đã khẳng
định việc tự sự ngay từ đầu đã được gắn chặt với một người kể chuyện nhấtđịnh, đó là người kể cho ta nghe về những nhân vật và biến cố
Bàn về người kể chuyện, xác lập vai trò và quyền năng của nhân tốnày nghĩa là chúng ta phải đề cập đến nhiều yếu tố liên quan đến sự vậnđộng nội tại trong cấu trúc tác phẩm nghệ thuật Vốn là một thực thể tồn tạitrong thế giới hư cấu, tưởng tượng, người kể chuyện xác lập “chỗ đứng” tùythuộc vào kiểu loại tác phẩm Nhìn chung, các nhà nghiên cứu thường căn cứ
Trang 16trên một số tiêu chí nhất định để phân loại thành các kiểu người kể chuyện.Sau đây là một số cách phân loại của một số nhà nghiên cứu:
Theo G.Genette, người chủ trương nghiên cứu văn bản cấu trúc nội tạitác phẩm tự sự, để lý giải cách thức một câu chuyện được kể phải phân biệtgiữa giọng (voice) và thức (mood) Nghĩa là phải phân biệt được người kểchuyện với đối tượng mà điểm nhìn của anh ta định hướng tới Phối cảnh
truyện kể không nhất thiết phải đồng nhất Xuất phát từ giọng, tức “ai
kể?” G.Genette đưa ra bốn kiểu kể chuyện tương ứng với bốn kiểu người kể
chuyện Cụ thể là,dựa vào việc xác định nơi truyện kể bắt đầu tác giả phân
biệt thành hai loại người kể chuyện: người kể chuyện bên trong (intradiegetic narrator) và người kể chuyện bên ngoài (extradiegetic narrator); Dựa vào
mức độ “can dự” vào truyện của người kể chuyện tác giả xác lập hai
kiểu: người kể chuyện dị sự (heterodiegetic narrator) và người kể chuyện
đồng sự (homodiegetic narrator) Genette đưa ra ba loại trần thuật, xác định
vai trò và quyền năng khác nhau của người kể chuyện Kiểu truyện kể có tiêuđiểm zero (zero focalization: tiêu điểm bằng không hay phi tiêu điểm): người
kể chuyện đứng bên ngoài nhưng có vai trò như thượng đế, biết hết mọichuyện nhân sinh, vũ trụ, quá khứ, hiện tại, tương lai Truyện kể theo tiêuđiểm bên trong (internal focalization: nội tiêu điểm) chỉ người kể chuyện vốn
là nhân vật trong câu chuyện và ở kiểu truyện kể này lại chia ra làm ba dạng
cụ thể: Dạng cố định: người kể chuyện - một nhân vật kể mọi việc; dạng bấtđịnh: nhiều nhân vật kể những chuyện khác nhau; dạng đa thức: nhiều nhânvật cùng nhau kể về một sự việc Và truyện kể theo tiêu điểm bên ngoài(external focalization: ngoại tiêu điểm): người kể chuyện nằm ngoài câuchuyện, nhưng chỉ kể lại tình tiết truyện một cách khách quan chứ không đisâu vào tâm lý nhân vật
Khác với G Genette, R Scholes và R Kellogg (giáo sư nghiên cứuvăn học ở Anh) đặc biệt chú ý đến vai trò và quyền năng của người kể
Trang 17chuyện dựa trên mối quan hệ giữa người kể chuyện với thế giới được kể, mốiquan hệ với các nhân vật, sự kiện và tính chân thực của các sự kiện đó Haiông cho rằng, vấn đề không phải là truyện được kể ở ngôi thứ nhất hay thứ
ba mà là nhận thức về uy quyền và sự chi phối của người kể chuyện trongtruyện kể Trước hết, quyền năng của người kể chuyện phụ thuộc vào sựphân loại truyện kể, đó là sử thi, tiểu thuyết lãng mạn hay tiểu thuyết bợmnghịch; là truyện kể theo lối kinh nghiệm hay hư cấu Trong mỗi tình thếtruyện kể, người kể chuyện sẽ xác lập một chỗ đứng, đồng thời chi phối các
sự kiện trong truyện Mặt khác, đặc tính và phẩm chất của mỗi kiểu người kểchuyện sẽ tạo ra những quyền năng khác nhau trên từng cấp độ của truyện
kể Vì vậy mà ở đây tác giả đã khảo sát quyền năng của người kể chuyện quacác thể loại : truyền thống (tradictional narrator), Sử quan (histor), chứngnhân (eye-witness) và người kể chuyện toàn tri (omniscience)
Theo N Fridman, trong Điểm nhìn trong tiểu thuyết, 1997, có tám
kiểu người kể chuyện trong tác phẩm tự sự, cụ thể là: Thứ nhất là người kểchuyện “toàn năng biên tập” tức là người kể chuyện hiện diện trong vai “nhàxuất bản – nhà biên tập”, biết tất cả và có khả năng xâm nhập vào câuchuyện dưới dạng những bàn luận về cuộc sống, phong tục, đạo đức ; thứ hai
là người kể chuyện “toàn năng trung tính” có nghĩa là có sự can thiệp trựctiếp của người kể chuyện; thứ ba là người kể chuyện “tôi là nhân chứng” cóthể hiểu người kể chuyện kể từ ngôi thứ nhất, là một nhân vật trong truyện,nhưng chỉ nằm bên lề câu chuyện, chỉ biết một phần các nhân vật mà thôi;thứ bốn là người kể chuyện “tôi là vai chính” có nghĩa là người kể chuyện làvai chính, nhân vật chủ chốt, đối lập với trạng thái bên lề của người kểchuyện là nhân chứng; thứ năm là người kể chuyện “toàn năng cục bộ đabội” là người kể chuyện đứng ngoài và tựa vào điểm nhìn của nhiều nhân vật
để kể chuyện; thứ sáu là người kể chuyện “toàn năng cục bộ đơn bội” làngười kể chuyện đứng ngoài và tựa vào điểm nhìn của một nhân vật để kể
Trang 18chuyện; thứ bảy và thứ tám là kiểu người kể chuyện “mô thức kịch” và
“camera” hiểu là người kể chuyện khách quan ghi lại các sự kiện, hiện tượng
mà không tỏ một thái độ chủ quan nào
Tz Todorow, trong Thi pháp học cấu trúc, một lần nữa khẳng định lại
vai trò của người kể chuyện trong tác phẩm tự sự, ông cho rằng người kểchuyện là yếu tố tích cực trong việc kiến tạo thế giới tưởng tượng Không thểtrần thuật thiếu người kể chuyện Theo ông, có ba kiểu người kể chuyện, đólà: người kể chuyện lớn hơn nhân vật, người kể chuyện bằng nhân vật, người
kể chuyện nhỏ hơn nhân vật
Có thể nói rằng, việc phân loại các kiểu người kể chuyện đến nay vẫnchưa có sự thống nhất giữa các nhà nhiên cứu Mỗi nhà nghiên cứu đều dựatrên những tiêu chí nhất định để phân loại, vì vậy các cách chia đều có lí,nhưng tất cả chỉ là tương ứng, vì giữa các loại đó không có sự tách biệt tuyệtđối, mà luôn có mối quan hệ, gắn bó, giao thoa với nhau trong tác phẩm tựsự
1.2.3 Đặc trưng của người kể chuyện trong tác phẩm tự sự
Muốn xác định người kể chuyện trong tác phẩm tự sự, chúng ta cầncăn cứ vào những tiêu chí: điểm nhìn, ngôn ngữ, giọng điệu
Trước hết ta cần làm rõ khái niệm điểm nhìn nghệ thuật là gì ? Trongvăn học, điểm nhìn trần thuật được hiểu là vị trí người trần thuật quan sát,cảm thụ và miêu tả, đánh giá đối tượng Người ta có thể nói đến điểm nhìnqua các bình diện vật lý, bình diện tâm lý (điểm nhìn bên trong hay điểmnhìn bên ngoài, giới tính, lứa tuổi ), qua trường nhìn (của tác giả hay củanhân vật) Trong tác phẩm, việc tổ chức điểm nhìn trần thuật bao giờ cũngmang tính sáng tạo cao độ Người kể chuyện có thể dùng một điểm nhìn,nhưng cũng có thể dũng nhiều điểm nhìn để kể lại câu chuyện.Trên thực tế,
có rất nhiều trường hợp, giá trị của tác phẩm bắt đầu từ việc nhà văn cungcấp cho người đọc một cái nhìn mới về cuộc đời Mặt khác, thông qua điểm
Trang 19nhìn trần thuật, người đọc có dịp đi sâu tìm hiểu cấu trúc tác phẩm và nhận
ra đặc điểm phong cách của nhà văn Không thể hiểu được sâu sắc tác phẩmvăn học nếu ta không tìm hiểu điểm nhìn nghệ thuật bởi lẽ, để miêu tả, trần
thuật, nhà văn buộc phải xác định, lựa chọn điểm nhìn hợp lý Trong Dẫn
luận thi pháp học, GS Trần Đình Sử khẳng định: “cái nhìn là một năng lực đặc biệt của loài người, nó có thể thâm nhập vào sự vật, phát hiện đặc điểm của nó mà vẫn ở ngoài sự vật, bảo lưu toàn vẹn thẩm mỹ của sự vật”.
Ngôn ngữ là công cụ, chất liệu cơ bản của văn học, vì vậy văn học
được gọi là loại hình nghệ thuật của ngôn từ M Go-rơ-ki khẳng định ngôn
ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học Vậy ngôn ngữ người kể chuyện được thể
hiện như thế nào trong tác phẩm tự sự? Đó được coi là phần văn độc thoạithể hiện quan điểm tác giả hay quan điểm người kể chuyện (sản phẩm củatác giả) đối với cuộc sống được miêu tả, có những nguyên tắc thống nhấttrong việc lựa chọn và sử dụng các phương tiện tạo hình và biểu hiện ngônngữ Ngoài mục đích tái hiện lại cuộc sống một cách chân thực, thì ngôn ngữngười kể chuyện còn đòi hỏi phải có tính thẩm mĩ, nghệ thuật Ngôn ngữngười trần thuật chẳng những có vai trò then chốt trong phương thức tự sự
mà còn là yếu tố cơ bản thể hiện phong cách nhà văn, truyền đạt cái nhìn,giọng điệu, cá tính của tác giả Ngôn ngữ người trần thuật có thể có mộtgiọng (chỉ nhằm gọi ra sự vật) hoặc có hai giọng (như lời nhại, lời mỉa mai,lời nửa trực tiếp, ) thể hiện sự đối thoại với ý thức khác về cùng một đốitượng miêu tả Ngôn ngữ trần thuật dưới hình thức lời người kể chuyệnngoài đặc điểm như trên còn mang thêm các sắc thái, quan điểm bổ sung dolập trường, đặc điểm tâm lí, cá tính của nhân vật – người kể chuyện mang
lại Nhấn mạnh vai trò quan trọng của ngôn ngữ, trong Tự sự học, do Trần Đình Sử chủ biên, có viết : một nhà văn đích thực phải ý thức về mình như
một nhà ngôn ngữ vì ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên quyết định cung cách với
Trang 20bạn đọc Đối với văn chương, ngôn ngữ không chỉ là “cái vỏ của tư duy” mà còn là tài năng, cá tính, quan điểm nghệ thuật.
Ngoài điểm nhìn, ngôn ngữ thì người kể chuyện còn được thể hiện quagiọng điệu, đây là một trong những chi tiết quan trọng làm nên sự thành côngcủa người kể chuyện Trong đời sống hàng ngày, giọng điệu được hiểu nhưlời nói, giọng nói của mỗi cá nhân con người, phản ánh thái độ, tâm trạng,
tình cảm, cách đánh giá nhất định Nhưng trong văn học, “giọng điệu là một
phạm trù thẩm mĩ, được tổ chức công phu và là kết quả của một quá trình sáng tạo thực sự, giúp nhà văn khi sáng tác có thể liên kết các hình thức khác nhau, làm cho chúng cùng mang một âm hưởng nào đó, cùng chung một định hướng nhất định” (Lê Ngọc Trà, Lí luận văn học, Nxb Tp mới,
1990) Nó thể hiện thái độ, tình cảm, lập trường, tư tưởng, đạo đức của nhàvăn đối với hiện tượng được miêu tả thể hiện trong lời văn quy định cáchxưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa gần, thân sơ,thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm, Đồng thời giọng điệucòn tạo lên phong cách, cá tính sáng tạo của nhà văn Một nhà văn tài năngbao giờ cũng tìm cho mình một giọng điệu phù hợp, độc đáo, cá tính riêng
biệt Tuốc-ghê-nhép từng khẳng định : cái quan trọng là tài năng văn học
và tôi ngĩ rằng cũng có thể có trong bất kì tài năng nào là cái mà tôi muốn gọi là tiếng nói của mình, cái quan trọng là giọng riêng của chính mình không tìm thấy ở cổ họng của chính một người nào khác (90, Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học, của Khrapchenco, Nxb tpm-Hn,
1978) Giọng điệu trong tác phẩm có giá trị thường đa dạng, có nhiều sắcthái trên cơ sở một giọng điệu cơ bản chủ đạo, chứ không đơn điệu
Trên đây, chúng tôi đã tìm hiểu và giới thiệu một cách khái quát nhất
về người kể chuyện trong tác phẩm tự sự Đó là điều kiện tiền đề giúp việc
tìm hiểu người kể chuyện trong Đàn hương hình của Mạc Ngôn một cách dễ
dàng và hiệu quả hơn
Trang 21Vậy, người kể chuyện trong Đàn hương hình của Mạc Ngôn có đặc
điểm gì giống và khác so với người kể chuyện trong tác phẩm tự sự nóichung; và tác dụng, vai trò của nó ra sao ?
Trang 22Chương 2
CÁC DẠNG THỨC NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG
ĐÀN HƯƠNG HÌNH
Trong Đàn hương hình, tác giả đã kết hợp hai ngôi kể là ngôi kể thứ
nhất xưng “tôi” và ngôi kể thứ ba nhằm đạt được mục đích nghệ thuật, vừamang lại tính khách quan, chân thực đồng thời tạo ra cái nhìn nhiều chiều, đadạng
2.1 Người kể chuyện ở ngôi thứ nhất xưng “tôi”
Người kể chuyện xưng “tôi” ở ngôi thứ nhất là một hình thức kháquen thuộc với chúng ta, xuất hiện và được sử dụng phổ biến trong văn họcphương Tây thế kỉ XVIII Ở Trung Quốc, hình thức này đã được Lỗ Tấn
khơi nguồn trong Cố hương, và đã được các nhà văn thế hệ sau này sử dụng
một cách đầy đặn và linh hoạt
Trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn, ngôi kể thứ nhất cũng thường xuyên
được tác giả sử dụng (Kim Đồng trong Báu vật của đời, người cháu trong
Cao lương đỏ, ) “Tôi” là người kể, thuật lại hoàn toàn những sự kiện, diễn
biến của câu chuyện, thông qua điểm nhìn của chính mình - nhân vật xưng
“tôi”
Trong tiểu thuyết Đàn hương hình, người kể chuyện đứng ở ngôi thứ
nhất không phải là duy nhất, nhưng nó cũng chiếm phần lớn trong bố cục tácphẩm Tác phẩm gồm có ba phần, thì tác giả dã dành hai phần (phần I, III) đểcho các nhân vật xưng “tôi” lần lượt kể chuyện Ở phần một, nhà văn để chobốn nhân vật tự sự là : Mi Nương, Triệu Giáp, Giáp con, Tiền Đinh Ở phần
ba, ngoài bốn nhân vật này ra có thêm lời kể của Tôn Bính Như vậy, tác giảkhông để cho một nhân vật kể lại câu chuyện từ đầu đến cuối Điểm mới
Trang 23trong Đàn hương hình là người kể chuyện ngôi thứ nhất không chỉ là một
nhân vật mà là nhiều nhân vật, các nhân vật tự kể về câu chuyện của mình
Mở đầu truyện, tác giả để cho nhân vật Mi Nương (người gắn kết tất
cả các nhân vật vào một mối quan hệ) kể lại toàn bộ những sự việc xảy ratrong tác phẩm dưới cái nhìn của nhân vật này: Đức cho xây đường sắt từThanh Đảo đến Cao Mật, quân Đức càn quấy nhân dân nơi đây Tôn Bính –cha đẻ của Mi Nương, là chủ của gánh hát Miêu Xoang, đã lỡ tay đánh chếtmột tên Đức, khi chúng trêu chọc, sờ soạng vợ bé của ông Ông phải chạytrốn, sau đó kết giao với Nghĩa hòa quyền, lập thần đàn, dựng cờ tạo phản,phá đường sắt, đốt lán trại, giết lính Tây Quân Đức trả thù bằng cách giếtnhững người dân vô tội, phá tan xóm làng, và quyết bắt kì được Tôn Bính.Tôn Bính bị quan huyện Tiền Đinh bắt giam, bị đánh đập, tra tấn dã man,chờ ngày chịu án đàn hương Sự xuất hiện của ông bố chồng khiến nàng hếtsức ngạc nhiên và tò mò, kinh sợ, và ông ta - Triệu Giáp được giao nhiệm vụthi hành án đàn hương với Tôn Bính Nàng - Mi Nương tìm mọi cách đểchạy tội cứu cha, nàng lấy lòng cha chồng, tìm gặp để xin Tiền Đinh nể tìnhmối quan hệ bấy lâu nay giữa hai người mà tha cho cha nàng
Chương 2 là lời tự sự của nhân vật Triệu Giáp (Triệu Giáp nói
ngông) Triệu Giáp kể lại tiểu sử, quá trình mình trở thành đao phủ như thế
nào cho con trai và con dâu nghe Năm 10 tuổi, nạn đói hoành hành, chó dạitung hoành khắp nơi xâu xé thịt người chết, cha mẹ, người thân chết cả Mộtmình Triệu Giáp lên Bắc kinh, ăn xin sống qua ngày để tìm một người cậu(đang làm quan ở bộ hình) mong nương nhờ cậu Cuộc sống ăn xin rất tủinhục và đau đớn, bị tên chột đuổi đánh, đang không biết đi đâu, về đâu thìTriệu Giáp dưới sự mách bảo của người mẹ quá cố, đã tìm được người cậu.Nhưng, người cậu lúc này đã không còn làm quan nữa mà đã là một tên tộiphạm đang được đưa đi hành quyết Trước lúc chết, người cậu ấy đã nhờ mộtngười bạn thân - tên đao phủ - Già Dư giúp đỡ Triệu Giáp Từ đó Triệu Giáp
Trang 24đi theo Già Dư, bước chân vào nghề đao phủ Được sự chỉ bảo, nâng đỡ củaGià Dư, Triệu Giáp nhanh chóng từ vị trí Cháu ngoại, Dì Út , Dì Hai trởthành đao phủ số một của triều đình Số đầu người ông đã chặt nhiều hơn sốdưa hấu trong vùng, ông cùng Già Dư thi hành những bản án đặc biệt dànhcho những trọng phạm của triều đình, làm hài lòng Vua và Từ Hy Thái Hậu.Được Từ Hy Thái Hậu phong cho chức Trạng nguyên của nghề đao phủ,tặng cho tràng hạt và chiếc long ỷ (ghế chỉ có vua được ngồi) Ông tự hào,hãnh diện, kiêu ngạo với những gì mình đã làm và đạt được Vì vậy mà ôngcho rằng những tên sai nha do Tiền Đinh phái đến không đủ tư cách nóichuyện với ông, ông đòi Tiền Đinh phải đích thân đến mời và đón ông đi.
Đến chương 3 (Giáp con lảm nhảm), là lời kể của Giáp con Giáp con
kể lại việc mình nhờ vợ lấy cho được chiếc râu hổ của Tiền Đình Từ khi có
nó Giáp con đã nhận ra chân tướng của mọi người, biết vợ là bạch xà, cha làbáo đen, quan huyện là hổ Giáp con kể lại cuộc gặp gỡ giữa bố - Tiền Đinh -
Mi Nương, và cuộc đấu giữa Tiền Đinh và Bố Trong mắt nhân vật này thìđây là cuộc gặp gỡ của hai con mãnh thú
Ở chương 4 (Tiền Đinh giận đời), nhân vật kể chuyện là Tiền Đinh.
Tiền Đinh giãi bày tâm sự của mình với vợ, bộc lộ nỗi tủi hổ khi mình đườngđường là mệnh quan triều đình, người ăn học tử tế mà không được trọngvọng, coi trọng bằng một tên đao phủ, phải khúm núm, sợ sệt trước Viên ThếKhải, Caclot Tiền Đinh kể lại cuộc gặp gỡ giữa Triệu Giáp - Viên Thế Khải
- Caclot, Triệu Giáp đã chọn Đàn hương hình để thi hành án cho Tôn Bính
Sang phần hai, người kể chuyện đứng ở ngôi thứ ba để tả các nhânvật, kể những gì liên quan đến nhân vật một cách khách quan và sinh động
Ở phần ba của tiểu thuyết, tác giả lại để cho các nhân vật tự thuật
Chương 14, Triệu Giáp tự bạch, vẫn cái giọng kể ngông ngạo, tự
kiêu, Giáp bố kể lại quá trình chuẩn bị để thi hành án đàn hương, kể lại việc
vì sao mình được Viên Thế Khải, Hoàng thượng, Từ Hy Thái Hậu trọng
Trang 25dụng, ban thưởng, và phong chức Tất cả là nhờ sự thành công từ cuộc thihành án “tùng xẻo” với Tiền Hùng Phi (em họ quan huyện Tiền Đinh) vì tộilàm phản, ám sát Viên Thế Khải
Chương 15, Mi Nương tự bạch, Mi Nương không có cách nào để gặp
được Tiền Đình, không biết làm thế náo để cứu người cha khốn khổ củamình Đúng lúc đó, nàng gặp đám ăn mày, những người này cũng rất ngưỡng
mộ, kính nể Tôn Bính Nàng cùng Tám Chu (thủ lĩnh đám ăn mày) bàn cáchgiải thoát Tôn Bính Kế hoạch là : Út Sơn (một thành viên trong đám ănmày) có ngoại hình rất giống Tôn Bính, sẽ vào tù chịu hình phạt thay TônBính Nhưng, kế hoạch bị thất bại vì Tôn Bính không hợp tác, kết quả là cảTôn Bính và Út Sơn đều bị bắt giam chờ ngày hành hình Một số người ănmày tham gia vụ giải cứu này, người chết, người bị thương, bản thân MiNương cũng gần bị bắt nếu không có sự giúp đỡ của phu nhân Tiền Đinh.Những người dân yêu nước ở đó cũng rất lo lắng và đau lòng trước hình phạt
mà Tôn Bính sắp phải chịu, cụ Cử Đơn một người có tiếng tăm trong vùng,dẫn đầu một đoàn người đến dâng sớ xin tha cho Tôn Bính, nhưng không đạtđược mục đích
Chương 16, Tôn Bính giảng Miêu Xoang, Tôn Bính cảm tạ tấm lòng
của mọi người (đám ăn mày) đối với ông, nhưng ông tự nguyện lựa chọnmột cái chết oai hùng, còn hơn là chạy trốn một cách đê hèn, nhất là khi tínhmạng của mình được đánh đổi bởi cuộc sống của người khác Ông kể lạicuộc tra hỏi, đối thoại trong nhà lao giữa ông - Út Sơn - Viên Thế Khải -Tiền Đinh, để tìm ra Tôn Bính thật, Tôn Bính giả Tôn Bính đã kể lại cho đồ
đệ mới (Út Sơn) nghe lịch sử hình thành của làn điệu Miêu Xoang khi đangtrên thăng thiên chờ hành hình
Chương 17, Giáp con đấu hót, Giáp con kể lại quá trình cùng cha thi
hành án cho Tôn Bính và Út Sơn một cách thích thú