1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ngữ nghĩa của nhóm động từ chỉ hoạt động bộ phận cơ thể người mở đầu phát ngôn trong tục ngữ

77 1,9K 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ngữ nghĩa của nhóm động từ chỉ hoạt động bộ phận cơ thể người mở đầu phát ngôn trong tục ngữ
Tác giả Nguyễn Thị Minh Hải
Người hướng dẫn G.S - TS. Đỗ Thị Kim Liên
Trường học Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lí Luận Ngôn Ngữ
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2006
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 637 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Trong cuốn Kho tàng tục ngữ ngời Việt, ngời Việt đã sử dụng nhóm động từ chỉ hoạt động bộ phận cơ thể ngời, mở đầu phát ngôn chiếm một số lợng lớn nh: ăn 486 lần xuất hiện, có 347 lần

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạoTrờng đại học vinh

Nguyễn thị minh hải

Trang 2

Nhân dịp này, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo ĐỗThị Kim Liên và các thầy cô giáo đã giúp đỡ, động viên chúng tôi hoàn thànhluận văn này.

Luận văn này tuy đã đợc khảo sát, nghiên cứu công phu, nhng chắc chắncòn nhiều khiếm khuyết cần đợc góp ý, sửa chữa Chúng tôi rất mong nhận đ-

ợc những sự góp ý, sữa chữa của các thầy cô giáo và bạn đọc

Xin trân trọng cảm ơn!

Vinh, tháng 11 năm 2006

Tác giả

Trang 3

Mở đầu

1 lý do chọn đề tài

- Tục ngữ là một kho tàng phong phú về tài liệu ngôn ngữ dân tộc, gồm hàngnghìn câu nói ở dạng làm sẵn, có thể dùng để diễn đạt hàng loạt những t tởng khácnhau từ những vấn đề cụ thể đến những vấn đề trừu tợng trong thế giới khách quan

và trong đời sống con ngời Tục ngữ là một trong những biểu hiện tập trung củatrình độ văn hoá và văn minh nhất định của nhân dân lao động một dân tộc

- Tục ngữ cũng là một gia tài phong phú và quí báu gồm những kinh nghiệm

đời sống, kinh nghiệm lịch sử xã hội đã tích lũy lại đợc hàng nghìn năm lao

động và đấu tranh của nhân dân ta

- Sức hấp dẫn của tục ngữ không chỉ nằm ở vẻ đẹp bề ngoài câu chữ nh sựngắn gọn, tính cân đối hài hoà, có vần vè, dễ nhớ dễ thuộc mà đằng sau đócòn ánh lên bao vẻ đẹp khác nữa Đó là những chân lý quý giá đợc đúc kếtbằng bề dày kinh nghiệm của bao thế hệ Tiếp xúc với tục ngữ, hiểu tục ngữ,chúng ta sẽ thấy đợc lối t duy, cách sống, đặc điểm văn hoá cũng nh trình độ

sử dụng ngôn ngữ của từng dân tộc Có một câu châm ngôn đã khẳng định:

Sự hiểu biết về tục ngữ cần thiết cho sự hoàn chỉnh hiểu biết

- Tục ngữ đồng thời cũng là một hiện tợng ngôn ngữ phức tạp Mặc dầuhình ảnh, từ ngữ trong câu tục ngữ hết sức giản dị, dễ hiểu, nhng nội dung, ýnghĩa lại khó giải thích một cách đầy đủ và rạch ròi Do đó, tục ngữ đã trởthành đối tợng nghiên cứu của nhiều ngành: văn học, ngôn ngữ học, văn hoáhọc, dân tộc học…Đặc biệt nghiên cứu tục ngữ từ góc nhìn ngữ nghĩa học sẽĐặc biệt nghiên cứu tục ngữ từ góc nhìn ngữ nghĩa học sẽphần nào đáp ứng đợc nhu cầu cần thiết của ngời sử dụng

- Tục ngữ cung cấp cho ngôn ngữ cửa miệng cũng nh ngôn ngữ văn học

một hình thức biểu hiện súc tích, giàu hình ảnh và do đó có tác dụng truyềncảm và thuyết phục mạnh mẽ, để nói lên những t tởng thâm trầm, những kháiquát rộng rãi Những câu tục ngữ ngắn gọn, có sẵn ấy sẽ thay thế một cách cókết quả những lời thuyết lý dài dòng và dễ quên

- Trong cuốn Kho tàng tục ngữ ngời Việt, ngời Việt đã sử dụng nhóm động

từ chỉ hoạt động bộ phận cơ thể ngời, mở đầu phát ngôn chiếm một số lợng

lớn nh: ăn (486 lần xuất hiện), có (347 lần xuất hiện), làm (252 lần xuất hiện), nói (155 lần xuất hiện), đi (108 lần xuất hiện), lấy (80 lần xuất hiện), đợc (105 lần xuất hiện), mất (105 lần xuất hiện)…Đặc biệt nghiên cứu tục ngữ từ góc nhìn ngữ nghĩa học sẽ Đây là một số động từ cónhững đặc trng riêng về khả năng hoạt động, về ngữ nghĩa, phản ánh cách suynghĩ, nét đặc trng văn hoá của ngời Việt Tuy nhiên ở phạm vi đề tài này trong

Trang 4

một giới hạn nhất định, chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát, đi sâu tìm hiểunhững biểu hiện về mặt ngữ nghĩa của 4 động từ chỉ hoạt động của cơ thể ngời

mở đầu phát ngôn trong tục ngữ là: làm, nói, đi, lấy.

Đó là những lý do mà chúng tôi chọn đề tài này

2 lịch sử nghiên cứu tục ngữ việt nam

2.1 Vấn đề nghiên cứu tục ngữ trong folklore học

Từ trớc đến nay các nhà nghiên cứu văn học đã đề cập nhiều đến việcxác định đúng khái niệm gtục ngữ” bằng việc phân biệt giữa tục ngữ với thànhngữ, giữa tục ngữ với ca dao

Tác giả Dơng Quảng Hàm là ngời đầu tiên phân biệt tục ngữ với thành

ngữ (1945): "Một câu tục ngữ tự nó phải có ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn,hoặc chỉ bảo một điều gì; còn thành ngữ chỉ là lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn đạt một ý gì cho nó màu mè ” [11,15]

Tiếp sau đó nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan (1978) cũng tán thành ý

kiến trên và đa ra một phân biệt rõ ràng hơn khi ông nhấn mạnh thêm: Tụcg

ngữ là một câu tự nó diễn đạt trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, một công lý, có khi là sự phê phán , "Thành ngữ là một phần câu

sẵn có, nó là một bộ phậncủa câu mà nhiều ngời đã quen dùng, nhng tự nó không diễn đạt một ý trọn vẹn" [24,15].

Mặc dù vậy hai công trình nghiên cứu trên vẫn cha đề cập đến những

đơn vị trung gian giữa thành ngữ, tục ngữ và ca dao

Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên trong giáo trình " Lịch sử văn học Việt Nam - Văn học dân gian"(1973) đã xếp tục ngữ vào loại " lời ăn tiếng nói của nhân dân" Hai ông không vạch ra ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ, nhng lại đặt ra tiêu chí mới để phân biệt tục ngữ với ca dao: "Tục ngữ thiên về lý trí (nội dung triết

lý dân gian), ca dao thiên về tình cảm (nội dung trữ tình dân gian) [14,39].

Nh vậy các tác giả trên hầu nh khi đa ra định nghĩa về tục ngữ hay phân biệttục ngữ với thành ngữ, tục ngữ với ca dao đều lấy tiêu chí nội dung làm cơ sở màxem tiêu chí hình thức là yếu tố phụ Bởi thế, cha có một lời giải thích thoả đáng đốivới trờng hợp trung gian giữa các đơn vị thành ngữ, tục ngữ, ca dao

2.2 Vấn đề tục ngữ trong ngôn ngữ học

Khác với trong folkore học, các nhà ngôn ngữ học ngợc lại, lại rất quantâm đến tục ngữ trên cả hai phơng diện hình thức và nội dung

- Tác giả Nguyễn Văn Tu trong cuốn Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại (1968) đã khẳng định: "Trong tiếng Việt những tục ngữ, phơng ngôn và ngạn ngữ

Trang 5

có liên quan đến thành ngữ và quán ngữ Chúng không phải là đối tợng của từ vựnghọc mà là đối tợng của văn học dân gian Nhng vì chúng là đơn vị có sẵn trongngôn ngữ học đợc dùng đi, dùng lại để trao đổi t tởng cho nên chúng dính dáng đếnvấn đề cụm từ cố định Thực ra chúng là những câu hoàn chỉnh chỉ một nội dung

đầy đủ, không cần những thành phần cú pháp nào cả" [27,87]

- Trong cuốn Tục ngữ Việt Nam, cấu trúc và thi pháp (1987) tác giả

Nguyễn Thái Hoà đã khái quát gần nh đầy đủ các khuôn hình cấu trúc cơ bảncủa tục ngữ, chỉ ra hớng vận động ngữ pháp của từng khuôn hình Trên cơ sở

đó, tác giả đã mô tả một số đặc điểm trong thi pháp tục ngữ với t cách là "mộttổng thể thi ca nhỏ nhất", "một danh mục các lẽ thờng"…Đặc biệt nghiên cứu tục ngữ từ góc nhìn ngữ nghĩa học sẽ ng vấn đề ngữnhnghĩa của tục ngữ lại không đợc tác giả da ra bàn bạc ở đây, nếu có cũng chỉ

là điểm tựa cho việc biện giải các vấn đề cấu trúc và thi pháp

- Tác giả Cù Đình Tú (1973) trong bài Góp ý kiến về sự phân biệt thành ngữ với tục ngữ đã cho rằng: "Sự khác nhau cơ bản giữa thành ngữ và tục ngữ

là về chức năng Thành ngữ là đơn vị có sẵn mang chúc năng định danh, nóikhác đi dùng để gọi tên sự vật, tính chất hành động Tục ngữ đứng về mặtngôn ngữ học có chức năng khác với thành ngữ Tục ngữ cũng nh các sáng tạokhác của dân gian nh ca dao, truyện cổ tích đều là các thông báo…Đặc biệt nghiên cứu tục ngữ từ góc nhìn ngữ nghĩa học sẽNó thôngbáo một nhận định, một kết luận về một phơng diện nào đó của thế giới kháchquan Do vậy, mỗi tục ngữ đọc là một câu hoàn chỉnh, diễn đạt một ý tởngtrọn vẹn" [28,41]

- Nguyễn Đức Dân trong bài viết Ngữ nghĩa thành ngữ và tục ngữ, sự vận dụng đã chỉ ra quá trình hình thành nghĩa biểu trng của tục ngữ trong thế

đối sánh với sự hình thành nghĩa biểu trng của thành ngữ Qua đó ông chứngminh những kiểu vận dụng sáng tạo, linh hoạt của tục ngữ, thành ngữ trớc hết

và quan trọng nhất là do ngời sử dụng, cảm nhận đợc các qui luật tạo nghĩacủa chúng Đồng thời tác giả cũng đã phân tích khá sâu sắc nghĩa của thành

ngữ và tục ngữ trong "lôgíc và tiếng Việt"; từ vỏ bề ngoài có vẻ phi lôgích của

thành ngữ, tục ngữ, ông đã chỉ ra lôgích về sự vận động tạo nghĩa bên trongcủa những đơn vị này

- Là chuyên gia đầu ngành về thành ngữ, tác giả Hoàng Văn Hành đã cónhững bài nghiên cứu về tục ngữ trong đó chứa đựng nhiều gợi ý rất hay chocác nhà khoa học quan tâm đến tục ngữ Ông quan niệm tục ngữ là câu- thông

điệp nghệ thuật Điều đó có nghĩa là: "Tục ngữ là câu, nhng là câu đặc biệt khác với mọi câu nói thông thờng ở t cách là làm thông điệp nghệ thuật Tục

Trang 6

ngữ là thông điệp nghệ thuật, nhng là loại thông điệp khác với mọi thông điệp khác ở chỗ hình thức nó chỉ một câu" [12,59].

- Tác giả Đỗ Thị Kim Liên với bài viết "Tìm hiểu các phát ngôn tục ngữ có động từ Ăn mở đầu", Kỷ yếu hội nghị khoa học, tập 2, Đại học Vinh,

tháng 11/2004 (tr.123-130), đã đi sâu nghiên cứu những đặc trng riêng về khảnăng hoạt động, về ngữ nghĩa, phản ánh cách suy nghĩ, nét đặc trng văn hoá

của ngời Việt trong các phát ngôn tục ngữ tục ngữ có động từ ăn mở đầu.

- Tác giả Đỗ Thị Kim Liên trong cuốn gTục ngữ Việt Nam dới góc nhìn ngữ nghĩa- ngữ dụng’’ (2006); đã tiếp cận tục ngữ từ góc nhìn mới đã cho

chúng ta tiếp nhận cách phân tích nội dung mới có tính thời sự, có tính khoahọc

- Tác giả Hoàng Minh Đạo với bài viết Tiếp cận tục ngữ từ góc độ văn hoá học, Tạp chí Văn hoá dân gian, 2005, số 1 (tr.31-36), đã đi vào lí giải vì

sao cần tiếp cận tục ngữ từ góc độ Văn hoá học (Tiếp cận tục ngữ trong cáinhìn hệ thống; Tiếp cận liên ngành để hiểu nghĩa của tục ngữ: đúc kết tri thức

tự nhiên và đúc kết tri thức xã hội) Bài viết tuy không dài, mới chỉ giới thiệu

có tính chất gợi ý (qua phân tích hai câu tục ngữ) nhng điều đáng trân trọng ở

đây là sự gợi ra một hớng tiếp cận mới để ngời đi sau mạnh dạn bớc tiếp

- Tác giả Nguyễn Thị Hơng (1999) với bài viết Đặc trng ngữ nghĩa của nhóm tục ngữ tục ngữ chứa các từ chỉ quan hệ thân tộc, Ngôn ngữ, số 6 (tr.27-

33), đã đề cập đến nhóm danh từ chỉ quan hệ thân tộc với sự phân tích khátinh tế, độc đáo về sự hoạt động cũng nh đặc trng ngữ nghĩa của nhóm từ này

- Vấn đề tục ngữ đã đợc xem xét dới nhiều góc độ khác nhau: cấu trúc,ngữ nghĩa, chức năng…Đặc biệt nghiên cứu tục ngữ từ góc nhìn ngữ nghĩa học sẽThế nhng còn rất ít công trình, bài viết đi sâu vào mộtnhóm tục ngữ cụ thể

Qua các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trớc, chúng tôi nhậnthấy việc nghiên cứu tục ngữ ở góc độ ngôn ngữ không phải là một vấn đềmới, tuy nhiên còn rất ít công trình, bài viết đi sâu vào một nhóm tục ngữ cụthể Bởi vậy những gợi ý của các tác giả đi trớc sẽ là định hớng cho chúng tôi

đi vào tìm hiểu ngữ nghĩa của một số động từ chỉ hoạt động của cơ thể ngờitrong tục ngữ

3 đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Đối tợng nghiên cứu

ở đề tài này chúng tôi tiến hành khảo sát 4 động từ đứng đầu phát ngôn

tục ngữ chỉ hoạt động của cơ thể ngời nh: làm, nói, đi, lấy, đợc rút ra từ tài

Trang 7

liệu Kho tàng tục ngữ ngời Việt (tập1,2) của tác giả: Nguyễn Xuân Kính (chủ

biên) [16a]

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Khảo sát định lợng của nhóm động từ chỉ hoạt động của bộ phận cơthể ngời trong tục ngữ

- Tìm hiểu ngữ nghĩa và đích tác động của nhóm động từ chỉ hoạt độngcủa cơ thể ngời trong tục ngữ

- Chỉ ra những sắc thái văn hoá của ngời Việt qua nhóm động từ chỉ

hoật động của bộ phận cơ thể ngời làm, nói, đi, lấy mở đầu phát ngôn trong

Có thể xem đây là một đề tài độc lập dựa trên lý thuyết ngữ dụng học

để đi sâu tìm hiểu những đặc trng riêng về khả năng hoạt động, về ngữ nghĩa,phản ánh cách suy nghĩ, nét đặc trng văn hoá của ngời Việt của một nhóm

động từ chỉ hoạt động cơ thể ngời khá tiêu biểu trong tục ngữ Việt Nam

Trang 8

mang một ý nghĩa tơng đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của ngời nói,hoặc có thể kèm theo thái độ, sự đánh giá của ngời nói giúp hình thành vàbiểu hiện, truyền đạt t tởng, tình cảm Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏnhất bằng ngôn ngữ" [2,107].

Tác giả Đỗ Thị Kim Liên đã đa ra một định nghĩa về câu nh sau: "Câu

là đơn vị dùng từ đặt ra trong quá trình suy nghĩ đợc gắn với ngữ cảnh nhất

định nhằm thể hiện mục đích thông báo hay thể hiện thái độ đánh giá Câu có cấu tạo ngữ pháp độc lập, có ngữ điệu kết thúc" [20,101]

Từ các định nghĩa trên, chúng tôi nhận thấy để tạo câu có các đặc điểmsau:

- Câu là đơn vị dùng từ đặt ra theo một quy tắc nào đó để thực hiệnchức năng thông báo

- Câu thờng có cấu tạo C-V (có thể có cấu tạo đặc biệt)

Tác giả Đỗ Thị Kim Liên trong cuốn"Ngữ nghĩa lời hội thoại" thì cho rằng: "Phát ngôn là đơn vị của lời nói Nó đợc tách ra từ trong chuỗi lời nói dùng để giao tiếp hàng ngày hoặc đợc tách từ dạng văn bản dùng để chỉ lời nói trực tiếp của các nhân vật hội thoại" [21,82].

Từ hai định nghĩa trên ta thấy: mỗi phát ngôn đợc cấu tạo từ 3 yếu tố cơbản đó là ngữ điệu, tổ hợp từ có nghĩa thông báo và phục vụ cho một chủ đềchung (hay tự thân nó đã mang tính chủ đề) Ngữ điệu là yếu tố cơ bản củaphát ngôn vừa thể hiện chức năng liên kết vừa thể hiện nội dung thông báophản ánh mối liên hệ giữa ngời nói và hiện thực Còn cơ cấu nghĩa của mộtphát ngôn "gắn liền với mục đích thông báo ", "ý định giao tiếp, lu ý tới ngờinghe trong từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể Cho nên mỗi phát ngôn có mộtchủ đề

Trang 9

Một phát ngôn là hiện thực hoá đơn vị một câu ở dạng mô hình Phátngôn là cái chúng ta quan sát đợc khi ngời nào đó nói hoặc viết Ngợc lại câu

là một đơn vị trừu tợng Phát ngôn khi xuất hiện là xuất hiện trong một ngữcảnh nào đấy và câu trở thành phát ngôn khi nó đợc nói ra, viết ra trong mộtngữ cảnh nhất định Nh vậy nghĩa của phát ngôn đợc hình thành trong ngữcảnh, gắn bó với ngữ cảnh

Khi gọi tục ngữ là những phát ngôn, chúng tôi muốn nhấn mạnh tínhchất giao tiếp trong lời nói, tồn tại trong đời sống hàng ngày Mặt khác chúngtôi quan niệm tục ngữ là những phát ngôn đặc biệt Từ đó để nhìn nhận vấn đềngữ nghĩa đúng với bản chất của nó

b, Tục ngữ là một loại phát ngôn đặc biệt.

Tục ngữ là những kinh nghiệm đợc đúc kết và truyền đạt qua lời nói dớihình thức những cấu trúc ngữ nghĩa cố định, đặc biệt Mỗi tục ngữ là mộtthông báo hoàn chỉnh nhng có thể đợc vận dụng nh một phần của của lời nóinên nó đợc xem là một phát ngôn đặc biệt

Tục ngữ thờng dùng những hiện tợng cụ thể để nói lên những ý niệm kháiquát trừu tợng, dùng cái cá biệt để nói lên cái phổ biến

Chẳng hạn tục ngữ: Nói ngay hay trái tai

Nói ngọt lọt đến xơng.

Nêu lên một nhận xét cụ thể trong sinh hoạt lời ăn tiếng nói, đồng thời

mở rộng thành một nhận xét khái quát về sự giao thiệp trong cuộc sống Trongcuộc sống bao giờ cũng vậy sự thật, lời nói ngay thẳng thờng hay làm mấtlòng ngời nghe; ngợc lại lời nói ngọt ngào, nhẹ nhàng lúc nào cũng dễ đợc ng-

ời nghe chấp nhận hơn

Tùy vào trong từng hoàn cảnh cụ thể mà tục ngữ đó có thể là một lời

đánh giá với thái độ chê bai hay có thể là một lời khuyên

Mặt khác, trong cùng một hoàn cảnh, ngời nói có thể vận dụng đợcnhiều phát ngôn tục ngữ có nghĩa tơng đơng nhau

Ví dụ: - Nói dai nh chó nhai dẻ rách

Trang 10

Đợc dùng với nghĩa: thói đời không a nói thật, nói thẳng, chỉ ra cái xấu,cái dở cho ngời ta biết mà tránh, khuyên ngời ta làm điều phải lại hay bị họoán giận bực tức'' [7,601].

1.1.2 Tục ngữ là một văn bản

Đa số các nhà nghiên cứu xem tục ngữ là câu (Bùi Văn Nguyên và cáctác giả, 1963), câu cố định (Hồ Lê,1976), "Lời ăn tiếng nói của nhân dân"(Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, 1973)…Đặc biệt nghiên cứu tục ngữ từ góc nhìn ngữ nghĩa học sẽ Nhng một số nhà nghiên cứu vănhọc lại xem tục ngữ là một thể loại văn học, là một thể loại văn bản đã mởrộng góc nhìn về tục ngữ lên một góc độ mới

Vậy văn bản là gì? vì sao lại xem tục ngữ là văn bản?

a, Văn bản là gì?

Theo M.A.K.Halliday và Ruquaiya Hasan thì: gTừ văn bản đợc dùng trong ngôn ngữ học để chỉ một đoạn nào đó đợc nói ra hay viết ra, có độ dài bất kỳ, tạo lập đợc một tổng thể hợp nhất " [1,30].

Theo hai ông thì cái "tổng thể hợp nhất'' này làm nên ''chất văn bản'' và ''chất văn bản''lại là ''sự liên kết đặc thù bên trong văn bản'' Cũng theo M.A.K.Halliday và Ruquaiya Hasan ''một văn bản có thể đợc nói ra hay là đợc viết

ra, là văn xuôi hay là thơ, là một đối thoại hay đơn thoại Nó có thể là một cái gì đó

từ một câu tục ngữ đơn lẻ cho đến cả một vở kịch trọn vẹn, từ một tiếng kêu cứu nhất thời cho đến một cuộc thảo luận suốt ngày ở uỷ ban'' [1,31].

O.Ducrot-T.Todorov trong Từ điển bách khoa các khoa học ngôn ngữ' cho rằng: ''Văn bản có thể trùng hợp với một câu cũng nh với cả một cuốn sách,

nó đợc xác lập bởi tính tự lập sự đóng kín của nó, nó thiết lập một hệ thống''

[32,47]

Nh vậy một đơn vị đợc gọi là văn bản không phụ thuộc vào độ dài ngắn về mặt

số lợng mà là yếu tố quyết định '' chất văn bản'' của nó Nghĩa là nó phải tạo ra đợcmột hệ thống và hệ thống này có tính độc lập trong tơng quan với những hệ thốngkhác D.Nunan dựa vào mặt ý nghĩa để xác định văn bản và ông cho rằng: một đơn

vị có t cách là văn bản khi và chỉ khi ''phải tạo nên một tổng thể có nghĩa, tức là phải truyền đạt một thông điệp hoàn chỉnh'' [9,22].

Tác giả Đinh Trọng Lạc trong cuốn Phong cách học văn bản (1994) lại cho rằng: ''Văn bản với t cách là sản phẩm của hoạt động lời nói, không phải

là chuỗi một câu hoặc đoạn văn đợc tạo lập ra một cách tùy tiện, mà là một thể thống nhất toàn vẹn đợc xây dựng theo những quy tắc nhất định'' [17,7].

Trang 11

Mỗi ngời ở một góc độ khác nhau khi nói về văn bản, nhng các tác giả

đã nêu ra đợc những đặc điểm làm tiêu chí nhận diện văn bản nh sau:

- Tính thống nhất và liên kết trong chủ đề thông báo

- Tính liên kết và các phơng tiện liên kết

- Tính giao tiếp, hớng tới mục đích giao tiếp nhất định

Nh vậy , văn bản là một tổ chức lớn nhất của các đơn vị lời nói có tínhliên kết chặt chẽ về phơng diện nội dung và hình thức, thống nhất trong mộtchủ đề thông báo

b, Tục ngữ với t cách là một văn bản

Tục ngữ là một trong những thể loại của văn học dân gian có nội dungphong phú phản ánh các hiện tợng thiên nhiên và các hiện tợng xã hội Sựnhận thức của nhân dân bằng tục ngữ là sự nhận thức dựa trên cơ sở t duy hìnhtợng, t duy nghệ thuật Tuy mỗi một phát ngôn tục ngữ không phải là một tácphẩm hiểu theo nghĩa là một cấu trúc nghệ thuật bao gồm nhiều yếu tố đợcsắp xếp theo một bố cục và diễn biến nhất định nhằm thể hiện một chủ đề t t-ởng nhất định Song mỗi một phát ngôn tục ngữ đều có nội dung hoàn chỉnh

đợc thể hiện bằng một thứ ngôn ngữ nghệ thuật riêng

Xét phát ngôn tục:''Kiến tha lâu cũng có ngày đầy tổ''

Phát ngôn này nêu lên một nhận xét cụ thể về hiện tợng kiến tha mồi,

đồng thời mở rộng thành một nhận xét khái quát về kết quả của mọi hành

động kiên nhẫn của con ngời Tục ngữ cung cấp cho ngôn ngữ cửa miệng cũng

nh ngôn ngữ văn học một hình thức biểu hiện súc tích, giàu hình ảnh và do đó

có tác dụng truyền cảm và thuyết phục mạnh mẽ, để nói lên những t tởng thâmtrầm, những khái quát rộng rãi Những phát ngôn tục ngữ ngắn gọn, có sẵn ấy

sễ thay thế một cách có kết quả những lời thuyết lí dài dòng và dễ quên

Nh vậy mỗi một phát ngôn tục ngữ thể hiện một nội dung thông báotrọn vẹn, truyền đạt một thông điệp mạch lạc hợp thành từ một tổng thể cónghĩa nên có thể nói tục ngữ là một văn bản hoàn chỉnh Tuy nhiên một vấn đề

đặt ra là: với t cách là văn bản, tục ngữ đã thiết lập hệ thống của mình nh thếnào? hay nói cách khác, những yếu tố nào tham gia cấu thành hệ thống trongtục ngữ? Tổng hợp lại các ý kiến của những ngời đi trớc , chúng tôi thấy rằng:Tục ngữ đợc tạo thành bởi hệ thống những yếu tố thuộc về ngôn ngữ (bao gồmcác yếu tố ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) và những yếu tố thuộc về văn học (baogồm các yếu tố chủ đề, hình ảnh, kết cấu) Tất cả những yếu tố trong hai tiểu

hệ thống này hợp thành những yếu tố có t cách tín hiệu thẩm mỹ (vần, nhịp,

Trang 12

hài thanh, sự đối ứng nhau theo trờng từ vựng, những phép chuyễn nghĩa, cấutrúc sóng đôi…Đặc biệt nghiên cứu tục ngữ từ góc nhìn ngữ nghĩa học sẽ) Những tín hiệu thẫm mỹ này khi đợc vận dụng vào từnghoàn cảnh giao tiếp cụ thể thì có khả năng tạo ra những giá trị khác nhau, tạo

ra những hàm ý khác nhau Do vậy cũng có thể nói: tục ngữ là loại phát ngôn

đợc hiện thực hoá qua ngữ cảnh, hay nói cách khác, ngữ cảnh có vai trò rất lớn

đối với sự hoạt động của tục ngữ

1.2 Phân biệt tục ngữ với thành ngữ và ca dao

Nh chúng ta thờng thấy cả thành ngữ và ca dao đều có một bộ phận rất

dễ lẫn lộn với tục ngữ Bởi có những câu tục ngữ có cấu tạo là cụm từ, lại cónhững thành ngữ có cấu tạo là câu; hay có những câu tục ngữ núp mình dớihình thức lục bát vốn là một hình thức quen thuộc của ca dao Hơn nữa, chúng

ta còn bắt gặp trong nhiều sách chuyên viết về tục ngữ thì có sách lại coi đó làthành ngữ hay ca dao và ngợc lại Điều này gây không ít lúng túng cho nhữngngời muốn có một sự phân định nghiêm ngặt về ranh giới giữa các đơn vị trên.Một số tác giả đã sắp xếp các đơn vị trên theo thứ tự ampabel mà không có sự

phân biệt hay giải thích rõ ràng, nh cuốn Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam

[18] Bên cạnh đó một số tác giả khác lại gộp chung các đơn vị theo chủ đề,

nh cuốn Tục ngữ , ca dao, dân ca Việt Nam [24]

Trong khuôn khổ của đề tài này chúng tôi không có ớc vọng phân định

đợc một cách rạch ròi, đầy đủ về ranh giới giữa tục ngữ, thành ngữ và ca dao

mà chỉ có thề đa ra một số tiêu chí cơ bản làm cơ sở để có thể phân định đợccác đơn vị này

1.2.1 Phân biệt tục ngữ với thành ngữ

Giữa tục ngữ và thành ngữ, xét cả về hình thức cấu trúc và khả năng biểuhiện của chúng trong hoạt động giao tiếp thì giữa chúng có khá nhiều điểm giốngnhau: chúng đều là những đơn vị có sẵn, có tính cố định, bền vững về thành phần

từ vựng và cấu trúc, giàu sắc thái biểu cảm khi đi vào hoạt động giao tiếp Chính vìvậy việc xác định ranh giới giữa hai đơn vị này không mấy dễ dàng

ở phạm vi luận văn này chúng tôi dựa vào tiêu chí hình thái cấu trúc

và chức năng - ngữ nghĩa, trong đó tiêu chí chức năng- ngữ nghĩa là tiêu chícơ bản để phân biệt tục ngữ với thành ngữ

a, Xét về mặt hình thái cấu trúc: thì sự khác biệt giữa thành ngữ và tục

ngữ là sự khác biệt về cấp độ Thành ngữ có cấu tạo là một cụm từ cố định, làmột phần câu có sẵn, một bộ phận của câu, là những ngữ mang chức năng

định danh Cho nên thành ngữ thờng có cấu tạo là cụm từ Có thể là: Ngữ động

Trang 13

từ (cầm đèn chạy trớc ô tô; vạch áo cho ngời xem lng; gửi trứng cho ác …), ), Ngữ danh từ (con dao hai lỡi; hai bàn tay trắng; nớc mắt cá sấu; s tử Hà

Đông…),), Ngữ tính từ (trắng nh bông; đẹp nh tiên; xơ nh nhộng; xanh nh tàu lá …), ).

Còn hầu hết tục ngữ có cấu tạo của câu Có thể là câu song phần có cấu

trúc 1 Đề – Thuyết: Con cá // đánh ngã bát cơm; Con // nhờ đức mẹ; Sức khoẻ // là mẹ thành công; Nhút // Thanh Chơng, tơng // Nam Đàn; Da // La,

thành tố trong cấu tạo của tục ngữ), nh : Già đời còn mang tơi chữa cháy; Ăn

sơng nằm gió, sức đọ nghìn cân, võ nghệ chỉ cần ngoắc một ngón tay; Đẹp nh

tiên, lo phiền cũng xấu; Có vay có trả mới thoả lòng nhau; Cơm hàng cháo chợ ai lỡ thì ăn; Chồng yêu, xỏ chân lỗ mũi; cày sâu cuốc bẫm, thóc đầy lẫm,

Chẳng hạn, thành ngữ: ''mèo mù vớ cá rán'' tuy có cấu trúc là một câu

nhng không phải biểu thị một phán đoán hay nói cách khác là không có cáigọi là xác định giá trị chân lý ở đây Thành ngữ này tơng đơng với khái

niệm:sự may mắn Thành ngữ : ''trống đánh xuôi, kèn thổi ngợc , ''Trâu lội

ngợc bò lội xuôi'' mặc dù có hình thức cấu tạo tơng tự nh cấu tạo câu nhng xét

về ý nghĩa nó lại chỉ mang ý nghĩa định danh về một trạng thái của sự vật, đó

là sự không phù hợp

Trang 14

Còn nghĩa của tục ngữ thờng thuộc một trong ba nhóm nghĩa: Nghĩa ờng minh (còn gọi là nghĩa đen), nghĩa gián tiếp và đa nghĩa Những nghĩanày thờng đợc gắn với ngữ cảnh cụ thể, phản ánh một kiểu quan hệ.

Chẳng hạn phát ngôn tục ngữ: ''Đời cha đắp nấm đời con ấm mồ'' có

nghĩa trực tiếp về công việc cụ thể, nhng nghĩa gián tiếp là làm việc gì đó tốt

thì sẽ để lại hậu quả tốt cho thế hệ trong tơng lai Hay câu tục ngữ :''Gieo gió gặp bão'' thì lại trái lại, có nghĩa trực tiếp nói về hiện tợng tự nhiên gió và bão

nhng nghĩa gián tiếp là ngời nào trong hiện tại làm điều xấu thì sẽ gây hậu quảxấu trong tơng lai Cả hai câu này đều hớng đến nhận thức khái quát, gián tiếp

là hiện tợng, là biểu hiện, việc làm, cách ứng xử trong hiện tại và hiệu quả củachúng trong tơng lai theo hai chiều trái ngợc nhau Nhng trong trờng hợp nhphát ngôn tục ngữ : ''Lời nói gói bạc" thì lại có những cách hiểu nghĩa khác

nhau nh: Lời nói có giá trị ngang tiền bạc; Lời nói có giá trị hơn tiền bạc; Lời nói đi trớc rồi mới đến tiền bạc;…),

Do vậy, tục ngữ là câu- đơn vị thông báo còn thành ngữ là đơn vị từvựng - đơn vị định danh Tục ngữ thông báo một nhận định, một kết luận vềmột phơng diện nào đó của thế giới khách quan Nội dung của tục ngữ thờngnghiêng về cái có tính bản chất, khái quát còn nội dung của thành ngữ thờngnghiêng về những hiện tợng có tính riêng lẻ

Xét thành ngữ "đầu tắt mặt tối''- nghĩa của thành ngữ này đợc hình thành nhờ kiến trúc sóng đôi: đầu tắt / mặt tối ''Đầu'', ''mặt'' chỉ bộ phận cơ

thể ngời, là hai bộ phận chịu nhiều tác động của môi trờng, thời tiết; ''tắt'',''tối'' biểu thị quãng thời gian tận cùng của ngày Do đó thành ngữ này mangnghĩa là chỉ sự vất vả

Xét các phát ngôn tục ngữ: Gần lửa rát mặt; Ôm rơm nhặm bong; Ăn ráy ngứa miệng; cả ba tục ngữ này biểu thị tình huống: làm một việc gì thì

phải chịu hậu quả do việc đó gây ra Tuy hình ảnh biểu hiện khác nhau, hoàncảnh xảy ra sự việc khác nhau, nhng cả ba câu đều có cùng một ý nghĩa kháiquát: biểu thị quan hệ nhân quả giữa sự việc và hậu quả khi tiến hành sự việc.Nghiã của các tục ngữ này đợc hình thành dựa vào quan hệ đó

Từ sự phân tích trên, có thể rút ra kết luận: nghĩa của thành ngữ đợc hìnhthành qua nghĩa của cụm từ, hay nói cách khác là các từ trong cụm tơng hợp

về mặt nghĩa tạo thành một khối có tính hoàn chỉnh về nghĩa chứ không phảinghĩa của từng thành tố riêng lẻ Còn nghĩa của tục ngữ đợc hình thành quaviệc gắn nghĩa của một câu trong ngữ cảnh Đây chính là nét khác biệt quan

Trang 15

trọng trong con đờng tạo nghĩa của thành ngữ và tục ngữ Có một số câu tụcngữ có cấu tạo giống nh một ngữ chẳng qua là biểu thị quan hệ ngầm ẩn vàquan hệ này đợc soi sáng khi tục ngữ đợc hành chức Còn có những thành ngữ

có cấu tạo giống nh câu nhng các từ ngữ trong đó không biểu thị một quan hệnào cả mà chỉ nhằm định danh một sự vật, quá trình, trạng thái, tính chất…Đặc biệt nghiên cứu tục ngữ từ góc nhìn ngữ nghĩa học sẽCho nên trong hành chức, ngời ta phải thêm vào những thành phần khác thìmới có đợc một thông báo, một phán đoán, một câu trọn vẹn Chẳng hạn thành

ngữ ''ngời yêu kẻ ghét'' với nghĩa chỉ sự thờng tình trong cuộc sống, để trở thành tục ngữ ''Lắm ngời yêu hơn nhiều kẻ ghét'' với nghĩa khuyên răn con ng-

ời nên ăn ở đức độ thì phải đặt tục ngữ trên trong quan hệ so sánh bằng cách

thêm từ so sánh ''hơn'' và phạm trù số lợng dùng trong quan hệ so sánh để tách

thành hai vế có quan hệ khác hẳn với tính chất của nó khi còn là hai vế củathành ngữ

Hay trong trờng hợp khác, tục ngữ "Có vay có trả mới thoả lòng nhau''

thì thành ngữ ''có vay có trả'' chiếm hẳn một vế của tục ngữ này Nếu đểnguyên ''có vay có trả'' thì nó chỉ là thành ngữ mà không thể là tục ngữ; nhng

khi thêm ''mới thoả lòng nhau'' thì nó là tục ngữ Thành ngữ ''có vay có trả''

biểu thị một tình trạng cụ thể, nghĩa của nó là sự sòng phẳng còn nghĩa của

tục ngữ ''có vay có trả mới thoả lòng nhau'' là một kinh nghiệm sống có tính

chân lý, khái quát: có sòng phẳng thì mới tốt đẹp Câu tục ngữ này biểu thị

quan hệ điều kiện còn thành ngữ ''có đi có lại'' chỉ còn là phơng tiện để tục

ngữ hoàn thành việc tạo lập quan hệ của mình

Qua sự phân tích trên chúng tôi đi đến khái quát các tiêu chí để phânbiệt tục ngữ với thành ngữ nh sau:

- Về hình thức: thành ngữ đợc biểu hiện bằng cụm từ cố định (tơng đơng

với từ) còn tục ngữ đợc thể hiện bằng câu (phát ngôn) có cấu tạo rất đặc biệt,

định hình trong lời nói và trong kí ức cộng đồng, dùng để giao tiếp hàng ngày

- Về nội dung: thành ngữ thể hiện khái niệm, còn tục ngữ thể hiện phán

đoán

- Về chức năng- ngữ nghĩa: thành ngữ có chức năng định danh, còn tục

ngữ có chức năng thông báo

1.2.2 Phân biệt tục ngữ với ca dao

Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, có những câu tục ngữ ngắngọn, súc tích, đợc thể hiện trong khuôn khổ một dòng nên dễ phân biệt và

không ai nhầm với ca dao nh: ''Ăn một nơi, ấp một nơi''.

Trang 16

Song bên cạnh đó cũng có những câu nh sau thì chúng ta khó xác địnhranh giới thể loại một cách rạch ròi vì chúng cùng mang tính chất của cả tụcngữ và ca dao:

- Ăn đong cho đáng ăn đong

Lấy chồng cho đáng hình dong con ngời.

- Gánh cực mà chạy lên non

Còng lng mà chạy cực còn chạy theo.

- Phải duyên thì dính nh keo Trái duyên chổng chểnh nh kèo đục vênh

- Chốn ớc mơ lấy lơ mà lỏng

Nơi tình cờ mà đóng nhân duyên.

- Mấy đời bánh đúc có xơng

Mấy đời gì ghẻ mà thơng con chồng.

Nhiều ngời làm công tác nghiên cứu, su tầm, biên soạn tục ngữ hay ca

dao đã lấy những câu trên làm đối tợng cho công việc nghiên cứu của mình

Có thể nói rằng, ở những trờng hợp này thì cả tiêu chí hình thức cấu trúc vàchức năng ngữ nghĩa đều không thể đa ra đợc một ranh giới rạch ròi giữa tụcngữ và ca dao Bởi vì, về mặt nội dung ngữ nghĩa, tục ngữ và ca dao đều cóchung các chủ đề nh: lao động, hôn nhân, vợ chồng, phê phán hay khuyênrăn…Đặc biệt nghiên cứu tục ngữ từ góc nhìn ngữ nghĩa học sẽ Còn về hình thức cấu trúc thì chúng ta không thể không công nhận rằng

có những trờng hợp tục ngữ muốn thể hiện một nội dung trọn vẹn thông báo

thì phải chọn hình thức dài hơn Tức là dùng thể thơ lục bát (Ăn một bữa một con heo, không bằng ngọn gió trong đèo thổi ra) Trong khi đó lục bát không

phải là hình thức độc quyền của ca dao

Trong thực tế sáng tạo, kể cả những sáng tạo dân gian hay sáng tạo báchọc thì đều có hiện tợng pha trộn giữa các đơn vị, giữa các thể loại Hơn nữatục ngữ và ca dao lại đợc sáng tác và hành chức trong môi trờng folklore nên

có sự pha trộn là tất yếu Do đó có ý kiến cho rằng nên xem những tr ờng hợptrên là đơn vị trung gian giữa ca dao và tục ngữ Cũng có thể tạm gọi tên chonhững trờng hợp này là: ca dao đợc tục ngữ hoá hay tục ngữ mô phỏng ca dao.Nhng nếu cần có sự phân định rõ ràng hơn thì chúng ta sẽ viện đến tiêu chí mà

hai tác giả Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên trong giáo trình: ''Lịch sử văn học Việt Nam- Văn học dân gian''(1973) đa ra: tìm đâu xem là tính trội thuộc

về ca dao hay tục ngữ, trên cơ sở đó tiến hành quy loại Nếu câu nào có nộidung nhận thức: kinh nghiệm nhận thức về tự nhiên hay kinh nghiệm nhận

Trang 17

thức xã hội, mang tính quy luật, khái quát cho nhiều trờng hợp thì đó là tụcngữ:

- Ăn đong cho đáng ăn đong

Lấy chồng cho đáng hình dong con ngời.

- ở sao cho vừa lòng nhau

ở rộng ngời cời, ở hẹp ngời chê

Còn ca dao thì trái lại, thờng đề cập đến tâm trạng, cảm xúc cá nhân Nếu

có đề cập đến hiện tợng tự nhiên thì đó chỉ là vế câu gợi hứng nhằm bộc lộcảm xúc

- Gánh cực mà đổ lên non

Còng lng mà chạy cực còn chạy theo.

- Phải duyên thì dính nh keo

Trái duyên chổng chểnh nh kèo đục vênh.

- Yêu nhau yêu cả đờng đi lối về

Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai?

Chúng ta còn bắt gặp nhiều trờng hợp tục ngữ là một bộ phận của ca dao.Chẳng hạn trong câu ca dao:

'' Ra đờng nhặt cánh hoa rơi

Hai tay nâng lấy, cũ ngời mới ta''

Có chứa một vế nguyên là tục ngữ: cũ ngời, mới ta Tục ngữ ''cũ ngời mới ta'' có nghĩa là: thứ ngời ta đã dùng rồi là cũ nhng đến tay mình vẫn là

mới Tục ngữ này vẫn giữ đợc ý trên nhng khi trở thành một vế của ca dao thìvai trò của nó đã đổi khác và nội dung ngữ nghĩa đã mang một sắc thái mới:

''cũ ngời mới ta''trở thành một điểm nhấn ngữ nghĩa, cùng với hành động '' hai tay nâng lấy'' thể hiện một cách ứng xử đầy nhân văn của con ngời trớc những ''cánh hoa rơi'' bẽ bàng xấu số ''Cũ ngời mới ta'' đã mất đi tính lý trí của nó

mà chỉ còn lại âm vang của cảm xúc, sự khái quát: cũ- mới, ta- ngời đã nhờngchỗ cho một sự rung động rất cụ thể : đó là một lời an ủi, hay là một sự vỗ về,Nh

…Đặc biệt nghiên cứu tục ngữ từ góc nhìn ngữ nghĩa học sẽ thế tục ngữ khi vào ca dao đã thoát khỏi cái vỏ lý trí, suy biện của nó trở

Trang 18

thành nơi chứa đựng những rung cảm và chính sự quyện hoà ca dao- tục ngữ

đã đem lại giá trị cho cả hai thể loại

Hay khi phát ngôn tục ngữ ''có quán tình phụ cây đa'' đi vào câu ca dao:

'' Có quán tình phụ cây đa

Ba năm quán đổ cây đa hãy còn''

Phát ngôn tục ngữ này chỉ còn là phơng tiện để ca dao cất lên tiếng nóitrữ tình của mình Và cái mô hình khái quát của tục ngữ: ''có…Đặc biệt nghiên cứu tục ngữ từ góc nhìn ngữ nghĩa học sẽtình phụ'' (có trăng phụ đèn, có bát sứ tình phụ bát đàn, có oản phụ xôi, có lá lốt tình phụ xơng sông, …), trở thành điểm tựa để phát triển: ''Ba năm quán đổ cây đa hãy ) còn'' nói về sự bạc bẽo của con ngời trong quan hệ với cái mới có đợc và cái

cũ đã gắn bó thuỷ chung với mình Ngời ta tiếp nhận câu tục ngữ này với một

ấn tợng nghệ thuật giống nh khi tiếp nhận một bài thơ

Nh vậy trờng hợp tục ngữ là một bộ phận cấu thành ca dao thì một sựchuyển hoá đã xảy ra: Ca dao cấp cho tục ngữ một nội dung cảm xúc và tụcngữ trở thành một điểm nhấn ngữ nghĩa quan trọng trong môi trờng cảm xúccủa ca dao Sự chuyển hoá này rất tinh tế Xét các trờng hợp sau:

Tục ngữ:

- Chồng ghét thì ra, mụ gia ghét thì vào.

- Chồng giữ thì lo, mẹ chồng dữ đánh co mà vào.

Chúng ta dễ dàng nhận thấy hai điểm giống nhau: giống ở sự bố trí ngữ

đoạn song hành về mặt ngữ pháp và ngữ nghĩa (mỗi câu tục ngữ chia thành hai vế,mỗi vế diễn đạt một ý trọn vẹn có quan hệ đẳng lập với vế kia; quan hệ giữa câulục với câu bát trong hai câu ca dao trên cũng tơng tự), giống nhau về nội dung ýnghĩa: cùng thể hiện quan hệ ứng xử của ngời vợ trong quan hệ tay ba: chồng- vợ-

mẹ chồng Tuy nhiên với cảm thức ngôn ngữ của ngời Việt lập tức ngời đọc nhận

ra đợc câu nào là ca dao, câu nào là tục ngữ và ở đây chính phơng thức thể hiệnliên quan đến đặc trng thể loại giúp ta nhận biết tục ngữ và ca dao

ở hai câu ca dao, nhân vật ''em'' đã trở thành chủ thể trữ tình, ''chồng'' ,'' mẹ chồng'' trở thành đối tợng để ''em'' bộc lộ cách ứng xử của mình Có thểthấy rất rõ tính cảm xúc thể hiện qua từng câu chữ với thủ pháp cờng điệu hoá:

Trang 19

'' mổ bò ăn khao'', ''giết trâu ăn mừng'' Cái quan hệ tay ba kia trở nên rất cụthể chứ không còn mang tính khái quát nữa, bởi vì ''em'' là cụ thể, ''chồng'',''mẹ chồng'' trở thành ''chồng em'', ''mẹ chồng em'' Nếu tục ngữ sử dụng một thứngôn ngữ hoàn toàn khách quan, phản ánh thông tin sự kiện thì ca dao là thứngôn ngữ bộc lộ, mang sắc thái chủ quan Nh vậy cùng thể hiện một nội dungngữ nghĩa nhng chất liệu ngôn ngữ đợc sử dụng ở ca dao và tục ngữ khác nhau.

Đó chính là ''lớp nghĩa thể loại'' hay lớp nghĩa gắn với chất liệu riêng về mặt thểloại, giúp cho việc nhận biết ranh giới thể loại trở nên dễ dàng

Chúng ta có thể dựa vào một số tiêu chí sau đây để phân biệt tục ngữ và

ca dao [22,36]:

Về cấu trúc toàn chỉnh thể: Tục ngữ có cấu trúc Đề - Thuyết đơn (Ai biết đợc ma ăn cỗ; Bà cô bóp con cháu), hoặc có cấu trúc Đề - Thuyết sóng

đôi (Chè hâm lại, gái ngủ tra; Ai ăn trầu, nấy đỏ môi) Còn ca dao có cấu trúc

toàn chỉnh thể gồm hai phần: phần thứ nhât nêu hoàn cảnh khách quan (thiênnhiên hay con ngời), phần thứ hai ngụ tình (tức bộc lộ cảnh huống chủ quan):

'' Gió đa cây cải về trời

Rau răm ở lại chịu lời đắng cay''

Về ý nghĩa: ý nghĩa của tục ngữ chủ yếu là nghĩa đen, nghĩa bóng, đa

nghĩa; còn ý nghĩa của ca dao là ý nghĩa biểu cảm

- Tục ngữ tồn tại dới hình thức một câu nhng đồng thời nó cũng có t cách

là một văn bản mang tính nghệ thuật, thể hiện một nội dung trọn vẹn, mộtthông điệp hoàn chỉnh

1.3 Các ý kiến bàn về sự phân loại động từ trong tiếng Việt.

Sự phân loại và miêu tả động từ trong tiếng Việt quả là một vấn đề tơng

đối phức tạp Từ trớc đến nay đã có rất nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này

và mỗi ý kiến, mỗi quan niệm lại cho ra những kết quả khác nhau

Trang 20

Tác giả Nguyễn Kim Thản trong ”Động từ tiếng Việt’’ [31] đã dựa vào

tính chất chi phối của động từ để phân loại nh sau:

7 Động từ xuất hiện, tồn tại, tiêu hủy

8 Động từ chỉ hoạt động của bộ phận cơ thể ngời

9 Động từ cảm nghĩ, nói năng10.Động từ không tác động11.Động từ quan hệ

Tác giả Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung trong Ngữ pháp tiếng Việt

[2], dựa vào khả năng kết nối của động từ với nhóm phụ từ tình thái có tácdụng ‘’dạng thức hóa động từ’’, dựa vào khả năng kết hợp của động từ vớithực từ biểu thị nội dung chi phối của động từ hoặc biểu thị nội dung đòi hỏiphụ thuộc vào đặc trng ngữ nghĩa, ngữ pháp của động từ, đã chia động từtrong tiếng Việt ra hai loại: động từ độc lập và động từ không độc lập Trong

đó, động từ không độc lập là những động từ biểu thị quá trình cha đầy đủ, chatrọn vẹn Loại từ này đợc chia hai nhóm:

- Động từ tình thái: nên, cần, có thể, không thể…Đặc biệt nghiên cứu tục ngữ từ góc nhìn ngữ nghĩa học sẽ

- Động từ quan hệ: là, còn, có, thành, hóa…Đặc biệt nghiên cứu tục ngữ từ góc nhìn ngữ nghĩa học sẽ Động từ độc lập là động từ biểu thị ý nghĩa quá trình hoạt động hoặctrạng thái, ý nghĩa quá trình có thể nhận thức đợc tơng đối rõ ngay cả trong tr-ờng hợp động từ không có từ khác đi kèm để bổ nghĩa và đợc chia thành hainhóm:

- Nhóm động từ độc lập (đợc phân loại phụ từ đi kèm)

- Nhóm động từ phân từ (đợc phân loại thực từ đi kèm)

Tác giả Lê Biên trong gTừ loại tiếng Việt hiện đại” [3, 76- 98] đã dựa vào bản

chất nghĩa- ngữ pháp của động từ để tiến hành phân loại động từ thành 2 mảng lớn :Những động từ độc lập và Những động từ không độc lập

Những động từ độc lập: Là những động từ tự thân đã có nghĩa Chúng

có thể dùng độc lập, không cần một động từ khác đi kèm, và có thể giữ chức

vụ làm thành phần chính của câu nh:

Trang 21

- Tôi mở cửa.

- Cô ấy hát

Trong mảng động từ độc lập, tác giả chia ra các tiểu loại nh sau:

- Động từ tác động: Là những động từ chỉ vận động , quá trình thuộc

về hoạt động hành vi của chủ thể Động từ này có bổ ngữ đối tợng Hành động

do chủ thể gây ra có tác động đến đối tợng, làm cho đối tợng biến đổi về tính

chất, trạng thái hoặc vị trí trọng không gian Đó là các động từ nh: cắt, gặt, gánh, xách, giết, đọc, đóng …),

- Động từ mang nghĩa trao nhận: Là động từ chỉ vận động , hoạt động

mang ý nghĩa trao hoặc nhận Thờng có hai bổ ngữ (1 bổ ngữ chỉ sự vật là đốitợng đợc trao nhận, 1 bổ ngữ là đối tợng bị tác động) Đó là các động từ nh:

tặng, cho, biếu, cấp, phát, trả, nộp, đền, dâng, vay, mợn, đòi, thu, thu hồi…),

- Động từ gây khiến: Là những động từ chi phối hoạt động của đối tợng.

Động từ gây khiến đòi hỏi phải có hai bổ ngữ: 1 bổ ngữ là đối tợng chịu tác

động của từ gây khiến, thờng là danh từ và có thể là đại từ xng hô; bổ ngữ thứhai là bổ ngữ nội dung do hành động của chủ thể (động từ gây khiến) chi phối,tác động gây ra ở đối tợng; vì vậy, bổ ngữ chỉ nội dung thờng là động từ, tính

từ (hoặc là một ngữ động từ, ngữ tính từ…Đặc biệt nghiên cứu tục ngữ từ góc nhìn ngữ nghĩa học sẽ) Động từ gây khiến thờng gặp: sai, bảo, khuyên, cho, cho phép, cấm, ngăn cản,…),

Ví dụ: Con học giỏi khiến cho cha mẹ vui lòng

- Động từ cảm nghĩ nói năng: Đó là những động từ chỉ về sự vận động, quá trình hoạt động thuộc về nhận thức, cảm xúc trạng thái tình cảm nh: hiếu, biết, nhe, thấy, nhớ, mong, sợ, yêu, ghét, hy vọng, tin tởng, căm giận…),

Về ngữ pháp: Sau động từ này có bổ ngữ đối tợng tác động (chứ khôngphải là đối tợng bị tác động) Cấu tạo của bổ ngữ này có thể là một từ, mộtngữ, một cụm chủ- vị

Động từ cảm nghĩ có khả năng kết hợp với từ chỉ mức độ ở phía trớc

nh: rất hiểu, hơi biết, khá lo, hơi nhớ, rất tin tởng…Đặc biệt nghiên cứu tục ngữ từ góc nhìn ngữ nghĩa học sẽ

- Động từ chỉ vận động di chuyển: Đó là những động từ chỉ vận động mang nghĩa hoạt động di chuyển, dời chỗ nh: ra, vào, đi, chậy, sang, bò, toài…),Tác giả chia động từ vận động di chuyển thành hai nhóm nhỏ:

Nhóm động từ di chuyển có hớng: ra, vào, lên, xuống, về qua, sang, lại, đến…),

Nhóm động từ di chuyển không có hớng: lăn, chạy, bò, lê, bơi, bay …),

Trang 22

- Động từ tồn tại: Những động từ tồn tại biểu thị trạng thái tồn tại của

sự vật, hiện tợng Động từ tồn tại luôn xuất hiện cùng sự vật tồn tại

Những động từ tồn tại thờng đợc sử dụng nh: có, còn, nảy sinh, mọc,

Tác giả chia động từ không độc lập thành hai nhóm:

- Nhóm động từ chỉ ý nghĩa quan hệ (quan hệ giữa chủ thể với nội dung

nêu ở từ ngữ ở sau động từ quan hệ) Có thể đó là quan hệ giữa các thực thể,các quá trình hoặc các đặc trng

Tác giả lại chia nhóm động từ không độc lập chỉ quan hệ thành các nhóm

nhỏ:

Động từ chỉ quan hệ đồng nhất (theo nghĩa rộng) nh: là, làm (Ví dụ: Chị làm tổ trởng tổ dệt đã ba năm; Em vẫn là hoa trên đỉnh núi ).

Động từ chỉ quan hệ quá trình, biến hóa: Bao gồm nhữnh động từ chỉ vận

động, quá trình biến đổi của sự vật Bản thân những động từ này trống nghĩanên bắt buộc phải có danh từ bổ ngữ (danh ngữ) ở sau Bổ ngữ hàm ý chỉ kếtquả của quá trình biến đổi, nh: trở nên, thành, trở thành, hóa…Đặc biệt nghiên cứu tục ngữ từ góc nhìn ngữ nghĩa học sẽ(Ví dụ: Nó trở thành sinh viên).

Những động từ chỉ quan hệ đối chiếu, so sánh, nh: nh, giống, khác, tựa

Ví dụ: Nó giống nh cha nó hồi bé.

- Nhóm động từ tình thái (chiếm số lợng lớn nhất): Là động từ chỉ quan

hệ của chủ thể (nêu ở chủ ngữ) với nội dung của từ đứng sau động từ tình thái Dựa vào ý nghĩa, tác giả đã chia động từ tình thái thành những nhóm nhỏsau:

Những động từ tình thái chỉ sự cần thiết và khả năng: nh: nên, cần, phải, cần phải …), ; có thể, không thể (Ví dụ: Tôi quyết viết cho Không thể nói

Trang 23

Những động từ tình thái chỉ sự chịu đựng, chỉ sự tiếp thu: nh: bị, phải,

đợc (Ví dụ: Cổ tay, đầu, bắp chân bị dây trói siết lại, đau rứt từng mảnh thịt)

1.4 Phân loại các nhóm động từ trong tục ngữ

Trong luận văn này chúng tôi dựa vào cách phân nhóm của tác giả ĐỗThị Kim Liên [19, 51-54] để xem xét các tiểu nhóm động từ chỉ hoạt động củangời trong tục ngữ Chúng gồm các nhóm có tỷ lệ nh sau:

Ví dụ: Ăn, làm, cắt, dán, ném…Đặc biệt nghiên cứu tục ngữ từ góc nhìn ngữ nghĩa học sẽ

Trong số những câu tục ngữ mở đầu là động từ chỉ hoạt động của ngời(4010 câu đợc thống kê) thì nhóm động từ ngoại động xuất hiện với số lợng vàtần số lớn nhất : 198 từ, với tần số xuất hiện 1820 lần, chiếm 45,3%

2 Nhóm động từ chỉ trạng thái tâm lý

Nhóm này biểu thị trạng thái, tình cảm của con ngời, có khả năng kết

hợp với phó từ chỉ múc độ (rất, quá …), và phó từ chỉ thời gian (đã, sẽ, )

đang…Đặc biệt nghiên cứu tục ngữ từ góc nhìn ngữ nghĩa học sẽ) Ví dụ: yêu, thích, ghét, lo, sợ…Đặc biệt nghiên cứu tục ngữ từ góc nhìn ngữ nghĩa học sẽ

Sau nhóm động từ ngoại động nhóm động từ trạng thái tham gia vàoviệc mở đầu câu tục ngữ chỉ hoạt động của ngời với số lợng lớn : 67 từ, với tần

số xuất hiện 490 lần, chiếm 12,2% Các từ thuộc nhóm này đã phản ánh đớisống tinh thần, tình cảm của ngời dân Việt Nam rất tinh tế, muôn hình muôn

vẻ Hệ thống động từ này chứng tỏ rằng, từ xa xa ông cha ta đã rất chú ý đến

đời sống tinh thần

Trang 24

3 Nhóm động từ xuất hiện, tồn tại, tiêu hủy

Nhóm này nhằm biểu thị sự xuất hiện, tồn tại, biến mất của sự vật

( mọc, xuất hiện, nổi lên, có, còn …), Về khả năng kết hợp, thờng đòi hỏi )

thành tố phụ là danh từ vốn là chủ thể (không phải chủ ngữ) của động từ tồntại Loại động từ này thờng dùng trong câu đặc biệt (chỉ có một thành phần)

Do đặ điểm này mà thành tố phụ đứng sau động từ có thể đặt lên đứng trớc

Đây là những động từ biểu thị ý nghĩa tự thân (không bao giờ tác động

đến đối tợng khác, không đòi hỏi thành tố phụ, là bổ ngữ trực tiếp, nếu có thìthờng là bổ ngữ gián tiếp mang ý nghĩa thời gian, địa điểm, nguyên nhân, mục

đích, có khả năng kết hợp với phó từ chỉ thời gian, sự tiếp diễn)

Ví dụ: Ngủ, ngã, nằm, bò, khóc…Đặc biệt nghiên cứu tục ngữ từ góc nhìn ngữ nghĩa học sẽ

Trong những câu tục ngữ mở đầu là động từ thì số lợng các động từ nội

động xuất hiện khá nhiều Số lợng các từ và tần số xuất hiện của chúng theochúng tôi thống kê là : 50 từ, với 378 làn xuất hiện, chiếm 9,4%

5 Nhóm động từ cảm nghĩ nói năng

Nhóm này biểu thị hoạt động nhận thức của con ngời, thờng đòi hỏi

thành tố phụ là kết cấu chủ vị ( có thể có từ là, rằng chen vào giữa)

Ví dụ: biết, nghĩ, cho, hiểu…Đặc biệt nghiên cứu tục ngữ từ góc nhìn ngữ nghĩa học sẽ

Nhóm động từ cảm nghĩ nói năng xuất hiện ở vị trí mở đầu câu tục ngữchỉ hoạt động của ngời với số lợng : 8 từ, với tần số xuất hiện là 256 lần,chiếm 6,3%

6 Nhóm động từ chuyển động có hớng

Nhóm này biểu thị sự chuyển động trong không gian hớng đến một

điểm nhất định, thờng đòi hỏi thành tố phụ là những danh từ chỉ phơng hớng(có thể có phụ từ chỉ hớng xen vào giữa)

Ví dụ: đi, đến, tới, sang, về, lại…Đặc biệt nghiên cứu tục ngữ từ góc nhìn ngữ nghĩa học sẽ

Nhóm động từ này tham gia vào việc mở đầu câu tục ngữ chỉ hoạt độngcủa ngời với số lợng là : 19 từ, tần số xuất hiện 188 lần, chiếm 4,6%

7 Nhóm động từ tình thái

Trang 25

Nhóm này những động từ biểu thị khả năng, ý chí, mong muốn, thờng

đòi hỏi thành tố phụ phía sau là một động từ mang ý nghĩa từ vựng chân thực

Ví dụ: cần, định, toan, muốn, bèn, nỡ…Đặc biệt nghiên cứu tục ngữ từ góc nhìn ngữ nghĩa học sẽ

Nhóm động từ tình thái tham gia vào việc mở đầu câu tục ngữ chỉ hoạt

động của ngời với số lợng từ rất ít theo thống kê của chúng tôi, chỉ có 3 từ vớitần số xuất hiện là 112 lần, chiếm 2,7%

8 Nhóm động từ phát nhận

Nhóm này gồm những động từ biểu thị những hoạt động có tính chất

ban phát hoặc tiếp nhận (đa, gửi, biếu, nhận, lĩnh, thu, lấy…Đặc biệt nghiên cứu tục ngữ từ góc nhìn ngữ nghĩa học sẽ) Nhóm động từnày thờng đòi hỏi hai thành tố phụ, một biểu thị đối tợng tiếp nhận và mộtbiểu thị đồ vật, sự vật do hoạt động của động từ chi phối

Ví dụ: Nam tặng cô giáo một bó hoa.

Các động từ phát nhận mở đầu câu tục ngữ chỉ hoạt động của ngời với

15 từ, tần số xuất hiện là 111 lần, chiếm 2,7%

9 Nhóm động từ bị động

Nhóm này biểu thị ý nghĩa bị động, có khả năng kết hợp đợc với thành

tố phụ ở phía sau là một kết cấu chủ- vị Có khi có thể tĩnh lợc chủ ngữ chỉcòn động từ bị động và động từ có chủ ngữ tĩnh lợc

Nhóm động từ bị động trong tổng số 4010 câu tục ngữ mở đầu là động

từ chỉ hoạt động của ngời (theo thống kê của chúng tôi) thì chỉ có từ đ g ợc”

thuộc nhóm động từ bị động tham gia vào, với tần số xuất hiện là 105 lần,chiếm 2,6%

Trong tục ngữ, do tính hàm súc, cô đúc; do yêu cầu của hiệp vần nên thành

tố phụ là động từ (chỉ kết quả của hoạt động gây khiến) thờng bị khuyết (tỉnh lợc)

Ví dụ: Giúp lời không ai giúp của, giúp đũa không ai giúp cơm; Cấm giả lệnh giả thị ( mệnh lệnh giả) chứ ai cấm mang bị nói khoác.

Động từ gây khiến ở vị trí mở đầu câu tục ngữ chỉ hoạt động của ngời làkhông nhiều, chỉ 7 từ với 95 lần xuất hiện, chiếm 2,3%

11 Nhóm động từ kết nối

Trang 26

Nhóm này biểu thị hành động nối kết giữa hai sự vật do con ngời gây

nên, có khả năng kết hợp với phó từ chỉ thời gian (đã, sẽ, đang…Đặc biệt nghiên cứu tục ngữ từ góc nhìn ngữ nghĩa học sẽ) đòi hỏithành tố phụ là hai danh từ

Ví dụ: buộc, pha, trộn, đấu, nối …),

Nhóm động từ này tham gia vào vị trí mở đầu câu tục ngữ chỉ hoạt độngcủa ngời là không nhiều về số lợng 5 từ, cũng nh tần số xuất hiện 43 lần,chiếm 1%

Nh vậy theo thống kê và phân loại của chúng tôi, động từ chỉ hoạt độngcủa ngời mở đầu phát ngôn trong tục ngữ cũng có 11 nhóm Trong đó nhóm

động từ biến hóa (thành, nên, trở nên) không xuất hiện

Danh từ và động từ là hai từ loại chiếm một số lợng lớn trong kho tàngtục ngữ Việt Nam Theo thống kê của chúng tôi, trong tổng số 16.098 phát

ngôn tục ngữ lấy từ cuốn Kho tàng tục ngữ ngời Việt (do Nguyễn Xuân Kính,

Nguyễn Thúy Loan, Phan lan Hơng, Nguyễn Luân biên soạn) thì số lợng cácphát ngôn tục ngữ mở đầu là động từ chỉ hoạt động của ngời có 4010 phátngôn, chiếm 25% (xem phụ lục) gTrong tổng số 4167 các phát ngôn tục ngữ

lấy từ cuốn gTục ngữ Việt Nam ’’ (do Chu Xuân Diên, Lơng văn Đang, PhơngTri biên soạn) thì số lợng các phát ngôn tục ngữ mở đầu là động từ có 1013phát ngôn, chiếm tỉ lệ 25% trong tổng số từ đợc dùng nói chung Chỉ khảo sát

riêng vần N trong cuốn Kho tàng tục ngữ ngời Việt (tr 1919-2181) thì trong số

693 phát ngôn có phụ âm N mở đầu, với 3494 từ thì có: 1496 danh từ, 965

động từ, 372 tính từ, 272 phụ từ, 219 quan hệ từ, 45 số từ, 91 đại từ và 34 trợ

từ Trong 965 động từ thì có 731 động từ chỉ hoạt động cơ thể ngời” [21,64] Qua sự thống kê trên, chúng tôi nhận thấy động từ chỉ hoạt động củangời là một bộ phận không nhỏ đợc sử dụng trong kho tàng tục ngữ thể hiệnkinh nghiệm sản xuất cũng nh kinh nghiệm sống của ngời Việt Thế nhng ởphạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát, đi sâu tìm hiểu nhữngbiểu hiện về mặt ngữ nghĩa của một số động từ chỉ hoạt động của bộ phận cơthể ngời mở đầu phát ngôn trong tục ngữ Đó là các động từ đợc sử dụng với

tần số cao nhng cha tác giả nào đi sâu tìm hiểu là: làm, nói, đi, lấy (xếp theo

thứ tự tần số xuất hiện từ cao đến thấp)

1.5 Tiểu kết chơng 1:

Qua sự phân tích trên chúng tôi đi đến một số kết luận nh sau:

a, Tục ngữ đợc phân biệt với thành ngữ ở những điểm sau:

Trang 27

Về hình thức: thành ngữ đợc biểu hiện bằng cụm từ cố định (tơng

đ-ơng với từ); còn tục ngữ đợc thể hiện bằng câu (phát ngôn) có cấu tạo rất đặcbiệt, đợc định hình trong lời nói và trong kí ức cộng đồng, dùng để giao tiếphàng ngày

Về nội dung: thành ngữ thể hiện khái niệm, còn tục ngữ thể hiện phán

đoán

Về chức năng ngữ nghĩa: thành ngữ có chức năng định danh, còntục ngữ có chức năng thông báo

b, Tục ngữ đợc phân biệt với ca dao ở những điểm sau:

Về cấu trúc toàn chỉnh thể: tục ngữ có cấu trúc Đề – thuyết đơn, hoặc

có cấu trúc Đề –Thuyết sang đôi; còn ca dao có cấu trúc toàn chỉnh thể gồm haiphần: phần thứ nhất nêu hoàn cảnh khách quan, phần thứ hai ngụ tình

Về ý nghĩa: ý nghĩa của tục ngữ chủ yếu là nghĩa đen, nghĩa bóng, đa

nghĩa; còn ý nghĩa của ca dao là ý nghĩa biểu cảm

Trang 28

chơng 2:

Ngữ nghĩa của nhóm động từ làm, nói , đi, lấy

trong tục ngữ

2.1 Những nhân tố chi phối đến nghĩa của động từ trong tục ngữ.

2.1.1 Nghĩa trực tiếp và hàm ý tục ngữ

Ngữ nghĩa là một phần nội dung tơng ứng trên cấu trúc bề mặt của phátngôn, có thể là nghĩa trực tiếp hay nghĩa gián tiếp Khi chúng đợc nói ra thìgây một hiệu lực đối với ngời nghe, hay nói một cách khác là nhằm mục đíchnhất định đối với ngời nghe hiệu lực này có thể trực tiếp hay gián tiếp

Ví dụ:’’ Bây giờ là mấy giờ?’’

Là phát ngôn gây một hiệu lực trực tiếp tới ngời nghe và sau đó ngờinghe trả lời gnăm giờ rồi’’ Nhng phát ngôn đó còn có thể gây hiệu lực giántiếp với dụng ý: gmời anh về’’, gmuộn giờ rồi’’…Đặc biệt nghiên cứu tục ngữ từ góc nhìn ngữ nghĩa học sẽ

Trong gkho tàng tục ngữ Việt Nam”, một bộ phận tục ngữ mang nghĩa

tờng minh, nghĩa trực tiếp Đó là những kinh nghiệm sản xuất đợc đúc rúttrong quá trình lao động lâu dài của dân tộc ta:

- Khoai ruộng lạ, mạ ruộng quen

- Nuôi lợn ăn cơm nằm, nuôi tằm ăn cơm đứng

- Nhai kỹ no lâu, cày sâu tốt lúa

- Cơm gạo mùa, thổi đầu chùa cũng chín

Trang 29

những đặc điểm phổ biến, có tính lặp đi lặp lại, của các hiện tợng tự nhiên, xãhội và đời sống của con ngời Cách quan sát đó thờng là một cách quan sát

trực tiếp những hiện tợng cụ thể, tai nghe mắt thấy Chính cách quan sát này

là nguồn gốc chủ yếu của cái mà chúng ta vẫn quen gọi là tính hình tợng hay cách nói cụ thể, gợi cảm của tục ngữ Có thể nói cái cụ thể, sự quan sát cái cụ thể và sự miêu tả cái cụ thể là cơ sở của những nhận xét, phán đoán, kết luận

của tục ngữ Cũng có thể gọi đây là những phát ngôn tục ngữ một nghĩa- nghĩa

đen, nghĩa cụ thể Trong những phát ngôn tục ngữ một nghĩa, sự miêu tảnhững hiện tợng tự nhiên, xã hội và đời sống con ngời không có hàm ý gì khácngoài ý nghĩa toát ra từ bản thân các hiện tợng ấy

Bên cạnh những phát ngôn tục ngữ một nghĩa, còn có rất nhiều nhữngphát ngôn tục ngữ trong đó sự miêu tả những hiện tợng tự nhiên, xã hội và đờisống con ngời ngoài nội dung nói về ý nghĩa của chính những hiện tợng ấy, lại

có những hàm ý rộng hơn Có thể gọi đó là những phát ngôn tục ngữ hainghĩa- nghĩa đen và nghĩa bóng, nghĩa rộng và nghĩa hẹp, nghĩa cụ thể vànghĩa khái quát

Ví dụ: Kiến tha lâu cũng có ngày đầy tổ Không chỉ nói lên một nhận xét

về hiện tợng kiến tha mồi mà còn nói đến một phán đoán về các hành độngkiên trì, nhẫn nại của con ngời

Hay phát ngôn: gRau nào sâu ấy ” Vừa có nội dung miêu tả hiện tợng

tự nhiên, vừa có hàm ý nói về các hiện tợng của đời sống con ngời Nhữngphát ngôn tục ngữ miêu tả các hiện tợng tự nhiên mà lại có hàm ý nói về cáchiện tợng của đời sống con ngời nh vậy chiếm một số lợng khá lớn trong khotàng tục ngữ của ngời Việt Có thể dẫn hàng loạt những phát ngôn tục ngữ sau

đây:

- Tre non dễ uốn ( nói về sự giáo dục)

- Trâu buộc ghét trâu ăn ( nói về yêu- ghét)

- Năm ngón tay có ngón dài ngón ngắn (nói về xấu- tốt, về sự

- Lọt sàng xuống nia ( nói về sự đợc – mất)

- Củi mục khó đun, chổi cùn khó quét

Trang 30

- Phá lá cây thì dễ, phá chồi cây lặc lè chẳng xong (nói về sự

phát triển- suy tàn) Tục ngữ thờng dùng những hiện tợng cụ thể để nói lên những ý niệmkhái quát trừu tợng, dùng cái cá biệt để nói lên cái phổ biến, khái quát Đây làmột đặc điểm hết sức quan trọng của tục ngữ Trong đặc điểm này, không phảichỉ có vấn đề cách nói (cách nói cụ thể, gợi cảm) mà còn có vấn đề cách nghĩ.Một phát ngôn tục ngữ gthoạt tiên’’ mới đợc sáng tạo ra thờng có mục đíchghi lại sự phát triển của gtác giả dân gian’’ về chính ý nghĩa (hoặc bản chất)của hiện tợng đợc miêu tả trong đó Nhng trong cuộc sống, ta còn gặp thấynhiều hiện tợng khác cũng có ý nghĩa (hoặc bản chất) tơng tự Rất nhiều phátngôn tục ngữ trong quá trình lu truyền, quá trình sử dụng trong lời nói và suynghĩ, đã từ ý nghĩa ban đầu nói về bản chất của một hiện tợng nhất định mà

mở rộng nội dung phản ánh của nó nói về bản chất của nhiều hiện tợng khácnữa Đó là một quá trình sáng tạo liên tục về nghĩa trên cơ sở sự hình thànhnghĩa ban đầu, nghĩa gốc của một phát ngôn tục ngữ

ổn định

Ngữ cảnh là một trong những yếu tố để phân biệt ngôn ngữ nói và ngônngữ viết Ngôn ngữ viết không gắn liền với ngữ cảnh trong khi đó ngữ cảnhtham gia rất nhiều vào nghĩa của phát ngôn bằng lời nói Tục ngữ là phátngôn, gắn liền với hoạt động giao tiếp Môi trờng giao tiếp vừa là cội nguồnsinh ra, vừa là nơi nuôi dỡng, lu giữ tục ngữ Chính vì vậy mà một phát ngôntục ngữ có thể áp dụng vào nhiều trờng hợp cụ thể Và khi nó đợc hiện thựchóa qua những ngữ cảnh khác nhau đó chúng lập tức mang một nội dung mới,một sắc thái mới với đầy đủ sức nặng và tính mới mẻ của lợng thông tin mới

Nh vậy giữa nghĩa của phát ngôn tục ngữ và ngữ cảnh có quan hệ chặt chẽ vớinhau: ngữ cảnh hiện thực hóa ý nghĩa tục ngữ và ý nghĩa của tục ngữ chỉ đ ợc

cụ thể, xác định khi đi vào ngữ cảnh

Trang 31

Ngữ cảnh mà chúng tôi đề cập ở đây là gngữ cảnh tĩnh’’ và gngữ cảnh

động’’ gNgữ cảnh tĩnh’’ chính là ngữ cảnh làm nền cho những điều muốntruyền đạt, là ngữ cảnh trong phạm vi câu tục ngữ mà trong đó phát ngôn tụcngữ thể hiện ý nghĩa của mình một cách trực tiếp gNgữ cảnh động” là ngữcảnh của sự vận dụng, của sự hành chức hay nói cách khác là tình huống cụthể mà con ngời sử dụng tục ngữ Cả ngữ cảnh động và ngữ cảnh tĩnh trongtục ngữ đều góp phần xác định cũng nh làm biến đổi nghĩa của từ Tục ngữ làphát ngôn của tình huống, do đó có thể nắm đợc thông tin của nó ở những ngữcảnh sử dụng khác nhau Một trong những biểu hiện cho thấy tục ngữ gắn vớingữ cảnh là cách giải thích tục ngữ trong từ điển luôn có một chỉ dẫn về nghĩacủa tục ngữ và một chỉ dẫn về tình huống sử dụng

Chẳng hạn phát ngôn tục ngữ gVợn lìa cây có ngày vợn rũ’’ Ngữ cảnhhẹp của câu tục ngữ này là: con vợn không còn sống ở cây cho phép mở rộng

đến ngữ cảnh rộng hơn: một đối tợng rời môi trờng sống quen thuộc của mình(vợn – một đối tợng; cây- môi trờng quen thuộc ), do đó grũ’’ ở đây khôngcòn mang nghĩa cụ thể nữa mà mang nghĩa là hậu quả xấu Từ đây có thể ápdụng vào vô số những ngữ cảnh nh: một con ngời xa quê hơng, xa gia đình,hay một nhóm ngời tách rời tập thể, cộng đồng, thậm chí một cái cây hay mộtcon vật bất kỳ tách khỏi môi trờng sống quen thuộc của nó,…Đặc biệt nghiên cứu tục ngữ từ góc nhìn ngữ nghĩa học sẽCũng chínhtrong những ngữ cảnh khác nhau này, mà bên cạnh hàm ý nhận xét kháchquan của bản thân tục ngữ, tùy thuộc vào thái độ của ngời nói hay mục đíchcủa cuộc giao tiếp còn có thể có nhiều hàm ý khác nhau nh: một lời cảnh báo,một lời khuyên răn, một lời cảm thán, một lời khẳng định, một lời oán trách tốcáo hay một lời chê trách Và do đó nghĩa của từ trong phát ngôn tục ngữ nàycũng biến đổi theo, không còn đợc nghĩa cũ, nghĩa gốc, nghĩa ban đầu nữa màmang nét nghĩa mới tơng ứng với từng ngữ cảnh cụ thể Chính ngữ cảnh tĩnh

đợc tạo bởi những hình ảnh gần gũi, quen thuộc đã giúp ngời tiếp nhận suyluận đợc ý nghĩa của nội dung

Nh vậy, ngữ cảnh có vai trò rất quan trọng đối với việc phân tích nghĩacủa từ và câu Ngữ cảnh không những giúp cho chủ thể tiếp nhận hiểu đúngnghĩa mà còn tạo những khả năng chế biến nghĩa một cách linh hoạt trên cơ sở

Trang 32

Phát ngôn : Một ngời hỏi g trời ma hay sao ấy nhỉ”, ngời kia có thể trả lời: g quá mù ra ma đấy’’ Nghĩa văn cảnh: sơng mù lớn, nớc tụ lại thành ma.

- Ngữ cảnh 2: Hai ngời to tiếng, càng lúc càng nặng lời dễ đánh nhau Phát ngôn: một ngời ngồi cạnh can ngăn g thôi đi kẻo lại quá mù ra ma

đấy ” Nghĩa văn cảnh: Cãi nhau gay gắt quá sẽ dễ dẫn tới đánh nhau.

- Ngữ cảnh 3: Một ngời ăn vạ, ngời kia chiều, đợc thế càng lấn đà thêm.

Phát ngôn: Một ngời can ngăn: đừng chiều nó nữa qua mù ra ma đấy Nghĩa văn cảnh: Càng chiều thêm thì sẽ càng làm vạ thêm.

Nh vậy tùy theo những đối tợng, hoàn cảnh khác nhau, phát ngôn tụcngữ có thể là một lời xác nhận, một lời cảm thán, một lời can ngăn, hay cũng

có thể là một lời khuyên răn, chỉ bảo

2.1.3 Quan hệ giữa các từ, các thành phần cấu tạo câu tục ngữ.

Quan hệ giữa các từ, các thành phần tham gia cấu tạo phát ngôn tụcngữ cũng là một nhân tố quan trọng chi phối đến nghĩa của từ trong tục ngữ ở

đây có hai cấp độ quan hệ đó là: quan hệ giữa các từ và quan hệ của cả phátngôn tục ngữ, cả hai cấp độ quan hệ này đều có tác dụng cụ thể hóa hoặc làmbiến đổi nghĩa của từ trong phát ngôn tục ngữ

Nghiên cứu quan hệ giữa các từ tức là nghiên cứu khả năng kết hợpgiữa các từ tạo thành câu và cũng nghiên cứu sự xuất hiện đồng thời của các từtrong lời nói Một từ trong sự kết hợp với các từ khác có thể bộc lộ những nétnghĩa mới không có trong hệ thống Qua đó mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các

từ cũng đợc bộc lộ và cũng từ đây có thể phat hiện những đặc điểm ý nghĩariêng của mỗi từ cũng nh đặc trng chung của một loạt từ

Ví dụ phát ngôn tục ngữ: Lấy chồng cho đáng tấm chồng, bõ công trang

điểm má hồng răng đen Từ gtấm” khi đợc dùng làm danh từ đơn vị thờng kết

hợp với những danh từ chỉ ngững vật có mặt phẳng, mỏng và dài hoặc những

vật nhỏ bé có hình dáng nguyên vẹn nh: tấm vải, tấm ảnh, đồng quà tấm bánh,

tức là những danh từ chỉ vật có thể cân, đong, đo, đếm đ

…Đặc biệt nghiên cứu tục ngữ từ góc nhìn ngữ nghĩa học sẽ ợc, ở đây gtấm” đợckết hợp trực tiếp với gchồng” là một kết hợp gmới” chính sự mới lạ này đã cấpcho gtấm” một nét nghĩa mới: thái độ trìu mến, trân trọng bên cạnh nét nghĩa

chỉ cá thể số ít Những danh từ chỉ đơn vị khác nh: miếng, nạm, bồ, vại, gáo,

cũng có khả năng kết hợp với những từ mới mẻ nh

…Đặc biệt nghiên cứu tục ngữ từ góc nhìn ngữ nghĩa học sẽ gtấm” tạo thành một néttrong đặc trng ngữ nghĩa của nhóm từ này

Trang 33

Bên cạnh đó nghĩa của từ còn chịu sự chi phối của một quan hệ lớn hơn

là quan hệ của phát ngôn tục ngữ Hầu hết các phát ngôn tục ngữ đều có quan

hệ Đề- Thuyết Đây là mối quan hệ về nghĩa giữa các vế hay các thành phầncủa phát ngôn tục ngữ Mối quan hệ này thể hiện rất đa dạng trong tục ngữqua những mối quan hệ logíc, những mối quan hệ về nghĩa khác nhau

Chẳng hạn: Đi một ngày đàng, học một sàng khôn thì ở phát ngôn tục ngữ này, xét về mặt chữ nghĩa, các từ đều khá rõ ràng Chỉ có từ đàng là hơi khó hiểu vì nó là từ địa phơng miền Trung và miền Nam với nghĩa là đờng Cái

khó của câu tục ngữ này là ở chỗ, các từ kết hợp với nhau tạo nên những đơn

vị định danh vừa cụ thể lại vừa rất trừu tợng Ngày đàng vừa có ý nghĩa không gian vừa có ý nghĩa thời gian Khi ngày đàng kết hợp với từ chỉ số lợng chỉ một tạo thành chỉnh thể một ngày đàng vẫn không tạo nên một đại lợng cụ thể,

dễ nắm bắt đợc Tuy nhiên cả vế thứ nhất đi một ngày đàng cũng đã toát lên cái ý: gcó sự ra đi trong một khoảng thời gian và không gian nhất định dù là ngắn’’ Đây là tiền đề, là cơ sở để tạo nên kết quả học một sàng khôn Trong

sự đối ứng với vế thứ nhất, đi một ngày đàng thì vế thứ hai học một sàng khôn hàm chỉ kết quả học hỏi, thu nhận đợc rất lớn Sàng khôn trong câu tục ngữ

này có tính biểu trng và tạo nên những liên tởng rất lý thú Dân gian hay dùng

sàng với nghĩa đen chỉ một loại đồ đan bằng tre, hình tròn, nông và tha có tác

dụng làm sạch true và tấm cho gạo, để làm danh từ chỉ đơn vị Đơn vị đợc

đong, đo, đếm bằng sàng trong dân gian là lớn và nhiều Vậy học một sàng khôn là học đợc nhiều cái hay, cái tốt của thiên hạ để cho mình lớn hơn, hiểu

biết về cuộc sống xã hội Hai vế của phát ngôn tục ngữ đợc hỗ trợ của phép

đối và điệp dễ gây liên tởng có tính khẳng định: hễ cứ đi ra là có thể đợc nhiều

điều hay lẽ phải và càng đi nhiều thì càng khôn lớn trởng thành Đó là thông

điệp của cha ông gửi lại cho đời sau

Gần với phát ngôn tục ngữ : Đi một ngày đàng, học một sàng khôn về cả

ph-ơng diện cấu tạo và ý nghĩa là phát ngôn tục ngữ : Đi một buổi chợ, học một mớ khôn Phát ngôn tục ngữ này khuyên bảo ngời đời cần phải tiếp xúc nhiều ngời,

càng tiếp xúc nhiều, càng học hỏi đợc nhiều, và do đó càng hiểu biết, khôn lớn trongcuộc sống

Cũng có khi do quan hệ giữa hai vế mà vế này gép” vế kia phải tơng đồng

về ý nghĩa và về từ loại

Ví dụ phát ngôn: Đi đêm lắm có ngày gặp ma Do áp lực quan hệ giữa hai vế: đi đêm lắm / có ngày gặp ma nên từ đêmg ” trong vế đầu buộc vế sau phải

Trang 34

lựa chọn từ gngày” mà không phải là gkhi , lúc , bữa , ”, “lúc”, “bữa”, “lúc”, “bữa”, ”, “lúc”, “bữa”, “lúc”, “bữa”, ”, “lúc”, “bữa”, buổi , “lúc”, “bữa”, ”, “lúc”, “bữa”, …),bởi vì để tạo một quan hệ đối lập thì cặp từ đêm- ngày là rõ nhất, và do đó hiệu lực của

quan hệ trở nên mạnh nhất

Nh vậy khi nghiên cứu đến nghĩa của từ trong tục ngữ chúng ta cần phảichú ý đến các nhân tố: ngữ cảnh và quan hệ giữa các từ, các thành phần cấutạo câu tục ngữ Đây là hai nhân tố chủ yếu tác động đến nghĩa của động từtrong tục ngữ

2.1.4 Chiếu vật và định vị vai nói trong tục ngữ

Tục ngữ nh chúng ta đã nói, đó là những nhận xét, phán đoán và kết luận

về các hiện tợng tự nhiên, xã hội và đời sống con ngời Xét nội dung của đại

bộ phận các phát ngôn tục ngữ, có thể thấy những nhận xét, phán đoán, kếtluận ấy trớc hết là kết quả sự quan sát của nhân dân lao động để hiểu biết, đểnắm đợc những đặc điểm phổ biến có tính lặp đi lặp lại của các hiện tợng tựnhiên, xã hội và đời sống con ngời Nên khi sử dụng tục ngữ ngời nói luôn đặttrong hệ quy chiếu nhất định, nếu không thì chúng ta không thể giải mã đợctục ngữ

Khái niệm hệ quy chiếu có liên quan đến khái niệm chiếu vật Chiếu vật

đợc dùng để chỉ gphơng tiện mà nhờ đó ngời nói phát ra một biểu thức ngôn ngữ, với biểu thức này ngời nói nghĩ rằng nó sẽ giúp ngời nghe suy ra một cách đúng với thực thể nào, quan hệ nào, sự kiện nào mà anh ta dám nói

đến”, “lúc”, “bữa”,(G.Gren) Còn phơng thức chiếu vật là g cách thức con ngời sử dụng hành vi chiếu vật (tên riêng, miêu tả xác định, dùng từ chỉ xuất) chỉ xuất là phơng thức chiếu vật bằng ngôn ngữ dựa trên hành động chỉ trỏ” [4, 72].

Biểu thức chiếu vật là cái neo mà ngời nói thổi vào đó hiện thực đề tài (hiệnthực đợc nói đến để gắn phát ngôn với hiện thực đề tài ấy), nếu không có cáineo này sẽ không nắm đợc cái nghĩa chiếu vật

Chẳng hạn: Nói hay hơn hay nói; Ăn bớt bát, nói bớt lời; Uốn lỡi bảy lần trớc khi nói; Ăn có nhai, nói có nghĩ Những phát ngôn này đợc đặt trong hệ

quy chiếu thể hiện những hiểu biết của con ngời về nguyên tắc sử dụng lờinói

Hay các phát ngôn: Nói ngọt lọt đến xơng; Miếng ngon nhớ lâu, đòn

đau nhớ đời Đợc đặt trong hệ quy chiếu thể hiện nguyên tắc đánh giá lời nói.

Hay: Nói nên mà ở chẳng nên, quang rơm gánh đá sao bền bằng mây; Nói thì nh mây nh gió, cho thì thằng mõ không xong đợc đặt trong hệ quy

chiếu thể hiện nguyên tắc đánh giá nhân cách qua con ngời qua lời nói

Trang 35

Nói thì dễ, làm thì khó; Giúp lời không ai giúp của, giúp đũa không ai giúp cơm đặt trong hệ quy chiếu thể hiện nguyên tắc quan hệ giữa lời nói và việc

làm

Trong tục ngữ, vai nói đa ra phát ngôn A nhằm tác động gây một hiệuquả đến ngời nghe B Nh vậy hình thức phát ngôn tục ngữ thuộc nhóm phátngôn miêu tả nhng hiệu lực lại gián tiếp tác động đến cách thức để ứng xử

Đây là điểm khác nhau giữa một phát ngôn miêu tả bình thờng và phát ngônmiêu tả đặc biệt là tục ngữ Chính mục đích tác động gián tiếp của tục ngữ mà,mặc dù tục ngữ ra đời sớm, đợc sử dụng trong sản xuất, trong đời sống thờngnhật vào một thời điểm nhất định, nhng cho đến nay vào thời điểm nào, mộtkhông gian giao tiếp nào chúng ta cũng có thể vận dụng đợc tục ngữ Trừ một

số ít phát ngôn có phần cũ, lỗi thời, không phù hợp, phần đa vẫn còn nguyêngiá trị Chúng không hề glạc hậu’’ nh một số phát ngôn thông thờng kháctrong cuộc sống Bởi hiệu quả nhận thức của một phát ngôn tục ngữ thờng gắnliền với kinh nghiệm sống, đặc điểm văn hóa của mỗi dân tộc, đợc cộng đồngthừa nhận, lâu dần chúng tạo thành các nguyên tắc

2.2 Ngữ nghĩa của nhóm động từ làm, nói, đi, lấy mở đầu phát ngôn

trong tục ngữ

2.2.1 Ngữ nghĩa của động từ làm mở đầu phát ngôn trong tục ngữ

2.2.1.1 Về nghĩa của động từ làm trong tiếng Việt “lúc”, “bữa”, ”, “lúc”, “bữa”,

Theo gTừ điển tiếng Việt’’ do Hoàng Phê chủ biên, động từ làm có 12

nghĩa sau đây:

1 Dùng công sức tạo ra cái trớc đó không có Làm nhà Chim làm tổ Làm cơm Làm thí nghiệm Làm thơ.

2 Dùng công sức vào những việc nhất định, để đổi lấy những gì cần thiết cho cuộc sống, nói chung Làm ở nhà máy Đến giờ đi làm Có việc làm ổn định Tay làm hàm nhai(tng).

3 Dùng công sức vào những việc thuộc một nghề nào đó để sinh sống, nói chung Về quê làm ruộng Làm nghề dạy học Làm thầy thuốc.

4 Dùng công sức vào những việc, có thể rất khác nhau, nhằm một mục

đích nhất định nào đó Việc đáng làm Dám nghĩ dám làm Làm cách mạng Làm nên sự nghiệp

5 Tổ chức, tiến hành một việc có tính chất trọng thể Làm lễ khánh thành Làm lễ chào cờ Làm đám cới

Trang 36

6 Từ biểu đạt một hành vi thuộc sinh hoạt hàng ngày, nh ăn uống, nghỉ

ngơi, giải trí, mà nội dung cụ thể tùy theo nghĩa của bổ ngữ đứng

sau Làm mấy cốc bia Làm một giấc đến sáng Làm vài ván cờ.

7 Làm những việc thuộc nhiệm vụ hoặc quyền hạn gắn với một t cách,

địa vị, chức vụ nào đó, nói chung Làm mẹ Làm dâu Làm chủ Làm chủ tịch hội nghị.

8 Có tác dụng hoặc dùng nh là, coi nh là Làm gơng cho mọi ngời Trồng làm cảnh Chiếm làm của riêng Lấy đêm làm ngày Câu chuyện làm quà.

9 Là nguyên nhân trực tiếp gây ra, tạo ra Bão làm đổ cây Làm hỏng việc Làm vui lòng Làm khó dễ.

10 Tự tạo cho mình một dáng vẻ nh thế nào đó trong một hoàn cảnh

ứng xử cụ thể Làm ra vẻ thông thạo Làm nh không quen biết Làm ngơ Làm duyên làm dáng.

11 (dùng sau một động từ) Từ biểu thị kết quả, đơn thuần về mặt số

l-ợng, của một hoạt động phân hay gộp thành Tách làm đôi Chia làm nhiều đợt Gộp chung lại.

12 Giết và sử dụng làm thức ăn Làm lợn Làm vài con gà đãi khách

[33, 538]

2.2.1.2 Về sự tồn tại của động từ làm trong tục ngữg ”

Trong Kho tàng tục ngữ ngời Việt [16a] có một số động từ đợc xuất hiện

với tần số cao trong các ngữ cảnh lời nói mở đầu phát ngôn, trong đó có động

từ làm Đây là một động từ có những đặc thù riêng về khả năng kết hợp, vềngữ nghĩa, phản ánh nét văn hóa tri nhận của ngời Việt Sau đây chúng tôi đisâu tìm hiểu những nét đặc trng riêng dó Trong t liệu mà chúng tôi khảo sát,

động từ làm mở đầu phát ngôn chiếm số lợng 252 phát ngôn, chỉ đứng sau

động từ ăn (486 phát ngôn), động từ có (347 phát ngôn).

2.2.1.3 Các nhóm nghĩa của phát ngôn tục ngữ có động từ làm đứng đầu g ”

a, Động từ làm đg ” ợc dùng với nghĩa nêu lên cách nhìn nhận, đánh giá

về con ngời

a1, Trớc hết ngời Việt từ xa đã chỉ ra vai trò trách nhiệm của ngời anh,ngời chị trong gia đình một cách đầy đủ và rõ ràng Trong xã hội cổ truyềncủa ngời Việt, ngời làm anh, làm chị phải là những ngời biết nhờng nhịn, độ l-ợng, rộng rãi, đàng hoàng Điều này đã đợc đúc rút, trở thành một truyền

thống : Làm anh, ăn trớc bớc đầu, vẽ vời em út ngõ hầu thay cha; Làm anh

Trang 37

làm ả phải ngã mặt lên; Làm anh làm ả phải nhả miếng ăn; Làm chị phải lành, làm anh phải khó Ngời làm anh, làm chị trong gia đình của chúng ta ở

mọi thế hệ luôn là những con ngời không chỉ biết nhờng nhịn cho em, nhận vềmình điều thiệt mà còn phải là ngời xứng đáng thay cha, thay mẹ bày vẽ cho

em út những điều hơn lẽ thiệt trong cuộc sống

a2, Quan niệm đánh giá về ngời con trai trong xã hội Theo quan niệmcủa ngời xa thì ngời con trai phải là ngời biết thởng thức những thú vui nh

đánh tổ tôm, uống chè, đọc Truyện Kiều: Làm trai biết đánh tổ tôm, uống chè

thái, xem nôm Thúy Kiều Đánh tổ tôm, uống chè ngon và đọc truyện Kiều từ

nguyên bản chữ Nôm là những thú vui mà ngời đàn ông xa rất ham thích, đợcxem nh là cái thú của ngời đàn ông lịch lãm, biết chơi bời, thởng thức

Ngời đàn ông phải là ngời giỏi đủ mọi thứ nghề: Làm trai bách nghệ cho tinh Đây cũng là một tiêu chí để ngời xa nhìn nhận, đánh giá về ngời đàn

ông trong xã hội

Làm trai phải nuôi chí bền, lấy việc lập công danh sự nghiệp đặt lên

hàng đầu, chuyện lấy vợ sinh con xếp hàng thứ sau: Làm trai ở chí cho bền,

đừng lo muộn vợ chớ phiền muộn con

Làm trai trong xã hội xa là phải đi khắp đây đó mở rộng đợc tầm hiểu

biết đồng thời làm đợc nhiều việc có ích, đợc mở mày mở mặt với thiên hạ :

Làm trai cho đáng nên trai, Phú Xuân đã trải, Đồng Nai đã từng; Làm trai có chí lập thân, rồi ra gặp hội phong vân có ngày; Làm trai đã đáng nên trai,

đánh Đông Đông tĩnh, đánh Đoài Đoài tan.

Cũng theo quan niệm của ngời xa, làm trai thì phải tự dựa vào sức mình

để làm nên cuộc sống, chủ động trong mọi việc làm để không phải lệ thuộc,dựa vào bất cứ một sự thuận lợi nào Trong quan niệm của ngời xa thì việc ng-

ời đàn ông cấy ruộng Phật (ruộng không mất thuế), hay cờ bạc, mang nợ làng

sẽ bị xem thờng : Làm trai chớ chống đò ngang, đừng cấy ruộng Phật, chớ mang nợ làng; Làm trai cờ bạc thì chừa; Làm trai mà chẳng biết suy, đến khi nghĩ lại còn gì là thân

Quan niệm về việc lấy vợ của ngời đàn ông trong xã hội cổ truyền:

Làm trai lấy vợ bé, nhà giàu tậu nghé hoa Vợ bé – vợ hai; nghé hoa- con

trâu con xinh đẹp Theo quan niệm cũ thì có vợ hai mới xứng tài trai và điều

đó đợc so sánh với việc nhà giàu thì phải có nghé hoa – nếu cha có nghé hoathì cha đợc đánh giá là nhà giàu Hay quan niệm ngời đàn ông chọn đợc vợhiền, vợ đảm đang trong gia đình đợc so sánh với việc có đồng tiền trong tay

Trang 38

mà mua đợc miếng ngon : Làm trai lấy đợc vợ hiền, nh cầm đồng tiền mua

đ-ợc miếng ngon Quan niệm này không chỉ đúng trong xã hội cổ truyền mà

ngay cả hôm nay và cho cả bao thế hệ sau; bởi chọn đợc ngời vợ hiền, vợ đảm

là điều mà ngời đàn ông trong mọi thế hệ luôn muốn hớng đến

a3, Quan niệm đánh giá về con ngời nói chung trong xã hội, ngời Việt

xa đã từng có những quan niệm về con ngời rất tinh tế và sắc sảo : đã làm ngờithì phải biết suy xét, cân nhắc để luôn chủ động trớc mọi việc trong cuộc sống

: Làm ngời ai nỏ dại chi, khúc sông eo hẹp phải tùy khúc sông; Làm ngời ăn tối lo mai, việc mình hồ dễ để ai lo cùng; Làm ngời có thân có lo; Làm ngời phải biết đắn đo, phải cân nặng nhẹ phải dò nông sâu; Làm ngời phải suy chín xét xa, cho tờng gốc ngọn, cho ra vắn dài…), những quan niệm ấy cho đến

bây giờ vẫn còn nguyên giá trị

a4, Quan niệm về cách ứng xử của con ngời thể hiện qua động từ làm: Làm ác kiếp sau chịu tội; Làm ơn đừng làm oán; Làm ơn đợc nên ơn; Làm ơn nên thoảng nh không, chịu ơn nên tạc vào lòng chớ quên; Làm phải trông tr-

ớc trông sau; Làm phúc cứu một ngời dơng gian bằng cứu ngàn ngời âm phủ; Làm phúc đợc phúc, làm ơn đợc ơn; Làm phúc không cầu đợc phúc.

Đây là những phát ngôn tục ngữ tác động đến nhận thức ngời nghe, từ

đó muốn ngời nghe trong cuộc sống hãy luôn luôn cố gắng làm những điều tốt

đẹp cho mọi ngời xung quanh Làm phúc, làm ơn cho ngời nhng đừng chờ đợi

sự trả ơn, mà hãy xem đó nh là một việc làm thông thờng, nhẹ nhàng Nhngngợc lại nếu chịu ơn ngời thì nên ghi tạc vào lòng, chớ có quên

Bên cạnh đó ngời Việt từ xa đã nhận thấy đợc rằng không phải lúc nàocũng đợc nh vậy, bởi trong cuộc sống quan hệ giữa ngời và ngời là mối quan

hệ rất phức tạp, không ít ngời đã gặp những hoàn cảnh thật trớ trêu nh đã ratay làm phúc cho ngời rồi nhng hậu quả lại không những không đợc ngời chịu

ơn mà còn mang họa, mang khổ vào thân: Làm phúc phải tội Hay kiểu nh: Làm phúc quá tay ăn mày không kịp Phát ngôn này ý nói không nên quá hào

phóng trong việc giúp đỡ, cu mang ngời

Thông qua những phát ngôn tục ngữ này ngời nói muốn tác động đến nhậnthức của ngời nghe và hớng ngời nghe đi đến những sự chọn ứng xử trongcuộc sống cho hợp lý

a5, Động từ làm còn đợc sử dụng với nội dung chê bai những kẻ lời

biếng trong lao động: Làm biếng dõng xơng; Làm biếng lấy miệng che thân;

Làm biếng phải thì; Làm chẳng bằng ai, ngủ thì nh chết; Làm chẳng nên

Ngày đăng: 21/12/2013, 12:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (1998), Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản và liên kết trong tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
2. Diệp Quang Ban (2002), Ngữ pháp tiếng Việt, Tập 1,2, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
3. Lê Biên (1995), Từ loại tiếng Việt hiện đại, NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Lê Biên
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 1995
4. Đỗ Hữu Châu (2002), Đại cơng ngôn ngữ học, Tập 2, NXB Giáo dục, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cơng ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
5. Đỗ Hữu Châu (1996), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB ĐHQG, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB ĐHQG
Năm: 1996
6. Chu Xuân Diên (1993), Lơng Văn Đang, Phơng Tri, Tục ngữ Việt Nam, NXB KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ Việt Nam
Tác giả: Chu Xuân Diên
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1993
7. Vũ Dung, Vũ Thúy Anh, Vũ Quang Hào (2000), Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, NXB Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam
Tác giả: Vũ Dung, Vũ Thúy Anh, Vũ Quang Hào
Nhà XB: NXB Văn hóa
Năm: 2000
8. Phạm Đức Dơng (2000), Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam á, NXB KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam "á
Tác giả: Phạm Đức Dơng
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 2000
9. David Nunan (1997), Dẫn nhập phân tích diễn ngôn, NXB Giáo dục, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn nhập phân tích diễn ngôn
Tác giả: David Nunan
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
10. Phan Thị Đào (1997), Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam
Tác giả: Phan Thị Đào
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
12. Hoàng Văn Hành (1980), Tục ngữ trong cách nhìn của ngữ nghĩa học, TC Ngôn ngữ số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ trong cách nhìn của ngữ nghĩa học
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Năm: 1980
13. Nguyễn Thái Hòa (1997), Tục ngữ Việt Nam, cấu trúc và thi pháp, NXB giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ Việt Nam, cấu trúc và thi pháp
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 1997
14. Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên (1973), Lịch sử văn học Việt Nam- Văn học dân gian, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn học Việt Nam- Văn học dân gian
Tác giả: Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1973
15. Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn (1998), Văn học dân gian, NXB Giáo dục, Hà Nội.16. NguyÔn Xu©n KÝnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian
Tác giả: Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
17. Đinh Trọng Lạc (1994), Phong cách học văn bản, NXB Giáo dục, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học văn bản
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1994
18. Nguyễn Lân (1997), Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam , NXB KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Lân
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1997
19. Đỗ Thị Kim Liên (1999), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Thị Kim Liên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
20. Đỗ Thị Kim Liên (2002), Ngữ nghĩa của sự kết hợp có số từ chỉ lợng Mét trong tôc ng÷,“ ” TC Ngôn ngữ số 15, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa của sự kết hợp có số từ chỉ lợng Mét trong tôc ng÷,"“
Tác giả: Đỗ Thị Kim Liên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
21. Đỗ Thị Kim Liên (2006), Tục ngữ Việt Nam dới góc nhìn ngữ nghĩa- ngữ dụng, NXB ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ Việt Nam dới góc nhìn ngữ nghĩa- ngữ dụng
Tác giả: Đỗ Thị Kim Liên
Nhà XB: NXB ĐHQG
Năm: 2006
22. Đỗ Thị Kim Liên (1999), Ngữ nghĩa lời hội thoại, NXB Giáo dục, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa lời hội thoại
Tác giả: Đỗ Thị Kim Liên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w