từ mục đích này chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài "Nghiên cứu một số chỉ số sinh lý, thể lực và các bệnh thường gặp ở người cao tuổi một số vùng thuộc tỉnh Thanh Hóa".2.. - Giai đoạn
Trang 1Để hoàn thành luận văn này, tôi đã được sự giúp đỡ nhiệt tình củanhiều người Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn vô cùng sâu sắc tới PGS.TS.Nghiêm Xuân Thăng, người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quátrình xây dựng đề cương đến khi tổ chức triển khai nghiên cứu, thu thập sốliệu, xử lý và trình bày báo cáo kết quả.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng đào tạo sau Đại học,Khoa sinh học, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành mục tiêu họctập về luận văn của mình
Tôi xin gửi lời chân thành cảm ơn tới UBND phường Ba Đình, phườngTrường Thi thành phố Thanh Hóa, UBND xã Hoằng Phụ, Hoằng Đông huyệnHoằng, Trung tâm điều dưỡng và phục hồi chức năng Trung ương Sầm Sơn
Cho tôi gửi lời cảm ơn tới bạn bè, gia đình đã động viên chia sẻ, giúp
đỡ, khích lệ tôi hoàn thành luận văn này
Vinh, tháng 12-2010
Trang 2MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI CAO TUỔI 4
1.1.1 Quá trình lão hoá 4
1.1.1.1 Sơ lược sự phân định các thời kỳ phát triển theo tuổi 4
1.1.1.2 Khái niệm về lão hoá 6
1.1.1.3 Lão hoá một số hệ cơ quan 6
1.1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới lão hoá 7
1.2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU NGƯỜI CAO TUỔI TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM .9
1.2.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU NGƯỜI CAO TUỔI TRÊN THẾ GIỚI 9
1.2.1.1 Người cao tuổi trên thế giới 9
1.2.1.2 Tình hình nghiên cứu người cao tuổi trên thế giới 10
1.2.2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU NGƯỜI CAO TUỔI Ở VIỆT NAM .14
1.2.2.1 Người cao tuổi ở Việt Nam 14
1.2.2.2 Tình hình nghiên cứu người cao tuổi ở Việt Nam 15
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 19
2.1.1 Thời gian nghiên cứu 19
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 19
2.1.3 Đối tượng nghiên cứu 20
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.2.1 Phương pháp chọn mẫu, cỡ mẫu trong nghiên cứu 20
2.2.2 Phương pháp đo chiều cao đứng và cân trọng lượng 21
2.2.3 Phương pháp đo vòng ngực bình thường 22
Trang 3do Nhật Bản sản xuất .22
2.2.6 Phương pháp đo tần số tim, huyết áp tối đa và huyết áp tối thiểu 23
2.2.7 Phương pháp test 23
2.2.8 Xử lý kết quả nghiên cứu .23
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 25
3.1 THỰC TRẠNG NCT Ở THANH HOÁ VÀ VÙNG NGHIÊN CỨU 25
3.1.1 Người cao tuổi ở Thanh Hoá 25
3.1.2 NCT ở các địa bàn nghiên cứu 25
3.2 CÁC CHỈ SỐ HÌNH THÁI Ở NCT VÙNG NGHIÊN CỨU 26
3.2.1 Chiều cao đứng trung bình của ĐTNC 26
3.2.2 Cân nặng trung bình của ĐTNC 31
3.2.3 Vòng ngực trung bình của ĐTNC 37
3.2.4 Chỉ số Pignet trung bình của ĐTNC 39
3.2.5 Chỉ số BMI trung bình của ĐTNC 42
3.3 CÁC CHỈ SỐ SINH LÝ Ở NCT VÙNG NGHIÊN CỨU 44
3.3.1 Tần số thở TB của ĐTNC 44
3.3.2 Dung tích sống (VC) trung bình của ĐTNC 48
3.3.3 Tần số tim trung bình của ĐTNC 52
3.3.4 Huyết áp tối đa, tối thiểu trung bình của ĐTNC 56
3.3.4.1 HA tối đa TB của ĐTNC 56
3.3.4.2 Huyết áp tối thiểu trung bình của ĐTNC 60
3.4 CÁC BỆNH THƯỜNG GẶP Ở ĐTNC 64
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85
I KẾT LUẬN 85
II KIẾN NGHỊ 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 4MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nửa cuối thế kỉ XX và đầu thế kỉ XXI già hoá dân số diễn ra một cách
nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu Trên thế giới năm 1950 chỉ có 214 triệuNCT ( 60), đến năm 1975 đã là 346 triệu, năm 2000 có 600 triệu người, dựđoán gần 2 tỷ NCT vào năm 2025 Các nước đang phát triển sẽ là nơi có tỷ lệNCT tăng cao nhất và nhanh nhất Theo dự báo số NCT ở khu vực này sẽtăng gấp 4 lần trong vòng 50 năm tới Vấn đề này đang làm nảy sinh nhữngkhó khăn nghiêm trọng về các khía cạnh kinh tế-xã hội và y tế.Trước tìnhhình đó cần sự quan tâm của quốc gia, xã hội và giáo dục đến NCT [11]Theo kết quả tổng điều tra dân số ngày 01/04/1999 Việt Nam có76.327.900 người, trong đó số người già ( 60) là 6.199.600 người chiếm8,2% tổng dân số Tuy nhiên, theo kết quả từ các cuộc điều tra nghiên cứuthực tế, trong mấy năm gần đây, tỷ lệ người cao tuổi Việt Nam đang có xuhướng tăng nhanh Năm 2008 thế giới có khoảng 600 triệu người cao tuổi,chiếm 10% dân số toàn cầu Năm 2005, cả nước có 7,4 triệu người cao tuổi,tương đương 9% dân số Năm 2008 Việt Nam có khoảng 8,2 triệu người caotuổi, chiếm 9,2% dân số, đến nay tỉ lệ này là 9,45% và có xu hướng tăng lêntrên 16,8% vào năm 2020 [11]
Sự lão hoá vây bọc tất cả các cơ quan và hệ thống của cơ thể cả về hìnhthái lẫn chức năng Lão hoá có nhiều biểu hiện ở mức phân tử, mức tế bào,mô,cơ quan và ở hệ thống cơ quan Dưới góc độ sinh lý, lão hoá là sự suygiảm dần theo năm tháng của hiệu lực, của chức năng duy trì sự sống
Con người ở giai đoạn suy thái thì hầu hết mọi chức năng đều từ từ giảmdần hiệu lực: tim bơm ít máu dần, phổi lấy oxi không bằng trước, men tiêuhoá giảm hoạt độ, lực cơ yếu dần, xung thần kinh kém dần, phản xạ kémnhạy
Trang 5Sự lão hoá chịu ảnh hưởng của hệ gien (chương trình đã định sẵn chomỗi loài, mỗi cá thể ), đồng thời chịu ảnh hưởng rất lớn của môi trường sống Giữa lão hoá và bệnh tật có mối quan hệ mật thiết với nhau - những cănbệnh này chủ yếu xuất hiện ở giai đoạn suy thoái Già không phải là bệnhnhưng tạo điều kiện cho bệnh phát sinh và phat triển NCT thường mắc nhiềubệnh nhất là bệnh mãn tính và khả năng phục hồi bệnh ở NCT kém Trong độtuổi 60 - 69 có 40,2% số người có từ 4 đến 5 bệnh Còn ở độ tuổi 75 có đến65.9% số người mắc trên 5 bệnh Kết quả điều tra dịch tễ tại Việt Nam chothấy một người già trung bình mắc 2,69 loại bệnh, ở độ tuổi 60 - 74 là 2,56bệnh, trên 75 tuổi là 3,05 bệnh Điều quan trọng là bệnh tật làm hạn chế hoạtđộng sống hàng ngày của NCT [56] Vì vậy, "Sống vui, sống khỏe, sống cóích" là điều mà bất cứ người cao tuổi nào và con cháu của họ mong muốn.Chương trình hành động quốc tế về người cao tuổi 2002 kêu gọi mọingười thay đổi về thái độ, chính sách và tập quán ở tất cả các cấp trong mọilĩnh cực để tiềm năng to lớn của người cao tuổi được phát huy trong thế kỷXXI và lấy ngày 1/10 làm ngày "Quốc tế người cao tuổi" [8]
Nhằm giúp NCT thấy rõ tình hình sức khỏe của mình, các nghiên cứu vềthể lực, sinh lý, bệnh thường gặp đã được triển khai ở nhiều vùng miền trong
cả nước đã góp phần làm sáng tỏ một số chỉ số của NCT ở các nhóm tuổikhác nhau, qua đó cung cấp cơ sở cho việc xây dựng chính sách chăm sóc củaĐảng, Nhà nước ta ngày càng tốt hơn
Thanh Hóa là một trong những tỉnh đất rộng, người đông, dân số gần 3,9triệu người, tỷ lệ người NCT chiếm khoảng 12,8% trở thành tỉnh già hóa dân
số [54] Trong khi điều kiện kinh tế còn rất khó khăn Số NCT được chămsóc còn quá thấp lại chưa đáp ứng được nhu cầu tối thiểu của họ Các nghiêncứu về NCT nói chung và về sức khỏe của NCT nói riêng ở Thanh Hóa chođến nay còn rất ít
Vì vậy, nghiên cứu các chỉ số thể lực, sinh lý và điều tra các bệnh ở NCT
để đánh giá hiệu quả, phòng và điều trị các bệnh là điều cần thiết Xuất phát
Trang 6từ mục đích này chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài "Nghiên cứu một số chỉ số sinh lý, thể lực và các bệnh thường gặp ở người cao tuổi một số vùng thuộc tỉnh Thanh Hóa".
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2.1 Đánh giá thực trạng về một số chỉ tiêu thể lực, sinh lý và bệnhthường gặp ở người cao tuổi trên hai phường Trường Thi, Ba Đình và các xãHoằng Phụ, Hoằng Đông - Hoằng Hóa - Thanh Hóa
2.2 Tìm hiểu nguyên nhân và bước đầu tìm ra phương pháp khắc phụctình trạng trên nhằm tăng cường sức khỏe, hạn chế bệnh do lão hóa ở ngườicao tuổi
3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.1 Thực trạng thống kê về số lượng và tỷ lệ người cao tuổi trên địa bànnghiên cứu
3.2 Nghiên cứu một số chỉ số thể lực: Chiều cao, cân nặng, vòng ngực,chỉ số BMI, chỉ số Pignet ở người cao tuổi
3.3 Nghiên cứu một số chỉ số sinh lý ở người cao tuổi: Tần số tim, tần sốthở, dung tích sống, huyết áp tối đa, huyết áp tối thiểu
3.4 Nghiên cứu một số bệnh thường gặp ở người cao tuổi: Bệnh timmạch, bệnh hô hấp, bệnh xương khớp, bệnh thần kinh, bệnh suy giảm thị lực,bệnh đường tiêu hóa và bệnh do vết thương cũ tái phát
Trang 7Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI CAO TUỔI
Theo quy ước chung của Liên hợp quốc và theo pháp lệnh người cao tuổi
Việt Nam: Người cao tuổi là những người từ 60 tuổi trở lên và được chia
thành 3 nhóm:
- Nhóm các cụ còn năng động: là những người có độ tuổi 60 - 69
- Nhóm trung bình: là những người có độ tuổi 70 - 79
- Nhóm rất già: là những người từ 80 tuổi trở lên
Sự phân chia này không mang tính bắt buộc và chặt chẽ vì về phươngdiện này đánh giá tuổi sinh học chính xác hơn tuổi hành chính Tuy nhiên,cách phân chia đại cương như vậy có tính thực tiễn, dễ áp dụng [5]
1.1.1 Quá trình lão hoá
1.1.1.1 Sơ lược sự phân định các thời kỳ phát triển theo tuổi
Quá trính sống của con người cũng tuân theo quy luật chung của mọisinh vật Quá trình này gồm nhiều giai đoạn khác nhau và là mốc lịch sử hấpdẫn của sự sống [40]
Có nhiều cách phân định thời kỳ phát triển cá thể:
Lần đầu tiên, Haeckel (1866) đưa ra thuật ngữ "phát triển cá thể" để biểuthị thời kỳ phát triển của bào thai Từ đó định luật phát sinh học được hìnhthành Sau này khái niệm "phát triển cá thể" được coi là toàn bộ quá trình biếnđổi liên tục của cơ thể từ lúc trứng được thụ tinh cho đến khi già và chết [63] Công thức chung nhất của sự phân định các thời kỳ phát triển cá thể củađộng vật có vú nói chung và của con người nói riêng đã được Nagorui đưa ratrong những năm 60 của thế kỷ XX Toàn bộ chu trình phát triển cá thể đượccác tác giả chia ra hai thời kỳ: Trước và sau khi sinh Sự phát triển sau khisinh lại được chia làm ba thời kỳ lớn: Thời kỳ tăng trưởng, thời kỳ trưởngthành và thời kỳ lão hóa [63]
- Giai đoạn ổn định: Là thời kỳ tăng lớp mỡ, tăng cân, các chỉ số sinh lý
đi vào ổn định
Trang 8- Giai đoạn suy thoái: Trọng lượng thân thể giảm, giảm các chỉ số chứcnăng, da thay đổi, thay đổi tư thế (diện mạo), tốc độ chuyển động cũng thay đổi.Theo TS Đoàn Yên và nhiều nhà nghiên cứu khác, đối với các nghiêncứu về mặt hình thái, sinh lý, hướng đến tính liên tục của các giai đoạn thuộc
sự sống của con người từ lúc sinh ra cho đến lúc rất già thì sự phân định cácthời kì phát triển cá thể của con người tại Hội nghị lần thứ 7 toàn Liên bang
về hình thái, sinh lý, hoá sinh theo lứa tuổi của Viện Hàn lâm Sư phạm Liên
Xô tại Mat-xcơ-va (1965) (Bảng 1) là phù hợp Sơ đồ này cho thấy khả năngứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực: Nhân chủng, sinh lý học, nhi khoa, sưphạm Cách phân định thời kỳ này đã nêu lên được tính quy luật của sự hìnhthành cơ thể, nhân cách, các đặc điểm về chức năng của con người; ngoài racòn đề cập đến nhân tố xã hội [63]
Bảng 1.1: Sơ đồ phân định các thời kỳ theo lứa tuổi trong quá trình phát
triển cá thể con người - được thông qua tại Hội nghị lần thứ 7 toàn Liên Bang
về hình thái, sinh lý, hóa sinh theo lứa tuổi của Viện Hàn lam Sư phạm Liên
Xô tại Mat-xcơ-va (1965) [63]
4 Thời thơ ấu thứ nhất 4 - 7 tuổi
5 Thời thơ ấu thứ hai 8 - 12 tuổi với nam
Tuổi trưởng thành
Thời kỳ I 22- 35 tuổi với nam
36 - 55 tuổi với nữThời kỳ II 36 - 60 tuổi với nam
36 - 55 tuổi với nữ
56 - 74 tuổi với nữ
Trang 91.1.1.2 Khái niệm về lão hoá
Lão hoá là một quá trình biến đổi sinh học mang tính quy luật Nhữngbiến đổi theo tuổi đưa đến hạn chế dần khả năng thích nghi của cơ thể Già làgiai đoạn cuối cùng của sự phát triển, là kết qua của sự lão hoá [67]
Lão hoá là quá trình huỷ hoại, kết quả của tác động gây tổn thươngkhông ngừng theo tuổi bởi các yếu tố ngoại sinh và nội tại, dẫn tới suy yếucác chức năng sinh lí của cơ thể
Trên mỗi nấc của phát triển cá thể, các quá trình sống được chương trìnhhoá, lão hoá và kết cục của sự sống là cái chết cũng được chương trình hoánhư vậy [56]
1.1.1.3 Lão hoá một số hệ cơ quan
- Lão hoá hệ xương và cơ: Lực cơ giảm từ từ sau 25-30 tuổi cho đến
già, đó là hiện tượng giảm hiệu lực chức năng đặc trưng của mọi quá trình lãohoá Các nhóm cơ khác nhau và các thông số khác nhau của một chức năng
lão hoá cũng không cùng lúc [21]
Trên người cao tuổi còn thấy sự thay đổi các mức năng lượng cơ xương.Hoạt tính các enzym phân giải glucoza giảm nhiều hơn các enzym oxydaza
Sự thiếu hụt tương đối hoocmon tăng trưởng và endrogen diễn ra cùng với sựlão hoá cũng có vai trò quan trọng trong toàn bộ chức năng của cơ Tuổi tănglên thì thành phần nước trong gân và dây chằng cũng giảm đi do đó mức độcứng của gân cũng tăng lên Các sụn khớp bị thay đổi nhiều khi già Lực căngcủa sụn khớp giảm vì trong thành phần sinh hóa của là có nhiều thay đổi [6]Trong toàn bộ cuộc đời, một phụ nữ sẽ mất khoảng 35% khối xương đặc
và khoảng 50% khối xương xốp, trong khi đó ở nam giới chỉ mất 2/3 số lượngxương này [6]
- Lão hoá hệ tuần hoàn: Bình thường không có bệnh gây phì đại, thì
khối cơ tim giảm dần theo tuổi Nhịp tim giảm đôi chút và giảm thể tích tâmthu, do đó giảm lưu lượng máu bơm đi khắp cơ thể Động mạch tăng độnhiễm mỡ và độ xơ, giảm tính đàn hồi Động mạch nhỏ ở ngoại vi hẹp dần,
Trang 10làm tăng sức cản, khiến tim lúc 60 70 tuổi tốn nhiều năng lượng hơn 20 30% so với lúc 20 tuổi mà hiệu lực cung cấp máu lại thấp hơn, lượng máunuôi tạng giảm dần Khi tăng tuổi các loại mỡ huyết tương đều tăng, điều nàyliên quan chặt chẽ với huyết áp Huyết áp động mạch tăng dần suốt đời theotuổi nhưng không vượt quá 160/95mmHg [62]
Lão hoá hệ hô hấp: Sợi đàn hồi nhu mô phổi thoái hoá làm giảm lực
co đàn hồi, giảm tỷ số tiffeneau (FEV/VC), làm tăng thể tích cặn (RV, FRV).Tất cả các loại thể tích hữu ích và các loại lưu lượng thở đều giảm dần, đặcbiệt giảm nhanh dự trữ thở ra (ERV) [62]
- Lão hoá hệ thần kinh: Sự lão hoá làm suy yếu các tế bào thần kinh
trung ương, làm ảnh hưởng đến điều hoà và dinh dưỡng của cơ thể Do nhữngbiến đổi theo tuổi, phản ứng thần kinh trở lên kém nhanh nhạy, giảm khả nănglàm việc trí óc và chân tay, giảm khả năng vận động, sinh sản, điều hoà nộimôi và nhiều biến đổi khác Sự biến đổi theo tuổi ở não là cơ chế chủ đạo của
lão hoá toàn cơ thể [21]
- Lão hoá cơ quan giác quan: Càng tăng tuổi càng giảm hiệu lực các
giác quan, đặc biệt giảm độ trong thể thuỷ tinh, giảm điều tiết mắt [62]
Giảm chức năng cơ quan phân tích thính giác theo tuổi là một trong sốcác quá trình sinh lí rõ hơn cả Trên thực tế lão hoá cơ quan thính giác bắt đầu
từ tuổi thanh niên và đến 40-50 tuổi độ nhạy cảm kém đi rõ rệt, rõ nhất làvùng tần số cao [6]
- Lão hoá và bệnh tật: Đều mang tính chất phá hủy nhằm giảm khả năngthích nghi của cơ thể, lão hoá có thể tạo ra các tiền đề cho bệnh phát triển [67]
1.1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới lão hoá
- Yếu tố di truyền:
Theo nhiều tác giả tuổi thọ trung bình của những người có cha mẹ tuổithọ cao là cao hơn, so với tuổi thọ trung bình của con cháu những người cótuổi thọ trung bình thấp Ngoài ra do di truyền giới tính và đặc điểm xã hội
phụ nữ thường có tuổi thọ trung bình cao hơn nam giới từ 4 - 11 năm [21]
Trang 11- Yếu tố môi trường: Các yêu tố môi trường có thể tác động qua lại vói
nhau nó ảnh hưởng tới sức khỏe con người đặc biệt là người già
+ Về môi trường xã hội: Người già cần duy trì lối sống từ trước tiếp tục
lao động tuỳ thuộc vào tình hình sức khoẻ cho phép tạo công việc phù hợpnhư tham gia vào các hoạt động nhân đạo hội người cao tuổi và các tổ chức
xã hội khác Tăng cường sự hiểu biết về tuổi già thông qua giáo dục cộngđồng và coi đó là vấn đề được toàn xã hội quan tâm
+ Về môi trường tự nhiên: Có nhiều người cho rằng các cư dân sống
trong các điều kiện khí hậu thái cực (về nhiệt độ, độ ẩm, độ cao) thường già
mau và có tuổi thọ thấp hơn người sống ở môi trường vừa phải.
Tuy nhiên nếu con người sống trong điều kiện môi trường bị ô nhiễm thì
sự ảnh hưởng đến sức khoẻ và tuổi thọ là rất dễ Ở các nước công nghiệp, ônhiễm không khí do khói các nhà máy làm tăng thêm tỷ lệ mắc bệnh viêm phếquản mãn, nhất là trên những người hút thuốc lá nhiều [40]
- Yếu tố dinh dưỡng: Đã có nhiều công trình nghiên cứu ảnh hưởng của
thức ăn, về chất lượng cũng như số lượng đối với sự trưởng thành thể chấtcũng như tinh thần con người
+ Chế độ ăn calo thấp thường cũng là chế độ thiếu protein động vật, ít
nhất là trong một số mùa trong năm Sinnett đã nghiên cứu người Papous vàthấy chế độ ăn của họ dựa chủ yếu vào khoai lang, chiếm 90% khẩu phần ăn.Trong khoai lang chỉ có 11.9% protein Sự giảm sút khối lượng rất rõ rệtngay từ tuổi 30 biểu hiện rõ bằng lượng creatinin niệu rất thấp Họ gầy sớmmất 23.3% trọng lượng cơ thể lúc 70 tuổi so với lúc 30 tuổi với nam, với nữcòn mất nhiều hơn 25% [46]
+ Chế độ ăn thừa calo: Hậu quả dễ thấy nhất của một chế độ ăn quá
nhiều năng lượng là sự ứ đọng ngày càng nhiều dự trữ mỡ ở người trẻ, kéo dàiđến tuổi thọ Hiện tượng đó rất phổ biến và nhiều người coi đó là tự nhiên ởcác nước công nghiệp châu âu, Bắc Mỹ Cùng với sự tăng tuổi, huyết áp động
Trang 12mạch tăng dần, tăng cholesterol, máu lipoprotein Theo tuổi tỷ số vữa xơ độngmạch và nhồi máu cơ tim cũng tăng [46]
Vì vậy vấn đề ăn uống điều độ, chế độ dinh dưỡng cân đối, hợp lý, phòngngừa béo phì là rất cần thiết cho mọi lứa tuổi Để nâng cao sức khoẻ và kéodài tuổi thọ
- Yếu tố tâm lý xã hội: Ảnh hưởng các yếu tố tâm lý xã hội bắt nguồn từ
các quan hệ giữa người và người trong cùng một gia đình, cùng một nghềnghiệp cùng một cộng đồng Mọi rối loạn kéo dài trong mối quan hệ đó đều
có thể ảnh hưởng đến sự lão hoá của từng người Tuy nhiên đứng trước mộtstress nhất định không phải người nào cũng phản ánh như nhau: Điều này phụthuộc vào thể trạng di truyền, khả năng thích nghi và kinh nghiệm sống củatừng người Nhiều công trình cho thấy phụ nữ khó chịu đựng các stress nhưvậy so với nam giới huyết áp của họ tăng rõ rệt với tuổi [46]
1.2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU NGƯỜI CAO TUỔI TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 1.2.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU NGƯỜI CAO TUỔI TRÊN THẾ GIỚI
1.2.1.1 Người cao tuổi trên thế giới
Trước đây, người ta thường quan niệm: Già hoá dân số là vấn đề của cácnước giàu có và phát triển Ngày nay, quan niệm đó đã không còn đúng nữa
vì vấn đề già hoá dân số đã đụng chạm đến tất cả các quốc gia trên thế giới.Thực tế cho thấy trong vòng 50 năm (1975 - 2025), người già ở các nước pháttriển chỉ tăng 89%, song ở các nước nghèo lại tăng 347% Hiện nay, một nửa
số người già trên thế giới đang sống tại các nước nghèo và người ta dự đoánrằng trong vòng 29 năm nữa, 3/4 số người già trên thế giới sẽ sống ở các nướcnghèo trên thế giới [5]
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, tuổi thọ của con người
đã và đang ngày càng tăng Điều đó khiến cho số người cao tuổi trên thế giớităng 600 triệu người năm 2000 lên gần 2 tỷ người năm 2025 Tỷ lệ người caotuổi tăng 10% năm 1998 lên l5% năm 2025 [8]
Sự phân bố người cao tuổi trên thế giới không đều Do đó, tỷ lệ người caotuổi ở các vùng trên thế giới là khác nhau: cao nhất ở Đông Á (29,89%), Nam Á
Trang 13(27,44%), tiếp đó là châu Âu (11,51%), châu Phi (9,09%), châu Mỹ la tinh(8,32%), Bắc Mỹ (6,82%), và ít nhất ở châu Úc (0,57%) vào năm 2025 [5]Trên toàn thế giới, năm 1975, số người cao tuổi ở nông thôn là 182 triệungười, chiếm 54%; ở thành thị là 115 triệu người, chiếm 46% Đến năm 2000,
số người cao tuổi ở thành thị là 318 triệu người, chiếm 55% còn người caotuổi ở nông thôn chỉ chiếm có 45% [5]
Nhìn chung, tuổi thọ trung bình của nữ cao hơn của nam Chỉ tính nhữngnước có tuổi thọ trung bình cao nhất thế giới như: ở Nhật Bản, tuổi thọ trungbình của nữ là 80,5; nam là 70,8; ở Thuỷ Điển các con số tương ứng là 79,9 và73,8; ở Mỹ là 78,8 và 71,8, ở Anh là 77,4 và 71,3… Do tuổi thọ trung bình của
nữ cao hơn nam nên trong số người cao tuổi, nữ giới nhiều hơn nam giới [5]
Ở các nước phát triển, năm 1975, cứ 100 nữ thì có 74 nam ở lứa tuổi 69; đến năm 2025, con số đó sẽ là 100 nữ thì có 78 nam Ở lứa tuổi 70 - 79,các con số tương ứng là 62 và 75, từ 80 tuổi trở lên, các số tương ứng là 48 và
60-53 Đối với các nước đang phát triển, năm 1975, cứ 100 nữ có 96 nam ở lứatuổi 60 - 69; đến năm 2025 thì cứ 100 nữ có 94 nam Ậ lứa tuổi 70- 79, các sốtương ứng là 88 và 86 Lứa tuổi 80 trở lên, các số tương ứng là 78 và 73 Nhìnchung, ở các nước đang phát triển, số nam thấp hơn nữ không nhiều bằng ởcác nước phát triển [5]
1.2.1.2 Tình hình nghiên cứu người cao tuổi trên thế giới
Từ những năm trước thế kỷ XVI, những nghiên cứu về ngươi già chủ yếu
về mô tả dấu hiệu các bệnh và từ đó hướng dẫn chế độ sinh hoạt ăn uống nghỉngơi để kéo dài tuổi thọ [56]
- Nhà lão khoa Đức Gufeland, 1796, trong cuốn "Thuật kéo dài cuộcsống con người hoặc trường thọ" đã mở ra một thời kỳ phát triển mới của họcthuyết về lão hoá và tuổi già dựa trên những thành tựu của các ngành khoahọc cơ bản [56]
- Holmgren, 1930, nghiên cứu ở Thụy Điển thấy rằng: Chiều cao cànggiảm khi tuổi càng tăng
Trang 14- Kemskey ở Anh, 1943, nữ có biến động chiều cao giảm dần theo tuổi từ
18 đến 58 tuổi:
- Vlastovsky, 1959, ở người trưởng thành tuổi càng tăng thì chiều cao cànggiảm, giảm trung bình theo chu kỳ 1 0 năm từ nhóm tuổi 20 - 29 (chiều caotrung bình 169,5cm) đến nhóm 50 - 59 (chiều cao trung bình 167.6cm) [21]
- M.G.Levin, 1978, cho rằng thời kỳ ổn định cân nặng của nam giớitrong khoảng tuổi 25 - 40, từ 40 - 45 tuổi có tăng cân chút ít (từ 1 đến 0,5kg
cho 5 năm một) [21]
- N.S.Smimora và cộng sự, 1982, thấy rằng chiều cao nam giới nhómtuổi 20 - 29 là l69.4cm và nhóm tuổi 80 - 90 thấp hơn 6cm; ở nữ sự khác biệtnày còn lớn hơn (với nhóm tuổi tương ứng trên giảm 8.6cm) Giảm chiều cao
rõ rệt ở nam giới xảy ra sau tuổi 7, còn ở nữ sau tuổi 60 [69]
- Valastovsky, Soloviera, 1983, nghiên cứu ở người Liên Xô (trước đây)kết luận: Sau tuổi 60 ở đa số người cân nặng bắt đầu giảm từ từ, chủ yếu donhững biến đổi thu teo trong các tổ chức và giảm lượng nước trong đó [69]
- Levin, 1987, thời kỳ ổn định chiều cao kéo dài đến tuổi 45 - 50 Sau 5năm giảm trung bình là 0.5cm, từ tuổi 55 về già cứ 5 năm một giảm 0.7cm.Những phát minh về khoa học và sáng chế từ thế kỷ XIX - XX đã giúpcác nhà sinh lí học ngày càng có điều kiện đi sâu nghiên cứu chức năng củacác cơ quan, bộ phận và làm sáng tỏ cơ chế sinh lí của chúng trong quá trìnhphát triển cá thể
- Một số nghiên cứu về sinh lí hô hấp ở người cao tuổi trên thế giới:
+ Một số công trình nghiên cứu về thể tích thở ra tối đa giây (VEMS) ở
người già như: Đembo (l937); K.Noblok (1960); Baldvin và cộng sự (1948)
đã góp phần đánh giá một cách chính xác về tình trạng chức năng hô hấpngười già [19]
+ Chebotarev, Korkushko, 1975, cho rằng người có tuổi và người già có
tán số thở cao hơn Nếu như ở tuổi 20-29 có tần số thở là 15.5 0.9 ở nam và
ở nữ là 14.2 0.8 thì lúc 90 tuổi và già hơn nữa sẽ là l8 l,1 ở cụ ông và
Trang 1519.4 0.9 ở cụ bà Nhờ thở nhanh hơn nên thể tích phút ở người có tuổi vàngười già được duy trì mức lúc còn trẻ [l8]
+ Chebotarev và cộng sự 1975, Korkushko, Ivannov, 1980 khi già dung
tích sống giảm xuống, hàng loạt các thành phần của nó cũng giảm theo: thểtích khí lưu thông (TV), thể tích dự trữ hít vào (IRV), thể tích dự trữ thở ra
(ERV) [2 1]
+ Chebotarev, Korkushko, Ivanov, 1982 cho rằng bộ máy hô hấp khi già cónhững thay đổi về hình thái phức tạp, những thay đổi này gây ảnh hưởng thực sựlên khả năng của hệ thống hô hấp ngoài ở người có tuổi và người già [21]
+ Quanser Ph.H, 1983 đã chủ biên và xuất bản bộ "Tiêu chuẩn xét
nghiệm chức năng phổi" Thay cho việc đưa ra các bảng số mà các nhà khoahọc trước đây đã dùng
- Một số nghiên cứu về sinh lí tuần hoàn ở người cao tuổi trên thế giới:
+ Lasser và Master 1959 nghiên cứu trên 5.757 người đã xác định ở
những người tuổi 65 huyết áp tâm thu là 145 2mmHg, huyết áp tâm trương
là 82 10.0mmHg ở nam, còn ở nữ tương ứng là 156 28 mmHg và 84 15mmHg [70]
+ Muravicv và cộng sự, 1965, ở những người trên 80 tuổi mức huyết áp tâmthu là 136.04 - 142.14mmHg, huyết áp tâm trương 72.54 - 6.64mmHg [70]+ Frolkis, 1977, 1982, Korkushko, 1980, 1983 cho rằng tăng huyết áp độngmạch cơ bản liên quan đến những thay đổi theo tuổi của hệ mạch - làm mất đitính đàn hồi của các trục động mạch lớn, do tăng sức cản ngoại biên [70]
+ Prolkis, 1982 và cộng sự kết luận ở sau tuổi 60 nhịp co bóp của tim
chậm lại chút ít Điều đó liên quan đến giảm hoạt động chức năng của mútxoang và giảm ảnh hưởng của các dây thần kinh ngoài tim [2]
+ V.V.Prolkis, 1984, kết luận khi già huyết áp động mạch ở người tăng
lên thực sự (ở người trẻ là 121 0.9mmHg, ở người già 147.7 3.0mmHg).Huyết áp tâm thu tăng theo tuổi thể hiện ở nữ rõ hơn nam Huyết áp tâm
Trang 16trương thể hiện ổn định hơn huyết áp tâm thu, nhưng khi già cũng tăng lên có
ý nghĩa [2]
-Một số nghiên cứu về các bệnh thường gặp ở người cao tuổi trên thế giới
Đến già, các bệnh xuất hiện thường xuyên hơn, chúng được tích góp lại, chủyếu khác nhau về số lượng và chất lượng, lão hóa có thể tạo nên những tiền đề chophát triển bệnh Vì chính lão hóa là sự đan sen của sinh lý và bệnh lý [59]
Năm 1917 James Parkinson là người đầu tiên mô tả bệnh Parkinson là mộtrối loạn thần kinh, có tiến triển chậm do thoái hóa các neron dopaminergic [5] Năm 1921 Bét và Bantinh đã phát hiện ra insulin đưa vào điều trị bệnhđái tháo đường
Năm 1954, bác sĩ Denham thuộc đại học Berkyley, California, là ngườiđầu tiên nhận ra sự hữu hiệu của gốc tự do trong cơ thể với nguy cơ gây ranhững tổn thương cho tế bào, và gốc tự do có thể là một trong những nguyênnhân gây bệnh vữa sơ động mạch, ưng thư, Alzheiner, Parkison,đục thủy tinhthể, tiểu đường, cao huyết áp không rõ nguyên nhân, xơ gan [59]
Năm 1960 – 1971, Dordier và Meunier, nghiên cứu về hình thái, tổ chức họccủa xương và cho biết them về loãng xương là giảm khối lượng toàn bộ [59]Năm 1994, Avioli cũng nhấn mạnh khối lương xương thấp trong loangxương luôn đi kèm một nguy cơ gãy xương tự phát do một chấn thương rấtnhẹ [59]
Năm 1998 Folkis và các cộng sự đã đưa ra phương thức mới điều trị sựđiều hòa gen, dùng các chất ảnh hưởng đến kìm nén và biểu cảm các gen, để làmchậm lại nhịp độ lão hóa và hoạt động hóa các quá trình chống lão hóa [59]Ngày 14/4/2003 Viện nghiên cứu quốc gia gen người của Mỹ - NHGRIcho biết, đã giải mã hoàn chỉnh bản đồ gen người Do đó có thể tạo ra các chếphẩm tác động có định hướng đến các nhóm gen riêng biệt, lúc hoạt hóa hoặclúc ức chế chúng Đó sẽ là biện pháp hữu hiệu hơn cả dự phòng và điều trịbệnh Điều trị bằng cách điều hòa gen sẽ trở thành nền tảng của Y học trongtương lai không xa [59]
Trang 171.2.2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU NGƯỜI CAO TUỔI Ở VIỆT NAM
1.2.2.1 Người cao tuổi ở Việt Nam
Theo cuộc tổng điều tra dân số Việt Nam năm 1979, trong số 52,741triệu dân thì có 3,73 triệu NCT, chiếm 7,08% dân số Sau 10 năm (1989), với64,37 triệu dân thì có 4,63 triệu NCT, chiếm 7,17% Đến 1/4/1999, tổng sốdân là 76,33 triệu người thì số NCT đã là 6,12 triệu, chiếm 8,12% Theo tổngcục thống kê năm 2005, dân số Việt Nam là 83,1199 triệu người, trong đó sốNCT là hơn 7,44 triệu người, chiếm 8,6% Như vậy, trung bình mỗi năm sốNCT đã tăng thêm từ 100.000 - 150.000 người [5], [37] Hiện nay dân sốViệt Nam là 85.789.573 người, NCT là 8107114 người chiếm 9,45%
Tuổi thọ trung bình người Việt Nam trong vòng nửa thế kỷ qua đã tănglên hơn 2 lần Năm 1945, tuổi thọ trung bình khoảng 32 tuổi; năm 1999 là
68,6 tuổi, hiện nay là 73, trong đó nữ là 75 và nam là 71 [17]
1.2.2.2 Tình hình nghiên cứu người cao tuổi ở Việt Nam
- Năm 1970 Đảng và Nhà nước ta đã đề ra "Chương trình nghiên cứu y họctuổi già" Từ đó cho đến nay có nhiều công trình nghiên cứu thực hiện tạiViện Lão khoa và các cơ sở hợp tác với Viện
- Năm 1975, cuốn hằng số sinh học người Việt Nam do Giáo sư NguyễnTấn Gi Trọng biên tập công bố một cách có hệ thống các chỉ số hình thái học
do các tác giả nghiên cứu trong vòng hơn 10 năm (l960 - l972) trong đó cócác chỉ số hình thái - thể lực người lớn khá chi tiết và đầy đủ [17]
- Năm 1976, Vũ Duy San, Nguyễn Quang Quyền, nghiên cứu ở Quảng
Nam, Đà Nẵng, đối tượng từ 21 - 74 tuổi Năm 1980 Đoàn Yên, Trịnh Bình
Dy, nghiên cứu đề tài "Biến động một số thông số hình thái và sinh lí qua cáclứa tuổi" kết luận: Chiều cao, cân nặng ở nữ ổn định trong khoảng 19 - 30 tuổi
và 20 - 35 tuổi ở nam và sau đó giảm dần cho đến già [65]
- Năm 1980, Hà Huy Khôi, Nguyễn Huy Đàn, Nguyễn Thị ái Châu,nghiên cứu "Một số chỉ tiêu về tình trạng dinh dưỡng các cụ già ở nội ngoạithành Hà Nội",
Trang 18- Năm 1996, Nguyễn Văn Long - Viện Bảo vệ sức khoẻ người cao tuổi,nghiên cứu ở người từ 50 tuổi trở lên tại 4 vùng dân cư: Thành thị, miền biển,nông thôn, miền núi, kết luận: Tuổi càng cao thì chiều cao, cân nặng và cơ lựccàng giảm Mức độ giảm về chiều cao ở nam trung bình 0.15cm/năm, ở nữ0.17cm/năm, về cân nặng, ở nam giảm 0.22kg/năm, ở nữ 0.24kg/năm [36]
- Năm 2002, Trần Đức Thọ, báo cáo đề tài cấp Bộ, dự án "Điều tra dịch
tễ học về tình hình bệnh tật, nhu cầu chăm sóc y tế và xã hội của người giàViệt Nam" đã đưa ra một số chỉ tiêu sinh học người già và kết luận: Cả nam
và nữ ở nhóm tuổi trên 75 đều có các chỉ tiêu nhân trắc giảm rõ rệt so vớinhóm tuổi 60 - 74 [57]
Ở Việt Nam các chỉ tiêu chức năng thông khí phổi người bình thườngđược nghiên cứu từ những năm 50 của thế kỷ XX - Một số nghiên cứu vềsinh lí hô hấp ở người cao tuổi Việt Nam:
+ Năm 1980, Nguyễn Huy Hiền và cộng sự nghiên cứu "Góp phần tìm hiểu
chức năng hô hấp các cụ già ở nước ta" trên đối tượng các cụ từ 50 tuổi trở lên ở
xã Duyên Thái - Hà Sơn Bình và Điệu Hoà - Quảng Nam - Đà Nẵng [18]
+ Năm 1992 - 1996, Nguyễn Văn Tường, Trình Bình Dy và cộng sự
nghiên cứu "Một số chỉ tiêu hô hấp người Việt Nam bình thường" đối tượng
từ 8 - 86 tuổi, ở khu vực Hà Nội, Hà Tây, Nam Hà và sinh viên của 4 trườngđại học trên địa bàn Hà Nội
+ Năm 1997, Nguyễn Văn Trường, Trịnh Bình Dy và cộng sự nghiên cứu
giá trị bình thường các chỉ tiêu chức năng phổi nghiên cứu tại khu vực Thanh Trì
và Thượng Đình - Hà Nội, trên đối tượng 12 - 82 tuổi Kết luận: So sánh giữanam và nữ thấy các giá trị của nam cao hơn nữ có ý nghĩa thống kê [21]
* Một số nghiên cứu về sinh lí tuần hoàn ở người cao tuổi Việt Nam:
+ Năm 1962, Đào Duy Thư, năm 1979, Lê Việt Hoa: ở tuổi 60 - 70
huyết áp tâm thu ở nữ thấp hơn ở nam từ 3 - 10mmHg, từ tuổi 20 đến già
huyết áp tâm tương ở nam và nữ không khác nhau [71]
Trang 19+ Năm 1989 - 1992, Trần Đỗ Trinh và cộng sự, nghiên cứu "Trị số huyết
áp động mạch người Việt Nam", trên đối tượng người Việt Nam cả nước từ
15 tuổi trở lên và kết luận: Trị số huyết áp tăng dần lên theo tuổi ở cả nam và
nữ, nhưng về già thì tăng nhanh hơn Huyết áp nam giới cao hơn huyết áp nữgiới [63]
+ Năm 2002, Trần Đức Thọ, nghiên cứu đề tài "Điều tra dịch tễ học về
tình hình bệnh tật, nhu cầu chăm sóc y tế và xã hội của người già Việt Nam"
Đề tài nghiên cứu các chỉ tiêu huyết áp ở nhóm tuổi: 60 - 74 và 75 tuổi, kếtluận: Huyết áp tâm thu ở huyết áp tâm trương trung bình ở nam giới và nữgiới không có sự khác biệt và có ý nghĩa thống kê (P > 0,05) Huyết áp tâmthu ở nhóm tuổi 75 có xu hướng cao hơn ở nhóm tuổi 60 - 74, tuy nhiên chỉ
có ý nghĩa thống kê với nữ giới Huyết áp tâm trương không có sự khác nhaugiữa 2 nhóm tuổi ở cả nam và nữ [57]
* Một số nghiên cứu về các bệnh thường gặp ở người cao tuổi ở Việt NamNăm 1980 “ Đơn vị nghiên cứu chuyên đề y học tuổi già ” được thành lập Năm 1989, Trần Minh Mẫn, Trần Thanh Hà, Nguyễn Kim Thi, nghiêncứu “ Thông khí hô hấp ở người có tuổi qua điều tra ở xã Chu Phan ”; năm
1990 nghiên cứu “ Thông khí hô hấp ở người có tuổi qua điều tra ở xã QuảngTiến, Sầm Sơn, Thanh Hóa ” và nghiên cứu “Dung tích sống ở người có tuổiqua điều tra tại Nông Hạ, Phú Lương, Bắc [18]
Năm 1998, Trần Đức Thọ biên soạn tai liệu giảng dạy sau đại học về một
số bệnh nội tiết ở người cao tuổi, trong đó có bài viết:
+ Bệnh đái đường và chuyển hóa glucose ở người cao tuổi
+ Cường giáp trạng ở người có tuổi
Năm 1998, Phạm Khuê, Phạm Thắng, biên soạn tài liệu: “ sa sút tâmthần ở người cao tuổi, trong đó đề cập đến:
+ Rối loạn nhận thức liên quan đến tuổi già
+ Dịch tễ học, chuẩn đoán phân biệt
+ Phương hướng nghiên cứu của bệnh Alzheimer
Trang 20+ Các dạng sa sút tâm thần dưới vỏ người già.
Năm 1999, Đỗ Nguyên Phương, nghiên cứu tình trạng sức khỏe hiện nay củangười cao tuổi tại Viêt Nam “ Người cao tuôi Việt Nam thực trạng và giải pháp ”.Năm 2000, Trần Đức Thọ, biên soạn tài liệu giảng dạy sau đại học: Bệnhloãng xương ở người cao tuổi
Năm 2001, Viện Lão khoa, xuất bản tài liệu: chuẩn đoán và điều trị một sốbệnh mãn tinh ở người cao tuổi, trong đó có nghiên cứu của các tác giả như sau:+ Trần Đức Thọ: Bệnh đái đường; loãng xương ở người có tuổi
+ Đỗ Thị Khánh Hỷ: Rối loạn chuyển hóa lipid ở người cao tuổi; u lànhtuyến tiền liệt
+ Phạm Thắng: Tăng huyết áp; cơn đau thắt ngực; suy tim;huyết khốitĩnh mạch sâu; bệnh Parkison ở người cao tuổi
+ Lương Chi Thành: Tiểu tiện không tự chủ; trầm cảm; sa sút tâm thần.+ Hà Quốc Hùng: suy giảm thị lực và thính lực ở nguười già, tai biếnmạch máu não
+ Nguyễn Trí Bình: Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính; thoái khớp
Năm 2002, Trần Đức Thọ, nghiên cứu đề tài “ Điều tra dịch tễ học vềtình hình bệnh tật, nhu cầu chăm sóc y tế và xã hội của người già Việt Nam”.Năm 2005, Nguyễn Quốc Anh và cộng sự, nghiên cứu một số đặc trưngcủa người cao tuổi và đánh giá mô hình chăm sóc sức khỏe người cao tuổiđang áp dụng
Trang 21Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu từ tháng 1 năm 2009 đến tháng 10 năm 2009
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
- Vùng nông thôn: Xã Hoằng Phụ, xã Hoằng Đông thuộc huyện HoằngHóa, tỉnh Thanh Hoá
- Vùng thành thị: Phường Trường Thi và phường Ba Đình thuộc thànhphố Thanh Hoá
Sơ đồ vùng nghiên cứu
Trang 222.1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Trong quá trình nghiên cứu, do phạm vi về thời gian và muốn có kếtquả tập trung nên đối tượng nghiên cứu là những người có độ tuổi từ 60- 74chia làm 3 nhóm tuổi: 60- 64; 65- 69; 70-74, mỗi nhóm nghiên cứu cho mỗichỉ tiêu không dưới 30 người
- Là những người không có các bệnh, tật bẩm sinh như: câm, điếc, gù,hẹp đường thở, loạn nhịp tim, tần số tim< 50 nhịp/ phút hoặc tần số tim> 90nhịp/ phút, và một số bệnh, tật khác có ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu
- Tổng số NCT được nghiên cứu 600 người phân bố cụ thể như sau:
Bảng 2.1: Phân bố ĐTNC theo vùng dân cư, giới tính và lứa tuổi.
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp chọn mẫu, cỡ mẫu trong nghiên cứu
+ Phương pháp chọn mẫu
-Mẫu nghiên cứu được lựa chọn theo phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên: Chọn địa điểm nghiên cứu: Các phường, xã được chia thành hai nhómsau đó chọn bằng cách bốc thăm
- Chọn đối tượng nghiên cứu theo phương pháp chọn mẫu hệ thống
+ Phương pháp chọn cỡ mẫu
Tuỳ từng chỉ số trong nghiên cứu mà cỡ mẫu được tính theo một côngthức nhất định
Trang 23* Cỡ mẫu cho các nghiên cứu ước lượng trung bình được tính theo công thức:
n= Z2 (1- α/2)x S2/ d2
Trong đó: n : Cỡ mẫu nghiên cứu
Z2 (1- α/2): Hệ số tin cậy.
S : Độ lệch chuẩn (được xác định theo một nghiên cứu trước
đó hoặc một nghiên cứu thăm dò)
d : Sai số ước lượng (do người nghiên cứu định trước sao cho
sự biến thiên của kết quả nghiên cứu không quá lớn)
* Cỡ mẫu cho việc ước tính một tỷ lệ trong quần thể
n= Z2
(1- α/2) p(1- p)/ ∆2
Trong đó: n : Cỡ mẫu nghiên cứu.
p : Tỷ lệ một căn bệnh nào đó tại cộng đồng (ước tính từ
một nghiên cứu trước đó hoặc một nghiên cứu thử) Trong trường hợp tỷ lệnày không được biết thì có thể giả sử p= 0,5, khi đó p(1-p) là lớn nhất và cỡmẫu cũng là tối đa
∆ : Khoảng sai lệch mong muốn giữa tỷ lệ thu được từ mẫu (p) và tỷ lệ của quần thể (P) Khi ∆= P- p thì ∆ được coi là tuyệt đối.
Z2 (1- α/2) : Hệ số tin cậy [38]
Ví dụ: Tỷ lệ bệnh tăng HA (p) tính từ điều tra của Vụ các vấn đề xã hội Quốc gia (1997), bệnh tăng HA ở Việt Nam là 44,1% Khi đó, 1- p= 55,9% Chọn
Trang 24Cân được đặt trên bề mặt phẳng, không bị lún Điều chỉnh kim chỉ trênmặt đồng hồ về đúng vạch số 0 Đối tượng nghiên cứu khi cân, mặc quần áomỏng, nhẹ, chân đất, không đeo đồng hồ Đối tượng được đo, cân ở tư thếđứng thẳng trên mặt bàn cân, chụm hai chân hình chữ V; chẩm đầu, hai vai,hai mông và hai gót chân ở trong một mặt phẳng thẳng đứng; mắt nhìn thẳngsao cho đường nối bờ trên tai và đuôi mắt nằm trên một mặt phẳng nằmngang; hai tay duỗi thẳng, hướng lòng bàn tay vào trong đùi Đọc kết quả đochiều cao trên thước đo và kết quả về cân nặng trên mặt đồng hồ .
2.2.3 Phương pháp đo vòng ngực bình thường
2.2.4 Phương phap đo chỉ số pignet và chỉ số BMI
+ pignet= Chiều cao đứng (cm)- [cân nặng (kg)+ vòng ngực (cm) ]+ , với W: khối lượng (kg) của cơ thể
2.2.6 Phương pháp đo tần số tim, huyết áp tối đa và huyết áp tối thiểu
* Phương tiện
Huyết áp kế điện tử do hãng Nissel của Nhật Bản sản xuất
Trang 25* Kỹ thuật
Đo tần số tim, HA vào buổi sáng từ 8h30 phút đến 10h30 phút
Vận hành máy: Đối tượng được đo ngồi hoặc nằm, tay trái duỗi thẳng.
Quấn bao cao su bọc vải vừa khít quanh cánh tay trái ở phía trên khuỷu tay
Sau khi đã cuốn bao hơi xong, ấn một lần vào nút ON/OFF, khi trênmàn hình xuất hiện số 0 thì ấn tiếp một lần vào nút START, máy bắt đầu đo.Lúc này, trên màn hình, các con số thay đổi liên tục và xuất hiện trái tim nhấpnháy, khi trái tim không nhấp nháy nữa sẽ xuất hiện hai con số chỉ HA tối đa
và HA tối thiểu Ngay sau đó sẽ xuất hiện con số chỉ tần số tim Sau khi xemkết quả xong thì ấn vào nút ON/OFF để tắt máy
Chú ý: Giữa 2 lần đo nên cách nhau 10- 15 phút [44]
2.2.7 Phương pháp test
Kết hợp các phương pháp:
- Quan sát, phỏng vấn, phiếu điều tra cá nhân;
- Thu thập thông tin, số liệu về tình hình bệnh tật và số người mắc bệnh
từ cơ quan Y tế của địa phương
- Nghiên cứu về hồ sơ khám chữa bệnh, sổ Y bạ của đối tượng nghiên cứu
2.2.8 Xử lý kết quả nghiên cứu
- Các số liệu thu được sẽ được xử lý theo các thuật toán xác suất thống
kê dùng trong Y học, sinh học để phân tích, đánh giá kết quả
- Việc tính toán các số liệu được thực hiện trên máy vi tính với các phầnmềm Word, Excel
Mỗi chỉ số đưa ra cần:
Tính giá trị trung bình: =
Trong đó: n: Cỡ mẫu, : Giá trị trung bình cộng,
f i : Tần số các số đo, x i : Giá trị các số đo.
Trang 26 Độ lệch chuẩn S (SD):
S= (nếu n< 30); S= (nếu n≥ 30).
So sánh 2 giá trị trung bình x1 và x2 theo tiêu chuẩn Student Hệ số t
được tính theo công thức: t=
Tra bảng Student:
+ Nếu t > 1,96: Kết luận là 2 giá trị trung bình khác nhau có ý nghĩathống kê (do một nguyên nhân nào đó của thực tại cần tìm hiểu chứ khôngphải là do ngẫu nhiên với độ tin cậy 95% ( P< 0,05)
+ Nếu t < 1,96: Kết luận là 2 giá trị trung bình không khác nhau về ýnghĩa thống kê Sự khác nhau đó chỉ là do ngẫu nhiên vì chọn 2 mẫu khác nhau.Các kết quả nghiên cứu được so sánh với các nghiên cứu khác gần nhất [9], [26]
Trang 27Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1 THỰC TRẠNG NCT Ở THANH HOÁ VÀ VÙNG NGHIÊN CỨU 3.1.1 Người cao tuổi ở Thanh Hoá
Ở Thanh Hoá, số NCT cũng tăng dần theo thời gian Năm 1989, số NCT
là hội viên của Hội NCT tỉnh là 258.548 người, chiếm 8,6% dân số của tỉnh.Năm 1999 là 319.005 người, chiếm 9,2% Hiện nay là 440.172 người, chiếm12,2% dân số toàn tỉnh Trong số đó, nữ giới chiếm 51,87% và nam giới là48,13% [52]
NCT Thanh Hoá chủ yếu sống ở khu vực nông thôn (miền biển, đồngbằng và miền núi) chiếm 93,3%, sống ở thành phố là 6,7% [54]
Hiện nay, ngoài điều kiện kinh tế xã hội phát triển, sự thành công của yhọc hiện đại, công tác chăm sóc sức khoẻ gia đình, xã hội ngày càng tốt đãgóp phần nâng cao tuổi thọ trung bình của người dân Tuổi thọ trung bình củangười Thanh hoá hiện nay là 67,5 tuổi [54]
3.1.2 NCT ở các địa bàn nghiên cứu
3.1.2.1 NCT xã Hoằng Phụ - huyện Hoằng Hóa
Tính đến ngày 18/7/2007, Hội NCT xã Hoằng Phụ có 834 hội viên từ 60tuổi trở lên, chiếm 10,6% dân số xã trong đó có 270 nam, chiếm 32% và 564 nữ,chiếm 68% Số người từ 60 - 74 tuổi là 490, gồm 201 nam và 289 nữ Số người
từ 85 tuổi trở lên là 116 người Người cao tuổi nhất là 99 tuổi Đa số NCT xãHoằng Phụ là người làm nông nghiệp (56%), thủ công nghiệp (34%) Do đó, ở
độ tuổi 60 - 74, họ vẫn còn tham gia công việc đồng ruộng và đánh cá
3.1.2.2 NCT xã Hoằng Đông - huyện Hoằng Hóa
Tính đến 18/7/2007, Hội NCT xã Hoằng Đông có 747 người từ 60 tuổitrở lên tham gia sinh hoạt, gồm 315 nam và 432 nữ, chiếm 11% dân số xã.Trong đó số người từ 60 - 74 tuổi là 538 người Số người độ tuổi từ 85 trở lên
là 48 Người cao tuổi nhất là 91 Đa số NCT xã Hoằng Đông cũng là người
Trang 28làm nông nghiệp (84%) Vì vậy, hầu hết những người ở độ tuổi 60 - 74 vẫncòn tham gia công việc đồng áng.
3.1.2.3 NCT phường Trường Thi - Thành phố Thanh Hoá
Tính đến 16/5/2009, phường Trường Thi thành phố Thanh Hoá có 1.200người từ 60 tuổi trở lên tham gia sinh hoạt tại các chi hội NCT của phường,chiếm 9,93% dân số của phường Trong đó có 336 nam và 864 nữ Số người
từ 60 - 74 tuổi là 536, gồm 209 nam và 327 nữ Các cụ từ 85 tuổi trở lên là
63 Người cao tuổi nhất là 102 tuổi NCT là cán bộ về hưu chiếm 67%, cònlại là các ngành khác như buôn bán hay nội trợ…
3.1.2.4 NCT phường Ba Đình - Thành phố Thanh Hoá
Tính đến 2/6/2009, phường Ba Đình thành phố Thanh Hoá có 1.112
người từ 60 tuổi trở lên tham gia sinh hoạt hội NCT, chiếm 10,3% dân sốphường Trong đó có 389 nam và 723 nữ Số người từ 60 - 74 tuổi là 650,
trong đó 301 nam và 349 nữ Số người từ 85 tuổi trở lên là 65 Đa số NCT
phường Ba Đình là cán bộ về hưu (69%)
3.2 CÁC CHỈ SỐ HÌNH THÁI Ở NCT VÙNG NGHIÊN CỨU
3.2.1 Chiều cao đứng trung bình của ĐTNC
Bảng 3 1: Chiều cao đứng TB của ĐTNC tại NT
Trang 29Bảng 3 2: Chiều cao đứng TB của ĐTNC tại TT
Biểu đồ 3 1: So sánh chiều cao đứng TB giữa các ĐTNC
Qua số liệu ở bảng 3 1, 3 2 và biểu đồ 3 1 cho thấy:
Chiều cao đứng TB của cả nam CT và nữ CT ở cả NT và TT đều giảm dầntheo tuổi Mức độ giảm chiều cao của nữ CT rõ rệt hơn của nam CT Từ nhóm 60-
64 đến nhóm 70- 74 tuổi, TB cứ mỗi 5 năm một giảm đi 0,74 cm đối với nam và0,97 cm đối với nữ NT; 1,18 cm đối với nam và 1,90 cm đối với nữ TT Kết quả
này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Long:‘‘Tuổi càng cao thì chiều cao càng giảm Mức độ giảm về chiều cao trung bình ở nam là 0,15 cm/năm
Trang 30và ở nữ là 0,17 cm/năm’’ Kết quả này cũng phù hợp với nhận xét của Levin (1987):‘‘Từ 55 tuổi về già, cứ 5 năm một chiều cao giảm đi 0,7 cm’’ [23]
Sau 15 năm, chiều cao đứng TB của nam CT NT giảm 1,47 cm; của nữ
CT NT giảm 1,93 cm; ở nam CT TT giảm 2,36 cm và ở nữ CT TT giảm 2,81 cm.Kết quả này phù hợp với quy luật phát triển sinh học chung của con người
Tốc độ giảm chiều cao theo 5 năm một không đều qua các nhóm tuổi: Từ0,65 cm (từ nhóm tuổi 60- 64 đến nhóm tuổi 65- 69), tăng lên 0,82 cm (từ nhómtuổi 65- 69 đến nhóm tuổi 70- 74) đối với nam CT NT; tương ứng là 0,27 cmtăng lên 1,66 cm đối với nữ CT NT; từ 0,83 cm tăng lên 1,53 cm đối với nam
CT TT và tương ứng là: 0,85 cm và 1,96 cm đối với nữ CT Sự sai khác này là
do khi tuổi càng cao càng mất đi tính chất đàn hồi và sự bẹt xuống của các đĩasụn đệm giữa các đốt sống Đồng thời còn do sự giảm trương lực cơ thần kinh
mà dẫn đến bàn chân bẹt và làm suy giảm tư thế đứng của cơ thể [63]
So sánh sự giảm chiều cao đứng TB giữa nam CT và nữ CT ở từng nhómtuổi của NT, TT được nghiên cứu đều có sự khác nhau đáng kể, có ý nghĩathống kê với P < 0,05 Chiều cao đứng TB của nam CT NT lớn hơn của nữ CT
NT là 10,02 cm; 9,6 cm và 10,5 cm tương ứng với các nhóm tuổi: 60- 64; 65- 69
và 70- 74 Chiều cao đứng TB của nam CT TT lớn hơn của nữ CT TT là 10,54cm; 10,46 cm và 10,59 cm tương ứng với các nhóm tuổi: 60- 64; 65-69 và 70-
74 Kết quả này phù hợp với quy luật phát triển sinh học của con người
Trang 31* So sánh chiều cao đứng TB giữa các ĐTNC với một vài nghiên cứu khác
Bảng 3 3: So sánh chiều cao đứng TB giữa các ĐTNC với một vài
NT (2009) (2009) TT (2006) NT (2006) TT
Nam
60- 64 159.43
± 5.18 160.25± 5.57 158.92± 5.54 159.45± 5.83 155.23± 6.8565- 69 158.78
± 6.91 159.42± 5.54 157.97± 4.94 158.69± 5.21 153.86± 6.3470- 74 157.96
± 4.65 157.89± 4.9 156.32± 4.80 157.88± 5.57 155.04± 5.28
Nữ
60- 64 149.45
± 4.91 149.71± 5.12 148.69± 4.19 148.79± 4.86 147.23± 4.5165- 69 149.18± 4.43 148.69± 5.08 147.58± 4.36 147.88± 4.50 ± 4.38147.1170- 74 147.46
± 5.4 147.00± 5.56 145.96± 5.37 146.29± 4.97 144.49± 7.29
Biểu đồ 3 2: So sánh chiều cao đứng TB của nam CT NT với nam CT TT
và với một vài nghiên cứu khác
Biểu đồ 3 3: So sánh chiều cao đứng TB của nữ CT NT với nữ CT TT và
với một vài nghiên cứu khác
Trang 32Từ số liệu ở bảng 3 3, biểu đồ 3 2 v à 3 3 cho thấy:
Chiều cao đứng TB của ĐTNC cùng giới, cùng độ tuổi giữa NT và TTnói chung chênh lệch không đáng kể
Chiều cao đứng TB của ĐTNC so với ĐTNC cùng độ tuổi, cùng giớitrong nghiên cứu của Phạm Hồng Nga [38], có sự sai khác nhưng không có ýnghĩa về mặt thống kê
Chiều cao đứng TB của nam CT thấp nhất là 157,89± 4,9 cm (ở nam
CT NT nhóm tuổi 70- 74) và cao nhất là 160,25± 5,57 cm (ở nam CT NT độtuổi 60- 64) Chiều cao đứng trung bình của nữ CT thấp nhất là 147± 5,56 cm
Trang 333.2.2 Cân nặng trung bình của ĐTNC
Bảng 3.4: Cân nặng TB của ĐTNC tại NT
Trang 34Biểu đồ 3 4: So sánh cân nặng TB giữa các ĐTNC
Từ số liệu ở bảng 3 4, 3 5 và biểu đồ 3 4 cho thấy:
Cân nặng TB của cả nam CT và nữ CT ở NT và TT đều giảm dần theo tuổi
Từ nhóm tuổi 60- 64 đến nhóm tuổi 70- 74, TB 5 năm giảm 0,95 kg đối với namNT; 1,52 kg đối với nữ NT; 1,005 kg đối với nam TT và 1,325 kg đối với nữphường Kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Long (1996)
[23]:‘‘Cân nặng TB của nam giảm 0,22 kg/năm và của nữ giảm 0,24 kg/năm’’ và
cũng phù hợp với quy luật phát triển sinh học về chiều cao của con người
Tốc độ tăng, giảm cân 5 năm một không đều theo các nhóm tuổi Tốc
độ giảm cân sau từng 5 năm một từ 0,51 kg (từ nhóm tuổi 60- 64 đến nhómtuổi 65- 69) lên 1,39 kg (từ nhóm tuổi 65- 69 đến nhóm tuổi 70- 74) đối vớinam NT; tương ứng là 0,91 kg và 2,13 kg đối với nữ NT; từ 0,89 kg lên 1,12
kg đối với nam TT và từ 1,69 kg đến 0,96 kg đối với nữ TT
So sánh sự giảm cân TB giữa nam và nữ ở từng nhóm tuổi có sự chênhlệch khá lớn, có ý nghĩa thống kê với P< 0,05 Cân nặng TB của nam NT lớn hơncủa nữ NT là: 7,18 kg; 7,78 kg và 8,32 kg tương ứng với các nhóm tuổi là: 60- 64;65- 69 và 70- 74 Cân nặng TB của nam CT TT lớn hơn nữ CT TT là: 5,58 kg;6,38 kg và 6,22 kg tương ứng với các nhóm tuổi là: 60- 64; 65- 69 và 70- 74
Trang 35* So sánh cân nặng TB của các ĐTNC và với một số nghiên cứu khác
Bảng 3 6: So sánh cân nặng TB giữa các ĐTNC và với một vài
NT (2009)
TT (2009)
NT (2006)
TT (2006)
Trang 36Biểu đồ 3 5: So sánh cân nặng TB của nam CT NT với nam CT TT và với một vài nghiên cứu khác
Biểu đồ 3 6: So sánh cân nặng TB của nữ CT NT với nữ CT TT
với một vài nghiên cứu khác
Trang 37Từ số liệu ở bảng 3 6, biểu đồ 3 5 và 3 6 cho thấy:
Cân nặng TB của nam NT và nam TT chênh lệch nhau không đáng kể.Cân nặng TB của nữ NT và nữ TT ở từng nhóm tuổi có sự chênh lệch khá lớn, có
ý nghĩa thống kê với P< 0,05 Cân nặng TB của nữ TT lớn hơn nữ NT là: 4,36 kg;3,58 và 4,75 kg tương ứng với các nhóm tuổi là: 60- 64; 65- 69 và 70- 74 Có sựchênh lệch này có thể do điều kiện sống ở nông thôn còn nhiều khó khăn; chế độ
ăn uống còn thiếu chất dinh dưỡng; chế độ chăm sóc, nghỉ ngơi còn hạn chế; đa
số nữ CT nông thôn còn sức khoẻ vẫn tham gia lao động sản xuất; trong số họ cónhững người bị suy dinh dưỡng Ngược lại, ở thành phố, chế độ ăn uống đầy đủchất dinh dưỡng hơn; chế độ chăm sóc, nghỉ ngơi tốt hơn; đa số NCT ở thànhphố có chế độ lương hưu, chế độ bảo hiểm Mặt khác, đa số họ lại nhàn rỗi, ítphải lao động chân tay Do đó, nhiều người trong số họ có xu hướng béo phì
Cân nặng trung bình của nam CT đạt giá trị thấp nhất là 50,46± 5,97 kg (ởnam CT NT độ tuổi 70- 74) và giá trị cao nhất là 55,12± 5,41 kg (ở nam CT TT độtuổi 60- 64) Cân nặng trung bình của nữ CT đạt giá trị thấp nhất là 42,14± 6,05 kg(ở nữ CT NT độ tuổi 70- 74) và giá trị cao nhất là 49,54± 6,25 kg (ở nữ CT TT độtuổi 60- 64) Kết quả này so với giá trị cân nặng TB của người Việt Nam bình
thường trên 60 tuổi trong tài liệu ‘‘Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90- thế kỷ XX’’ có sự sai khác nhưng không đáng kể [4]
Cân nặng TB của ĐTNC của chúng tôi ở nam là 52,86± 5,80 ; ở nữ là45,98± 4,82 so với ĐTNC cùng giới, cùng độ tuổi trong kết quả nghiên cứucủa Phạm Hồng Nga [38], có sự sai khác không có ý nghĩa về mặt thống kênhưng cao hơn nhiều so với kết quả nghiên cứu của Đoàn Yên [38] và đối
tượng nghiên cứu trong tài liệu ‘‘Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90- thế kỷ XX’’, cân nặng TB của NCT trên 60 tuổi là 48,53± 5,26
kg ở nam và 42,16± 4,50 kg ở nữ Sự chênh lệch đó là do đối tượng nghiên cứu
khác nhau, địa điểm nghiên cứu khác nhau và đặc biệt là thời điểm nghiêncứu khác nhau Sau 20 năm, điều kiện kinh tế, xã hội có nhiều đổi mới, đời
Trang 38sống vật chất của nhân dân được nâng cao… Tuy nhiên, điều kiện sống giữanông thôn và thành thị vẫn có sự khác biệt nhất định.
65- 69 58 83,36
± 6,17 - 1.42 56
80.45
± 6,10 - 1,44 4,44 < 0.053
70- 74 45 80,75
± 5,81 - 2.61 45
79.27
± 5,23 - 3,44 5,27 < 0.05
Trang 39Biểu đồ 3.7: So sánh vòng ngực TB của ĐTNC
Từ số liệu ở bảng 3 7,3 8 và biểu đồ 3 7 cho thấy:
Vòng ngực trung bình của đối tượng nghiên cứu ở NCT TT giảm dần theotuổi Từ nhóm tuổi 60 – 64 đến nhóm tuổi 70 – 74, vòng ngực TB giảm từ84,78 cm xuống còn 80,75 cm đối với nam và từ 80,36 cm xuống 75,48 cmđối với nữ Như vậy, sau 15 năm vòng ngực TB của nam giảm 4,03 cm đốivới nam và 4,88 cm đối với nữ Kết quả này phù hợp với quy luật phát triểnchung về sinh học của cọn người
So sánh vòng ngực TB giữa nam và nữ ở từng nhóm tuổi có sự sai khácnhau đáng kể có ý nghĩa thống kê với P < 0.05 và phù hợp với quy luật sinhhọc Vòng ngực TB của nam lớn hơn nữ là 4,42 cm, 4,44 cm, 5,27 cm tươngứng với các nhóm tuổi 60 – 64 , 65 – 69, 70 – 74
Tương tự như ĐTNC ở TT, vòng ngực TB của đối tượng nghiên cứu NT
giảm dần theo tuổi Từ nhóm tuổi 60 – 64 đến nhóm tuổi 70 – 74, vòng ngựctrung bình giảm từ 83,79 cm xuống còn 79,92 cm đối với nam và từ 81,54 cmxuống còn 79,27 cm đối với nữ Như vây, sau 15 năm vòng ngực TB của namgiảm 3,87cm và vòng ngực trung bình của nữ giảm 2,27 cm Kết quả này phùhợp với quy luật phát triển chung về sinh học của con người
Trang 40Tốc độ giảm vòng ngực TB theo 5 năm một không đều theo các nhómtuổi Càng ở nhóm tuổi cao tốc độ giảm càng mạnh so với nhóm tuổi trước.Tốc độ giảm 5 năm một từ 1,23 từ nhóm tuổi 60 – 64 đến 65- 69) tăng lên2,64 từ nhóm tuổi 65- 69 đến 70- 74) đối với nam và tăng từ 1,09 tăng lên1,18 đối với nữ.
So sánh vòng ngực giữa nam và nữ ở từng nhóm tuổi có sự khác nhau rõrệt có ý nghĩa thống kê với P<0.05 và phù hợp với quy luật sinh học Vòngngực trung bình nam lớn hơn nữ là 6.59 cm tương ứng với từng nhóm tuổi 60– 64, 65 – 69, 70 – 74
Qua số liệu trên bảng 3.7 cho thấy sự sai khác về vòng ngực bình thườnggiữa nam TT và nam NT không ý nghĩa thống kê với P>0.05
3.2.4 Chỉ số Pignet trung bình của ĐTNC
Bảng 3.9: Chỉ số Pignet của ĐTNC tại NT