Trong những năm qua sản xuất lạc ở Việt Nam đã có bước nhảy vọt về năng suất từ 1,43 tấn/ha 1998 lên 2,12 tấn/ha 2010 có được kết quả như vậy là nhờ vào các thành tựu nghiên cứu khoa học
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
- -NGUYỄN THỊ VUI
NGHI£N CøU MéT Sè BIÖN PH¸P Kü THUËT
NH»M N¢NG CAO N¡NG SUÊT L¹C XU¢N TR£N VïNG
§ÊT C¸T VEN BIÓN HUYÖN DIÔN CH¢U - TØNH NGHÖ AN
Chuyên ngành: Trồng trọt
Mã số: 60.62.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS NGUYỄN QUANG PHỔ
Trang 2VINH - 2011
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp theo chương trình đào tạo Thạc sỹ Nông nghiệp, chuyên ngành Trồng trọt tại Trường Đại học Vinh, tác giả đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của các giảng viên, các cơ quan đơn vị, bạn bè và gia đình
Trước hết, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học và toàn thể giảng viên Trường Đại học Vinh đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khoá đào tạo
Xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Quang Phổ – người trực tiếp
hướng dẫn tác giả thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn Khoa Nông Lâm Ngư – Trường Đại học Vinh, Uỷ ban nhân dân huyện Diễn Châu – tỉnh Nghệ An, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam,… đã tạo mọi điều kiện giúp tác giả thu thập tài liệu và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và người thân trong gia đình đã động viên, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành bản luận văn này Chắc chắn luận văn không tránh khỏi những sai sót, kính mong các giảng viên và bạn bè đồng nghiệp góp ý để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Nghệ An, ngày 22 tháng 12 năm 2011
Tác giả
Nguyễn Thị Vui
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Nghệ An 13Sản lượng 13Sản lượng 13PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5TGST Thời gian sinh trưởng
VKHKTNNVN Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng lạc một số nước trên thế giới 10
Bảng 3.1 Đặc trưng hình thái của các giống lạc trong điều kiện vụ xuân năm 2011 trên đất cát ven biển huyện Diễn Châu – tỉnh Nghệ An
45
Bảng 3.2 Một số đặc điểm sinh trưởng phát triển của các giống lạc trong điều kiện vụ xuân 2011 trên vùng đất cát ven biển Diễn Châu
46Bảng 3.3 Chỉ số diện tích lá của các giống lạc trong điều kiện vụ xuân năm 2011 trên vùng đất cát ven biển huyện Diễn Châu – Nghệ An
49
Bảng 3.4 Khả năng tích lũy chất khô của các giống lạc trong điều kiện
vụ xuân 2011 trên vùng đất cát ven biển huyện Diễn Châu – Nghệ An
51
Bảng 3.5 Tình hình nhiễm bệnh hại của các giống lạc trong điều kiện
vụ xuân 2011 trên vùng đất cát ven biển huyện Diễn Châu – Nghệ An
52
Bảng 3.6 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống lạc trong điều kiện vụ xuân 2011 trên vùng đất cát ven biển Diễn Châu
54Bảng 3.7 Năng suất kinh tế, năng suất sinh vật học, hệ số kinh tế của các giống lạc trong điều kiện vụ xuân năm 2011 trên vùng đất cát ven
56
Trang 6biển huyện Diễn Châu – Nghệ An
Bảng 3.8 Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển của giống lạc L14 trong vụ xuân năm 2011 trên vùng đất cát ven biển huyện Diễn Châu – Nghệ An
62
Bảng 3.12 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến chiều cao cây và số cành của giống lạc L14 trong vụ xuân 2011 trên vùng đất cát ven biển huyện Diễn Châu – Nghệ An
65
Bảng 3.13 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến chỉ số diện tích lá của giống lạc L14 trong vụ xuân 2011 trên vùng đất cát ven biển huyện Diễn Châu
70
Bảng 3.16 Ảnh hưởng của mật độ đến các yếu tố cấu thành năng suất
và năng suất của giống lạc L14 trong vụ xuân 2011 trên vùng đất cát ven biển huyện Diễn Châu – Nghệ An
71
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây lạc (Arachis hypogaea L.) là cây công nghiệp ngắn ngày, cây lấy
dầu có giá trị kinh tế cao Trong số các loại cây lấy hạt có dầu được trồng hàng năm trên thế giới, lạc đứng hàng thứ hai sau đậu tương về diện tích và sản lượng Trong hơn 100 nước trồng lạc trên thế giới, Việt Nam đứng hàng thứ 10 về diện tích và trong 25 nước trồng lạc của châu Á, Việt Nam đứng thứ
5 về diện tích gieo trồng sau Ấn Độ, Trung Quốc, Myanma và Indonexia [3] Cây lạc chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế thế giới không chỉ do được gieo trồng trên diện tích lớn, mà còn vì hạt lạc được sử dụng rất rộng rãi
để làm thực phẩm và nguyên liệu cho công nghiệp
Hạt lạc chứa từ 40-50% chất béo, 24-27% protein và nhiều khoáng chất
Ca, Fe, Mg, P, K, Zn cùng với một lượng lớn vitamin, đặc biệt là vitamin B Dầu của hạt lạc chủ yếu chứa axit béo chưa no giúp cơ thể con người dễ hấp thụ và giảm hàm lượng cholesterol trong máu Vì thế, ngoài là thức ăn giàu năng lượng, đủ protein, người ta còn quan tâm đến tác dụng chữa bệnh của hạt lạc
Bên cạnh giá trị dinh dưỡng cho con người, lạc còn là nguồn thức ăn tốt cho gia súc Tỷ lệ đường, chất đạm trong thân khá cao, đặc biệt là khô dầu lạc
có chứa 50% protein có thể cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho gia súc
Ở Việt Nam hiện nay, Lạc là một trong số mặt hàng nông sản xuất khẩu quan trọng Hơn thế nữa, nhờ khả năng cố định đạm của hệ vi sinh vật sống cộng sinh nên nó là cây cải tạo đất lý tưởng, do vậy, lạc được coi là cây đậu
đỗ chính tham gia vào các công thức luân canh cây trồng mang tính bền vững
và thân thiện với môi trường Chính vì những ưu điểm như vậy, mà sản xuất lạc ở Việt Nam ngày càng tăng Năm 2011, diện tích lạc của cả nước đạt 260.000 ha, phân bố ở tất cả các vùng sinh thái nông nghiệp, nhưng chủ yếu
Trang 8tập trung tại Đồng bằng sông Hồng (34.500 ha), Trug du và miền núi phía Bắc (50.800 ha), Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (107.200 ha), Đông
Nam Bộ (29.700 ha) (Nguồn tổng cục thống kê).
Trong những năm qua sản xuất lạc ở Việt Nam đã có bước nhảy vọt về năng suất từ 1,43 tấn/ha (1998) lên 2,12 tấn/ha (2010) có được kết quả như vậy là nhờ vào các thành tựu nghiên cứu khoa học về giống và biện pháp kỹ thuật thâm canh Tuy nhiên, sự chênh lệch năng suất lạc giữa các vùng miền còn khá lớn Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu giống có năng suất cao, có tính chống chịu, thích hợp cho từng địa phương và việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật vào sản xuất lạc chưa được đầu tư đúng mức
Diễn Châu là một huyện có truyền thống sản xuất lạc lâu đời Cây lạc ở đây chủ yếu trồng trên đất nghèo dinh dưỡng Điều kiện tự nhiên về đất đai và các điều kiện sinh thái khác vốn đã là hiện trạng tự nhiên, còn yếu tố kỹ thuật cần nghiên cứu và ứng dụng để tăng năng suất lạc ở vùng này Nhằm đóng góp cơ sở khoa học cho việc mở rộng diện tích và nâng cao năng suất lạc tại Diễn Châu, đồng thời góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa bền vững tại địa phương chúng tôi chọn ba khâu kỹ thuật chính là : (1) Hiệu quả tăng năng suất của cây lạc ở vùng này bằng việc thay thế giống tốt hơn; (2) Hiệu quả của che phủ đến tăng năng suất lạc; (3) Hiệu quả điều chỉnh mật độ trồng hợp lý để tăng năng suất lạc Trên cơ sở đó,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số biện pháp kỹ
thuật nhằm nâng cao năng suất lạc xuân trên vùng đất cát ven biển huyện Diễn Châu – tỉnh Nghệ An”
Trang 92 Mục đích – Yêu cầu
2.1 Mục đích
Xác định hiệu quả tăng năng suất lạc bằng phương pháp sử dụng giống lạc có tiềm năng cho năng suất cao, điều chỉnh mật độ hợp lý và biện pháp che phủ thích hợp cho lạc xuân tại vùng đất cát ven biển huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
2.2 Yêu cầu
Tìm ra được hướng kỹ thuật trồng trọt phù hợp nhất để nâng cao mặt bằng về năng suất đối với lạc xuân trên vùng đất cát ven biển huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp những cơ sở khoa học kỹ thuật
để tìm những giải pháp kỹ thuật phù hợp nhằm nâng cao năng suất lạc ở huyện Diễn Châu và là cơ sở khoa học góp phần hoàn thiện quy trình thâm canh lạc cho năng suất cao tại huyện Diễn Châu, Nghệ An
4 Giới hạn của đề tài
Đề tài nghiên cứu trong vụ xuân năm 2011, trên vùng đất cát ven biển huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
Trang 10Sử dụng vật liệu nghiên cứu do Trung tâm nghiên cứu và phát triển Đậu đỗ cung cấp là các giống lạc L26, L23, Sen lai Nghệ An, TB25, L14, L17.
Đề tài chỉ nghiên cứu các biện pháp nhằm nâng cao năng suất lạc đó là: Lựa chọn giống lạc cho năng suất cao, xác định mật độ và biện pháp che phủ thích hợp đối với lạc xuân trên vùng đất cát ven biển huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
Trang 11CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Nguồn gốc và phân bố cây lạc
Lạc thuộc họ cánh bướm (Fabacecae), chi Arachi Nhiều tác giả cho
rằng chi Arachi có thể có 70 loài khác nhau Hiện nay có 22 loài được mô tả phân chia theo nhóm dựa trên cấu trúc hình thái, khả năng tổ hợp và mức độ hữu dục của con lai [46]
Dựa vào các tài liệu của các nhà sử học, tự nhiên học, khảo cổ học và ngôn ngữ học người ta cho rằng cây lạc có nguồn gốc từ Nam Mỹ Tuy nhiên, giới hạn sản xuất rộng rãi của cây lạc ở khoảng 400 Bắc đến 400 Nam
Nguồn gốc chính của loài lạc trồng (Arachi hypogaea L.) ở nước nào
của Châu Mỹ cho tới nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau Nhiều tác giả như Candoble (1982) [38], Higginis (1906) [48] và một số tác giả khác cho
rằng Arachi hypogaea L được thuần hóa ở Granchaco Tây Nam Braxin
Krapovickas (1968) [51], Cardenas (1969) qua những chuyến đi thu nhập giống lạc ở khắp Nam Mỹ lại giả thiết rằng vùng thượng lưu sông Plata Bolivia là trung tâm nguồn gốc của A hypogaea
Lịch sử trồng lạc ở Việt Nam chưa được xác minh rõ ràng Sách “ Vân đoài loại ngữ” của Lê Quý Đôn cũng chưa đề cập đến cây lạc Nếu căn cứ vào tên gọi mà xét đoán thì danh từ “Lạc” có thể là do từ hán “Lạc Hoa Sinh” là
từ người Trung Quốc gọi cây lạc Vì vậy, có thể lạc từ Trung Quốc nhập vào nước ta khoảng thế kỷ XVII-XVIII [14]
1.1.2 Tầm quan trọng, vai trò và vị trí của cây lạc
1.1.2.1 Giá trị của cây lạc trong hệ thống trồng trọt
Lạc (Arachis hypogaea L.) là loại cây công nghiệp ngắn ngày, có giá trị
kinh tế cao ở nhiều nước trên thế giới Bên cạnh đó cây lạc còn có khả năng
Trang 12cố định đạm sinh học rất tốt, trong điều kiện thuận lợi có thể cố định được lượng đạm tương đối lớn từ 200 - 260 kg N/ha [62] Chính vì vậy, lạc là đối tượng cây trồng được sử dụng nhiều trong các công thức luân canh của hệ thống trồng trọt Thân lá, rễ lạc được chôn vùi sau thu hoạch là biện pháp làm giàu dinh dưỡng hiệu quả cho đất.
Tác giả Singh (1993) cho rằng, cây đậu đỗ thực phẩm từ lâu đã được coi là thành phần quan trọng trong hệ thống cây trồng vùng nhiệt đới và Á nhiệt đới Nó thích hợp cho nhiều hệ thống trồng trọt khác nhau [33]
Kết quả nghiên cứu cơ cấu cây trồng tại Trung Quốc, đặc biệt là việc thử nghiêm công thức luân canh các cây trồng cạn với lúa đã rút ra những kết luận có ý nghĩa khoa học và thực tiễn là: Khi đưa các cây họ đậu vào luân canh với lúa, giúp cải thiện tính chất lý, hóa của đất một cách rõ rệt, làm thay đổi PH của đất, tăng hàm lượng chất hữu cơ, cải tạo thành phần cơ giới, tăng lượng lân, kali dễ tiêu trong đất [33]
Khi nghiên cứu cơ cấu cây trồng ở các vùng chuyên canh lạc phía Bắc nước ta, tác giả Ngô Đức Dương (1984) [16] đã kết luận rằng: Cây lạc luân canh tốt nhất với cây trồng họ hòa thảo mà đặc biệt là với lúa nước, ở thời điểm 1 năm sau khi luân canh với cây lúa chế độ dinh dưỡng đất được cải thiện rõ rệt, pH được tăng, lượng chất hữu cơ tăng, hàm lượng đạm tổng số và hàm lượng lân dễ tiêu trong đất đều tăng
So sánh hiệu quả kinh tế của các công thức luân canh trên các chân đất khác nhau ở một số vùng chuyên canh lạc vùng đồng bằng Bắc Bộ [13], đã chỉ ra rằng ở tất cả các công thức luân canh có lạc xuân đều có tổng thu nhập, lãi thuần và hiệu quả đồng vốn đầu tư cao hơn so với các công thức luân canh khác trên cùng một loại đất Đồng thời khi đem so sánh hiệu quả kinh tế của một số loại cây trồng chính ở vụ xuân như: lúa, lạc, đậu tương, ngô; các tác
Trang 13giả cũng ghi nhận là việc trồng lạc trong vụ xuân cho thu nhập thuần cao hơn
so với trồng các cây trồng khác
Tác giả Nguyễn Tiến Mạnh (1995) [30] cho rằng, trên đất bạc màu nhờ nước trời thì sản xuất lạc đạt hiệu quả kinh tế cao nhất Trên đất cát ven biển nếu trồng các cây như lạc, lúa, ngô, khoai lang thì cây lạc có hiệu quả kinh tế cao nhất Vụ Thu Đông trên đất 2 vụ lúa, theo Nguyễn Thị Chinh và cs (2002) [8], cây lạc cũng đạt hiệu quả kinh tế cao nhất: Lợi nhuận thuần trên hecta của lạc đạt 12,698 triệu đồng; ngô 4,848 triệu đồng và khoai lang 1,910 triệu đồng Từ đó, có thể thấy lạc thực sự là cây trồng quan trọng mang lại hiệu quả kinh tế cao
1.1.2.2 Giá trị dinh dưỡng của cây lạc
Lạc là cây công nghiệp, đồng thời là một cây thực phẩm Tác giả Lê Doãn Diên (1993) [12] công bố kết quả phân tích lạc, thấy rằng: Vỏ quả chứa 4,8 - 7,2% protein; 1,2 - 2,8% Lipit; 10,6 - 21,2% Gluxit tổng số; 0,7% tinh bột; 65,7 - 79,3% xơ thô; 1,9 - 4,6 chất khoáng Vỏ hạt: 11,0 - 13,4% protein; 0,5 - 1,9% lipit; 48,3 - 52,2% Gluxit tổng số; 21,4 - 34,4% xơ thô; 2,1% chất khoáng Phôi: 26,5 - 27,8% protein; 39,4 - 43,0% Lipit; 1,6 - 1,8% xơ thô; 2,9
- 3,2% chất khoáng Lá mầm: 43,2% protein; 16,6% Lipit; 31,2 Gluxit tổng số; 6,3% chất khoáng
Bộ phận sử dụng chủ yếu của lạc là hạt, thành phần sinh hóa của hạt lạc như sau:
Trang 1421% chất béo, 32 – 51% protein; lạc nhân có 40 – 50% chất béo, 24 – 27% protein; vừng có 50 – 55% chất béo, 17 – 20% protein; … Như vậy, so với vừng, lạc có tỷ lệ dầu gần tương đương, nhưng tỷ lệ đạm cao hơn nhiều So với đậu tương, lạc hơn hẳn về tỷ lệ dầu nhưng tỷ lệ protein thấp hơn.
Do hạt lạc giàu lipit, protein, vitamin và các khoáng chât nên hạt lạc từ lâu đã được con người sử dụng như một nguồn thực phẩm quan trọng: Sử dụng trực tiếp (lạc rang, lạc luộc, nấu canh, làm kẹo lạc …) Gần đây, sự phát triển của ngành công nghiệp thực phẩm đã chế biến nhiều sản phẩm từ hạt lạc như: Dầu lạc, phomat lạc, kẹo lạc … để phục vụ cho nhu cầu sử dụng của con người ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển [33]
Ngoài ra, thân lá, khô dầu lạc còn là nguồn thức ăn giàu đạm cho chăn nuôi Trong khẩu phần thức ăn của gia súc, khô dầu lạc có thể chiếm tới 25- 30% [33], [34]
Thân lá xanh của lạc với năng suất chất xanh 5- 15 tấn/ha (sau khi thu hoạch quả) có thể dùng chăn nuôi đại gia súc Thành phần dinh dưỡng của thân lá lạc không kém các loại cỏ chăn nuôi khác có thể dùng để chăn nuôi trâu, bò sữa và gia súc khác
Cám vỏ quả lạc: Vỏ quả lạc chiếm khoảng 25- 35% khối lượng quả Cám vỏ quả lạc có thành phần dinh dưỡng tương đương cám gạo
Như vậy, từ lạc người ta có thể sử dụng khô dầu, thân lá xanh và cả cám vỏ quả lạc làm thức ăn gia súc, góp phần trong việc phát triển chăn nuôi
1.2 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới
Lạc (Arachis hypgaea L.) là một trong số cây lấy dầu quan trọng trên
thế giới Cây lạc có nguồn gốc từ Nam Mỹ nhưng hiện nay được phân bố rộng trong phạm vi từ 400 vĩ Bắc đến 400 vĩ Nam Trên thế giới, có hơn 100 nước
Trang 15trồng lạc Năm 2008, diện tích trồng lạc của thế giới đã đạt 21,62 triệu ha, năng suất bình quân đạt 1,54 tấn/ha và sản lượng đạt 33,23 triệu tấn [44].
Ấn Độ là nước đứng đầu trên thế giới về diện tích trồng lạc (6,4 triệu ha) nhưng năng suất lạc bình quân của Ấn Độ còn thấp (103 tấn/ha), do cây lạc được trồng chủ yếu trong điều kiện khô hạn Kinh nghiệm của Ấn độ cho thấy, nếu chỉ áp dụng giống mới mà vẫn áp dụng kỹ thuật canh tác cũ thì năng suất chỉ tăng lên khoảng 26-30% Nếu áp dụng kỹ thuật canh tác tiến bộ nhưng vẫn dùng giống cũ thì năng suất lạc chỉ tăng 20-43% Nhưng khi áp dụng giống mới kết hợp với kỹ thuật canh tác tiến bộ đã làm tăng năng suất lạc từ 50-63% trên các ruộng trình diễn của nông dân [61]
Trung Quốc là nước đứng thứ hai sau Ấn Độ về diện tích trồng lạc với 4,6 triệu ha, nhưng sản lượng lạc lại đứng hàng đầu thế giới đạt 14,0 triệu tấn
và năng suất lạc đạt cao gấp 2 lần năng suất lạc bình quân của thế giới Mỗi năm Trung Quốc xuất khẩu khoảng 30-50 vạn tấn, thu khoảng 20 triệu đô la
mỹ Những năm 1970, năng suất đạt 1,21 tấn/ha đến những năm 1990, năng suất lạc bình quân của Trung Quốc đạt 2,5 tấn/ha Năm 2008, năng suất lạc của Trung Quốc đã đạt 3,04 tấn/ha Sở dĩ sản xuất lạc ở Trung quốc đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật là nhờ vào chiến lược đẩy mạnh nghiên cứu và chuyển giao các kỹ thuật tiến bộ trồng lạc nhằm phát huy tiềm năng to lớn chưa được khai thác của cây trồng này trong sản xuất của Chính phủ Trung Quốc [61]
Mỹ là nước tuy có diện tích lạc không lớn lắm đứng thứ 7 thế giới (0,48 triệu ha) nhưng năng suất lạc đạt cao nhất thế giới với 3,51 tấn/ha (năm 2008)
do vậy sản lượng lạc đứng thứ 3 thế giới [41]
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng lạc một số nước trên thế giới
Nước Diện tích (triệu ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lượng (triệu tấn)
Trang 161.2.2 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam
Sản xuất lạc được phân bố ở hầu hết các vùng sinh thái nông nghiệp Việt nam Diện tích lạc chiếm 28% tổng diện tích cây công nghiệp hàng năm (Đay, Cói, mía, lạc, đậu tương, thuốc là) Tuy nhiên, đã hình thành 6 vùng sản xuất chính như sau: [37]
Vùng Đồng bằng sông Hồng, lạc được trồng chủ yếu ở các tỉnh, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Nam Định, Ninh Bình với diện tích 31.400 ha, chiếm 29,3%
Vùng Đông Bắc, lạc được trồng chủ yếu ở Bắc Giang, Phú Thọ, Thái Nguyên với diện tích 31.000 ha, chiếm 28,9%
Vùng Duyên Hải Bắc Trung Bộ là vùng trọng điểm lạc của các tỉnh Phía Bắc với diện tích 74.000 ha (chiếm 30,5%), chủ yếu tập trung ở các tỉnh Thanh Hoá (16.800ha), Nghệ An (22.600 ha), Hà Tĩnh (19.900 ha)
Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ với diện tích trồng 23.100 ha (chiếm 9,5%).và được trồng tập trung ở hai tỉnh Quảng Nam , Bình Định
Vùng Tây Nguyên, diện tích trồng lạc 22.900 ha (chiếm 9,4%), chủ yếu
ở tỉnh Đắc Lắc (18.200 ha)
Trang 17Vùng Đông Nam bộ, lạc được trồng tập trung ở các tỉnh: Tây Ninh, Bình Thuận, Bình Dương với diện tích 42.000 ha
* Tình hình sản xuất lạc ở Nghệ An:
Lạc là cây trồng chính trên một số vùng đất màu ở Nghệ An, sản phẩm lạc hàng hoá đóng góp một phần không nhỏ trong xuất khẩu nông sản hằng năm Ngoài giá trị kinh tế cây lạc còn có giá trị cải tạo đất và có một vị trí quan trọng trong việc thực hiện công thức luân canh 3vụ/năm để làm tăng giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích Giai đoạn 2001-2010 nhờ từ xuất khẩu lạc nhân hằng năm đã đem về một lượng ngoại tệ rất lớn (trung bình trên 11 triệu USD/năm) Vì vậy nghị quyết đại hội đảng bộ lần thứ XIV đã xếp cây lạc vào 1 trong 10 cây trồng quan trọng của Nghệ An để tập trung đầu tư phát triển
Nhìn chung sản xuất lạc trong 10 năm qua đã có bước phát triển Tuy nhiên do sản xuất lạc còn phụ thuộc quá nhiều vào điều kiện tự nhiên nên vẫn chưa thể hiện được sự tăng trưởng ổn định, phân tích kết quả cụ thể trên một
lạc có tăng nhưng không ổn định, đặc biệt là các huyện miền núi thấp năng suất lạc giảm nghiêm trọng ở những năm gặp hạn Vùng trọng điểm (Diễn Châu, Nghi Lộc) năng suất lạc liên tục tăng trên diện tích lớn
Từ trước năm 2003 chủ yếu sử dụng các giống Sen lai, Sen NA và một
số giống khác với tỷ lệ ít như: V79, 1660,LVT được trồng rãi rác ở một số
nơi Nhưng từ năm 2003 đến nay bắt đầu phát triển giống lạc mới bằng các
Trang 18giống: Sen lai 75/23, L14, L08, L20 Trong đó giống Sen lai 75/23 có tiềm năng năng suất khá, thích ứng rộng, chống chịu khá với điều kiện bất thuận (hạn), có chất lượng tốt; L14 có tiềm năng năng suất cao, thích ứng rộng nên phát triển nhanh nhất Đến năm 2006, diện tích L14 được mở rộng diện tích lên tới gần 16.000ha và là nhân tố quan trọng đưa năng suất lạc ở các vùng trọng điểm thâm canh (Diễn Châu, Nghi Lộc và Thị xã Cửa Lò) lên cao.
Vụ Xuân là vụ sản xuất chính để tạo ra hầu hết sản lượng lạc và khối lượng lạc làm hàng hóa xuất khẩu của Tỉnh Tuy nhiên, diện tích lạc Xuân giai đoạn 2001-2010 có xu thế giảm nhẹ do một số diện tích trồng lạc năng suất thấp được chuyển sang sản xuất rau, nhờ giá trị thu nhập đem lại từ rau hiệu quả cao hơn, bên cạnh đó một số vấn đề liên quan đến công tác giống
cũng chưa được giả quyết tốt Diện tích lạc Thu Đông phát triển khá và đã
khẳng định một vụ lạc mới trong cơ cấu cây trồng và mùa vụ trồng lạc ở Nghệ An Tuy nhiên diện tích lạc thu Đông thường gặp điều kiện bất thuận đầu vụ nên chưa thật sự phát triển ổn định
Trang 19Bảng 1.2 Diện tích, năng suất, sản lượng lạc từ 2001 đến 2010
Diện tích
(1000 ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (1000 tấn)
Diện tích (1000 ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (1000 tấn)
Nguồn: Niên giám thống kê 2010
Ngoài việc phát triển các giống mới, một số biện pháp kỹ thuật mới được áp dụng và tăng cường đầu tư như: Áp dụng trồng lạc phủ nilon, cải tiến mật độ, tăng phân bón, sử dụng nhiều phân bón NPK là những nhân tố chủ yếu đã góp phần làm tăng năng suất và sản lượng lạc trong nhưng năm qua Công tác bảo vệ thực vật cho cây lạc, các loại sâu hại lạc phát triển và phổ biến như: Sâu xám, sâu khoang, sâu xanh và bệnh chết ẻo hàng loạt xẩy ra liên tiếp trên diện rộng Trong đó bệnh chết ẻo, héo rũ hàng loạt do các tác nhân như; vi khuẩn héo xanh, nấm Aspergilus niger, v.v… chưa có các biện pháp phòng trừ có hiệu quả; Công tác thủy lợi và cải tạo đồng ruộng: Một số vùng trồng lạc ở Nghi Lộc, Diễn Châu đã được đầu tư cải tạo nhưng ở mức còn đơn giản như hình thành một số trục mương tiêu để tiêu ứng khi cần thiết, còn đa số các cánh đồng lạc ít được đầu tư cải tạo Việc tưới nước cho lạc trong những năm gặp hạn nặng và tưới cho lạc Hè thu còn chưa được giải quyết
1.3 Tình hình nghiên cứu lạc trên thế giới và ở Việt Nam
Trang 201.3.1.Tình hình nghiên cứu lạc trên thế giới
1.3.1.1 Một số kết quả nghiên cứu về tuyển chọn giống lạc
Viện nghiên cứu cây trồng Quốc tế cho vùng bán khô hạn (ICRISAT)
là cơ sở nghiên cứu lớn nhất về cây lạc Tính đến năm 1993, ICRISAT đã thu thập được 13.915 lượt mẫu giống lạc từ 89 nước khác nhau trên thế giới Trong đó, Châu Phi 4078; Châu Á 4609; Châu Âu 53; Châu Mỹ 3905; Châu
Úc và Châu Đại Dương 59; còn lại 1245 lượt mẫu giống chưa rõ nguồn gốc Đặc biệt, ICRISAT đã thu thập được 301 lượt mẫu giống thuộc 35 loài dại của chi Arachis, đây là nguồn gen có giá trị cao trong công tác cải tiến giống theo hướng chống bệnh và chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận [52]
ICRISAT đã chọn được nhiều giống lạc mới có năng suất cao như: ICGV-SM 83005, ICGV 88438, ICGV 89214, ICGV 91098, và các giống lạc chín sớm ICGV 86015, ICGS(E) 52, ICGV 86062, … Gần đây giống lạc ICGV91114 với ưu điểm cho năng suất cao đang được phát triển rộng rãi ở các bang AndraPradesh và Chhattisgarh của Ấn độ [37]
Hiện nay ở Trung Quốc việc cải tiến giống đã đóng góp một phần rất lớn cho việc tăng sản lượng lạc Hơn 200 giống có năng suất cao đã được phát triển và phổ biến cho sản xuất từ những năm cuối thập kỷ 50 của thế kỷ 20 Kết quả ghi nhận các giống lạc được trồng ở tất cả các vùng đạt tới 5,46 triệu
ha Trong số đó có những giống có năng suất cao là Haihua1, Hua 37, Luhua
9, 11, 14 và 8130, tiềm năng năng suất của mỗi giống tới 7,5 tấn/ha [11]
Các giống lạc có chất lượng hạt tốt bao gồm: Baisha 1016, Hua 11, Hua 17, Luhua 10 và 8130 đã sản xuất chủ yếu để xuất khẩu Một số giống kháng cao với bệnh héo xanh vi khuẩn và bệnh gỉ sắt như giống: Luhua 3, Zhonghua 2, Zhonghua 4, Yueyou 256 đã được sử dụng rộng rãi ở các vùng
có nguy cơ nhiễm bệnh cao, nhờ đó mà năng suất lạc luôn được giữ ổn định Trong những năm 2003 và 2004, Trung Quốc đã công nhận 17 giống lạc mới
Trang 21trong đó điển hình là các giống Yueyou 13, Yueyou 29, Yueyou 40, 01-2101, Yuznza 9614, 99 - 1507, R1549 có năng suất trung bình 46 - 70 tạ/ha [49]
Ấn Độ là nước có nguồn tài nguyên thực vật vô cùng đa dạng và phong phú Số lượng đáng kể những giống lạc được trồng ở Ấn Độ được nhập nội từ những trạm khác nhau trên thế giới Sau quá trình đánh giá cẩn thận, những giống thích hợp được phát triển và phổ biến ra sản xuất Tính đến năm 1981,
đã có 6.290 lượt mẫu giống lạc được thu thập Trong chương trình hợp tác nghiên cứu với ICRISAT, bằng con đường thử nghiệm các giống lạc chím sớm đó là: ICGV86014 và ICGV86143 Hiện nay, hai giống này đang được phát triển rộng rãi trong sản xuất Giống và ICGV86143 được đặt tên là BSR1
và công nhận giống quốc gia năm 1994 [59]
Ấn Độ đã lai tạo và chọn được các giống lạc thương mại mang tính đặc trưng cho từng vùng Mỗi bang của Ấn Độ trồng các giống khác nhau, tại Bang Andhra Pradessh, trồng giống Kadiri - 2, giống Kadiri- 3 chiều cao cây
23 - 28cm, thời gian sinh trưởng 115 đến 120 ngày, hạt chứa 43,7% dầu, tỷ lệ nhân 76% Bang Gujarat trồng giống GAUG - 1, dạng cây đứng, thời gian sinh trưởng 95 đến 100 ngày Thích ứng trong điều kiện canh tác nước trồng Bang Haryana, trồng giống MH, dạng thân đứng, lá màu xanh tối, thời gian sinh trưởng 105 đến 110 ngày Bang Uttar Pradesh, trồng giống T-28 dạng thân bò, lá xanh đen, hạt chứa 48% dầu năng suất cao [47]
Ở Australia, theo số liệu của FAO (1991) [43] đã thu thập được 12.160 lượt mẫu giống từ nhiều nước trên thế giới như Châu Phi, Trung và Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Châu Á, Châu Đại Dương Hầu hết các mẫu giống đều thuộc hai kiểu phân cành liên tục và xen kẽ
Tại Mỹ, các nhà khoa học đã tạo được nhiều giống có năng suất cao, chất lượng tốt, có khả năng kháng sâu bệnh phục vụ sản xuất Giống F2VA93B; giống VGS1 và VGS2 là 2 giống có năng suất cao được trồng
Trang 22nhiều ở Florida [39] Giống Andru 93 là giống có năng suất cao, hàm lượng dầu là 50,7%, giống NC12C có khả năng kháng bệnh đốm lá, gỉ sắt và héo xanh vi khuẩn, năng suất cao từ 30-50 tạ/ha được trồng phổ biến ở Georgia, Florida và Alabam [50] Giống Tarmun 96, năng suất cao và có khả năng kháng bệnh thối quả và một số bệnh do virus khác [58].
Phillipin đã đưa vào sản xuất nhiều giống như UPLP n6, UPLP n8 và BPIP n8 có kích thước hạt lớn, kháng bệnh gỉ sắt, bệnh đốm lá [55]
Ở Srilanka, thông qua con đường nhập nội các giống lạc từ ICRISAT,
đã chọn được giống ICGV 87134 có số quả/cây và khối lượng 100 quả cao nhất, giống lạc ICGV 87126 cho năng suất rất cao (1,4-2,8 tấn/ha) và khối lượng 100 hạt đạt 56g [54]
Thái Lan cũng đã chọn tạo và đưa vào sản xuất các giống lạc có đặc tính năng suất cao, chín sớm, chịu hạn, kháng bệnh đốm lá, gỉ sắt có kích thước hạt lớn như: Khon Kean 60-3; Khon Kean 60-2; Khon Kean 60-1 và Tainan 9 [57]
Ở Inđonêxia, công tác chọn tạo giống cũng được tập trung vào các mục tiêu như: Năng suất cao, chín sớm, kháng bệnh héo xanh vi khuẩn, bệnh đốm
lá, gỉ sắt và phẩm chất tốt Các giống có triển vọng và khuyến cáo đưa vào sản xuất như Mahesa, Badak, BiaWar và Koinodo [42]
1.3.1.2 Một số nghiên cứu về che phủ nilon cho lạc
Kế thừa kết quả nghiên cứu của Nhật Bản, công nghệ che phủ nilon cho được đã được nghiên cứu ở Trung Quốc từ năm 1978 Tác dụng của màng phủ đã được sớm khẳng định trên rau và lạc từ năm 1979 Kết quả nghiên cứu đạt được từ năm 1980-1982 cho thấy rằng: Màng phủ đã làm tăng nhiệt độ đất, độ ẩm đất, cải thiện lý tính đất và đặc tính hoá học, kích thích hạt nảy mầm sớm, hoa và quả nhiều hơn, phát dục sớm hơn, năng suất cao và chất lượng hạt tốt Năm 1984 kỹ thuật trồng lạc có che phủ nilon đã được trồng và
Trang 23khảo nghiệm ở 16 tỉnh thành với diện tích trên 26.000 ha chiếm 8,2% diện tích lạc toàn quốc đã cho năng suất bình quân từ 37-45 tạ/ha [3]
Năm 1993, kỹ thuật này đã được mở rộng 2,37 triệu ha va tăng nang suất 1,371 tấn/ha so với trồng lạc không phủ nilon Đến năm 1994, kỹ thuật trồng lạc có che phủ nilon đã chiếm 90% diện tích trồng lạc của tỉnh Sơn Đông đã thực sự tạo ra "cuộc cách mạng trắng" một trong những biện pháp quan trọng nhất góp phần làm tăng sản lượng lạc ở Trung Quốc [60]
Diện tích gieo trồng các giống lạc mới năng suất cao ở Trung Quốc đạt 90-95% tổng diện tích lạc cả nước nhờ một mạng lưới khuyến nông hiệu quả Cùng thời gian này nhiều biện pháp kỹ thuật nhằm đạt năng suất, sản lượng cao đã được phát triển và áp dụng rộng rãi Đó là cày sâu, bón phân cân đối, mật độ gieo hợp lý, phòng trừ sâu bệnh tổng hợp và đặc biệt là kỹ thuật che phủ nilon đã góp phần tăng sản lượng lạc của Trung Quốc Kỹ thuật che phủ nilon đã được áp dụng trên diện tích khoảng 400.000ha/năm với mức tăng trưởng năng suất so với đối chứng (không che phủ) từ 20 - 50% tuỳ vùng và
vụ trồng, Trung Quốc đã đạt 9 tấn/ha trên quy mô nhỏ (1 ha) và 4,5 tấn/ha trên quy mô hàng ngàn ha Ấn Độ đạt 7 tấn/ha ở quy mô 2 ha, tại ấn Độ trồng lạc sau mùa mưa, nhiệt độ thấp dưới 180C vào thời gian gieo đã làm giảm khả năng nảy mầm, ở giai đoạn phát triển hạt lại gặp nhiệt độ cao Người ta đã nghiên cứu biện pháp phủ rơm lúa mì (5 tấn/ha) phủ lên bề mặt luống lạc đã khắc phục được sự mất ổn định nhiệt độ và làm tăng năng suất Phủ bằng rơm không chỉ làm năng nhiệt độ lên 2-30C ở giai đoạn sinh trưởng đầu mà còn làm giảm nhiệt độ 3-50C ở giai đoạn phát triển hạt Gần đây nghiên cứu sử dụng màng nilon làm tăng nhiệt độ đất từ 5-60C làm hạt nảy mầm nhanh hơn (chỉ 5-6 ngày sau gieo), trong khi phủ rơm là 10-12 ngày, gieo bình thường từ mất từ 2-3 tuần hạt mới nảy mầm hoàn toàn Kỹ thuật này rất hữu ích ở vùng
Trang 24Đông Bắc nơi nhiệt độ thấp ở vụ sau mùa mưa gây trở ngại cho sự nẩy mầm của hạt [53]
Tại Hàn Quốc công tác nghiên cứu các kỹ thuật cao trên cây lạc đã được quan tâm từ những năm 1960, nhờ các kỹ thuật canh tác tiên tiến và áp dụng kỹ thuật che phủ nilon năng suất lạc tại Hàn Quốc đã đạt trên 60 tạ/ha
1.3.1.3 Kết quả nghiên cứu về mật độ trồng
Việc tăng năng suất lạc bằng cách điều chỉnh mật độ trồng hợp lý cũng
đã được nghiên cứu ở nhiều nước
Năng suất có thể tăng bằng cách giảm khoảng cách giữa các hàng cây, thay đổi khoảng cách cây/hàng ảnh hưởng đến sản lượng ít hơn là thay đổi khoảng cách giữa các hàng Quả chín chậm trên các cây trồng chen chúc so với các cây cách xa hơn, trồng dày thì không có hoa ra muộn do đó quả gần gốc cây nhiều hơn và chín đều hơn [3]
Khi nghiên cứu mật độ và khoảng cách trồng lạc đối với các loại hình cây khác nhau đã khuyến cáo: Đối với các loại hình Spanish thân bụi khoảng cách rộng là 30cm x 10cm x 1 hạt, lượng hạt gieo 100 – 110 kg/ha và mật độ tương ứng 33,3 vạn cây/ha; Đối với loại hình thân bò Virginia thì khoảng cách trồng là 30cm x 15cm x 1hạt, lượng hạt 95-100 kg/ha và mật độ là 22,2 vạn cây/ha [3]
Ở Ấn Độ, lạc gieo trồng với khoảng cách 30cm x 10cm cho giống đứng cây và 30cm x 15cm cho những giống nửa đứng, 45cm x 15cm cho nhứng giống thân bò Trước đây ở vùng Saurashtra Gujarat người ta thường gieo lạc với khoảng cách hàng rộng 90cm Bây giờ đã được chuyển sang phương pháp gieo hàng kép với khoảng cách 45cm đã làm tăng năng suất lên 28% Phương pháp này không làm tăng lượng hạt giống gieo mà đã điều hòa được ánh sáng,
độ ẩm và dinh dưỡng, đồng thời làm tăng năng suất [3]
1.3.2 Tình hình nghiên cứu lạc ở Việt Nam
Trang 251.3 2.1 Một số nghiên cứu và tuyển chọn giống lạc
Ở Việt Nam, công tác thu thập, bảo tồn và sử dụng tập đoàn lạc đã được tiến hành từ lâu tại các Trung tâm, Viện nghiên cứu nông nghiệp và các trường Đại Học Nông Nghiệp, song phần lớn các tập đoàn này chỉ được giữ ở mức tập đoàn công tác, việc tiến hành thu thập không mang tính hệ thống từ năm 1980, khi trung tâm giống cây trồng Việt Xô - Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (Viện KHKTNN Việt Nam) ra đời mới bắt đầu tiến hành thu thập một cách hệ thống và nhập nội nguồn vật liệu từ trong nước và nước ngoài Số lượng mẫu giống thu thập và nhập nội đã lên tới 1.271 mẫu, trong đó gồm 100 giống địa phương và 1.171 giống nhập từ 40 nước trên thế giới [27]
Từ năm 1991 đến 2000, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Đậu đỗ, Viện KHKTNN Việt Nam đã nhập trên 1894 mẫu giống từ ICRISAT để tiến hành đánh giá, chọn lọc [26]
Viện Nghiên cứu cây có dầu Miền Nam đã nhập nội và lưu giữ được
433 mẫu thuộc 8 nhóm: Ngắn ngày, trung ngày, hạt ngủ tươi, kháng bệnh lá, kháng bệnh mốc vàng, kháng bệnh héo xanh vi khuẩn, kháng sâu và hàm lượng dầu cao [17]
Nhìn chung, trong những năm qua chúng ta đã tiến hành thu thập và nhập nội được một khối lượng tương đối lớn nguồn vật liệu di truyền cây lạc Phần lớn nguồn gen này mới được sử dụng ở mức đánh giá và chọn lọc trực tiếp để phục vụ sản xuất Một phần rất nhỏ đã và đang được sử dụng làm vật liệu cho công tác lai tạo tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Đậu đỗ, các trường Đại học Nông nghiệp và các Viện Nghiên cứu Nông nghiệp trên cả nước
Nghiên cứu tuyển chọn giống lạc là một quá trình liên tục để đáp ứng với những thay đổi của sản xuất và yêu cầu thị trường Công tác chọn tạo
Trang 26giống lạc ở Việt Nam tập trung chủ yếu vào các mục tiêu: Năng suất cao, chất lượng tốt phục vụ ép dầu và xuất khẩu, chống chịu sâu bệnh, có thời gian sinh trưởng khác nhau phù hợp với công thức luân canh cây trồng.
Từ năm 1974, Bộ môn cây Công nghiệp - Trường Đại học Nông nghiệp
I Hà Nội bắt đầu nghiên cứu chọn tạo giống lạc bằng phương pháp đột biến phóng xạ Bằng phương pháp này đã tạo ra giống: B5000 (từ giống Bachsa có nguồn gốc từ Trung Quốc), B5000 có hạt to, vỏ lụa màu hồng, năng suất cao
ổn định [15]
Nguyễn Văn Liễu và cộng sự (1994) [25] đã chọn tạo được giống 4329
từ xử lý đột biến phóng xạ giống Hoa 17 là giống có nguồn gốc từ Trung Quốc, 4329 có thời gian sinh trưởng 130 – 140 ngày, năng suất đạt trên 20tạ/ha, tỷ lệ hạt cao
Bằng phương pháp dùng hóa chất (Nitrozomethyluera) gây đột biến lên giống lạc sen lai 75/23; tác giả Hoàng Tuyết Minh và cs., 1995 [31] đã thu được 2 dòng D329 và D332 Dòng D332 được Hội đồng Khoa học Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho phép khu vực hóa trên diện rộng từ tháng 3/1995
Tại Viện Nghiên cứu cây có dầu ở Miền Nam, trong thời gian từ 1991 –
1995 đã chọn ra được dòng Lỳ 1 có năng suất cao (2929 kg/ha), được Hội đồng Khoa học của Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp Thực phẩm cho phép khu vực hóa ở vùng Đông Nam Bộ với tên gọi là VD-1 [18]
Cũng tại Viện Nghiên cứu cây có dầu miền Nam, từ năm 1993 – 1998
đã chọn được 2 giống lạc kháng bệnh héo xanh vi khuẩn là VD9, VD10; 2 giống kháng bệnh mốc vàng (Aflatoxin) là VD2, VD7 [17]
Giống lạc Sen lai 75/23 được chọn tạo từ việc lai hữu tính giữa 2 giống Mộc Châu tráng và Trạm Xuyên, có năng suất cao, sinh trưởng nhanh, tương đối chịu rét, vỏ lạc màu hồng, hạt to phù hợp xuất khẩu [18] Giống L12 được
Trang 27chọn tạo từ tổ hợp lai giữa V79 và ICGV 87157, có năng suất trung bình là 30 tạ/ha, nhiễm trung bình một số bệnh như đốm nâu, đốm đen, gỉ sắt, khối lượng 100hạt 50 - 60g, chịu hạn khá, thích hợp cho vùng sản xuất lạc nhờ nước trời [36].
Nguyễn Thị Chinh, Nguyễn Văn Thắng và cộng sự [9], khi chọn lọc từ nguồn vật liệu nhập nội của Trung Quốc, đã chọn ra được nhiều giống lạc có năng suất cao, có thời gian sinh trưởng trung bình, có khả năng kháng sâu bệnh khá, điển hình là các giống: L02 có năng suất từ 30 – 36 tạ/ha; L14 có năng suất từ 40 – 45 tạ/ha; L18 có năng suất từ 55 – 60 tạ/ha; L23 có năng suất từ 50 – 55 tạ/ha Các giống lạc này lần lượt được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật vào các năm 1992,
2004 và 2008 Đặ biệt giống L18 và L23 đang được phát triển trên quy mô hàng nghìn ha và cho năng suất cao ở những vùng có điều kiện thâm canh như tỉnh Nam Định
Cũng bằng con đường nhập nội giống, nhóm tác giả Nguyễn Xuân Hồng, Nguyễn Thị Yến và cs (2000, 2004) [21], [22], đã phân lập và chọn ra một số giống lạc có năng suất cao, chất lượng tốt và có khả năng kháng sâu bệnh cao đó là: L08, MD7, Trong đó, L08 có năng suất trung bình là 2,8 – 3,2 tấn/ha, thâm canh cao có thể đạt 3,5 – 4,0 tấn/ha Khối lượng 100 hạt đạt 72g, vỏ lụa màu hồng cánh sen, tỷ lệ nhân cao 75 – 77% Với đặc điểm quý này giống lạc L08 đáp ứng tốt nhu cầu thị trường xuất khẩu hiện nay
Như vậy, trong thời gian qua công tác nghiên cứu và tuyển chọn giống lạc ở Việt Nam đã đạt được rất nhiều kết quả đáng ghi nhận Nhiều giống lạc mới có năng suất cao, chất lượng tốt, thích ứng rộng và chống chịu sâu bệnh
đã đưộưc giới thiệu cho sản xuất và được nông dân chấp nhận Trong tương lai không xa các giống lạc triển vọng như: L17, L19, L26, mới được chọn
Trang 28tạo đang tham gia vào màng lưới khảo nghiệm Quốc gia, sẽ mở ra một triển vọng cho việc tăng năng suất và chất lượng ở Việt Nam.
1.3.2.2 Kết quả nghiên cứu về che phủ nilon cho lạc ở Việt Nam
Kế thừa các kết quả nghiên cứu của Nhật Bản và Trung Quốc, tại Việt Nam kỹ thuật trồng lạc phủ nilon được Trung tâm nghiên cứu và phát triển đậu đỗ tiến hành thử nghiệm năm 1996 đến năm 1998 được Hội đồng khoa học công nghệ cho phép khu vực hoá mở rộng sản xuất Theo Trần Đình Long và cộng sự (1999) [28] việc áp dụng kỹ thuật che phủ nilon ở các tỉnh phía Bắc đã đem lại kết quả tốt Năng suất lạc trong vụ xuân ở Nam Định đạt
44 tạ/ha Mức độ chấp nhận của nông dân được thể hiện thông qua diện tích được áp dụng kỹ thuật che phủ nilon ngày càng được mở rộng, năm 1997 diện tích che phủ nilon cả nước là 11 ha, tăng lên 150 ha năm 1998 và 394 ha năm
1999 Đi đầu cho việc ứng dụng kỹ thuật này là tỉnh Nam Định với 92 ha, sau
đó là Bắc Giang 68 ha, năm 2000 diện tích lạc được che phủ nilon đã tăng lên gần 1000 ha [9]
Cũng theo Nguyễn Thị Chinh và ctv (2001) [9], nghiên cứu việc che phủ nilon cho giống lạc L02 trong vụ xuân đã tăng năng suất lên 43% và tăng 54,7% ở vụ thu đông so với không che phủ
Về hiệu quả kinh tế của việc che phủ nilon, trồng lạc có che phủ nilon
đã phải đầu tư thêm chi phí nilon và thuốc trừ cỏ là: 1.556.000đ/ha, cộng thêm 27 công gieo trồng và 54 công đục lỗ, thu lượm nilon sau thu hoạch Nhưng việc áp dụng kỹ thuật này đã hạn chế công làm cỏ và giảm được tới
135 công/ha, tương đương 1.350.000đ Mặc dù có chi phí cao hơn nhưng với năng suất cao hơn trung bình 10 tạ/ha và lãi thuần tăng 3.358.000 đ/ha [8]
1.3.2.3 Kết quả về nghiên cứu che phủ thân xác thực vật
Che phủ thân xác thực vật là biện pháp được nghiên cứu trong nước từ năm 2005, Trung tâm chuyển giao khoa học công nghệ và khuyến nông -
Trang 29Viện cây lương thực đã tiến hành nghiên cứu về che phủ thân xác thực vật nhằm hạn chế các bất cập trong việc che phủ nilon như giá cao, nhiều công và
ô nhiễm môi trường, vật liệu che phủ chủ yếu là dùng rơm rạ hoặc dùng thân
lá lạc kết hợp với trấu để che phủ Các kết quả nghiên cứu đều kết luận việc che phủ rơm rạ cho năng suất cao tương đương che phủ nilon
Theo Nguyễn Quốc Thanh (2005) cho rằng che phủ rơm rạ ở mức 5 tấn/ha có thể tăng năng suất lạc vỏ khô lên 5,9 tạ/ha so với không che phủ Ngoài ra việc che phủ thân xác thực vật còn làm tăng chất lượng quả như khối lượng 100 quả, khối lượng 100 hạt, tỷ lệ nhân/quả đều tăng so với không che phủ [32]
Cũng theo Nguyễn Quốc Thanh (2005) áp dụng kỹ thuật che phủ lạc bằng xác hữu cơ có tác dụng như che phủ nilon, giúp cây có tỉ lệ nảy mầm cao, phân cành sớm, sinh trưởng khoẻ, hạn chế ra hoa muộn hình thành quả tập trung dinh dưỡng nuôi những tia đã hình thành sớm, nâng cao tỉ lệ quả chín trên cây Năng suất trung bình cao hơn đối chứng không phủ từ 25-50% trong cả 2 vụ xuân và thu đông do có tỷ lệ quả chín trên cây cao và khối lượng 100 hạt cao [32]
Theo Hoàng Tuyển Phương và ctv (2006) việc che phủ rơm rạ và xác cây lạc cho lãi cao nhất, cao hơn phủ nilon từ: 1.138.000 - 1.960.000đ/ha và cao hơn so với đối chứng từ: 2.718.000 - 3.540.000đ/ha [32]
Việc áp dụng kỹ thuật che phủ thân xác thực vật ngoài các tác dụng như che phủ nilon còn có tác dụng cải tạo đất rất tốt, thân xác thực vật được đem che phủ là rơm rạ là chủ yếu ngoài ra còn có thể dùng trấu, thân lá lạc, vỏ lạc để làm vật liệu che phủ, sau khi thu hoạch các tàn dư thực vật này sẽ bổ sung cho đất một lượng mùn lớn Theo quy trình của Trung tâm chuyển giao công nghệ và khuyến nông - Viện khoa học nông nghiệp Việt Nam thì nếu
Trang 30dùng rơm rạ che phủ khối lượng là 4kg/m2, như vậy một ha sẽ che phủ 40 tấn thân xác thực vật đây là nguồn cải tạo đất rất có giá trị
Việc áp dụng che phủ thân xác thực vật còn tận dụng được các phụ phẩm trong nông nghiệp, hạ giá thành so với áp dụng che phủ nilon
1.3.2.4 Nghiên cứu về mật độ gieo trồng lạc
Trong những năm qua có rất nhiều công trình nghiên cứu về mật độ và khoảng cách trồng ở nước ta Theo Bùi Huy Đáp và ctv (1957), khi nghiên cứu về khoảng cách trồng lạc ông rút ra kết luận: Đối với các giống lạc đứng 3-4 tháng không nên trồng mật độ dưới 30 cây/m2, trồng dày có thể tăng năng suất nhưng tốn hạt giống, cách bố trí trung bình có thể 30x20 cm (2 cây) hoặc 40x50cm (2 cây) [14]
Theo Ưng Định và Đăng Phú (1987), tổng hợp các nghiên cứu cho biết, tăng mật độ từ 22 cây/m2 (30cm x 15cm x 1 cây) lên 33 cây/m2 (30cm x 10cm
x 1 cây), năng suất lạc tăng từ 15,0 lên 22,0 tạ/ha Mật độ trồng 44 cây/m2
(30cm x 15cm x 2 cây), năng suất tăng lên 29,0 tạ/ha Trên đất bạc màu Bắc Giang, lạc trồng với mật độ 25 cây/m2 (40cm x 20cm x 2 hạt) năng suất đạt 12,0 tạ/ha, trồng với mật độ 42 cây/m2 (30cm x 15cm x 2 hạt) năng suất tăng lên 15,0 tạ/ha [7]
Bố trí 4 mật độ trồng lạc khác nhau với giống lạc VD1 ở vùng Đông Nam Bộ kết quả cho thấy năng suất lạc đạt cao nhất 2,81 tấn/ha ở khoảng cách gieo 20 cm x 20 cm x 2 hạt [18]
Kỹ thuật che phủ nilon cho lạc đã được Hội đồng Khoa học Bộ Nông nghiệp và PTNT cho phép khu vực hóa năm 1997 Theo Nguyễn Thị Chinh
và ctv., 2001 [9], nghiên cứu mật độ trồng lạc khi áp dụng kỹ thuật che phủ nilon qua 3 vụ (1996 – 1998) đối với giống lạc L02 đã rút ra kết luận: Năng suất ở mật độ 40 cây/ m2 theo phương thức 33 x 15 cm x 2 cây hoặc 25 x 20
Trang 31cm x 2 cây đều cho năng suất cao hơn so với đối chứng (trồng 33 cây/ m2 theo phương thức 33 x 10 cm x 1 cây) từ 27-36%.
Nguyễn Quỳnh Anh (1994) [1] xác định mật độ trồng thích hợp nhất cho giống lạc Sen lai (75/23) trên đất cát biển Nghệ An là 35 cây/m2 theo khoảng cách (30cm x 10cm x 1 hạt)
Nguyễn Thị Ngọc Lan, (2008) [24], khi nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật góp phần nâng cao năng suất lạc vùng đồi, huyện Chương Mỹ, Hà Tây đối với giống lạc L14 đã kết luận rằng, gieo ngày 28 tháng 2 năm 2008 trồng với mật độ 40 cây/m2 cây sinh trưởng, phất triển tốt hơn so với các giống khác trong cùng điều kiện, năng suất thực thu đạt được 27,9 tạ/ha
năng suất của giống L14 đạt cao nhất 28,05 tạ/ha, trong khi mật độ 20 cây/m2
chỉ đạt 23,89 tạ/ha, với mật độ gieo 30 cây/m2 năng suất đạt 26,00 tạ/ha, 50 cây/m2 26,25 tạ/ha, 60cây/m2 năng suất đạt 25,3 tạ/ha
Tóm lại, các kết quả nghiên cứu về mật độ trước đây của Bùi Huy Đáp, Nguyễn Quỳnh Anh … đối với các giống lạc thuộc dạng hình thực vật Spanish nửa đứng, mật độ thích hợp là 33 cây/ m2, với phương thức trồng 30
cm x 10 cm x 1 cây Nhưng kết quả gần đây cho thấy mật độ gieo trồng thích hợp để thâm canh các giống lạc mới hiện nay trong điều kiện che phủ nilon là
25 cm x 25 cm x 2 cây và không che phủ nilon là 25 cm x 10 cm x 1 cây
1.3.3 Một số yếu tố hạn chế năng suất lạc ở Việt Nam
Qua điều tra tình hình sản xuất lạc của một số tỉnh đại diện cho khu vực phía Bắc và phía Nam, các nhà khoa học Việt Nam đã xác định được 3 nhóm yếu tố chính hạn chế năng suất lạc trong những năm qua là: Yếu tố kinh tế –
xã hội, yếu tố sinh học và yếu tố phi sinh học
- Yếu tố kinh tế - xã hội:
Trang 32Theo Ngô Thế Dân và cs., (2000) [10], hầu hết nông dân đều có thu nhập thấp nên khả năng đầu tư mua giống tốt và phân bón đầu tư trồng lạc bị hạn chế Theo số liệu điều tra có tới 75 – 80% số hộ các tỉnh như Bắc Giang, Thanh Hóa, Nghệ An thiếu vốn đầu tư để thâm canh sản xuất lạc Bên cạnh
đó giá bán lại không ổn định, hệ thống thủy lợi chưa được chú trọng đầu tư xây dựng Thiếu nước vào thời điểm gieo trồng và quá dư thừa nước vào thời
kỳ thu hoạch nên làm giảm năng suất và chất lượng lạc
- Yếu tố phi sinh học
Trong các yếu tố khí hậu, thì nhiệt độ nước ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và năng suất lạc [10] Đất khô và nhiệt độ thấp ở đầu vụ xuân và cuối vụ Thu Đông, hay mưa lớn và nhiệt độ cao ở cuối vụ xuân đã hạn chế năng suất lạc ở miền Bắc Việt Nam Ngoài ra người nông dân chưa thực sự coi cây lạc là cây trồng chính nên ý thức đầu tư thâm canh hạn chế do đó chưa phát huy được hết tiềm năng sẵn có của giống [10], [23]
- Yếu tố sinh học
Trần Văn Lài (1991) [23], Ngô Thế Dân (2000) [10], cho rằng yếu tố sinh học hạn chế sản xuất lạc ở Việt Nam là thiếu giống chịu thâm canh, giống năng suất cao, giống có khả năng chống chịu sâu bệnh hại và thích ứng cho từng vùng sinh thái
Nguyễn Xuân Hồng (1999) [20], Phạm Thị Hậu (1998) [19], cho rằng, bệnh gây hại lá là yếu tố hạn chế lớn nhất đối với nhiều vùng trồng lạc ở Việt Nam, đặc biệt là ở Miền Bắc nguy hiểm nhất là bệnh héo xanh ở lạc
1.4 Điều kiện cơ bản của khu vực nghiên cứu
1.4.1 Điều kiện tự nhiên huyện Diễn Châu
1.4.1.1 Vị trí địa lý
Diễn Châu là huyện đồng bằng ven biển của tỉnh Nghệ An, nằm ở tọa
độ 105,30 – 105,450 Kinh Đông, 18,20 – 19,500 Vĩ Bắc Địa bàn huyện trải
Trang 33dài theo hướng Bắc – Nam Phía Bắc giáp huyện Quỳnh Lưu, Phía Nam giáp huyện Nghi Lộc, phía Tây giáp huyện Yên Thành, phía Đông giáp biển Đông.
Với vị trí địa lý như vậy, Diễn Châu có nhiều thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội nói chung và phát triển nông nghiệp nói riêng, đặc biệt là trong cơ chế thị trường
1.4.1.2 Đặc điểm địa hình
Diễn Châu trước đây là một vùng vịnh nằm trong sự kiến tạo tân sinh
và bồi đắp của tự nhiên Cho đến ngày nay, địa hình của huyện Diễn Châu có thể chia thành 3 dạng địa hình: Vùng đồi núi, đồng bằng và đất cát ven biển
- Tiểu vùng núi thấp Tây Nam: Chủ yếu là núi thấp (bình quân độ cao
200 – 300 m), đỉnh Thần Vũ cao nhất 441m Đây là địa bàn có độ dốc bình quân trên 150m, chỉ khoảng 20% diện tích có độ dốc dưới 150m
- Tiểu vùng đồi cao Tây Bắc: gồm các dải đồi ở Diễn Lâm, Diễn Đoài,
có độ cao từ 80m – 150m.Do địa hình của vùng đồi núi tương đối dốc, độ che phủ rừng thấp nên bị rửa trôi xói mòn mạnh, gây hiện tượng bị bạc màu Khu vực xã Diễn Lâm có dải đồi thấp với độ cao 20 – 80m
Nhìn chung, đặc điểm địa hình vùng đồi núi chủ yếu thích hợp cho phục hồi và phát triển lâm nghiệp hoặc nông lâm kết hợp Khu vực này thiếu đất thích hợp cho trồng lạc đã ảnh hưởng đến việc mở rộng diện tích trồng lạc của huyện
độ cao 0,5 – 3,5m Địa hình thấp dần theo hình lòng chảo, khu vực thấp nhất thuộc các xã Diễn Bình, Diễn Minh, Diễn Nguyên, Diễn Thái, Diễn Cát, Diễn Hoa Độ cao địa hình vùng thấp trũng từ 0,5 – 1,7m và thường bị ngập úng vào mùa mưa lũ Đây là khu vực sản xuất lương thực trọng điểm của huyện
Trang 34Khu vực này cũng gặp rất nhiều khó khăn trong sản xuất lạc bởi lẽ, đây là khu vực sẽ dễ bị ngập úng khi mưa to và kéo dài,
kéo dài từ Diễn Hùng đến Đền Cuông (Diễn Trung), độ cao địa hình của vùng
từ 1,8 – 3m Đây là địa bàn dễ chịu tác động của triều cường khi có bão gây ngập mặn Tuy nhiên, đây lại là vùng phát triển trồng màu lớn của huyện, đặc biệt là sản xuất lạc, diện tích và sản lượng lạc của huyện chủ yếu tập trung ở khu vực này, do đặc điểm địa hình và đất đai của địa bàn mà cây lạc được nông dân sản xuất như là cây trồng chính cho hiệu quả kinh tế cao Lạc không những chỉ được trồng một vụ chính (vụ Xuân), mà còn được tăng vụ (vụ Thu – Đông), góp phần tăng diện tích trồng lạc và sản lượng lạc hằng năm của huyện
1.4.1.3 Điều kiện khí hậu – thủy văn
* Chế độ nhiệt:
Diễn Châu nằm trong khu vực nhiệt đới, quanh năm có gió mùa, nhận được nguồn năng lượng rất lớn từ mặt trời Cân bằng bức xạ quanh năm đạt
giờ Vị trí địa lý và điều kiện thiên nhiên thuận lợi nên Diễn Châu quanh năm nhiều nắng, độ ẩm không khí cao(>80%), nhiệt độ bình quân trong năm từ 22 – 250C Đây là một nguồn tài nguyên thiên nhiên mà nhiều nơi không có, nhất
là các vùng nằm ở vĩ độ cao hơn và là điều kiện rất thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Khí hậu Diễn Châu hình thành 2 mùa rõ rệt: Mùa nóng và mùa lạnh.Mùa nóng từ tháng 5 – tháng 10 dương lịch, nhiệt độ trung bình là 300C, mùa này có các đợt gió Tây Nam khô nóng thổi về mang ẩm độ không khí thấp, nhiệt độ không khí cao ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng phát triển của lạc
Trang 35Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 dương lịch, mùa này xuất hiện các đợt gió Đông Bắc, kèm theo mưa phùn, tuy lượng mưa không đáng kể nhưng trời nhiều mây, nhiều sương mù Mùa này sâu bệnh gây hại dễ phát sinh làm ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lạc.
* Chế độ mưa, lượng bốc hơi, độ ẩm không khí:
- Lượng mưa ở Diễn Châu khá cao trung bình từ 1.600 – 1.800 mm/năm Tuy nhiên, lượng mưa phân bố không đều giữa các tháng trong năm, mùa mưa nhiều chiếm tới 80 – 90% tổng lượng mưa cả năm thời kỳ mưa ít từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, lượng mưa chỉ chiếm khoảng 10 – 20
% lượng mưa cả năm Đây là thời kỳ gây khô hạn trên những chân đất cao, gây thiếu nước tưới trong sản xuất nông nghiệp, nhất là sản xuất lạc Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 và chủ yếu tập trung vào các tháng 8,9,10, lượng mưa có lúc đạt tới 2.500 – 2.800 mm dễ gây ngập úng những nơi trũng thấp Vào thời kỳ này cây trồng vụ Hè Thu vào giai đoạn thu hoạch và gieo trồng
vụ thu đông, nếu mưa nhiều gây ảnh hưởng lớn cho sản xuất nông nghiệp
- Lượng bốc hơi bình quân của vùng 986 mm/năm Các tháng 12, 1, 2
có lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa từ 1,9 – 2 lần, gây khô hạn trong vụ Đông Xuân Các tháng 4, 5, 6 lượng bốc hơi tuy không lớn nhưng là thời kỳ
có nhiệt độ cao và gió Tây Nam khô nóng, gây hạn trong vụ Xuân Hè
- Độ ẩm không khí bình quân cả năm 85%, thời kỳ độ ẩm không khí thấp tập trung vào mùa khô và những ngày có gió Tây Nam khô nóng (độ ẩm không khí có thể xuống tới 56%)
Trang 36Tây Nam xuất hiện từ trung tuần tháng 4 đến đầu tháng 9 với tần suất 85% số năm, kèm theo khô nóng, độ ẩm không khí thấp, mỗi đợt kéo dài 10 – 15 ngày
Diễn Châu cũng là địa bàn thường chịu tác động đáng kể của bão (bình quân mỗi năm có 1 - 8 cơn bão đổ bộ vào đất liền Nghệ An) Bão thường kèm theo triều cường và mưa lớn gây ngập úng Đối với vùng đất cát ven biển sự xâm nhập của triều cường đã làm nhiễm mặn đất ảnh hưởng đến sinh trưởng
và phát triển của cây trồng, đây là yếu tố ảnh hưởng lớn cho vùng đất cát ven biển sản xuất lạc
1.4.3.4 Sông ngòi – kênh rạch
Mạng lưới sông ngòi trên địa bàn huyện khá dày, gồm sông Bùng, kênh Vách Bắc, kênh Vách Nam, kênh Nhà Lê,… Hệ thống sông ngòi có nước quanh năm chảy qua các vùng nhưng thường uốn khúc và ngắn, nước thường tập trung nhanh khi có mưa nhưng thoát chậm, dễ gây ngập úng cho các khu vực thấp trũng ven sông Chế độ nước của các sông phụ thuộc lượng mưa hàng năm, mùa mưa, nước các sông lên cao gây ngập úng cục bộ các khu vực ven sông, ảnh hưởng sản xuất Vào mùa khô, nước các sông xuống thấp, gây hiện tượng xâm nhập mặn khu vực cửa sông Do phần lớn các sông chảy qua địa hình cao và dốc, tốc độ dòng chảy mạnh nên khả năng tích nước kém Do
đó, hạn chế đáng kể khả năng sử dụng nguồn nước mặt cho tưới tiêu trong sản xuất nông nghiệp và nước dùng trong sinh hoạt của người dân Tuy nhiên, nguồn nước ngầm của huyện lại khá dồi dào, mức độ nông hay sâu thay đổi tùy theo địa hình và lượng mưa trong mùa Thường vùng đồng bằng và ven biển có mức nước ngầm nông, vùng đồi núi mức nước ngầm sâu hơn và dễ bị cạn kiệt vào mùa khô, khu vực ven biển về mùa khô cũng thường bị nhiễm mặn do thủy triều lên
1.4.1.5 Đất đai
Trang 37Tổng diện tích tự nhiên huyện Diễn Châu 30.492,36 ha (Niên giám
thống kê 2010) và được sử dụng theo cơ cấu như sau:
- Đất nông nghiệp: 23.442,68 ha (chiếm 76,88% tổng diện tích đất tự nhiên); đây là điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng diện tích sản xuất của ngành nông nghiệp
- Đất phi nông nghiệp: 6.579,75 ha (chiếm 21,58% diện tích tự nhiên)
- Đất chưa sử dụng: 469,93 ha (chiếm 1,54% diện tích đất tự nhiên)
Về cơ cấu cây trồng: Cơ cấu cây trồng trong huyện khá phong phú, các
loại cây hoa màu được phát triển mạnh như khoai lang, ngô, vừng,… Đặc biệt
là cây lạc đã trở thành cây chủ lực được trồng rộng rãi trong huyện và được thể hiện như sau:
Vụ Đông xuân 2009:
- Cây lúa: Diện tích 9.025 ha, năng suất 68,30 tạ/ha, sản lượng 61.638
tấn Trong đó lúa lai chiếm 7.807 ha, năng sất đạt 69,89 tạ/ha, sản lượng đạt 54.560 tấn
So với vụ Đông xuân 2007-2008 diện tích tăng 411 ha, năng suất tăng 5,23 tạ/ha, sản lượng tăng 7.306 tấn
- Cây ngô: Diện tích 5.070 ha, năng suất 31,93 tạ/ha, sản lượng 16.191
Trang 38- Cây khoai lang: Diện tích 866 ha, năng suất 57,74 tạ/ha, sản lượng
5.000 tấn
Vụ Hè thu - Mùa 2009:
- Cây lúa: Tổng diện tích đã gieo cấy trong vụ Hè thu: 9.080 ha, năng
suất 48,16 tạ/ha, sản lượng 43.730 tấn
- Cây ngô: Tổng diện tích gieo đạt 456,5 ha, năng suất dự kiến đạt 40,0
- Rau các loại: Tổng diện tích gieo trồng đạt 728,9 ha, năng suất dự
kiến đạt 145,0 tạ/ha, sản lượng 10.569,1 tấn
- Đậu các loại: Tổng diện tích gieo trồng đạt 96,9 ha, năng suất dự kiến
đạt 11,0 tạ/ha, sản lượng 106,6 tấn
1.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội huyện Diễn Châu
- Về kinh tế: Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 17 – 18%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, cân đối tỷ trọng các ngành kinh tế, thu nhập bình quân đạt 9,5 triệu đồng/người/năm
Tổng giá trị sản xuất của huyện đạt 5.337,655 tỷ đồng, trong đó Nông Lâm Ngư đạt 1.960,32 tỷ đồng (chiếm 36,72%); sản xuất nông nghiệp đạt 1.412,5 tỷ đồng; lâm nghiệp đạt 32,32 tỷ đồng; ngư nghiệp đạt 515,5 tỷ đồng; công nghiệp – xây dựng đạt 1.881,52 tỷ đồng; các ngành dịch vụ đạt 1.495,815 tỷ đồng
Mặc dù trong những năm trở lại đây, xu hướng tăng tỷ trọng giá trị các ngành phi nông nghiệp nhưng thực tế thu nhập của người dân huyện vẫn chủ
Trang 39yếu từ sản xuất nông nghiệp, huyện luôn chú trọng phát triển nông nghiệp, đặc biệt quan tâm đến ngành sản xuất theo hướng hàng hóa thị trường.
- Về văn hóa – xã hội: Chất lượng đời sống văn hóa cơ sở ngày được nâng cao, 447/450 xóm có nhà văn hóa, 172/450 làng đạt danh hiệu làng văn hóa Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân ngày được quan tâm, đa dạng hóa các loại khám và chữa bệnh cho nhân dân Chất lượng giáo dục ngày một nâng cao và đạt nhiều danh hiệu, 52/121 trường đạt chuẩn quốc gia
- Tình hình dân số và lao động: Tổng số nhân khẩu của huyện là 295.152 người; tỷ lệ gia tăng dân số 9,2% Mật độ dân số khoảng hơn 880
nam luôn thấp hơn nữ nhưng độ chênh lệch không cao và có xu hướng giảm dần do tốc độ tăng dân số nam và giảm nữ qua các năm
Dân số huyện Diễn Châu tương đối trẻ cho thấy một nguồn lực lao động trong tương lai rất dồi dào; nhóm 0 – 14 tuổi chiếm 35,2%; nhóm 15 –
39 tuổi chiếm 26,5%; độ tuổi trên 60 chỉ chiếm 4,1%
Lao động trong ngành nông nghiệp chiếm 67,8%; còn lại 32,2% là lao động phi nông nghiệp Trình độ văn hóa của lực lượng lao động trong những năm gần đây tăng đáng kể, thể hiện qua các biến động giảm dần cơ cấu số người chưa biết chữ và chưa tốt nghiệp tiểu học, đồng thời tăng nhanh cơ cấu
số người tốt nghiệp trung học cơ sở và trung học phổ thông
- Cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng (CSHT):
Cơ sở hạ tầng là yếu tố quan trọng để thúc đẩy nông nghiệp và kinh tế nông thôn phát triển, đặc biệt là trong quá trình hội nhập Xác định được tầm quan trọng của vấn đề này, trong những năm gần đây, Diễn Châu đã có sự đầu
tư lớn về CSHT
+ Về hệ thống giao thông: Giao thông của huyện rất thuận lợi cho quá trình phát triển kinh tế Chạy dọc theo huyện từ Bắc vào Nam là 35km Quốc
Trang 40lộ 1A và 35km đường sắt Đây là mạch máu giao thông quan trọng của đất nước mà Diễn Châu có thuận lợi Ngoài ra, trên địa bàn huyện còn có hai đường quốc lộ chạy dọc từ Đông sang Tây (QL7 và QL48) đi qua các huyện miền núi Nghệ An và thông sang nước bạn Lào Đây là điều kiện hết sức thuận lợi cho huyện trong việc giao lưu kinh tế - văn hóa với bên ngoài
Toàn huyện đã có mạng lưới giao thông phát triển và phân bố khá đều giữa các xã, 100% xã có đường nhựa, đường bê tông kiên cố
+ Về thông tin liên lạc: 100% các xã trong huyện đã có điện thoại và ngày càng phổ biến trong dân cư đặc biệt là sự bùng nổ của Internet, phần lớn các xã đều có Internet và hệ thống hành chính các xã đã nối mạng Điều này
có tác dụng rất lớn đến việc tiếp cận thông tin và nâng cao dân trí của người dân trong huyện Phương tiện đi lại cũng đã được cải thiện rất đáng kể, xe máy thay thế xe đạp góp phần thuận lợi cho việc đi lại, nhanh chóng hơn trong công việc Ngoài ra, các loại dịch vụ cũng đã được xây dựng rất thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội cho người dân và huyện như các dịch vụ nông nghiệp, dịch vụ tín dụng,…
- Về hệ thống thủy lợi: là một huyện nông nghiệp, xác định được tầm quan trọng của hệ thống thủy lợi, trong những năm qua, huyện rất quan tâm đến công tác này Phong trào “bê tông hóa kênh mương nội đồng” đã phát triển rầm rộ trong các xã thuộc huyện Đến nay, toàn huyện đã có một hệ thống kênh mương tương đối hoàn chỉnh với tổng chiều dài hơn 575,5 km đảm bảo phục vụ trong sản xuất nông nghiệp và thủy sản của bà con
Tóm lại, trong những năm, Diễn Châu đã đầu tư rất lướn về cơ sở hạ tầng nhằm phục vụ cho phát triển kinh tế, đặc biệt trong phát triển nông nghiệp được chủ động hơn, góp phần mở rộng diện tích, nâng cao năng suất, sản lượng nông sản của huyện, là điều kiện tốt cho phát triển sản xuất nông