Thực tiễn 5 năm gần đây nhiều cơ sở giáo dục đặc biệt các cơ sở nghiêncứu đã tìm kiếm các PP dạy học mới, trong đó có PP dạy học dựa trên dự ánProject Based Learning viết tắt PBL là PPDH
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
VINH - 2009 LỜI CẢM ƠN
Trang 2Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo PGS.TS Phạm Thị Phú
đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ Bộ môn phươngpháp giảng dạy, Ban chủ nhiệm khoa Vật lý và khoa Sau đại học đã độngviên, giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong quá trình học tập,nghiên cứu tại trường
Xin chân thành cảm ơn bạn bè và người thân đã động viên giúp đỡ tôitrong thời gian qua
Vinh, tháng 11 năm 2009 Học viên
Mai Thị Hảo
Danh mục các chữ viết tắt
Trang 3PBL Dạy học dự ánPPDH Phương pháp dạy họcCNTT Công nghệ thông tin
Chương 1 Lý thuyết về dạy học dựa trên dự án (PBL) 5
Trang 41.1.2 Lịch sử phát triển của PBL 5
1.2.3 Chuẩn bị các điều kiện cho việc triển khai thiết kế các tiến
trình dạy học theo tinh thần PBL
14
1.2.3.2 Thiết kế ý tưởng cho dự án trong PBL 18
1.4.3 PBL trong môn Vật lý ở trường phổ thông 29
1.4.3.2 Các yêu cầu đối với PBL trong môn Vật lý 30
1.4.3.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong PBL 31
Chương 2 Thiết kế tiến trình dạy học một số kiến thức
chương “Mắt Các dụng cụ quang" theo tinh thần PBL
34
2.2 Mục tiêu dạy học của chương theo chuẩn kiến thức kỹ năng 35
2.3 Mục tiêu dạy học (nâng cao) theo định hướng nghiên cứu 36
2.5 Thực trạng nhận thức và vận dụng tinh thần PBL 52
2.6 Chuẩn bị các điều kiện cho việc triển khai thiết kế các tiến
trình dạy học theo tinh thần PBL vận dụng cho một số kiến thức
chương "Mắt Các dụng cụ quang"
53
Trang 52.6.1 Bộ câu hỏi định hướng 54
Trang 6thành một nước công nghiệp, hội nhập với cộng đồng quốc tế Nhân tố quyếtđịnh thắng lợi của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc
tế là con người, là nguồn lực người Việt Nam được phát triển về số lượng vàchất lượng Chất lượng giáo dục THPT sẽ đóng vai trò hết sức quan trọngtrong việc tạo ra một động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước Nhu cầucấp bách của đổi mới toàn diện giáo dục phổ thông trước yêu cầu về nhân lựctrong giai đoạn phát triển mới của đất nước: hội nhập, toàn cầu hóa; người laođộng phải có năng lực thích ứng cao trong nền kinh tế nhiều biến động, phải
có nền học vấn phổ thông và quan trọng hơn là có năng lực tư duy linh hoạtsáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực làm việc nhóm, năng lực thuyếtphục đàm phán, năng lực lãnh đạo
Để đổi mới toàn diện giáo dục phổ thông thì đổi mới PPDH là yếu tố quantrọng nhằm hiện thực hóa đổi mới các yếu tố khác của quá trình giáo dục; đây
là nhiệm vụ được quyết định bởi chính giáo viên
Thực tiễn 5 năm gần đây nhiều cơ sở giáo dục đặc biệt các cơ sở nghiêncứu đã tìm kiếm các PP dạy học mới, trong đó có PP dạy học dựa trên dự án(Project Based Learning viết tắt PBL) là PPDH có nhiều khả năng trong việcbồi dưỡng năng lực tư duy linh hoạt sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề,năng lực làm việc nhóm, năng lực thuyết phục đàm phán, năng lực lãnh đạo.Ngày 06/12/2005 công ty Intel Việt Nam cùng Bộ giáo dục và Đào tạo đãchính thức công bố triển khai chương trình Intel Teach to the Future - dạy họccho tương lai tại Việt Nam, sau khi triển khai thử nghiệm thành công chươngtrình này từ năm 2003 Chương trình "Dạy học cho tương lai" sẽ hướng dẫncách sử dụng Internet, thiết kế trang Web và các phần mềm truyền thông đaphương tiện trong các bài học dựa trên mô hình dạy học dựa trên dự án cótính tương tác cao và triển khai các dự án cho HS, SV Các GV sau khi thamgia sẽ thu được những kiến thức vững chắc trong việc xây dựng một kế hoạchgiảng dạy nhằm nâng cao khả năng tiếp thu kiến thức của HS, SV thông quaviệc sử dụng công nghệ
Trang 7Chương "Mắt Các dụng cụ quang" trình bày về các dụng cụ quang từ đơngiản đến phức tạp Trong đó có nhiều ứng dụng kĩ thuật liên quan mật thiếtđến đời sống hàng ngày như: kính lúp, kính hiển vi, kính thiên văn, ốngnhòm Chương này cũng sẽ trình bày về cấu tạo và hoạt động của mắt khiquan sát một vật; các tật của mắt (cận thị, viễn thị, lão thị) và cách chữa đó lànhững vấn đề gần gũi với HS trong thực tiễn.
Trong khuôn khổ luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ, tôi chọn đề tài: " Nghiên cứu dạy học một số kiến thức chương " Mắt Các dụng cụ quang" Vật lý 11 chương trình nâng cao theo tinh thần dạy học dự án"
2 Mục đích nghiên cứu
Thiết kế tiến trình dạy học một số kiến thức về mắt và các dụng cụ quanghọc theo tinh thần PBL nhằm bồi dưỡng kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ nănglàm việc nhóm
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
- Phương pháp dạy học dựa trên dự án (PBL)
- Hoạt động dạy học Vật lý
Phạm vi nghiên cứu:
- Phần "Mắt Các dụng cụ quang" Vật lý 11 chương trình nâng cao
- HS học Vật lý 11 CTNC thuộc địa bàn thị trấn, thị xã, thành phố
4 Giả thuyết khoa học
- Có thể thiết kế tiến trình dạy học một số kiến thức phần "Mắt Các dụng
cụ quang" Vật lý 11 CTNC theo tinh thần PBL, đảm bảo tính khoa học, sưphạm và khả thi cho đối tượng HS khu vực thị trấn, thị xã, thành phố
- Việc triển khai dạy học theo tinh thần PBL sẽ bồi dưỡng cho HS kỹ nănglàm việc nhóm và một số yếu tố của kỹ năng tư duy bậc cao từ đó góp phầnbồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề cho HS
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 8- Nghiên cứu lý thuyết PBL mối liên hệ giữa PBL và mục tiêu bồi dưỡngnăng lực giải quyết vấn đề, kỹ năng thực hành các thao tác tư duy, các hànhđộng suy luận lôgic.
- Tìm hiểu thực trạng nhận thức và vận dụng tinh thần PBL để nâng caonăng lực nhận thức và tư duy của HS trong dạy học Vật lý ở trường THPTcủa GV Vật lý thuộc một số trường THPT thuộc địa bàn huyện Nga Sơn, tỉnhThanh Hóa
- Nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa, chuẩn kiến thức kĩ năng Vật lý
11 nâng cao chương “Mắt Các dụng cụ quang” nhằm tạo cơ sở để xây dựngtiến trình dạy học một số kiến thức phần này theo tinh thần PBL
- Thiết kế tiến trình dạy học một số kiến thức phần "Mắt Các dụng cụquang" theo tinh thần PBL
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi, hiệu quả của các phương
án đã thiết kế, điều chỉnh, hoàn thiện
6 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý thuyết:
+ Tổng hợp các tài liệu liên quan đến PBL
+Thiết kế mô hình dạy học theo PBL
- Nghiên cứu thực tiễn: Điều tra sơ bộ về việc giảng dạy bằng PBL ở một sốtrường THPT
- Thực nghiệm sư phạm: Tiến hành giảng dạy một số chủ đề trọng điểm
7 Đóng góp mới của luận văn
- Xây dựng được hai bộ hồ sơ dạy học ứng với hai dự án thuộc haibài "mắt và các tật của mắt", "kính thiên văn" chương "Mắt Các dụng cụquang"
- HS tạo được sản phẩm học tập (theo nhóm) và trình diễn bảo vệ kết quảbằng sự hỗ trợ của CNTT: mỗi dự án có 6 bài trình diễn bằng Powerpoint ứngvới 6 nhóm
Trang 9- HS tạo được sản phẩm vật chất: mô hình kính thiên văn (sáu cái)
- Một số kết quả nghiên cứu phản ánh trong một bài báo đã được tạp chí
giáo dục đăng: “Mai Thị Hảo, Thiết kế ý tưởng trong dạy học dựa trên dự án,
Tạp chí giáo dục số đặc biệt tháng 10/2009, trang 23 - 24 và 11”
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, phụ lục,phần nội dung của đề tài được trình bày theo ba chương:
Chương 1: Lý thuyết vềdạy học dựa trên dự án (PBL)
Chương 2: Thiết kế tiến trình dạy học một số kiến thức chương “Mắt Cácdụng cụ quang” theo tinh thần PBL
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
CH
ƯƠ NG 1
LÝ THUYẾT VỀ DẠY HỌC DỰA TRÊN DỰ ÁN (PBL)
1.1 Lịch sử vấn đề
Trang 101.1.1 Khái niệm chung về PBL
Thuật ngữ dự án, tiếng Anh là “project”, có nguồn gốc từ tiếng La tinh
là projicere: có nghĩa là phác thảo, dự thảo, thiết kế
Ngày nay được hiểu theo nghĩa phổ thông là một đề án, một dự thảohay một kế hoạch, trong đó cần xác định rõ mục tiêu, thời gian, phương tiệntài chính, vật chất, nhân lực và cần được thực hiện để đạt được mục tiêu đề ra
Dự án được thực hiện trong những điều kiện xác định và có tính phức hợp,liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau Khái niệm dự án được sử dụng phổbiến trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế - xã hội (sản xuất, doanh nghiệp,nghiên cứu khoa học, quản lý xã hội).[2]
1.1.2 Lịch sử phát triển của PBL
Khái niệm dự án đã đi từ lĩnh vực kinh tế - xã hội vào lĩnh vực giáodục, đào tạo không chỉ với ý nghĩa là các dự án phát triển giáo dục mà cònđược sử dụng như một phương pháp hay một hình thức dạy học Khái niệm
“project” được sử dụng trong các trường dạy kiến trúc - xây dựng ở Ý từ cuốithế kỷ XVI Từ đó tư tưởng dạy học theo dự án lan sang Pháp cũng như một
số nước châu Âu khác và Mỹ, trước hết là trong các trường đại học và chuyênnghiệp
Đầu thế kỷ XX các nhà sư phạm Mỹ (Woodward, Richard, j.Dewey,W.kilpatrick) đã xây dựng cơ sở lý luận cho PP dự án (The Project Method)
và coi đó là PPDH quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học lấy HS là trungtâm, nhằm khác phục nhược điểm của dạy học truyền thống coi thầy giáo làtrung tâm Ban đầu PP dự án được sử dụng trong dạy học thực hành các mônhọc kỹ thuật, về sau được dùng trong hầu hết các môn học khác, cả các mônkhoa học xã hội, với các tên gọi khác nhau: Project Method, Project BasedLearning (PBL) Sau thời gian phần nào bị lãng quên, hiện nay PBL được sửdụng phổ biến trong các trường phổ thông và đại học trên thế giới, đặc biệt là
ở các nước phát triển
Trang 11Ở Việt Nam, các đề án môn học, đề án tốt nghiệp từ lâu cũng được sửdụng trong đào tạo đại học, các hình thức này gần gũi với dạy học dự án Tuyvậy trong lĩnh vực lý luận dạy học, PP này chưa được quan tâm nghiên cứumột cách thích đáng, nên việc sử dụng chưa đạt hiệu quả cao.
PBL là một hình thức dạy học, trong đó người học thực hiện một nhiệm
vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, có thể tạo racác sản phẩm có thể giới thiệu Nhiệm vụ này được người học thực hiện vớitính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập
kế hoạch, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra điều chỉnh, đánh giá quá trình vàkết quả thực hiện Làm việc nhóm là hình thức cơ bản của PBL.[2]
1.2 Nội dung PBL
1.2.1 Các giai đoạn của PBL
Dựa trên cấu trúc chung của một dự án trong lĩnh vực sản xuất, kinh tếnhiều tác giả phân chia cấu trúc của dạy học theo dự án, qua bốn giai đoạnsau: Quyết định, lập kế hoạch, thực hiện, kết thúc dự án Dựa trên cấu trúccủa tiến trình phương pháp, người ta có thể chia cấu trúc của PBL làm nhiềugiai đoạn nhỏ hơn Sau đây trình bày một cách phân chia các giai đoạn củadạy học dự án theo năm giai đoạn:[2]
- Chọn đề tài và xác định mục đích của dự án: GV và HS cùng nhau đềxuất, xác định đề tài và mục đích của dự án Cần tạo ra một tình huống xuấtphát, chứa đựng một vấn đề, hoặc đặt một nhiệm vụ cần giải quyết, trong đóchú ý đến việc liên hệ với hoàn cảnh thực tiễn xã hội đời sống Cần chú ý đếnhứng thú của người học cũng như ý nghĩa xã hội của đề tài GV có thể giớithiệu một số hướng đề tài để HS lựa chọn và cụ thể hoá Trong trường hợpthích hợp, sáng kiến về việc xác định đề tài có thể xuất phát từ phía HS Giaiđoạn này được K.Frey mô tả thành hai giai đoạn là đề xuất sáng kiến và thảoluận sáng kiến
- Xây dựng kế hoạch thực hiện: trong giai đoạn này HS dưới sự hướngdẫn của GV xây dựng đề cương cũng như kế hoạch cho việc thực hiện dự án
Trang 12Trong việc xây dựng kế hoạch cần xác định những công việc cần làm, thờigian dự kiến, vật liệu, kinh phí, phương pháp tiến hành và phân công côngviệc trong nhóm.
- Thực hiện dự án: Các thành viên thực hiện công việc theo kế hoạch đã
đề ra cho nhóm và cá nhân Trong giai đoạn này HS thực hiện các hoạt độngtrí tuệ và hoạt động thực tiễn, thực hành, những hoạt động này xen kẽ và tácđộng qua lại lẫn nhau Kiến thức lý thuyết, các phương án giải quyết vấn đềđược thử nghiệm qua thực tiễn Trong quá trình đó sản phẩm của dự án vàthông tin mới được tạo ra
- Thu thập kết quả và công bố sản phẩm: Kết quả của việc thực hiện dự
án có thể viết dưới dạng thu hoạch, báo cáo, luận văn… Trong nhiều dự áncác sản phẩm vật chất được tạo ra qua hoạt động thực hành Sản phẩm của dự
án có thể là những hành động phi vật chất, chẳng hạn việc biểu diễn một vởkịch, việc tổ chức sinh hoạt nhằm tạo ra các tác động xã hội Sản phẩm của dự
án có thể được trình bày giữa các nhóm HS, có thể được giới thiệu trong nhàtrường hay ngoài xã hội
- Đánh giá dự án: GV và HS đánh giá quá trình thực hiện và kết quảcũng như kinh nghiệm đạt được Từ đó rút ra kinh nghiệm cho việc thực hiện
dự án tiếp theo Hai giai đoạn cuối này cũng có thể mô tả chung thành giaiđoạn kết thúc dự án
Việc phân chia các giai đoạn trên đây chỉ mang tính chất tương đối.Trong thực tế các giai đoạn có thể xen kẽ và thâm nhập lẫn nhau Việc tựkiểm tra, điều chỉnh cần được thực hiện trong tất cả các giai đoạn của dạy học
dự án Với những dạng dự án khác nhau có thể xây dựng cấu trúc chi tiếtriêng phù hợp với nhiệm vụ dự án Giai đoạn 4, 5 có thể mô tả chung thànhmột giai đoạn (giai đoạn kết thúc dự án)
Cấu trúc PBL có thể biểu diễn bằng sơ đồ sau:
Trang 13Sơ đồ 1: Cấu trúc dạy học dự án
Đề xuất vấn đề
Thảo luận vấn đề
Vấn đề trong thực tiễn
Phát hiện và xác định mục tiêu dự án
Lên kế hoạch thực hiện dự án
Kết thúc dự ánTriển khai dự án
Phân nhóm, phân
vai
Tài liệu hỗ trợTheo dõi, đôn đốc
Xử lý thông tinTrình bày
Đánh giáKết quả
Trang 14Sơ đồ 2: Cấu trúc dạy học dự án theo Frey [5]
Trong sơ đồ có hai yếu tố quan trọng:
- Hình thành ý tưởng dự án: Ý tưởng xuất phát từ thực tiễn xã hội vànội dung chương trình đào tạo, GV hoặc HS có thể là người nêu ý tưởng Khi
GV đặt ra nhiệm vụ thì dự án có thể thực hiện tốt hơn Nhưng, trách nhiệmhứng thú của người học đối với công việc bị hạn chế Ý tưởng xuất phát phíangười học, dự án thường phù hợp với hứng thú người học, tính tự chịu tráchnhiệm với công việc cao hơn, nhưng có thể khó cho việc lập kế hoạch dự ántheo chương trình đào tạo, phù hợp với mục tiêu dạy học
- Phân tích ý tưởng dự án: Các nhóm học tập phải thảo luận ý tưởng dự
án để phát triển thành kế hoạch hoạt động Đối với việc thảo luận GV cầnkhuyến khích, động viên để HS bày tỏ suy nghĩ Các mục tiêu phân tích gồmhứng thú của người học, giá trị đối với mục tiêu dạy học: kiến thức (theo tiêuchuẩn SGK yêu cầu học sinh phải đạt được), kĩ năng (môn học, CNTT, tưduy, kỹ năng sống), thái độ (trong lớp học, của bản thân trước vấn đề trong dự
Kết thúc theo dự án
Hình thành ý tưởng dự án
Phân tích ý tưởng dự án( Kết quả là dự thảo đề án)
Lập kế hoạch dự án(Kết quả là kế hoạch dự án)Thực hiện dự án
Kết thúc dự án
Có thể phát triểnKhông đạt
Hình thành
lại ý tưởng
Không khả thiKhông khả thi
Trang 15án có liên quan đến thực tiễn), khả năng thực hiện và giá trị sử dụng của sảnphẩm dự án vào thực tiễn.
1.2.2 Quy trình thực hiện PBL
Tiến trình thực hiện PBL gồm các pha: Chuẩn bị, thực hiện và khaithác một cách sư phạm các hoạt động HS thực hiện trong quá trình tương tácgiữa họ và đặc biệt là tương tác với mạng tin học Mỗi một pha dẫn đến mộtkết quả xác định Kết quả của pha đầu tiên là một kế hoạch; của pha thứ hai làmột hoặc nhiều sản phẩm và ở pha thứ ba kết quả là sản phẩm của tri thức tậpthể của lớp học Những hoạt động này kế tiếp nhau trong quá trình thực tế của
dự án.[12]
a Chuẩn bị
Để đạt được sự thống nhất về một dự án hoặc kiểu dự án mà lớp học sẽthực hiện (ngắn hay dài, xung quanh một khái niệm hay một đề tài, một mônhay nhiều môn ), GV có vai trò quyết định Bằng kinh nghiệm của mình, GVcũng có thể dự đoán những mối liên hệ nào sẽ được thiết lập với một haynhiều môn học, với chương trình học, nhiệm vụ nào sẽ thực hiện theo cá nhânhoặc theo nhóm và trong mối liên hệ với dự án, lớp học sẽ có sự giao lưu, traođổi với lớp học khác, những chuyên gia, như thế nào?
GV cần cân nhắc về mặt thời gian ở lớp học với mục đích cần đạt được
và định hướng để tất cả HS có thể thực hiện một tiến trình học tập có hiệuquả Cần tính thời gian cần thiết cho dự án, nguồn tư liệu, thiết bị có thể(trang bị, phần mềm, tài liệu ) và tiên lượng khả năng của HS Những yếu tố
đó cần được coi là yếu tố động chứ không phải tĩnh Trong PBL đối tượng làhoạt động học tập, khả năng hoạt động của HS cần được phát triển trong quátrình học tập Khi chuẩn bị một dự án những hoạt động chính cần quản lý là:
- Lựa chọn dự án: Ý tưởng về đề tài của dự án học tập có thể liên quanđến nhiều nguồn tư liệu và được chuẩn bị trong các hoàn cảnh khác nhau.Trước hết cả lớp phải trả lời được hai câu hỏi sau: Đề tài đề cập đến cái gì?
Cả lớp mong muốn làm điều gì? Ý tưởng dự án có thể nảy sinh từ sáng kiến
Trang 16của GV, của HS hoặc nhóm HS; nó cũng có thể xuất hiện trong quá trình thảoluận khi HS biểu thị sự quan tâm đặc biệt tới một câu hỏi hoặc một vấn đề.
Việc lựa chọn đề tài cần làm nổi lên những mục đích học tập và nhữngtiêu chuẩn đánh giá Mục đích cần dẫn đến những kết quả, những sản phẩm
mà qua đó HS biểu thị cái họ đã học được Các tiêu chuẩn cho phép đánh giácác kết quả HS đã đạt được và cho phép họ thực sự làm chủ trong những tìnhhuống học tập đã cho Trong việc lựa chọn dự án, HS phải hình dung ra sảnphẩm, do vậy họ bắt đầu vạch ra kế hoạch, đưa ra gợi ý về cách thực hiện
- Xác định các nguồn tư liệu cần thiết: PBL rất quan tâm đến các nguồn
tư liệu mà HS cần phải tiếp cận Sự lựa chọn nguồn tư liệu là hết sức khókhăn do sự đa dạng của nó Câu hỏi đặt ra là: Nguồn nào sẽ được ưu tiên đểđảm bảo là thực sự hữu ích và HS có thể tiếp cận được
- Tổ chức thực hiện: Tiến trình thực hiện dự án, cách phân công côngviệc giữa GV và HS, nhóm HS và những yếu tố khác liên quan đến tổ chứcviệc làm sẽ được kế hoạch hoá tuỳ theo mục đích học tập và lợi ích của HS
Kế hoạch hoá một dự án là xác định chính xác chủ đề, các mục đích và cáctiêu chuẩn được sử dụng để đánh giá tính chủ động, tích cực của HS, dự đoáncác nguồn tài liệu cần nhận được để thực hiện dự án Điều này cho phép HS
có những đóng góp có ý nghĩa cho dự án học tập, tiếp nhận những kiến thứcmới và củng cố những kiến thức, kỹ năng đã có
b Thực hiện dự án
Trong bước này dự án được định hình, với sự giúp đỡ của GV, HSnghiên cứu, biến đổi hoặc tạo ra thông tin mới trong sự hợp tác để đi đến kếtquả chung Họ thu thập dữ liệu, tiến hành thí nghiệm, trao đổi và hợp tác vớicác bạn cùng lớp để phân tích, so sánh, cân đo, tính toán
Trong quá trình này GV cần tôn trọng kế hoạch đã xây dựng và sự hợptác giữa các HS nhằm tạo ra một cộng đồng trong đó trung tâm là việc họctập Do vậy GV cần tạo điều kiện thuận lợi cho sự trao đổi thường xuyên giữacác HS, tạo sự tìm kiếm thông tin từ các nguồn tài liệu có sẵn bên cạnh sự
Trang 17chịu trách nhiệm về nhiệm vụ học tập; các nhóm thường xuyên đánh giá sựtiến triển của công việc và tận dụng dịp này để động viên, kích thích và chỉnhsửa để nhằm đến đích Ở bước này máy tính được sử dụng nhiều nhất.
- Thiết lập các nguồn thông tin và dữ liệu, định hình các thao tác tưduy: Trong pha này, HS bằng cách nghiên cứu, biến đổi và tạo ra các thôngtin cần thiết Máy tính cung cấp phần lớn các thông tin cập nhật và các vấn đềthực tế, tạo thuận lợi cho sự hợp tác giữa HS ở cùng một lớp học hoặc ở cáclớp học khác nhau Tuy nhiên việc sử dụng Internet có thể dẫn HS đến sự mấtđịnh hướng GV cần theo dõi liên tục những chiến lược mà HS sử dụng để cóthể tác động khi cần thiết Tuỳ theo khả năng của HS và bản chất của hoạtđộng, việc định hướng cần phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc làm chủ hoạtđộng học tập của HS hoặc nhóm HS và quan tâm đến PP học tập, cách thức
để đạt mục đích trong học tập của HS hơn là tạo ra một sản phẩm Tuy vậy,cũng cần phải khuyến khích HS tạo ra một sản phẩm cụ thể có chất lượng cóthể đánh giá được
- Tổng hợp các kết quả: Hoạt động này chính là giới thiệu cho toàn lớpnhững kết quả của nhóm nhỏ và là dịp để HS điều chỉnh những kết quả củamình để có những sản phẩm của tập thể Sản phẩm có thể là một tờ báo, một
sơ đồ thí nghiệm, một chuỗi các đồ thị GV có thể can thiệp trực tiếp hoặcgián tiếp trong quá trình hoạt động diễn ra để thiết lập những sản phẩm bêntrong nhóm nhỏ Tuy nhiên tác động của GV cần mang đến một không khí cởi
mở Những câu hỏi về các hoạt động của nhóm, về sự chịa trách nhiệm, vềphương pháp nghiên cứu, về sự phân biệt giữa cái đúng và cái sai sẽ dẫnđến những đề nghị hấp dẫn đối với các dự án tương lai
c Khai thác dự án
Tất cả các dự án đều có tính liên tục Dự án cần thực hiện đáp ứng lợiích người học và đáp ứng các mục đích học tập đã được đánh giá là thích hợp.Việc làm chủ kiến thức, kĩ năng và thái độ được tạo nên trong quá trình thựchiện dự án Tuy nhiên cần phải trả lời các câu hỏi sau: Dự án thực hiện có
Trang 18phát huy tính tích cực, chủ động của HS trong hoạt động học tập hay không?
Có thể thực hiện dự án bằng cách khác được không? Dự án tiếp theo có thể làgì? Hoạt động "xem xét lại dự án" được xác định với hai câu hỏi đầu và hoạtđộng "tiếp tục dự án" trả lời cho câu hỏi thứ ba
- Xem xét lại dự án: Sản phẩm tập thể phản ánh những cố gắng tronghọc tập của HS Cần phải trở lại dự án để thực hiện việc tổng kết và có thể điđến các kết luận rộng hơn Sự trở lại này cần thực hiện sao cho phù hợp với
HS và với đặc trưng của dự án đã thực hiện Có nhiều cách để thực hiện dựán: Thảo luận với lớp hoặc nhóm nhỏ, điều tra tiếp theo để bình luận về kếtquả, những áp dụng trong bối cảnh khác Sự trở lại cho phép các thành viêncủa lớp xem lại cách mà họ (cá nhân hay tập thể) đã cam kết theo đuổi trong
dự án: Họ đã thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi như thếnào? Đứng trước một tình huống họ đã thực hiện chiến lược nào? Các PP nào
đã được sử dụng để có thể đi đến kết quả? Họ đã đánh giá thường xuyên côngviệc như thế nào?
Sự trở lại dự án dẫn đến câu hỏi về những gì HS đã học và đã thực hiệnnhư: Mục đích học tập đã đạt hay chưa? Mối liên hệ nào đã thực hiện vớinhững kiến thức và kĩ năng đã được học trước đó? Những câu hỏi nào chưa
có câu trả lời hay được sự trả lời chưa thoả đáng Dự án này có phải là cơhội để học tập về các kiến thức khác như lịch sử, toán học ? Thiếu sót gì đã
bỏ qua? Sự trở lại dự án làm cho HS có ý thức tự chịu trách nhiệm, có tinhthần phê phán, thái độ dân chủ HS cũng có được kĩ năng đánh giá một cáchtổng quát bằng việc trả lời các câu hỏi: Dự án hấp dẫn người khác chưa? Cóthể thực hiện công việc theo nhóm một cách chủ động nhất như thế nào?
- Tiếp tục dự án: Kết quả dự án không phải để sử dụng cho lớp họckhác trong trường hoặc một trường khác Nó cũng không đề cập tới việc mờicha mẹ hay người khác tới dự cuộc triển lãm về kết quả dự án Sự tiếp tục dự
án tạo cơ hội cho các nhóm quan tâm đến việc bổ sung thông tin liên quan
Trang 19đến phương diện đặc biệt của dự án Dự án đã thực hiện kích thích mongmuốn tiếp tục thực hiện dự án khác.
Một dự án sẽ thành công hơn nếu sự tham gia của HS hoặc những đónggóp của họ nằm trong đề tài của lớp học Do vậy, sản phẩm của nhóm HSphải trở thành mối quan tâm của các HS khác và cho phép họ mở rộng hoặcđiều chỉnh sự học tập của mình Trí tuệ tập thể của lớp học thể hiện qua cácsản phẩm chung được cả lớp phát triển theo chủ đề đã cho Sản phẩm của dự
án là trí tuệ tập thể và sự hiệp đồng huy động tất cả khả năng của người học
1.2.3 Chuẩn bị các điều kiện cho việc triển khai thiết kế các tiến trình dạy học theo tinh thần PBL
1.2.3.1 Bộ câu hỏi định hướng trong PBL
* Vị trí, vai trò của bộ câu hỏi định hướng trong PBL
Có những cách định nghĩa khác nhau về câu hỏi: "câu hỏi là mệnh đềghi nhận những yếu tố không biết rõ và cần được làm sáng tỏ của một tìnhhình, một nhiệm vụ nào đó Câu hỏi được diễn đạt bằng mệnh đề hoặc cụm từnghi vấn trong ngôn ngữ tự nhiên"; Hỏi tức là:
i) Nói ra điều mình muốn người ta cho mình biết với yêu cầu được trảlời
ii) Nói ra điều mình muốn hỏi hoặc mong muốn ở người ta yêu cầuđược đáp ứng"
Câu hỏi là:
i) Sự nhằm vào đòi hỏi phải phải trả lời đáp lại
ii) Tình trạng, bối cảnh nào đó là đối tượng nghiên cứu, phán xét, mộtnhiệm vụ đòi hỏi phải giải quyết một vấn đề"
Mặc dù tiếp cận và hình thức trình bày định nghĩa khái niệm câu hỏi cókhác nhau, nhưng các định nghĩa trên đều đồng nhất những dấu hiệu cơ bảncủa câu hỏi là:
1) Hướng vào đối tượng nhận thức
2) Sự đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ bằng lời
Trang 203) Đòi hỏi sự giải quyết, đáp lại, trả lời.
4) Hình thức thể hiện dễ nhận biết [3]
Trong cuộc sống, người ta hỏi ai đó một điều gì bởi vì người hỏi chưabiết điều đó hoặc biết một cách lờ mờ chưa rõ ràng Trong dạy học, người dạycũng hỏi mà thường là hỏi những cái mà họ đã biết với mong muốn người họchiểu biết điều đó Vì thế, câu hỏi dạy học thường mang yếu tố gợi mở, yếu tốnhận biết hoặc khám phá dưới dạng thông tin bằng cách cho người học tìm ramối liên hệ, mối quan hệ giữa các quy tắc, các con đường để tự tìm ra câu trảlời hoặc cách giải thích mới Chức năng cơ bản của khâu dạy học là tổ chứcquá trình lĩnh hội, quá trình tương tác, trao đổi, quan hệ giữa người dạy vàngười học, giữa người học với nhau, giữa người học và các nguồn lực học tậpcũng như các nhân tố môi trường
Bộ câu hỏi khung định hướng sẽ giúp các dự án tập trung vào nhữnghoạt động dạy học trọng tâm HS được giới thiệu về dự án thông qua các câuhỏi gợi mở những ý tưởng lớn, xuyên suốt và có tính liên môn HS sẽ buộcphải tư duy sâu hơn về các vấn đề nội dung của môn học theo các chuẩn vàmục tiêu Bộ câu hỏi khung định hướng sẽ cung cấp một cấu trúc trong việcđặt câu hỏi xuyên suốt các dự án, phát triển tư duy ở các cấp độ Bộ câu hỏigiúp dự án tạo ra sự cân bằng giữa việc thấu hiểu nội dung và việc khám phánhững ý tưởng hấp dẫn khiến việc học trở nên phù hợp với HS Câu hỏi kháiquát và câu hỏi bài học đưa ra lí do căn bản của việc học, giúp HS nhận thứcđược “vì sao” và “như thế nào”, khuyến khích tìm hiểu, thảo luận, và nghiêncứu Chúng giúp HS trong việc cá thể hoá suy nghĩ và phát triển khả năngnhận thức đối với một chủ đề Câu hỏi khái quát và câu hỏi bài học được thiết
kế tốt sẽ giúp HS tư duy phê phán, thúc đẩy trí tò mò, thúc đẩy cách họcthông qua đặt câu hỏi trong chương trình Để trả lời được những câu hỏi nhưthế, HS phải xem xét kĩ các chủ đề, xác lập ý nghĩa nội dung rồi mới xâydựng câu trả lời cụ thể từ những thông tin thu thập được Câu hỏi nội dunggiúp HS xác định “ai”, “cái gì”, “ở đâu”, và “khi nào” cũng như hỗ trợ cho
Trang 21câu hỏi khái quát và câu hỏi bài học bằng cách nhấn mạnh vào việc hiểu cácchi tiết trong bài Các câu hỏi này giúp HS tập trung vào những thông tin xácthực cần phải tìm hiểu để đáp ứng các tiêu chí về nội dung và những mục tiêuhọc tập.
Bộ câu hỏi định hướng là sự thể hiện cụ thể và sinh động mục tiêu dạyhọc; các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ được thể hiện rất rõ trong bộcâu hỏi định hướng; các câu hỏi trong bộ câu hỏi định hướng thể hiện cụ thểtheo từng cấp bậc từ dễ đến khó, thể hiện các thao tác tư duy và các kỹ năngthực hành thí nghiệm, HS có thể tiến hành đo đạc để tìm ra giá trị của các đạilượng Vật lý hoặc giải thích các hiện tượng trong tự nhiên hoặc tạo ra các sảnphẩm thực tế Dạy và học dựa trên bộ câu hỏi định hướng là giúp cho HS tổchức kiến thức, nâng cao trình độ nắm vững kiến thức ngay trong quá trìnhhọc tập Câu hỏi nội dung trực tiếp hỗ trợ việc dạy học kiến thức cụ thể, cócâu trả lời duy nhất, bó hẹp trong một chủ đề, một bài học cụ thể, có tác dụng
hỗ trợ và phát triển câu hỏi khái quát Câu hỏi bài học hướng vào trọng tâmbài học Câu hỏi khái quát xuyên qua các nội dung, định hướng vào các ýquan trọng và xuyên suốt các bài học, chương, phần; là cầu nối giữa môn học,bài học, có phạm vi rộng và không có câu trả lời duy nhất, gợi suy nghĩ liênmôn Dạy và học dựa trên bộ câu hỏi định hướng làm cho việc dạy và việchọc có mục đích rõ ràng và thuyết phục cao; GV xây dựng bộ câu hỏi địnhhướng dựa vào nội dung và mục tiêu bài dạy, nhiệm vụ của HS là giải quyếtnhững câu hỏi ấy bằng nhiều phương tiện như: Tiến hành thí nghiệm, nghiêncứu SGK, tìm kiếm các thông tin trên mạng Internet,…, nên HS sẽ chủ độnglĩnh hội kiến thức và tiếp thu kiến thức một cách có chọn lọc; do đó dạy vàhọc dựa trên bộ câu hỏi định hướng là vừa học vừa tinh giản, hệ thống hoákiến thức
* Cấu trúc bộ câu hỏi định hướng:
Bộ câu hỏi định hướng bao gồm có ba loại : Câu hỏi nội dung, câu hỏi bài học, câu hỏi khái quát Bộ câu hỏi định hướng được thiết kế lồng ghép vào
Trang 22nhau Câu hỏi nội dung hỗ trợ cho câu hỏi bài học và cả câu hỏi khái quát Câu hỏi khái quát thường hấp dẫn hơn và được đưa ra trước (mang tính thách thức cao) [10]
- Câu hỏi khái quát: Phản ánh các mức độ ưu tiên về khái niệm, hướngvào trọng tâm của môn học, là các câu hỏi mở Giới thiệu khái quát, đầy đủnhững ý tưởng xuyên suốt các môn học Câu hỏi khái quát cung cấp cầu nốigiữa các bài, phạm vi môn học, thậm chí cả khoá học trong một năm Đưa ranhiều câu trả lời Đối với các câu hỏi loại này thường không có trong mộtcuốn sách Chúng thường là những câu hỏi khái quát về thực tế Thu hút được
sự quan tâm của HS với yêu cầu tư duy bậc cao; câu hỏi khái quát buộc HSphải phân tích tư duy, áp dụng những giá trị và giải thích những kinh nghiệmcủa mình
- Câu hỏi bài học: Là những câu hỏi làm cầu nối giữa câu hỏi khái quát
và câu hỏi nội dung Chúng cũng là các câu hỏi mở, lôi cuốn các em vào việckhám phá các ý tưởng cụ thể đối với từng chủ đề môn học hoặc bài học Cácnhóm GV ở các môn học khác nhau có thể dùng một câu hỏi bài học củanhóm cho một vấn đề chung, việc thống nhất câu hỏi khái quát thông quanhóm Đưa ra những vấn đề hoặc kích thích thảo luận nhằm bổ trợ cho câuhỏi khái quát, khuyến khích khám phá, duy trì hứng thú, cho phép HS trả lờitheo cách tiếp cận sáng tạo, độc đáo Các câu hỏi loại này kích thích HS tựkiến giải các sự kiện
- Câu hỏi nội dung: Điển hình là có câu trả lời phải rõ ràng, phải đúnghay cụ thể, thường được xếp vào loại câu hỏi "đóng" Sắp xếp theo những tiêuchuẩn về nội dung, mục tiêu dạy học, hỗ trợ cho các câu hỏi khái quát cũngnhư câu hỏi nội dung Kiểm tra khả năng ghi nhớ của HS dựa trên các thôngtin, thường yêu cầu HS phải xác định: ai, cái gì, ở đâu và khi nào Đòi hỏi cácyêu cầu về kiến thức và kĩ năng đọc hiểu để trả lời
* Qui trình và kỹ thuật xây dựng bộ câu hỏi định hướng
Trang 23Xây dựng bộ câu hỏi định hướng xuất phát từ nội dung cần học GVphải nhìn thấy được vấn đề trong cuộc sống, nhất là những vấn đề có tính thời
sự và mối liên quan của vấn đề với nội dung cần dạy; mạnh dạn từ bỏ nộidung phải dạy theo lối cũ Đặt ra những câu hỏi liên quan nội dung học thựctiễn và liên môn
Hãy bắt đầu xây dựng bộ câu hỏi định hướng xuất phát từ nội dungbài học và mục tiêu cần đạt, đừng lo ngại về cách thức và ngôn ngữ, cần chútrọng vào tư duy tập thể Suy nghĩ về các câu hỏi HS sẽ hỏi khi bạn dạy bàinày và chú trọng vào việc làm sao để cuốn hút HS Tìm xem điều gì làm cho
HS ghi nhớ từ bài học này trong vòng năm năm nữa Bạn có thể viết câu hỏinhư một mệnh đề trước, sau đó phát triển nó thành câu hỏi; nếu cần, trước hếthãy viết câu hỏi bằng ngôn ngữ “người lớn” để diễn đạt được nội dung chính,sau đó viết lại bằng ngôn ngữ “học trò” Đảm bảo rằng câu hỏi khái quát vàcác câu hỏi bài học có nhiều hơn một câu trả lời hiển nhiên “đúng” nhằm pháttriển kỹ năng tư duy mức cao, luôn hỏi lại khi HS hỏi: “vậy thì sao?”
1.2.3.2 Thiết kế ý tưởng cho dự án trong PBL
* Vị trí, chức năng của ý tưởng trong PBL
Ý tưởng là chuỗi những suy nghĩ khởi nguồn từ nhu cầu của cuộc sống
và kết thúc bằng việc phục vụ cuộc sống Một ý tưởng giá trị là ý tưởng manglại lợi ích cho cộng đồng
James Webb Yuong: "Ý tưởng là kết quả cuối cùng của một chuỗi dàiquá trình xây dựng ý tưởng một cách vô hình, diễn ra bên dưới bề mặt của trí
óc có ý thức" [24]
Ý tưởng có thể coi là một phần trong sự phát triển của loài người Từnhững ý tưởng mà các nhà khoa học sáng chế ra những sản phẩm công nghệcao phục vụ đời sống vật chất Hay các nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ lấy ý tưởngcủa mình để viết lên các tác phẩm để phục vụ cho nhu cầu giải trí tinh thần
Trong PBL, dựa vào cấu trúc thấy rõ: hình thành ý tưởng là yếu tố quantrọng để thiết kế dự án đạt hiệu quả; là những bước đầu tiên của PBL, có chức
Trang 24năng chỉ đạo định hướng quá trình thực hiện dự án Từ những ý tưởng này
GV sử dụng những kiến thức và hiểu biết khái quát của mình để linh hoạt lựachọn phương án thiết kế "hồ sơ bài dạy" (bao gồm kế hoạch dự án, phiếuhướng dẫn nghiên cứu, thang điểm đánh giá) thể hiện một cách phù hợp vàhiệu quả nhất
* Quy trình hình thành và đề xuất ý tưởng cho PBL
Chúng tôi đề xuất quy trình thiết kế ý tưởng cho PBL như sơ đồ 3:
Sơ đồ 3: Quy trình thiết kế ý tưởng
- Bước 1: GV tìm kiếm những vấn đề lớn mà thế giới đã và đang phảiđối mặt, các vấn đề đang diễn ra xung quanh cuộc sống của HS, chúng phải
có tác động rõ nét đối với cuộc sống thường nhật của các em Những vấn đềnày có thể không giống nhau đối với mọi đối tượng HS (tuỳ thuộc vùng miền,trình độ HS ) Từ nội dung cần dạy tìm sự liên quan tới các vấn đề thực tiễntrên Cần xác định được nội dung có thể dạy học theo PBL
- Bước 2: Xác định những ai, những ngành nghề nào liên quan và thựchiện ứng dụng đó
- Bước 3: GV chọn một ngành nghề, một phạm vi, một lĩnh vực cụ thểgiao cho HS (HS đóng vai trò là một thành viên trong ngành, lĩnh vực đó )
Nội dung(có tính ứng dụng)
Những ai, những ngành nghề nào liên quan và thực hiện ứng dụng đó
Giáo viên chọn một ngành nghề, một lĩnh vực cụ thể giao cho học sinh
Vai trò mà học
sinh phải thực
hiện
Trang 25- Bước 4: Nêu lên được vai trò của HS trong dự án Bằng cách đặt racác câu hỏi liên quan đến nội dung, đến thực tiễn gợi ý suy nghĩ liên môn đểkích thích suy nghĩ của HS
Việc phân chia các bước chỉ mang tính chất tương đối Trong thực tếcác bước có thể xen kẽ và thâm nhập lẫn nhau
1.2.3.3 Hồ sơ bài dạy trong PBL
"Hồ sơ bài dạy" là một tên gọi dùng để chỉ toàn bộ sự chuẩn bị về tàiliệu, kiến thức, nội dung, cách đánh giá của GV đối với mỗi bài học, môn học
mà mình phụ trách Thực chất từ trước tới nay GV chỉ quen với khái niệm
"giáo án" và việc soạn giáo án được xem như một việc làm khá quen thuộcđối với mỗi GV trước khi lên lớp Giáo án đơn thuần chỉ là một cuốn sổ, trong
đó GV soạn ra trước nội dung của bài học mà mình sẽ giảng Hiện nay cho dùviệc sử dụng giáo án điện tử đang được khuyến khích và phát triển khá mạnh
mẽ song thực chất nó vẫn là một hình thức trình bày khác thay vì trên giấycủa "giáo án" Vì vậy nội dung và tính chất của nó hoàn toàn khác với "hồ sơbài dạy"
Hồ sơ bài dạy bao gồm một bản kế hoạch, các tiêu chí đánh giá, cácmẫu dự án cho HS, các tư liệu trợ giúp GV và công cụ đánh giá học tập của
HS Một hồ sơ bài dạy mẫu gồm những nội dung cụ thể: Kế hoạch dự án,phiếu hướng dẫn nghiên cứu, thang điểm đánh giá [16]
Những vấn đề cần lưu ý khi đặt vấn đề mở đầu dự án
- Vấn đề đặt ra phải mang tính thực tiễn cao, thú vị, cuốn hút HS
Trang 26- Có thể dùng câu hỏi để đặt vấn đề Trong trường hợp này phải là câuhỏi khái quát
3 Mục tiêu dự án
Những mục tiêu học tập cụ thể được thể hiện rõ trong dự án này chophép GV xem xét những cấp học tương ứng với khả năng của HS để tạo ranhững điều chỉnh cần thiết
Những mục tiêu mà HS cần đạt được trong dự án gồm có:
- Về kiến thức
- Về kĩ năng:
+ Kĩ năng môn học+ Kĩ năng CNTT+ Kĩ năng tư duy: Phân tích, tổng hợp
+ Kĩ năng sống: Giao tiếp, tổ chức
- Thái độ
+ Trong lớp học+ Của HS trước vấn đề trong dự án có liên quan đến thực tiễn
4 Bài tập dành cho HS
Phần này nhằm tạo động lực cho HS HS có nhiệm vụ gì trong dự ánnày? Nhóm của các em được tạo lập như thế nào? Vai trò của các em là gì?Mỗi dự án đưa ra một vấn đề cần được giải quyết để đưa đến một kết quảhoặc một bài thuyết trình GV có thể đọc phần này hoặc phát cho HS
Khi xây dựng bài tập dành cho HS, GV cần lưu ý đến những vấn đề:
- Chủ thể trong dự án (các bạn hãy đóng vai là tổ chức nào?) và kháchthể trong dự án (thực hiện mục đích gì?)
- Nhiệm vụ các nhóm phải hoàn thành
- Sản phẩm các nhóm phải đạt được
5 Chi tiết dự án
Phần này sẽ đưa ra những thông tin chung về dự án, bao gồm những chitiết giúp tạo ra các bước liên kết với kết quả học tập của HS
Trang 27- Chia lớp thành nhóm nhỏ: đảm bảo công bằng cho tất cả các nhóm.
- Phân vai cho mỗi nhóm: mỗi nhóm phải có một nhóm trưởng và mộtthư kí
6 Nguồn công nghệ
Phần này liệt kê tên những phần mềm cụ thể và xác định xem thông tin
từ Internet có cần thiết cho dự án không Phần này cũng sẽ giúp cho GVchuẩn bị máy tính cho lớp học, cài đặt phòng máy với một số phần mềm vàtài liệu phù hợp và tạo ra những điều chỉnh nếu cần thiết
7 Tài liệu tham khảo
Danh sách này bao gồm những tài liệu sẵn có khi thực hiện dự án Bảnmiêu tả các sách giáo khoa, tạp chí, báo, băng hình… được dùng làm cơ sởgiúp GV tập hợp những tài liệu cần thiết khi GV chuẩn bị cho dự án Tài liệubao gồm cả những nguồn mà HS sẽ phải tiếp cận thông qua các bài giảngcũng như những nguồn mà GV có thể tìm hiểu thêm trong quá trình chuẩn bị.Tài liệu tham khảo phải đáp ứng được việc giải quyết các nhiệm vụ đặt ra
8 Các bước thực hiện
Phần này nêu chi tiết hoạt động của dự án bắt đầu với bài giảng mởđầu, những phương hướng đề xuất và trình tự tạo nhóm và những phươnghướng gợi ý để dẫn dắt HS trong suốt dự án Bên cạnh đó còn có bản miêu tảsản phẩm cuối cùng mà HS huớng tới
- Công tác chuẩn bị của GV
- Các bước hướng dẫn HS thực hiện dự án
+ Bước 1: Giới thiệu thời gian dự án
+ Bước 2: Tổ chức nhóm, phát và hướng dẫn HS các tài liệu có liênquan đến dự án
+ Bước 3: Thực hiện dự án
+ Bước 4: Nộp sản phẩm cho GV
+ Bước 5: Báo cáo kết quả và tổng kết dự án
9 Các kế hoạch hỗ trợ
Trang 28GV có thể đã biết tính linh hoạt và khả năng thích nghi là những yếu tốchính tạo nên những giờ học hiệu quả Với mỗi dự án GV sẽ nhận đượcnhững gợi ý để xác định những bài tập tiềm năng, cũng như đưa ra những sựlựa chọn bổ sung cho nhóm làm việc và các hoạt động bài tập.
B Phiếu hướng dẫn nghiên cứu
Xây dựng dàn ý thực hiện bài tập cho HS, các dàn ý hiệu quả sẽ giúpcho học sinh:
- Tư duy một cách hệ thống
- Lưu trữ và xử lí thông tin
- Đưa ra các so sánh và phát hiện điểm tương đồng
Lưu ý không nên tạo ra những bước thực hiện kiểu "điền vào chỗtrống" thụ động
C Thang điểm đánh giá
Cách học theo nhóm dựa trên dự án yêu cầu phải có kỹ thuật đánh giáxác thực và chi tiết Trong mỗi trường hợp, bản miêu tả các PP đánh giá cùngvới các quy chuẩn đánh giá mẫu được cung cấp cho phép đánh giá dễ dàng vàhiệu quả công việc của HS
Đánh giá bài trình diễn trên powerpoint về phương diện: Nội dung,hình thức, trình bày, phối hợp nhóm
Sau đây là một mẫu tham khảo: [9]
ĐÁNH GIÁ CỦA GV
- Thực hiện đủ, đúng các nhiệm vụ
đặt ra đối với các vai trong dự án 30
- Thông tin phong phú (khai thác từ 10
Trang 29- Slide đầu thể hiện chủ đề dự án,
ngày tháng báo cáo Slide cuối có lời
cảm ơn, có các slide về nguồn tài liệu
tham khảo
5
- Trình bày slide có tính sáng tạo 5
- Đảm bảo đúng thời gian quy định 5
- Trình bày logic, lập luận chặt chẽ,
- Là vấn đề (nếu có) nảy sinh từ
chương trình học nhiều khi không
hấp dẫn, không thiết thực đối với HS
- Là vấn đề thường bắt nguồn
từ cuộc sống thực vì thếthường hấp dẫn và thiết thựcđối với HS
Giải - Đó là tiến trình giải quyết vấn đề - Đó là tiến trình khoa học để
Trang 30- Hoạt động giải quyết vấn
đề của thực tiễn bằng nộidung học tập
- Hoạt động theo nhóm
- Kết quả:
+ Tổng kết kiến thức mới cótính liên môn, vượt ra khỏikhuôn khổ nội dung
+ Kỹ năng tư duy bậc cao, kỹnăng sống, kỹ năng CNTT
1.3.2 Đặc điểm bản chất của PBL
Trong các tài liệu về PBL có rất nhiều đặc điểm được đưa ra Các nhà
sư phạm Mỹ đầu thế kỷ XX khi xác lập cơ sở lý thuyết cho PPDH này đã nêu
ba đặc điểm cốt lõi của PBL: Định hướng học sinh, định hướng thực tiễn vàđịnh hướng sản phẩm Có thể cụ thể hoá các đặc điểm của PBL như sau: [2]
- Định hướng học sinh: Trong PBL, HS tham gia tích cực và tự lực vàocác giai đoạn của QTDH Điều đó cũng đòi hỏi và khuyến khích tính tráchnhiệm, sự sáng tạo của người học GV chủ yếu đóng vai trò tư vấn, hướngdẫn, giúp đỡ Tuy nhiên mức độ tự lực cần phù hợp với kinh nghiệm, khảnăng của HS và mức độ khó khăn của nhiệm vụ, PBL phải chú ý đến hứngthú của HS: HS được tham gia chọn đề tài, nội dung học tập phù hợp với khảnăng và hứng thú cá nhân Hứng thú của HS cần được tiếp tục phát triển trongquá trình thực hiện dự án Trong quá trình này còn có sự cộng tác làm việctheo nhóm, trong đó có sự cộng tác và phân công công việc giữa các thànhviên tham gia, giữa HS và GV cũng như với các lực lượng xã hội khác thamgia trong dự án
- Định hướng hoạt động thực tiễn: Trong quá trình thực hiện dự án có
sự kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và vận dụng lý thuyết vào trong hoạt
Trang 31động thực tiễn, thực hành Thông qua đó kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết
lý thuyết cũng như rèn luyện kỹ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn củangười học Chủ đề dự án gắn liền với hoàn cảnh cụ thể Nhiệm vụ dự án cầnchứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng của người học Có
ý nghĩa thực tiễn xã hội: Các dự án học tập góp phần gắn liền nhà trường vớithực tiễn đời sống, xã hội
- Định hướng sản phẩm: Trong quá trình thực hiện dự án, các sản phẩmđược tạo ra Sản phẩm của dự án không giới hạn trong những thu hoạch lýthuyết, mà trong đa số trường hợp các dự án học tập tạo ra những sản phẩmvật chất của hoạt động thực tiễn, thực hành Những sản phẩm này có thể sửdụng, công bố, giới thiệu Dạng sản phẩm có thể là: Bài thuyết trìnhPowerpoint, một trang web, tờ rơi, sản phẩm vật chất cụ thể (kính thiên văn,
bộ thí nghiệm chất khí )
Từ ba đặc điểm cốt lõi trên, rõ ràng đây là một kiểu dạy học triển khaichiến lược dạy học tập trung vào người học, dạy học rèn luyện phát triển kỹnăng tư duy, kỹ năng sống và làm việc trong thời kỳ hội nhập: mọi người hợptác cùng phát triển
1.4 PBL trong thực tiễn
1.4.1 Các dạng của PBL
PBL có thể được phân loại theo nhiều phương diện khác nhau Sau đây
là một số cách phân loại dạy học dựa theo dự án:[2]
a Phân loại theo chuyên môn:
+ Dự án trong một môn học: Trọng tâm nội dung nằm trong một mônhọc
+ Dự án liên môn: Trọng tâm nội dung nằm ở nhiều môn khác nhau.+ Dự án ngoài liên môn: Là các dự án không phụ thuộc trực tiếp vàomôn học, ví dụ dự án chuẩn bị cho các lễ hội trong trường
b Phân loại theo sự tham gia của người học:
Trang 32Dự án cho nhóm HS, dự án cá nhân Dự án dành cho dành cho nhóm
HS là hình thức dạy học dự án chủ yếu Trong trường phổ thông còn có dự ántoàn trường, dự án dành cho một khối lớp, dự án cho một lớp học
c Phân loại theo sự tham gia của giáo viên: Dự án dưới sự hướng dẫn của
một GV, dự án với sự cộng tác hướng dẫn của nhiều GV
d Phân loại theo quỹ thời gian: K.Fray đưa ra cách phân chia như sau:
+ Dự án nhỏ: Thực hiện trong một số giờ học, có thể từ 2- 6 giờ học.+ Dự án trung bình: Dự án trong một hoặc một số ngày, nhưng giới hạn
là một tuần hoặc 40 giờ học
+ Dự án lớn: Dự án thực hiện với quỹ thời gian lớn, tối thiểu là mộttuần (hoặc 40 giờ học), có thể kéo dài nhiều tuần
Cách phân chia theo thời gian này thường áp dụng ở trường phổ thông.Trong đào tạo đại học có thể quy định quỹ thời gian lớn hơn
e Phân loại theo nhiệm vụ
Dựa theo nhiệm vụ trọng tâm của dự án, có thể phân loại dự án theocác dạng sau:
+ Dự án tìm hiểu: Là dự án khảo sát thực trạng đối tượng
+ Dự án nghiên cứu: Nhằm giải quyết các vấn đề, giải thích các hiệntượng các quá trình
+ Dự án thực hành: Có thể gọi là dự án kiến tạo sản phẩm, trọng tâm làviệc tạo ra các sản phẩm vật chất hoặc thực hiện một kế hoạch hành độngthực tiễn, nhằm thực hiện các nhiệm vụ như trang trí, trưng bày, biểu diễn,sáng tác
+ Dự án hỗn hợp: Là dự án có nội dung kết hợp các dạng nêu trên
Các loại dự án không hoàn toàn tách biệt với nhau Trong từng lĩnh vựcchuyên môn có thể phân loại dự án theo các các dạng đặc thù riêng
1.4.2 Ưu điểm và khó khăn của PBL
Trong dạy học không có một PP nào là vạn năng Bởi vậy PBL cũng cónhững ưu điểm và khó khăn của nó
Trang 33a Ưu điểm
Các đặc điểm của PBL đã thể hiện những ưu điểm của PP dạy học này
Có thể tóm tắt những ưu điểm cơ bản sau đây của PBL trong việc thực hiệncác nhiệm vụ của dạy học Vật lý:
+ HS có được động cơ và hứng thú học tập thông qua việc tham gia và
tự chịu trách nhiệm trong suốt quá trình học tập
- Về phát triển tư duy, năng lực nhận thức, năng lực giải quyết vấn đề:
+ Phát triển năng lực giải quyết những vấn đề phức hợp
+ Phát triển năng lực cộng tác làm việc
+ Phát triển năng lực đánh giá
+ Phát huy được tính chủ động sáng tạo của HS trong học tập, biến quátrình đào tạo thành quá trình tự đào tạo
b Khó khăn
Trang 34- PBL không phù hợp trong việc truyền thụ tri thức lý thuyết mang tínhtrừu tượng, hệ thống cũng như rèn luyện hệ thống kỹ năng cơ bản.
- PBL đòi hỏi vấn đề nêu ra phải có cấu trúc mở Điều đó yêu cầu khigiải quyết vấn đề phải sử dụng đến kiến thức liên ngành Vì vậy không phảimôn nào, nội dung gì cũng có thể áp dụng PBL
- PBL đòi hỏi nhiều thời gian vì vậy PBL không thay thế cho PP thuyếttrình và luyện tập, mà là hình thức dạy học bổ sung cần thiết cho các PPDHtruyền thống Thời gian kéo dài khó áp dụng cho một tiết học bình thường
- Để sử dụng PBL GV phải nắm vững kiến thức chuyên môn, kiến thứcliên ngành và các kĩ năng cơ bản về CNTT
- PBL đòi hỏi phương tiện vật chất và tài chính phù hợp Do có ứngdụng CNTT trong dạy học nhưng không phải ở trường học nào cũng trang bịcác phòng máy tính và được nối mạng Internet
- Về phía HS do còn quen với việc học thụ động nên các em sẽ gặpnhững lúng túng khi GV đưa ra các bài tập đòi hỏi HS phải tự lực khám phá,tìm hiểu và giải quyết vấn đề HS cũng có thể gặp khó khăn khi sử dụng các
kĩ năng về CNTT
1.4.3 PBL trong môn Vật lý ở trường phổ thông
1.4.3.1 Thuận lợi
Môn Vật lý có nhiều khả năng triển khai PBL vì:
- Nội dung dạy học: Môn Vật lý là môn học có nhiều ứng dụng quantrọng trong các lĩnh vực khoa học và đời sống Những hiện tượng Vật lý trong
tự nhiên diễn ra vô cùng phong phú và đa dạng Những ứng dụng kỹ thuật,hiện tượng Vật lý này hấp dẫn HS ở tính thiết thực, gần gũi với cuộc sốngthường nhật
- Thiết bị dạy học: Các trường học ở thị trấn, thị xã, thành phố hầu như
đã được trang bị một phòng máy riêng với đầy đủ các thiết bị phục vụ choviệc dạy học với máy vi tính
Trang 35- Các đối tượng cộng tác làm việc trong quá trình dạy học Vật lý:Chúng ta gặp và tiếp xúc rất nhiều trong cuộc sống hàng ngày: Kỹ sư, thợ cơkhí, thợ điện, thợ hàn, bác sỹ
- Nguồn tư liệu: Phong phú và đa dạng gồm: Tài liệu in (SGK, sáchtham khảo ), Internet (trang web vật lý), Phim truyền hình (VTV2, VTC2 )
- Kỹ năng sử dụng CNTT của GV Vật lý: Trong Đại học sinh viên Vật
lý đã được học chuyên ngành "ứng dụng tin học trong vật lý" nên hầu hết các
GV Vật lý đều đáp ứng được kỹ năng sử dụng CNTT trong PBL
1.4.3.2 Các yêu cầu đối với PBL trong môn Vật lý
+ Nội dung tri thức khoa học: Không phải bất cứ nội dung tri thức khoahọc nào cũng có thể dạy học theo PBL Mà tri thức khoa học đó phải gắn liềnvới thực tiễn, gần gũi với HS Các vấn đề này phải có tác động rõ nét đối vớicuộc sống thường nhật của các em, cuốn hút HS bởi ý nghĩa thiết thực đối vớicuộc sống thường ngày
+ Phương tiện vật chất: Luôn là yếu tố cần thiết, nếu được sử dụng hợp
lý có thể dẫn đến biến đổi sâu sắc trong quá trình dạy học Đối với PBL thìyêu cầu trước tiên đó là phòng học có MVT nối mạng Internet, máy chiếuPojecter, các phần mềm chuyên dùng là những tiền đề vật chất quan trọngcho triển khai PBL Hiện nay với chương trình hỗ trợ máy vi tính và mạngInternet cho trường học của tập đoàn viễn thông quân đội Viettel thì cáctrường THPT thuộc thành phố, thị xã, thị trấn điều kiện này đã được đáp ứng
+ Trình độ khoa học và kĩ năng sư phạm của GV quyết định thành côngcủa PBL Trên cơ sở nhận thức sâu sắc nội dung Vật lý kết hợp với những kỹnăng sư phạm cần thiết GV xác định chính xác nội dung khoa học của bài,xem xét bài học nào có thể tiến hành theo PBL, từ đó hình thành ý tưởng dự
án Tài năng sư phạm của người GV thể hiện nhiều ở việc xây dựng "bộ câuhỏi định hướng" và ở bản "hồ sơ dạy học" GV Vật lý năng lực trung bìnhđược tập huấn có thể triển khai PBL
Trang 36+ Kiến thức và kĩ năng của HS: HS phải có một trình độ nhất định cả
về kiến thức lẫn kĩ năng Đặc biệt là kĩ năng sử dụng CNTT, sử dụng Internet
HS THPT vùng thành phố, thị xã, thị trấn được hướng dẫn 1 đến 2 buổi kỹnăng tìm kiếm tài liệu qua Google và soạn trình chiếu bằng Powerpoint đềuđáp ứng PBL
1.4.3.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong PBL
CNTT đóng vai trò quan trọng trong bất kỳ lớp học nào, nhưng nó đặcbiệt có tác động mạnh mẽ khi kết hợp với cách dạy học dựa trên dự án
- Nâng cao chất lượng dạy và học dựa trên cơ sở sử dụng CNTT.
Đối với dạy học PBL, việc sử dụng CNTT là cách thức đáng tin cậy,CNTT cho phép dữ liệu được tập trung một cách có hiệu quả, phân tích mộtcách chính xác, truyền tải một cách rõ ràng và hấp dẫn về hình ảnh Đó làcông cụ thu thập thông tin và giải quyết vấn đề Trong khi các nguồn thôngtin truyền thống (sách, báo, tạp chí và tài liệu) vẫn thường được sử dụng thìcông nghệ có thể cho phép chúng ta tiếp cận những thông tin không dễ gì cóđược Hệ thống mạng toàn cầu (World Wide Web) cung cấp một số lượngkhổng lồ các thông tin không hạn chế về nội dung như một thư viện Đó là tậphợp những nguồn thông tin sơ cấp và thứ cấp trên phạm vi toàn thế giới tạođiều kiện làm việc lý tưởng cho HS, cho GV Các chương trình, phần mềm hỗtrợ giảng dạy, xử lý, phân tích, đánh giá giúp GV, HS tiết kiệm được thờigian
Việc sử dụng CNTT cho tổ chức và phân tích thông tin thường hiệuquả hơn so với các phương tiện truyền thống Cất giữ dữ liệu trong bảng tínhhoặc cơ sở dữ liệu không chỉ cho phép việc thu thập thông tin được quản lýmột cách tập trung mà còn tạo ra một cơ chế sử dụng dữ liệu và trên cơ sở đóđưa ra dự đoán Ngay cả đánh dấu một trang Web hoặc thu thập dữ liệu vàomột đĩa mềm cũng dễ dàng sửa đổi hoặc cập nhật hơn là phải tìm kiếm thôngtin trong những trang viết hoặc trong một cuốn vở ghi
Trang 37Sử dụng CNTT thông báo những kết quả nghiên cứu chắc chắn là PPtốt nhất Việc tạo ra một bài thuyết trình HS làm công tác nghiên cứu để trảlời cho một vấn đề trong khi vẫn xây dựng được những kiến thức có ý nghĩa.Bên cạnh đó vẫn có thể sử dụng hình ảnh, biểu đồ, bản đồ, những đoạn phim,
âm thanh và những siêu liên kết tạo ra những thông tin có chất lượng để hỗtrợ hoặc minh hoạ cho câu trả lời Thông qua việc ứng dụng CNTT để triểnkhai dự án, việc trình bày kết quả giúp cho HS nâng cao kỹ năng sử dụng máytính và ứng dụng máy tính vào trong học tập
- CNTT hỗ trợ hoạt động hướng dẫn và kiểm tra của GV đối với triển khai nhiệm vụ học tập theo dự án của HS.
+ GV tập hợp thư điện tử để trao đổi và nhận phản hồi từ phía HS khithực hiện dự án
+ HS trao đổi nội dung học tập nghiên cứu với nhau qua hộp thư điện tử + Có thể lập trang web, forum để trao đổi thảo luận trong quá trình triểnkhai dự án
- CNTT hỗ trợ hoạt động nghiệm thu và đánh giá dự án.
+ HS trình sản phẩm của nhóm bằng bài viết dạng word hay một bài
trình diễn dưới dạng powerpoint hoặc là một trang web Thông qua quá trìnhtrình bày sản phẩm của mỗi nhóm để đánh giá kết quả của các nhóm
- CNTT hỗ trợ việc triển khai ứng dụng sản phẩm của dự án.
+ Sản phẩm cuối cùng của lớp học dự án được làm chung thành đĩa CD,hoặc một trang Web làm tài liệu dùng chung cho cả lớp, các khoá sau Có thểđưa sản phẩm này lên Internet để bạn đọc tham khảo
Trang 38Kết luận chương 1
Dạy học dự án là một PP, một hình thức dạy học quan trọng để thựchiện quan điểm định hướng vào người học, quan điểm dạy học định hướngvào hoạt động và quan điểm dạy học tích hợp Dạy học dự án góp phần gắn líthuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội, tham giatích cực vào việc đào tạo năng lực làm việc độc lập, sáng tạo, giải quyết cácvấn đề phức hợp, tinh thần trách nhiệm và khả năng cộng tác làm việc củangười học Đây cũng chính là hình thức quan trọng để thực hiện phương thứcđào tạo theo hướng kết hợp giữa học tập và nghiên cứu
Môn Vật lý ở THPT có nhiều khả năng triển khai PBL do kiến thức Vật
lý là cơ sở của hầu hết các ứng dụng kỹ thuật được sử dụng phổ biến trongđời sống và sản xuất Vật lý học là khoa học gắn liền với đời sống Vì vậy nộidung dạy học theo chương trình môn học có thể tích hợp tạo nên các ý tưởnghấp dẫn đối với HS Điều kiện cơ sở vật chất, con người, tư liệu dạy học chophép triển khai PBL ở một số nội dung được chọn lọc chi tiết Trong chương
2 chúng tôi sẽ nghiên cứu ứng dụng PBL trong dạy học một số kiến thứcchương "Mắt Các dụng cụ quang" - một chương dạy về các ứng dụng Vật lý
Trang 39CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC MỘT SỐ KIẾN THỨC
CHƯƠNG "MẮT CÁC DỤNG CỤ QUANG"
THEO TINH THẦN PBL 2.1 Vị trí, đặc điểm của chương
2.1.1 Vị trí của chương
Phần quang học được đưa vào chương trình phổ thông trình bày kiếnthức theo chiều dọc từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp Ở THCS đượcđưa vào ở lớp 7 và lớp 9, ở THPT được đưa vào cuối lớp 11 và một phần ởlớp 12 Chương "Mắt Các dụng cụ quang" là chương thứ VI thuộc chươngtrình vật lý 11 nâng cao Việc sắp xếp này là hợp lý vì ở THCS các em đãđược tiếp cận với những khái niệm đơn giản Học phần quang học lớp 11 là
cơ sở để học lí thuyết về photon và quang sóng thuộc chương trình vật lý 12
2.1.2 Đặc điểm của chương
Quang học là ngành học về các hiện tượng liên quan tới ánh sáng, cácđịnh luật quang học và các dụng cụ quang học được sử dụng nhiều trong khoahọc và đời sống Chương trình quang học lớp 11 chỉ đề cập tới phần quanghọc trong đó dùng phương pháp hình học để lí giải các hiện tượng quang học
Lý thuyết quang hình học đã giải thích thành công các hiện tượng như phản
xạ và khúc xạ ánh sáng Tuy nhiên để nghiên cứu một số hiện tượng khác nhưgiao thoa, nhiễu xạ ánh sáng không thể dùng lý thuyết này, mà ta phải dùng
lý thuyết quang học sóng, trong đó xét ánh sáng như một sóng
Vào cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX việc phát hiện ra các hiệu ứngquang điện và Compton đã dẫn đến sự ra đời lí thuyết photon về ánh sáng, coiánh sáng gồm những hạt gọi là photon Lí thuyết photon và quang sóng sẽđược trình bày trong chương trình vật lý 12
Chương "Mắt Các dụng cụ quang" trình bày về các dụng cụ quang từđơn giản (lăng kính, thấu kính) tới các thiết bị có cấu tạo phức tạp hơn (kínhhiển vi, kính thiên văn); trình bày về cấu tạo và hoạt động của mắt khi quan
Trang 40sát một vật; các tật của mắt (cận thị, viễn thị, lão thị) và cách sửa Đây chính
là các ứng dụng Vật lý gần gũi trong cuộc sống thường nhật với HS và mọingười
2.2 Mục tiêu dạy học của chương theo chuẩn kiến thức, kỹ năng [6]
a Kiến thức
- HS phải nắm được các khái niệm và định nghĩa:
+ Lăng kính, cạnh, đáy, góc chiết quang, góc tới, góc ló, góc lệch cực tiểu.+ Thấu kính, trục chính, đường kính khẩu độ, quang tâm, trục chính, trục phụ,tiêu điểm, tiêu cự, tiêu diện, độ tụ
+ Điểm cực viễn, điểm cực cận, khoảng cực cận của mắt, khoảng nhìn rõ củamắt, mắt không có tật, gốc trông vật, năng suất phân li
+ Số bội giác
- HS trình bày được:
+ Cấu tạo của lăng kính, đường đi của tia sáng qua lăng kính, các công thức
cơ bản của lăng kính, sự biến thiên của góc lệch của tia sáng qua lăng kínhkhi góc tới biến thiên
+ Cấu tạo của thấu kính, phân loại thấu kính, điều kiện cho ảnh rõ của thấukính
+ Cấu tạo của mắt về phương diện quang hình học, sự điều tiết của mắt, điềukiện nhìn rõ của mắt Đặc điểm của mắt cận, mắt viễn, mắt lão và các cáchkhắc phục tật cận thị, viễn thị, lão thị
+ Cấu tạo, tác dụng, cách ngắm chừng, cách sử dụng của các kính (kính lúp,kính hiển vi, kính thiên văn khúc xạ)
b Kĩ năng
- Vẽ được đường đi của tia sáng qua lăng kính, vận dụng định luật khúc xạ vàphản xạ ánh sáng vào trường hợp lăng kính
- Phân biệt được khái niệm tiêu điểm, tiêu diện, tiêu cự của hai loại thấu kính
Vẽ được đường đi của tia sáng qua hai loại thấu kính và dựng ảnh của một vật