1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu dạy học một số đơn vị kiến thức chương điện tích điện trường vật lý 11 nâng cao theo định hướng dạy học giải quyết vấn đề

82 1K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Dạy Học Một Số Đơn Vị Kiến Thức Chương “Điện Tích - Điện Trường” Vật Lý 11 Nâng Cao Theo Định Hướng Dạy Học Giải Quyết Vấn Đề
Tác giả Trần Thị Hạnh
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Quang Lạc
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý Luận Và Phương Pháp Dạy Học Vật Lý
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Giáo Dục
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cấu trúc của luận văn Phần1: Mở đầu Phần2: Nội dung Chương1: Dạy học giải quyết vấn đề trong môn vật lý Chương2: Tổ chức dạy học một số đơn vị kiến thức ở chương" Điện tích - Điện trường

Trang 1

Trờng đại học vinh

- -Trần thị hạnh

Nghiên cứu dạy học một số đơn vị kiến thức chơng

“Điện tích - điện trờng vật lý 11 ’ vật lý 11

nâng cao theo định hớng dạy học

giảI quyết vấn đề

Chuyên ngành: lý luận và phơng pháp dạy học vật lý

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Những năm gần đây, một trong những yêu cầu cấp bách đối với ngành giáodục là phải đổi mới phương pháp giáo dục nhằm đáp ứng những yêu cầu mới của

sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Điều này được Đảng ta chỉ rõ

trong Nghị quyết TW2 khóa VIII(12/1996):"Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo

dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều Rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh ".

Để đạt được mục tiêu trên, ngành giáo dục đã thực hiện nhiều biện pháp tíchcực và đồng bộ Trong đó, việc vận dụng các phương pháp dạy học tiên tiến làmột trong những con đường thích hợp để từng bước đưa giáo dục nước ta hội nhậpvới xu thế phát triển chung của giáo dục thế giới

Thực tiễn cho thấy, xã hội càng phát triển càng xuất hiện nhiều vấn đề mớitiềm ẩn trong những khía cạnh khác nhau của đời sống Biết phát hiện và tìm racách giải quyết hợp lý những vấn đề đó là một năng lực cần thiết đảm bảo cho sựthành công trong cuộc sống Rèn luyện và bồi dưỡng những năng lực đó cho họcsinh, giúp các em hình thành những kĩ năng sống cần thiết là một trong nhữngmục tiêu của giáo dục đào tạo ngày nay Dạy học giải quyết vấn đề là một trongnhững phương pháp dạy học đáp ứng được những yêu cầu trên

Dạy học giải quyết vấn đề là một phương pháp dạy học tích cực Trong dạyhọc giải quyết vấn đề, học sinh được chủ động tìm hiểu, chiếm lĩnh kiến thức mộtcách chủ động, được rèn luyện kĩ năng phát hiện và giải quyết các vấn đề học tậpcủa bộ môn Thông qua những quá trình đó, học sinh hình thành và phát triển khảnăng tư duy sáng tạo, rèn luyện khả năng giải quyết vấn đề Nhờ vậy, học sinh cókhả năng thích ứng với những thay đổi của đời sống xã hội sau này

Với những lý do đó, với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng dạy học

vật lý ở trường phổ thông, chúng tôi lựa chọn đề tài:" Nghiên cứu dạy học một số

Trang 3

đơn vị kiến thức chương " Điện tích - Điện trường" - Vật lý 11 nâng cao theo định hướng dạy học giải quyết vấn đề"

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu vận dụng dạy học giải quyết vấn đề vào một số bài học thuộcchương "Điện tích - Điện trường" vật lý 11 nâng cao nhằm góp phần nâng caochất lượng dạy học chương

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Lý luận dạy học giải quyết vấn đề

- Quá trình dạy học vật lý ở trường THPT

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Dạy học giải quyết vấn đề trong vật lý

- Chương "Điện tích - Điện trường" chương trình nâng cao

4 Giả thuyết khoa học.

Có thể xây dựng tiến trình dạy học một số đơn vị kiến thức chương "Điện tích Điện trường" theo định hướng dạy học giải quyết vấn đề để góp phần bồi dưỡng tưduy và năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh

-5 Nhiệm vụ nghiên cứu.

5.1 Nghiên cứu lý luận dạy học giải quyết vấn đề

5.2 Tìm hiểu thực trạng dạy học giải quyết vấn đề ở trường THPT hiện nay

5.3 Nghiên cứu chương trình vật lý THPT phần điện tích điện - điện trường.5.4 Thiết kế tiến trình dạy học một số kiến thức chương"Điện tích - Điện trường"sách giáo khoa 11 nâng cao theo định hướng dạy học giải quyết vấn đề

5.5 Thực nghiệm sư phạm, đánh giá kết quả nghiên cứu

6 Đóng góp của đề tài

Thiết kế được tiến trình dạy học một số bài học điển hình của chương"Điện tích Điện trường" sách giáo khoa vật lý 11 nâng cao theo định hướng giải quyết vấnđề

Chỉ rõ những khó khăn, thuận lợi khi áp dụng phương pháp giải quyết vấn đềvào chương" Điện tích - Điện trường" chương trình nâng cao

Trang 4

7 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu lý luận: nghiên cứu tài liệu lý luận về các vấn đề liên quan đến đềtài

Nghiên cứu thực tiễn: điều tra khảo sát thực trạng dạy học chương" Điện tích Điện trường" ở trường THPT, tiến hành thực nghiệm sư phạm, thăm dò, lấy ý kiến

-từ giáo viên, học sinh để đánh giá lý luận nêu trên

8 Cấu trúc của luận văn

Phần1: Mở đầu

Phần2: Nội dung

Chương1: Dạy học giải quyết vấn đề trong môn vật lý

Chương2: Tổ chức dạy học một số đơn vị kiến thức ở chương" Điện tích - Điện

trường" vật lý 11 nâng cao theo định hướng dạy học giải quyết vấn đề

Chương3: Thực nghiệm sư phạm

Phần3: Kết luận

Trang 5

NỘI DUNG Chương 1 Dạy học giải quyết vấn đề trong môn vật lý 1.1 Lý thuyết về dạy học giải quyết vấn đề

1.1.1 Khái niệm về dạy học giải quyết vấn đề.

Dạy học giải quyết vấn đề là một trong những phương pháp dạy học tích cực.Bản thân thuật ngữ này thì ra đời chưa lâu nhưng tư tưởng của nó thì đã xuất hiệnvào giữa thế kỷ 20 trong sự thôi thúc của xã hội đòi hỏi sự cải tiến phương phápdạy học trong nhà trường

Tư tưởng chủ đạo của phương pháp dạy học giải quyết vấn đề là đưa quá trìnhhọc tập của học sinh đến gần hơn với quá trình tìm tòi, phát hiện, khám phá củacác nhà khoa học nhằm mục đích bồi dưỡng và nâng cao tính độc lập, tư duy sángtạo cho học sinh

Theo V Ô-Kôn:" Dạy học nêu vấn đề là tập hợp những hành động như tổ

chức các tình huống có vấn đề, phát biểu các vấn đề giúp đỡ những điều kiện cần thiết để học sinh giải quyết vấn đề, kiểm tra cách giải quyết đó và cuối cùng chỉ đạo quá trình hệ thống hóa và củng cố kiến thức thu nhận được" [15,11].

Theo I Ia Lecne:" Dạy học nêu vấn đề là phương pháp dạy học trong đó học

sinh tham gia một cách có hệ thống vào quá trình giải quyết các vấn đề và các bài toán có vấn đề được xây dựng theo nội dung tài liệu học trong chương trình"[8,5].

Theo I F Kharlamop:" Dạy học nêu vấn đề là sự tổ chức quá trình dạy họcbao gồm việc tạo ra tình huống có vấn đề (tình huống tìm tòi) trong giờ học, kíchthích học sinh nhu cầu giải quyết những vấn đề nảy sinh, lôi cuốn các em vào hoạtđộng nhận thức tự lực nắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, phát triển tínhtích cực của trí tuệ và hình thành cho các em năng lực tự mình thông hiểu và lĩnhhội thông tin khoa học mới"[9,5]

Theo Nguyễn Quang Lạc:" Dạy học giải quyết vấn đề là một hình thức dạy học

trong đó học sinh được coi như " nhà khoa học trẻ" tự giác, tích cực tổ chức các quá trình " xây dựng tri thức mới cho bản thân"[14,38] Hoạt động đó được diễn ra

giống như " hoạt động nghiên cứu khoa học, dù rằng kết quả này không có gì mời

Trang 6

đối với nhân loại, song lại là điều mới mẻ đối với học sinh Người giáo viên phảithực sự quan tâm đến cả nội dung khoa học mà học sinh đã xây dựng lẫn phươngpháp hoạt động của học sinh để đạt được điều đó Do vậy, giáo viên phải là nhàthiết kế, tổ chức, chỉ đạo thi công Đó là một hoạt động sáng tạo và đòi hỏi tàinghệ sư phạm, lòng kiên trì, sự khoan dung và độ lượng cao Bởi vì giáo viên phảichỉ đạo lớp trẻ non nớt không phải tái tạo lại cái đã biết mà là đi xây dựng cái mớicho họ, còn đối với giáo viên thì đó lại là điều quá cũ.

Những điều đó cho thấy, dạy học giải quyết vấn đề không phải là một phươngpháp dạy học cụ thể, mà là một tập hợp gồm nhiều phương pháp dạy học liên kếtchặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau để mang lại hiệu quả dạy học mong muốn.Trong đó, phương pháp xây dựng bài toán Ơrixtic (tạo ra tình huống có vấn đề)giữ vai trò trung tâm, gắn kết với các phương pháp khác tạo thành một hệ thốngthống nhất

Dạy học giải quyết vấn đề cũng không hạn chế ở phạm trù phương pháp dạyhọc Để việc tiếp cận và áp dụng dạy học giải quyết vấn đề vào quá trình dạy họcđòi hỏi phải có sự cải tạo về nội dung, cách thức tổ chức dạy học trong mối liên hệthống nhất Riêng trong phạm vi phương pháp dạy học nó có khả năng thâm nhậpvào hầu hết những phương pháp dạy học khác và làm cho chúng trở nên tích cựchơn, có hiệu quả hơn Vì vậy dạy học giải quyết vấn đề cần được coi như tên gọi

để chỉ cơ sở của các phương pháp dạy học có khả năng kích thích người học thamgia vào hoạt động nhận thức một cách tích cực, liên tục và chủ động dưới sự chỉđạo của giáo viên

1.1.2 Vấn đề và tình huống có vấn đề

1.1.2.1 Vấn đề

"Vấn đề là bài toán mà cách thức giải quyết hay kết quả của nó chưa được họcsinh biết trước, nhưng học sinh đã nắm được những kiến thức và kỹ năng xuấtphát để từ đó thực hiện sự tìm tòi kết quả hay cách thức hình thành bài làm Nóicách khác, đó là câu hỏi mà học sinh chưa biết câu trả lời nhưng có thể bắt tay vàotìm kiếm lời giải đáp"

Trang 7

"Vấn đề trong nghiên cứu vật lý là một câu hỏi, một bài toán chưa có lời giảixuất phát từ thực tiễn khoa học, kỹ thuật, đời sống Đó là những hiện tượng mới,quá trình mới không thể lý giải được bằng các lý thuyết đã có hoặc một câu hỏitìm giải pháp cho một mục đích thiết thực nào đó, hoặc lý thuyết chưa trọn vẹn ".Trong vấn đề chứa đựng cả yếu tố khách quan lẫn yếu tố chủ quan:

- Yếu tố khách quan - dẫn liệu xuất phát cho phép giải quyết vấn đề, tìm ra lờigiải

- Yếu tố chủ quan - học sinh phải sẵn sàng tiếp nhận vấn đề cần giải quyết

Vấn đề không phải là những câu hỏi mà học sinh đã biết trước lời giải đáp, cũngkhông phải là những câu hỏi mà học sinh không biết câu trả lời cũng như không

có phương tiện để tìm ra câu trả lời

Như vậy: "Vấn đề chứa những mâu thuẫn nhận thức Lúc đầu mâu thuẫn đócòn mang tính khách quan, sau khi học sinh tiếp nhận và ý thức được mâu thuẫn

đó thì nó biến thành mâu thuẫn chủ quan, tồn tại trong ý nghĩ của học sinh dướidạng một vấn đề mới bài tập hay một bài toán"

1.1.2.2 Tình huống có vấn đề

* Khái niệm tình huống có vấn đề:

"Tình huống có vấn đề" là tình huống mà học sinh gặp khó khăn hay ý thứcđược vấn đề, mong muốn giải quyết vấn đề đó và cảm thấy với khả năng của mìnhthì hy vọng có thể giải quyết được, do đó bắt tay vào việc giải quyết vấn đề

Nhà giáo dục Xô Viết Rubinstein đã khẳng định:"tư duy bắt đầu từ tính huống cóvấn đề"

Tổ chức tình huống có vấn đề thực chất là tạo ra hoàn cảnh để học sinh tự ý thứcđược vấn đề cần giải quyết, có nhu cầu và hứng thú giải quyết vấn đề, biết đượcmình cần phải làm gì và sơ bộ xác định được làm thế nào

Trên cơ sở đó người ta ghi nhận những dấu hiệu của tình huống có vấn đề nhưsau:

- Nó bao gồm cái gì chưa biết đòi hỏi phải có sự tìm tòi sáng tạo tham gia hoạtđộng tư duy và sự nhanh trí đáng kể

Trang 8

- Nó phải chứa đựng điều gì đó đã biết, phải cho trước những dự kiện nào đó đểlàm điểm xuất phát cho sự suy nghĩ, sự tìm tòi sáng tạo.

- Tình huống có vấn đề phải vừa sức đối với học sinh Nếu quá đơn giản, chứađựng những lời giải tường minh từ kho tri thức cũ của học sinh thì không tạo rađược sự kích thích, mà sẽ tạo ra sự thờ ơ, coi thường Ngược lại, nếu tình huốngquá khó, học sinh không thể tìm ra câu trả lời thì dễ dẫn đến tâm lý bi quan, chánnản dẫn đến thờ ơ

- Đồng thời với tính vừa sức là tính mới lạ, tính không bình thường của bài toánnhận thức nhằm kích thích sự hứng thú và lòng khao khát nhận thức của học sinh

* Các kiểu tình huống có vấn đề:

-Tình huống nghịch lý và tình huống không phù hợp: Đây là tình huống màhọc sinh quan sát thấy một hiện tượng vật lý nào đó xẩy ra trái với những suy nghĩthông thường, trái với những kiến thức mà họ đã biết hoặc là chưa bao giờ gặp nênkhông biết dựa vào đâu để lý giải Sự trái ngược giữa quan niệm và kết quả quansát trong thực tế tạo nên nghịch lý trong suy nghĩ, rồi từ đó kích thích tư duy củahọc sinh Giáo viên có thể đưa học sinh vào kiểu tình huống có vấn đề này bằngcách kể một câu chuyện, dùng tranh vẽ, mô hình hoặc thí nghiệm đơn giản.Nghịch lý là loại mâu thuẫn mang tính chủ quan một cách trực tiếp, giáo viênkhông phải dùng các phương pháp buộc học sinh chấp nhận vấn đề nên có thể tiếtkiệm thời gian và huy động học sinh tham gia tích cực hơn vào quá trình dạy học.Đối với những tình huống nghịch lý, việc giải quyết vấn đề buộc học sinh phải tìmhiểu nguyên nhân về mặt khoa học của hiện tượng bằng việc xây dựng kiến thứcmới

Ví dụ: Khi nghiên cứu về hiện tượng sức căng mặt ngoài, giáo viên yêu cầu họcsinh dự đoán hiện tượng xảy ra nếu ta thả một ít mẩu xốp nhỏ vào khay đựngnước Sau đó nhỏ một giọt xà phòng vào giữa các mẩu xốp đó Đa số học sinh chorằng không có hiện tượng gì xảy ra Khi giáo viên làm thí nghiệm cho thấy: banđầu các mẩu xốp hút nhau và dính lại với nhau Sau khi nhỏ giọt xà phòng vàochúng tản ra rất nhanh về phía thành của khay nước.Tình huống này đã tạo ra một

Trang 9

sự bất ngờ đối với học sinh, nếu được tìm hiểu nguyên nhân của hiện tượng đó thìhọc sinh sẽ cảm thấy rất hứng thú.

-Tình huống lựa chọn và tình huống bác bỏ: Đây là tình huống mà học sinhđứng trước một vấn đề hay một số phương pháp mang một số dấu hiệu quen thuộcliên quan đến một số kiến thức hay một số phương pháp giải quyết nhưng chưachắc chắn là có thể dùng kiến thức nào hay phương pháp nào để giải quyết vấn đề

sẽ có hiệu quả nhất Đối với những tình huống như vậy, vấn đề nhận thức đã đượcđưa ra trước và nhiệm vụ của học sinh là phải cân nhắc, lựa chọn một kết quảđúng duy nhất và bác bỏ kết quả sai

Ví dụ: Khi dạy bài "Rơi tự do", giáo viên tiến hành thí nghiệm thả rơi một miếngbìa và một miếng kim loại có hình dạng và kích thước như nhau Học sinh quansát thấy miếng kim loại rơi nhanh hơn và đưa ra kết luận: vật nặng rơi nhanh hơnvật nhẹ Nếu kết luận này đúng thì hai vật nặng như nhau sẽ rơi nhanh như nhau.Giáo viên làm tiếp thí nghiệm thứ hai: lấy hai miếng bìa giống hệt nhau, trong đómột miếng để nguyên còn miếng kia thì vo tròn lại Thả cho hai vật rơi ở cùng một

độ cao Kết quả học sinh thấy rằng miếng bìa được vo tròn lại rơi nhanh hơn Nhưvậy, kết quả thí nghiệm hai đã bác bỏ giả thuyết nêu trên, đồng thời đặt ra cho họcsinh một vấn đề mới: Sự rơi tự do trong không khí không phụ thuộc vào trọnglượng của các vật, vậy nó phụ thuộc vào yếu tố nào?

-Tình huống gây ra sự xung đột: Đây là tình huống mà những sự kiện, hiệntượng xảy ra trong tình huống đó trái ngược với suy nghĩ của học sinh Điều nàytạo ra sự xung đột trong tư duy của họ

Ví dụ: Khi nghiên cứu định luật Becnuli, giáo viên giới thiệu với học sinh dụng cụthí nghiệm gồm một phễu nhỏ được lồng vào trong một phễu lớn hơn và đặt câuhỏi: Nếu ta thổi vào phễu lớn thì phễu nhỏ sẽ chuyển động như thế nào? Ở tìnhhuống này, đa số học sinh đều cho rằng phễu nhỏ sẽ bay ra phễu lớn Khi giáoviên tiến hành thí nghiệm cho học sinh quan sát Kết quả là khi thổi phễu nhỏ đivào trong phễu lớn Kết quả thí nghiệm đặt ra trong đầu học sinh một câu hỏi tạisao? Trong đầu học sinh xảy ra sự xung đột giữa suy nghĩ logic của bản thân vàmột bên là hiện tượng xảy ra trái với logic đó

Trang 10

-Tình huống phát triển hoàn chỉnh: đây là tình huống học sinh đứng trước mộttình huống vấn đề chỉ mới giải quyết một phần, một bộ phận, trong phạm vi hẹpcần phải tiếp tục phát triển, hoàn chỉnh, mở rộng thêm sang những lĩnh vực mới.

Để giải quyết tình huống đó, học sinh phải biết vận dụng những kiến thức, kỹnăng, kỹ xảo đã biết Quá trình này vừa giúp học sinh hoàn chỉnh, tiếp thu kiếnthức mới vừa giúp học sinh củng cố lại kiến thức cũ Đây cũng là tình huống màkhi dạy học môn vật lý, giáo viên có nhiều cơ hội để khai thác và tạo nên nhữngtình huống có vấn đề theo dạng này Nhiều nhất là giáo viên có thể giao học sinhgiải quyết những vấn đề, sự kiện có liên quan đến việc vận dụng những tri thức đãbiết vào thực tế

Ví dụ: Khi nghiên cứu về bản chất dòng điện trong chất điện phân, giáo viên cóthể giới thiệu với học sinh các dụng cụ thí nghiệm như trong sách giáo khoa Giáoviên tiến hành thí nghiệm: đổ nước cất vào, đóng khóa k, kim điện kế không lệch.Vậy nước cất không dẫn điện Sau đó, thay nước cất bằng nước thường, đóng khóa

k, kim điện kế lệch Vậy nước thường dẫn điện Giáo viên đặt câu hỏi tại sao nướccất không dẫn điện mà nước thường dẫn điện Để tìm hiểu nguyên nhân, giáo viêntiếp tục làm thí nghiệm bằng cách cho muổi vào nước cất và thấy rằng kim điện kếquay chứng tỏ dung dịch muối ăn dẫn điện Vậy có phải là bất cứ dung dịch nàocũng dẫn điện? Giáo viên lại làm thí nghiệm với dung dich nước đường, kết quảcho thấy kim điện kế không quay, chứng tỏ dung dịch đường không dẫn điện Vậydung dịch như thế nào thì dẫn điện? Giáo viên dựa vào kiến thức về sự phân ly màhọc sinh đã học để dẫn dắt học sinh đi đến kết luận về dung dịch điện phân

Việc phân loại các kiểu tình huống có vấn đề như trên chỉ có tính tương đối.Trong quá trình dạy học, người giáo viên có thể tạo thêm những kiểu tình huốngkhác nữa Một sự kiện cụ thể có thể có sự tham gia đồng thời của một số tìnhhuống thuộc các loại khác nhau

Thực tế, việc tạo ra tình huống có vấn đề trong dạy học thực sự là cả mộtnghệ thuật sư phạm mà việc vận dụng nó cần phải có sự đầu tư kỹ lưỡng, gia côngnghiêm túc của người giáo viên Cùng một nội dung dạy học, cùng một đối tượnghọc sinh, nhưng nếu không có sự gia công sư phạm thì không thể đặt học sinh vào

Trang 11

tình huống có vấn đề được Nghệ thuật sư phạm tạo ra tình huống có vấn đề cònđòi hỏi người giáo viên phải nắm chắc kiến thức khoa học cũng như hiểu rõ lượngkiến thức mà học sinh cần chiếm lĩnh để tạo ra những tình huống phù hợp với từngđối tượng học sinh Mặt khác, giáo viên cũng phải biết cách kích thích, tạo "thếnăng tâm lý tư duy" cho học sinh, khuyến khích họ tham gia vào việc giải quyếtvấn đề.

1.1.3 Cấu trúc của dạy học giải quyết vấn đề

Dạy học giải quyết vấn đề có 3 giai đoạn: Tạo tình huống có vấn đề, hướngdẫn giải quyết vấn đề và vận dụng tri thức để củng cố và mở rộng vấn đề

1.1.3.1 Giai đoạn tạo tình huống có vấn đề

Nhiệm vụ của giai đoạn này là tạo ra tình huống có vấn đề nhằm kích thíchthần kinh hoạt động, tạo cho học sinh một trạng thái hưng phấn cao độ Học sinh

có nhu cầu hoạt động và có thái độ sẵn sàng lao vào công việc Nội dung hoạtđộng của giáo viên là: tạo cho được "vấn đề nhận thức", tức là tạo được mẫu thuẫnkhách quan giữa cái đã biết và cái cần tìm Sau đó "cấy" mâu thuẫn khách quan

đó vào tiến trình nhận thức của họ, làm cho học sinh thấy được, cảm nhận được sựtồn tại hiển nhiên mâu thuẫn đó trên con đường học tập của mình Tiếp đó, giáoviên phải khơi nguồn tiềm lực ở học sinh để họ thấy được rằng họ đã có nhữngvốn kiến thức cần thiết, chỉ cần họ cố gắng thì họ có thể tự lực giải quyết nhữngmâu thuẫn đó

Nội dung hoạt động của học sinh trong giai đoạn này là tiếp nhận bài toánnhận thức, tiếp nhận vấn đề mà giáo viên đặt ra và chuyển sang trạng thái sẵn sàngtích cực hoạt động

Điều quan trọng nhất của giai đoạn này là làm thế nào để học sinh nhận rađược và tiếp nhận bài toán nhận thức Điều này đòi hỏi giáo viên phải có nghệthuật sư phạm trong việc tạo ra tình huống có vấn đề để kích thích, tạo thế năngtâm lý tư duy cho học sinh

*Các biện pháp tạo tình huống có vấn đề trong vật lý:

- Sử dụng thí nghiệm vật lý;

- Sử dụng bài tập vật lý;

Trang 12

- Sử dụng thí dụ trong đời sống;

- Kể một câu chuyện lịch sử;

- Sử dụng một câu chuyện hay thông tin thực tế;

1.1.3.2 Giai đoạn nghiên cứu, hướng dẫn giải quyết vấn đề, hợp thức hóa kiến thức, kỹ năng

Đây là giai đoạn rất quan trọng, bởi vì ở đây học sinh đã dần làm quen vớiphương pháp nghiên cứu của nhà khoa học, ở mức độ tập dượt xây dựng kiếnthức để phản ánh những sự kiện thực tế

Các bước chủ yếu của giai đoạn này là:

-Tìm kiếm việc xây dựng giả thuyết khoa học, cần hướng dẫn để học sinh biếtcách quan sát sự kiện (có thể qua mô hình hoặc thí nghiệm, hay quan sát vớinhững kiến thức đã có)

- Khi có giả thuyết, giáo viên cần chỉ đạo, hướng dẫn để học sinh thảo luận cácphương án đánh giá tính đúng đắn của giả thuyết đó

- Bước cuối cùng là chỉnh lý giả thuyết để nó trở thành tri thức lý thuyết Đó là sựquy nạp, sự chấp nhận một tri thức mới, sắp xếp nó vào một lĩnh vực nào đó củakho tàng tri thức khoa học vật lý, ở giai đoạn này giáo viên cũng cần chú ý rènluyện cho học sinh cách diễn đạt tư tưởng vật lý bằng ngôn ngữ khoa học

1.1.3.3 Giai đoạn củng cố và vận dụng kiến thức, kỹ năng mới

Đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình dạy học giải quyết vấn đề Quá trìnhdạy học dù diễn ra theo giai đoạn nào cũng đòi hỏi phải trải qua giai đoạn củng cố,

ôn tập tri thức đã có bằng nhiều cách vận dụng nó vào những tình huống khácnhau

Trong giai đoạn này cần đảm bảo các mặt sau:

- Tổng kết và hệ thống hóa tri thức mới đã xây dựng thông qua việc giải quyết vấnđề

- Hình thành phương pháp nhận thức một vấn đề khoa học cho học sinh củng cốniềm tin nhận thức cho họ

- Nêu vấn đề mới có liên quan đến tri thức vừa mới xây dựng được theo tinh thầntìm tòi, nghiên cứu

Trang 13

1.1.4 Các điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện dạy học giải quyết vấn đề

-Nội dung tri thức khoa học (bao gồm cả kỹ năng, phương pháp) phải chứađựng yếu tố mới mẻ mà trước khi giải quyết vấn đề học sinh chưa biết, tri thức ấyđược tạo ra trong quá trình giải quyết vấn đề không thể chỉ bằng tư duy tái tạo, màphải có sự nỗ lực của chủ thể vượt qua những vùng phát triển gần do giáo viên tạo

ra trong điều kiện của bài học Vì vậy, dạy học giải quyết vấn đề có thể thực hiệncho các loại tiết học khác nhau: bài học kiến thức mới, bài học bài tập vật lý, bàihọc thực hành vật lý, bài học ôn tập tổng kết hệ thống hóa kiến thức, bài học ngoạikhóa Tuy nhiên để thực hiện dạy học giải quyết vấn đề cần phải sắp xếp, cấu tạotheo một trật tự logic các kiến thức từ vĩ mô (từng phần, từng chương) đến vi mô(từng bài học) theo tiến trình nhận thức của vật lý

-Thiết bị dạy học: Vật lý là môn khoa học thực nghiệm nên thí nghiệm vật lýđóng vai trò rất quan trọng trong các phương pháp dạy học vật lý Đối với dạy họcgiải quyết vấn đề, thí nghiệm vật lý là hạt nhân của hành động kiểm tra xác nhậngiả thuyết Dụng cụ thí nghiệm là tiền đề vật chất quan trọng của việc thực hiệndạy học GQVĐ

-Trình độ khoa học và kỹ năng sư phạm của giáo viên là yếu tố quan trọngnhất quyết định sự thành công của DHGQVĐ

Trên cơ sở nhận thức sâu sắc nội dung vật lý kết hợp những kỹ năng sư phạmcần thiết giáo viên xác định chính xác nội dung khoa học của bài học, phát biểuthành mệnh đề ngắn gọn, rõ; từ đó xây dựng tình huống có vấn đề, đặt học sinhtrước câu hỏi nhận thức hấp dẫn ở tính thiết thực, bất ngờ, mới lạ dẫn dắt họcsinh giải quyết vấn đề bằng hệ thống câu hỏi định hướng hành động nhận thứctheo tiến trình nhận thức sáng tạo vật lý Tài năng sư phạm của giáo viên được thểhiện ở các câu hỏi định hướng này

Căn cứ vào mức độ tìm tòi trong hành động của học sinh do câu hỏi địnhhướng đưa lại có thể phân chia 3 kiểu định hướng theo thứ tự từ thấp đến cao:+Định hướng tái tạo cụ thể: Câu hỏi của giáo viên nhằm vào việc tái tạo ở họcsinh từng hành động, thao tác cụ thể mà trước đó học sinh đã biết Đây là mức độthấp nhất của sự tìm tòi Kiểu định hướng này đảm bảo được hiệu quả rèn luyện

Trang 14

kỹ năng và tạo cơ sở cần thiết cho học sinh có thể thích ứng được với sự địnhhướng tìm tòi trong dạy học Các dạng câu hỏi hiện tượng (quá trình) này tương tựvới hiện tượng (quá trình) nào đã biết? Vấn đề này có liên hệ với vấn đề nào tươngtự? Mối liên hệ như thế nào? Các bước giải quyết vấn đề tương tự Làm thế nào đểquy vấn đề này về vấn đề tương tự đã biết cách giải quyết?

+Định hướng khái quát chương trình hóa: Câu hỏi của giáo viên nhằm vào việcgiúp học sinh ý thức được đường lối khái quát hóa của việc tìm tòi giải quyết vấn

đề, sự định hướng được chương trình hóa theo các bước hợp lý Đầu tiên là câuhỏi đòi hỏi học sinh tự lực nỗ lực tìm tòi giải quyết vấn đề đặt ra Nếu học sinhkhông đáp ứng được thì có sự giúp đỡ tiếp theo của giáo viên Đây là sự phát triểnđịnh hướng khái quát ban đầu, thu hẹp dần phạm vi tìm tòi sao cho vừa sức vớihọc sinh (là sự gợi ý chi tiết hóa thêm câu hỏi khái quát ban đầu) Nếu học sinhvẫn chưa đáp ứng được thì chuyển dần sang câu hỏi định hướng tái tạo từ việchướng dẫn theo angôirit (cho biết trình tự thực hiện các hành động thao tác) đểtheo đó học sinh tự giải quyết vấn đề Nếu học sinh vẫn không huy động đúnghành động, thao tác mong đợi thì thực hiện hướng dẫn tái tạo đối với mỗi hànhđộng hoặc thao tác đó Các câu hỏi thường dùng là: Bài toán yêu cầu giải quyếtvấn đề gì? Câu hỏi của bài toán? bài toán đã cho biết những điều kiện gì? Dự đoánhiện tượng sẽ xẩy ra? Quá trình mô tả có thể chia thành các giai đoạn như thế nào?Mỗi giai đoạn có thể liên quan đến hiện tượng vật lý nào? Định luật nào chi phối?

Vì sao có dự đoán đó? Làm thế nào để kiểm tra dự đoán? Cần phải thực hiện thínghiệm như thế nào để kiểm tra dự đoán? kết quả thí nghiệm có phù hợp với dựđoán không? Có điều gì mới được rút ra từ thí nghiệm?

+Định hướng tìm tòi nghiên cứu sáng tạo: Câu hỏi của giáo viên nhằm vàoviệc yêu cầu học sinh tìm tòi, huy động hoặc xây dựng kiến thức và cách thức hoạtđộng thích hợp để giải quyết vấn đề Đây là mức độ cao nhất của yêu cầu tìm tòisáng tạo cho học sinh, có tác dụng bồi dưỡng năng lực tư duy, năng lực giải quyếtvấn đề cho học sinh Thực hiện kiểu định hướng này là một việc không dễ dàng

Nó phụ thuộc vào tài năng sư phạm của giáo viên, vào đối tượng học sinh, vàochính nội dung khoa học của kiến thức

Trang 15

Trong các kiểu định hướng trên, định hướng khái quát chương trình hóa làkiểu định hướng trung gian phát huy mặt ưu điểm của hai kiểu định hướng tái tạo

và khái quát đồng thời cho phép thực hiện ở đa số đối tượng học sinh với nhiềukiến thức điển hình trong chương trình vật lý phổ thông

Như vậy, phương tiện quan trọng trong dạy học giải quyết vấn đề là hệ thốngcâu hỏi định hướng hành động nhận thức của học sinh Câu hỏi phải đạt các yêucầu:

* Yêu cầu về logic học: diễn đạt chính xác về ngữ pháp sao cho thỏa mãn luậtđồng nhất, nghĩa là đối tượng của câu hỏi phải rõ ràng, tránh tình trạng học sinhkhông xác định rõ đối tượng dẫn đến hỏi một đường trả lời một nẻo

*Yêu cầu về nội dung khoa học: Câu hỏi phải đảm bảo câu trả lời đúng và từngbước giải quyết vấn đề đặt ra

* Yêu cầu về phương pháp dạy học: Câu hỏi phải thực hiện được chức năng địnhhướng hành động nhận thức theo chu trình sáng tạo Vật lý, nghĩa là phải đảm bảocâu trả lời đúng với hy vọng của giáo viên

1.1.5 Các mức độ của dạy học giải quyết vấn đề:

* Mức độ 1: Nêu vấn đề

Ở mức độ này giáo viên dành thời gian để tạo những tình huống gây ra sựkích thích hoạt động thần kinh và dừng ở tốc độ đủ chậm để học sinh nhận ra bàitoán nhận thức, thậm chí có thể suy ngẫm phương hướng giải quyết Sau đó giáoviên trình bày cách giải quyết vấn đề và tự mình giải quyết vấn đề trong sự theodõi và kiểm tra của học sinh Kết quả là học sinh tiếp nhận tri thức trong sự cùng

tư duy với giáo viên Ở học sinh chỉ có thể tiến hành các thao tác tư duy ngầm,bằng ngôn ngữ thầm, theo mẫu các thao tác của giáo viên và học tập theo mẫu ấy.Dạy học ở mức độ này có tác dụng duy trì sự chú ý theo dõi bài giảng của họcsinh, nhờ đó học sinh hiểu bài Nhưng học sinh vẫn chưa đóng được vai trò chủthể của sự học theo nghĩa đầy đủ và chưa được thực hiện các thao tác thực hành và

về hoạt động chân tay trong học tập vật lý Mặc dù trong quá trình dạy học giáoviên có thể dùng đến các phương tiện lời nói hay phương tiện trực quan, thậm chí

cả phương tiện thực hành nhưng học sinh chỉ mới được nghe, nhìn các hoạt động

Trang 16

trình bày gợi vấn đề chứ họ không có cơ hội phát biểu, phê phán, trao đổi vàkhông được sử dụng các phương tiện đó Mức độ này có nhược điểm là học sinhchưa có điều kiện để trực tiếp bộc lộ khả năng tìm kiếm tri thức và do đó chưa rènluyện được kỹ năng ngôn ngữ và thực hành vật chất.

*Mức độ 2: Tìm tòi một phần (tìm tòi từng phần)

Dạy học ở mức độ này đòi hỏi giáo viên phải tạo cơ hội cho học sinh cùngtham gia hoạt động thực sự Phải để cho học sinh bộc lộ suy nghĩ bằng ngôn ngữhoặc tham gia cùng giáo viên ở một số khâu thực hành thí nghiệm trong các giaiđoạn: tạo tình huống có vấn đề, giải quyết vấn đề, và vận dụng tri thức của dạyhọc giải quyết vấn đề đều có thể tổ chức cho học sinh tham gia hoạt động

Hình thức tổ chức thực hiện dạy học ở mức độ này rất đa dạng: Đơn giản nhất làhình thức đàm thoại có nêu vấn đề, cao hơn thì giao nhiệm vụ cho học sinh thamgia tính toán một số chi tiết, thực hiện một số thao tác thực hành, phức tạp hơnnữa là giao cho học sinh làm việc với tư liệu riêng sau đó trình bày toàn bộ lậpluận, cách giải quyết và kết quả của một công đoạn nào đó có thể tổ chức học theonhóm hoặc cả lớp

Khi thực hiện dạy học ở mức độ này giáo viên cần chú ý để làm sao huy độnghết được cả tập thể lớp cùng tham gia hoạt động trong sự cộng tác với giáo viên đểgiải quyết một nhiệm vụ chung Sự chỉ đạo và hướng dẫn của giáo viên được thựchiện trực tiếp và liên tục để học sinh gặp bế tắc là có thể nhận được sự gợi mở, dẫndắt theo tinh thần gợi vấn đề, gợi hướng đi

*Mức độ 3: Nghiên cứu, thiết kế, sáng tạo (tìm tòi sáng tạo)

Dạy học giải quyết vấn đề đạt đến mức độ cao nhất trong trường hợp học sinh

đã được tập dượt và quen với cách tìm tòi từng phần với sự hợp tác chỉ đạo trựctiếp của giáo viên ở mức độ tìm tòi sáng tạo thì sự tự lực của học sinh là chủ yếu,

sự hướng dẫn và chỉ đạo của giáo viên có tính chất định hướng và ở tầm gián tiếp

Do yêu cầu khá cao như vậy nên cũng đòi hỏi nhiều thời gian và đủ phương tiện,

tư liệu học tập cho học sinh

Hình thức tổ chức dạy học ở mức độ này thường được tiến hành dưới dạngcác bài tập thí nghiệm, các tiểu luận chuyên đề, các bài học có định hướng thiết

Trang 17

kế Có thể giao cho mỗi học sinh một đề tài, cũng có thể giao cho mỗi nhóm một

đề tài Một hình thức khác ở mức độ này là nghiên cứu trong học tập, tức là saukhi học sinh đã ý thức được vấn đề đặt ra (do giáo viên hướng dẫn, cao hơn là họcsinh tự lực đề xuất được vấn đề) họ tự mình vạch ra kế hoạch, tìm tòi xây dựng giảthuyết, tìm ra cách kiểm tra giả thuyết, tiến hành quan sát thí nghiệm, phân tíchkết quả thí nghiệm, khái quát hóa và rút ra kết luận

1.1.6 Vai trò của giáo viên và học sinh trong dạy học giải quyết vấn đề

Dạy học giải quyết vấn đề là quá trình dạy học được giáo viên tổ chức phỏngtheo quá trình nhận thức sáng tạo vật lý, đến gần hơn với quá trình tìm tòi nghiêncứu của nhà khoa học, trong đó có chú ý đến những điểm khác biệt giữa nhà khoahọc và học sinh khi giải quyết vấn đề như: động cơ, hứng thú, nhu cầu, năng lựcgiải quyết vấn đề, điều kiện, phương pháp làm việc Trong quá trình đó, học sinhlàm việc dưới sự giúp đỡ, định hướng của giáo viên trực tiếp hoặc gián tiếp Cóthể thấy vai trò chức năng của giáo viên và học sinh trong dạy học giải quyết vấn

đề như sau:

Bảng1.1: Vai trò của giáo viên và học sinh trong dạy học giải quyết vấn đề

Tạo tình huống

có vấn đề

Tiếp nhận nhiệm vụ nghiên cứu (ý thức được vấn đề,mong muốn giải quyết vấn đề, tin tưởng có thể giải quyếtđược vấn đề)

Vận dụng tri thức giải quyết vấn đề trong tình huống mới

1.2 Dạy học giải quyết vấn đề trong môn Vật lý

Trang 18

-Vấn đề trong nghiên cứu vật lý là một câu hỏi, một bài toán chưa có lời giải, xuấtphát từ thực tiễn khoa học, kỹ thuật và đời sống Đó là những hiện tượng mới, quátrình mới không thể lý giải được bằng các lý thuyết đã có, hoặc một câu hỏi tìmgiải pháp cho một mục đích thiết thực nào đó, hoặc một lý thuyết chưa trọn vẹn

- Giải quyết vấn đề là quá trình nhà nghiên cứu sử dụng các phương pháp, phươngtiện nghiên cứu khác nhau theo con đường của chu trình sáng tạo khoa học để đitìm câu trả lời Kết quả của quá trình giải quyết vấn đề là tri thức mới: lý thuyếtmới, định luật mới, ứng dụng vật lý mới

Trong nghiên cứu vật lý để giải quyết vấn đề, các nhà vật lý sử dụng các phươngpháp sau:

1.2.1 Phương pháp tương tự

Phương pháp tương tự là phương pháp nhận thức khoa học nhờ việc sử dụng

sự tương tự và phép suy luận tương tự nhằm thu nhận tri thức mới Phương phápnày cho phép đưa ra những phỏng đoán bước đầu, sẽ được nghiên cứu tiếp bằngcác phương pháp khác, là một yếu tố kích thích sự ra đời của giả thuyết khoa học.Các giai đoạn cơ bản của phương pháp tương tự:

- Tập hợp những dữ kiện về đối tượng cần nghiên cứu và các dấu hiệu về đốitượng đã có những hiểu biết phong phú định đem đối chiếu

- Tiến hành phân tích những điểm giống nhau và khác nhau giữa hai loại hiệntượng, kiểm tra xem các dấu hiệu giống nhau có đồng thời là các dấu hiệu bảnchất của đối tượng hay không

- Truyền các dấu hiệu của đối tượng đã biết cho đối tượng cần nghiên cứu bằngsuy luận tương tự

- Kiểm tra tính đúng đắn của các kết luận rút ra (hoặc các hệ quả của chúng) cótính chất giả thuyết đó ở chính đối tượng cần nghiên cứu Trên cơ sở đó đề xuấtnhững khái niệm mới, mô hình mới, dự đoán quy luật mới của hiện tượng cầnnghiên cứu

1.2.2 Phương pháp giả thuyết

Trang 19

Phương pháp giả thuyết là phương pháp nghiên cứu dựa trên việc đề xuất mộtđiều giả định (phỏng đoán) nào đó để từ đó suy ra câu trả lời cần có (là sự giảithích hay tiên đoán sự kiện) Phương pháp này cho phép nhà nghiên cứu đưa racác giả thuyết khoa học từ đó có thể giải thích, tiên đoán các sự kiện và tiếp tục sửdụng các phương pháp mô hình hóa, phương pháp thực nghiệm để xây dựng trithức mới.

Cấu trúc của phương pháp giả thuyết:

- Quan sát thực tế hoặc phân tích những cơ sở lý thuyết đã có sẵn, so sánh đốichiếu với những hiểu biết thực tế đã có về hiện tượng, để sơ bộ đề ra một phỏngđoán khoa học

- Dựa trên những cơ sở phân tích lý thuyết để chính xác hóa phỏng đoán, xây dựng

mô hình đơn giản về hiện tượng cho phép tính toán sơ bộ những hệ quả của nó.Khi đó phỏng đoán khoa học sẽ trở thành một giả thuyết khoa học Phát biểu giảthuyết được đề xuất

1.2.3 Phương pháp mô hình hóa

Phương pháp mô hình hóa là phương pháp nghiên cứu dựa trên mô hình lýthuyết (mô hình trong tư duy) của đối tượng gốc và nghiên cứu trên mô hình, tức

là vận hành mô hình lý thuyết tiến hành thí nghiệm trong tư duy bằng các thao tác

lý thuyết, thao tác logic) để rút ra câu trả lời cần có Nó có tính chất là một điềutiên đoán về đối tượng gốc (và sẽ kiểm tra, đối chiếu với thực nghiệm)

Phương pháp này cho phép nhà khoa học:

- tiên đoán những sự kiện, hiện tượng thực tế, các định luật của thực tế khách quan

mà tiếp đó sẽ được kiểm tra dự, hợp thức hóa nhờ phương pháp thực nghiệm đểxây dựng tri thức mới

- giải thích một cách lý thuyết những sự kiện thực tế, những định luật thực nghiệmnhờ đó có thể khẳng định giá trị khoa học của các tri thức đó

- đối chiếu với các bằng chứng thực nghiệm đã được khẳng định để kiểm trakhẳng định giá trị của giả thuyết, hoặc các giả thuyết khoa học được dùng làm cơ

sở xuất phát cho việc xây dựng và vận hành mô hình

Cấu trúc của phương pháp mô hình:

Trang 20

- Lựa chọn mô hình: thay thế đối tượng gốc bằng vật đại diện chỉ tồn tại trong tưduy nghiên cứu, chỉ có tính chất và mối quan hệ chính của đối tượng được nhànghiên cứu quan tâm.

- Nghiên cứu trên mô hình: Vận hành mô hình để rút ra kết luận với tính cách làmột hệ quả logic

- Xử lý kết quả : kiểm tra khả năng có thể chấp nhận được của kết quả để có thểchuyển kết quả về đối tượng, hợp thức hóa mô hình bằng cách đối chiếu với thựcnghiệm, chỉnh lý, bổ sung kết quả khác hoặc mô hình nếu cần

1.2.4 Phương pháp thí nghiệm tưởng tượng

Thí nghiệm tưởng tượng là một phương pháp suy luận lý thuyết về hành vicủa một đối tượng lý tưởng không có hoặc không thể có trong thực tế; là một dạnglàm việc với các đối tượng thực trong những điều kiện lý tưởng hoặc với các môhình lý tưởng của các đối tượng thực Đây là phương pháp quan trọng để tiếp cậnbản chất của sự vật, là cầu nối giữa thực nghiệm và lý thuyết, cần thiết để hìnhthành một số khái niệm khoa học, xây dựng các định luật hoặc thuyết tổng quátcủa hiện tượng, dựa trên sự lý tưởng hóa, khái quát hóa, ngoại suy các thí nghiệmhiện thực đã có từ trước

Cấu trúc của phương pháp thí nghiệm tưởng tượng:

- Phân tích những hiện tượng thực, thí nghiệm thực để đặt vấn đề cho nhữngnghiên cứu tiếp theo bằng thí nghiệm lý tưởng

- Xây dựng một mô hình lý tưởng để thay thế đối tượng nghiên cứu trong thínghiệm lý tưởng

- Dùng các thao tác tư duy, các suy luận logic hoặc toán học để phân tích nhữngtiến trình khả dĩ của hiện tượng dựa theo những quy luật vận động của mô hình,khi biến đổi một cách có chủ định các điều kiện lý tưởng

- Phân tích những kết luận thu được, suy luận từ những kết luận đó ra các hệ quảmới, trong đó có việc xác định các thí nghiệm thực có thể tiến hành tiếp theo mà

từ trước đến nay chưa biết

1.2.5 Phương pháp thực nghiệm

Trang 21

Đây là phương pháp bao gồm tất cả các khâu của quá trình nhận thức từ việcđặt ra vấn đề trên cơ sở các sự kiện thực nghiệm hoặc quan sát, đến khâu đề ra giảthuyết, tiến hành thí nghiệm kiểm tra giả thuyết, xử lý kết quả và rút ra kết luận vềvấn đề nghiên cứu Phương pháp này có thể giúp nhà khoa học đề xuất những trithức mới, khái niệm mới, định luật mới và tiếp theo tri thức đó sẽ được lý giải mộtcách lý thuyết dựa trên những nghiên cứu lý thuyết; cung cấp những bằng chứngthực nghiệm mới dẫn tới sự cần thiết phải xây dựng các giả thuyết khoa học mớihoặc những bằng chứng cần thiết cho việc đối chiếu, hợp thức hóa, khẳng định giátrị hoặc chỉnh lý, bổ sung hay bác bỏ những kết luận đã được đề xuất do kết quảcủa phương pháp thực nghiên cứu lý thuyết.

Cấu trúc của phương pháp thực nghiệm:

- Xử lý một giả thuyết, dự đoán đã có thể đưa vào kiểm tra bằng thực nghiệm:điều gì cần tới sự khảo sát thực nghiệm? Cần tạo ra hay quan sát biến cố thựcnghiệm nào?

- Lựa chọn điều kiện thí nghiệm để có được hiện tượng dưới dạng thuần khiết:phương tiện, máy móc, thiết bị thích hợp, phương pháp tiến hành thí nghiệm.phương pháp quan sát đo đạc cụ thể

- Tiến hành thí nghiệm: lắp ráp máy móc thiết bị và kiểm tra khả năng vận hành,tiến hành thao tác thí nghiệm theo kế hoạch đã vạch ra, quan sát, đo đạc, ghi chépcác dữ liệu

- Xử lý kết quả: xác định độ chính xác của phép đo, lập bảng, vẽ đồ thị; rút ra kếtluận về các thuộc tính, mối liên hệ, định luật

1.3 Các phương pháp hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề học tập

Để hướng dẫn học sinh giải quyết các vấn đề, rèn luyện cho họ cách tư duyvật lý, bồi dưỡng tính sáng tạo, chủ động trong học tập, giáo viên có thể hướngdẫn học sinh giải quyết các nhiệm vụ nhận thức bằng chính phương pháp của nhàkhoa học vật lý Dựa theo những phương pháp mà các nhà khoa học thường dùng

để giải quyết các vấn đề khoa học kỹ thuật, có thể hướng dẫn học sinh giải quyếtvấn đề bằng các phương pháp sau:

1.3.1 Phương pháp tìm tòi quy về kiến thức, phương pháp đã biết

Trang 22

Phương pháp này có ý nghĩa là thoạt mới nhìn, mới tiếp xúc với vấn đề thìkhông thấy ngày mối quan hệ của nó với những cái đã biết, không thể áp dụngngay một quy tắc, một định luật hay một cách làm đã biết mà cần phải tìm tòibằng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, để tìm ra dấu hiệu tương tự vớicái đã biết nhưng chưa có phương pháp nào, quy trình hữu hiệu nào

Có 3 trường hợp phổ biến như sau:

- Hướng dẫn học sinh diễn đạt vấn đề giải quyết bằng ngôn ngữ vật lý

- Hướng dẫn học sinh phân tích một hiện tượng vật lý phức tạp bị chi phối bởinhiều nguyên nhân thành những hiện tượng đơn giản, mỗi hiện tượng chỉ bị chiphối bởi một nguyên nhân, một định luật đã biết

- Hướng dẫn học sinh phân chia quá trình diễn biến của hiện tượng thành nhiềugiai đoạn, mỗi giai đoạn đó tuân theo một quy luật xác định đã biết

Phương pháp này thường được sử dụng trong việc hướng dẫn học sinh giảicác bài tập vật lý có tính sáng tạo, hướng dẫn học sinh phát biểu vấn đề ở giaiđoạn tạo tình huống nhận thức trong bài học xây dựng kiến thức mới

1.3.2 Phương pháp hướng dẫn tìm tòi sáng tạo từng phần

Phương pháp này thường được sử dụng khi nghiên cứu tài liệu mới, học sinhđược giao nhiệm vụ phát hiện những tính chất mới, những mối liên hệ mới có tínhquy luật mà trước đây học sinh chưa biết hoặc chưa biết đầy đủ

Ở trường hợp này học sinh không thể hoàn toàn chỉ sử dụng những kiến thức

đã biết, không có con đường suy luận logic để suy từ cái đã biết đến cái chưa biết,

mà đòi hỏi sự sáng tạo thực sự, một bước nhảy vọt trong nhận thức Thôngthường, trong khi tìm tòi để giải quyết một vấn đề mới học sinh không phải bế tắcngay từ đầu hoặc bế tắc trong cả quá trình nhận thức mà chỉ đến một phần nào đómới bế tắc đòi hỏi phải tìm cái mới thực sự Trong tình huống này thì trực giácđóng vai trò quan trọng Việc rèn luyện trực giác khoa học cho học sinh là điềukhó khăn Tuy vậy giáo viên không thể chỉ ra cho học sinh con đường đi đến trựcgiác mà tự học sinh phải thực hiện nhiều lần để có kinh nghiệm, không ai làm thayđược Giáo viên có thể tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh tập dượt những bướcnhảy vọt đó bằng cách phân chia một bước nhảy vọt lớn trong khoa học thành

Trang 23

Mô hình Hệ quả

những bước nhỏ nằm trong vùng phát triển gần của học sinh Sau khi được rènluyện nhiều lần, học sinh sẽ tích lũy được kinh nghiệm, có sự nhạy cảm phát hiện,

đề xuất được những giải pháp mới để vượt qua khó khăn

1.3.3.Phương pháp hướng dẫn tìm tòi sáng tạo khái quát

Phương pháp này, giáo viên chỉ hướng dẫn học sinh xây dựng phương hướngchung giải quyết vấn đề, còn việc vạch ra kế hoạch chi tiết và việc thực hiện kếhoạch đó là do học sinh tự làm Phương pháp này không những có tính tự lực cao

mà còn phải có vốn kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo vững vàng và có một số kinhnghiệm hoạt động sáng tạo Kiểu hướng dẫn này phù hợp với đối tượng học sinhkhá giỏi

1.4 Chuyển hóa phương pháp giải quyết vấn đề trong nghiên cứu khoa học vật lý thành phương pháp giải quyết vấn đề trong tìm kiếm xây dựng kiến thức của học sinh

1.4.1 Tiến trình giải quyết vấn đề trong khoa học

Trên cơ sở chu trình sáng tạo khoa học do Anhxtanh đề xuất, V-GRazumopxki đưa ra sơ đồ chu trình nhận thức sáng tạo vật lý:

Trang 24

Theo Razumopxki, mỗi chu trình được bắt đầu bằng việc lựa chọn các nhóm

sự kiện từ quan sát Người nghiên cứu đề ra giả thuyết (mô hình) về bản chất củachúng Giả thuyết này cho phép suy luận để tiên đoán những sự kiện khác chưabiết Tính chất đúng đắn của giả thuyết được kiểm tra bằng thực nghiệm Nếu hệquả lý thuyết của mô hình xuất phát được thực nghiệm chứng minh thì mô hìnhnêu ra được công nhận là phản ánh đúng tính chất của hiện tượng nghiên cứu Nếukết quả thực nghiệm phủ định giả thuyết thì mô hình nêu ra cần phải thay đối

Từ sơ đồ trên, M Bunsenman và Razumopxki nêu ra những giai đoạn điểnhình của quá trình nhận thức khoa học như sau:

Thực tiễn  Vấn đề  Giả thuyết  Định luật  Hệ quả  Lý thuyết  Thực tiễn

Tiến trình giải quyết vấn đề trong khoa học của các nhà khoa học có thể chiathành các giai đoạn như sau:

- Xác định rõ nội dung yêu cầu của vấn đề cần giải quyết, những điều kiện đã cho

và những điều kiện đạt tới

- Tìm hiểu xem trong kho tàng kiến thức, kinh nghiệm của loài người đã có cáchgiải quyết vấn đề đó hoặc vấn đề tương tự chưa

- Nếu đã có thì liệt kê tất cả các giải pháp đã có và lựa chọn một giải pháp thíchhợp

- Nếu chưa có thì phải đề xuất ra giải pháp mới hay xây dựng kiến thức, phươngtiện mới dùng làm công cụ để giải quyết

Thử nghiệm áp dụng kiến thức mới, giải pháp mới vào thực tiễn để đánh giá hiệuquả của chúng, từ đó bổ sung, hoàn thiện kiến thức đã xây dựng giải pháp đã đềxuất

Trang 25

1.4.2 Đặc điểm của quá trình học sinh giải quyết vấn đề trong học tập

Tư tưởng chủ đạo của dạy học giải quyết vấn đề là đưa quá trình nhận thứccủa học sinh đến gần hơn với quá trình sáng tạo của nhà khoa học, thông qua đóhình thành cho học sinh năng lực tự giải quyết vấn đề

Tuy nhiên, để áp dụng thành công phương pháp này vào quá trình dạy họcgiáo viên cần chú ý đến những điểm khác nhau giữa nhà khoa học và học sinhtrong khi giải quyết vấn đề, trên cơ sở đó đề xuất những biện pháp sư phạm thíchthích hợp Những đặc điểm đó là:

* Về động cơ, hứng thú và nhu cầu:

Nhà khoa học khi giải quyết vấn đề là đã tự xác định được rõ mục tiêu, tựnguyện đem hết sức mình giải quyết bằng được vấn đề đặt ra, coi đó là nhu cầubức thiết về mục đích, trách nhiệm Còn ở học sinh, động cơ hứng thú đang đượchình thành; ý thức về mục đích trách nhiệm còn đang mờ nhạt Do đó, học sinhchưa tập trung chú ý đem hết sức mình để giải quyết vấn đề trong học tập

* Về năng lực tự giải quyết vấn đề:

Khi chấp nhận giải quyết một vấn đề, nhà khoa học đã có một trình độ, kỹnăng, kỹ xảo cần thiết Tuy nhiên nhiều khi nhà khoa học cũng phải tích lũy thêmkinh nghiệm, sáng tạo thêm phương tiện lý thuyết và phương tiện vật chất để hoạtđộng Còn đối với học sinh, đây mới chỉ là bước đầu làm quen với việc giải quyếtmột vấn đề khoa học Vấn đề đặt ra cho học sinh phải giải quyết cũng giống nhưvấn đề của nhà khoa học chỉ khác là kiến thức, kinh nghiệm, năng lực của họ cònrất hạn chế

* Về thời gian dành cho việc giải quyết vấn đề:

Những kiến thức mà học sinh cần chiếm lĩnh là những kiến thức mà nhiều thế

hệ các nhà khoa học đã phải trải qua thời gian dài mới đạt được và mỗi nhà khoahọc chỉ góp phần nhỏ vào lâu đài khoa học đó Còn học sinh thì chỉ dành một thờigian ngắn để phát hiện một định luật vật lý

* Về điều kiện phương tiện làm việc:

Nhà khoa học có trong tay hoặc phải tạo ra những phương tiện chuyên dùngđạt độ chính xác cao và những điều kiện thích hợp nhất để giải quyết vấn đề Còn

Trang 26

học sinh chỉ có những điều kiện thô sơ của trường phổ thông với độ chính xác, chỉ

có điều kiện làm việc tập thể ở lớp hay ở phòng thực hành, không thể thực hiệnnhiều lần

Tuy vậy học sinh cũng có điều kiện là kiến thức mới (phải tìm kiếm, xâydựng) lại nằm trong tài liệu, sách giáo khoa, đồng thời có giáo viên đóng vai trò làngười hướng dẫn, có sự hợp tác của các bạn học và sự hỗ trợ của nhiều phươngtiện học tập khác

1.5 Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề trong các loại bài học vật lý

1.5.1 Dạy học giải quyết vấn đề trong bài học xây dựng tri thức mới

Giai đoạn 1: Giai đoạn tạo tình huống có vấn đề (chuyển giao nhiệm vụ, bất

ổn hóa tri thức, phát biểu vấn đề)

Vấn đề trong bài học xây dựng tri thức mới chính là nội dung tri thức mới Câuhỏi nhận thức phải được đặt ra sao cho câu trả lời là nội dung tri thức mới Vì lẽ

đó, tình huống có vấn đề phải được tổ chức sao cho có thể đặt học sinh trước mộtnhiệm vụ nhận thức mà nếu chỉ bằng tri thức và kinh nghiệm sẵn có họ không thểtrả lời được

Trong trường hợp này, giáo viên có thể sử dụng các loại tình huống có vấn đề mà

lý luận dạy học đã nêu ra như tình huống bất ngờ, tình huống xung đột, tình huốnglựa chọn Bên cạnh đó, giáo viên cũng có thể sử dụng những phương tiện dạy họckhác để hỗ trợ cho các tình huống đó như một ví dụ thực tế trong đời sống, kỹthuật, sản xuất, thí nghiệm vật lý để đưa học sinh vào tình huống một cách tựnhiên, khuyến khích họ sử dụng vốn tri thức và kỹ năng của mình xem xét, giảiquyết vấn đề đó Giai đoạn xây dựng tình huống có vấn đề kết thúc

Giai đoạn 2: Giai đoạn nghiên cứu, hướng dẫn giải quyết vấn đề (Học sinhhành động độc lập, tự chủ trao đổi tìm tòi giải quyết vấn đề)

Giai đoạn này bao gồm một chuỗi các tình huống học tập, mỗi tình huống lại baogồm các hành động kế tiếp sau:

Giả thuyết  hệ quả logic  thí nghiệm kiểm tra  kết luận

Nội dung của kết luận chính là một nội dung của kiến thức mới mà bài học phảiđưa lại cho học sinh Khi thiết kế bài học, giáo viên cần phải sắp đặt lại nội dung

Trang 27

bài học cho phù hợp với tinh thần của dạy học giải quyết vấn đề sao cho mỗi đơn

vị kiến thức là một kết luận của chu kì trên Kết thúc giai đoạn giải quyết vấn đềhọc sinh tự tìm ra tri thức mới có thể trả lời cho câu hỏi đã đặt ra ở giai đoạn trên.Giai đoạn 3: Giai đoạn củng cố và vận dụng tri thức mới (tranh luận, thể chếhóa, vận dụng tri thức mới)

Giáo viên thể chế hóa kiến thức, thông báo cho học sinh rằng những kết luận thuđược chính là nội dung của một khái niệm, định luật, hoặc một lý thuyết nào đócủa vật lý học

Giai đoạn vận dụng tri thức mới: Kiến thức mới thu được có ý nghĩa gì được ứngdụng như thế nào trong khoa học, trong kỹ thuật, trong đời sống? Tình huống mớiđược đặt ra để học sinh có thể vận dụng những kiến thức đã học để giải quyết vấnđề

1.5.2 Dạy học giải quyết vấn đề trong bài học bài tập vật lý

Mục đích của dạy học giải quyết vấn đề là khắc phục tính tái hiện về tư duycủa dạy học truyền thống, tăng cường tính sáng tạo của tư duy, đặt học sinh vào tưduy của nhà vật lý học bằng các hoạt động học tập tiếp cận với các phương phápghiên cứu của nhà khoa học Vì vậy, việc sử dụng các bài tập có vấn đề trong dạy

Giai đoạn1:

Tạo tình huống

có vấn đề

Tình huống có tiềm ẩn vấn đề

Phát biểu vấn đề - Bài toán

Kiểm tra, xác nhận kết quả: xem xét sự phù hợp

Trang 28

học bài tập vật lý là rất cần thiết Bởi vì khi sử dụng bài tập vấn đề thì cái mới xuấthiện trong tiến trình giải Giải bài tập vấn đề không chỉ yêu cầu học sinh ở nănglực vận dụng kiến thức tổng hợp trong chương hay trong phần đó mà còn thu nhậnđược kiến thức mới, kỹ năng mới, phương pháp mới.

Đặc điểm của bài tập có vấn đề là:

- Trong bài tập có vấn đề, các yêu cầu của bài tập sẽ được giải quyết trên cơ sởvận dụng những kiến thức về các định luật vật lý nhưng lại không được đề xuấtmột cách tường minh, nghĩa là trong đề bài không có các dữ kiện mà chính nó lànhững gợi ý trực tiếp hoặc gián tiếp cho ý tưởng giải bài toán Đó chính là lý do đểcác bài tập đó trở thành các bài tập có vấn đề

- Bài tập vấn đề có thể là bài tập định tính, định lượng hoặc bài tập thí nghiệmhoặc một số nhiệm vụ nghiên cứu ở phòng thí nghiệm và một số bài tập lớn trongthực tiễn vật lý

- Bài tập vấn đề chứa đựng những yếu tố mới mẻ về phương pháp hay nội dungkiến thức thu nhận được từ kết quả bài toán nên có khả năng huy động tư duy sángtạo tiềm ẩn trong học sinh Vấn đề của bài toán được học sinh chấp nhận và giảiquyết theo tiến trình khái quát tương tự như nhà vật lý giải quyết vấn đề khoa học.Tuy nhiên do có yếu tố mới nên không có con đường vạch sẵn một cách chi tiết,học sinh phải đi theo con đường định hướng khái quát của giáo viên

- Bài tập vấn đề thường được chia thành 2 dạng: nghiên cứu (trả lời câu hỏi tạisao) và thiết kế (trả lời câu hỏi làm như thế nào)

1.5.3 Dạy học giải quyết vấn đề trong bài học thực hành thí nghiệm vật lý

Một trong những nhiệm vụ quan trọng của dạy học vật lý là bồi dưỡng kỹnăng, kỹ xảo thực hành thí nghiệm (đây là một phương tiện nhận thức có ý nghĩaquyết định trong nghiên cứu vật lý), góp phần giáo dục kỹ thuật tổng hợp cho họcsinh trong nhà trường phổ thông

Hiện nay, theo tinh thần của dạy học giải quyết vấn đề, bài học thực hành thínghiệm không chỉ dừng lại ở mức độ củng cố kiến thức, kỹ năng thực hành màcòn vươn tới mục tiêu cao hơn là bồi dưỡng năng cao hơn là bồi dưỡng năng lựcgiải quyết vấn đề Vì vậy, trong giờ học thí nghiệm, giáo viên cần tìm cách biến

Trang 29

các bài tập thí nghiệm trở thành các bài tập vấn đề mà học sinh phải giải quyết vừabằng tư duy lý thuyết vừa bằng tư duy thực nghiệm.

Khác với những bài thí nghiệm thực hành có sẵn trong sách giáo khoa, ở cácbài tập thí nghiệm này, các phương án thí nghiệm không được cho sẵn mà chỉ đưa

ra nhiệm vụ kèm theo các điều kiện về dụng cụ Học sinh buộc phải sử dụng khảnăng tư duy tổng hợp các kiến thức đã có, kết hợp với những định hướng khái quátcủa giáo viên để giải quyết vấn đề Kết quả là học sinh không những có phươngpháp, kỹ năng giải quyết một nhiệm vụ cụ thể, củng cố các kiến thức liên quan màcòn được bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề trên bình diện tổng quát

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Dạy học giải quyết vấn đề là một phương pháp dạy học tích cực có khả nănggiúp học sinh rèn luyện, bồi dưỡng những kĩ năng học tập sáng tạo, đặc biệt là kĩnăng phát hiện và giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình học tập - mộtnăng lực cần thiết của người lao động trong xã hội hiện đại ngày nay Với quanđiểm dạy học tăng cường, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo củahọc sinh thông qua các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức, dạy học giải quyếtvấn đề có đầy đủ cơ sở lý luận và thực tiễn để triển khai và vận dụng một cách cóhiệu quả

Trong chương đầu của luận văn, chúng tôi đã nghiên cứu và trình bày những

cơ sở khoa học của việc sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề vào dạyhọc môn vật lý hiện nay Trên cơ sở đó, trong chương 2, chúng tôi vận dụng dạyhọc giải quyết vấn đề để xây dựng tiến trình dạy học một số nội dung kiến thứctrong chương "Điện tích - Điện trường" vật lý 11 nâng cao

Trang 30

Chương 2

Tổ chức dạy học một số kiến thức ở chương "Điện tích - Điện trường" vật lý

11 nâng cao theo định hướng dạy học giải quyết vấn đề

Để vận dụng thành công lý thuyết dạy học có vấn đề đã nêu ở chương 1 vào dạyhọc chương "Điện tích - Điện trường", trước hết giáo viên phải nắm vững nộidung kiến thức khoa học của chương một cách khái quát và hệ thống

2.1 Kiến thức khoa học ở chương điện tích - điện trường

Điện tích

* Điện tích: là độ lớn của thuộc tính điện của vật mang điện Điện tích còn đượchiểu là hạt mang điện Ví dụ: electron, proton, ion dương, ion âm

- Có hai loại điện tích: điện tích dương và điện tích âm Điện tích của electron là

âm, kí hiệu là -e; điện tích của proton là dương, kí hiệu là +e

- Điện tích của electron là điện tích nhỏ nhất trong tự nhiên, được gọi là điện tíchnguyên tố, có trị số là e = 1,6.10-19C

- Thuyết electron: thuyết dựa vào sự có mặt của electron và sự chuyển động củachúng để giải thích một số hiện tượng điện từ

Nội dung:

+ Bình thường tổng đại số tất cả các điện tích trong nguyên tử bằng không,nguyên tử trung hòa về điện

Trang 31

Nếu nguyên tử bị mất đi một số electron thì tổng đại số các điện tích trong nguyên

tử là một số dương, nó là một ion dương Ngược lại, nếu nguyên tử nhận thêm một

số electron thì nó là ion âm

+ Khối lượng của electron rất nhỏ nên độ linh động của chúng rất lớn Electron dichuyển từ vật này sang vật khác làm cho vật nhiễm điện Vật nhiễm điện âm là vậtthừa electron, vật nhiễm điện dương là vật thiếu electron

Ứng dụng:

- Giải thích các cách làm nhiễm điện các vật

- Giải thích tính chất điện của các vật

* Tương tác giữa các điện tích: Các điện tích cùng dấu thì đẩy nhau, các điện tíchkhác dấu thì hút nhau Tương tác giữa các điện tích ở khoảng cách rất lớn so vớikích thước của chúng tuân theo định luật Culông

Định luật Culông: Độ lớn của lực tương tác giữa 2 điện tích điểm tỉ lệ thuận vớitích các độ lớn của hai điện tích đó và tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cáchgiữa chúng Phương của lực tương tác giữa hai điện tích điểm là đường thẳng nốihai điện tích điểm đó

* Điện tích tuân theo định luật bảo toàn điện tích:

Ở một hệ vật cô lập về điện, nghĩa là hệ không trao đổi điện tích với các hệ khác,thì tổng đại số các điện tích trong hệ là một hằng số

Điện trường

*Khái niệm: là một mô hình tưởng tượng trong điện từ học để nói về môi trườngvật chất đặc biệt tồn tại xung quanh điện tích Điện trường tác dụng lực lên tất cảcác hạt mang điện đặt trong nó Lực này gọi là lực điện

Trang 32

* Tính chất: tác dụng lực điện lên điện tích đặt trong nó.

*Cường độ điện trường: là đại lượng đặc trưng cho điện trường về phương diệntác dụng lực điện tại một điểm trong điện trường Nó là một đại lượng véc tơ, kíhiệu là E

* Đường sức điện trường: cách mô tả điện trường có tính trực quan rõ rệt

- Đường sức điện là đường được vẽ trong điện trường sao cho hướng của tiếptuyến tại bất kì điểm nào trên đường cũng trùng với hướng của vectơ cường độđiện trường tại điểm đó

- Các tính chất của đường sức điện trường:

+ Tại mỗi điểm trong điện trường ta chỉ có thể vẽ được một và chỉ một đường sứcđiện đi qua

+ Các đường sức điện là các đường cong không kín Nó xuất phát từ các điện tíchdương và tận cùng ở điện tích âm Trường hợp chỉ có một điện tích thì các đườngsức xuất phát từ điện tích dương ra vô cực hoặc xuất phát từ vô cực đến điện tíchâm

+ Các đường sức điện không bao giờ cắt nhau

+ Nơi nào cường độ điện trường lớn hơn thì các đường sức điện ở nơi đó được vẽmau hơn, nơi nào cường độ điện trường nhỏ hơn thì các đường sức được vẽ thưahơn

* Điện trường đều: véctơ cường độ điện trường tại mọi điểm trong điện trườngđều bằng nhau

Các đường sức là các đường thẳng song song cách đều

* Điện trường của một điện tích điểm:

r

Q k

E  (V/ m)

Trang 33

* Điện trường của n điện tích: Giả sử ta có hệ n điện tích điểm Q1, Q1, Qn Gọicường độ điện trường của hệ ở một điểm nào đó trong điện trường là E.

n

E E

* Công của lực điện:

Công của lực điện tác dụng lên một điện tích không phụ thuộc đạng đường đi củađiện tích mà chỉ phụ thuộc vào vị trí điểm đầu và điểm cuối trong điện trường

AMN = q.E M'N'

Trong đó:

+ q: độ lớn của điện tích (C)

+ E: cường độ điện trường(V/m)

+M'N' là hình chiếu của 2 điểm M, N lên trục Ox

Vật dẫn và điện môi trong điện trường

*Vật dẫn trong điện trường: Vật dẫn là vật có chứa nhiều điện tich có thể chuyểnđộng gọi là điện tích tự do Ví dụ, điện tích tự do trong kim loại là electron Mộtvật dẫn có thể được tích điện bằng nhiều cách Dù được tích điện bằng cách nàothì lúc đầu của quá trình tích điện cũng có sự di chuyển của các điện tích tự do vàtạo thành dòng điện trong vật dẫn Khi trong vật dẫn không có dòng điện ta gọi làvật dẫn cân bằng điện

- Điện trường của vật dẫn cân bằng điện:

+Bên trong vật dẫn: điện trường bằng 0

+Bên ngoài vật dẫn: cường độ điện trường vuông góc với mặt vật

Trang 34

- Điện thế của vật dẫn cân bằng điện: Điện thế tại mọi điểm trên mặt ngoài của vậtdẫn cân bằng điện có giá trị bằng nhau tại mọi điểm.

- Sự phân bố điện tích: Điện tích chỉ phân bố ở mặt ngoài của các vật dẫn cânbằng điện và không đều nhau ở những chỗ lồi của mặt vật dẫn, điện tích tập trungnhiều hơn; ở những chỗ mũi nhọn điện tích tập trung nhiều nhất; ở chỗ lõm hầunhư không có điện tích

* Điện môi trong điện trường: Điện môi là vật có chứa rất ít các điện tích tự do.Khi đặt một vật điện môi trong điện trường, điện môi bị phân cực, nên các mặtngoài của điện môi trở thành các mặt nhiễm điện trái dấu nhau Các mặt nhiễmđiện đó làm xuất hiện một điện trường phụ Ep, ngược chiều với điện trường ngoài,nên làm cho điện trường trong điện môi giảm đi Kết quả là lực điện tác dụng lênđiện tích trong điện môi cũng giảm theo

Tụ điện

Tụ điện là một linh kiện điện tử tạo bởi hai vật dẫn điện được ngăn cách bằng mộtlớp điện môi ở giữa Khi có chênh lệch điện thế tại hai bề mặt, tại các bề mặt sẽxuất hiện điện tích cùng cường độ, nhưng trái dấu

Sự tích tụ điện tích trên hai bề mặt tạo ra khả năng tích trữ năng lượng điện trườngcủa tụ điện Khi chênh lệch điện thế trên hai bề mặt là điện thế xoay chiều, sự tíchlũy điện tích bị chậm pha so với điện áp, tạo nên trở kháng của tụ điện trong mạchđiện xoay chiều

Điện dung là đại lượng đặc trưng cho khả năng tích điện của tụ:

U: hiệu điện thế đặt vào 2 bản tụ (V)

Tụ điện phẳng: Hai bản tụ là là hai tấm kim loại phẳng, có kích thước lớn, đặt đốidiện nhau và song song với nhau

Trang 35

Khi tích điện, điện tích ở hai bản của tụ điện có độ lớn bằng nhau Điện trườngtrong tụ là điện trường đều.

Điện dung của tụ điện phẳng:

d k

S C

 : hằng số điện môi của chất điện môi giữa 2 bản

S : diện tích phần đối diện giữa 2 bản tụ(m2 )

d : khoảng cách giữa 2 bản tụ (m)

2.2 Mục tiêu dạy học chương "Điện tích - Điện trường"

Trong dạy học nói chung và dạy học môn vật lý nói riêng, việc xác định mụctiêu dạy học cho từng bài nói riêng và cho cả chương là hết sức quan trọng Nóquyết định hiệu quả của quá trình dạy học Đối với chương " Điện tích - Điệntrường" vật lý 11, chương trình nâng cao, chúng tôi xác định các mục tiêu dạy họcnhư sau:

Bảng2.1: Chuẩn kiến thức, kĩ năng

* Điện tích - Điện

trường

a Điện tích Định luật

bảo toàn điện tích Lực

tương tác giữa các điện

tích Thuyết electron

b Điện trường Cường

độ điện trường Đường

sức điện

c Điện thế Hiệu điện

* Kiến thức:

- Nêu được các cách làm nhiễm điện một vật

- Phát biểu được định luật bản toàn điện tích

- Phát biểu được định luật Culông và chỉ ra đặc điểmcủa lực điện giữa hai điện tích điểm

-Trình bày các nội dung chính của thuyết electron

- Nêu được điện trường tồn tại ở đâu và có tính chấtgì

- Phát biểu định nghĩa cường độ điện trường

- Nêu được các đặc điểm của đường sức điện

Trang 36

d Tụ điện

e Năng lượng điện

trường trong tụ điện

- Nêu được trường tĩnh điện là trường thế

- Phát biểu định nghĩa hiệu điện thế giữa hai điểm củađiện trường và nêu được đơn vị đo của hiệu điện thế

- Nêu được mối quan hệ giữa cường độ điện trườngđều và hiệu điện thế giữa hai điểm của điện trường đó

- Nêu được nguyên tắc cấu tạo của tụ điện và nhậndạng các tụ điện thường dùng

- Phát biểu định nghĩa điện dung của tụ điện, đơn vị

đo Nêu được ý nghĩa các số ghi trên mỗi tụ điện

- Nêu được điện trường trong tụ điện và mọi điệntrường đều mang năng lượng

- Nêu được các cách mắc các tụ điện thành bộ và viếtđược các công thức tính điện dung tương đương củamỗi bộ tụ điện

- Xác định cường độ điện trường (phương, chiều, và

độ lớn) tại một điểm của điện trường gây bởi một, haihoặc ba điện tích điểm

- Tính được công của lực điện khi di chuyển một điệntích giữa hai điểm trong điện trường đều

- Giải bài tập về chuyển động của điện tích trong điệntrường đều

Trang 37

2.3 Chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho triển khai dạy học chương "Điện tích - Điện trường" theo định hướng dạy học giải quyết vấn đề

2.3.1 "Vấn đề hóa" các nội dung dạy học chương "Điện tích - Điện trường"

"Vấn đề hóa"các nội dung dạy học là xác định các trọng tâm của bài học bằng cáccâu hỏi nhận thức mà câu trả lời cho câu hỏi đó chính là kiến thức mới mà họcsinh phải lĩnh hội được

Bài1: Điện tích Định luật Culông

- Điện tích là gì? Kể tên các loại điện tích?

- Các cách làm cho một vật nhiễm điện?

- Lực tương tác giữa các điện tích được xác định như thế nào?

Bài2: Thuyết electron Định luật bảo toàn điện tích.

- Trong thực tế ta thấy có những vật dẫn điện tốt, có những vật không dẫn điện, tạisao các vật có tính chất điện khác nhau?

- Tại sao chúng ta có thể làm cho một vật nhiễm điện bằng cách cọ xát, tiếp xúchay hưởng ứng?

- Quá trình trao đổi điện tích giữa các vật cô lập tuân theo quy luật nào?

Bài3: Điện trường

- Tại sao các điện tích dù ở xa nhau nhưng vẫn có thể tương tác với nhau? sựtương tác đó có cần thông qua một môi trường nào đó không?

- Điện trường là gì? điện trường có tính chất gì?

- Cường độ điện trường là gì?

- Cách xác định cường độ điện trường tại một điểm trong điện trường

- Cách xác định lực điện tác dụng một điện tích khi điện tích đó được đặt tại mộtđiểm trong điện trường

- Bằng mắt thường ta không thể quan sát được điện trường, có thể dùng cách nào

để mô tả điện trường một cách trực quan?

- Điện trường đều là gì? có tính chất như thế nào?

- Cách xác định véc tơ cường độ điện trường tại một điểm do một điện tích điểmgây ra

Trang 38

- Cách xác định véc tơ cường độ điện trường tại do nhiều điện tích điểm cùng gây

ra tại điểm đó

Bài4: Công của lực điện Hiệu điện thế.

- Lực điện có phải là lực thế không? Công thức tính công của lực điện?

- Công của lực điện có thể được biểu diễn bằng các đại lượng nào?

- Hiệu điện thế là gì?

- Mối liên hệ giữa công của lực điện và hiệu điện thế?

- Mối liên hệ giữa cường độ điện trường và hiệu điện thế?

Bài5: Bài tập về lực Culông và điện trường.

- Xác định lực điện tổng hợp tác dụng lên điện tích?

- Điều kiện cân bằng của một điện tích là gì?

- Xác định véc tơ cường độ điện trường tổng hợp tại một điểm?

- Xác định chuyển động của điện tích chuyển động trong điện trường đều?

Bài6: Vật dẫn và điện môi trong điện trường

- Thế nào là vật dẫn cân bằng điện?

- Vật dẫn cân bằng điện có tính chất gì? Điện trường bên trong vật dẫn?

- Véc tơ cường độ điện trường tại các điểm ở mặt ngoài của vật? Điện thế và sựphân bố điện tích của vật dẫn cân bằng điện

- Hiện tượng gì xảy ra khi đặt điện môi trong điện trường? Giải thích hiện tượngđó?

Bài7: Tụ điện

- Tụ điện có cấu tạo như thế nào?

- Tụ phẳng có cấu tạo như thế nào? tụ phẳng có tính chất gì?

- Điện dung của tụ điện là gì? Công thức tính điện dung của tụ?

- Công thức tính điện dung của tụ điện phẳng? Điện dung của tụ điện phẳng phụthuộc vào những yếu tố gì? Hiệu điện thế giới hạn là gì?

- Thế nào là ghép các tụ điện song song? ghép các tụ điện nối tiếp? Công thức tínhđiện dung, điện tích, và hiệu điện thế của các bộ tụ điện ghép song song và nốitiếp?

Bài8: Năng lượng điện trường

Trang 39

- Công thức tính năng lượng của tụ điện?

- Thành lập công thức tính năng lượng điện trường trong tụ điện và công thức tínhmật độ năng lượng điện trường

Bài9: Bài tập về tụ điện

- Xác định điện dung của tụ điện phẳng?

- Xác định điện dung, hiệu điện thế của các tụ ghép nối tiếp?

- Giải thích sự biến đổi năng lượng của bộ tụ điện khi có một tụ bị đánh thủng?

2.3.2 Thiết bị dạy học chương"Điện tích - Điện trường"

Vật lý là môn khoa học thực nghiệm, gắn liền với thực tế cuộc sống xungquanh Do đó, để giải quyết vấn đề thì phương pháp phổ biến mà học sinh phải sửdụng là phương pháp thực nghiệm Một trong những điều kiện cần thiết để triểnkhai dạy học các nội dung kiến thức theo định hướng dạy học giải quyết vấn đề làgiáo viên phải chuẩn bị các thiết bị thí nghiệm Trong chương "Điện tích - Điệntrường" có một số thí nghiệm được trình bày trong sách giáo khoa và yêu cầu thựchiện trong quá trình giảng dạy Bên cạnh đó giáo viên có thể cho học sinh chuẩn bị

và tiến hành các thí nghiệm đơn giản, dễ làm Ngày này, việc sử dụng các thiết bịcông nghệ thông tin vào dạy học đã trở nên phổ biến Giáo viên cũng có thể sửdụng các thí nghiệm ảo thay thế cho các thí nghiệm khó thực hiện hoặc không trựcquan Giáo viên cũng có thể dùng các đoạn phim ngắn về các cảnh thật, sinh độngthay cho việc thuyết trình bằng lời để tạo ra các tình huống có vấn đề Trong bảngsau, chúng tôi đã tìm hiểu và chuẩn bị các thí nghiệm tương ứng với các nội dungkiến thức ở chương"Điện tích - Điện trường"

Bảng 2.2:Thiết bị dạy học chương" Điện tích - Điện trường"

Bài1: Điện tích Định luật Culông

TT Nội dung

kiến thức

Thiết bị dạy họctruyền thống

Thiết bị dạy học ứng dụng CNTT

Gợi ý phương pháp dạyhọc

nhiễm điện củacác vật

GV cho học sinh xemđoạn phim, từ đó địnhhướng học sinh vào sựxuất hiện các loại điện

Trang 40

Tóm tắt nộidung sách giáokhoa

GV đàm thoại, vấn đáp

để học sinh ghi nhớkiến thức

Các đoạn phim

về hiện tượngnhiễm điện dotiếp xúc, hưởngứng

GV cho học sinh quansát, gợi ý để học sinhrút ra đặc điểm của cáchiện tượng

GV cho học sinh quansát, vấn đáp để học sinhghi nhớ kiến thức

Bài2: Thuyết electron Định luật bảo toàn điện tích

TT Nội dung

kiến thức

Thiết bị dạy họctruyền thống

Thiết bị dạy học ứng dụng CNTT

Gợi ý phương pháp dạyhọc

1 Thuyết

electron

Sgk, hình vẽ 2.1,2.2 sgk

Phim flash vềchuyển động củaelectron trongnguyên tử

Tóm tắt nội dungsgk

Đoạn video về cácthiết bị điện trongthực tế

GV nêu câu hỏi:

- Lớp nhựa bên ngoài cácdụng cụ điện có tác dụnggì?

- Lấy ví dụ về các vật cách

Ngày đăng: 21/12/2013, 12:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]A.V. Muraviep (1974) - Dạy thế nào cho học sinh tự lực nắm kiến thức vật lý - NXB GD - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy thế nào cho học sinh tự lực nắm kiến thức vật lý
Nhà XB: NXB GD - Hà Nội
[2] Hoàng Chúng (1983) - Phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục - NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáodục
Nhà XB: NXB Hà Nội
[3] Cruchetxki V.A (1981) - Những cơ sở của tâm lý học sư phạm, tậpII - NXB GD Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: - Những cơ sở của tâm lý học sư phạm
Nhà XB: NXBGD Hà Nội
[4] Nguyễn Đình Chỉnh (1995) - Vấn đề đặt câu hỏi của giáo viên đứng lớp và kiểm tra đánh giá việc học tập của học sinh - NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề đặt câu hỏi của giáo viên đứng lớp vàkiểm tra đánh giá việc học tập của học sinh
Nhà XB: NXB GD
[5] Trần Hữu Cát (2004) - Phương pháp nghiên cứu khoa học vật lý - Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu khoa học vật lý
[6] Lê Văn Giáo, Lê Công Triêm, Lê Thúc Tuấn (2005) - Một số vấn đề về phương pháp dạy học vật lý ở trường phổ thông - Giáo trình bồi dưỡng thường xuyên giáo viên trung học phổ thông chu kì III - NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề vềphương pháp dạy học vật lý ở trường phổ thông
Nhà XB: NXB GD
[7]Nguyễn Thị Kiều Hoa (2007) - Nghiên cứu dạy học chương dòng điện không đổi vật lý 11 nâng cao theo định hướng dạy học giải quyết vấn đề - Luận văn thạc sĩ - Trường ĐH Vinh - Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu dạy học chương dòng điện khôngđổi vật lý 11 nâng cao theo định hướng dạy học giải quyết vấn đề
[8] Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan (1998) - Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sưphạm
Nhà XB: NXB GD
[9] Hà Hùng, Trần Toàn (1997) - Thí nghiệm vật lý phổ thông - Đại học sư phạm Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thí nghiệm vật lý phổ thông
[10] I.Ia.LECNE (1977) - Dạy học nêu vấn đề - NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học nêu vấn đề
Nhà XB: NXBGD
[11] I.F. Kharlamop (1979) - Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào? - NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thếnào
Nhà XB: NXB GD
[12] Nguyễn Thế Khôi (Tổng chủ biên), Nguyễn Phúc Thuần (Chủ biên) (2007) - Vật lý 11 nâng cao - NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lý 11 nâng cao
Nhà XB: NXB GD
[13] Nguyễn Thế Khôi (Tổng chủ biên), Nguyễn Phúc Thuần (Chủ biên) - Vật lý 11 nâng cao (Sách giáo viên) - NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lý11 nâng cao
Nhà XB: NXB GD
[14] Nguyễn Đình Khang (2008) - Nâng cao chất lượng dạy học vật lý chương"Điện tích - Điện trường" lớp 11 nâng cao THPT nhờ việc sử dụng thí nghiệm với sự trợ giúp của máy vi tính - Luận văn thạc sĩ - Trường ĐH Vinh - Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điện tích - Điện trường
[15] Nguyễn Quang Lạc (1999) - Didactic vật lý, bài giảng tóm tắt chuyên đề cho học viên cao học chuyên ngành PPGD vật lý - ĐH Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Didactic vật lý
[16] Nguyễn Quang Lạc (1999) - Lý luận dạy học hiện đại ở trường phổ thông - Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học hiện đại ở trường phổ thông
[17] Nguyễn Quang Lạc (1993) - Bàn về đổi mới phương pháp dạy học vật lý - Tạp chí Nghiên cứu giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về đổi mới phương pháp dạy học vật lý
[18]Lê Thị Oanh (2002) - Hướng dẫn học sinh thu thập, xử lý thông tin khi dạy học về hiện tượng, định luật vật lý - Tạp chí giáo dục số 23,tr.36-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: - Hướng dẫn học sinh thu thập, xử lý thông tin khi dạyhọc về hiện tượng, định luật vật lý
[19] Ô Kôn.V (1976) - Những cơ sở của việc dạy học nêu vấn đề - NXB GD Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở của việc dạy học nêu vấn đề
Nhà XB: NXB GD HàNội
[20] Phạm Thị Phú (2002) - Nghiên cứu vận dụng các phương pháp nhận thức vào dạy học giải quyết vấn đề trong dạy học vật lý ở trường phổ thông - Đại học Vinh - Đề tài cấp bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu vận dụng các phương pháp nhận thứcvào dạy học giải quyết vấn đề trong dạy học vật lý ở trường phổ thông

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Cấu trúc dạy học giải quyết vấn đề trong môn vật lý - Nghiên cứu dạy học một số đơn vị kiến thức chương điện tích   điện trường vật lý 11 nâng cao theo định hướng dạy học giải quyết vấn đề
Sơ đồ 1.1 Cấu trúc dạy học giải quyết vấn đề trong môn vật lý (Trang 27)
Bảng 2.3: Phân phối chương trình chương" Điện tích - Điện trường" - Nghiên cứu dạy học một số đơn vị kiến thức chương điện tích   điện trường vật lý 11 nâng cao theo định hướng dạy học giải quyết vấn đề
Bảng 2.3 Phân phối chương trình chương" Điện tích - Điện trường" (Trang 45)
Bảng3.1: Bảng thống kê điểm số(X i ) kết quả bài kiểm tra - Nghiên cứu dạy học một số đơn vị kiến thức chương điện tích   điện trường vật lý 11 nâng cao theo định hướng dạy học giải quyết vấn đề
Bảng 3.1 Bảng thống kê điểm số(X i ) kết quả bài kiểm tra (Trang 77)
Bảng3.2: Bảng phân phối tần suất - Nghiên cứu dạy học một số đơn vị kiến thức chương điện tích   điện trường vật lý 11 nâng cao theo định hướng dạy học giải quyết vấn đề
Bảng 3.2 Bảng phân phối tần suất (Trang 77)
Bảng3.3: Bảng phân phối tần suất tích lũy - Nghiên cứu dạy học một số đơn vị kiến thức chương điện tích   điện trường vật lý 11 nâng cao theo định hướng dạy học giải quyết vấn đề
Bảng 3.3 Bảng phân phối tần suất tích lũy (Trang 77)
Biểu đồ 3.2: Đồ thị phân phối tần suất tích lũy của lớp thực nghiệm và lớp đối chứngBiểu đồ 3.2: Đồ thị phân phối tần suất của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng - Nghiên cứu dạy học một số đơn vị kiến thức chương điện tích   điện trường vật lý 11 nâng cao theo định hướng dạy học giải quyết vấn đề
i ểu đồ 3.2: Đồ thị phân phối tần suất tích lũy của lớp thực nghiệm và lớp đối chứngBiểu đồ 3.2: Đồ thị phân phối tần suất của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng (Trang 78)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w