1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đánh giá tiềm năng di truyền về khả năng sinh sản của giống lợn nái móng cái

62 575 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đánh giá tiềm năng di truyền về khả năng sinh sản của giống lợn nái móng cái
Tác giả Đào Thị Hằng
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Kim Đường
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Di truyền - Vi sinh
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2005
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 261 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

lời cảm ơn Đợc sự nhất trí của trờng Đại Học Vinh, Khoa Sinh học, em đã tiến hành thực hiện đề tài: Nghiên cứu đánh giá tiềm năng di “ truyền về khả năng sinh sản của lợn nái Móng Cái tạ

Trang 1

Trờng Đại học vinh KHoa sinh học

-   

 -Nghiên cứu đánh giá Tiềm năng di truyền về Khả năng sinh sản của giống lợn nái móng cái

KHóa luận tốt nghiệp

Chuyên ngành: Di truyền vi sinh

Giáo viên hớng dẫn: PGS TS Nguyễn Kim Đờng

Sinh viên thực hiện: Đào thị hằng

Vinh 2005

Trang 2

lời cảm ơn

Đợc sự nhất trí của trờng Đại Học Vinh, Khoa Sinh học, em đã tiến hành thực hiện đề tài: Nghiên cứu đánh giá tiềm năng di

truyền về khả năng sinh sản của lợn nái Móng Cái tại trại giống

Nam Liên - Nam Đàn và xã Hng Tiến - Hng Nguyên thuộc tỉnh Nghệ An.

Nhân dịp này em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới thầy giáo hớng dẫn: PGS.TS Nguyễn Kim Đờng, các thầy cô giáo trong khoa, cán bộ trại giống Nam Liên cùng bà con nhân dân hai xã Nam Liên và Hng Tiến đã giúp đỡ tận tình và tạo mọi

điều kiện thuận lợi để em hoàn thành tốt khoá luận này.

Vì thời gian thực hiện có hạn, kiến thức và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học của bản thân còn nhiều hạn chế nên khoá luận không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận đợc sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô, các anh các chị cùng bạn bè.

Em xin chân thành cảm ơn.

Vinh, ngày 20 tháng 03 năm 2005

Sinh viên

Đào Thị Hằng

Trang 3

Mở đầu

đặt vấn đề

Việt Nam là một nớc nông nghiệp với 80% dân số sống ở nông thôn Bởivậy, cùng với trồng trọt thì chăn nuôi cũng là một ngành đợc ngời dân chútrọng Chăn nuôi từ lâu đã đợc xem là một bộ phận chủ yếu của nông nghiệp, làmột trong những ngành quan trọng trong nền kinh tế quốc dân (ngành chăn nuôihiện nay đang đóng góp 25% tổng thu nhập của ngành nông nghiệp) Trong đó,nghề chăn nuôi lợn chiếm một vị trí quan trọng trong hệ thống chăn nuôi nhờtính kinh tế và phù hợp với khả năng ngời nuôi, đặc biệt với nhà nông

Ngày nay chăn nuôi lợn đã nhanh chóng trở thành một ngành sản xuấthàng hoá Nó chiếm vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi với sản lợng thịtchiếm tới 76% trong tổng sản lợng thịt của cả nớc Chăn nuôi lợn thịt hiện naykhông những đáp ứng nhu cầu thịt trong nớc mà còn tham gia xuất khẩu Trênthế giới, trong khi thịt cừu chỉ chiếm 6%, gia cầm 23%, thịt bò 31% thì thịt lợnchiếm tới 40% (Nguyễn Văn Hạnh, 2000) Có thể nói, trong ngành chăn nuôi thìchăn nuôi lợn là nghề có khả năng phát triển mạnh, nhanh chóng có sản phẩm,

là nguồn cung cấp thực phẩm chủ yếu và thờng xuyên nhất, là nguồn cung cấpphân bón cho cây trồng và vật nuôi thủy sản hay sản xuất khí đốt trong các hầmbiogas, cũng nh góp phần cung cấp một lợng lớn nguyên liệu cho công nghiệpchế biến thực phẩm Mặt khác vốn đầu t và và lao động vừa phải, thuận lợi nênnhanh chóng có hiệu quả Chăn nuôi lợn làm tăng nhanh thu nhập ở tất cả cácqui mô (gia đình, tập thể và cơ sở chăn nuôi quốc doanh) Phát triển chăn nuôi lợn

là điều kiện để đảm bảo sự cân đối trong sản xuất nông nghiệp

Đặc biệt trong thời đại ngày nay, khi khoa học công nghệ phát triển thì sảnphẩm của chăn nuôi lợn còn đợc ứng dụng cả trong y học, mà cụ thể là một số

bộ phận của lợn đợc các nhà y học, các nhà sinh học nghiên cứu và sử dụngchúng để cấy ghép, thay thế cho những cơ quan, bộ phận bị hỏng trên cơ thể conngời

Trong chăn nuôi lợn có ba nhóm tính trạng quan trọng để nâng cao hiệuquả kinh tế đó là: Sinh sản, sinh trởng và khả năng cho thịt Mỗi tính trạng đều

có vị trí quan trọng riêng của nó Tuy nhiên, tính trạng năng suất sinh sản là yếu

Trang 4

Để nâng cao hiệu quả kinh tế ngành chăn nuôi thì ngời chăn nuôi cần phải

áp dụng và phối hợp một cách khoa học các khâu: Giống, thức ăn, kỹ thuật chănnuôi, thú y và quản lý Trong những khâu cơ bản đó, giống là khâu then chốtnhất và nó là chìa khoá quyết định năng suất và hiệu quả chăn nuôi Các nhàchọn giống đang hớng công tác nghiên cứu, thực nghiệm vào những vấn đề:Loại trừ ảnh hởng của các yếu tố ngoại cảnh trong việc đánh giá tính trạng năngsuất sinh sản nhằm nâng cao khả năng di truyền của các tính trạng năng suấtsinh sản, tiếp tục lựa chọn các giống lợn có khả năng sinh sản cao để đa vào cácchơng trình lai giống và tạo giống

Trong ngành chăn nuôi nớc ta hiện nay, chăn nuôi lợn nái chiếm một vị tríquan trọng, vì nó quyết định cả về số lợng và chất lợng đàn lợn Các giống lợn ởnớc ta khá đa dạng và phong phú, bao gồm các giống nội và ngoại nhập Trong

đó, lợn Móng Cái chiếm một tỷ lệ khoảng 50% trong tổng đàn lợn hiện có ởtrong nớc

Lợn Móng Cái là một trong những giống lợn nội quý đợc nuôi phổ biến ởcác tỉnh phía Bắc và miền Trung nớc ta Đặc biệt ở hai tỉnh Nghệ An và ThanhHoá, đàn lợn nái Móng Cái chiếm tới 70 - 80% tổng số lợn nái, do chúng có khảnăng thích nghi với điều kiện khí hậu cũng nh điều kiện kinh tế và tập quánchăn nuôi ở đây Lợn nái Móng Cái chủ yếu dùng để làm nền để cho lai với đựcngoại tạo nên các tổ hợp lai nuôi thịt có hiệu quả tơng đối cao ở những vùngsinh thái - nơi mà điều kiện chăn nuôi cha thật tốt Lợn Móng Cái có nhiều u

điểm nh: Chịu kham khổ tốt, sức kháng bệnh cao, tạp ăn, mắn đẻ, số con sơ sinh

và cai sữa cao, khoảng cách lứa đẻ ngắn nên hệ số quay vòng nhanh

Do việc nhiều giống lợn ngoại nhập đợc đa vào nớc ta với u điểm năngsuất cao mà đã gây nên hiện tợng lãng quên đi các giống địa phơng, mặc dùchúng vẫn giữ đợc một số đặc tính tốt Trớc thực tế này, đòi hỏi cần phải có mộtchính sách và sự quan tâm nhất định của Nhà nớc đến việc lu giữ các giống nội

đó, làm giàu thêm cơ sở di truyền để chúng có thể đóng góp quan trọng cho sựphát triển ngành chăn nuôi lợn trong tơng lai

Để góp phần đánh giá và khai thác tiềm năng di truyền về sinh sản của

giống lợn Móng Cái, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu

đánh giá tiềm năng di truyền về khả năng sinh sản của giống lợn nái Móng Cái”.

Trang 5

mục đích nghiên cứu của đề tài

Điều tra, đánh giá tiềm năng di truyền về khả năng sinh sản của lợn náiMóng Cái

Yêu cầu của đề tài

* Thu thập tài liệu, theo dõi các chỉ tiêu về năng suất sinh sản của lợn náiMóng Cái

*ứng dụng toán thống kê để xử lý các số liệu thu đợc

Trang 6

Chơng I

Tổng quan tài liệu

1 Quá trình hình thành và phát triển giống lợn ở Việt Nam

Tất cả những gia súc hiện nay đều có nguồn gốc là thú hoang, đợc thuầnhoá nhờ sức lao động, trí thông minh, sáng tạo của con ngời Để trở thành giasúc, thú hoang đã phải trải qua một quá trình chọn lọc lâu dài, đợc cải tiến nuôidỡng theo hớng nâng cao tính năng sản xuất của chúng Đến nay con ngời đãthuần hoá đợc hơn 60 trong 70 vạn chủng động vật có xơng sống

Sơ đồ 1: Nguồn gốc các giống lợn hiện nay

(sus scrofa ferus) (sus orientalis, Sus cristatus, Sus vittatus)

Giống địa phơng Châu Âu Giống địa phơng Châu á

Lợn thuộc lớp động vật có vú (Mammalia), bộ guốc chẵn (Artio dactyla),

họ Suidae, chủng Sus, loài Sus domesticus Lợn xuất hiện từ 1,5 đến 2,5 triệunăm trớc công nguyên Lợn đợc thuần hoá từ thời đại đồ đá giữa hoặc thời đại

đồ đá mới, cách đây khoảng vạn năm Lợn là con vật đợc thuần hoá thứ hai sauchó Lợn nhà đã đợc thuần dỡng ở nớc ta cách đây khoảng bốn nghìn năm Qua

Trang 7

sơ đồ nguồn gốc trên đây (B.pvôncopialop, 1995) chúng ta có thể hình dung vàhiểu đợc sự liên quan giữa hai loại lợn á - Âu và chừng mực nào nguồn gốc củalợn địa phơng hiện có ở nớc ta (Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đờng, NguyễnTiến Văn, 1992).

Theo thống kê của tổ chức Nông - Lơng Liên Hiệp Quốc (FAO), trong thậpniên vừa qua, Việt Nam đứng thứ 10 trong số 60 nớc trên thế giới đợc ghi nhậnchăn nuôi nhiều lợn và sản xuất nhiều thịt lợn Số liệu tổng hợp đàn lợn và sản l-ợng thịt từ năm 1990 đến năm 1999 thể hiện ở bảng 1 và 2 đã chứng minh điều

Đàn lợn của nớc ta trong những năm qua cũng đã tăng một cách đáng kể

Số lợng thống kê cho thấy, hiện nay nớc ta có tổng đàn lợn trên 22 triệu con

Trang 8

Tốc độ tăng đàn lợn hàng năm có thể đạt gần 5% ở nớc ta từ trớc đến nay pháttriển chăn nuôi nhất là chăn nuôi lợn với mục tiêu kinh tế-kỹ thuật: Tăng nhanh

số lợng đàn lợn, tăng nhanh khối lợng xuất chuồng, hạ giá thành sản phẩm, cungcấp ngày càng nhiều về thịt và nhu cầu phân bón cho nhu cầu trong nớc và xuấtkhẩu là chủ trơng đã đợc khẳng định, thể hiện trong nghị quyết của Trung Ương

Đảng và trong kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân

2 Tình hình chăn nuôi lợn ở Nghệ An

ở Nghệ An đàn lợn chiếm 10% tổng số đàn gia súc, gia cầm Hàng nămlợn đã cung cấp cho thị trờng từ 45.000 - 60.000 tấn thịt, chiếm 75% tổng lợngthịt các loại Mặc dù đã đạt đợc kết quả nh vậy, nhng cha tơng xứng với tiềmnăng sản xuất của lợn trong nền nông nghiệp của tỉnh Sản lợng lơng thực sảnxuất ra hơn 1.000.000 tấn/năm, nhiều vùng có tiềm năng phát triển cây côngnghiệp làm thức ăn cho lợn, các phụ phế phẩm nông nghiệp vẫn cha đợc tậndụng và khai thác hết

Trong cơ cấu chung của đàn lợn cả nớc, giống lợn Móng Cái chiếm 50%tổng đàn lợn cả nớc, riêng tại tỉnh Nghệ An lợn nái Móng Cái chiếm tới 70-80%tổng đàn lợn nái Nh vậy, con giống lợn trong tỉnh phần lớn là con giống MóngCái, bởi Móng Cái là một giống phù hợp với phơng thức chăn nuôi hộ gia đình.Giống lợn này có khả năng đẻ nhiều, thích nghi với điều kiện khí hậu và tậpquán chăn nuôi ở đây Chính vì thế lợn nái Móng Cái đã trở thành giống náichính làm nền để tạo ra các con lai nuôi thơng phẩm F1 (50% máu ngoại) đểtăng năng suất chăn nuôi, đáp ứng thị trờng tiêu dùng và nội địa

Phơng thức chăn nuôi lợn ở tỉnh Nghệ An phần lớn vẫn còn chăn nuôi theokiểu quảng canh, tận dụng là chính Ngời dân còn coi chăn nuôi lợn nh nghề phụ

để tận dụng khoảng thời gian nhàn rỗi trong ngày hoặc lao động không đủ sứclàm việc ở ngoài đồng Nguồn thức ăn cung cấp cho lợn phần lớn là những thức

ăn có sẵn trong sản xuất nông nghiệp nh: Ngô, cám, gạo, rau,… Hàm lợng chất dinhdỡng trong khẩu phần thức ăn thấp, chuồng trại còn sơ sài cha đúng yêu cầu kỹthuật, vệ sinh chăn nuôi cha tốt, lợn hay bị bệnh nên thờng chậm lớn

Tuy nhiên trong mấy năm gần đây dới sự lãnh đạo của Đảng, đời sống vàtrình độ ngời dân ngày càng đợc nâng cao, nên nhiều hộ gia đình đã bắt đầu đầu

Trang 9

t phát triển chăn nuôi lợn, một số hộ đã đầu t theo mô hình trang trại vừa và nhỏ,các mô hình đó bắt đầu đem lại hiệu quả Đặc biệt năm 1997 UBND tỉnh Nghệ

An đã có chỉ thị 486/CTUB về việc triển khai thực hiện chơng trình “nạc hoá

đàn lợn” của Chính phủ Cùng với việc nhập nội các giống lợn ngoại, việc giữnguồn gen quý các giống của địa phơng cũng đợc triển khai nhằm nâng caonăng suất và phẩm chất, đồng thời duy trì nguồn gen quý của giống lợn nội(Móng Cái) để làm cơ sở cho công tác lai tạo giống và tạo lợn lai có tỷ lệ nạccao nhng thích ứng với điều kiện của địa phơng

Chăn nuôi lợn phát triển đã giải quyết đợc một số lợng lớn công lao độngcho nhà nông, tăng nguồn thu nhập quan trọng trong gia đình, tăng kim ngạchxuất khẩu, phục vụ thâm canh trồng trọt, đóng góp một phần thu nhập đáng kểcho nền kinh tế Nghệ An

3 Nguồn gốc và đặc điểm ngoại hình của lợn Móng Cái

3.1 Nguồn gốc

Lợn Móng Cái của nớc ta đợc bắt nguồn từ lợn lang Quảng Đông (TrungQuốc), có nguồn gốc xa xa từ một chủng chung là Sus crofa (Horsing, Tohason,Ralohanten, 1967) Từ Quảng Đông lợn Móng Cái đã đợc ngời Hoa mang sangkhi họ di c sang nớc ta Đầu tiên lợn lang Quảng Đông đã đợc đa sang các vùng

Hà Cối (Đầm Hà), Tiên Yên (Đông Triều) tỉnh Quảng Ninh, trong đó có thị trấnMóng Cái là trung tâm thơng mại của vùng Lợn là mặt hàng giao dịch trên thịtrờng, vì vậy nhân dân ở đây đặt tên cho giống lợn này là lợn Móng Cái

Theo kết quả nghiên cứu bảo tồn nguồn gen vật nuôi ở Việt Nam (1994),lợn Móng Cái là giống vật nuôi nguyên thủy và đến nay chúng đã trải qua thờigian chọn lọc, đào thải của tự nhiên và con ngời Lợn Móng Cái ngày càng đợccải tiến nhiều về chất lợng và nó đã chứng tỏ đợc đặc tính tốt của một giống lợnthuần là: Đẻ nhiều con, nuôi con khéo, thích nghi với điều kiện ngoại cảnh, khíhậu của vùng Bởi vậy nó là giống nái nền rất tốt đợc dùng để lai với đực ngoại.Song nó cũng có nhợc điểm: Tốc độ tăng trọng quá thấp, tiêu tốn thức ăn cao và

tỷ lệ nạc thấp Để lợn Móng Cái đứng vững và phát triển đợc trong nhân dân thìnhững nhợc điểm này cần đợc cải tạo Lợn Móng Cái đã đợc đa vào danh sáchgiống vật nuôi cần đợc bảo tồn nguồn gen

Trang 10

3.2 Đặc điểm ngoại hình

Lợn Móng Cái có đặc điểm ngoại hình rất đặc trng, khác biệt rõ rệt với cácgiống lợn khác, đó là: Đầu đen, giữa trán có một điểm trắng hoặc hình tròn,mõm trắng, giữa vai và cổ có một vành trắng vắt ngang kéo dài đến bụng và bốnchân tạo hình yên ngựa (đây là đặc điểm ngoại hình nổi bật nhất), lng võng bụng

sệ nhng tơng đối gọn so với lợn ỉ, lông tha, da mỏng mịn, bốn chân tơng đốicao, thẳng, vững chắc, móng không toè Đa số lợn nái có 12-14 núm vú, ngực nở

và sâu

Theo điều tra từ năm 1962, lợn Móng Cái chia làm 2 nòi khác nhau: Nòi(nhóm) xơng nhỡ (nhân dân quen gọi là nòi xơng to) và nòi (nhóm) xơng nhỏ

Đặc điểm chính của hai nòi này nh sau:

* Nòi xơng nhỡ: Mình dài, chân cao, xơng ống to, móng tòe nhìn nh bốnngón, mõm dài và hơi hất lên, tai to ngang, tầm vóc to Lợn nái thuộc nhóm này

đa số có 14 núm vú, một số ít có 12 núm vú, có số con đẻ trung bình 10 - 12con/lứa

* Nòi xơng nhỏ: Mình ngắn, chân thấp, xơng ống nhỏ, hai móng to chụmlại Mõm ngắn, thẳng, tai nhỏ, dỏng lên trên tầm vóc nhỏ, khối lợng khoảng85kg là tối đa Lợn nái thuộc nhóm này đa số 12 núm vú, số ít có 14 núm vú, sốcon đẻ trung bình từ 8 đến 9 con/lứa (Lê Viết Ly và cộng sự, 1999)

4 Đặc điểm sinh lý, sinh sản của lợn nái và điều kiện nuôi dỡng chúng

Sinh sản là điều kiện để duy trì nòi giống của tất cả các cơ thể sống Quátrình sinh sản giúp cho quá trình truyền đạt thông tin di truyền từ thế hệ nàysang thế hệ khác, nó liên quan đến sự điều chỉnh nội tiết trong các giai đoạnkhác của quá trình sinh sản Hình thức sinh sản ở lợn là sinh sản hữu tính có uthế sinh học là tạo nên khả năng tái tổ hợp của các tính trạng di truyền tốt vềnăng suất, về sức khỏe của cả bố lẫn mẹ ở thế hệ con Do đó thế hệ sau có sứcsống mạnh hơn, có khả năng sản xuất cao hơn so với thế hệ trớc Nhờ quá trìnhsinh sản hữu tính mà quá trình chọn giống xảy ra nhanh và hiệu quả hơn (LêVăn Thọ và Đàm Văn Tiện, 1992)

Trang 11

Chăn nuôi lợn nái sinh sản nhằm những mục tiêu chính là: Lợn nái đẻ mộtnăm hai lứa đều đặn (có thể đạt 2 năm 5 lứa), số con một lứa bằng số con đẻ ratrung bình của giống, tỷ lệ nuôi sống cao, đồng đều, khối lợng sơ sinh và khối l-ợng cai sữa cao Để đạt mục tiêu trên cần áp dụng các biện pháp chính:

- Nuôi tốt lợn nái

- Phối giống đạt tỷ lệ thụ thai cao

- Giảm thời gian nuôi con của lợn mẹ

Trên cơ sở nắm vững đặc điểm sinh lý sinh sản, ứng dụng tiến bộ kỹ thuậtvào các khâu chính: Kiểm soát, thúc đẩy động dục và rụng trứng, phối giống,chửa đẻ, tiết sữa của lợn nái, để nuôi dỡng và chăm sóc lợn nái đúng đắn, cóhiệu quả trong công tác giống và chăn nuôi sinh sản

4.1 Thành thục về tính và tuổi phối giống

đặc điểm sinh dục phụ xuất hiện, lợn có những ham muốn sinh dục và phản xạ

về tính xuất hiện Lợn có thời gian thành thục về tính là 6 - 7 tháng tuổi, nóichung ít có thay đổi giữa các giống Theo tác giả L A DenHartog (Hà Lan) thì

sự thành thục về tính của lợn sẽ chậm lại một vài tháng nếu đợc nuôi dỡng tốt, vìtuổi thành thục với năng lợng ăn vào cũng nh với tăng trọng hàng ngày có tơngquan âm

Mô hình lý thuyết về quá trình thành thục về tính của lợn đợc Hughes đa

ra năm 1976 Dựa vào kết quả ở lợn và các động vật khác, tác giả cho rằng: Sựthành thục về tính của gia súc trải qua 5 giai đoạn dới sự điều hoà của cáchormon sinh sản Tuy nhiên, tuổi thành thục về tính của gia súc còn phụ thuộcvào sự điều tiết của hệ thần kinh và nhiều yếu tố khác nh: Khí hậu, mùa, giống,chế độ dinh dỡng Các yếu tố khác nh sự tiếp xúc giữa đực và cái, tính tập

Trang 12

nhiễm, … đều ảnh hởng đến tuổi thành thục về tính (Lê Văn Thọ, Đàm VănTiện, 1992).

Theo Trần Thế Thông, lợn Móng Cái có thể thành thục về tính lúc 4 tháng 12ngày, trọng lợng đạt khoảng 20 đến 25 kg Theo Wranick thì lợn Yorkshire thành thục

về tính lúc 251 ngày tuổi với trọng lợng khoảng 90 kg Theo Philip và Zelod thì lợnPoland China thành thục về tính lúc 217 ngày tuổi, trọng lợng đạt 85 kg (trích dẫn bởiHoàng Nghĩa Duyệt, Nguyễn Quang Linh, 1997)

Lợn nái Móng Cái có tuổi thành thục về tính sớm khi nó đạt 3 – 4thángtuổi Động dục diễn ra có chu kỳ ở lợn giải thích bằng cơ chế điều hoà thần kinhthể dịch (Nguyễn Trấn Quốc, Nguyễn Thị Biếc, Bùi Quý, 1990)

4.1.2 Tuổi phối giống

Lợn nái thành thục về tính sớm hơn thành thục về thể vóc Tuy nhiên,nên để khi lợn nái gần thành thục về thể vóc mới cho giao phối thì tốt hơn, vìkhi lợn đã trởng thành thì tốc độ phát triển về xơng chậm dần, còn về tầm vócthì đã lớn Nếu cho lợn cái hậu bị phối giống quá sớm (trớc 6 - 7 tháng tuổi, thểtrọng khoảng 15 - 20 kg) thì sẽ ảnh hởng không tốt đến sự sinh trởng và phátdục của lợn mẹ và đàn lợn con cũng nh thời gian sử dụng sau này (Ninh Viết

Mỵ, Lê Thị Mộng Loan, 1978)

Bình thờng lợn nái có thể cho phối giống lần đầu khi đạt 70% khối lợngtrởng thành Lợn nái Móng Cái ở 7 đến 8 tháng tuổi đạt trên 35 - 40kg thì có thểcho phối giống lần đầu Dự kiến khi lợn chửa, đẻ, khối lợng và tầm vóc đã phùhợp với yêu cầu chửa, đẻ, tiết sữa và nuôi con (Nguyễn Trấn Quốc, Nguyễn ThịBiếc, Bùi Quý, 1990)

4.2 Hiện tợng động dục có chu kỳ ở lợn

Sau khi thành thục về tính, lợn nái bắt đầu hoạt động sinh sản Sự pháttriển của trứng mang tính chất chu kỳ dới sự điều hoà của hormon thùy trớctuyến yên làm cho trứng rụng diễn ra một cách có chu kỳ và biểu hiện bằngnhững triệu chứng động dục ra bên ngoài theo chu kỳ gọi là chu kỳ động dục Ngời ta chia chu kì động dục thành bốn giai đoạn :

* Giai đoạn trớc động dục (proestrus): Từ khi thể vàng tiêu hủy tới lần

động dục tiếp theo Giai đoạn này nang trứng phát triển nhanh, dẫn tới sự cảm

Trang 13

thụ sinh dục Dới sự ảnh hởng của ơstrogen cơ quan sinh dục có nhiều biến đổinh: Tế bào vách ống dẫn trứng phát triển, có nhiều nhung mao để chuẩn bị đóntrứng rụng Màng nhầy tử cung âm đạo tăng sinh do đợc cung cấp nhiều máu.

Tử cung, âm đạo, âm hộ bắt đầu xung huyết Thờng giai đoạn này kéo dài từ 1

đến 3 ngày (trung bình là 2 ngày) Nói chung giai đoạn này là giai đoạn chuẩn

bị môi trờng ở đờng sinh dục cái để đón trứng rụng

* Giai đoạn động dục (estrus): Từ khi xuất hiện cảm thụ sinh dục ở con

cái do lợng ơstrogen tiết ra đạt cực đại, biểu hiện điển hình bằng phản xạ đứngyên khi tiếp xúc với con đực hoặc ngời dẫn tinh Cuối giai đoạn này trứng rụng,những thay đổi của đờng sinh dục cái ở giai đoạn trớc càng thêm sâu sắc hơn đểchuẩn bị tích cực đón trứng Những biểu hiện về hành vi sinh dục là: Đứng yêncho con khác nhảy, kêu rống, thần kinh nhạy cảm, bồn chồn, thích nhảy lên lngcon khác, ăn ít hoặc bỏ ăn, tìm đực một cách vội vã, âm hộ ớt và đỏ, tiết dịchnhầy Càng tới thời điểm rụng trứng thì âm hộ đỏ tím, dịch tiết keo lại, mắt lờ

đờ Giai đoạn này các biểu hiện chính xảy ra rõ rệt nhất và kéo dài từ 20 đến 32giờ

* Giai đoạn sau động dục (postestrus): Là giai đoạn phát triển sớm của

thể vàng, bắt đầu sau khi kết thúc động dục và kéo dài 3 đến 4 ngày Thời kỳnày ở buồng trứng đã xuất hiện thể vàng tiết progesteron để ức chế động dục Sựtăng sinh và tiết dịch của tử cung ngừng lại, biểu mô nhày tử cung bong ra cùngvới lớp tế bào biểu mô âm đạo hoá sừng thải ra ngoài Biểu hiện về hành vi sinhdục là con cái không muốn gần con đực, không cho con khác nhảy, con vật dầndần trở lại trạng thái bình thờng

* Giai đoạn yên tĩnh (anestrus hay diestrus): Là giai đoạn thể vàng hoạt

động, thờng khởi đầu vào ngày thứ t sau khi rụng trứng và kết thúc khi thể vàngtiêu hủy Cơ quan sinh dục không biểu hiện rõ những hoạt động chức năng.Những biểu hiện về hành vi sinh dục không có Đây là giai đoạn nghỉ ngơi yêntĩnh để phục hồi lại cấu tạo, chức năng cũng nh năng lợng cho hoạt động củachu kỳ tiếp theo Giai đoạn này kéo dài từ 9 đến 12 ngày

Sau giai đoạn này lợn bắt đầu quay lại giai đoạn trớc động dục của chu kỳmới Nếu lợn nái đợc thụ tinh thì giai đoạn mới của chu kỳ sinh dục ngừng lại, lợnchuyển sang thời kỳ chửa, đẻ và tiết sữa nuôi con Sau khi cai sữa lợn con 3 đến 10

Trang 14

ngày thì chu kỳ sinh dục trở lại Các giai đoạn của chu kỳ động dục thể hiện ở sơ

dục dục dục (9-12 ngày)

(1-3 ngày) (2-3 ngày) (3-4 ngày)

Quy luật của chu kỳ động dục thờng chịu sự khống chế của hệ thống thầnkinh trung ơng Kính thích bên trong và bên ngoài cơ thể nh: Khí hậu, ánh sáng,nhiệt độ, điều kiện dinh dỡng, nuôi dỡng, trạng thái cơ quan sinh dục, đều ảnhhởng đến chu kỳ sinh dục qua phơng thức phản xạ thần kinh thể dịch Các kínhthích sau khi tác dụng vào thụ quan qua hệ thần kinh trung ơng ảnh hởng đến hoạt

động nội tiết của thuỳ trớc tuyến yên, từ đó làm thay đổi quy luật của chu kỳ sinhdục (Trần Cừ, 1975)

Thời gian của chu kỳ động dục ở lợn nái biến động từ 17 đến 24 ngày vàtrung bình là 21 ngày, thời gian động dục là 48 giờ, biểu hiện điển hình khi

động dục là âm hộ sng tấy, đỏ mọng và mở rộng, kêu la, kém ăn, hoạt độngnhiều Trứng rụng vào lúc 36 đến 42 giờ sau khi xuất hiện động dục Thời điểmphối giống thích hợp là 24 đến 30 giờ kể từ khi xuất hiện động dục Số trứngrụng 16 đến 17 tế bào

Độ dài chu kỳ sinh dục của lợn nái ỉ là 19,9±2,8 ngày (n = 80 con), củalợn nái lai là 20,3±2,1 ngày (n = 50 con) Độ dài này biến động theo các cá thể,theo tuổi, theo mùa vụ và theo chế độ nuôi dỡng: Lợn nái ỉ biến động từ 16 - 25ngày, lợn nái lai từ 17 - 23 ngày, trung bình độ dài chu kỳ động dục của lợn là

21 ngày (Lê Xuân Cơng, 1986)

ở lợn Móng Cái kết quả nghiên cứu của bộ môn sinh lý gia súc trờng Đạihọc Nông Nghiệp 2 cho biết: Thời gian động dục là 70,6±0,5 giờ, kích thớc âm

hộ tăng 131% ở những ngày động dục, thời điểm phối giống thích hợp 25 dến

30 giờ kể từ khi xuất hiện động dục Theo Trơng Lăng (2001) thì chu kỳ động

Trang 15

dục của lợn Móng Cái là 20,4 ngày, thời gian động dục lần đầu kéo dài 48,6 giờ

và những lần sau kéo dài 49 giờ

4.3 Đặc điểm sinh lý lợn nái chửa

4.3.1 Những biến đổi của cơ thể lợn nái khi có chửa

Lợn chửa và đẻ một lứa nhiều con, khi có chửa bào thai phát triển ở cả haisừng tử cung Dung tích tử cung tăng dần, đẩy các khí quan về phía trớc, các cơquan bài tiết bị sức ép cơ giới, do đó hoạt động bị trở ngại

Quá trình trao đối chất và trao đổi năng lợng của lợn thời kỳ chửa rấtmạnh, tăng 43% so với lúc không chửa Khả năng tích luỹ chất dinh dỡng rấtcao Suốt trong thời gian chửa lợng protein trong bào thai, màng thai và tử cunglợn mẹ tích lũy 1500 - 1700g, Ca khoảng 150 - 160g, P khoảng 80 - 85g Đồngthời cơ thể lợn mẹ tích luỹ tới 4000g protein, 400 - 500g Ca, 150g P Lợng vậtchất dinh dỡng tích lũy ở hai tháng đầu còn tơng đối ít, tháng thứ ba tăng lên rõrệt và cao nhất ở ba tuần cuối kỳ có chửa

So với nhu cầu duy trì thì yêu cầu protein trong thời kỳ chửa tăng 35%, ởgiai đoạn cuối thời kỳ chửa tăng gấp hai lần

Biến đổi thể hiện bên ngoài là: Béo lên rõ rệt, lông da bóng mợt, lợn náitrở nên thuần hiền, đi đứng chậm chạp, nhiệt độ cơ thể tăng hơn bình thờng(Nguyễn Trấn Quốc, Nguyễn Thị Biếc, 1990)

4.3.2 Sự phát triển của bào thai

Thời gian chửa của lợn: 112 - 116 ngày, thờng là 114 ngày (3 tháng, 3 tuần,

3 ngày) Quá trình phát triển của bào thai lợn chia ra 3 giai đoạn:

- Giai đoạn phôi thai: 1 - 22 ngày, hình thành mầm mống của các bộ phậncơ thể

- Giai đoạn tiền bào thai: Ngày thứ 23 - 28, hình thành các tổ chức sụn, cơ,

hệ thần kinh, tuyến sữa, hình thành những đặc điểm của giống, tính biệt và

đặc điểm cấu tạo cơ thể

- Giai đoạn bào thai: Ngày thứ 39 - 114, khối lợng và thể tích của thai tănglên rất nhanh Chiều dài thân và cao vây phát triển mạnh Bộ xơng đợc hìnhthành, các cơ quan nội tạng và bốn chân phát triển rõ

Trang 16

4.3.3 Những nhân tố ảnh hởng tới sự phát triển của bào thai

Một trong những nhân tố quan trọng nhất quyết định đến sự phát triển củabào thai là chế độ nuôi dỡng lợn mẹ Bào thai phát triển mạnh nhất ở tuần cuốicùng của thời kỳ chửa Nhịp độ sinh trởng tăng nhanh từ hai tháng rỡi đến batháng của thời kỳ chửa Lợn nái chửa không đợc cung cấp đầy đủ chất dinh dỡng,thiếu vitamin, ít vận động dễ bị chết thai, tiêu thai, khối lợng thai nhỏ

Sự phát triển của thai còn phụ thuộc và số lợng thai trong một lứa Lợnchửa nhiều thai, nếu trên 12 thai thì thai nhỏ, khối lợng thấp, sức sống yếu Mỗilứa 10 - 12 thai đồng đều là tốt nhất Mặt khác khối lợng thai và số lợng con/lứacũng còn do lứa đẻ và khối lợng của cơ thể lợn nái Vì vậy, khi dùng nái nội đểlai kinh tế với đực giống các giống ngoại cần chọn những con lợn nái có khối l-ợng ít nhất là 50 kg và đã đẻ 1 - 2 lứa Nuôi dỡng lợn nái chửa con non, ngoàiyêu cầu phát triển bào thai cần đáp ứng nhu cầu dinh dỡng cho lợn mẹ tiếp tụcsinh trởng, phát triển tầm vóc (Nguyễn Trấn Quốc, Nguyễn Thị Biếc, 1990)

Những nguyên nhân làm cho lợn nái sẩy thai:

- Do nuôi dỡng kém: Thức ăn hôi mốc, len men thối hoặc có chất độc.Khẩu phần thiếu khoáng và vitamin Khối lợng thức ăn quá lớn làm mệt dạ dày,lợn dễ sẩy thai Thức ăn hoặc nớc uống quá lạnh (về mùa đông)

- Do lợn nái gầy yếu quá, chuồng trại chật hẹp, lợn chèn ép nhau, bị trợtchân Do bệnh sẩy thai truyền nhiễm hoặc các bệnh khác Do rối loạn về sinh lý,lợn nái chửa rồi vẫn động đực trở lại

4.4 Những biến đổi của lợn nái trớc và sau đẻ

Khi lợn sắp đẻ bao giờ cũng có một loạt những biến đổi trong cơ thể dới

sự điều hoà của các yếu tố thần kinh thể dịch

Trớc khi đẻ 20 ngày hệ thống tuyến vú đã phát dục hoàn toàn Lúc sắp đẻcác vú căng to và chĩa ra hai bên, màu đỏ hồng và bóng, lợn nái đẻ lứa đầu càngnhận rõ hơn Trớc khi đẻ 3 - 5 ngày bầu vú căng, cứng, đầu núm vú sẫm màu, 1

- 2 ngày trớc khi đẻ nếu vắt đã thấy có sữa chảy ra

Bộ phận sinh dục ngoài của lợn nái có dấu hiệu dãn lỏng, hai bên gốc

đuôi hõm xuống, thờng gọi là hiện tợng sụt mông Dịch nhờn âm đạo chảy rathành hình sợi trong suốt

Trang 17

Một đến hai ngày trớc khi đẻ nhiệt độ cơ thể giảm 0,5 - 1,20C Lợn nái sắp

đến giờ đẻ đứng nằm không yên “đi đi, lại lại”, bỏ ăn hoặc ăn rất ít, tha rơm ráclàm ổ, thờng gọi là hiện tợng “lợn cắn ổ”

Quá trình đẻ của lợn có thể chia ra 3 thời kỳ:

* Thời kỳ mở cửa (thời kỳ vỡ nớc ối): Thân tử cung và sừng tử cung cobóp mạnh, lúc đầu co bóp từng cơn ngắn, thời gian nghỉ dài, về sau các cơ cơn

co bóp dài, thời gian nghỉ ngắn Khi tử cung co bóp, thai và nớc màng thai épvào cổ tử cung làm cho cổ tử cung mở dần ra Một bộ phận màng thai chui qua

cổ tử cung vào âm đạo Các cơn co bóp dẫn tới kết quả màng thai bị phá vỡ, nớc

ối chảy ra ngoài làm trơn đờng thai ra Phần trớc của thai cũng theo nớc ốichuyển qua xoang chậu

* Thời kỳ thai ra: Cơ tử cung co bóp càng mạnh, các cơn co bóp dồn dập,kéo dài, cơ bụng và các cơ hoành cũng co bóp làm cho áp lực thành bụng tănglên Khi đạt áp lực cao nhất, thai chuyển qua cửa xơng chậu, qua âm đạo rồi rangoài Khi lợn con ra ngoài, cuống rốn của từng con một tự đứt Cứ khoảng 5 -

15 phút lợn nái lại đẻ một con cho đến khi đẻ hết Cũng có trờng hợp màng thaikhông bị rách, lợn con đẻ ra vẫn còn ở trong bọc ối, đây là hiện tợng “đẻ bọc”,

hộ lý phải kịp thời can thiệp, dùng tay xé bọc để tránh cho lợn con bị ngạt

* Thời kỳ nhau thai ra: Sau khi đẻ con cuối cùng từ 1 - 6 giờ do tử cungtiếp tục co bóp, nhau thai bị đẩy ra ngoài Nếu quá 6 giờ nhau thai không ra hết

là không bình thờng, nếu không can thiệp sẽ gây tình trạng sót nhau

Nhìn chung quá trình đẻ của lợn nhất là với lợn nái đẻ nhiều lứa, khôngcần can thiệp trực tiếp, chỉ cần chú ý một số điểm:

- Xử lý rốn cho lợn con để tránh nhiễm trùng

- Một số lợn con mới đẻ có răng nanh phải dùng kéo cắt đi để lợn mẹ cho

bú, nếu không lợn mẹ không cho bú, đột ngột đứng lên phản ứng lại, đè chết lợncon và không cho cả đàn bú

- Có những lợn nái không đẻ ở t thế nằm mà lúc thai ra lợn mẹ thờng

đứng, trờng hợp này cần chú ý để lợn mẹ không dẫm, đè chết lợn con đã đẻ trớc

đó (Nguyễn Trấn Quốc, Nguyễn Thị Biếc, 1990)

4.5 Những nguyên nhân làm cho lợn nái sinh sản kém

Trang 18

Hiện tợng lợn nái không chửa, đẻ non, tỷ lệ thụ thai thấp ngoài nguyênnhân mất điều hoà về sinh lý còn do những yếu tố ảnh hởng sau đây:

- Trong khẩu phần thức ăn hàng ngày tỷ lệ tinh bột quá nhiều làm cho lợnbéo quá mất tính dục, hoặc ngợc lại nếu khẩu phần thiếu chất dinh dỡng quá thìmức sinh sản cũng bị giảm sút

- Bỏ lỡ nhiều lần động đực, phối giống không đúng thời điểm

- Lợn nái hay lợn đực đã quá già

- Tinh dịch của lợn đực xấu hay lợn đực đã giao phối quá nhiều; hoặc làtinh dịch loãng, mật độ tinh trùng quá tha (Ninh Viết Mỵ, Lê Thị Mộng Loan,1978)

4.6 Nuôi dỡng và chăm sóc lợn nái nuôi con

4.6.1 Nuôi dỡng

Nhu cầu dinh dỡng của lợn nái nuôi con căn cứ vào nhu cầu duy trì củabản thân cùng với thành phần hoá học của sữa và lợng sữa mà lợn nái cần sảnxuất ra Riêng đối với những lợn nái non cha trởng thành đang sinh trởng nhucầu dinh dỡng còn cần đáp ứng thêm để cho lợn mẹ sinh trởng nữa Nếu ta cungcấp cho lợn nái nuôi con đợc nhiều chất dinh dỡng thì số lợng sữa và phẩm chấtsữa sẽ đợc bảo đảm tốt hơn

- Protein: Nếu cho lợn nái ăn nhiều protit thì sẽ nâng cao đợc sản lợng sữalên rất nhiều Nhu cầu về protit cũng nh các chất khác là do trạng thái hoạt độngcủa tuyến sữa chi phối nhng sự hoạt động của tuyến sữa lại phụ thuộc vào chu

kỳ tiết sữa, nhất là vào điều kiện nuôi dỡng, chăm sóc lợn nái Do đó trong một

đơn vị thức ăn của lợn nái nuôi con cần có 100 - 120g protit tiêu hoá

- Chất khoáng: Các chất khoáng có quan hệ với sự trao đổi chất nói chung

và với việc tạo nên sữa, trong đó quan trọng nhất là Ca và P Nếu thức ăn thiếu

Ca và P thì lợn mẹ phải lấy Ca và P ở xơng hoặc ở nơi dự trữ của cơ thể, từ đólàm cho lợn mẹ bị gầy yếu, xơng xốp, đi đứng khó khăn, lợng sữa giảm nhanh

và sẽ nuôi con kém Nói chung trong một đơn vị thức ăn cần khoảng 7g Ca và4g P

- Vitamin: Trong khẩu phần của lợn nái nuôi con cần có đầy đủ các loạivitamin để đảm bảo cho lợn khỏe mạnh, tiết nhiều sữa cũng nh bảo đảm cho sữa có

Trang 19

nhiều vitamin, chủ yếu là các loại vitamin A, B, C và D Nếu để lợn con bú sữathiếu vitamin A thì lợn sẽ chậm lớn, khả năng chống nhiễm trùng kém và dễ mắcbệnh về mắt Do đó cần phải cấp cho lợn nái nuôi con từ 15000 –20000UI vềvitamin A và 1000 đơn vị vitamin D cho 100 kg thể trọng

Tóm lại, để nâng cao sản lợng sữa của lợn nái, ngoài việc bảo đảm nhucầu dinh dỡng ra còn phải cung cấp thức ăn cho lợn đều đặn, phối hợp nhiều loạithức ăn trong khẩu phần, đồng thời phải có chế độ và phơng pháp cho ăn thíchhợp

4.6.2 Chăm sóc

Yêu cầu chăm sóc lợn nái nuôi con là làm sao khôi phục lại sức khỏe lợnmột cách nhanh chóng bảo đảm cho lợn có sức khỏe tốt, có nh vậy mới nâng cao

đợc khả năng tiết sữa của lợn

Hàng ngày nên cho lợn nái vận động đều, trừ những ngày ma rét khôngnên cho lợn vận động và cần đề phòng bị cảm lạnh Đối với những lợn vú quá sệcần hạn chế vận động

Chuồng lợn nái nuôi con phải sạch, khô, thoáng, không có mùi hôi thối.Hàng ngày phải quét chuồng, dọn phân, nớc tiểu và định kỳ tiêu độc Máng ăn

và máng uống phải rửa sạch hàng ngày

Cần khai thác triệt để các núm vú của lợn nái, vì bầu vú ảnh hởng rất lớn

đến sản lợng sữa Sau khi đẻ phải cố định đầu vú cho lợn con trong 1-2 ngày đầu

để đảm bảo cho đàn lợn đợc bú no đủ và lớn đều

4.7 Lợi ích của cai sữa sớm lợn con

Cai sữa sớm lợn con có rất nhiều lợi ích:

* Nâng cao lứa đẻ: Nuôi con tháng thứ 2, cơ thể lợn nái hao mòn từ 30%, trung bình 20% khối lợng Nếu rút ngắn thời gian nuôi con, lợn nái sẽsung sức, động dục sớm, phối giống dễ thụ thai Lợn nái nuôi con 60 ngày, cóchửa 114 ngày, nh vậy một lứa sinh sản (chửa, đẻ, nuôi con) hết 174 ngày Mộtnăm lợn đẻ 2 lứa cần phải 348 ngày Vậy chỉ còn 17 ngày dành cho hai lần lợnnái động dục trở lại và phối giống Thờng từ 6 - 7 ngày sau cai sữa, lợn nái độngdục trở lại Nếu phối giống không thụ thai phải đợi 19 - 21 ngày sau mới động

Trang 20

15-dục trở lại và phối giống tiếp Nh vậy, cai sữa 60 ngày, một năm lợn nái khó đạt

2 lứa Nếu cai sữa 55 ngày thì khoảng cách 2 lứa đẻ là 13 ngày; cai sữa 50 ngày

có khoảng cách 18 ngày, cai sữa 40 ngày có khoảng cách 28 ngày để lợn nái

động dục và phối giống lợn, dù có trợt một chu kỳ vẫn đủ thời gian để đạt chỉtiêu 2 lứa một năm Nhiều nớc trên thế giới cai sữa sớm 28 ngày tuổi (4 tuần)nên nái đẻ 2,4 - 2,5 lứa/năm và một lợn nái một năm sản xuất từ 2 - 2,5 tấn thịthơi

* Tăng số lợn con nuôi đợc cả năm để tăng sản lợng thịt: Lợn nái nớc tachỉ đẻ 1,3 - 1,4 lứa/năm, mỗi lứa nuôi đợc 6 - 7 con Vì vậy, cần tổ chức cai sữasớm để tăng lứa đẻ/năm

* Giảm số đầu lợn nái phải nuôi: Tổng số lợn nớc ta có 14 triệu con,trong đó có 1,4 triệu lợn nái chiếm 13% so với tổng đàn Nếu cai sữa sớm thì

đàn lợn có thể tăng lên 20% Nái đẻ 1,6 - 1,7 lứa, nuôi sống 7 - 8 con thì tỷ lệnái chiếm 10% so với tổng đàn Nái đẻ 2 lứa thì tỷ lệ nái chỉ còn 8 - 9% so với tổng

đàn

* Giảm chi phí thức ăn: Nếu nuôi tốt đẻ sai, bình quân 1kg lợn con caisữa chi phí mất 6 - 7 kg thức ăn (cho cả mẹ lẫn con); nếu đẻ tha, nuôi ít, chi phílên đến 10 - 12 kg thức ăn

Nhờ giảm thức ăn, nên có thể tập trung đợc thức ăn tốt cho giai đoạn tiếtsữa, tạo sự chuyển hoá thức ăn cao cho lợn con, giúp cho lợn con sinh trởngnhanh hơn

* Giảm bớt diện tích chuồng nuôi: Đầu lợn nái ít, đàn lợn con quay vòngnhanh, yêu cầu về chuồng trại giảm, hiệu suất sử dụng chuồng cao hơn, giảmchi phí khấu hao chuồng cho một đầu lợn

* Giảm bớt lao động nuôi lợn nái và các chi phí khác: Giảm số đầu nái sẽgiảm bớt ngời nuôi và giảm bớt chi phí khác Trong cơ cấu giá thành chăn nuôilợn, chi phí lao động chiếm 1,6%, thức ăn 75%, giống 17%, khấu hao chuồng2%, chi phí sản xuất khác 0,8% và chi phí sản xuất chung (cả thú y) 3,6%

So sánh lợn cai sữa sớm (3 tuần) với lợn cai sữa muộn (8 tuần tuổi), khi

đến 9,5 tuần (67 ngày) đàn lợn cai sữa sớm 3 tuần đạt bình quân 23,5 kg/con,trong khi đó đàn cai sữa muộn (8 tuần) chỉ đạt có 19,93 kg

Vậy, cai sữa sớm thì hệ số tăng trọng lợn con lớn, không ảnh hởng gì

đến sinh trởng phát dục (Trơng Lăng, 1993)

Trang 21

5 Tính trạng năng suất sinh sản và các nhân tố ảnh hởng đến nó

5.1 Tính trạng năng suất sinh sản

Tính trạng số lợng là những tính trạng đợc qui định bởi nhiều cặp gen cóhiệu ứng nhỏ, tính trạng số lợng bị tác động nhiều của môi trờng và sự sai khácgiữa các cá thể là sự sai khác về chủng loại, đó là các tính trạng đa gen Hầu hếtnhững tính trạng có giá trị kinh tế của gia súc đều là những tính trạng số lợng Tính trạng năng suất sinh sản là tính trạng số lợng do nhiều gen điềukhiển Mỗi gen đóng góp một mức độ khác nhau vào cấu thành năng suất củacon vật Giá trị kiểu hình của các tính trạng năng suất sinh sản có sự phân bốliên tục và chịu tác động bởi nhiều nhân tố ngoại cảnh

5.2 Các nhân tố ảnh hởng đến tính trạng năng suất sinh sản

5.2.1 Các nhân tố di truyền ảnh hởng đến tính trạng năng suất sinh sản

Các nhân tố di truyền ảnh hởng đến tính trạng năng suất sinh sản là giống,dòng, cá thể

Giống là quần thể vật nuôi đủ lớn trong cùng một loài, có một nguồn gốcchung, có một số đặc điểm chung về hình thái và ngoại hình, sinh lý và năng suất,

đặc điểm sinh vật học và khả năng chống chịu bệnh, đồng thời có thể truyền đạtcác tính trạng đó cho đời sau Tất cả các chức năng trong cơ thể động vật đều chịu

sự điều khiển của yếu tố di truyền, do vậy các tính trạng sinh sản cũng đều chịu

ảnh hởng trực tiếp của nhân tố di truyền Nhân tố dòng hay giống cũng ảnh hởng

đến tính trạng năng suất sinh sản (Tạ Thị Bích Duyên, 2003)

Cá thể: Khả năng di truyền, bố mẹ không truyền lại cho con cái các tínhtrạng đã hình thành sẵn mà truyền lại kiểu gen Kiểu gen quy định khả năng phảnứng của cơ thể trớc môi trờng

Các giống khác nhau thì số con đẻ ra trong một lứa, khối lợng sơ sinh củalợn con cũng khác nhau Thờng các giống lợn địa phơng số con đẻ ra trong mộtlứa cao hơn các giống cải tiến - cao sản Ví dụ: Lợn Móng Cái có thể đẻ trungbình 11 - 12 con/lứa, lợn Meishan của Trung Quốc có thể đẻ trung bình 14 - 16con/lứa Trong khi đó, lợn Yorkshire chỉ đẻ 9 - 10 con/lứa Lợn Móng Cái có

Trang 22

tầm vóc của lợn mẹ nhỏ nên khối lợng sơ sinh của lợn con thờng chỉ đạt 0,5 0,6 kg/con, còn đối với lợn ngoại do mẹ lớn nên khối lợng sơ sinh của lợn concao nh ở lợn Landrace khối lợng sơ sinh khoảng 1,2 - 1,4 kg/con, lợn Yorkshirekhoảng 1,2 - 1,3 kg/con Giống khác nhau cũng ảnh hởng đến khả năng tiết sữacủa lợn mẹ và do đó ảnh hởng đến khối lợng cai sữa của lợn con Lợn Móng Cái

-có tầm vóc to hơn lợn cỏ cùng lứa tuổi nên khả năng tiết sữa cao hơn

Vai trò của giống là rất quan trọng, nó ảnh hởng lớn đến năng suất sinhsản của lợn nái Bởi vậy, quá trình chọn giống cần phải lựa chọn kỹ càng Đốivới lợn nái Móng Cái chọn làm giống cần đạt những tiêu chuẩn cần thiết củamột con giống là: Tai to, mõm bẹ, lng tơng đối thẳng, dài, ngực nở và sâu, bốnchân vững chắc, bụng to và gọn, vú đều đặn, từ 12 - 14 núm vú, số vú phải chẵn,

bộ phận sinh dục phát triển tốt, không bị viêm Ngoài ra còn có các yếu tố nhtuổi, tính trạng sinh lý cũng ảnh hởng đến khả năng sinh sản của con vật

5.2.2 Các nhân tố ngoại cảnh ảnh hởng đến tính trạng năng suất sinh sản

Cùng với nhân tố di truyền, các nhân tố ngoại cảnh cũng ảnh hởng đếntính trạng sinh sản

5.2.2.1 ảnh hởng của môi trờng sống, mùa vụ

Một con vật không thể có khả năng thích nghi với điều kiện của mọi môi ờng Nó chỉ thích nghi trong những vùng nhất định, trong giới hạn nhiệt độ, độ

ẩm nhất định Nếu vợt quá ngỡng đó nó sẽ trực tiếp gây ảnh hởng đến sự sinh ởng, phát triển của con vật

tr-Khả năng đáp ứng của lợn đối với khí hậu nóng ẩm bị hạn chế do ở lợn córất ít các tuyến mồ hôi nên không thể tự điều chỉnh thân nhiệt bằng các toát mồhôi Hơn nữa, sự bốc hơi nớc giảm đi khi mà độ ẩm không khí tăng lên Trongcác loài động vật có vú, lợn có khả năng chịu nóng thấp nhất và dễ mẫn cảm với

sự dao động nhiệt độ của môi trờng xung quanh Vì vậy, hầu hết các tính trạngsinh sản cũng bị ảnh hởng bởi nhân tố mùa Mùa hè do nhiệt độ cao, thời gian

ánh sáng nóng trong ngày dài nên làm giảm khả năng sinh sản Các nhân tố mùabất lợi tác động rất lớn đến năng suất sinh sản, gây nên những tổn thất kinh tếlớn cho ngành chăn nuôi lợn nh: Làm chậm tuổi thành thục về tính, tăng tỷ lệchết và sẩy thai, giảm tỷ lệ đẻ, tăng thời gian từ cai sữa lứa trớc đến thụ thai lứa

Trang 23

tiếp theo và giảm số con/lứa Nhiệt độ môi trờng xung quanh tăng sẽ gây nên tỷ

lệ chết phôi tăng Có khoảng 1 - 2% nái có chửa có thể bị sẩy thai và cũng cóthể gây nên sẩy thai ở giai đoạn cuối của thời kỳ mang thai Thời gian từ cai sữalứa trớc đến thụ thai lứa tiếp theo đã tăng lên trong các tháng mùa hè Thông th-ờng có khoảng 10 - 20% hậu bị và nái đợc phối bị giảm khả năng sinh sản vàomùa hè và có sự sai khác có ý nghĩa về khoảng thời gian từ cai sữa đến động dụclại giữa các mùa Lợn con đợc đẻ vào mùa đông đều có khối lợng sơ sinh và caisữa cao hơn các mùa khác trong năm (Tạ Thị Bích Duyên, 2003)

Chế độ tiểu khí hậu đặc biệt là chế độ nhiệt - ẩm trong chuồng nuôi có

ảnh hởng rất lớn tới chức năng sinh sản của lợn Đối với lợn nái, nhiệt độ tăng từ

210C - 320C làm giảm tỷ lệ thụ thai và giảm số phôi sống Do đó nhiệt độ trongmùa hè cao hơn trong mùa đông Vào những ngày đầu tiên sau khi phối giốngnhiệt độ cao hơn 300C làm tăng số phôi chết ở lợn chửa Đối với lợn nái chửa, ởnhiệt độ 200C số phôi sống là 11,2, nhng ở nhiệt độ 330C số phôi sống chỉ còn8,4 Nhiệt độ cao kết hợp với độ ẩm cao dễ làm tăng số lợn nái không động dục,nếu sau đó lợn nái đợc chuyển sang nuôi ở nhiệt độ thích hợp (180C - 240C) thìchỉ sau 4 - 17 ngày là chúng lại động dục (Lê Xuân Cơng, 1986)

Trong điều kiện nhiệt độ thấp, độ ẩm cao lợn con dễ bị lạnh, kém ăn,giảm khả năng tiêu hoá thức ăn, sức đề kháng kém Độ ẩm của chuồng tạo điềukiện cho mầm bệnh phát triển, quá trình thối rữa cũng tăng cờng nên các khí độctrong chuồng tăng lên (C02,NH3, H2S, ) Trong lúc đẻ và khi thời gian 2 tuầnsau khi đẻ, nhiệt độ chuồng nuôi không thấp hoặc cao quá (về mùa hè khôngcao hơn 250C, về mùa đông không thấp hơn 140C), độ ẩm không quá 80% Nhiệt

độ cao hoặc thấp quá đều làm rối loạn quá trình điều nhiệt, ảnh hởng đến trạngthái sức khoẻ và sức đề kháng bệnh Trong trờng hợp nhiệt độ quá thấp sẽ phátsinh nhiều bệnh tật ở lợn nhất là bệnh lợn con ỉa cứt trắng, bệnh viêm phổi (Trần

Cừ, 1972)

Ngoài ra, nhân tố ánh sáng cũng ảnh hởng trực tiếp lên cơ thể lợn bằngviệc tăng cờng tổng hợp vitamin D, thông qua đó ánh sáng có vai trò trong quátrình hấp thụ thức ăn, đặc biệt là hấp thụ P và Ca, làm sạch chuồng trại để diệttrùng và diệt các loại nấm mốc gây bệnh, điều hoà nhiệt độ, độ ẩm

Bên cạnh những yếu tố đó, thực tiễn quản lý và phơng thức chăn nuôi

Trang 24

(điều kiện nuôi dỡng, chuồng trại, quy mô đàn, cách sử dụng đực, thời gianphối, trình độ chuyên môn của ngời chăn nuôi, phơng thức quản lý, ) (NinhViết Mỵ, 1978).

Lợn nái có chửa nếu thiếu VitaminA có thể bị sẩy thai hoặc sinh con ra bị

mù mắt hoặc bị chết, lợn con sơ sinh gầy yếu Lợn nái khi nuôi con đòi hỏinhiều chất dinh dỡng để có sữa nuôi con Thức ăn có ảnh hởng lớn đến số lợng

và phẩm chất sữa, từ đó ảnh hởng đến sức khỏe đàn lợn con Đối với từng giốnglợn sinh sản hay từng giai đoạn sinh sản cần lựa chọn thức ăn tốt nhằm nâng caonăng suất sinh sản của chúng (Trần Cừ, 1985)

Sự rối loạn tiêu hoá do cung cấp thức ăn kém phẩm chất thờng làm ngừngtrệ khả năng sinh sản của lợn Protit là thành phần chủ yếu để cấu tạo bào thai vàhình thành nên sữa của lợn mẹ Bởi vậy trong giai đoạn mang thai và giai đoạnnuôi con nếu thiếu protit thì lợn mẹ yếu, sản lợng sữa tiết ra ít, trọng lợng sơsinh và cai sữa của lợn con đều thấp, sức sống kém Các loại chất khoáng nh Ca

và P rất cần thiết cho sự phát triển bộ xơng của thai, nếu thiếu các chất đó trongthức ăn thì sức khoẻ của lợn mẹ sẽ kém, ảnh hởng đến sinh sản (đẻ khó, sữa ít,sau khi đẻ thiếu máu rõ rệt, số thai đẻ ra chết nhiều), sức khỏe của lợn con cũngyếu, mặt khác lợn nái thờng bị bại liệt, ảnh hởng đến lứa đẻ sau (Ninh Viết Mỵ,1978)

Đáp ứng thức ăn cả về số lợng và chất lợng thì mới tăng cờng đợc sức khoẻ

và phòng chống đợc nhiều bệnh tật hơn Thức ăn còn là nhân tố quan trọng đểhạ giá thành sản phẩm, bảo đảm kinh doanh chăn nuôi có lãi, vì chi phí thức ăn

Trang 25

chiếm khoảng 70 - 75% cơ cấu giá thành của 1kg thịt lợn hơi Nếu thức ănkhông đủ, nuôi kéo dài thì mức tiêu tốn thức ăn để tăng 1kg thịt hơi sẽ ngàycàng tăng lên (Ninh Viết Mỵ, Lê Thị Mộng Loan, 1978).

5.2.2.3 ảnh hởng của các nhân tố bệnh tật và lứa đẻ

Bệnh sẽ làm giảm năng suất sinh sản của lợn ở vùng nhiệt đới trong đó cóViệt Nam, nhiệt độ cùng với độ ẩm là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển củacác vi sinh vật gây bệnh Hơn nữa, nớc ta là một nớc đang phát triển, sức khỏecủa động vật cha đợc kiểm tra tốt, bệnh tật sẽ làm tăng giá thành các sản phẩmcủa ngành chăn nuôi Hệ thống chuồng trại phải đợc quan tâm để làm hạn chếviệc giảm khả năng sinh sản Năng suất sinh sản ở lợn có thể đợc phân ra cácloại: Mất khả năng thụ thai, mất toàn bộ lứa đẻ, số con sống/ổ ít, cùng với việc

số con sơ sinh chết và thai gỗ tăng lên Để tránh thiệt hại, ngời chăn nuôi phảiluôn biết kiểm soát đợc tình hình chăn nuôi, phải biết đợc nguyên nhân gâybệnh từ đó có biện pháp khắc phục

Nhân tố lứa đẻ ảnh hởng đến tính trạng số con/lứa Nhiều nghiên cứu liênquan đến nhân tố này đều đa ra kết quả: Nhìn chung số con/lứa tăng từ lứa thứ nhất

đến lứa thứ t, tơng đối ổn định đến lứa thứ sáu và sau đó giảm dần từ lứa thứ bảy(Tạ Thị Bích Duyên, 2003)

Lợn Móng Cái có số con đẻ tăng dần theo lứa, theo kết quả nghiên cứu và

điều tra ở Quảng Ninh (Phạm Hữu Doanh và Lu Kỷ, 2001):

Trang 26

+ Hệ số di truyền hiểu theo nghĩa hẹp đó là tỷ lệ giữa phần biến dị do tác

động cộng gộp của các gen và toàn bộ sự biến dị do các nguyên nhân di truyền

và không di truyền (Nguyễn Văn Thiện, 1996) Trong đó, giá trị cộng gộp biểuhiện sự truyền đạt các gen của bố mẹ cho con cái các gen của chúng Kiểu gen

đợc biến đổi và đặc trng riêng cho mỗi thế hệ Giá trị cộng gộp hay còn gọi giátrị giống là thành phần quan trọng của mỗi kiểu gen, vì nó cố định, có thể ditruyền đợc và là nguyên nhân chính tạo nên sự giống nhau giữa các dòng, lànhân tố chủ yếu sinh ra các đặc tính di truyền trong quần thể Bố mẹ luôn ditruyền lại 1/2 giá trị cộng gộp của chúng cho đời con, giá trị này đã đợc xác

định từ sự đo lờng các tính trạng Để đo lờng giá trị truyền đạt từ bố mẹ cho đờicon phải có một giá trị đo lờng mới liên hệ với gen, chứ không phải liên hệ vớikiểu gen, đó chính là “hiệu ứng trung bình” của các gen Hiệu ứng trung bìnhcủa một gen là sai lệch trung bình của cá thể so với trung bình của cả quần thể,cá thể này đã nhận gen đó từ một bố hoặc một mẹ khác trong quần thể Tác

động của gen gọi là cộng gộp khi giá trị kiểu hình của kiểu gen dị hợp luôn luôn

là trung gian so với kiểu hình của hai kiểu gen đồng hợp và nó phụ thuộc vàocác tính trạng (kg, cm, gr, ) Giả sử tính trạng số lợng đợc biểu hiện bởi mộtcặp gen và có các kiểu gen và kiểu hình nh sau:

Kiểu hình 10 kg 9 kg 8 kgVì gen tác động cộng tính nên giá trị kiểu hình dị hợp luôn nằm trongkhoảng giữa giá trị kiểu hình của các đồng hợp: (AA + aa)/2 = Aa

Hệ số di truyền cho ta một khái niệm về mức tiến triển có thể đạt đợc dochọn lọc đối với một tính trạng nhất định Chẳng hạn, hệ số di truyền về số con

đẻ ra/lứa của lợn là 10% có nghĩa là trong tổng những biến sai có 10% là do cácgen chi phối, còn 90% là do ngoại cảnh chi phối

Trang 27

Khi hệ số di truyền đối với một tính trang là cao thì mối tơng quan giữakiểu hình và kiểu gen của một các thể trung bình sẽ cao và việc chọn lọc trên cơ

sở kiểu hình của bản thân có thể cũng sẽ có hiệu quả Hệ số di truyền cao cũngcho thấy tác động bổ sung của gen là quan trọng đối với tính trạng đó, việc giaophối giữa những con vật tốt nhất sẽ cho phép ta thu đợc những thế hệ sau ng ýhơn

Hệ số di truyền đối với nhiều tính trạng số lợng thờng là thấp, chỉ vàokhoảng 10 - 15% Các tính trạng sinh sản cũng thuộc nhóm này, ví dụ: Số controng một lứa đẻ của lợn Hệ số di truyền thấp cho chúng ta thấy rằng tơng quangiữa kiểu hình và kiểu gen là thấp và nếu chúng ta dùng cá thể u tú đối với tínhtrạng đó để làm giống thì sẽ không thu đợc kết quả nh trờng hợp có hệ số ditruyền cao

Muốn đạt đợc những tiến bộ trong chọn giống khi hệ số di truyền đối vớimột tính trạng là thấp thì cần phải chú ý nhiều hơn đến tính năng sản xuất (thểtrạng) của các quan hệ “bằng vai” và của con cháu

6.2 Hệ số tơng quan (r)

Giữa các tính trạng khác nhau của cùng một cơ thể thờng có mối quan hệ vớinhau Để biểu thị các mối quan hệ này các nhà di truyền chọn giống thờng sử dụngcác tham số: Hệ số tơng quan kiểu hình, hệ số tơng quan di truyền

+ Hệ số tơng quan kiểu hình (rP): Thể hiện mối quan hệ giữa các giá trịkiểu hình của các tính trạng Ví dụ: Lợn là động vật đa tha, mỗi lần đẻ đợc nhiềucon nên khối lợng của mỗi con thấp hơn ở trâu, bò

+ Hệ số tơng quan di truyền (rG): Là tơng quan do các gen quy định đồngthời hai hoặc nhiều tính trạng gây ra Mối tơng quan này có thể là do tác động

đa hiệu của gen, nghĩa là hiện tợng một gen đồng thời điều khiển cả hai tínhtrạng mà cũng có thể là do hai hệ thống gen liên kết điều khiển cả hai tính trạng.Ngoài ra tơng quan di truyền còn có thể xuất hiện khi ta sử dụng liên tục một sốcon vật nuôi nào đó làm giống Nh vậy, nguyên nhân chủ yếu của tơng quan ditruyền là hiện tợng tính đa hiệu của gen

Tơng quan kiểu hình, tơng quan di truyền có thể khác nhau về mức độ.Giữa hai cá thể có thể có hệ số tơng quan kiểu hình cao, nhng tơng quan ditruyền giữa hai tính trạng thấp (Tạ Thị Bích Duyên, 2003)

Trang 28

7 Sự di truyền về sinh sản

Về khả năng sản xuất của mọi đối tợng gia súc, khả năng sinh sản là tínhtrạng quan trọng bậc nhất vì có sinh sản thì mới bảo đảm sự bảo tồn và pháttriển của giống

Hoạt động sinh sản trớc hết là một quá trình chịu sự chi phối nghiêm ngặtcủa quy luật di truyền Ta có thể thấy rõ điều đó qua những bớc:

- Sự phân hoá giới tính ở giai đoạn phôi Quá trình này phụ thuộc vào sự

có mặt của thể nhiễm sắc sử dụng X hay Y trong tế bào trứng và tinh trùng

- Sự phân hoá tế bào theo quy tắc giảm nhiễm để hình thành giao tử Quátrình này bình thờng hay không bình thờng có liên quan đến tính hữu thụ haybất thụ của giao tử và tất nhiên là ảnh hởng đến sinh sản sau này

- Các hoạt động khác của sinh sản nh động dục, rụng trứng, có chửa đềugắn liền với hàm lợng, sự xuất hiện sự điều hoà của các loại hormon theo cơ chếoperon Sự sinh sản của gia súc còn là kết quả của sự phát triển, sự phát dục củagia súc Tính chu kỳ của sinh sản liên quan chặt chẽ với hoạt động thần kinh vàtrao đổi chất Chẳng hạn khi con cái động dục là lúc hoạt động thần kinh hngphấn, đồng hoá giảm, dị hoá tăng lên, niêm mạc âm đạo tử cung tăng sinh, cơquan sinh dục xung huyết, tuyến tử cung tiết nhiều dịch nhờn Hết động dụcthần kinh đi vào trạng thái ức chế, đồng hoá tăng dị hoá giảm, cơ quan sinh dụcthôi xung huyết, niêm dịch thôi chảy

Ngoài những điều khiển của yếu tố di truyền thì các điều kiện ngoại cảnhcũng có tác động rất mạnh đến khả năng sinh sản của gia súc Các giống gia súcnuôi với khẩu phần thiếu protein, vitamin, khoáng sẽ làm giảm khả năng sinhtinh, rụng trứng cũng nh thụ thai Nhiệt độ cũng là yếu tố tự nhiên ảnh hởng đếnsinh sản Nhiệt độ cao làm rối loại nội tiết của gia súc dẫn đến hiện tợng sinhtinh giảm và tinh trùng kỳ hình cao, có thể dẫn đến rối loạn chu kỳ động dục.Tác động trực tiếp của con ngời cũng làm thay đổi khả năng sinh sản của gia súc

nh phơng pháp thụ tinh nhân tạo, các kỹ thuật pha chế, bảo quản tinh dịch lànhững yếu tố làm tăng, giảm tỷ lệ sinh sản

Trang 29

Đối với gia súc lớn, tính di truyền về sinh sản nói chung là yếu ở gia súcnhỏ hệ số di truyền về sinh sản dao động từ 15-17% (Trần Đình Miên, NguyễnKim Đờng, Nguyễn Tiến Văn, 1992)

Về khả năng sinh sản của các cá thể cái ở động vật đa thai có thể dựa vào

số con đẻ ra trong một lứa Song chỉ số đó cha thể xác định đợc một con cái cho

ra bao nhiêu con, cha thể xác định đợc cần thiết bao nhiêu lần giao phối để có

đ-ợc một lần thụ thai Tuy vậy, hai điểm này chỉ đóng vai trò phụ bởi vì chúng đđ-ợccon ngời điều khiển và do đó mất ý nghĩa sinh học của nó Bằng cách nh vậy, sốlợn con đẻ ra trong một lứa có thể phản ánh khả năng sinh sản của lợn nái

8 Giá trị giống

8.1 Khái niệm giá trị giống

Giá trị giống của một cá thể là một đại lợng biểu thị khả năng truyền đạtcác gen từ bố mẹ cho đời con Vì các gen qui định tính trạng số lợng rất nhiều,

do đó ngời ta không thể biết đợc một cách chính xác giá trị giống của một cáthể Trong thực tế, ngời ta chỉ có thể xác định đợc giá trị giống gần đúng củachúng từ các nguồn thông tin khác nhau, tức là giá trị ớc lợng Giá trị giống ớclợng này còn đợc gọi là giá trị giống dự đoán hoặc giá trị giống mong đợi Trongcác nguồn thông tin để xác định giá trị giống ớc lợng thì nguồn thông tin về đờicon của một cá thể là quan trọng nhất Do đó giá trị trung bình của đời con củamột cá thể chính là định nghĩa thực hành về giá trị giống của nó

8.2 Một số nguồn thông tin xác định giá trị giống

Giá trị giống của một con vật là thớc đo đích thực về khả năng truyền lại vốngen của nó cho đời sau Chúng ta cha biết đợc chính xác con vật đó mang gen gì

và mang bao nhiêu gen, vì vậy không bao giờ đánh giá đúng đợc giá trị giốngcủa nó, mà chỉ xác định đợc giá trị giống ớc lợng thông qua một số nguồn thôngtin:

- Năng suất của chính bản thân cá thể con vật về tính trạng đó hoặc các tínhtrạng khác (số liệu thu đợc của một cá thể có thể bao gồm kiểu hình của nó đối vớicác tính trạng có liên quan) Nếu một tính trạng đợc xác định nhiều hơn một lần,

Trang 30

số liệu thu đợc của cá thể đó có thể bao hàm nhiều số đo lặp đi lặp lại đối với tínhtrạng đó (ví dụ số con/lứa, trọng lợng lợn con/lứa, v.v.).

- Năng suất của anh chị em thân thuộc của con vật về tính trạng đó hoặccác tính trạng khác

- Năng suất của tổ tiên con vật

Mức độ quan trọng cho mỗi nguồn thông tin trên đây phụ thuộc vào một

(2) Số lợng số liệu của mỗi nguồn thông tin Càng có nhiều nguồn thông tinthì mức độ ớc lợng giá trị giống càng chính xác Do vậy giá trị trung bình của mộtgia đình lớn thì chính xác hơn so với một gia đình nhỏ

(3) Mối quan hệ của cá thể đối với nguồn thông tin Nguồn thông tin cóquan hệ di truyền với cá thể càng gần càng tốt

(4) Mức độ giống nhau về kiểu hình của các cá thể có trong nguồn thôngtin

9 Cơ sở di truyền của chọn lọc và chọn phối gia súc

9.1 Cơ sở di truyền của chọn giống

Giống là một quần thể gia súc do con ngời chọn lọc và tạo nên, có những

đặc tính di truyền nhất định về hình thái, sinh lý và năng suất tơng tự nhau Nhvậy khi nói đến chọn lọc trong công tác giống gia súc tức là nói đến chọn lọcnhân tạo

Công tác chọn giống đợc phản ánh, đợc đánh giá trên cơ sở:

- Kiểu hình hay còn gọi là năng suất (record) mà thế hệ trớc của nó đạt đợc(có thể là ở ông bà, cha mẹ, gọi là tổ tiên) Sở dĩ đây là một căn cứ vì tổ tiêntruyền đạt lại 50% bản chất di truyền của mình (từ mỗi phía đực hoặc cái) cho thế

hệ sau Căn cứ này giúp ta có thể chọn lọc con vật ngay khi còn non

Trang 31

- Kiểu hình hay năng suất của bản thân Đây là căn cứ chính xác nhất, các sốliệu thu đợc ở đây không chỉ phản ánh khả năng di truyền mà còn thể hiện sự phùhợp hay không phù hợp của con vật với môi trờng nó đang sống Tuy nhiên, khôngphải tính trạng nào cũng có thể đánh giá ngay đợc trên con vật, ví dụ nh phẩm chấtthịt của đực giống, khả năng cho sữa và đẻ con ở con cái.

- Kiểu hình hay năng suất của các anh, chị em (có thể là ruột hoặc 1/2).Thờng ngời ta gọi đây là kết quả của kiểm tra đồng thời Tuy kiểu di truyền cụthể của mỗi cá thể là khác nhau, song chúng có chung bố mẹ hoặc chỉ chung bốhoặc mẹ thì bản chất di truyền có phần giống nhau Căn cứ này có u việt là kiểuhình đợc hình thành trong điều kiện môi trờng gần giống nhau cho dù phản ứngcủa các cá thể khác nhau với các điều kiện môi trờng giống nhau có thể khácnhau

- Kiểu hình hay năng suất của đời sau (con, cháu) Căn cứ này có hạn chếlàm chậm các quyết định chọn lọc, các cá thể đợc chọn lọc có thể đã ở một tuổinhất định Song đối với gia súc, đặc biệt đối với động vật đa thai nh lợn thì căn

cứ này vẫn tốt với các số liệu, tài liệu giúp ta làm căn cứ cho việc quyết địnhviệc chọn phơng pháp chọn lọc, các căn cứ đó cũng nh phơng pháp chọn lọc cònphụ thuộc vào bản chất di truyền của tính trạng mà đại diện cho nó là hệ số ditruyền Đối với các tính trạng sinh sản thì đó là những tính trạng có hệ số ditruyền thấp (< 30%)

Nh vậy, muốn chọn lọc các thể phải dựa vào tổ tiên, bản thân, đời sau vìbản thân thừa hởng những đặc tính di truyền của tổ tiên và di truyền các đặc tính

đó cho đời sau

Muốn đánh giá con vật để chọn lọc trớc tiên phải xem xét sự biểu hiệnkiểu hình của nó về ngoại hình, thể chất, về sự sinh trởng phát dục, về sức sảnxuất Tuy nhiên, cần hiểu rằng những điều kiện môi trờng, những biện phápchăm sóc nuôi dỡng có ảnh hởng mạnh tới kiểu hình cá thể (Trần Đình Miên,Nguyễn Kim Đờng, Nguyễn Tiến Văn, 1992)

Với các căn cứ và các phơng pháp trên chúng ta có thể áp dụng việc chọnlọc trên đơn lẻ cá thể gia súc hoặc theo họ, gia đình tuỳ thuộc vào mục tiêu chọnlọc, loại gia súc áp dụng chọn lọc, để nhằm mục tiêu nâng cao giá trị nói chungcủa con vật trong công tác chọn giống

Ngày đăng: 21/12/2013, 12:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Cừ. Sinh lý học gia súc, NXB Nông thôn, 1975 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học gia súc
Nhà XB: NXB Nông thôn
2. Trần Cừ, Nguyễn Khắc Khôi. Cơ sở sinh học và biện pháp nâng cao năng suất của lợn, NXB Nông Nghiệp, 1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh học và biện pháp nâng cao năng suất"của lợn
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
3. Trần Cừ. Cơ sở sinh lý của nuôi dỡng lợn con, NXB Khoa học và Kỹ thuật Hà Néi, 1972 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh lý của nuôi dỡng lợn con
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật HàNéi
4. Lê Xuân Cơng. Năng suất sinh sản của lợn nái, NXB Khoa học và Kỹ thuật, 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng suất sinh sản của lợn nái
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
5. Phạm Hữu Doanh, Lu Kỷ. Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái mắn đẻ sai con, NXB Nông Nghiệp, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái mắn đẻ sai con
Nhà XB: NXBNông Nghiệp
6. Tạ Thị Bích Duyên. Xác định một số đặc điểm di truyền, giá trị giống về khả năng sinh sản của lợn Yorkshire và Landrace nuôi tại các cơ sở An Khánh, Thụy Phơng và Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định một số đặc điểm di truyền, giá trị giống về khả năng sinh

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Nguồn gốc các giống lợn hiện nay - Nghiên cứu đánh giá tiềm năng di truyền về khả năng sinh sản của giống lợn nái móng cái
Sơ đồ 1 Nguồn gốc các giống lợn hiện nay (Trang 6)
Bảng 1: Tổng đàn lợn của một số quốc gia nuôi nhiều lợn ở Châu á (triệu con) - Nghiên cứu đánh giá tiềm năng di truyền về khả năng sinh sản của giống lợn nái móng cái
Bảng 1 Tổng đàn lợn của một số quốc gia nuôi nhiều lợn ở Châu á (triệu con) (Trang 7)
Sơ đồ nguồn gốc trên đây (B.pvôncopialop, 1995) chúng ta có thể hình dung và hiểu đợc sự liên quan giữa hai loại lợn á - Âu và chừng mực nào nguồn gốc của lợn địa phơng hiện có ở nớc ta (Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đờng, Nguyễn Tiến Văn, 1992). - Nghiên cứu đánh giá tiềm năng di truyền về khả năng sinh sản của giống lợn nái móng cái
Sơ đồ ngu ồn gốc trên đây (B.pvôncopialop, 1995) chúng ta có thể hình dung và hiểu đợc sự liên quan giữa hai loại lợn á - Âu và chừng mực nào nguồn gốc của lợn địa phơng hiện có ở nớc ta (Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đờng, Nguyễn Tiến Văn, 1992) (Trang 7)
Sơ đồ 2:   Minh họa các giai đoạn của chu kỳ động dục - Nghiên cứu đánh giá tiềm năng di truyền về khả năng sinh sản của giống lợn nái móng cái
Sơ đồ 2 Minh họa các giai đoạn của chu kỳ động dục (Trang 14)
Bảng 5: Một số vấn đề về tính hiệu quả của hai phơng pháp phối giống ở lợn - Nghiên cứu đánh giá tiềm năng di truyền về khả năng sinh sản của giống lợn nái móng cái
Bảng 5 Một số vấn đề về tính hiệu quả của hai phơng pháp phối giống ở lợn (Trang 33)
Bảng 2: Năng suất sinh sản của lợn nái Móng Cái nuôi ở Nam Liên-Nam Đàn - Nghiên cứu đánh giá tiềm năng di truyền về khả năng sinh sản của giống lợn nái móng cái
Bảng 2 Năng suất sinh sản của lợn nái Móng Cái nuôi ở Nam Liên-Nam Đàn (Trang 48)
Bảng 3: Khả năng sinh sản của lợn nái Móng Cái nuôi ở Hng Tiến–Hng Nguyên - Nghiên cứu đánh giá tiềm năng di truyền về khả năng sinh sản của giống lợn nái móng cái
Bảng 3 Khả năng sinh sản của lợn nái Móng Cái nuôi ở Hng Tiến–Hng Nguyên (Trang 51)
Bảng 4: Năng suất sinh sản của lợn nái Móng Cái nuôi ở Hng Tiến–Hng Nguyên - Nghiên cứu đánh giá tiềm năng di truyền về khả năng sinh sản của giống lợn nái móng cái
Bảng 4 Năng suất sinh sản của lợn nái Móng Cái nuôi ở Hng Tiến–Hng Nguyên (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w