1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm sinh học, thành phần hoá học tinh dầu của một số loài thuộc chi cinnamomum và litsea trong họ long não ( lauraceae) ở vườn quốc gia vũ quang, hà tĩnh

72 1,2K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đặc điểm sinh học, thành phần hoá học tinh dầu của một số loài thuộc chi Cinnamomum và Litsea trong họ Long não (Lauraceae) ở Vườn Quốc gia Vũ Quang, Hà Tĩnh
Tác giả Nguyễn Thị Hiền
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Thực vật
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 879 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH NGUYỄN THỊ HIỀN NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, THÀNH PHẦN HOÁ HỌC TINH DẦU CỦA MỘT SỐ LOÀI THUỘC CHI CINNAMOMUM VÀ LITSEA TRONG HỌ LONG NÃO LAUR

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ HIỀN

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, THÀNH PHẦN HOÁ HỌC TINH DẦU CỦA MỘT SỐ

LOÀI THUỘC CHI CINNAMOMUM VÀ LITSEA

TRONG HỌ LONG NÃO (LAURACEAE) Ở VƯỜN QUỐC GIA VŨ QUANG, HÀ TĨNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC

(Chuyên ngành: Thực vật)

Vinh – 2010

Trang 2

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Trong các họ cây của nước ta cũng như trên thế giới, họ Long não(Lauraceae) là một trong những họ lớn của thực vật hạt kín Chúng tập trungchủ yếu ở vùng nhiệt đới, đặc biệt là vùng Đông Nam Á Xu hướng hiện naycủa các nhà khoa học trên thế giới đang tập trung nghiên cứu không chỉ về sinhhọc, sinh thái mà đặc biệt là tìm kiếm các hợp chất thiên nhiên có hoạt tính sinhhọc có thể ứng dụng trong lĩnh vực y dược và thực phẩm

Việt Nam là một trong những trung tâm thực vật của Châu Á và thế giới

có nguồn tài nguyên thực vật phong phú và đa dạng Kinh nghiệm dân gian chothấy nhiều loài trong họ Long não được các bà con dân tộc sử dụng các bộphận khác nhau làm thuốc Do vậy, nghiên cứu họ Long não để có cơ sở khoahọc nhằm khai thác và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thực vật đã và đang

là mối quan tâm của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước Trong số cácnhóm cây tài nguyên thực vật thì nhóm cây chứa tinh dầu chiếm vị trí quantrọng Đây là nguồn nguyên liệu thiết yếu của nhiều ngành công nghiệp như

mỹ phẩm, thực phẩm và dược phẩm Hiện nay, hầu hết các loài trong chi

Long não (Cinnamomum) và một số loài trong chi Màng tang (Litsea) đều cókhả năng sinh tổng hợp và tích luỹ các hợp chất tự nhiên chứa tinh dầu Vì vậy,việc nghiên cứu các cơ sở khoa học cho việc sử dụng và khai thác chúng là vấn

đề quan tâm cần được đặt ra

Vườn Quốc gia Vũ Quang được thành lập năm 2002, nơi có nhiều loàisinh vật đặc hữu chỉ có ở Việt Nam và được đánh giá có tính đa dạng sinh họccao với 478 loài thực vật bậc cao có mạch [13] Đây là nguồn tài nguyên vôcùng phong phú và đa dạng Việc thu thập các dữ liệu về các đặc điểm sinhhọc, sinh thái và hóa tinh dầu của một số loài trong chi Long não

(Cinnamomum) và chi Màng tang (Litsea)của họ Long não (Lauraceae) nhằmtìm hiểu khả năng ứng dụng của nó là công việc có ý nghĩa cả về khoa học và

Trang 3

thực tiễn Xuất phát từ mục tiêu trên, chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu đặcđiểm sinh học, thành phần hoá học tinh dầu của một số loài thuộc chi

Cinnamomum và Litsea trong họ Long não (Lauraceae) ở Vườn Quốc gia Vũ

Quang, Hà Tĩnh”

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Nghiên cứu thành phần loài, đặc điểm sinh học và sự phân bố của

các loài thực vật thuộc chi Cinnamomum và chi Litsea trong họ Long não

(Lauraceae) tại Vườn Quốc gia Vũ Quang, Hà Tĩnh

2.2 Nghiên cứu thành phần hoá học tinh dầu của một số đại diện thuộchai chi nói trên

Chương 1

Trang 4

TỔNG QUAN

1.1 Tình hình nghiên cứu thực vật trên thế giới

Giới thực vật hiện đã phát hiện được không ít hơn 300.000 loài Chúngkhông chỉ đa dạng về thành phần loài mà còn đa dạng về hình thái, sinh thái vàcông dụng Có được những tri thức về phân loại học và quá trình tiến hoá củathực vật ngày nay với lý luận và các bằng chứng tương đối xác thực là nhờcông lao của nhiều nhà thực vật học đã kế thừa và phát triển xây dựng lên.Những nghiên cứu đầu tiên về thực vật có ở Ai Cập (3.000 năm TCN) và

ở Trung Quốc (2.200 năm TCN) Théophraste (371-268 TCN) là người đầutiên đề xướng ra phương pháp phân loại học thực vật trong 2 tác phẩm “Lịch

sử thực vật” và “Cơ sở thực vật”, ông đã mô tả 445 loài cây [theo 38] Tiếpđến là Plinus (79-24 TCN) viết bộ “Lịch sử tự nhiên” đã mô tả gần 1.000 loàicây [theo 11] Phân loại học phát triển mạnh vào (thế kỷ XV- XVI) như là: Sựphát sinh tập bách thảo (herbier) vào thế kỷ XVI và thành lập các vườn báchthảo (thế kỷ XV- XVI) biên soạn cuốn “Bách khoa toàn thư” về thực vật.Người được mệnh danh là “Ông tổ” phân loại học phải kể đến nhà thực vậthọc Thụy Điển Linnee (1707-1778) Trong tác phẩm “Hệ thống tự nhiên” củamình ông đã mô tả gần 10.000 loài cây, sắp xếp chúng vào một hệ thống gồm

24 lớp, trong đó thực vật có hoa 23 lớp (lớp 1 nhị, lớp 2 nhị ), lớp 24 baogồm Tảo, Nấm, Địa y, Rêu, Dương xỉ và Hạt trần Cơ sở của hệ thống nàyông dựa vào bộ nhị, bộ nhụy để phân loại, đồng thời ông đề xuất ra cách gọitên loài bằng 2 chữ la tinh [theo 11]

Sau Linnee là các hệ thống phân loại của Bernard Jussieu (1699 - 1777) vàAntoine Laurent de Jussieu (1748 - 1836) đã sắp xếp thực vật từ thấp đến cao[theo 38] Decandol (1778 - 1841) đã mô tả được 161 họ và đưa phân loại trởthành bộ môn khoa học [theo 11] Robert Brown (1773 - 1858) đã tách rời hainhóm hạt trần và hạt kín [theo 38] Gophmeister đã phân chia thực vật có hoa

Trang 5

và không có hoa xác định được vị trí hạt trần nằm giữa quyết và thực vật hạtkín [theo 38].

Đến năm 1993, Walters và Hamilten thống kê được trong hai tác phẩmthì trong hai thế kỉ qua đã có 1,4 triệu loài sinh vật đã được mô tả và đặt tên.Trong đó ít nhất có tới 5 triệu loài nhưng có lẽ 30 triệu loài được lưu giữtrong các cuốn danh lục [theo 38] Cho đến nay, ở vùng nhiệt đới đã xác địnhđược khoảng 90.000 loài, trong đó ở vùng ôn đới Bắc Mỹ và Âu, Á đã có50.000 loài được xác định, điều đó chứng tỏ hệ thống thực vật nhiệt đới vôcùng phong phú về thành phần loài [theo 39]

Cho đến thế kỷ XIX việc nghiên cứu các hệ thực vật đã thực sự phát triểnmạnh mẽ với nhiều công trình có giá trị được công bố như: Thực vật chíHồng Công, thực vật chí Anh (1869), thực vật chí Ấn Độ 7 tập (1872-1897),thực vật Vân Nam (1977), thực vật chí Malayxia, thực vật chí Trung Quốc,thực vật chí Liên Xô, thực vật Australia, thực vật chí Thái Lan,

1.2 Tình hình nghiên cứu thực vật ở Việt Nam

Ngoài những tác phẩm cổ điển của Loureiro (1790), của Pierre (1879 1907), từ những năm đầu thế kỷ XX đã xuất hiện một công trình nổi tiếng, lànền tảng cho việc đánh giá tính đa dạng thực vật Việt Nam, đó là bộ thực vậtchí Đông Dương do Lecomte H chủ biên (1907 - 1951) Trong công trìnhnày, các tác giả người Pháp đã thu mẫu và định tên, lập khoá mô tả các loàithực vật có mạch trên toàn bộ lãnh thổ Đông Dương [theo 38]

-Trên cơ sở bộ thực vật chí Đông Dương, Thái Văn Trừng (1978) đãthống kê hệ thực vật Việt Nam có 7.004 loài, 1.850 chi và 289 họ [40] NgànhHạt kín có 3.366 loài (90,9%), 1.727 chi (93,4%) và 239 họ (82,7%) NgànhDương Xỉ và họ hàng Dương Xỉ có 599 loài (8,6%), 205 chi (5,57%) và 42 họ(14,5%) Ngành Hạt trần có 39 loài (0,5%), 18 chi (0,9%) và 8 họ (2,8%)

Về sau Humbert (1938 - 1950) đã bổ sung, chỉnh lý để hoàn thiện việcđánh giá thành phần loài cho toàn vùng và gần đây phải kể đến bộ Thực vậtchí Campuchia, Lào và Việt Nam do Aubréville khởi xướng và chủ biên

Trang 6

(1960 - 1997) cùng với nhiều tác giả khác Đến nay đã công bố 29 tập nhỏgồm 74 họ cây có mạch, nghĩa là chưa đầy 20% tổng số họ đã có [theo 38].Trên cơ sở các công trình đã có, năm 1965 Pócs Tamás đã thống kê được

ở Miền Bắc có 5.190 loài [theo 38] và năm 1969 Phan Kế Lộc thống kê và bổsung nâng số loài ở miền Bắc lên 5.609 loài, 1.660 chi và 140 họ (xếp theo hệthống Engler), trong đó có 5.069 loài thực vật Hạt kín và 540 loài thuộc cácngành còn lại [theo 38] Song song với sự thống kê đó ở Miền Bắc từ 1969 -

1976, nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật đã cho xuất bản bộ sách "Cây cỏthường thấy ở Việt Nam" gồm 6 tập do Lê Khả Kế chủ biên [22] và ở MiềnNam, Phạm Hoàng Hộ công bố hai tập “Cây cỏ Miền Nam Việt Nam” giớithiệu 5.326 loài, trong đó có 60 loài thực vật bậc thấp và 20 loài Rêu, còn lại5.246 loài thực vật có mạch [16]

Để phục vụ công tác khai thác tài nguyên, Viện Điều tra Quy hoạchRừng đã công bố 7 tập “Cây gỗ rừng Việt Nam” (1971 - 1988) giới thiệu kháchi tiết cùng với hình vẽ minh hoạ [41] Trần Đình Lý và tập thể (1993) công

bố “1.900 loài cây có ích ở Việt Nam” [28] Để phục vụ cho công tác bảo tồnnguồn gen thực vật, năm 1996 các nhà thực vật Việt Nam đã cho xuất bảncuốn "Sách đỏ Việt Nam", phần thực vật đã mô tả 356 loài thực vật quý hiếm

ở Việt Nam có nguy cơ tuyệt chủng và được bổ sung tái bản năm 2007 [5];

Võ Văn Chi (1997) công bố” Từ điển cây thuốc Việt Nam” [10]

Đáng chú ý nhất phải kể đến bộ “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ(1991 - 1993) xuất bản tại Canada và đã được tái bản có bổ sung tại Việt Namtrong những năm gần đây [18], [19] Đây là bộ danh sách đầy đủ nhất và dễ

sử dụng nhất góp phần đáng kể cho khoa học thực vật ở Việt Nam Bên cạnh

đó, một số họ riêng biệt đã được công bố như họ Thầu dầu (Euphorbiaceae)của Nguyễn Nghĩa Thìn (2006) [65], Annonaceae của Nguyễn Tiến Bân(2000), Myrsinaceae của Trần Thị Kim Liên (2002) Đây là những tài liệuquan trọng nhất làm cơ sở cho việc đánh giá về đa dạng phân loại thực vậtViệt Nam

Trang 7

Bên cạnh những công trình mang tính chất chung cho cả nước hay ít ramột nửa đất nước, có nhiều công trình nghiên cứu khu hệ thực vật từng vùngđược công bố chính thức như “Danh lục thực vật Tây Nguyên” đã công bố3.754 loài thực vật có mạch do Nguyễn Tiến Bân, Trần Đình Đại, Phan Kế Lộcchủ biên (1984) [3]; Phan Kế Lộc, Lê Trọng Cúc (1997) công bố “Danh lụcthực vật Sông Đà” [26], “Danh lục thực vật Phú Quốc” của Phạm Hoàng Hộ(1985) công bố 793 loài thực vật có mạch trong một diện tích 592 km2 [17]; LêTrần Chấn, Phan Kế Lộc, Nguyễn Nghĩa Thìn, Nông Văn Tiếp (1994) nghiêncứu về hệ thực vật Lâm Sơn, Lương Sơn (Hoà Bình) [9]; Nguyễn Nghĩa Thìn

và Nguyễn Thị Thời (1998) đã giới thiệu 2.024 loài thực vật bậc cao, 771 chi,

200 họ thuộc 6 ngành của vùng núi cao Sa Pa - Phan Si Pan [39]

Gần đây tập thể các nhà thực vật Việt Nam đã công bố “Danh lục cácloài thực vật Việt Nam” từ bậc thấp đến bậc cao Có thể nói đây là công trìnhtổng hợp đầy đủ nhất từ trước tới nay và cũng là tài liệu cập nhật nhất Cuốnsách đã giới thiệu 368 loài Vi khuẩn lam, 2.200 loài Nấm, 2.176 loài Tảo, 461loài Rêu, 1 loài Quyết lá thông, 53 loài thông đất, 2 loài Cỏ tháp bút, 691 loàiDương xỉ, 69 loài Hạt trần, và 13.000 thực vật Hạt kín, đưa tổng số các loàithực vật ở Việt Nam lên trên 20.000 loài [2]

1.3 Nghiên cứu về họ Long não

Họ Long Não (Lauraceae) đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới quantâm nghiên cứu bởi tính đa dạng, phong phú của nó Người đầu tiên nghiêncứu họ Long não là Jussieu (1789-1824) Họ Long não trên thế giới cókhoảng 55 chi và trên 2.500 loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cậnnhiệt đới, đặc biệt là vùng Đông Nam Á và Braxin [62] Chi Long não

(Cinnamomum) có khoảng 250 loài và chi Màng tang (Litsea) có khoảng 400

loài, là cây gỗ hay cây bụi, phân bố ở vùng á nhiệt đới và nhiệt đới Châu Á vàAustralia [62]

Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến cây họ Longnão như Lê Khả Kế (1969 - 1976) [22]; Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến (1978)

Trang 8

[11]; Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (1984) [3], Phạm Hoàng Hộ (1991) và táibản (1999) đã vẽ hình và mô tả các loài thuộc họ Long não với 243 loài thuộc

18 chi [19] Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thanh Nhàn (2004), nghiên cứu hệ

thực vật Pù Mát đã công bố 18 loài thuộc chi Cinnamomum và 21 loài thuộc chi Litsea [36] Đỗ Ngọc Đài (2010) đã công bố ở Xuân Liên với 10 loài trong chi Cinnamomum và 10 loài trong chi Litsea [14] Viện điều tra quy

hoạch rừng điều tra đa dạng hệ thực vật Bến En (2000), đã xác định được 7

loài thuộc chi Cinnamomum và 8 loài thuộc chi Litsea [42] Nguyễn Nghĩa

Thìn, Mai Văn Phô (2003), nghiên cứu đa dạng hệ thực vật Bạch Mã đã thống

kê được 14 loài thuộc chi Cinnamomum và 15 loài thuộc chi Litsea [37].

Phùng Ngọc Lan và cộng sự (1996), nghiên cứu hệ thực vật Cúc Phương đã

công bố 9 loài thuộc chi Cinnamomum và 12 loài thuộc chi Litsea [24].

Nguyễn Nghĩa Thìn (2006), khi nghiên cứu hệ thực vật Na Hang đã thống kê

được 2 loài thuộc chi Cinnamomum và 5 loài thuộc chi Litsea [35] Trong khi

nghiên cứu hệ thực vật Ở Sa Pa - Phan xi Pan (1998), tác giả cũng thống kê

được 3 loài thuộc chi Cinnamomum và 6 loài thuộc chi Litsea [39] Khi

nghiên cứu hệ thực vật Sông Đà (1997), Lê Trần Chấn và cộng sự đã thống kê

được 15 loài Cinnamomum và 12 loài thuộc chi Litsea [26].

Nghiên cứu đầy đủ nhất về họ Long não là các công trình của NguyễnKim Đào (2003), tác giả đã nghiên cứu về thực vật, sự phân bố của các loàitrong họ Long não ở các khu vực khác nhau trên cả nước và được tổng hợpthống kê thành phần đầy đủ trong "Danh lục các loài thực vật Việt Nam" với

265 loài thuộc 21 chi, trong đó chi Cinnamomum có 45 loài và chi Litsea có

Trang 9

ngược (Actinodaphne obovata (Ness) Blume), Bời lời chanh (Litsea cubeba),

- Nhóm cây cho gỗ: Quế bời lời (Cinamomum polydelphum (Lour.) Kost), Bời lời trung bộ (Litsea griffithi var annamensis Liou), Quế thanh (Cinnamomum cassia Presl), Re hương (Cinnamomum balansae)

- Nhóm cây cho tinh dầu khá phong phú gồm một số đại diện chính như: Re

cuống dài (Cinamomum longepetiolatum Kosterm apud Phamh.), Quế thanh (Cinnamomum cassia Presl), Long não (Cinnamomum camphora), Bời lời nhớt (Litsea glutinosa (Lour.) C B Rob.), Bời lời đắng (Litsea umbellata (Lour.) Merr.), Re trắng mũi mác (Phoebe lanceolata (Wall ex Nees) Nees), Re hương (Cinnamomum balansae),

1.4 Nghiên cứu về đặc tính tinh dầu của chi Cinnamomum và chi Litsea

trên thế giới và trong nước

Tinh dầu là hỗn hợp các hợp chất hữu cơ có cấu tạo phức tạp và khá khácnhau về cả đặc tính lý học và hóa học Chúng có một số đặc tính chung như cómùi thơm, có khả năng bay hơi, dễ tan trong dung môi hữu cơ Tinh dầu cótác dụng sinh lý rõ rệt đối với cơ thể, tinh dầu còn có tính sát trùng và khángkhuẩn, chúng giữ vai trò quan trọng trong công nghiệp chế biến thực phẩm, mỹphẩm Tinh dầu có thể phân bố trong các bộ phận khác nhau của cây như lá,hoa, quả, vỏ và thân, rễ Nhiều đơn chất được tách ra từ tinh dầu là nguyên liệuban đầu để chuyển hóa và tổng hợp các hợp chất khác Trong hệ thực vật ViệtNam có khoảng gần 657 loài có tinh dầu gồm 357 chi và 114 họ [29]

Chi Long não (Cinnamomum):

Trong 250 loài của chi Long não (Cinnamomum) trên thế giới thì có trên

100 loài đã được nghiên cứu Ở Việt Nam, chi Long não có 45 loài (theoNguyễn Kim Đào, 2003) Hầu hết các loài trong chi Long não đều chứa tinhdầu, tuy nhiên hàm lượng và thành phần hóa học của tinh dầu ở mỗi loàithường khác nhau Một số loài thành phần chủ yếu của tinh dầu làcinnamaldehyd, ở những loài khác thì thành phần lại là các hợp chất như

Trang 10

eugenol, camphor hay safrol Trong đó một số loài đã được nghiên cứu khá sâu

như: đối với lá loài Long não (Cinnamomum camphora) ở Trung Quốc đã xác

định thành phần hóa học chính của tinh dầu là camphor (83,87%), với loài Xá

xị (Cinnamomum parthenoxylum) có các thành phần chính là -pinen

(22,41%), sabinen (12,71%) và terpinen-4-ol (21,21%) Ở Malayxia, thành

phần chủ yếu là eugenol (45%) và safrol (20%) Từ loài Cinnamomum platyphyllum cấu tử chính là trans-methyl iso-eugenol (94,04%) Loài Cinnamomum septentrionale là trans-methyl iso-eugenol (85,71%) [69]

Vỏ và lá của loài Quế đơn (C cassia) đều chứa tinh dầu với thành phần

tương tự nhau Hàm lượng tinh dầu trong vỏ khá cao và thay đổi từ 1,0% đến4,0%; còn trong lá thường thấp, chỉ trong khoảng 0,3-0,8% Tinh dầu từ vỏQuế đơn chứa tới 70-95% (E)-cinnamaldehyd, ngoài ra còn khoảng gần 90hợp chất khác nữa, trong đó đáng lưu ý là benzaldehyd, coumarin, cinnamylacetat, 2-methoxycinnamaldehyd, 2-methoxybenzaldehyd, 2-phenylethylacetat, (Z)-cinnamic aldehyd, salicylaldehyd, benzyl benzoate,phenylpropanal ; thường không chứa eugenol hoặc không đáng kể Thànhphần chủ yếu của tinh dầu lá quế đơn cũng là (E)-cinnamaldehyd (70-90%),ngoài ra còn có khoảng 20 hợp chất khác, trong đó có 2-methoxycinnamaldehyd; benzaldehyd; salicylaldehyd; phenylpropanal; (E)-cinnamal acetat; coumarin Chồi búp của Quế đơn cũng chứa tới 1,9% tinhdầu với thành phần chủ yếu là các aldehyd (80%) [68], [69]

Nhưng tinh dầu vỏ Quế đơn (C cassia) được sản xuất từ Australia thì

thành phần hóa học lại chỉ gồm khoảng 40 hợp chất, trong đó chủ yếu làcinnamic aldehyd (87,0%), tiếp đến là benzaldehyd (4,7%), 2-phenylethanol(2,5%), 3- phenylpropanal (2,0%), 1,8-cineol (0,7%), 4-ethylguaiacol (0,5%),ethyl cinnamat (0,4%), cuminaldehyd (0,4%), chavicol (0,3%) và counarin(0,3%); các thành phần còn lại chỉ có hàm lượng không đáng kể hoặc vết(Senanayake, 1997) [theo 29]

Trang 11

Tinh dầu từ lá Quế đơn thường có màu nâu đậm và thành phần hóa họcchủ yếu cũng là (E)-cinnamaldehyd (70-90%), ngoài ra còn có coumarin,cinnamyl acetat, 2-methoxycinnamaldehyd, benzaldehyd,

Nghiên cứu thành phần hóa học của tinh dầu lá Quế đơn trồng tại TrungQuốc, Zhu và cộng sự (1993) đã xác định được 15 hợp chất, trong đó nhiềunhất là cinnamic aldehyd (74,1%), 2-methoxycinnamaldehyd (10,5%),cinnamyl acetat (6,6%), coumarin (1,2%), benzaldehyd (1,1%), các hợp chấtcòn lại có hàm lượng không đáng kể [69]

Cũng với tinh dầu lá Quế đơn, nhưng sinh trưởng tại Australia, theoSenanayake (1997), ngoài thành phần chính là cinnamic aldehyd (77,2%) còn

có tới trên 30 hợp chất khác, trong đó đáng chú ý là coumarin (15,3%),cinnamyl aldehyd (3,6%), benzaldehyd (1,2%), 4-ethylguaiacol (0,8%), ethylcinnamic (0,4%) Các thành phần còn lại thường không đáng kể

Như vậy hàm lượng của (E)-cinnamic aldehyd cũng như các thành phầnkhác trong tinh dầu vỏ và tinh dầu lá Quế đơn cũng luôn biến đổi dưới tácđộng của các yếu tố di truyền, điều kiện môi trường và thời vụ thu hái

Ở nước ta, khi phân tích các mẫu tinh dầu Quế đơn (C cassia) khác nhau

đã cho thấy, chúng dao động trong những giới hạn nhất định Tỷ trọng củatinh dầu ở 200C từ 1,045 - 1,072, chỉ số chiết quang 1,602 - 1,604, hàm lượng(E)-cinnamaldehyd từ 80 - 95%, ngoài ra còn có các hợp chất khác nhưcinnamyl acetat, cinnamyl alcohol, coumarin, benzyl benzoat,

Ở Quế thanh (C loureirii), tinh dầu chứa trong vỏ với hàm lượng khá

cao và thay đổi trong khoảng từ 1,0% đến 7,0% Tinh dầu chưng cất từ vỏQuế thanh thường có màu vàng nâu và thành phần chính của tinh dầu cũng là(E)-cinnamaldehyd (80-92,5%); ngoài ra khoảng trên 10 hợp chất khác đãđược xác định, trong đó có các chất 3-phenypropanal, (Z)-cinnamic aldehyd,coumarin, benzaldehyd, eugenol, β-caryophyllen, camphor, linalool [53].Tinh dầu từ lá Quế thanh có màu nâu nhạt và thành phần hóa học có sai khác

rõ với tinh dầu từ vỏ

Trang 12

Trong vỏ của loài Quế trèn (C burmanni) chứa 1,0-4,0% tinh dầu,

thường không màu hoặc có màu vàng nâu nhạt với thành phần chính cũng làcinnamaldehyd (60-85%), các hợp chất khác có hàm lượng đáng kể gồm: 1,8-cineol, α-terpineol, camphor, terpinen-4-ol, borneol, α-pinen, β-caryophyllen,para-cymen, camphen…; không có eugenol Tinh dầu từ lá Quế trèn cũnggồm chủ yếu là cinnamaldehyd, nhưng tinh dầu từ vỏ rễ lại có thành phầnchính là camphor [55]

Hàm lượng tinh dầu ở Quế xây lan (C verum) thường thấp (0,5-2,0%

trong vỏ và 0,7-1,2% trong lá) Tinh dầu từ vỏ cũng chứa chủ yếu là cinnamaldehyd (46,5-89%), các thành phần khác đáng chú ý là limonene, β-caryophyllen, eugenol, linalool, α-pinen, para-cymen… Khác với tinh dầu từ

(E)-vỏ, tinh dầu từ lá Quế xây lan lại có thành phần chính là eugenol (60-88%),ngoài ra còn có tới 45 hợp chất khác, trong đó các chất có hàm lượng đáng kể

là linalool, cinnamyl acetat, β-caryophyllen, (E)-cinnamic aldehyd, α-pinen,humulen; 1,8-cineol, para-cymen, và safrol… [52]

Ngoài tinh dầu, trong vỏ của các loài quế còn chứa các hợp chất nhựadầu, tanin, protein, pentosan, keo nhựa, cellulose, oxalat calcium và các chấtkhoáng

Long não (C camphora) cũng chứa một lượng đáng kể tinh dầu ở trong

tất cả các bộ phận của cây (1-3% trong gỗ; 0,5-2,5% trong lá và 0,4-15%trong hoa, quả Nhưng trong tinh dầu thì camphor lại là thành phần chủ yếu(trung bình 48-50%) Dựa vào các hợp chất hóa học chủ yếu trong tinh dầu,người ta đã xác định được nhiều nòi hóa học (chemotype) khác nhau trongloài Long não [50]

Chỉ ở Việt Nam và Trung Quốc, hiện đã phân biệt được 8 nòi hóa học(chemotype): Camphor typ, Borneol typ, α-phellandren typ, Iso-nerolidol typ,Linalool typ, Cineol typ, Sesquiterpen typ và Safrol typ [12], [54]

Ở các loài Vù hương (C porrectum), Re hoa nhỏ (C micranthum) thì

thành phần chủ yếu trong tinh dầu là safrol (70-90%) [51]

Trang 13

Tinh dầu từ quả của loài Re mốc (C glaucescens) lại có thành phần chính

là δ-pinen, (Z)-methyl cinnamat, 1,8-cineol, safrol, limonene, linalool, elemicin,

… [69]

Tinh dầu của các loài C inunctum (Nees) Meissn và C wilsonii Gamble

phân bố tại Trung Quốc lại chứa chủ yếu là cineol, ngoài ra còn nhiều hợp chấtkhác (trong đó đáng chú ý là linalool, camphor, cinnamic aldehyd…) [68]

Với loài C glanduliforum (Wall.) Ness thì trong tinh dầu lại chứa hợp

chất chính là α-pinen (50-60%), sau đó là dipenten (C10H16), camphor, borneol

và cineol Tinh dầu cất từ vỏ và từ lá đều có thành phần tương tự nhau, nhưnghàm lượng tinh dầu trong vỏ cao hơn nhiều so với ở lá (1,0 - 4,0% trong vỏ;0,3 - 0,8% trong lá và chồi non) Tinh dầu từ vỏ có màu nâu nhạt, sánh, vịcay, thơm, ngọt, nóng, nặng hơn nước với thành phần chính là (E)-cinnamaldehyd (70-95%), ngoài ra còn nhiều hợp chất khác [53] TheoVernin và cộng sự (1990) thì thành phần hóa học của tinh dầu cất từ vỏ Quế

đơn (C cassia) ở Trung Quốc khá phức tạp, có tới gần 100 hợp chất và hiện

đã xác định được 93 hợp chất, trong đó nhiều nhất là (E)-cinnamic aldehyd(65,5%), các chất khác có hàm lượng đáng kể lần lượt là coumarin (8,7%),cinnamyl acetat (3,6%), methoxycinnamaldehyd (2,7%), benzaldehyd (0,9%),2-methoxybenzaldehyd (0,7%), benzyl benzoat, cinnamyl alcohol (0,2%), 2-phenyllethyl acetat (0,2%), eugenul acetat (0,2%), (Z)-cinnamic aldehyd(0,1%), 2-phenylethyl benzoat (0,1%) và 3-phenylpropanal (0,1%) Các hợpchất còn lại chỉ ở dạng vết [theo29]

Hàm lượng tinh dầu trong vỏ Quế rành (Cinnamomum burmanni) tương

đối cao (1-4%) Tinh dầu không màu hoặc vàng nâu nhạt, thành phần chủ yếucủa tinh dầu ngoài cinnamaldehyd còn có 1,8-cineol; α-terpineol và camphor,không có eugenol [55] Theo phân tích của Ji Xia-duo và cộng sự (1991) thìthành phần hóa học trong tinh dầu vỏ quế rành sinh trưởng tại Inđônêxia gồmcác hợp chất chủ yếu sau: 1,8-cineol (51,4%), α-terpineol (12,5%), camphor(9,0%), terpinen-4-ol (8,5%), borneol (1,8%), α-pinen (1,6%), β-caryophyllen

Trang 14

(1,6%), para-cymen (1,0%), β-eudesmol (0,5%), camphen (0,5%), elemon(0,4%), myristicin (0,4%), β-pinen (0,4%), α-humulen (0,3%) và bornyl acetat(0,1%); ngoài ra còn một số hợp chất khác chưa xác định được [55].

Cùng ở Quế rành tại Inđônêxia, tinh dầu cất từ lá lại có thành phần khác vớitinh dầu vỏ Các thành phần đáng kể trong lá gồm: 1,8-cineol (28,5%); borneol(16,5%); α-terpineol (6,4%); para-cymen (6,1%); spathulenol (5,8%); terpinen-4-ol (4,1%); bornyl acetat (3,1%); β-caryophyllen (2,9%); α-pinen (1,9%);cinnamyl acetat (1,5%); myristicin (1,2%); elemol (0,6%); α-humulen (0,4%);linalool (0,4%); camphen (0,2%); β-eudesmol (0,1%) và các thành phần khácchưa xác định được chiếm 8,6% (Ji Xiao-due và cộng sự, 1991) [55]

Tinh dầu vỏ Quế rành thương phẩm trên thị trường thế giới (TheoLawrence và đồng nghiệp, 1993) gồm các thành phần chủ yếu sau: (E)-cinnamaldehyd (62,7-85,8%); α-terpineol (1,3-1,4%); (E)-cinnamal acetat (0,1-0,2%); β-caryophyd (1,0-2,6%); Terpinen-4-ol (1,3-2,3%); phenylpropanal (vết-1,4%); α-copaen (1,0-2,3%); benzaldehyd (0,5-1,2%); linalool (vết-1,6%);coumarin (vết-0,4%) và một số hợp chất khác mà hàm lượng chỉ ở dạng vếthoặc không đáng kể [59]

Hàm lượng tinh dầu trong vỏ Quế rành phân bố tại miền Nam TrungQuốc thường thấp (0,4-0,6%) và thành phần chủ yếu của tinh dầu ngoàicinnamic aldehyd còn có eugenol và safrol [60]

Những dẫn liệu trên đã cho thấy thành phần hóa học của tinh dầu Quếrành khá đa dạng Nó không chỉ phụ thuộc vào thời điểm thu hái, vào tính ditruyền của từng giống mà còn có quan hệ với khu vực phân bố

Nghiên cứu về tinh dầu với các công trình của Nguyễn Xuân Dũng

(1996) đã nghiên cứu một số loài trong chi Cinnamomum khá đầy đủ đặc biệt

là nghiên cứu cây Long não (C camphora), tác giả đã đánh giá về hàm lượng

cũng như sự tích lũy tinh dầu ở các bộ phận khác nhau từ cây non đến câytrưởng thành cũng như nhân giống và triển khai sản xuất trên quy mô công

nghiệp [12] Từ loài Xá xị (C parthenoxylon) với thành phần chính trong gỗ

Trang 15

là safrol (90,3%), rễ là benzyl benzoat (52%) [55] Thành phần hóa học tinh

dầu chính của loài C cambodianum là -terpineol (33,4%), linalool (22,4%) và terpinen-4-ol (13,3%) C albiflorum với thành phần chính là eugenol (37%), 1,8-cineol (29,2%) [49] Loài Cinnamomum longipetiolatum với thành phần

chính tinh dầu của lá là camphora (85,7%) và -pinen (2,7%) [64] Nguyễn Thị

Tâm và cộng sự (1996) đã nghiên cứu loài C parthenoxylon ở Vĩnh Phú [31].

Nguyễn Xuân Dũng và cộng sự đã nghiên cứu một số loài tinh dầu của Việt

Nam gồm các loài sau: Cinamomum albiflorum, Cinamomum parthenoxylon, Cinamomum loureirii, Cinnamomum camphora…[33], [49], [51], [54].

Chi Màng tang (Litsea):

Chi màng tang (Litsea) là một chi lớn của họ Long não Trên thế giới chi

Màng tang có khoảng 400 loài, còn ở Việt Nam, chi này theo Phạm Hoàng

Hộ (1991) có 45 loài và Nguyễn Kim Đào (1994) có 55 loài Tuy nhiên chỉmột số loài trong chi này là có tinh dầu Các nghiên cứu chính cũng tập trung

vào cây Màng tang (Litsea cubeba)

Trần Đình Thắng và cộng sự đã nghiên cứu một số loài trong chi Litsea ở vùng Nghệ An và Hà Tĩnh 52 hợp chất từ tinh dầu lá Bời lời hương (L euosma J J Sm.) đã được phân tách bằng phương pháp GC và GC/MS, thành

phần chính của tinh dầu là -pinen (11,81%), sabinen (24,86%) và -pinen

(13,99%) Chưng cất lôi cuốn hơi nước lá tươi Bời lời clemen (L clemensii)

với thành phần chính là limonen (12,52%) và -caryophyllen (32,68%) Đối

với loài Bời lời hoa đơn (L monopetala) tinh dầu lá loài này rất giàu caryophyllen (40,42%) và limonen (12,43%) Từ tinh dầu lá Bời lời đắng (L umbellata) với thành phần chính -copaen (11,72%), -caryophyllen

-(26,12%) và germacren D (16,15%) [32]

Nghiên cứu về tinh dầu của chi Màng tang (Litsea) với các công trình như: Từ loài Màng tang (Litsea cubeba) với thành phần chính của hoa là

sabinen (62,36%), quả là limonen (22,66%), (E)-citral (25,50%) và -citral

(37,86%) Đối với loài Litsea pungens các cấu tử chính của lá là

Trang 16

1,3,3-trimethyl-2-oxabicyclo [2.2.0] octan (59,96%) và 1,8 cineole (8,96%) [66].Zhu L và cộng sự (1993) đã xác định thành phần hoá học của tinh dầu chính

của lá L pungen Hemst ở Trung Quốc là 1,3,3-trimetyl-2-oxabicyclo [2.2.2]

octan (59,96%), 1,8-cineol (8,96%) [68]

24 hợp chất của tinh dầu lá Màng tang (L cubeba) ở Trung Quốc được

xác định bằng phương pháp GC/MS Trong số đó (Z)--ocimen (25,11%), dimethyl-1,6-octadien-3-ol (16,85%) và n-transnerolidol (13,89%) là thànhphần chính của tinh dầu Trong tinh dầu có hoạt tính kháng khuẩn mạnh [66]

3,7-Tinh dầu quả tươi của loài L euosma W W Smith được thu mẫu tại

Teng-Thong, Vân Nam, Trung Quốc, hàm lượng 2.5%-3.0%; d2222 0.8891; nD221.4825; D+1.2; aldehyd và xeton chứa 90% (theo phương pháphydroxylamin) Cấu tử chính được xác định trong tinh dầu: citral (80,5%) [68] Nghiên cứu tinh dầu trên thế giới hiện nay, tập trung chủ yếu vào nhómđược ứng dụng làm nước hoa, dược phẩm, mỹ phẩm và khả năng kháng khuẩn

Các công trình nghiên cứu về chi Màng tang (Litsea) ở trong nước như

Nguyễn Thị Tâm và cộng sự, đã nghiên cứu thành phần hoá học của tinh dầu

quả và lá cây Màng tang (L cubeba) ở huyện Ba Vì, Hà Tây và tìm thấy

thành phần chính của tinh dầu quả là neral và geranial, trong khi đó thànhphần chính của tinh dầu lá là linalool, 1,8-cineol, sabinen, -terpineol [63]

Cây bời lời mọc vòng (L verticillata) được thu hái ở Vườn Quốc gia Cúc

Phương đã được Nguyễn Văn Hùng và cộng sự nghiên cứu Các tác giả đãphân lập từ cây này 44 hợp chất, với 26 chất mới từ phần trên mặt đất củacây, trong đó một số hợp chất có khả năng kháng HIV [21]

Lã Đình Mỡi và cộng sự (2001) đã công bố 2 tập về Tài nguyên thực vật

có tinh dầu ở Việt Nam, các tác giả đã mô tả, phân bố, sinh thái và triển vọng

của một số loài thuộc chi Cinnamomum và Litsea ở Việt Nam [29].

Tinh dầu của chi Cinnamomum và Litsea là đối tượng nghiên cứu của nhiều

phòng thí nghiệm trên thế giới và thường được dùng làm nguyên liệu tổng hợphữu cơ do chúng có hàm lượng cao các hợp chất như linalool, camphor,

Trang 17

cinnamaldehyl, eugenol, safrol, metyleugenol, terpinen-4-ol, -terpineol,…

1.5 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu

1.5.1 Điều kiện tự nhiên

1.5.1.2 Phạm vi ranh giới, diện tích

- Phía Bắc giáp xã Sơn Kim, Sơn Tây (huyện Hương Sơn) và các xãHương Quang, Hương Minh, Hương Thọ, Hương Điền và thị trấn Vũ Quang(huyện Vũ Quang);

- Phía Nam giáp biên giới Việt - Lào;

- Phía Đông giáp xã Hương Thọ, Hòa Hải (huyện Hương Khê);

- Phía Tây giáp xã Hương Quang và Sơn Kim (huyện Hương Sơn) Tổng diện tích tự nhiên của VQG Vũ Quang là 55.028,9 ha

1.5.1.3 Địa hình, địa mạo

VQG Vũ Quang nằm trong vùng núi thấp, núi trung bình và một phầnnúi cao, chênh cao địa hình từ 30m - 2.286m Cao nhất là đỉnh Rào Cỏ ở phíaBắc của VQG với độ cao 2.286 m Địa hình núi cao, vực sâu, thung lũng hẹp,

độ dốc lớn, độ chia cắt sâu và dày là đặc trưng của địa hình VQG Vũ Quang.Địa hình đặc trưng bằng các kiểu sau đây:

Kiểu địa hình núi (N): có diện tích 31.180 ha, chiếm 56,6% diện tíchVQG, phân bố thành một dải chạy dọc theo biên giới Việt - Lào Độ cao củakiểu địa hình núi từ 301 m đến trên 2.000 m Đây là kiểu địa hình đặc trưng,

có ý nghĩa quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học, là địa bàn sinh sốngcủa nhiều loài động, thực vật của VQG, trong đó có nhiều loài đặc hữu, quýhiếm đang bị đe dọa

Trang 18

Kiểu địa hình đồi (Đ): đai cao < 300 m, có diện tích 23,681 ha, chiếm43% tổng diện tích VQG Phân bố chủ yếu ở phân khu phục hồi sinh thái, chủyếu ở các khu vực tiếp giáp vùng đệm Thực vật ở kiểu địa hình này chịunhiều tác động của con người, đặc biệt trong những năm 1986 trở về trước làkhu vực dành cho khai thác lâm sản

Kiểu địa hình đồng bằng dốc tụ và thung lũng có diện tích rất ít (197 ha),chiếm 0,4% tổng diện tích VQG, phân bố theo dạng đồng bằng ở xã HươngQuang và dạng thung lũng ở xã Hòa Hải, hiện đang được sử dụng canh tácnông nghiệp và các khu dân cư

Nhìn chung VQG Vũ Quang có nhiều đỉnh núi cao hiểm trở, độ dốc lớn

và nhiều khe suối, chia cắt địa hình VQG thành các lưu vực, lòng chảo, cósườn nghiêng và bãi bằng dưới các đỉnh núi Vì vậy đã tạo ra tính đa dạng vềdạng lập địa và các tiểu vùng khí hậu Đây là nguyên nhân để hình thành cácHST rừng điển hình

Trang 19

Hình 1.1 Bản đồ Vườn quốc gia Vũ Quang

Trang 20

thành ở nhóm đá này thường có kết cấu không bền vững, hàm lượng mùnthấp Nếu rừng bị chặt phá thành nhiều khoảng trống trong rừng, khi mưaxuống, đất dễ bị xói mòn rửa trôi, trở thành đất trơ sỏi đá.

- Nhóm đá phiến thạch sét (s), phân bố chủ yếu ở kiểu địa hình Đ, phầnlớn ở phân khu phục hồi sinh thái (PHST) Đất có hàm lượng khoáng, chất dễtiêu (N, P, K, Mg ) tương đối cao, có kết cấu tương đối tốt

- Thổ nhưỡng

- Đất Feralit mùn vàng đỏ trên núi trung bình và cao (FH), phân bố từ độcao 700 m trở lên, dọc biên giới Việt - Lào Đất có thành phần cơ giới thịt nhẹđến thịt trung bình, kết cấu hạt thô, đất có tầng mỏng đến tầng trung bình.Nhóm đất này chiếm 31% diện tích VQG

- Đất Feralit vàng đỏ ở vùng đồi và núi thấp (Fe), phân bố ở độ cao dưới700m, một phần trong phân khu BVNN và phân khu PHST, đất có tầng trungbình đến dày, độ pH = 2,5 - 4 Nhóm đất chính này chiếm 69% diện tíchVQG, thảm thực vật chủ yếu là rừng thứ sinh, rừng kín thường xanh ẩm nhiệtđới phục hồi sau khai thác và nương rẫy

- Đất phù sa không được bồi hàng năm ở vùng đồng bằng ven cửa sông,

có thành phần cơ giới cát pha hoặc thịt trung bình, kết cấu hạt, dung tích hấpthụ thấp, đất bị chia cắt vừa, nghiêng, dốc Nhóm đất này khá tốt, thành phần

cơ giới trung bình, không chua (pH = 5-6), tầng đất dày, màu xám, khá màu

mỡ, hiện đang được sử dụng canh tác nông nghiệp, đất thổ cư hoặc sản xuấtnông lâm kết hợp

1.5.1.5 Khí hậu, thủy văn

- Khí hậu:

VQG Vũ Quang chịu ảnh hưởng của 2 loại gió chính là gió mùa ĐôngBắc và gió Tây Nam (khí hậu miền Trung Việt Nam) Khí hậu trong nămđược hình thành 3 mùa rõ rệt: mùa đông từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau,thời tiết lạnh, độ ẩm cao, mùa hè từ tháng 4 đến tháng 8, mùa mưa từ tháng 9đến tháng 11, có nhiều trận mưa rào thường gây ra lũ lụt cục bộ Theo số liệu

Trang 21

từ các trạm khí tượng thủy văn 10 năm gần đây ở huyện Hương Sơn, HươngKhê cho thấy:

+ Nhiệt độ: Nhiệt độ không khí khu vực VQG Vũ Quang khá cao, nhiệt

độ trung bình năm cao nhất 280C, nhiệt độ trung bình năm thấp nhất là19,70C Nhiệt độ thấp tuyệt đối ngày là 2,60C Nhiệt độ trung bình trong năm

là 23,50C Biên độ giữa nhiệt độ cao nhất và thấp nhất trong ngày lớn nhất làvào tháng 7 và nhỏ nhất vào tháng 2, bình quân năm là 7,70C ở Hương Sơn,7,40C ở Hương Khê

VQG Vũ Quang nằm ở vùng núi nên độ cao cũng ảnh hưởng đến nhiệt

độ, cứ lên cao 100m thì nhiệt độ giảm 0,60C, sự giảm nhiệt độ này đã ảnhhưởng đến chế độ bốc hơi nước và chế độ mưa trong khu vực

+ Lượng mưa: Lượng mưa trung bình năm ở Hương Khê là 2.418 mm, ở

Hương Sơn là 2.390 mm Vào tháng 9 và tháng 10 mưa nhiều (572 mm và

504 mm) Số ngày mưa trong tháng tương đối đồng đều quanh năm, khoảng

18 ngày ở Hương Sơn và 10 - 18 ngày ở Hương Khê

Vào mùa đông, mặc dù lượng mưa không lớn (từ 45 - 64 mm) và chủ yếu

là mưa phùn, nhưng số ngày mưa cũng rất cao (từ 13 đến 16 ngày/tháng)

+ Độ ẩm: Vũ Quang được đặc trưng bởi độ ẩm cao (bình quân năm trên

85%) Độ ẩm cao nhất là 91% vào tháng 2 khi nhiệt độ thấp và biên độ daođộng nhiệt độ trong ngày thấp Độ ẩm thấp nhất là vào tháng 7 (khoảng 71%)khi số giờ nắng và nhiệt độ đều đạt tối đa

+ Lượng bốc hơi: Lượng bốc hơi hàng năm là 813 - 846 mm, cao nhất ở

các tháng 5, 6, 7 và 8 (95 - 53 mm) Ở tháng 2 và 3, nhiệt độ thấp, độ ẩmkhông khí cao nên lượng bốc hơi thấp nhất

+ Gió và hướng gió chính: Hướng gió thịnh hành trong vùng là gió

Đông Bắc thổi vào mùa đông và gió Đông Nam, Tây Nam (gió Lào) thổi vàomùa hè Gió mùa Đông Bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, nhữngtháng đầu mùa, gió có tính chất khô, lạnh, những tháng sau, gió có kèm theomưa phùn gây giá rét Gió Lào thổi từ tháng 4 đến tháng 9 với đặc điểm khô

Trang 22

và nóng, mỗi đợt kéo dài 3 - 4 ngày Hàng năm có khoảng 40 ngày gió Làothổi trong khu vực Gió Lào đã có tác động lớn tới sự phát triển của hệ thựcvật ở vùng núi, chẳng hạn như trên các sườn dốc hứng gió hay khuất gió vớicác cơn gió thịnh hành đã hình thành nên các thảm thực vật khác nhau

- Sông suối, thủy văn:

Ba con sông chính bắt nguồn trong VQG Vũ Quang là: Khe Tre, NgànTrươi, Rào Nổ Đây là các chi lưu chính của sông Ngàn Sâu, Ngàn Phố, cácsông này đổ vào Sông La - là sông lớn nhất của tỉnh Hà Tĩnh, sau đó cùng hội

tụ ở hạ nguồn sông Lam rồi đổ ra biển Đông

Khe Tre bắt nguồn từ phần phía Tây của VQG, thuộc địa phận xã SơnKim, ở độ cao trên 1.400 m, chảy theo hướng Nam Bắc rồi đổ vào sông NgànPhố ở bên ngoài VQG Do các chi lưu ngắn và dốc, nên dòng chảy của KheTre khá mạnh, càng ra phía ngoài VQG, dọc theo Khe Tre có các thung lũngkhá rộng và tương đối bằng phẳng, dòng chảy cũng trở nên êm đềm hơn.Sông Ngàn Trươi bắt nguồn từ độ cao 1.900 m ở phía Nam của VQG,được tạo bởi nhiều chi lưu nhỏ và dốc chảy từ biên giới Việt - Lào, thuộc địaphận xã Hương Quang, huyện Vũ Quang Ngàn Trươi có dòng chảy tương đốiquanh co, khi gần ra đến vùng đệm thì lòng sông rộng, bằng và đổ vào sôngNgàn Sâu Đây là con đường vận chuyển theo đường thủy cho các sản phẩmnông nghiệp và lâm sản của địa phương

Sông Rào Nổ bắt nguồn ở độ cao 1.200 m, phía Đông của VQG, trên địaphận xã Hòa Hải, huyện Hương Khê, đoạn đầu dòng chảy rất dốc Mới đầuchảy theo hướng Bắc Nam, sau đó chuyển sang hướng Đông rồi nhập vào sôngNgàn Sâu Thượng nguồn Rào Nổ dốc và lắm thác ghềnh, nên qua lại rất khókhăn, phần hạ nguồn rộng và nước sâu nên dễ dàng qua lại bằng thuyền bè

Về thủy văn, sông Ngàn Trươi, Rào Nổ cũng như Khe Tre có nhiềughềnh thác, độ dốc lớn, tốc độ dòng chảy mạnh, lưu vực rộng nên khả năngđiều tiết nước hạn chế, vào mùa mưa thường gây lũ lớn, lũ nhanh mỗi khi có

Trang 23

mưa lớn ở đầu nguồn Điển hình là trận lũ quét năm 2002 đã làm tổn thất rấtlớn đến con người và của cải vật chất ở xã Sơn Kim.

+ Rừng thường xanh núi thấp: Phân bố trong khoảng đai cao 300 - 1.000

m ở vùng trung tâm VQG Rừng ở đai này chủ yếu là rừng thứ sinh có trữlượng gỗ lớn

+ Rừng thường xanh trung bình: Phân bố trên các đai có độ cao 1.000 1.400m, dọc theo dải hẹp, chạy dài liên tục từ phía Bắc đến Đông Nam VQG.Kiểu rừng này ưu thế bởi các loài cây lá rộng, nhưng cũng có một số loài cây

-lá kim thuộc các họ Kim giao (Podocarpaceae) và Hoàng đàn (Cupressaceae)

như Pơ-mu (Fokienia hodginsii)

+ Rừng thường xanh núi cao: Phân bố trên đai cao 1.400 - 1.900 m, trêncác sườn dốc và các dông ở phía Nam và Tây Nam VQG Kiểu rừng này cómột số loài cây lá kim, nhưng ưu thế là các loài thuộc họ Côm(Elaeocarpaceae), Dẻ (Fagaceae), Long não (Lauraceae) và Mộc lan(Magnoliaceae) Tại độ cao 1.500m, gần biên giới Lào, rừng đặc trưng bởi sự

hiện diện của loài Du sam (Keteleeria evelyniana)

+ Rừng lùn phân bố trên các đai cao giữa 1.990 m và 2.200 m ở phần tậncùng phía nam VQG Trên các đai cao này, liên tục có mây mù che phủ,lượng ẩm lớn thuận lợi cho việc phát triển kiểu rừng với ưu thế bởi các loài

Đỗ quyên (Rhododendron spp.), cùng với các nhóm loài thuộc họ Dẻ

(Fagaceae), Long não (Lauraceae) và Côm (Elaeocarpaceae)

- Hiện trạng sử dụng đất, tài nguyên rừng:

Trang 24

Từ kết quả kiểm kê rừng năm 1999 đến kết quả điều tra thực địa năm

2008 của Phân viện Điều tra Quy hoạch rừng Bắc Trung Bộ cho thấy, tàinguyên rừng ở VQG Vũ Quang có những diễn biến như sau:

- Độ che phủ của rừng rất cao, chiếm 94,6% (năm 1999 là 77,8%)

- Rừng nguyên sinh và rừng ít bị tác động chiếm 63,4% diện tích tự nhiên

- Nhóm đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ rất lớn, trong đó đất lâm nghiệp làchủ yếu (54.980 ha), còn đất sản xuất nông nghiệp chỉ có 33 ha

- Nhóm đất phi nông nghiệp có 78 ha, chiếm 0,1% diện tích VQG, baogồm: đất ở (2 ha) và đất chuyên dùng (76 ha)

- Đất lâm nghiệp có rừng:

Rừng VQG Vũ Quang khá giàu, diện tích rừng giàu và rừng trung bìnhchiếm 67,0% diện tích đất có rừng Chính điều này đã nói lên tính nguyênsinh của rừng Vũ Quang còn cao, khả năng bảo tồn nguồn gen và đa dạngsinh học đảm bảo

1.5.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

1.5.2.1 Dân số và thành phần dân tộc

VQG Vũ Quang có vùng đệm nằm trên địa bàn 8 xã, 1 thị trấn thuộc 3huyện Hương Sơn, Hương Khê và Vũ Quang Có 7.588 hộ với tổng số dân là30.309 người Hiện có 59 hộ dân đang định cư trong VQG, bao gồm: 21 hộcủa thôn Mạn Chạn, xã Hương Quang, huyện Vũ Quang, 2 hộ dân của thị trấn

Vũ Quang và 36 hộ xóm 4, xã Hòa Hải với tổng số dân đang sống trong VQG

là 329 người, chiếm 1,09% dân số toàn vùng Ngoài ra, còn có 33 hộ thuộc xãSơn Kim 2, huyện Hương Sơn lập lán trại, canh tác nông lâm kết hợp trongkhu vực Khe Tre (phân khu BVNN) Ảnh hưởng của người dân sống ở vùngđệm là áp lực lớn đối với tài nguyên rừng, những hộ dân sống trong VQG làmối đe dọa thường trực đối với tài nguyên động - thực vật trong Vườn bởi cáchoạt động săn bắt động vật rừng, du nhập loài ngoại lai và khai thác gỗ, củi,lâm đặc sản trái phép

Trang 25

Trong khu vực VQG Vũ Quang hiện có 4 thành phần dân tộc đang sinhsống là: Kinh, Lào Thừng, Mán Thanh, Tày, trong đó dân tộc Kinh chiếm98%, dân tộc Lào Thừng chiếm 1,4%, dân tộc Mán Thanh và dân tộc Tàychiếm 0,6% Nhìn chung trình độ dân trí còn tương đối thấp; thu nhập củangười dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp và khai thác tài nguyênrừng, giá trị thu nhập thấp.

1.5.2.2 Giáo dục

Theo báo cáo của UBND các huyện Vũ Quang, Hương Sơn và HươngKhê năm 2009 thì 100% trẻ em đến tuổi đều đi học và các huyện đều đã hoànthành chương trình phổ cập giáo dục tiểu học

Được sự đầu tư của nhà nước thông qua các chương trình như 135, sựđầu tư của UBND các huyện, xã nên cơ sở hạ tầng của các trường Phổ thôngtrung học và phổ thông cơ sở được xây dựng đảm bảo điều kiện học tập tốtcho học sinh, từ đó nâng cao được chất lượng giáo dục, điển hình như trườngPhổ thông cơ sở xã Hương Minh, huyện Vũ Quang đã đạt được danh hiệutrường chuẩn quốc gia

1.5.2.3 Cơ sở hạ tầng đường giao thông

Trong vùng đệm VQG Vũ Quang có đường tỉnh lộ 5, đường mòn HồChí Minh đi qua, đây là tuyến đường huyết mạch thông thương từ miền xuôilên miền núi, là một điều kiện rất thuận lợi để phát triển nền kinh tế vùng.Bên cạnh tuyến quốc lộ còn có một hệ thống đường do tỉnh, huyện, xã quản lýcũng góp phần rất quan trọng để nối kết giữa các thôn bản trong vùng Hiệnnay hầu hết các xã đều có đường ô tô rải nhựa vào đến trung tâm xã, chỉ còn

xã Hương Điền - huyện Vũ Quang đường chưa được rải nhựa nên vào mùamưa đi lại còn khó khăn

1.5.2.4 Kinh tế

Các hoạt động sản xuất chủ yếu hiện nay ở ba huyện vùng đệm VũQuang, Hương Sơn và Hương Khê tập trung trong các lĩnh vực nông nghiệp,lâm nghiệp, chăn nuôi, thuỷ sản, công nghiệp và một số hoạt động khác

Trang 26

Trong đó, sản xuất nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo Cây trồng chính baogồm lúa nước, ngô, lạc, đậu Tuy nhiên, với diện tích gieo trồng còn nhỏhẹp, năng suất cây trồng thấp nên đời sống của người dân nơi đây còn gặpnhiều khó khăn.

Sản xuất lâm nghiệp là lợi thế lớn để phát triển kinh tế thông qua cácchương trình của Nhà nước như chương trình 327, 661 đã mang lại nhiều lợiích cho nhân dân vùng đệm, phát huy lợi thế tiềm năng đất lâm nghiệp đểngười dân phát triển kinh tế thông qua trồng rừng, khoán bảo vệ rừng… Tuynhiên, kinh tế thu được từ sản xuất lâm nghiệp chưa tương xứng với tiềm năng.Chăn nuôi khá phát triển do có thuận lợi về diện tích rừng núi, đồng cỏrộng lớn, thích hợp với chăn nuôi đại gia súc Các vật nuôi như: trâu, bò, dê…phần lớn được thả rông; Gia cầm chủ yếu là gà, vịt Chăn nuôi có một vai tròđáng kể trong cuộc sống của đồng bào vùng đệm VQG, không những cung cấpthực phẩm tại chỗ mà còn cung cấp sức kéo cũng như phân bón phục vụ chosản xuất nông nghiệp, góp phần làm tăng năng suất cây trồng cũng như việc cảitạo đồng ruộng Tuy nhiên tỷ lệ chăn thả rông trâu bò vào khu vực vùng đệmVQG Vũ Quang vẫn còn phổ biến, nhất là ở một số xã cận kề ranh giới

1.5.2.5 Ảnh hưởng của người dân vùng đệm đến tài nguyên rừng Vườn quốc gia Vũ Quang

- Khai thác gỗ, măng, củi trái phép làm ảnh hưởng xấu đến tài nguyênrừng, rừng bị tàn phá, thậm chí một số loài bị đe dọa tuyệt chủng, phá hủymôi trường sống của nhiều loài động vật rừng

- Săn bắt động vật hoang dã làm giảm số lượng nhiều loài, gây nhiễu đốivới động vật sinh sống trong VQG, một số loài bị đe dọa tuyệt chủng

- Các hoạt động buôn bán gỗ, động vật hoang dã là nguyên nhân thúc đẩycác hoạt động khai thác, săn bắt động vật rừng

- Các hoạt động khai thác lâm đặc sản theo mùa như lấy trầm, cây thuốc,mật ong, cây cảnh xảy ra nhiều nơi ở VQG, làm khan hiếm và đe dọa diệtchủng với một số loài

Trang 27

Mặc dù lực lượng kiểm lâm đã tăng cường việc tuần tra truy quét đểngăn chặn và xử lý các hoạt động trên nhưng rất khó kiểm soát và gặp nhiềukhó khăn Nguyên nhân do người dân thường đi khai thác gỗ, săn bắn, bẫy bắtđộng vật hoang dã sâu trong rừng, sát với biên giới Việt - Lào Một số trạmkiểm lâm có địa bàn nằm phía ngoài thôn bản nên khó khăn trong việc kiểmsoát người dân ra vào trong rừng đặc dụng…

- Đánh bắt cá bằng mìn, điện, chất độc trên sông Rào Nổ, sông NgànTrươi và các con suối trong VQG, làm hủy diệt hệ động - thực vật thủy sinh,phá hủy môi trường và cạn kiệt tài nguyên thủy sản

- Chăn thả gia súc dưới tán rừng, phá hoại cây con, làm ảnh hưởng đếnquá trình tái sinh phục hồi rừng

- Ngoài ra, VQG Vũ Quang còn phải đối mặt một số khó khăn như:

+ Đối với vùng đệm, giao thông đi lại vẫn còn nhiều khó khăn, kết cấu

hạ tầng phục vụ không đồng bộ, thiếu nhiều cơ sở sản xuất, chế biến nônglâm sản sẵn có trong vùng

+ Vốn đầu tư cho VQG còn thấp, phần lớn phụ thuộc vào vốn viện trợnước ngoài nên đầu tư cho nghiên cứu, bảo tồn còn nhiều hạn chế Chưa pháthuy hết tiềm năng hiện có, giá trị về đa dạng sinh học của hệ động - thực vật,các kiểu rừng độc đáo trong VQG

+ Hệ thống cơ sở hạ tầng của VQG phần lớn đã xuống cấp, lạc hậu nên

sử dụng kém hiệu quả Trung tâm cứu hộ động vật, Trung tâm nghiên cứu đadạng sinh học, Vườn thực vật, Trung tâm du lịch hầu như chưa có Cơ sở hạtầng và trang thiết bị kém về chất lượng, thiếu về số lượng

+ Trong VQG và vùng đệm có nhiều di tích văn hóa lịch sử, danh thắngđẹp, nhưng hiện vẫn chưa được khai thác trong du lịch

Trong tương lai gần cần phải khai thác tiềm năng du lịch trong vùng vàtrong VQG, khi công tác bảo vệ và ý thức người dân được nâng cao thì du lịchsinh thái VQG Vũ Quang sẽ là điểm hẹn hấp dẫn cho du khách thập phương

Trang 28

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các loài trong chi Long não (Cinamomum) và chi Màng tang (Litsea) thuộc họ Long não (Lauraceae) ở VQG Vũ Quang.

2.2 Thời gian nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài từ tháng 10/2009 đến tháng11/2010 Được chia làm 3 đợt thu mẫu, mỗi đợt thu mẫu kéo dài từ 5 - 7 ngày,sau mỗi đợt thu mẫu thì xử lý, phân tích và giám định ngay

- Tháng 10/2009: Thu mẫu thực vật đợt 1;

- Tháng 02/2010: Thu mẫu thực vật đợt 2;

- Tháng 09/2010: Thu mẫu thực vật đợt 3;

- Tháng 09 - tháng 11/2010: Xử lý số liệu và viết luận văn

Tổng số mẫu thu được là 65 mẫu, định loại được 36 loài

Mẫu thu được lưu giữ tại Phòng bảo tàng mẫu Thực vật, khoa Sinh học,trường Đại học Vinh

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu các đặc điểm sinh học, sinh thái của một số loài thực vật có

tinh dầu trong chi Cinnamomum và chi Litsea của họ Long não ở Vườn quốc

gia Vũ Quang

- Xác định hàm lượng và chất lượng tinh dầu của một số loài đặc trưng

trong chi Cinnamomum và Litsea của họ Long não.

- Tìm hiểu trong nhân dân về giá trị sử dụng của các loài nói trên

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp điều tra

Chúng tôi sử dụng phương pháp điều tra theo tuyến rộng 2m chạy qua tất cảcác sinh cảnh nhằm thu kỹ các loài trong họ Long não có ở khu vực nghiên cứu

2.4.2 Phương pháp thu mẫu ngoài thiên nhiên

Trang 29

Thu mẫu theo nguyên tắc thu mẫu của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [34] Đối với cây gỗ, cây bụi mỗi cây ít nhất thu 2-3 mẫu, kích cỡ phải đạt 29

x 41cm, có thể tỉa bớt cành, lá, hoa và quả nếu cần thiết

Sau khi thu mẫu thì đánh số hiệu vào mẫu Đối với mẫu cùng cây thìđánh cùng số hiệu Đặc biệt khi thu mẫu phải ghi ngay những đặc điểm dễnhận biết ngoài thiên nhiên vào phiếu Etiket vì những đặc điểm này dễ bị mấtkhi mẫu khô như: nhựa, mủ, màu sắc, hoa, quả, lá

Khi thu mẫu và ghi nhãn xong gắn nhãn vào mẫu, cho vào bao nilon bỏvào bao tải, buộc lại, sau đó mới đem về xử lý

2.4.3 Phương pháp ép mẫu

Theo phương pháp của R.M.Klein (1979) [23]

Mẫu được xử lý ngay khi đem về, loại bỏ những phần dập nát, sâu, nếu

có nhiều cành, lá thì chỉ giữ lại những mẫu có cành, hoa, lá, quả đặc trưngnhất Đối với những cây nhiều hoa, quả thì cắt đôi hoa, quả Sau đó đặt mẫulên tờ báo có kích thước lớn gấp đôi mẫu để ép

Nguyên tắc chung của việc ép mẫu:

- Khi ép mẫu, lật một đến hai lá ngửa để tiện cho nghiên cứu gân lá;

- Không để cho các bộ phận của cây đè lên nhau;

- Nếu được thì ép thêm vài hoa để làm thế nào có thể nhìn thấy bên trong hoa;

- Không xếp tất cả các mẫu ở giữa vì khi xếp mẫu như vậy, bó mẫu sẽquá dày ở giữa;

- Cây quá dài thì có thể xếp trên tờ giấy hình chữ V, N hay dạng khác;

- Nếu cần phải bỏ lá thì giữ lại cuống để thấy được sự sắp xếp lá trên cây;

- Nếu cắt cây ra làm nhiều phần thì nên cắt chéo Nếu cần hai tiêu bản thìtiêu bản thứ nhất phía trên sẽ là bộ phận trên của cây;

- Những phần nhỏ, hoa, lá kèm bị rụng, cần phải luôn luôn đặt bên cạnh mẫu;

- Sau khi đã sắp xếp mẫu lên báo, ta gập 1/2 tờ báo còn lại trên mẫu chomẫu vào cặp ép và nên lót 2-3 tờ báo ở phía ngoài Dùng dây buộc chặt, sau

đó đem phơi nắng hoặc sấy khô;

- Mỗi cặp chỉ ép 20-25 mẫu, một ngày thay báo một lần cho mẫu chóng khô

Trang 30

2.4.4 Phương pháp định loại

Sử dụng phương pháp hình thái so sánh

Đầu tiên, xác định nhanh các chi của họ Long não ở ngoài thiên nhiêndựa vào các đặc điểm dễ nhận biết như: thân, rễ, lá, hoa, quả Sau đó kết hợpvới tài liệu của Nguyễn Tiến Bân [1], khóa định loại của Phạm Hoàng Hộ:

“Cây cỏ Việt Nam” [18], [19], Flora of China, Vol 7 [67] để định loại.

2.4.5 Phương pháp xác định giá trị sử dụng

Chúng tôi dựa vào các tài liệu “1900 loài cây có ích” [28] của Trần Đình Lý (1993); “Từ điển cây thuốc Việt Nam” [10] của Võ Văn Chi (1997); “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” [27] của Đỗ Tất Lợi (1999), "Danh lục các loài thực vật Việt Nam" tập 2 (2003) [15] "Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam"

của Đỗ Huy Bích và cộng sự (2004) [4]

2.4.6 Lập danh lục thành phần loài

Danh lục thành phần loài được sắp xếp theo Brummitt (1992) [44]

2.4.7 Kiểm tra tên khoa học

Dựa vào tài liệu Họ Lauraceae trong “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” của Nguyễn Kim Đào (2003) [15].

2.4.8 Lên tiêu bản bách thảo

- Theo phương pháp của R.M.Klein - D.T.Klein (1979) [23], giấy khâumẫu là loại giấy bìa Croki kích thước 29 x 41 (cm)

- Chúng tôi sử dụng phương pháp khâu mẫu trực tiếp vào giấy Góc dướicủa giấy khâu mẫu gắn nhãn cố định với kích thước 8 x 12 (cm)

2.4.9 Phương pháp đánh giá đa dạng thực vật về phân loại

Đánh giá tính đa dạng của chi Cinnamomum và Litsea ở VQG Vũ Quang

và so sánh với hệ thực vật khác

2.4.10 Phương pháp thu mẫu và phân tích tinh dầu

2.4.10.1 Thu mẫu tinh dầu

Lá tươi (2kg) được cắt nhỏ và chưng cất bằng phương pháp chưng cất lôicuốn hơi nước trong thời gian 3 giờ ở áp suất thường theo tiêu chuẩn Dượcđiển Việt Nam [6]

Trang 31

2.4.10.2 Phương pháp xác định thành phần hóa học tinh dầu

+ Phương pháp định lượng tinh dầu

Các bộ phận thân, lá của cây được cắt nhỏ, cho vào bình cầu 2 lít, lắpống sinh hàn ngược, nối bình hứng có chia độ đến 0,1 ml Tiến hành địnhlượng tinh dầu trong 2 giờ, tùy từng loài cây, tới một lúc nào đó đun trongvòng 15 phút không thấy tinh dầu tăng thêm thì dừng lại Để nguội, đọc thểtích tinh dầu thu được Hàm lượng tinh dầu (d < 1) được tính theo công thức:

X (%) = a x 100/b, trong đó:

+ a là thể tích tinh dầu bằng ml

+ b là khối lượng tinh dầu đã trừ độ ẩm tính bằng gam

Tinh dầu được làm khô bằng Na2SO4 khan, đựng trong các lọ tiêu chuẩnđậy kín, bảo quản ở nhiệt độ 0 - 50C trước khi đưa đi phân tích [6]

+ Phương pháp xác định thành phần hóa học tinh dầu

Thành phần hóa học của tinh dầu được xác định bằng phương pháp sắc

ký khí (GC) và sắc ký khí - khối phổ ký liên hợp (GC/MS) [43], [56]

Sắc ký khí (GC): Được thực hiện trên máy Agilent Technologies HP

6890N Plus gắn vào detectơ FID của hãng Agilent Technologies, Mỹ Cột sắc

ký HP-5MS với chiều dài 30m, đường kính trong (ID) = 0,25mm, lớp phimmỏng 0,25m đã được sử dụng Khí mang: H2 Nhiệt độ buồng bơm mẫu (kĩthuật chương trình nhiệt độ-PTV): 250oC Nhiệt độ detectơ: 260oC Chươngtrình nhiệt độ buồng điều nhiệt: 60oC (2 phút), tăng 4oC/phút cho đến 220oC,dừng ở nhiệt độ này trong 10 phút

Sắc ký khí - khối phổ liên hợp (GC/MS): Việc phân tích định tính

được thực hiện trên hệ thống thiết bị sắc ký khí và khối phổ ký liên hợp GC/

MS của hãng Agilent Technologies HP 6890N Agilent Technologies HP6890N/HP 5973 MSD được lắp với cột tách mao quản và vận hành sắc kýnhư ở trên với He làm khí mang Tinh dầu được phân tích ở Trung tâm Kiểmđịnh an toàn Thực phẩm - Môi trường, trường Đại học Vinh

Trang 32

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1 Đặc điểm họ Long não và khoá định loại chi Cinnamomum và Litsea 3.1.1 Đặc điểm họ Long não (Lauraceae):

Tham khảo bản mô tả của Phạm Hoàng Hộ (1999) [19], Nguyễn Kim Đào (2003) [15] và qua phân tích thực tế, họ Long não có những đặc điểm như sau:

- Dạng sống: Các chi thuộc họ này thường gặp là những cây gỗ lớn

(Cinnamomum parthenoxylon), gỗ trung bình hay gỗ nhỏ (Lindera aggregata), có khi cây bụi (Litsea viridis), ít khi là dây leo ký sinh (chi Cassytha) Cây thường sống lâu năm

- Thân: Thân gỗ, hiếm khi thân bò (chỉ có 2 loài Cassytha capillaris,

Cassytha filiformis), thường có thân tròn, rất hiếm khi gặp thân vuông hay có

cạnh Cây có thể phân cành nhiều hay ít Nhánh và cành non thường tròn,

không có lông, một số có lông (Litsea glutinosa), hay có cạnh (Endiandra firma) Lông bao phủ thường là màu nâu xám, sôcôla, hoặc lông mịn lúc non.

Cành non màu xanh, thường có chồi ngủ đông Trong thân có tế bào tiết dầuthơm vì thế vỏ thường có mùi thơm

- Lá: Thường gặp là lá đơn nguyên, mọc cách, ít khi mọc đối, kích thước

lớn nhỏ khác nhau, có nhiều hình dạng như hình bầu dục tròn dài

(Cinnamomum magnificum), bầu dục dài (Persea mollis) hay thon hẹp (Beilschmiedia poilanei, Litsea elongata); gốc lá chót buồm hay hình tròn

hoặc nhọn; chóp lá có thể nhọn hay tù hay dạng kéo dài; lá thường chụm ở

chót nhánh, mép lá nguyên; gân lá hình lông chim (Litsea umbellata) hay có 3

gân chính từ gốc giống như gân hình cung (Cinamomum sericans) hay hệ gân

đơn giản; lá nhẵn hay chỉ có lông ở một mặt hoặc có lông ở cả 2 mặt, thường

có màu nâu; không có lá kèm; lá có tế bào tiết dầu thơm

Trang 33

- Cụm hoa: Hoa nhỏ mọc thành cụm, hình chùy hay hình xiêm tán giả ở

đầu cành hay ở nách lá (Cinnamomum camphora, Litsea glutinosa) Hoa

thường hướng lên ngọn

- Hoa: Thường gặp là hoa đều, mẫu 3, lưỡng tính, có khi đơn tính Bao

hoa 6 mảnh, xếp 2 vòng Nhị 9 xếp 3 vòng, đôi khi có thêm 1 vòng nhị lép ởgốc chỉ nhị, nhị thường mang 2 túi mật Bao phấn 2-4 ô, mở bằng lỗ nắp đậy

Bộ nhụy thường có một lá noãn (đôi khi 3 dính lại) tạo thành bầu 1 ô

- Quả: Thuộc loại quả hạch hay quả mọng, thường có đài dính liền phát

triển thành dạng đấu dưới quả, hay đế hoa lớn bao quanh lấy quả trông nhưbầu dưới; quả thường không lông, xoan hoặc tròn

3.1.2 Khoá định loại chi Cinnamomum và chi Litsea

Dựa trên các tài liệu của Phạm Hoàng Hộ (1999) [19], Nguyễn Kim Đào

(2003) [15] và phân tích thực tế, khoá định loại 2 chi Cinnamomum và Litsea

như sau:

Không ký sinh, cây thân gỗ hoặc cây bụi, thường xanh, sống lâu năm 1a Lá có 3 gân chính, hình cung

2a Hoa mọc thành chùm, tụ tán

3a Quả nhỏ, cuống ngắn, hơi phù đế …… ………… Cinnamomum.

1b Lá có gân lông chim

2b Hoa đầu nhỏ

3b Bao phấn 4 buồng, 9 nhị, tất cả hướng vào trong ……… Litsea.

3.2 Mô tả sinh thái và phân bố các loài thuộc chi Cinnamomum và Litsea 3.2.1 Chi Cinnamomum (Long não):

1 Cinnamomum balansae Lecomte (Quế balansa, Gù hương).

Mô tả: Cây gỗ cao 25 (35) m, to 60-70 (150) cm; vỏ dày 2 cm, thơm Lá

có phiến to 10-11 x 4-5 cm, dai dai, gân phụ dưới hơi phát triển hơn, khônglông Phát hoa ở nách lá, dài 4-5 cm, có lông nâu; cọng 1-3 mm; hoa lưỡngtính, trắng trắng; 9 nhị, chỉ không lông Quả to từ 8-10 mm, trên đế hoa báncầu và cọng to dài 1,5 cm

Trang 34

Phân bố: Lạng Sơn, Vĩnh Phú, Hà Tây (Ba Vì), Ninh Bình (CúcPhương), Thanh Hóa (Xuân Liên, Bến En), Nghệ An (Pù Mát) Hà Tĩnh (VũQuang), Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Gia Lai, Kon Tum.

Sinh thái: Mọc rải rác trong rừng ẩm thường xanh, chủ yếu trên núi đất,

độ cao 100-800 m Ra hoa tháng 1-5, có quả tháng 6-9

2 Cinamomum bejolghota (Buch.-Ham ex Ness) Sweet (Quế hương, Quế

lá tà, Re lá tù, Re gừng, Re bầu) (Syn: Laurus bejolghota Buch.-Ham ex Ness; L obtusifolius Roxb.-Willd ex Meisn.; Cinnamomum obtusifolium

Phân bố: Hà Giang (Vị Xuyên), Lạng Sơn (Hữu Lũng), Bắc Cạn, TháiNguyên, Hà Tĩnh (Vũ Quang), Bình Dương (Thủ Dầu Một) Còn có ở Ấn Độ,Mianma, Trung Quốc (Vân Nam, Quảng Đông)

Sinh thái: Mọc rải rác trong rừng thường xanh núi đất hoặc núi đá, độcao 500-800 m Ra hoa tháng 3-4, có quả tháng 6-9

3 Cinnamomum burmannii (C & T Nees) Blume (Quế rành, Quế trèn,

Trèn trèn) (Syn: Laurus burmanni C & T Ness).

Mô tả: Cây gỗ cao 6-11 m; thân thẳng; nhánh không lông, vỏ xám, láng

Lá có phiến bầu dục dài, vào 9-12 x 3-4,5 cm, chót nhọn nhọn, có mũi, đáy tà,không lông, xanh đậm ở hai mặt; cuống 8-10 mm Chùm tụ tán ngắn, yếu;cọng hoa dài 8 mm Phì quả tròn, có mũi, to bằng đầu đũa

Phân bố: Hà Tây (Ba Vì), Ninh Bình (Cúc Phương), Thanh Hóa (PhongY), Nghệ An (Pù Mát, Pù Huống, Pù Hoạt), Hà Tĩnh (Vũ Quang), Quảng Trị,Thừa Thiên Huế, Khánh Hòa (Nha Trang), Lâm Đồng (Đà Lạt) Còn có ởTrung Quốc (Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, Hồng Kông), Inđônêxia

Trang 35

Sinh thái: Mọc rải rác trong rừng nhiệt đới thường xanh, nơi sáng, độ cao300-1.500 m Ra hoa tháng 5-8

4 Cinnamomum cambodianum H Lecomte (Quế cam bốt, Re lá dày).

Mô tả: Cây gỗ cao khoảng 10-30 m, nhánh thô, có vỏ đen đen Lá mọcxen hay như đối, có phiến to, dài đến 35 cm, rộng 6,5-16 cm, bầu dục tròndài, đáy tà hay tròn, chót tròn hay có mũi ngắn, mặt trên nâu ngâm, láng, mặtdưới nâu tươi, gân phụ cạnh tận cùng ở 3/4 trên phiến, lồi ở mặt dưới; cuống

to, dài 2-3,5 cm Chùm tụ tán ở nách lá, thưa

Phân bố: Ninh Bình (Cúc Phương), Thanh Hóa, Nghệ An (Quỳ Châu),

Hà Tĩnh (Vũ Quang), Quảng Bình (Phong Nha - Kẻ Bàng) Còn có ởCampuchia

Sinh thái: Mọc rải rác trong rừng thường xanh núi đất hoặc núi đá, độcao 300-800 m Ra hoa tháng 3-4, có quả tháng 6-9

5 Cinnamomum camphora (L.) J S Presl (Long não), (Syn: Laurus

camphora L.).

Mô tả: Cây gỗ cao 15 - 40 m, lá vò thơm long não; nhánh không lông Lá

có phiến bầu dục xoan, chót có mũi, vào 9 x 5 cm, không lông, có tuyến ởtrên gân chính và gân phụ, mặt dưới Chùm tụ tán cao 5-7 cm; hoa vàng; tiểunhụy 4 luân sinh, chỉ có ít lông, bao phấn nở do 4 nắp; noãn sào không lông.Quả tròn tròn, to đến 1 cm, trên cọng hơi phù

Phân bố: Trồng để lấy bóng mát ở nhiều nơi, trên các đường phố và công

sở Còn có ở Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản

Sinh thái: Ra hoa tháng 4-6, có quả tháng 8-12

6 Cinnamomum durifolium Kosterm sec Phamh (Quế lá cứng).

Mô tả: Cây gỗ cao khoảng 8 m; thân to vào khoảng 15 cm, nhánh khônglông, đen Lá thơm, phiến bầu dục, khoảng 5-10 x 3-4 cm, dày cứng, mặt trênláng nâu, mặt dưới nâu quế, gân lồi, cặp gân đáy chạy đến vào 3/4 lá, gân phụtrên cao vào 1-2 cặp, rất mảnh, khó nhận ở mặt trên, cuống đen, dài 13-14 mm

Trang 36

Phân bố: Hà Tĩnh (Vũ Quang), Ninh Thuận (Cà Ná).

Sinh thái: Mọc rải rác trong rừng thường xanh ở độ cao trên 800 m

7 Cinnamomum iners Reinw ex Blume (Rè hương, Hậu phát, Quế rừng,

Quế lợn)

Mô tả: Cây gỗ cao 10-20 m; vỏ nhánh xanh Lá có phiến tròn dài, to 15-25

x 2,5-6 cm, mặt dưới màu hơi mốc mốc, cặp gân đáy chạy đến chót Chùm tụtán 12-20 cm, ở ngọn nhánh, có lông mịn trắng; phiến hoa có lông trắng, tiểunhụy vàng Quả tròn dài, dài 12-13 mm, trên bao hoa còn lại đen 2n = 24.Phân bố: Tuyên Quang, Thái Nguyên (Chợ Mới), Hà Tĩnh (Vũ Quang),Bình Dương (Thủ Dầu Một) Còn có ở Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc (QuảngTây, Quảng Đông), Inđônêxia

Sinh thái: Mọc rải rác trong rừng nhiệt đới thường xanh, ven rừng hoặcven suối Ra hoa tháng 3-4, có quả tháng 7-8

8 Cinamomum liangii Allen (Re hướng dương, Re liang).

Mô tả: Cây gỗ trung bình, cao 22 m, đường kính khoảng 50 cm Cànhnhẵn, vỏ có mùi thơm Lá gần như mọc đối, khoảng 5,5-11 x 1,6-4 cm, mỏngnhư giấy, màu nâu xanh ở trên, đục, xanh lục nhưng hơi trắng mặt dưới, nhẵn

cả hai mặt; cặp gân đáy cách đáy 0-5 mm; cuống dài 0,5-0,7(1) cm, lồi lõm,không lông, màu nâu sẫm; lá bắc hình trứng, dài khoảng 2 mm Hoa màuvàng, dài 5,5 mm, mùi thơm Quả tròn dài, to 1,3 x 0,7-0,8 cm, không lông.Phân bố: Quảng Ninh (Đầm Hà), Nghệ An (Quế Phong), Hà Tĩnh (VũQuang) Còn có ở Trung Quốc (Vân Nam, Quảng Đông, Hải Nam)

Sinh thái: Mọc rải rác trong rừng nhiệt đới thường xanh, ở độ cao 1.700 m Ra hoa tháng 3-8, có quả tháng 8-10

1.300-9 Cinnamomum longepetiolatum Kosterm apud Phamh (Quế cuống dài),

(Syn: C longipetiolatum H W Li).

Mô tả: Cây gỗ cao 4-10 m; nhánh to 2-4 mm, nâu, láng Lá có phiếnxoan tròn dài, to 9-12 x 4-6 cm, chót nhon, đáy tà, hơi từ từ hẹp trên cuống,

Ngày đăng: 21/12/2013, 12:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Bản đồ Vườn quốc gia Vũ Quang - Nghiên cứu đặc điểm sinh học, thành phần hoá học tinh dầu của một số loài thuộc chi cinnamomum và litsea trong họ long não ( lauraceae) ở vườn quốc gia vũ quang, hà tĩnh
Hình 1.1. Bản đồ Vườn quốc gia Vũ Quang (Trang 19)
Bảng 3.1. Danh lục thực vật chi Cinnamomum và Litsea ở VQG Vũ Quang - Nghiên cứu đặc điểm sinh học, thành phần hoá học tinh dầu của một số loài thuộc chi cinnamomum và litsea trong họ long não ( lauraceae) ở vườn quốc gia vũ quang, hà tĩnh
Bảng 3.1. Danh lục thực vật chi Cinnamomum và Litsea ở VQG Vũ Quang (Trang 47)
Bảng 3.2. Các loài thực vật thuộc chi Cinnamomum và Litsea bổ sung cho - Nghiên cứu đặc điểm sinh học, thành phần hoá học tinh dầu của một số loài thuộc chi cinnamomum và litsea trong họ long não ( lauraceae) ở vườn quốc gia vũ quang, hà tĩnh
Bảng 3.2. Các loài thực vật thuộc chi Cinnamomum và Litsea bổ sung cho (Trang 49)
Bảng 3.4. Tỷ lệ % giữa các chi nghiên cứu ở VQG Vũ Quang so với Việt Nam - Nghiên cứu đặc điểm sinh học, thành phần hoá học tinh dầu của một số loài thuộc chi cinnamomum và litsea trong họ long não ( lauraceae) ở vườn quốc gia vũ quang, hà tĩnh
Bảng 3.4. Tỷ lệ % giữa các chi nghiên cứu ở VQG Vũ Quang so với Việt Nam (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w