1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh trưởng và phát triển của một số giống vừng ở nghệ an

73 1K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh trưởng và phát triển của một số giống vừng ở nghệ an
Tác giả Nguyễn Vy, Các Cộng Sự
Trường học Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Nông Nghiệp
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2006
Thành phố nghệ an
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giá trịkinh tế của vừng V6 và một số cây trồng khác khi canh tác trên đất như đất cátven biển, đất bạc màu, đất bạc màu cổ, đất phù sa đã được so sánh và các tác giả đã đi đến kết luận r

Trang 1

MỞ ĐẦU 1.Đặt vấn đề

Cây Vừng (Sesamum indicum L) hay còn gọi là “mè” có nguồn gốc từ châu

Phi và đã được trồng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới Đây xem là cây trồngngắn ngày quan trọng nhất, cây thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, nó chiếmmột vị trí quan trọng trong nền kinh tế nông nghiệp của Nghệ An nói riêng, củaViệt Nam cũng như trên Thế Giới nói chung

Cây Vừng có giá trị sử dụng, thành phần dinh dưỡng của Vừng chủ yếu làLipit 45-55%, Prôtêin 16-18% và Gluxit 18-22% do Vừng là cây có hàm lượngdầu cao nên nó được mệnh danh là “Hoàng hậu của cây có dầu"

Dầu Vừng tinh chế được xem là loại dầu ăn hảo hạng và ngày càng được

sử dụng nhiều thay thế cho mỡ động vật bởi khi ăn dầu vừng tránh bệnh xơ cứngđộng mạch Ngoài ra, với đặc tính không bị ôxi hoá, có thể cất giữ được lâu màkhông bị ôi và với hương vị đặc thù nên dầu vừng được sử dụng nhiều trongngành công nghiệp thực phẩm

Vừng được sử dụng trong ngành công nghiệp như người châu Phi đã dùngvừng để tạo nước hoa và loại nước hoa cô-lô-nhô nổi tiếng được sản xuất từ hoavừng (Thenujactory,1999) [28], axitmyristiccos trong hạt vừng được xem là mộtthành phần không thể thiếu trong ngành công nghiệp mỹ phẩm chất sesamin vàsesamolintrong hạt vừng có tính diệt khuẩn và sâu bọ nên được làm chất tăngcường tác dụng cho thuốc trừ sâu Dầu Vừng được làm dung môi hoà tan các loạidược phẩm, thuốc làm mịn da, trong sản suất bơ thực vật và xà phòng(Homecooking,1998)

Vừng còn được ứng dụng nhiều trong việc bồi bổ sức khoẻ và trong các côngnghiệp dược phẩm lignan của vừng có đặc tính chống oxi hoá và có hoạt tínhtăng cường sức khoẻ (Kato và cs., 1998) [21] có sesamin và sesamolin đã đượcxác định là có hàm lượng cao trong vừng đều có tác dụng tăng cường tốc độ oxihoá các axit béo trong peroxyxom và trong ty thể (Sirato-yasumoto và cs., 2001)

[25],dùng vừng hạt làm thực phẩm dường như có tác dụng làm tăng hoạt tính của

Trang 2

y-tocopherol là chất được xem là chống ung thư và bệnh tim (Cooney và cs.,2001) [17] dầu vừng còn dược dùng làm dung môi cho một số thuốc tiêm vào cơ,dầu vừng có những đặc tính bổ dưỡng, làm dịu vết viêm mềm cơ và thuốc nhuậntràng Vào thế kỷ thứ 4, người Trung Quốc đã dùng dầu vừng để trị bệnh chứngđau răng và bệnh viêm lợi, dầu vừng còn biết đến trong giảm colesterol do cóhàm lượng cao các chất béo không có khả năng sinh colesterol Những côngdụng khác của vừng bao gồm điều trị mờ mắt, hoa mắt, chóng mặt và đau đầu.

Ở Việt Nam cây vừng được trồng rộng rãi sản suất từ Bắc đến Nam,nhưng diện tích còn manh mún, không phân thành khu rõ rệt, chủ yếu phục vụkinh tế phụ gia đình, năng suất còn thấp Trong năm 2006, Nghệ An có diện tíchvừng chiếm 6307 ha và sản lượng so với toàn 3344 tấn/ha so với toàn quốc Nghiên cứu về cây vừng ở Việt Nam và nhất là ở Nghệ An được chú ý hơnkhi tập đoàn Kodoya của Nhật Bản đã có những hợp đồng thu mua vừng của ViệtNam, mở ra một thị trường mới cho cây Vừng Việt Nam nói chung và cây Vừngtỉnh Nghệ An nói riêng Trong 2 năm 1994 và 1995, Nguyễn Vy và các cộng sựcủa Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, Viện Nghiên cứu dầu thựcvật, Viện Thổ nhưỡng Nông hoá, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nghệ

An đã tiến hành 4 vụ khảo nghiệm của các giống địa phương của Việt Nam cùngvới một số giống ngoại và đi đến kết luận các giống địa phương vừa có năng suấtthấp vừa không đáp ứng dược những tiêu chuẩn về chất lượng xuất khẩu Trongquá trình khảo nghiệm giống một số giống ngoại nhập, bước đầu các nhà khoahọc đã chọn một số giống có năng suất cao chất lượng tốt đáp ứng những yêu cầuxuất khẩu trong đó giống vừng V6 (hạt màu trắng) và giống vừng V36 (hạt màuđen) có nguồn gốc từ Nhật Bản được xem là giống có nhiều triển vọng Giá trịkinh tế của vừng V6 và một số cây trồng khác khi canh tác trên đất như đất cátven biển, đất bạc màu, đất bạc màu cổ, đất phù sa đã được so sánh và các tác giả

đã đi đến kết luận rằng trên những vùng đất bạc màu hoặc đất cát ven biển thìvừng là loại cây trồng có độ rủi ro cao, tập quán trồng vừng của người nông dân

là ít đầu tư phân bón, thâm canh, chăm sóc dẫn đến sản lượng thấp

Trang 3

Cũng trong thời gian qua các giống vừng được trồng phổ biến trên vùng đấtcát ven biển Nghệ An đã và đang bộc lộ một số nhược điểm như năng suất không

ổn định, dễ mắc các loại sâu bệnh, độ thuần chủng các giống nhập nội không bảođảm, chất lượng không đồng đều của từng giống

Trong tình hình đó cần có những công trình điều tra nghiên cứu một cáchđầy đủ, có hệ thống các giống vừng này nhằm đánh giá đúng tiềm năng về năngsuất, những ưu điểm và hạn chế của từng giống để góp phần làm căn cứ khoa họccho việc bảo tồn các gen quý và làm cơ sở cho các chiến lược tạo giống mới vớinăng suất cao, chất lượng tốt, có khả năng chống chịu sâu bệnh, thích nghi vớicác điều kiện khí hậu, đất đai và trình độ canh tác ở Nghệ An

Với lý do nêu trên mà tôi tiến hành Nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu một số

đặc điểm hình thái, sinh trưởng và phát triển của các giống vừng trồng phổ biến ở Nghệ An”.

2.2 Yêu cầu

- Nghiên cứu chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển, chất lượng của các giống vừng

- Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái của giống vừng (màu sắc thân, lá,quả và hạt)

- Nghiên cứu các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống vừng

Trang 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cở sở khoa học và thực tiễn của đề tài

1.1.1 Cơ sở khoa học

Trong hệ thống các biện pháp canh tác, sử dụng giống vừng tốt là yếu tốhàng đầu quyết định tăng năng suất, sản lượng và hiệu quả kinh tế Giống là tưliệu sản xuất không thể thiếu được, chọn giống tốt sẽ tăng hiệu quả sử dụng phânbón, thuỷ lợi và đảm bảo sản lượng trong những điều kiện bất thuận như: ngậpúng, hạn hán, sâu bệnh, phèn, mặn,… vì vậy giống được xem là tư liệu sản xuất,

là tiền đề cho việc nâng cao năng suất, đạt hiệu quả cao trong sản xuất nôngnghiệp

Tất cả các khâu của quá trình sản suất giống cây trồng đều nhằm mục đíchcuối cùng là tạo ra những giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt, khả năngchống chịu với các điều kiện bất thuận cũng như các đối tượng sâu bệnh hại.Trong các khâu của quá trình sản xuất thì giống là một yếu tố hết sức quantrọng, là yếu tố đầu tư ít tốn kém, nhưng lại đem lại hiệu quả kinh tế lớn Tuynhiên giống cây trồng lại mang tính khu vực hoá rất cao, mọi tính trạng và đặctính đều biểu hiện trong những điều kiện ngoại cảnh nhất định như: đất đai, khíhậu, thời tiết và các biện pháp kỹ thuật

Thực tế cho thấy một số giống tốt được đưa vào sản suất qua một số năm đãtrở nên thoái hoá giữa tác động trực tiếp của điều kiện tự nhiên như: thời tiết, khíhậu và trình độ thâm canh của người dân làm cho năng suất, phẩm chất, và ảnhhưởng đến hiệu quả kinh tế Chính vì vậy việc chọn tạo thử nghiệm và so sánh,khảo nghiệm, đánh giá một số đặc điểm nông học để tạo ra các giống ưu việtnhất, hiệu quả kinh tế cao phù hợp với từng vùng sinh thái và khả năng chốngchịu với sâu bệnh hại chính đang là vấn đề đáng quan tâm hiện nay của các nhàchọn giống

Cở sở để đánh giá một số đặc điểm Nông Học ảnh hưởng đến sinh trưởng

và phát triển của một số giống Vừng phổ biến là:

a) Đặc tính thực vật học

Trang 5

Vừng là cây thuộc thảo hàng năm, thời gian sinh trưởng ngắn, từ 80-120ngày nên trồng được nhiều vụ trong năm.

 Rễ: Vừng có rễ cọc nhưng hệ thống rễ chùm rất phát triển Trên rễ cáiđâm ra nhiều rễ cấp 1, trên rễ cấp 1đâm ra rễ cấp 2… Thời kỳ cây con, rễ cái sinhtrưởng tương đối nhanh hơn rễ bên, nhưng thời kỳ bắt đầu nở hoa thì ngược lại

 Thân, cành: Thân vừng cao từ 55-150 cm tuỳ điều kiện ngoại cảnh vàgiống mà biến đổi Trên thân có từ 25-50 lóng, độ dài lóng 2-7 cm.Giống chínmuộn thân cao, lóng dài hơn giống chín sớm Trên thân, cành có lông thườngmàu trắng, dài hay ngắn , thưa hay dày tuỳ từng giống Mật độ thân tương quanthuận với tính chống hạn của từng giống vừng

 Lá: Lá vừng thường có hình trứng, hình tiêm hoặc hình thuôn dài, ở một

số giống những lá dưới thấp có phân thuỳ, thậm chí có thể mọc thành cụm lánhưng các lá phía trên cao thì thường nhọn, không phân thuỳ, mép lá xẻ răng cưakhông theo quy luật Lá vừng không có lá kèm phân bố dọc thân, cành và sắp xếpkhông thống nhất Đa số giống, lá mọc đối hoặc phía gốc mọc đối, phía ngọnmọc cách, trường hợp cá biệt có giống lá mọc cách hoàn toàn hoặc phía gốc mọccách, phía ngọn mọc đối Trên mặt lá có lông tương tự màu lông của thân, cành

và nhiều hay ít là tuỳ giống

 Hoa: Hoa được mọc từ nách lá trên vị trí của thân và cành, số đốt trênthân mang hoa đầu tiên kể từ đất là đặc điểm di truyền của giống, có tương quanchặt chẽ giữa độ cao đóng quả, độ cao cây và năng suất Hoa phát triển bìnhthường chỉ dài tới 3cm và thuộc loại hoa lưỡng tính hoàn toàn Đài hoa chia làm

5 thuỳ nông Tràng hoa chia 5 thuỳ hình ống, hoa chuông với 2 hoa môi yếu ớt, 3tràng hoa dưới liên kết làm thành môi dưới Nhị đực thường có 5 cái mọc ở phíatrong vách ống tràng, 1 cái bất dục đính trên ống tràng, 4 cái hoạt động, 2 dài, 2ngắn, đầu mang túi phấn màu vàng Cũng có loại có 8 nhị đực xếp thành 4 đôi.Nhụy cái màu trắng sữa, gồm bầu nhụy, chỉ nhị và đầu nhuỵ phân nhánh tươngứng với số tâm bì Bầu nhụy có 2-4 ngăn, mỗi ngăn có 2 hàng phôi châu dính vàothai toà sau sẽ thành hạt Gốc bầu nhụy có tuyến mật Thời gian mọc đến khi ra

Trang 6

hoa khoảng 38-56 ngày tuỳ từng giống và điều kiện trồng Hoa nở suốt ngày từ 4giờ sáng đến 6 giờ chiều, nhưng nở rộ nhất vào 9 giờ sáng Vừng thuộc loại hoa

tự thụ phấn nhưng một số hoa có khả năng tạp giao, nói chung tỷ lệ tạp giao tựnhiên là không quá 5%

 Quả: Quả của vừng thuộc quả nang, trong quả chứa nhiều hạt xếp dọctừng ngăn do các vách giả tạo thành, số hạt/quả là yếu tố di truyền Mỗi quả vừng

có 2-4 ngăn, nhưng cũng có loại 3,5 hoặc 6 ngăn Mỗi ngăn lại có một màngngăn đôi thành 2 ngăn giả Số ngăn giả tương đương số cạnh của quả Đa số quả

nẻ gọi là loại quả nẻ hạt rơi ra ngoài khi chín nhưng cũng có giống quả không nẻgọi là loại quả ngậm rất thích hợp thu hoạch bằng máy Thường trên mỗi nách lámọc 1-3 quả, số quả mỗi nách lá liên quan mật thiết đến sản lượng

 Hạt: Hạt vừng có hình thon dẹt, một đầu nhọn, một đầu tròn, da mặt nhẵnhoặc nhám mang nhiều vân hình nhiều cạnh và một đường ngôi phân đôi hạt theochiều dọc Mầu sắc hạt thường là trắng, vàng, nâu, đen, xám…tuỳ từng giốngkhác nhau Hạt vừng dài 3-4mm, rộng 1,6-2,3 mm Trọng lượng 1000 hạt chỉ 2-4

g, vỏ hạt rất mỏng, các sắc tố chứa trong tế bào hạt quyết định màu sắc của hạt.b) Sinh trưởng và phát triển của cây vừng

 Nẩy mầm: Hạt vừng gặp điều kiện thuận lợi, sau 3-7 ngày là mọc Câyvừng con rất non, bé, sức chống đỡ kém Nói chung, vừng sau khi mọc 5 ngày rađôi lá thật đầu tiên và 3-4 ngày sau ra đôi lá thật thứ 2, về sau cứ 2-5 ngày thìthêm 1-2 lá Bộ rễ của cây con phát triển yếu về phía sau phát triển mạnh dần và

đạt đỉnh cao nhất lúc vừng ra hoa Ở 21ºC vừng nẩy mầm mạnh nhất, tỷ lệ nẩy

mầm đạt đến 99%

 Nở hoa: sau khi mọc 1 tháng, vừng bắt đầu ra hoa Trong ngày, hoa nở từ

4 giờ sáng đến 4 giờ chiều và ngừng nở hoa vào khoảng 7 giờ tối, thời gian nởhoa rộ từ 8-10 giờ sáng (chiếm khoảng 2/3 số hoa nở) Trình tự hoa nở trên cây

đó là từ dưới lên trên, từ trong ra ngoài, những giống vừng mỗi nách lá đóng 3quả trở lên thì nở hoa có hiện tượng vượt cấp Thời gian ra hoa kéo dài khoảng 2

Trang 7

tháng, dưới điều kiện nhiệt độ ẩm 97% số lượng hoa nở chiếm trên 1/3 Độ ẩmbão hoà không ảnh hưởng đến nở hoa nhưng độ ẩm dưới 80% thì hoa khó nở

 Hình thành quả: Bầu nhụy cái sau khi thụ tinh bắt đầu kết hạt, quả hìnhthành và lớn dần Trong bầu nhụy mỗi ngăn có từ 20-30 phôi châu sau này sẽhình thành hạt Thời kỳ này nhu cầu nước và chất dinh dưỡng rất lớn Ánh sángđầy đủ xúc tiến quá trình hình thành dầu, xúc tiến quá trình hình thành dầu, xúctiến sự vận chuyển các chất dinh dưỡng từ lá đến quả, hạt nên cần ngắt ngọt đúnglúc, ngắt lá đúng lượng, quả lớn nhanh 9 ngày sau khi hoa nở mặc dù sau 24 ngàyquả vẫn tiếp tục phát triển Trọng lượng khô cao nhất 27 ngày sau khi hoa nở

1.1.2 Cở sở thực tiễn:

Nông dân Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng đã có tập quán trồngvừng rất lâu đời nhưng việc trồng trọt chủ yếu theo tập quán, kinh nghiệm màchưa có những hướng dẫn mang tính hệ thống khoa học như những cây trồngkhác Từ năm 1994, vị trí cây vừng trong nền nông nghiệp tỉnh Nghệ An đã đượcnâng lên và Nghệ An được xem là vùng trồng vừng trọng điểm của Việt Nam Tại Nghệ An, riêng vụ Hè Thu năm 2002 diện tích các loại vừng trên toàntỉnh là 9.957 ha, chủ yếu các huyện đất cát ven biển như Diễn Châu (3.050 ha),Nghi Lộc (3.303 ha), Quỳnh Lưu (586 ha),… với 3 giống vừng được rồng phổbiến: vừng vàng, vừng đen và vùng V6 Trong đó vừng đen là giống địa phương,còn V6 là vừng nhập nội

Từ năm 1992 đến nay việc du nhập giống vừng Nhật Bản như V6 đã thayđổi cơ cấu giống vừng Nghệ An đã bộc lộ một số nhược điểm như mẫn cảm vớimột số loại sâu bệnh, sản lượng không ổn định, độ thuần chủng của giống khôngđảm bảo, chất lượng giống không đồng đều

Còn giống vừng địa phương có nhiều điểm tốt, thích nghi với điều kiện thổnhưỡng khí hậu, đòi hỏi mức đầu tư thấp, chống chịu sâu bệnh, kiểu canh tácquảng canh, phù hợp với quy mô nông hộ sản xuất nhỏ,… năng suất thấp hàmlượng dầu không cao

1.2 Tình hình nghiên cứu cây vừng trên thế giới và trong nước

Trang 8

1.2.1 Tình hình nghiên cứu vừng trên thế giới

Mặc dù là loại cây trồng truyền thống lâu đời của loài người, nhưng do chủyếu được gieo trồng ở những nước đang phát triển, mặt khác chỉ là loại cây trồngphụ xen vụ nên trước đây cây vừng ít được chú ý nghiên cứu Tuy vậy, khi giá trịcủa hạt và dầu vừng được xác định, đặc biệt là những giá trị về mặt y học, thì câyvừng đã được các nhà khoa học để ý nhiều hơn Đầu thế kỷ XIX (1808-1824),Thomas Jefferson, nhà làm vườn nổi tiếng của Mỹ, tiến hành những thử nghiệmtrên cây vừng khi nó du nhập vào Mỹ từ Châu Phi đã được phát biểu rằng "vừng

là một trong số những thứ giá trị nhất nhất mà đất nước tôi tìm ra được… trướcđây tôi không tin rằng có sự tồn tại một dầu một hoàn hảo như thế để có thể thaythế dầu ôliu" (Betts, 1999) cho đến nay, ngày càng có nhiều công trình nghiêncứu về vừng và đã đề cập đến hầu hết các lĩnh vực cần được quan tâm như điềutra, thu thập, chọn giống, nông học, hoá sinh, (Ashri,1995) [ 16]

a) Điều tra thu thập giống vừng bằng phương pháp truyền thống

Do vừng được con người trồng trọt từ lâu đời nên đa dạng Vào năm 1967trên một cánh đồng ở Rajasthan, Ấn Độ, D.R Langham đã tìm thấy 22 kiểu hìnhkhác nhau (Langham,D.R và cs., 2001) [ 23] Bedigian và Harlan (1985) chorằng hầu hết các địa phương của Sudan đều có những giống vừng bản địa Vàonăm 1999 ở Venezuela, nơi được được báo cáo là chỉ có 2 giống vừng đượctrồng nhưng Langham đã thu thập được 11 kiểu hình khác nhau trên một cánhđồng

Sesaco, một công ty chuyên nghiên cứu và sản xuất ở Mỹ, đã nghiên cứutrên 412 đặc tính của cây vừng Hằng năm những đặc tính mới lại được phát hiệnthêm và những đặc tính cũ được kiểm tra để tìm hiểu tính ổn định và mối liênquan của các đặc tính đó với nhau Cho tới năm 2000 Sesaco đã thu thập được2.738 giống từ 66 nước (Langham D.R., 2001) [17] Riêng cuộc điều tra thu thậpnăm 2002 đã thu được 869 giống từ 41 nước khác nhau (Morris, 2002) Sử dụngcác giống được làm vật liệu khởi đầu, Sesaco đã tiến hành lai tạo, đánh giá vàphát triển được 33.545 giống mới (Xiurong và cs., 1999) [25] Hàn Quốc (Lee và

Trang 9

cs., 1984) [26], là những nước đã có những chương trình lớn trong việc điều tra,thu thập và bảo tồn các giống địa phương.

Do có tính đa dạng cao và không có kiểu cấu trúc mẫu cứng nhắc nên sựphân loại cây vừng gặp không ít khó khăn Nhiều nhà chọn giống cây trồng vàcác nhà điều tra thu thập trên đồng ruộng đã có những quan điểm khác nhau vềmột kiểu cấu trúc chuẩn lý tưởng của cây vừng Từ quan điểm của 6 nhà chọngiống vừng chính trên thế giới là Langham D.R (Venezuela và Sesaco), M.L.Kinman (USDA, Collection Station,Teas), D.M Yermanos (University ofRiverside, California ), T Kobayashi (Nhật Bản ), C.W Kang (Hàn Quốc ) và

W Wongyai (Thái Lan ) thì có thể sử dụng 7 đặc tính (kiểu phân cành, số quảtrên một nách lá, chiều cao cây, độ dài lóng, chiều dài quả, số lá noãn, và kiểuchín) để phân loại nhanh các giống vừng ngay trên đồng ruộng

b) Nghiên cứu cải tiến phương thức canh tác

Theo nghiên cứu của Thiagalingham và Bennett, với lượng phân Nitơ60kg/ha bón vào thời điểm gieo dường như là thích hợp đối với các giống nhưsản lượng nhưng sự bón nitơ sau khi ra hoa làm sản lượng bị giảm sút Rất ítcông trình phản ứng của vừng đối với phân phốt phát và những kết quả sơ bộkhông mang tính thuyết phục Về các dinh dưỡng vi lượng, bón 1mg Bo/kg đất ởcác mảnh ruộng thí nghiệm thì tăng lượng quả và trọng lượng hạt trên cây nhưngbón Bo với mức cao hơn làm giảm sút phát triển của rễ và tăng tỷ lệ rễ chồi cây/rễ

Sản lượng hạt và phản ứng sản lượng của vừng tới phân bón bị ảnh hưởngbởi dinh dưỡng của đất, ngày gieo, giống, mật độ, khoảng cách hàng và độ ấmẳn

có trong suốt thời gian trồng vừng Mỗi yếu tố này có thể ảnh hưởng đến yêu cầudinh dưỡng của cây và lượng phân bón tối thích Ước tính từ sự phân tích hạtvừng được thu hoạch ở các vùng khác nhau của Autralia rằng 1 tấn hạt vừng sẻlấy khoảng 35-48 kgN/ha tuỳ thuộc vào mức dinh dưỡng của đất đai và địaphương

Trang 10

Eagleton và Sandover có công trình nghiên cứu đánh giá những triển vọngcho sự sản xuất vừng thương mại dưới điều kiện tưới nước ở miền Tây bắcAustralia vào giữa những năm 80 Từ 31 dạng vừng được nghiên cứu thẩm tra,hai dạng đã được chọn cho sự đánh giá Hnan Dun một giống của Myanma, vớiđặc điểm hạt màu trắng và sinh trưởng phân nhánh đã cho sản lượng 1,2 tấn/ha Được trồng trên đất sét Cunurracos tưới nước, chín trong 105 ngày Trênđất cát Cockatoo, sản lượng hạt của Hnan Dun là 1,3 tới 1,6 tấn/ ha Pachequino,một giống không phân nhánh, có nguồn gốc từ Mehico, chín chậm hơn so vớiHnan Dun, cho sản lượng lên tới 1,8tấn/ ha trong các thử nghiệm ở trên đất cátsét Cunurra, và hạt có màu trắng rõ nét được ưa thích trong việc dung làm bánhkẹo.

Trong 2 thử nghiệm điều tra về phương pháp thu hoạch Thời điểm tối thíchcho phương pháp cho thu hoạch trực tiếp của Pachequino được phát hiện là 50ngày sau khi gieo, khi khoảng 50% cây trồng đã khô hoàn toàn Sử dụng diquat2lít/ha để sấy khô các phần thực vật của cây trồng cho phép thu hoạch sớm hơn

để kiểm soát tốt hơn những mất mát từ việc vỏ quả bị nứt 6ha vừng được trồngtrong năm 1985-1986 trên đất sét Cununurra với các hoạt động canh tác phù hợpnhất đã được xác định trong các thử nghiệm này và được thu hoạch với máy thuhoach kết hợp với máy quạt gió Harvestaire, tạo ra sản lượng hạt sạch từ 730-980kg/ha

Kogram và Steer kiểm tra đặc điểm sinh lý phát triển của vừng, đặc biệt là

sự phản ứng lại với những tỷ lệ khác nhau của nitơ trong các thử nghiệm nhàkính trên đồng ruộng Các giống Aceitera và Hnan Dun được sử dụng trong cácthử nghiệm nhà kính và Hnan Dun trong các thử nghiệm đồng ruộng Sự cungcấp nitơ cao đẩy nhanh sự nở hoa đầu tiên nhưng kéo dài thời gian chín của quảđầu tiên, thời gian chín được tăng lên liên quan đến sự sản sinh thêm lá và quả

Số quả là sự hạn định chính sản lượng hạt trên một cây, trọng lượng từng hạt và

số hạt trên một quả thì kém quan trọng hơn nhiều Trọng lượng khô của quả làmột hàm tuyến tính của diện tích lá trên một cây và cũng tương quan chặt chẽ với

Trang 11

sản lượng hạt, cũng như là khoảng thời gian tồn tại của diện tích lá trong thửnghiệm trên đồng ruộng Sản lượng hạt tăng một cách tuyến tính khi hàm lượngnitơ của cây tăng tới 1,8 gN/cây nhưng sau đó đã đạt đến trạng thái ổn định ở2,7gN Sự cung cấp nitơ đã ảnh hưởng đến thành phần hoá học của hạt băng cáchtăng hàm lượng protêin nhưng không có ảnh hưởng đến hàm lượng dầu và hàmlượng các thành phần khác.

Sự sinh sản của vừng sau khi nẩy mầm chậm và vì thế cỏ dại có thể pháttriển dẫn đến sự suy giảm sản lượng Hiện chưa có loại thuốc diệt cỏ trước nẩymầm có hiệu quả, vì vậy đối với sự kiểm soát cỏ dại có hiệu quả chắc chắn phảichuyển sang quản lý lớp phủ bề mặt và các loại thuốc diệt cỏ sau nẩy mầm.Martin đã đề nghị những thủ tục sau đây để kiểm soát cỏ dại trong các vụ trồngvừng:

1 Sau khi trồng có mưa, áp dụng thuốc diệt cỏ vào ngày trước trước khigieo vãi một lớp thực vật để cung cấp một lớp phủ bề mặt có hiệu quả

2 Gieo ở tỷ lệ cây non để diệt trừ cỏ dại

3 Phun thuốc diệt cỏ trước lúc nẩy mầm

4 Trước khi có sự khép tán, đánh giá chắc chắn những thiệt hại do cỏ dạigây ra tại thời điểm khép tán, đánh giá chắc chắn những thiệt hại do cỏ dại gây ratại thời điểm khép tán từ việc chuyển đổi trong diện tích bề mặt lá liên quan của

cỏ dại

5 Phun thuốc diệt cỏ sau khi nẩy mầm nếu thấy cần thiết

Yeates và cộng sự đã nghiên cứu về những hệ thống làm đất và luân canhđối với vừng ở miền Tây Bắc Australia Họ cho rằng vừng là loại cây trồng thíchhợp cho sự chuyển đổi với những cây trồng chính lấy hạt có trong khu vực, bởi vìngày gieo tối thích của nó rơi vào giữa các cây ngũ cốc (ngô và lúa miến ) và đậuxanh Họ chỉ cho rằng ít thông tin sẵn có đề cập sự luân canh của vừng với nhữngbãi cỏ bỏ hoá dường như không gây ra khó khăn lớn nào Tuy nhiên, các cây họđậu trong bãi cỏ hoang thích nghi với điều kiện địa phương có thể sản sinh phầnlớn hạt cứng và những hạt này có thể nẩy mầm và cạnh tranh với cây vừng ở vụ

Trang 12

tiếp theo Không có một loại thuốc diệt cỏ nào được lựa chọn đã được biết đến đểkiểm soát cỏ dại thuộc cây họ đậu này Làm đất theo phương pháp truyền thốngđược ưa thích bởi các nông dân đi đầu trong việc rồng vừng, đó là không làm đấtkhi gieo vì hạt vừng quá nhỏ.

c) Những phương thức hiện đại trong tạo giống mới

Đa số giống vừng có quả khi chín đều nứt, nẻ làm mất hạt, đặc biệt là khithu hoạch bằng máy Các dạng đột biến đồng hợp tử có khản năng giữ hạt khichín đã được tạo ra nhưng không may là đột biến này kéo theo sự suy giảm năngsuất Công ty Sesaco của mỹ đã có một chương trình tạo giống rất tích cực vàtung ra thị trường một số giống vừng bán nẻ, quả chỉ nẻ một phần khi chín.Amram Ashri (1998) đã thử dùng tia γ và ethyl methan Sulfonate (EMS) để tạođột biến giữ hạt ở cây vừng nhưng không thành công Kang (2001) đã thiết lậpmột chương trình nghiên cứu tìm kiếm các đột biến giữ hạt dưới sự tài trợ củaFAO và IAEA Một dự án tương tự cũng đã tiến hành ở Venezuela và các độtbiến giữ hạt thế hệ M2 và M3 đã và đang khảo nghiệm Ram (1990); Ashri(1998):

[16] Kang và cs (2001); Pathirana (1995) [18] đã tạo ra được những dòng cókhản năng kháng bệnh bằng con đường nhân nuôi cấy mô hoặc gây đột biến nhântạo

Nhiều chương trình tạo giống hàn ở hàn quốc, Ấn Độ, Venezuela đã tạo ranhiều dòng thuần cho năng suất cao (Kang và cs., 2001) [16] Cácgiống lai cũng

đã được tạo ra trong các chương trình tạo giống ở một số nước và đã tạo ra sự độtphá về năng suất (Ahuja và cs., 1989; Osman,1988; Sharma và cs., 1999) [23].Theo Amram Ashri (1995) [16], Bayday và cs (1999, 2000), để các giống laiđược nghiên cứu và gieo trồng phổ biến cần kết hợp với các nghiên cứu về gennhư đột biến hay chuyển gen Amaram Ashri (1985; 1994, 1995, 1998 ) [16] đã

xử lý giống "No" có nguồn gốc từ Israel bằng tia γ với cường độ 50 Kral đã tạo

ra được giống "dt45" có đặc tính sinh trưởng hạn định

Giống này sau đó được sử dụng làm vật liệu khởi đầu cho các chương trìnhtạo giống của nhiều nước Ở Hàn Quốc một giống mới có nhiều đặc tính tốt đã

Trang 13

được tạo ra từ phép lai giữa giống "dt45" với một giống cao sản ở địa phương(Kang và cs., 1984,2001 )

Để cây vừng có thể cạnh tranh được với các cây trồng khác thì một yêu cầuđược đặt ra là cơ giới hoá trong sản xuất vừng đặc biệt là trong khâu thu hoạch.Hiện tại trên 99% diện tích vừng trên thế giới đang được thu hoạch bằng tay( Langham, D.R and Terry Weirmers 2001) [25] Vào giữa thập kỷ 40 của thế

kỷ XX, D.G Langham và Rodriguez (1945,1949) [17] đã liệt kê những yêu cầuchính đối với cây vừng khi được đưa vào cơ giới hoá:

1 Sự ra hoa có hạn định

2 Cây rụng lá vào giai đoạn cuối

3 Hạt chín trước khi quả nứt vỏ

4 Hạt được giữ lại trong quả khi cây được thu hoạch bằng máy

5 Hạt dễ tách ra khỏi quả bằng máy đập Ba yêu cầu đầu tiên đã được giảiquyết trong những năm 40 và được cải tiến trong những năm 50; 60 thông quacác chương trình tạo giống và tao đổi nguyên liệu tạo giống giữa Langham D.R,M.L Kinman và J.A Martin

1.2.2 Tình hình nghiên cứu cây vừng tại Việt Nam

Trần Văn Lài và cộng sự (1993) đã mô tả một số đặc điểm hình thái của 5giống vừng, các yếu tố thời tiết ảnh hưởng đến cây vừng và các biện pháp kỹthuật canh tác, phòng trừ sâu bệnh cho cây vừng

Nghiên cứu về cây vừng ở Việt Nam và nhất là ở Nghệ An được chú ý hơnkhi tập đoàn Kodoya của Nhật Bản đã có những hợp đồng thu mua vừng của ViệtNam, mở ra một thị trường mới cho cây vừng Việt Nam nói chung và cây vừngcủa tỉnh Nghệ An nói riêng

a) Nghiên cứu về đặc điểm Nông sinh học của các giống vừng

Chương trình Việt- Nhật (1994-1995); (do công ty Mitsui và tập đoàn dầuvừng Kadoya, Nhật Bản tài trợ) đã nghiên cứu và khảo nghiệm gieo trồng cácloại giống vừng mới (đặc biệt là vừng V6) trên đất bạc màu ở Việt Nam - Nghệ

An và Hà Bắc (Kobayashi T.,1994; Dai Koido, 1995; Nguyễn Vy…)[11]

Trang 14

b) Nghiên cứu về giống vừng

Cho đến nay hiện biết ở Việt Nam có 5 giống vừng chính: Vừng vàng DiễnChâu (Nghệ An); vừng đen Hương Sơn (Hà Tĩnh, Nghệ An, QuảngBình ); vừngcối xay (trung du miền Bắc ); Mè vàng Châu Phú (Đồng bằng Cửu Long); (Trầnvăn Lài và nnk,1993) [7]

Gần đây (vào năm 1992 đến nay), việc du nhập giống vừng Nhật Bản (nhưvừng V6) đã thay đổi cơ cấu giống vừng ở Nghệ An và Việt Nam Vừng V6 trênđất cát ven biển Nghệ An đã bộc lộ một số nhược điểm như mẫn cảm với một sốsâu bệnh, sản lượng không ổn định, độ thuần chủng của giống không đảm bảo,chất lượng giống không đồng đều

Các giống địa phương có nhiều đặc điểm tốt, như thích nghi với điều kiệnthổ nhưỡng, khí hậu, đòi hỏi mức đầu tư thấp, chống chịu sâu bệnh, kiểu canh tácquảng canh, phù hợp với quy mô nông hộ sản xuất nhỏ,… nhưng năng suất thấp,hàm lượng dầu không cao,… các giống vừng nhập nội (như vừng V6) có năngsuất cao, hàm lượng dầu cao,… nhưng dễ dịch bệnh, rất mẫn cảm với nước (úngngập)

c) Nghiên cứu về quản lý sâu bệnh hại

Trên thế giới một trong những trở ngại cần nghiên cứu là quản lý sâu bệnhhại vừng, nhưng do đến nay ở Việt Nam mới chỉ có 3 tài liệu đề cập về sâu hạivừng và phòng trừ chúng (Viện BVTV,1976;Trần Văn Lài và nnk,1993; Thái BáTân, 2002) [6], cho đến nay hiện đã biết sâu hại vừng có 39 loài; còn phòng trừsâu hại vừng hiện đang khuyến cáo là dùng thuốc trừ sâu (Match, Polytrin,Sherpa, Trebon, Sumicidin, Regent, Karate, Actaru; Boodo…)

Trên vừng Nghệ An có khoảng 25-28 loại sâu hại, trong đó sâu hại chính làsâu khoang, sâu cuốn lá, Rệp Bệnh hại vừng có Bệnh héo xanh do vi khuẩn,Bệnh thán thư do nấm (Thái Bá Tân, 2002) Vụ vừng hè thu 2002, dịch bệnh gâychết hàng loạt ruộng vừng do bệnh héo xanh chết ẻo (Trong đó vừng chết hết tới40% diện tích vừng V6 giống Nhật Bản và 10% vừng địa phương giống HươngSơn)

Trang 15

1.3 Tình hình sản xuất vừng trên thế giới và trong nước

Trước chiến tranh thế giới thứ hai, diện tích trồng mè từ 5 triệu ha vào năm

1939, đạt sản lượng 1,5 tấn trong đó Ấn Độ là quốc gia trồng nhiều nhất với diệntích 2,5 triệu ha, Miến Điện 700.000 ha, Soudan 400.000 ha, Mehico 200.000 ha.Các quốc gia có diện tích trồng <50.000 ha gồm: Thỗ Nhĩ Kỳ, Pakistan,Ouganda, Megeria

Hiện nay, tuy với diện tích không nhiều mè đã được trồng khắp các châulục trên thế giới

Sản lượng mè hằng năm trên thế giới khoảng 2 triệu tấn

Các nước trồng nhiều mè trên thế giới:

- Ấn Độ: Đứng đầu thế giới với sản lượng khoảng 4000.000 tấn/năm

- Trung Quốc nước sản xuất lớn thứ 2: 320000-350000 tấn

- Sudan (châu Phi): 150-200 ngàn tấn

- Mexico (châu Mỹ): 150-180 ngàn tấn

Các nước có sản lượng tương đối lớn khác là: Burma, Pakistan, Thailan(châu Á), Nigiêria, Tanazania, Uganda (châu Phi), Colombia, Venezuela (châuMỹ)

Năng suất mè nói chung còn thấp Năng suất bình quân thế giới chỉ khoảng

300-400 kg/ha ( Thống kê 1999)

Trang 16

Bảng 1.1 Thống kê sản lượng vừng của một số nước trên thế giới 2007

( Diện tích: ha, Sản lượng : Tấn/ha)

(ha)

Sản lượng (Tấn/ha)

600 kg/ha Nếu áp dụng biện pháp canh tác thích hợp, năng suất mè có thể đạt1tấn/ha Ở Việt Nam, mè được trồng lâu đời nhất là ở Miền Bắc, nhưng diện tíchkhông mở rộng được vì điều kiện khí hậu và đất

1.4 Tình hình sản xuất vừng ở Nghệ An

Nghệ An là một trong số ít vùng chuyên canh vừng ở Việt Nam Tại vùngchuyên canh lạc và vừng ở Nghệ An năm 2002 nếu tính giá bán lạc 350 USD/tấnlạc vỏ, năng suất lạc đạt 1.200 kg/ha, lạc đủ tiêu chuẩn xuất khẩu Năng suấtvừng 500 kg/ha, giá bán 380 USD/ tạ thì giá trị thu nhập 1 ngày công trồng vừng

là 1,022 USD/ ngày công, còn lạc là 0,736 USD/ngày công Nếu vừng được thâmcanh tưới nước, đầu tư giống chống chịu sâu bệnh đưa năng suất đến 800-1000kg/ha thì lợi nhuận sẽ là 200 USD/1ha, gấp đôi của lạc (Trần văn Lài vànnk,1993); cùng trên 1diện tích, vừng cho thu nhập gấp 3 lần trồng lúa mùa caocây

Sau đây là một số thống kê vừng của Nghệ An trong những năm gần đâyvới diện tích, sản lưọng

Bảng 1.2.Số liêu thống kê tình hình sản xuất của một số năm gần đây

Trang 17

(Diện tích: ha, sản lượng: tấn/ ha)

Trang 18

CHƯƠNG II NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Vật liệu nghiên cứu:

- Vật liệu nghiên cứu: gồm 3 giống vừng được thu thập tại Nghệ An, bàogồm: Giống vừng đen 4 cạnh, vừng đen 8 cạnh và vừng trắng V6

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm: Tại Trại thực nghiệp Nông nghiệp Khoa Nông Lâm Ngư (NghiPhong, Nghi Lộc, Nghệ An)

- Thời gian nghiên cứu: Vụ Hè 2008 (6/2008-8/2008)

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Sơ đồ thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCB), 3 côngthức, 3 lần nhắc lại

- Diện tích mỗi ô thí nghiệm: 10 m2

- Tổng diện tích ô thí nghiệm:150 m2 ( kể cả dải bảo vệ )

Trang 19

- Lượng phân (tính theo cho 1ha)

* Bón lót: Dùng phân chuồng để bón lót cùng với toàn bộ P,K

+ Lần 1: Khi vừng cao 5-10cm, với lượng 10kg đạm/ha

+ Lần 2: Khi ra nụ,với lượng 10-15kg đạm/ha

a) Xử lý hạt giống: Hầu hết các vùng trồng vừng đều bị bệnh thời kỳ câyBón vôi nên bón tập trung bón lót trước khi gieo

2.3.2.3 Kỹ thuật gieo

a) Xử lý hạt giống: Hầu hết các vùng trồng vừng đều bị bệnh thời kỳ câycon gây mất khoảng, nên xử lý hạt giống trước khi gieo là biện pháp quan trọng,ngâm hạt giống trong nước ấm 530C, đồng thời vớt sạch hạt lép, thời gian 15phút vớt ra để ráo rồi trộn với tro để gieo, có thể dùng Celegan 0,1-0,2% trộn hạttrong một ngày sau khi vớt dung nước rửa sạch trước khi gieo

b) Cách gieo: gieo theo hàng thì năng suất hơn gieo vãi vì dễ chăm sóc hơn,

dễ điều khiển mật độ hơn

Trang 20

Rắc hạt đều vào rãnh được rạch từ công cụ cải tiến có 4-5 rạch để đảm bảo

dộ sâu 3-4cm, có thể cải tiến giảm công bằng cách lắp ống nứa, ống cao su vàrăng bừa để hạt tự động rơi xuống gieo xong bừa lấp hạt

2.3.2.4 Quá trình chăm sóc

- Phá váng nếu gieo xong có mưa

- Tỉa lần 1 khi cây mọc đều 2 lá thật

- Tỉa lần 2 khi cây 4 lá thật

- Định cây 20-30 cây/m2

Xới lần 1 khi cây 4 lá cao 15cm kết hợp bón thúc phân

Xới lần 2 khi cây chớm hoa kết hợp vun cao

+ Sâu ăn lá: sâu cuốn lá, sâu xanh, sâu róm, sâu khoang…

+ Giòi đục thân phá hại cây non, rệp hại thân và lá

+ Sâu đục quả

- Bệnh hại chính: bệnh thối cây con, lở cổ rễ, thán thư

Phòng trừ sâu bệnh bằng biện pháp sinh học, dùng giống chống bệnh, dùnghoá bảo vệ và chủ động tháo nước khi ngập úng

2.3.2.7 Mật độ trồng:

- Cây cách cây: 25 cm

- Hàng cách hàng: 40 cm

Trang 21

- Mật độ: 110 000 cây/ ha

2.3.3.1 Một số đặc trưng hình thái của giống

- Đặc tính phân cành: Đếm số cành trên cây nếu, ít < 1 cành/ cây, vừa 1-2cành/cây, nhiều >2 cành/ cây

2.3.3.2 Chỉ tiêu về chiều cao cây

Sau 20 ngày thì theo dõi chiều cao cây, chọn 10 cây đã đánh dấu rồi đo cứ 6ngày đo một lần

Cách đo: đo từ mắt thứ nhất đến đỉnh cây

2.3.3.3 Đo số đốt trên cây

Xác định số mắt đầu tiên, khoảng cách giữa mắt này và mắt khác chính là

số đốt trên cây

Cứ 6 ngày đo một lần số cây được đánh dấu trên mỗi ô thí nghiệm

2.3.3.4 Theo dõi chỉ tiêu đường kính thân

Xác định chu vi thân, đo sau 20 ngày sau khi gieo thì đo

C=2R.3,14Sau đó ta tính ra đường kính cần đo

2.3.3.5 Theo dõi sự ra hoa

Trang 22

- Đếm số hoa 10 cây đã đánh dấu

- Xác định tỷ lệ hoa hữu hiệu:

Số quả chắc trên cây

Tỷ lệ hoa hữu hiệu = 100%

Tổng số hoa trên cây

2.3.3.6 Các chỉ tiêu về yếu tố cấu thành năng suất và năng suất

+ Đếm tổng số quả/cây: Xác định tổng số quả bình quân/cây (đếm cả quả già,quả bánh tẻ và quả non ), cứ 6 ngày đếm một lần , đếm sau 45 ngày

+ Năng suất thực thu: P(1ô) x 10000 m2

Năng suất thực thu = (tạ/ ha) 10m2

+ Mỗi công thức thí nghiệm lấy 10 cây Vặt quả và xác định

Trang 23

Bóc quả và lấy hạt vừng ra cân khối lượng của tất cả các hạt trên từng cây rồi cânlên sau đó lấy trung bình.

* Năng suất lý thuyết (NSLT) (tạ /ha)

NSLT= Năng suất cá thể x Mật độ cây x 10000m2

i i

i

i i i

i

y y

n x x

n

y x y

x n

Trong đó: x , i y i là các cặp số liệu quan sát thứ i của đặc tính x, y

n là mẫu số quan sát

Nếu r = 0 thì đại lượng x và y độc lập nhau

0 < r  0,5 thì hai đại lượng x,y có quan hệ tuyến tính yếu

0,5 < r  0,7 thì hai đại lượng x,y có quan hệ tuyến tính vừa

0,7 < r  0,8 thì hai đại lượng có quan hệ tuyến tính tương đối chặt

Trang 24

0,8 < r  0,9 thì hai đại lượng x,y có quan hệ tuyến tính chặt.

0,9 < r < 1 thì hai đại lượng x,y có quan hệ tuyến tính rất chặt

2.3.4 Điều kiện nghiên cứu thí nghiệm

Nghệ An là một tỉnh thuộc vùng Trường Sơn Bắc, có toạ độ địa lý từ từ 18035-19030 vĩ độ Bắc và 1030 52-105042 kinh độ Đông với tổng diện tích tự nhiên1.637.068 ha (bằng 1/20 diện tích lãnh thổ Viêt nam, thống kê 2003)

Khí tượng thuỷ văn 2008 tại vùng nghiên cứu

Bảng 2.1 Diễn biến thời tiết, khí hậu vụ Xuân 2008

CT

Tháng

Nhiệt độ

Lưọng mưa

ngày mưa

- Nhiệt độ: Là yếu tố ngoại cảnh chủ yếu có tương quan tới thời gian sinhtrưởng của vừng Là cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới, nhiệt độ trung bình thíchhợp cho sự hạt nảy mầm, sinh trưởng, các bộ phận dinh dưỡng và hình thành hoa

là 25- 27oC

Nhiêt độ thích hợp nở hoa là: 28- 32oC, nhiệt độ dưới 20oC kéo dài nảymầm, nhiệt độ dưới 18oC khó khăn cho phát triển và dưới 10oC cây ngừng pháttriển và chết

Nhiêt độ ở tháng 6 rất thuận lợi cho quá trình nảy mầm Trong quá trìnhnảy mầm nhiệt độ trung bình 30,160C nó nằm trong ngưỡng thuận lợi cho quátrình nảy mầm và phát triển

Trang 25

Tuy vừng không cần nước nhưng thiếu nước năng suất không cao, do đótrồng vào vụ Hè cần phải cung cấp nước đầy đủ, nhất là khi bón phân cho vừng,tưới phải bảo đảm 50% thuỷ dung ngoài đồng Vừng cần nhiều nước khi gieođến ra hoa đầu tiên Sau đó giảm dần và ngừng tưới nước cho tới khi có trái chínđầu tiên và cuối tháng 7 nhiệt độ cao nhất là 32,50C rất thích hợp cho quá trìnhchín quả.

- Lượng mưa: Vụ vừng Hè 2008 có lượng mưa tương đối thấp nên nó ảnhhưởng đến quá trình phát triển và vươn cao của vừng nhưng nó lại là điều kiệncho vừng chín và thu hoạch

Trang 26

CHƯƠNG III.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Một số đặc trưng về hình thái của các giống

Đặc trưng hình thái của các loại cây trồng nói chung và cây vừng nói riêng

là tập hợp những kiểu hình bên ngoài của sự tác động qua lại giữ kiểu gen vàđiều kiện ngoại cảnh như: Phân bón, đất đai khí hậu, thời tiết Đặc trưng hình tháicủa các giống cây trồng liên quan đến khả năng chống chịu sâu bệnh và cho năngsuất cao

Bảng 3.1 Một số đặc điểm của các giống vừng

4 Tiết diện thân cắt

15 Tổng thời gian sinh

Trang 27

Dựa vào đặc điểm hình thái của giống thí nghiệm để từ đó có tác động cácbiện pháp kỹ thuật cho phù hợp từng giống

Từ kết quả bảng 2 trên cho thấy 3 giống vừng có nhiều đặc điểm khác rõràng mà căn cứ vào đó ta có thể phân biệt các giống như dạng quả, số múi/quả,

số hàng hạt/quả, màu hạt

Kết quả bảng 2 cũng cho thấy vừng V6 là giống vừng có thời gian sinhtrưởng phát triển ngắn nhất (70-75 ngày) màu hạt phù hợp với thị hiếu của ngườitiêu dùng (màu trắng)

Ngoài ra trong quá trình làm nghiên cứu tôi cũng gặp một số dạng biến dị

có những đặc điểm khác biệt với giống đã được mô tả ở bảng 2, tuy nhiên vớinhững dạng này chỉ xuất hiện đơn lẻ, chưa được thu thập, đánh giá kiểm tra vềkiểu gen và gieo trồng rộng rãi

3.2 Một số đặc điểm nông học cấu thành năng suất của các giống vừng 3.2.1 Chỉ tiêu về chiều cao cây

Khả năng sinh trưởng, phát triển và cho năng suất của cây vừng phụ thuộcrất nhiều vào thân chính Thân chính sinh trưởng và phát triển tốt, khoẻ mạnh làtiên đề để cho các bộ phận khác phát triển Một trong những bộ phận mà sự pháttriển của nó liên quan trực tiếp đến sinh trưởng, phát triển của thân chính là sốquả và số lá trên cây Nếu thân chính có chiều cao lớn sẽ cho số lá và số quảnhiều tạo tiền đề cho việc tổng hợp chất hữu cơ và năng suất cây trồng Nhưngchiều cao thân chính sinh trưởng quá mức sẽ sẽ ảnh hưởng xấu đến khản năngchống chịu với điều kiện ngoại cảnh kém, sinh trưởng, phát triển tốt đạt chiềucao đặc trưng của giống là việc làm có ý nghĩa rất lớn

Tốc độ sinh trưởng, phát triển của chiều cao thân chính cây vừng có sựkhác nhau giữa các thời kỳ: Thời kỳ cây con tăng trưởng chậm nhưng sau 20ngày cây bắt đầu phát triển mạnh đạt tối đa lúc cây bắt đầu ra hoa rộ, hình thànhquả, hình thành quả đến quả chín nó phát triển chậm lại và ổn định Ngoài yếu tốdinh dưỡng, giống chiều cao cây vừng còn phụ thuộc vào điều kiện khí hậu màđặc biệt là nhiệt độ, ánh sáng và chế độ nước

Trang 28

Bảng 3.2 Sự tăng trưởng chiều cao thân của các giống vừng

Trang 29

Hình 3.1 Sự tăng trưởng chiều cao thân của các giống vừng

* Sự tăng trưởng chiều cao thân chính ở giai đoạn 20-25 ngày gieo:

Ở giai đoạn này là giai đoạn cây con do điều kiện khá thuận lợi cho quátrình nảy mầm nên chiều cao các cây tương đối đồng đều, ở giai đoạn này chưa

có sự thay đổi rõ rệt giữa các giống

Số liệu bảng 3 cho thấy: Giống vừng đen 8 cạnh là 20,51cm

Giống vừng đen 4 cạnh 19,76 cm

Giống vừng V6 20,51cm

Ở giai đoạn cây con thì tốc độ tăng trưởng của giống vừng đen và vừng V6

là giống nhau còn vừng 4 cạnh tốc độ tăng trưởng chậm hơn, nhưng sau 5 ngàythì tốc độ tăng trưởng chiều cao tăng trưởng nhanh và từ đó ta thấy cây vừng đã

có sự biến chuyển về sinh khối rất lớn, nhưng ở giai đoạn này vừng V6 đã bắtđầu có sự biến chuyển về chiều cao vượt hơn so với các giống khác đặc biệt vừngđen 8 cạnh vừng đen 8 cạnh 25,66 cm, vừng đen 4cạnh 26,76 vừng V6 là27,33cm

* Giai đoạn 30-50 ngày:

Giai đoạn này là giai đoạn quyết định đến năng suất sau này vì đây là giaiđoạn có tốc độ tăng trưởng chiều cao mạnh nhất và cũng chính giai đoạn này câybắt đầu bước vào giai đoạn phân hoá hoa và hình thành hoa vừng

Trang 30

Tốc độ tăng trưởng chiều cao phát triển mạnh từ sau 30 ngày đến 50 ngàynhưng tăng trưởng mạnh nhất là giai đoạn 30-40 ngày giai đoạn này cây đột phá

về chiều cao và hoa nở rộ nhất, nếu giai đoạn này cây thiếu chất dinh dưỡng vàđiều kiện thời tiết không thuận lợi thì năng suất cây rồng sẽ ảnh hưởng rất lớn.Theo bảng 3 thì chiều cao:

* Giai đoạn sau 50 ngày:

Ở giai đoạn này cây đã bước vào giai đoạn đóng quả ổn định nên tốc độtăng trưởng chiều cao ít và gần như là không tăng nữa, ở giai đoạn này không đòihỏi về dinh dưỡng nữa mà chủ yếu là ánh sáng và nhiệt độ để quả chín đảm bảo

Từ kết quả nghiên cứu về tăng trưởng chiều cao thân cho thấy các biệnpháp tác động để thúc đẩy sự tăng trưởng chiều cao cây vừng như bón phân, tướinước nên tiến hành trong giai đoạn từ gieo đến trước 40-45 ngày sau khi gieo.Nếu các biện pháp được tiến hành sau thời điểm 45 ngày sau khi gieo dường nhưkhông có ý nghĩa, điều này cũng phù hợp với các kết quả nghiên cứu của ChamLong kogram và Barrie T Steer về ảnh hưởng của thời điểm bón nito với sự tăngtrưởng sinh khối thực vật cây vừng

Kết quả qua bảng cũng cho thấy lần đo cuối cùng vào thời điểm trước khithu hoạch (65 ngày sau khi gieo ) vừng V6 là vừng có chiều cao cao nhất và làcây vừng có tiềm năng kinh tế nhất

3.2.2 Số đốt trên thân chính:

Theo chamlong Kogram và Barriet T Steer (1995) khi nghiên cứu mối liênquan giữa sản lượng vừng với các đặc tính thực vật trong các thí nghiệm với Nitơđược tiến hành cả trong nhà kính và trên đồng ruộng đã kết luận có 2 "kênh"

Trang 31

quyết định đến sản lượng hạt ở cây vừng là số lượng các tổ chức và trọng lượngkhô của các tổ chức.

Đối với cây vừng, trong từng giống số đốt (tương ứng với số mắt ) trên thânchính liên quan mật thiết với số lượng quả Số đốt (tức số mắt ) càng nhiều thì sốquả càng lớn

Vậy chiều cao cây nó ảnh hưởng mật thiết với số đốt trên cây, do đó để tăng

số đốt trên cây thì ngoài phụ thuộc vào từng giống thì yếu tố quan trọng là cungcấp đầy đủ chất dinh dưỡng và điều kiện thời tiết thích hợp

Kết quả nghiên cứu về sự tăng trưởng số đốt trên thân chính của các giốngvừng được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 3.3: Bảng số liệu về số đốt qua các ngày đo

Ghi chú: Trong cùng một cột các công thức giống nhau biểu thị cùng một chữ cái Các chữ cái khác nhau được biểu thị sự sai khác có ý nghĩa ở mức 0,05.

Trang 32

Hình 3.2 Sự tăng trưởng số đốt thân vừng

Do trước 25 ngày trước khi gieo thì số đốt thể hiện chưa rõ ràng và tốc độtăng trưởng của số đốt chưa mạnh nên tôi tiến hành đếm số đốt sau 25 ngày gieo

* Giai đoạn 25-30 ngày

Ở giai đoạn này ta tiến hành bón thúc đạm lần 2 cho cây để cây bước vàogiai đoạn vươn lóng, ở bảng trên thì ta thấy các công thức chưa có sự sai khácnhiều nhưng bắt đầu có sự sai khác lớn giữa các cá thể mỗi cá thể và các giốngkhác nhau thì có khản năng vươn lóng khác nhau

Qua số liệu bảng 4 cho thấy: Giai đoạn 25 ngày sau gieo thì vừng V6 cóchiều cao vượt hơn các giống khác chiếm 7,47cm, các giống vừng đen chưa có

sự sai khác nhiều nhưng vừng 4 cạnh đã thể hiện khản năng vươn mạnh hơngiống vừng 8 cạnh

Giai đoạn 30 ngày sau khi gieo không thấy sự sai khác giữa các công thức.Tuy nhiên ở giai đoạn này tốc độ tăng trưởng của giống vừng đen 4 cạnh đã có

sự tăng vượt mạnh về số đốt gần bằng với giống vừng V6, đây là một trongnhững giai đoạn có tốc độ tăng trưởng về số đốt là mạnh nhất vì lượng sinh khốicủa cây trồng tập trung chủ yếu cho giai đoạn này nên số đốt tăng gấp đôi

Giống vừng đen 8 cạnh: 11,43 cm

0510152025

Số đốt

công thức 1công thức 2công thức 3

Trang 33

Giống vừng đen 4 cạnh: 12,06 cm

Giống vừng V6: 12,39 cm

* Giai đoạn 35-45 ngày

Giai đoạn này chiều cao cây cũng đang sinh trưởng mạnh và đây cũngchính là giai đoạn mà hoa nở rộ nhất, ở giai đoạn này nếu gặp điều kiện thuận lợithì chiều cao cây tăng mạnh và số đốt trên cây cũng tăng theo nhưng trong quátrình tiến hành làm thí nghiệm thì giai đoạn này do sâu bệnh phá hoại mạnh nên

sự tăng về chiều cao là tương đối

Trong vòng 10 ngày chiều cao cây tăng

* Giai đoạn 50-60 ngày

Giai đoạn này thì các giống vừng đã bước vào giai đoạn ổn định về chiềucao và đây là giai đoạn hình thành quả 1/3 phần trên của cây và quả cũng bướcvào giai đoạn ổn định nên sự phát triển về đốt là kém nó chỉ phát triển về một sốđốt cuối cùng và giống vừng V6 là giống vừng có số đốt ổn định sớm nhất

3.2.3 Đường kính thân

Đường kính thân thể hiện sự sinh trưởng của cây theo chiều ngang và cũng

là yếu tố thể hiện sự tăng trưởng sinh khối thực vật Đường kính thân cũng đượcxác định là có tương quan khá chặt với năng suất cây trồng Kết quả nghiên cứu

về sự tăng trưởng đường kính thân của các giống vừng nghiên cứu trong vụ hèthu 2008 được thể hiện qua bảng 5 sau

Bảng 3.4 Sự tăng trưởng của đường kính thân của các giống vừng

Trang 34

* Giai đoạn 20 -30 ngày sau gieo:

Đây là giai đoạn có đường kính thân tăng mạnh mẽ nhất, vì giai đoạn này làgiai đoạn cây tăng trưởng về bề ngang để tập trung sinh khối cho cây bắt đầu cóbước nhảy vọt về chiều cao để hình thành hoa và quả, nếu giống nào mà cóđường kính tăng mạnh vào giai đoạn này thì giống có sinh khối tăng mạnh nêntốc độ tăng trưởng chiều cao sẽ mạnh vì khi bề ngang phát triển mạnh thì khảnnăng tích luỹ dinh dưỡng cho cây là lớn

Ở giai đoạn 25 ngày thì vừng V6 có đường kính thân tăng mạnh nhất, rồiđến vừng đen 4 cạnh và sau đó đến vừng đen 8 cạnh

Trang 35

Vừng V6: 6,34 mm

Từ kết quả của giai đoạn này ta biết được rằng đường kính của vừng đen làmạnh nhất và thấp nhất là vừng V6, ở giai đoạn này do vừng đã bước vào giaiđoạn vươn lóng tức là tăng trưởng về chiều cao để bước vào giai đoạn sinhtrưởng sinh thực và qua số liệu trên ta thấy vừng V6 đã bước vào giai đoạn vươnmạnh về chiều cao còn giống vừng đen 8 cạnh thì vẫn đang tăng mạnh về sinhkhối

Ở bảng trên thì đường kính thân biến động ở giai đoạn này như sau:

3.2.4 Động thái ra hoa

Tổng số hoa trên cây là chỉ tiêu quyết định đến tổng số quả/cây lúc thuhoạch Nếu cây vừng được chăm sóc tốt, cung cấp chất dinh dưỡng đầy đủ thì sẻtạo điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao tổng số hoa và tỷ lệ hoa hữu hiệu, đồng

Trang 36

thời cũng rút ngắn được thời gian ra hoa mà không ảnh hưởng đến tổng số quả/cây.

Mầm hoa được phân hoá rất sớm sau 20 ngày, quá trình phân hoá hoa kéodài thì quá trình nở hoa vừng kéo dài, đặc điểm của hoa vừng là kéo dài xuyênsuốt quá trình từ khi xuất hiện mầm hoa đầu tiên đến thu hoạch Các hoa hữuhiệu chủ yếu tập trung ở thân chính nó tập trung ở 1/3 phía dưới và 1/3 giữa còn1/3 phía trên thì khản năng đóng quả của cây vừng là kém hơn, mầm hoa phânhoá muộn ở phía trên thì có tỷ lệ hoa hữu hiệu thấp và khản năng đóng quả chắc

là kém mà có đóng quả thì tỷ lệ hạt lép cao điều này nó ảnh hưởng do hàm lượngchất dinh dưỡng chủ yếu tập trung ở dưới cây và giữ cây

Vừng là cây có phản ứng mạnh với chu kỳ quang, sự ra hoa của vừng phụthuộc chủ yếu vào điều kiện nhiệt độ Thông thường nhiệt độ thích hợp cho sựhình thành hoa khoảng 25-27oC, nhiệt độ cho hoa nở là 28-320C

Số lượng biến động của hoa vừng biến động từ 10-100 hoa tuỳ thuộc vàogiống, điều kiện khí hậu, nhiệt độ, ẩm độ, hoa ra tập trung và thời gian ra hoangắn, tổng số hoa nhiều, tỷ lệ đậu quả cao

Kết quả quan sát đo điếm được động thái ra hoa được biểu hiện ở bảng 6sau

Bảng 3.5 Động thái ra hoa của các giống vừng

Ngày đăng: 21/12/2013, 12:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Thống kê sản lượng vừng của một số nước trên thế giới 2007                                                                  ( Diện tích: ha, Sản lượng : Tấn/ha) - Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh trưởng và phát triển của một số giống vừng ở nghệ an
Bảng 1.1. Thống kê sản lượng vừng của một số nước trên thế giới 2007 ( Diện tích: ha, Sản lượng : Tấn/ha) (Trang 15)
Bảng 1.2.Số liêu thống kê tình hình sản xuất của một số năm gần đây                                                                           (Diện tích: ha, sản lượng: tấn/ ha) - Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh trưởng và phát triển của một số giống vừng ở nghệ an
Bảng 1.2. Số liêu thống kê tình hình sản xuất của một số năm gần đây (Diện tích: ha, sản lượng: tấn/ ha) (Trang 16)
Bảng 2.1. Diễn biến thời tiết, khí hậu vụ Xuân 2008 - Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh trưởng và phát triển của một số giống vừng ở nghệ an
Bảng 2.1. Diễn biến thời tiết, khí hậu vụ Xuân 2008 (Trang 24)
Bảng 3.2. Sự tăng trưởng chiều cao thân của các giống vừng                                                                                                         (Đơn vị: cm) - Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh trưởng và phát triển của một số giống vừng ở nghệ an
Bảng 3.2. Sự tăng trưởng chiều cao thân của các giống vừng (Đơn vị: cm) (Trang 27)
Hình 3.1. Sự tăng trưởng chiều cao thân của các giống vừng - Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh trưởng và phát triển của một số giống vừng ở nghệ an
Hình 3.1. Sự tăng trưởng chiều cao thân của các giống vừng (Trang 28)
Bảng 3.3: Bảng số liệu về số đốt qua các ngày đo - Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh trưởng và phát triển của một số giống vừng ở nghệ an
Bảng 3.3 Bảng số liệu về số đốt qua các ngày đo (Trang 30)
Hình 3.2. Sự tăng trưởng số đốt thân vừng - Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh trưởng và phát triển của một số giống vừng ở nghệ an
Hình 3.2. Sự tăng trưởng số đốt thân vừng (Trang 31)
Bảng 3.4. Sự tăng trưởng của đường kính thân của các giống vừng - Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh trưởng và phát triển của một số giống vừng ở nghệ an
Bảng 3.4. Sự tăng trưởng của đường kính thân của các giống vừng (Trang 33)
Hình 3.3. Biểu hiện động thái ra hoa của các giống vừng - Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh trưởng và phát triển của một số giống vừng ở nghệ an
Hình 3.3. Biểu hiện động thái ra hoa của các giống vừng (Trang 36)
Bảng 3.6. Số quả trên thân chính - Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh trưởng và phát triển của một số giống vừng ở nghệ an
Bảng 3.6. Số quả trên thân chính (Trang 38)
Bảng 3.8. Khối lượng 1000 hạt của các giống vừng - Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh trưởng và phát triển của một số giống vừng ở nghệ an
Bảng 3.8. Khối lượng 1000 hạt của các giống vừng (Trang 40)
Bảng 3.9. Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống vừng nghiên cứu - Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh trưởng và phát triển của một số giống vừng ở nghệ an
Bảng 3.9. Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống vừng nghiên cứu (Trang 41)
Bảng 3.11. Hệ số  tương quan giữa các chỉ tiêu sinh trưởng với số hoa Các chỉ tiêu Bắt đầu ra hoa - Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh trưởng và phát triển của một số giống vừng ở nghệ an
Bảng 3.11. Hệ số tương quan giữa các chỉ tiêu sinh trưởng với số hoa Các chỉ tiêu Bắt đầu ra hoa (Trang 44)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w