1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu chế tạo bẫy ánh sáng và đánh giá hiệu quả của chúng đến việc bắt côn trùng gây hại cây trồng

54 3,2K 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu chế tạo bẫy ánh sáng và đánh giá hiệu quả của chúng đến việc bắt côn trùng gây hại cây trồng
Tác giả Hà Mạnh Trúc
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Tài Toàn
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Nông học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 667 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trênthế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu cứu thiết kế bẫy ánh sáng để đánhgiá hoặc bẫy hỗn hợp dịch hại côn trùng ở trên đồng ruộng hoặc trong nhàlưới cho các loại dịch hại khác n

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết

quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất

kỳ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ

nguồn gốc

Sinh viên

Giáo viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Tài Toàn

VINH - 2012

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình làm khóa luận tốt nghiệp nghành kỹ sư Nông học, tôi

đã nhận được nhiều sự giúp đỡ quí báu từ phía các thầy cô giáo, bạn bè, ngườithân

Với tấm lòng chân thành và sự biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin gửi lời cảm ơntới ThS Nguyễn Tài Toàn, người đã dìu dắt và hướng dẫn cho tôi từ nhữngbước đầu tiên làm quen với nghiên cứu khoa học, là người rất tận tâm và nhiệttình hướng dẫn tôi suốt thời gian làm đề tài tốt nghiệp

Xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban chủ nhiệm và các cán bộ giảngdạy trong khoa Nông Lâm Ngư, Trường Đại học Vinh đã tạo điều kiện thuânlợi, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn!

Nghệ An, ngày 16 tháng 5 năm 2012.

Tác giả

Hà Mạnh Trúc

Trang 3

M ỤC LỤC C L ỤC LỤC C

LỜI CAM ĐOAN -2

LỜI CẢM ƠN -3

PHẦN MỞ ĐẦU -4

1 Đặt vấn đề -4

2 Mục đích nghiên cứu -6

3 Yêu cầu -6

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài -6

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU -7

1.1.1 Tình hình nghiên cứu bẫy ánh sáng trên thế giới -7

1.1.2 Tình hình sử dụng bẫy đèn ở Việt Nam -14

CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU -17

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài -17

2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài -18

2.3 Thời gian, địa điểm nghiên cứu -19

2.4 Vật liệu nghiên cứu -19

2.5 Phương pháp thực nghiệm -20

2.5.1 Thiết kế bẫy -20

Hình 3.1 -20

2.5.2 Đánh giá thành phần côn trùng bắt được -21

2.6 Phương pháp xử lý số liệu -21

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN -22

3.1.1 Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các loại bẫy có số phểu khác nhau -22

3.1.3 Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có nguồn ánh sáng khác nhau…………34

3.2.1 Thành phần và số lượng công trùng bắt được của bẫy ánh sáng trên cây lúa -40

3.2.2 Thành phần và số lượng công trùng bắt được của bẫy ánh sáng trên cây ngô -43

3.2.3 Thành phần và số lượng công trùng bắt được của bẫy ánh sáng trên cây lạc -46

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ -50

1.1 Thiết kế bẫy. -50

I TÀI LIỆU NƯỚC NGOÀI. -52

II TÀI LIỆU VIỆT NAM -54

III TÀI LIỆU THAM KHẢO TRÊN WEBSITE. -55

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Trong sản xuất nông nghiệp, nông sản đạt năng suất cao, phẩm chất tốtluôn là vấn đề đã, đang và sẽ ngày càng được chú trọng hơn nữa trong tươnglai, đặc biệt là sản xuất sản phẩm sạch, và an toàn cho sức khỏe con người.Tuy nhiên, một trong những trở ngại lớn luôn đi kèm theo đó là sự sụt giảmchất lượng và số lượng nông sản do sâu bệnh gây ra Theo tính toán của FAOthì sự tăng năng suất cây trồng nông nghiệp trên thế giới chậm hơn sự tăngthiệt hại do con trùng, dịch hại gây ra khoảng 1,5 lần (Ruscavishnikov, 1973)

Ở nhiều nước, thiệt hại do sâu, bệnh và cỏ dại trung bình là 20-30% tiềm năngnăng suất cây trồng (Churaev, 1975) Điều này có nghĩa cứ gieo trồng 5 ha thì

có ít nhất có 1 ha không được thu hoạch

Hàng năm, thiệt hại của các cây trồng nông nghiệp ở Mĩ trị giá khoảng

15 tỉ đô la (Chapman, 1973) Theo ước tính của bộ nông nghiệp Hoa Kì, chỉthiệt hại do côn trùng gây ra tương đương với giá trị của 1 triệu người laođộng trong một năm, nghĩa là mất gần 10% nhân lực sống trong nông nghiệp

Ở nước ta, thiệt hại do côn trùng gây nên đối với sản xuất rất lớn, phạm

vi và mức độ tùy thuộc vào từng năm, từng vụ sản xuất, trung bình giảm 10

-15 % sản lượng nông nghiệp Vì vậy làm giảm mức độ thiệt hại do sâu bệnhgây ra luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của người sản xuất và người quản lí.Hiện nay, trong canh tác nông nghiệp việc kiểm soát côn trùng gây hại chialàm 3 loại: (i) phương thức hóa học; (ii) phương thức cơ giới vật lí; (iii)phương thức sinh học [14]

Để phòng trừ sâu bệnh hại gây ra cho cây trồng cho đến nay người nôngdân chủ yếu sử dụng biện pháp hóa học Tại các vùng có trình độ thâm canhcao thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng nhiều và liên tục đã gây ra tác hại

Trang 5

nghiêm trọng như phá vỡ hệ cân bằng sinh thái, ô nhiễm môi trường sống, tiêudiệt thiên địch, tạo tính chống thuốc của một số loại côn trùng dịch hại ngàycàng tăng ở hầu hết các vùng, sinh ra những nòi mới, để lại dư lượng thuốc cóhại cho sức khỏe con người và vật nuôi…Theo thông cáo của tổ chức y tế thếgiới, thì hàng năm trên thế giới có khoảng 500 ngàn người bị nhiễm độc dothuốc bảo vệ thực vât trong đó có khoảng 14 ngàn người chết.

Mục tiêu hiện nay là xây dựng một nền nông nghiệp bền vững, đảm bảocho hệ sinh thái ổn định lâu dài Côn trùng ảnh hưởng đến cây trồng nôngnghiệp có thể phân thành 3 loại: có hại, trung tính, và có lợi Có nhiều loại côntrùng có hại như: ruồi nhỏ, mọt, bướm, rệp, cào cào, nhậy là những ví dụ điểnhình Có một số loài không chỉ có lợi, và còn rất quan trọng trong lợi ích củathiên nhiên Thực vậy, những nhà khoa học đã tìm ra những nhóm côn trùng

có ích tìm bắt, ăn thịt và kí sinh trên cơ thể côn trùng Ngoài ra, con người đãbiết ứng dụng các biện pháp cơ vật lí nhờ đó thiết lập ảnh hưởng và giúp hạnchế sự phát triển côn trùng có hại [14]

Một số phương thức cơ vật lí được các nông dân áp dụng để điều khiểncôn trùng như: (i) Làm đất sớm; (ii) Thu dọn cỏ dại, xác thực vật sau mùa vụ;(iii) Thiết kế mùa vụ; (iv) Luân canh mùa vụ; (v) Canh tác các giống có khảnăng chống chịu chống chịu; (vi) Phân bón và phương thức canh tác; (vii)Lượm trứng; (viii) Bắt côn trùng bằng tay; (ix) Cày bừa ải; và (x) Bẫy đèn.Trong đó, sự phát triển và thực hiện hệ thống biện pháp quản lí tổng hợpIPM bằng phương pháp dùngbẫy đèn để kiểm soát côn trùng nông ngiệp đang

là mối quan tâm ở nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam (FAO,1993) Đảm bảo vệ sinh an toàn lương thực, thực phẩm

Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Nghiên cứu chế tạo bẫy ánh sáng và đánh giá hiệu quả của chúng đến việc bắt côn trùng gây hại cây trồng”

Trang 6

- Xác định được diễn biến phát sinh gây hại của các loại côn trùng từ đó

có các biện pháp dự tính dự báo trước nguy cơ bùng phát dịch của sâu hại

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Kết quả nghiên cứu của đề tài tạo tiền đề cho các đề tài về bẫy đènđang còn ít được nghiên cứu ở Việt Nam

- Ngày càng hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

- Ứng dụng vào biện pháp canh tác tổng hợp tiên tiến trên thế giới nhưViệt GAP, Global Gap, sản xuất sản phẩm hữu cơ…

Trang 7

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tình hình nghiên cứu bẫy ánh sáng trên thế giới và Việt Nam

1.1.1 Tình hình nghiên cứu bẫy ánh sáng trên thế giới

Xu hướng hiện nay của bảo vệ thực vật trong quản lí sâu bệnh hại câytrồng là quản lí tổng hợp dịch hại IPM, trong đó việc nghiên cứu sử dụng bằngphương pháp bẫy ánh sáng đang là một trong những mục tiêu chủ đạo Trênthế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu cứu thiết kế bẫy ánh sáng để đánhgiá hoặc bẫy hỗn hợp dịch hại côn trùng ở trên đồng ruộng hoặc trong nhàlưới cho các loại dịch hại khác nhau Dưới đây là những công trình nghiêncứu được thu thập trên thế giới

Mast (1911) phát biểu rằng ở động vật bậc thấp với mắt thường sự phảnứng lại với màu sắc là rất phức tạp Và từ thực nghiệm của Mast thì ở kiến cókhả năng phân biệt từ các loại màu sắc khác nhau, có khả năng phân biệt tiacực tím và tia tử ngoại Mast còn kết luận thực nghiệm ở ong mật rằng chúng

có khả năng phân màu sắc và chúng rất thích ánh sáng màu xanh Phần đanhững điều tra với kiến, ong, côn trùng bay được và các côn trùng khác đềucho kết quả rằng nhiều loại côn trùng có khả năng nhận biết màu sắc Ongmật, một số loài cá, động vật có vú, có thể một số loài nhện với sự phát triểntốt của mắt có khả năng phân biệt các vùng quang phổ Với 1 lượng ánh sángđơn sắc nhất định thì loại thì bị kích thích mạnh bởi màu xanh nước biển, màutím, xanh da trời,vàng, đỏ, một số loài khác thì lại là các tia hồng ngoại bởivậy, với khối lượng lớn sinh vật thì không màu sắc nào sự kích thích là hơncả

Từ thiết kê bẫy đèn với đèn lồng nhử mồi, Holloway(1911) [12] cho biếtkhi di chuyển là lớn hơn nhiều so với đứng yên Ông còn phát biểu rằng khi

có di chuyển ánh sáng thì sự thu hút côn trùng lớn hơn ở một vị trí cố định

Trang 8

Từ một số thực nghiệm phương pháp thu hút côn trùng từ ánh sáng, S.J.Holmes và K W McGraw(1913) [22] đưa đến kết quả sự thay đổi cường độánh sáng, dù tăng hay giảm thì đều kích thích các hành vi của côn trùng, đặcbiệt nếu sự thay đổi đó là đột ngột.

Tại Mỹ, S O Mast (1911) nghiên cứu mối quan hệ giữa ánh sáng và côntrùng (theo Light and the Bevihavior of Organism, S.O Mast, John Wiley andSon) đã tìm thấy rằng sự phản ứng lại của côn trùng và các sinh vật khác lànhững phản ứng bình thường và nguyên nhân các sinh vật bị bắt dưới điềukiện ánh sáng Sự phản ứng đó tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sống.Những sự thay đổi ánh sáng dẫn đến sự thay đổi của bộ phận bên trong sinhvật, chúng có thể phản ứng tích cực với cường độ ánh sáng cho trước ở thờigian nhất định và phản ứng tiêu cực ở cùng cường độ ở thời điểm khác Bởivậy, một số sự phản ứng của sinh vật là không giống nhau đối với ánh sáng.Nguyên nhân tần suất thay đổi của các hành vi là sự thể hiện sự phụ thuộc vàocác yếu tố như ánh sáng, dinh dưỡng, tuổi…

Davenport (1911) [3] tìm thấy rằng ánh sáng có cường độ cao, tại cường

độ đó 1 sinh vật hòa hợp rồi ngăn cản côn trùng và đồng thời tìm thấy một sốloài âu trùng lần đầu tiên rời khỏi vỏ trứng thì bị thu hút bởi ánh sáng, nhưngsau đó từ ¼ - 2 giờ thì lại phản ứng tiêu cực với ánh sáng Davenport còn tómtắt rằng phản ứng của côn trùng là kết quả của sự thay đổi các chất hóa họctrong nguyên sinh chất Các hành vi của côn trùng 1 thời điểm đó phụ thuộctrạng thái sinh hóa ở thời điểm đó

Một số thực nghiệm ở bảo tàng và dưới thảm, Wod-Sedalek(1913) [20]tìm thấy côn trùng trốn ánh sáng cho đến khi trứng của chúng đã được cốđịnh

H B Weiss, Entom (New 24, 12-13) [11] phát hiện gần cuối mùa thutinh một số loài muỗi, con cái sợ ánh sáng và tìm đến bóng tối, và đồng thờicòn phát hiện ở mỗi loài của muỗi thì có sự khác nhau sự nhận ánh sáng

Trang 9

Holmes (1913) [22] tìm thấy rằng ấu trùng của một số loài muỗi rất nhạycảm với bóng tối Tuy vậy, tần suất của ấu trùng trong bóng tối dần dần bịmất nhưng hầu hết các giống muỗi vằn và nhiều các loại hình thái khác,chúng thường tìm bóng tối, chúng thể hiện tần số phản ứng tích cực với ánhsáng tích cực dần Sau khi kiếm đủ thức ăn, mặc dù chậm chạp hơn nhiều,chúng vẫn còn phản ứng tích cực

Chuỗi bài báo của Mclndoo(1913) [19] cho 1 danh sách dài các nghiêncứu về sự nhạy cảm về khứu giác côn trùng và ông đã cho 1 danh sách dài cácchất có khả năng thu hút và xua đuổi côn trùng

Richardson (1917) [4] tìm thấy rằng ruồi nhà bị thu hút bởi ammoniumhydarate và ammonium cacbonate Từ thực hành trên các loại phân động vậtcho ammonia thì ammonia gas có khả năng thu hút ruồi trưởng thành

Vào những năm 60 của thế kỷ 20, Moffitt (1964) đã nghiên cứu về việc

bẫy ánh sáng để đánh giá quân thể bọ trĩ hại hoa (Frankliniella occidentalis).

Kết quả nghiên cứu cho thấy, bẫy trắng và bẫy xanh hấp dẫn loài bọ trĩ haihoa hơn các loại bẫy côn trùng khác [18]

Brodsgaard (1989) [2] nghiên cứu bẫy màu dính bắt bọ trĩ (Frankliniella occidentalis) trong nhà kính đã cho thấy bẫy dính có tổng số 20 màu sáng và

tối khác nhau được kiểm tra tỉ mỉ đã tìm được điều kiện thuận lợi nhất bẫydính màu tối thu hút bọ trĩ hại hoa Màu xanh tối đã được tìm thấy có khả

năng thu hút F occidentalis tốt nhất và sau đó từ nghiên cứu đã phát triển

thành 1 công cụ hiệu quả để phát hiện từ giai đoạn xâm nhiễm ban đầu của F occidentalis trong nhà kính.

Năm 1990, Gillespie và Vernon đã đánh giá sự ảnh hưởng của chiều cao,

màu bẫy và giới tính côn trùng đến khả năng bắt bọ trĩ (Frankliniella occidentalis) của bẫy dính ở mùa vụ trồng dưa chuột trong nhà kính Kết quả

nghiên cứu cho thấy, cặp giới tính đực, cái bắt được nhiều bọ trĩ nhất ở chiềucao 2,4 m so với mặt đất, tiếp theo là mức 1,8 và 3,0 m và thấp nhất ở mức 1.2

Trang 10

m và 0,6 m Số lượng bọ trĩ bắt được ở độ cao 1,2 m và 0,6 m không có sự saikhác và giữa các màu khác nhau cũng không cho thấy sự sai khác về mặtthống kê Ở độ cao 2,4 m số lượng bắt được ở bẫy màu xanh, tím, vàng, trắngkhông nhận thấy sự khác nhau, nhưng đã nhận thấy sự khác nhau ở số lượngbắt được ở màu xanh lá cây, ánh sáng uv + ánh sáng trắng và ánh sáng đen Ởchiều cao này, bẫy màu xanh da trời bắt được nhiều con cái nhất và bẫy màuvàng bắt được số lượng con đực nhất [10].

Năm 1992, Matteson và Terry đã nghiên cứu sự phản ứng của giới tính

đực, giới tính cái của bọ trĩ (Frankliniella occidentalis) đối với màu sắc, mức

độ sáng khác nhau, và so sánh số lượng bắt được ở giai đoạn bầy đàn, giaiđoạn không bầy đàn Số lượng bọ trĩ bị bắt được cao hơn ở bẫy màu xanh datrời, tím, trắng và có chút ít giảm ở bẫy màu vàng Trong khi đó tìm thấy sốlượng bọ trĩ bị bắt thấp hơn ở màu xanh lá cây, màu đỏ, và màu trắng phảnchiếu ánh sáng uv ở mức độ cao Sự phản ứng của bọ trĩ phụ thuộc vào lượngphát xạ tia uv Ánh sáng trắng với mức chiếu xạ uv cao (78% phản chiếu ở365nm) bọ trị bị bắt ít hơn ánh sáng trắng chiếu xạ tia uv thấp (14% phảnchiếu tại 365nm) Từ nghiên cứu này cũng cho kết quả số lượng bọ trĩ đực bịbắt trong thời kì bầy đàn nhiều hơn ở thời kì không bầy đàn Số lượng con đựcbắt được cao hơn so với số lượng con cái trong thời kì bầy đàn và số lượngcon đực bắt được ít hơn so với số lượng con cái trong thời kì bầy đàn [15].Khi sử dụng bẫy phooc moon giới tính (Valles et al, 1991) đã khẳng địnhrằng những yếu tố quan trọng nhất có thể ảnh hưởng đến khả năng bắt côntrùng là các thiết kế của bẫy

Một số đã nghiên cứu đã xem xét các ảnh hưởng đến khả năng bắt củabẫy, ảnh hưởng của thiết kế bẫy (prokopyet al 1979); villavaso năm 1940),chiều cao (prokopyet al,1979);(Bavin và stewart, 1984); Rancoourtetal.2000),

vị trí (boivinetal, 1982), thời gian sinh trưởng của ngày (Rancourtetal.2000),

và thời gian của năm (Bavin etal,1982)

Trang 11

Vào tháng 7, 8, 9, 10 năm 1997 ở 3 kho chứa ở vùng Thesalonniki với 4

loại bẫy dính: bẫy điện, bẫy pheromone (sericornin và anhyroserricornin),

bẫy mồi thức ăn và bẫy điều khiển Schopapadopoulou, Papadopoulou [23]đãcho kết quả rằng: tất cả các bẫy có cùng diện tích khay dính bằng chất etylen29,5×21 cm2 đã cho kết quả thứ tự sau bẫy điện bắt được 8912 con, bẫypheromone số lượng bắt được là 6608 con, bẫy thu hút từ mồi nhử thức ăn bắt

được 1974 con và bẫy điều khiển là 1231 con L sericorne Từ kết quả trên

cho thấy bẫy điện bắt được là lớn nhất, kế tiếp là bẫy pheromone có số lượngbắt lớn hơn hẳn so với 2 loại còn lại

Sakai (1997) tìm thấy rằng dưới chế độ ánh sáng khác nhau, ruồi giấmphân nhóm hoạt động giao phối Khi tiếp xúc với ánh sáng cực tím UV ở mức

độ khác nhau thì ruồi dấm phản úng tiêu cực, đặc biệt là giảm thời gian thuhút từ con đực và cái trong mùa sinh sản

Năm 1999, Teulon et al., nghiên cứu những hành vi, phản ứng của bọ trĩ (Frankliniella occidentalis Pergande) (Thysanoptera: Thripidae) đối với màu

vàng và mùi anisaldehyde Ông kết luận, ở nhà kính gió kiểu ống, chiều baycủa bọ trị thông thường là một luồng khí 0,11 m s -1 nhưng đã bị cản trở tại0,22 m s -1., khi vắng mặt mùi anisaldehyde, bọ trĩ cái thể hiện sự định hướngtrước màu vàng ở trong ống gió ở tốc độ gió 0,11 m s−1 Với ma trận của bẫynước màu vàng hoặc đen thực nghiệm ở mùa vụ cà chua trong nhà kính chothấy bẫy màu vàng có chứa mùi anisaldehyde bắt được số bọ trĩ cao hơn bẫymàu vàng không chứa mùi anisaldehyde, và bẫy màu đen có chứa mùianisaldehyde bắt được số bọ trĩ cao hơn bẫy màu đen không chứa mùianisaldehyde [25]

Nghiên cứu về ảnh hưởng của ánh sáng cực tím (UV) Chu (2000) nghiên

cứu Homoptera aleyrodidae (ruồi trắng), Thysanoptera thripudae (Bọ trĩ), Homoptera cicadellidae (bọ nhảy), và so sánh hiệu quả sự hấp dẫn đặc biệt

của các loài màu của bẫy đã đi đến kết luận rằng màu trắng, màu xanh lá cây,

Trang 12

và màu vàng là những màu sắc quang phổ hấp dẫn nhất, trong khi màu xanh

và màu đỏ là những màu kém hấp dẫn đối với côn trùng

Tại 1 cửa hàng tạp hóa ở Ấn Độ khảo sát khả năng bắt côn trùng của bẫy

phooc moon giới tính trên đối tượng sâu bướm (Indian meal moth) cho thấy

thiết diện tiếp xúc của bẫy càng lớn thì số lượng bắt được càng cao, thiết diệntiếp xúc càng nhỏ thì số lượng bắt được càng ít [17]

Năm 2003, so sánh màu của bẫy dính pheromone giới tính, Legrand và

Los nhận thấy rằng trong vườn đào, L.lineolaris bị bắt trên bẫy dính hồng cao

hơn bẫy dính màu trắng

Nghiên cứu trên các đối tượng côn trùng Salcodo (2003) [23] đi dến kếtluận rằng côn trùng sử dụng ánh sáng UV trong các hoạt động khác nhau nhưđịnh hướng bay, tìm bạn đời, giao phối Uv và ánh sáng xanh lá cây, xanhnước biển có bước sóng ngắn và tần suất cao là vùng quang phổ côn trùng cókhả năng phân biệt là tốt nhất, chúng nhạy cảm hơn nhiều so với con người.Trong đó, côn trùng nhạy cảm bình thường với vùng quang phổ cuối đỏ Tuyvậy, một số côn trùng dưới nước có khả năng thụ cảm ánh sáng đỏ hơn cácloại côn trùng trên cạn

Tại Pakistan, nghiên cứu trên một số bướm ăn lá Ashfaq (2005) [1] đưađến kết quả rằng chúng có khả năng nhìn thấy quang phổ vùng hồng ngoại(>700nm) nhưng hầu hết côn trùng bị thu hút ánh sáng uv hơn là ánh sáng đỏ.Một số loài côn trùng có khả năng nhận biết được các mức ánh sáng rất thấp,

ví dụ như nhậy đêm nhạy cảm nhờ cấu tạo mắt kép, đôi mắt kép cho phépchúng nhìn loại màu khác nhau ở cường độ ánh sáng rất thấp

Công trình nghiên cứu ảnh hưởng khoảng cách của nguồn ánh sáng đếnkhả năng thu hút côn trùng Frank (2006) đi đến kết quả: khoảg cách thu hútcôn trùng của ánh sáng phụ thuộc vào lớn vào sự biến thiên của các nhân tốmôi trường và từng loài Muỗi nhận biết được và bay lại nguồn sáng khoảngcách biến thiên từ 3m-130m Sự thu hút từ ánh sáng nhân tạo được các nhà

Trang 13

côn trùng học lợi dụng để khảo sát, điều khiển muỗi và các loài côn trùngkhác [8].

Theo khảo sát điều tra trên đường phố Đức (2006), kết quả thu được 1/3côn trùng bị chết do chúng thu hút bởi các bóng đèn trên đường phố Côntrùng có thể chết hoặc bị thương do tiếp xúc với sức nóng của bóng đèn hoặcchúng bị mất phương hướng, cạn kiệt năng lượng và dễ bị côn trùng khác ănthịt [7]

Damirel và Cranshaw (2006) [6] nghiên cứu mối quan hệ giữa bẫy màuánh sáng và rệp (FCB), Nysius raphanus (Howard) (Hemiptera: Lygaeidae) đã

đi đến kết luận bẫy màu vàng có khả năng thu hút từ rệp (FCB) nhất và bẫymàu xanh đứng vị trí thứ 2 Ngoài ra, ánh sáng màu xanh còn đứng đầu về khảnăng thu hút các loại côn trùng kí sinh trên FCB

Ở Bắc Mỹ, Lygushesperus và Lineolarislygus là 2 loại thực vật phá hoạikinh tế lớn nhất, đánh giá các đặc tính để đạt được hiệu quả tối đa bắt Lygusspp của bẫy đèn, bắt côn trùng ăn cỏ khác và giảm thiểu bắt côn trùng có lợi.Năm 2007, Jaclyn Blackmer [13] đã đi đến kết quả thời gian trong ngày, chiềucao của bẫy và nơi đặt bẫy ảnh hưởng sản lượng bắt rệp Lygus.spp Số lượnglygusssp bắt lớn nhất vào chiều muộn chiều tới lúc mập mờ tối so với thờigian còn lại của này, số lượng con đực nhiều hơn nhiều so với số lượng concái, mặc dù tỷ lệ giới tính là tương đương Số lượng con đực lớn hơn con cái ở

độ cao 20cm so với mặt đất và ở độ cao 50cm, 100 cm so với mặt đất tỉ lệ đực

cái là như nhau Cũng ở đợt khảo sát kết quả cho thấy số lượng rệp lygus spp

bắt được số lượng lớn nhất ở vị tri vùng đệm giữa 2 cánh đồng và sẽ thấp nhất

ở giữa và lề của mỗi cánh đồng

Năm 2009, thực nghiệm trên điều kiện đồng ruộng Nam Phi, Venter và

Hermanides đã nghiên cứu đối tượng muỗi vằn Culicoides tìm thấy sự ảnh

hưởng của chiều cao treo bẫy đèn ảnh hưởng đến số lượng bắt được Thựcnghiệm bố trí theo 4 mức chiều khác nhau là 0,6 m; 1,4 m; 2,2 m; và 2,8 m,

Trang 14

kết quả thu được tổng 147.158 con muỗi Culicoides thuộc 20 loài khác nhau

theo lần lượt là: ở mức 2,8 m bắt được 65.855 con; 2,2 m bắt được là 3.719con; 1,4 m là 22.462 con; và ở mức 0,6 m số lượng bắt được là 21.644 con

Từ kết quả tác giả kết luận treo ở mức 2,8 m thì số lượng muỗi vằn bắt được

là lớn nhất [9]

Năm 2010, Vilayanoor V.Ramamurthy đã nghiên cứu hiệu quả của cácnguồn ánh sáng khác nhau trong việc theo dõi sự đa dạng của côn trùng [26] Tại Bồ Đào Nha, năm 2006 Manela Branco đã khảo sát trên ba loại bọ

cánh nửa Matsucocus Feytaudi, Josephi, V plannococcus citri cho thấy rằng:

với lượng phoocmoon nhất định thì khoảng cách các bẫy càng lớn thì khảnăng bắt côn trùng càng kém và liều lượng càng lớn thì số lượng côn trùng bịbắt càng nhiều [15]

1.1.2 Tình hình sử dụng bẫy đèn ở Việt Nam

Tại Việt Nam, việc nghiên cứu và sử dụng bẫy ánh sáng phòng trừ sâubệnh trên cây trồng đang còn hạn chế Sau đây là một số công trình khoa họcnghiên cứu thiết kế, và việc sử dụng bẫy ánh sáng một số địa phương cụ thể:Phạm Đăng Quốc (2007) [27] đã tiến hành nghiên cứu cải tiến đèn bẫybướm phòng trừ sâu róm hại thông đã đi đến kết quả rằng sử dụng bẫy đèn để

dự báo dịch hại và diệt trừ bướm SRT là biện pháp rất có hiệu quả, 2 mẫu đèncải tiến khắc phục được những bất cập của các đèn nhập ngoại hiện đang sửdụng Mẫu đèn sử dụng nguồn điện ác qui có tính cơ động cao, có thể đặt tạimọi địa điểm trongrừng mà không phụ thuộc vào nguồn điện lưới và máy phátđiện Mẫu đèn sử dụng nguồn điện lưới đã khẳng định về độ bền và công năng

sử dụng Mẫu đèn này sử dụng rất hiệu quả ở những nơi gần với nguồn điệnlưới hoặc có điều kiện trang bị máy phát điện Hai mẫu đèn nêu ở đề tài hoạtđộng an toàn, dễ sử dụng, hoàn toàn chế tạo được trong nước với giá thành hạ

so với đèn ngoại nhập có trị số kĩ thuật tương đương

Trang 15

Phụng Tiên (2007) tiến hành nghiên cứu sử dụng bẫy đèn để đánh giáquá trình phát sinh gây hại rầy nâu, một vector truyền bệnh chính của bệnhvàng lùn, xoắn lá ở Đồng bằng Sông Cửu Long nói chung và An Giang nóiriêng Kết quả nghiên cứu cho thấy, biện pháp hữu hiệu để dự báo tình hìnhsâu bệnh là đặt bẫy đèn trên điện tích canh tác, kiểm tra được côn trùng vàođèn, từ đó có biện pháp phòng trừ hiệu quả Kết quả cuối cùng cho thấy rằng ở

An Giang biện pháp sử dụng bẫy đèn để dự báo là rất cần thiết và có nghĩathực tiễn, hiệu quả mang lại rất cao [30]

Tại Cát Tiên – Lâm Đồng, năm 2010, cây ca cao mới trồng 1-2 năm đầuthường bị bọ cánh cứng ăn lá Lợi dụng tập tính hướng sáng và giả chết của bọcánh cứng khi gặp vật lạ đụng vào, Lê Văn Thanh đã thiết kê loại bẫy đèn đểbắt chúng trong vườn mà không cần xử lí với bất cứ loại hóa chất nào Nghiêncứu sử dụng 1 tấm tôn có chiều dài và chiều rộng 1 - 1,5 m làm bìa chắn cắmngoài ruộng; Phía dưới bia đào hố, rộng khoảng 60 cm, sâu 30 cm, lót bạtnilon chứa nước; Một cây đèn compact sạc điện (thường được sử dụng khicúp điện) được treo vào giữa tấm bìa có khoét lỗ [32]

Năm 2010, Nguyễn Bá Tư, Khoa khoa học tự nhiên, Trường ĐH ThủDầu Một tác giả của bẫy côn trùng cải tiến dựa trên cở sở bẫy đèn truyềnthống Chiếc bẫy đèn mới gồm: Một bóng đèn típ (neon) dài 60 cm, được đặtchính giữa bốn cánh tôn (dùng để định hướng ánh sáng) Phía dưới đặt mộtphểu để hứng côn trùng được cố định trên một thùng nhựa và cuối cùng là túiđựng côn trùng thu được Bẫy đèn mới không dùng nước như loại bẫy đèntruyền thống Hiện chiếc đèn này đang được lắp đặt trên một số ruộng bắp(ngô) ở Huế để bắt các loại côn trùng hoạt động về đêm và kết quả thu đượcrất khả quan Kết quả thực nghiệm cho thấy, loại bẫy đèn này giảm được 70%

tỷ lệ sâu đục thân gây hại trên ngô Hiện nay, loại bẫy này đang được tiếp tụcthử nghiệm trên vườn cây thành trà ở Huế, cây điều ở Bình Phước và các loạicây trồng khác bị sâu, bướm, côn trùng khác hại [31]

Trang 16

Tại Nghệ An, Quảng Nam, Nam Định (năm 2012) ba tỉnh đầu tiên sửdụng máy bẫy đèn với khối lượng máy khoảng 300 kg và có giá thành khoảng

100 triệu đồng Máy hoạt động bằng điện lưới, gồm ba phần chính là đèn hútcôn trùng, hệ thống sấy tự động, phần bán dẫn điện tử hoạt động hoàn toàn tựđộng nhằm theo dõi dịch hại di cư trên lúa, thay thế việc điều tra đồng ruộngtheo phương pháp thủ công [33]

1.1.3 Những vấn đề tồn tại cần được nghiên cứu và những vấn đề luận văn tập trung nghiên cứu

* Những vấn đề luận văn tập trung.

Vấn đề tập trung hiện nay của chúng tôi là thiết kế loại bẫy tối ưu cho từng đối tượng cây trồng, ở đề tài nghiên cứu của đề tài này là thiết kế loại bẫy bố trí số phểu, nguồn ánh sáng, kích thước của phểu trên 3 đối tượng chính là lúa, ngô, lạc

Trang 17

CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

* Cơ chế thu hút côn trùng:

Một trong những lí do giúp côn trùng không ngừng tồn tại, tiến hóa vàphát triển trong suốt hàng trăm triệu năm qua, thích ứng với mọi môi trườngsống trên cạn chính là hệ thống các giác quan cực kỳ nhanh nhạy và chính xác

mà tạo hóa trang bị cho chúng Đặc biệt là cơ quan thị giác với cấu trúc có tớihai loại mắt bao gồm mắt đơn và mắt kép, ngoài ra còn có hệ thống các tế bàothị giác nằm rải rác trên cơ thể, giúp côn trùng có thể nhận biết được vùngquang phổ rộng từ vùng quang phủ có bước sóng ngắn và tần số cao 270nmđến vùng quang phổ dài và tần số thấp 700nm Ngoài ra có một số loài sâubướm ăn lá có khả năng nhìn thấy các vùng hồng ngoại lớn hơn 700nm Nhờvậy, côn trùng có thể di chuyển, tìm kiếm thức ăn, trốn tránh kẻ thù và sinhsản

Mặt khác, với công nghệ hiện đại ngày nay con người có thể tạo ranhững loại đèn có phổ ánh sáng khác nhau, từ những tập tính của các loại côntrùng mà chúng bị thu hút bởi các loại phổ ánh sáng nhân tạo, và kết quảnghiên cứu cho thấy thông thường côn trùng bị thu hút bởi các phổ có bướcsóng ngắn, tần số cao[5]

Trang 18

* Cơ chế thu bắt đối tượng:

Ngày nay, với cấu tạo đặc biệt là hình nón cụt, phểu đã được con ngườiứng dụng để thiết kế các loại bẫy khác nhau để thu bắt côn trùng như bẫy ruồi,bẫy dán, bẫy lươn…Cơ chế chung: phểu được bố trí gắn lên các loại bình(hoặc ống) làm bằng những chất liệu khác nhau như gỗ, thủy tinh, nhựa, ở bêntrong bình sử dụng các kiểu dẫn dụ khác nhau tùy theo từng đối tượng Đốitượng sẽ bị dẫn dụ bằng các loại bẫy (ánh sáng, pheromone, hay các kiểubã…) và tới phểu, đi vào đáy lớn qua đáy bé của phểu và vào trong bình Sau

1 thời gian, đối tượng sẽ bị dự lại bên trong bình do không thể tìm con đườngngược lại

Kết hợp 2 cơ chế trên chúng tôi đã thiết kế loại bẫy ánh sáng có khả năngthu hút và bắt côn trùng hại trên từng loại cây trồng nông nghiệp

2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

Để bảo vệ cây trồng và tăng năng suất, hiện nay ở Nghệ An cũng nhưcác vùng trong cả nước, biện pháp được sử dụng phổ biến nhất để trừ các loạisâu này là sử dụng các loại thuốc hóa học Do thời gian sinh trưởng của cácloại cây lương thực và thực phẩm ngắn ngày ngắn, sâu hại nhiều nên đã sửdụng các loại thuốc hóa học có tính độc hại cao có loại không rõ nguồn gốcvới số lần phun thuốc từ 4-20 lần/ vụ, khoảng cách giữa các lần phun là 5- 15ngày (Trần Văn Quyền, Thái Thị Phương Thảo, 2008) [29] Chính vì vậy, ảnhhưởng của thuốc hóa học đã và đang để lại rất nhiều hậu quả trực tiếp chongười tiêu dùng và vật nuôi, hơn thế thuốc còn xâm nhập vào đất, nước, tồn

dư trong rau gây nên những ảnh hưởng lâu dài, phá vỡ cân bằng sinh thái vàtiêu diệt nhiều loại côn trùng có ích trên cánh đồng

Ngày nay, việc phòng trừ sâu hại trên cây trồng bằng các biện pháp phunthuốc hóa học chỉ có tác dụng là nhìn thấy sâu hại chết ngay, tuy nhiên nó sẽgây ra những hâu quả nghiêm trọng cho sức khỏe cộng đồng Xu hướng chínhtrong bảo vệ thực vật là Quản lí tổng hợp dịch hại cây trồng (IPM) mà việc sử

Trang 19

dụng các biện pháp cơ giới vật lí hay biện pháp sinh học thay thế sử dụngthuốc hóa học trừ sâu là then chốt

Cho đến nay, ở các nước có nền nông nghiệp phát triển như Israel, Mỹ,

Ấn Độ….vv việc sử dụng bẫy điện, bẫy ánh sáng để bắt côn trùng gây hại ởcây trồng là rất phổ biến Tuy nhiên, giá cả để mua những loại bẫy trên là khácao Vì vậy chúng tôi đã nghiên cứu và thiêt kế loại bẫy đèn với chi phí rẻ tiềnchất liệu có sẵn, dễ sử dụng có khả năng ứng dụng cao trong điều kiện sảnxuất nông nghiệp ở Việt Nam

2.3 Thời gian, địa điểm nghiên cứu

Thời gian thí nghiệm: tháng 8/2011- 3/2012

Địa điểm thí nghiệm: xóm 2, xã Hưng Yên Nam, huyện Hưng Nguyên,tỉnh Nghệ An

2.4 Vật liệu nghiên cứu

Nguyên liệu làm bẫy ánh sáng là những nguyên liệu thông dụng như một

bộ nguồn điện, bóng đèn, dây điện, bình nhựa, giấy cứng

Trang 20

2.5 Phương pháp thực nghiệm

2.5.1 Thiết kế bẫy

Hình 3.1

Bẫy ánh sáng được thiết kế dựa trên các thí nghiệm như sau:

+ Thí nghiệm 1: Nghiên cứu xác định số lượng phểu tối ưu trên bình Thínghiệm được tiến hành bố trí theo phương pháp hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD),

3 công thức (2 phểu trên bình, 3 phểu trên bình, 4 phểu trên bình) với 3 lầnnhắc lại Các bình được đặt ở khoảng cách bình cách bình 100 m Sau 2 đêm,tiến hành đánh giá hiệu quả dẫn dụ côn trùng của các công thức thí nghiệmtrên 3 đối tượng cây trồng (lúa, ngô, lạc) thông qua đếm số lượng côn trùngbắt được (trừ ngày đầu tiên tiến hành thu kết quả trong ngày)

+ Thí nghiệm 2: Nghiên cứu xác định kích thước của phếu thích hợp 5loại phểu với các kích thước tương ứng 2 cm đáy bé x 4 cm đáy lớn; 2,5 cmđáy bé x 4,5 cm đáy lớn; 3 cm đáy bé x 5 cm đáy lớn; 3,5 cm đáy bé x 5,5 cmđáy lớn; 3,5 cm đáy bé x 6,0 cm đáy lớn Thí nghiệm được tiến hành với 3 lầnnhắc lại Các bình được đặt ở khoảng cách bình cách bình 100 m Sau 2 đêm,

Nguồn điện

n g n g

Nguồn sáng

Phễu

Bình nhựa

Nướ c

Trang 21

tiến hành đánh giá hiệu quả dẫn dụ côn trùng của các công thức thí nghiệmtrên 3 đối tượng cây trồng (lúa, ngô, lạc) thông qua đếm số lượng côn trùngbắt được (trừ ngày đầu tiên tiến hành thu kết quả trong ngày).

+ Thí nghiệm 3: Nghiên cứu xác định màu sắc ánh sáng thích hợp 5nguồn ánh sáng (ánh sáng màu đỏ; ánh sáng màu vàng; ánh sáng màu tím; ánhsáng màu trắng và ánh sáng màu xanh) tương ứng với 5 công thức thí nghiệm,

bố trí các công thức ở 3 lần nhắc lại Các công thức thí nghiệm được đặt ởkhoảng cách bình cách bình 100 m Sau 2 đêm, tiến hành đánh giá hiệu quảdẫn dụ côn trùng của các công thức thí nghiệm trên 3 đối tượng cây trồng (lúa,ngô, lạc) thông qua đếm số lượng côn trùng bắt được (trừ ngày đầu tiên tiếnhành thu kết quả trong ngày)

2.5.2 Đánh giá thành phần côn trùng bắt được

Dựa trên kết quả thiết kế bẫy, tiến hành sử dụng bẫy tối ưu đó để đánhgiá số lượng và thành phần côn trùng bắt được trên cây lúa, cây ngô và câylạc Các bẫy được đặt ngẫu nhiên, đảm bảo các bẫy cách nhau 100 m, bố trí 3lần nhắc lại, các côn trùng bắt được được bỏ vào chai thủy tinh có chứa cồn70% để bảo quản và phân loại

2.6 Phương pháp xử lý số liệu

Giá trị trung bình của các công thức thí nghiệm được tổng hợp và tiếnhành phân tích phương sai sử dụng phần mềm Statistix 8.2

Trang 22

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Kết quả về thiết kế bẫy

3.1.1 Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các loại bẫy có số phểu khác nhau

Nhìn vào thiết kế chung của bẫy ánh sáng (như hình vẽ H.1) thì phểungoài chức năng thu giữ côn trùng thì phểu còn có chức năng phân bổ ánhsáng đến các vùng có các côn trùng sinh sống Do đó, việc bố trí số phểu trênbẫy sẽ ảnh hưởng đến khả năng phân bổ nguồn ánh sáng và cuối cùng ảnhhưởng đến khả bắt côn trùng trên từng kiểu bẫy

Kết quả thực nghiệm nghiên cứu các loại bẫy trên đối tượng lúa KhangDân 18 vụ Hè Thu năm 2011 được thực hiện vào ngày 2/10/2011- 8/10/2011.Đây là giai đoạn cây lúa làm đòng đến giai đoạn chắc xanh Kết quả thựcnghiệm cho thấy đây là giai đoạn phát triển các loại côn trùng khá phong phú,bắt đầu có sự xuất hiện các ổ dịch của các loại sâu hại Kết quả điều ra về diễnbiến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có số phểu khác nhau trên cây lúađược trình bày ở bảng 3.1 Qua bảng cho thấy:

Sau ngày thứ 1 đặt bẫy, số lượng côn trùng bắt được trên cây lúa đã có

sự sai khác giữa các công thức thí nghiệm Loại bẫy có 4 phểu cho số lượngcôn trùng bắt được cao nhất, đạt 53 con và sai khác với các loại bẫy có sốlượng phễu thấp hơn ở mức ý nghĩa α = 0,05

Sau 3 ngày đặt bẫy, số lượng côn trùng bắt được tăng đều và có sự saikhác ở mức ý nghĩa α = 0,05 các công thức thí nghiệm Loại bẫy có 4 phểucho số lượng bắt được cao nhất 157,33 con và công thức 2 phểu cho số lượngbắt được thấp nhất, chỉ đạt 35,00 con

Sau 5 ngày đặt bẫy, số lượng côn trùng bắt được tiếp tục tăng lên và có

sự sai khác ở mức ý nghĩa α = 0,05 giữa các công thức thí nghiệm Loại bẫy 4

Trang 23

phểu cho số lượng côn trùng bắt được cao nhất, đạt 263,33 con và công thức 2phểu cho số lượng bắt được thấp nhất, chỉ đạt 71,00 con

Sau 7 ngày đặt bẫy, số lượng côn trùng bắt được trên đối tượng lúa vẫntiếp tục có sự sai khác giữa các công thức thí nghiệm Loại bẫy 4 phểu cho sốlượng côn trùng bắt được cao nhất đạt 365,00 con tiếp theo là công thức 3phểu 170,00 con và thấp nhất là công thức 2 phểu mức 99,67 ở mức ý nghĩa α

Trang 24

Hình 3.2 Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có số phểu khác nhau trên cây lúa

* Kết quả thực nghiệm nghiên cứu các loại bẫy trên đối tượng ngô nếp lai F1 (MX6) vụ Đông Xuân 2012 được thực hiện vào ngày 28/3/2012- 3/4/2012 Đây là giai đoạn cây ngô hình thành phấn hoa trong bào tử đực đến trổ cờ, chúng tôi nhận thấy đây là giai đoạn phát triển các loại côn trùng khá phong phú, chưa xuất hiện các ổ dịch của các loại sâu hại Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có số phểu khác nhau trên cây ngô được thể hiện ở bảng 3.2

Sau ngày thứ 1 đặt bẫy, số lượng côn trùng bắt được trên đối tượng ngô

đã có sự sai khác giữa các công thức thí nghiệm, giữa công thức 2 phểu, 3 phểu với 4 phểu Công thức 4 phểu cho số lượng bắt được cao nhất đạt 29,33 con ở mức mức ý nghĩa α = 0,05

Sau ngày thứ 3 đặt bẫy, số lượng côn trùng bắt được tăng đều ở các côngthức thí nghiệm Công thức 4 phểu cho số lượng bắt được cao nhất 91,66 con

và công thức 2 phểu cho số lượng bắt được thấp nhất là 28,00 con

Sau ngày thứ 5 đặt bẫy, số lượng côn trùng bắt được giữa các công thức

2 phểu, 3 phểu, 4 phểu có sự sai khác mức ý nghĩa α = 0,05 Công thức 4 phểucho số lượng bắt được cao nhất 158,33 con và công thức 2 phểu cho số lượng bắt được thấp nhất là 51,00 con

Sau ngày thứ 7 đặt bẫy, số lượng côn trùng bắt được trên đối tượng lúa tiếp tục có sự sai khác giữa các công thức thí nghiệm 4 phểu, 3 phểu với 2 phểu Công thức 4 phểu cho số lượng bắt được cao nhất đạt 220,00 con

Như vậy, kiểu bẫy bố trí 3 phểu/bình, 4 phểu/bình cho hiệu quả bắt tốt nhất trên đối tượng ngô

Bảng 3.2 Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có số phểu khác nhau trên cây ngô

TT Công thức Sau 1 ngày Sau 3 ngày Sau 5 ngày Sau 7 ngày

Trang 25

Hình 3.3 Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có số phểu khác

nhau trên cây ngô

* Kết quả thực nghiệm nghiên cứu các loại bẫy trên đối tượng lạc L14 vụ Hè Thu 2011 được thực hiện vào ngày 3/9/2011- 9/9/2011 Đây là giai đoạn cây lạc ra hoa đến hình thành củ non, chúng tôi nhận thấy đây là giai đoạn phát triển các loại côn trùng khá phong phú, bắt đầu xuất hiện các ổ dịch của các loại sâu hại Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có số phểu khác nhau trên cây lạc thể hiện ở bảng 3.3

Sau ngày thứ 1 đặt bẫy, số lượng côn trùng bắt được trên ruộng lạc L14

đã có sự sai khác giữa các công thức thí nghiệm ở mức ý nghĩa thống kê α = 0,05, số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có số phểu khác nhau biến động

tự 20,33 đến 64,33 con/bẫy Loại bẫy 4 phểu có số lượng côn trùng bắt được cao nhất, đạt 64,33 con/bẫy (mức a) Tiếp theo là loại bẫy 3 phểu, đạt 21,66

Trang 26

con/bẫy và loại bẫy 3 phểu có số lượng côn trùng bắt được không sai khác ở mức ý nghĩa thống kê α = 0,05 với loại bẫy 2 phểu (mức b).

Sau ngày thứ 3 đặt bẫy, cũng giống giai đoạn sau 1 ngày số lượng côn trùng bắt được tăng đều ở các công thức thí nghiệm Công thức 4 phểu cho số lượng bắt được cao nhất 185,33 con và công thức 2 phểu cho số lượng bắt được thấp nhất là 64,67 con

Sau ngày thứ 5 đặt bẫy, số lượng côn trùng bắt được vẫn tăng đều ở các công thức thí nghiệm, số lượng côn trùng bắt được trên đối tượng lúa đã có sựsai khác giữa các công thức thí nghiệm, giữa công thức 2 phểu, 3 phểu với 4 phểu Công thức 4 phểu cho số lượng bắt được cao nhất 318,33 con và công thức 2 phểu cho số lượng bắt được thấp nhất là 110,67 con

Sau ngày thứ 7 đặt bẫy, số lượng côn trùng bắt được trên đối tượng lúa vẫn tiếp tục có sự sai khác giữa các công thức thí nghiệm, giữa công thức 2 phểu, 3 phểu với 4 phểu Công thức 4 phểu cho số lượng bắt được cao nhất đạt 431,33 con tiếp đó là công thức 3 phểu 168,67 con và thấp nhất là công thức 2 phểu mức 151,33 ở mức ý nghĩa α = 0,05

Như vậy, kiểu bẫybố trí 4 phểu/bình cho hiệu quả bắt tốt nhất trên đối tượng lạc

Bảng 3.3 Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có số phểu khác nhau trên cây lạc

TT Công thức Sau 1 ngày Sau 3 ngày Sau 5 ngày Sau 7 ngày

Trang 27

ở bảng 3.4.

Sau ngày thứ 1 đặt bẫy, số lượng côn trùng bắt được trên đối tượng lúa

đã có sự sai khác, công thức phểu (3,5 x 5,5 cm) có số lượng côn trùng bắt được là lớn nhất đạt 30,00 con có sự sai khác với công thức phễu (2,5 x 4,5 cm), công thức phểu (3,0 x 5,0 cm), công thức phểu (3,5 x 6,0 cm), công thức phểu(2,0 x 4,0 cm), các công thức công thức phểu (3,5 x 6,0 cm), công thức phểu (2,0 x 4,0 cm) với công thức phễu (2,5 x 4,5 cm), công thức phểu (3,0 x 5,0 cm) có sự sai khác ở mức ý nghĩa α = 0,05

Ngày đăng: 21/12/2013, 12:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.3.  Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có số phểu khác - Nghiên cứu chế tạo bẫy ánh sáng và đánh giá hiệu quả của chúng đến việc bắt côn trùng gây hại cây trồng
Hình 3.3. Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có số phểu khác (Trang 25)
Bảng 3.3. Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có số phểu khác  nhau trên cây lạc - Nghiên cứu chế tạo bẫy ánh sáng và đánh giá hiệu quả của chúng đến việc bắt côn trùng gây hại cây trồng
Bảng 3.3. Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có số phểu khác nhau trên cây lạc (Trang 26)
Hình 3.4.  Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có số phểu  khác nhau trên cây lạc - Nghiên cứu chế tạo bẫy ánh sáng và đánh giá hiệu quả của chúng đến việc bắt côn trùng gây hại cây trồng
Hình 3.4. Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có số phểu khác nhau trên cây lạc (Trang 27)
Bảng 3.4. Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có kích thước  phểu khác nhau trên cây lúa. - Nghiên cứu chế tạo bẫy ánh sáng và đánh giá hiệu quả của chúng đến việc bắt côn trùng gây hại cây trồng
Bảng 3.4. Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có kích thước phểu khác nhau trên cây lúa (Trang 28)
Hình 3.5.  Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có kích thước - Nghiên cứu chế tạo bẫy ánh sáng và đánh giá hiệu quả của chúng đến việc bắt côn trùng gây hại cây trồng
Hình 3.5. Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có kích thước (Trang 29)
Bảng 3.5. Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có kích thước  phểu khác nhau trên cây ngô. - Nghiên cứu chế tạo bẫy ánh sáng và đánh giá hiệu quả của chúng đến việc bắt côn trùng gây hại cây trồng
Bảng 3.5. Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có kích thước phểu khác nhau trên cây ngô (Trang 30)
Hình 3.6.  Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có kích thước - Nghiên cứu chế tạo bẫy ánh sáng và đánh giá hiệu quả của chúng đến việc bắt côn trùng gây hại cây trồng
Hình 3.6. Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có kích thước (Trang 31)
Hình 3.7.  Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có kích thước - Nghiên cứu chế tạo bẫy ánh sáng và đánh giá hiệu quả của chúng đến việc bắt côn trùng gây hại cây trồng
Hình 3.7. Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có kích thước (Trang 33)
Hình 3.8.  Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có nguồn ánh - Nghiên cứu chế tạo bẫy ánh sáng và đánh giá hiệu quả của chúng đến việc bắt côn trùng gây hại cây trồng
Hình 3.8. Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có nguồn ánh (Trang 35)
Bảng 3.8. Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có nguồn ánh sáng khác nhau trên cây ngô - Nghiên cứu chế tạo bẫy ánh sáng và đánh giá hiệu quả của chúng đến việc bắt côn trùng gây hại cây trồng
Bảng 3.8. Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có nguồn ánh sáng khác nhau trên cây ngô (Trang 36)
Hình 3.9.  Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có nguồn ánh - Nghiên cứu chế tạo bẫy ánh sáng và đánh giá hiệu quả của chúng đến việc bắt côn trùng gây hại cây trồng
Hình 3.9. Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có nguồn ánh (Trang 37)
Bảng 3.9. Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có nguồn ánh sáng khác nhau trên cây lạc - Nghiên cứu chế tạo bẫy ánh sáng và đánh giá hiệu quả của chúng đến việc bắt côn trùng gây hại cây trồng
Bảng 3.9. Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có nguồn ánh sáng khác nhau trên cây lạc (Trang 38)
Bảng 3.10. Thành phần và số lượng công trùng bắt được của bẫy ánh sáng  trên cây lúa - Nghiên cứu chế tạo bẫy ánh sáng và đánh giá hiệu quả của chúng đến việc bắt côn trùng gây hại cây trồng
Bảng 3.10. Thành phần và số lượng công trùng bắt được của bẫy ánh sáng trên cây lúa (Trang 40)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w