1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu các yếu tố dinh dưỡng chính hạn chế năng suất giống lạc l14 trên dất cát ở huyện nghi lộc, tỉnh nghệ an trong vụ xuân năm 2011 luận văn thạc sỹ nông lâm ngư

106 620 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu các yếu tố dinh dưỡng chính hạn chế năng suất giống lạc l14 trên đất cát ở huyện nghi lộc, tỉnh nghệ an trong vụ xuân năm 2011
Tác giả Nguyễn Kim Hùng
Người hướng dẫn TS. Trần Thị Thu Hà
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Trồng trọt
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 697,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINHNGUYỄN KIM HÙNG Tên đề tài : NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ DINH DƯỠNG CHÍNH HẠN CHẾ NĂNG SUẤT GIỐNG LẠC L14 TRÊN ĐẤT CÁT Ở HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ A

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN KIM HÙNG

Tên đề tài :

NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ DINH DƯỠNG CHÍNH HẠN CHẾ

NĂNG SUẤT GIỐNG LẠC L14 TRÊN ĐẤT CÁT Ở HUYỆN

NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN TRONG VỤ XUÂN 2011

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SĨ

CHUYÊN NGÀNH TRỒNG TRỌT

MÃ SỐ: 60-62-01

VINH - 2011

Trang 2

ÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH -

NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ DINH DƯỠNG CHÍNH HẠN CHẾ

NĂNG SUẤT GIỐNG LẠC L14 TRÊN ĐẤT CÁT Ở HUYỆN

NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN TRONG VỤ XUÂN 2011

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH TRỒNG TRỌT

MÃ SỐ: 60-62-01

Người thực hiện: NGUYỄN KIM HÙNG

Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN THỊ THU HÀ

Trang 3

VINH - 2011

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các

số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được aicông bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều

đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

Nguyễn Kim Hùng

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Trần Thị Thu Hà, người

đã chỉ bảo tận tình, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện

đề tài và hoàn chỉnh luận văn của mình

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, các cô giáo trong Bộ mônTrồng trọt, các thầy cô trong Khoa Nông - Lâm - Ngư, Khoa Sau đạihọc, Trường Đại học Vinh, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôitrong suốt thời gian thực hiện luận văn này

Để hoàn thành luận văn, tôi còn nhận được sự động viên, khích lệcủa bạn bè và những người thân trong gia đình Tôi xin chân thành cảm

ơn tất cả những tình cảm cao quý đó

Vinh, ngày 12 tháng 12 năm 2011

Tác giả

Nguyễn Kim Hùng

Trang 6

MỤC LỤC

CHƯƠNG I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1.3 Nhu cầu dinh dưỡng của cây lạc 12

1.1.4 Đặc điểm của đất cát 13

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 25

1.2.1 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam 25

1.2.2 Tình hình sản xuất lạc tại Nghệ An 27

CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30 2.1 Đối tượng nghiên cứu 30

2.2 Nội dung nghiên cứu 30

2.2.1 Nghiên cứu về cây trồng 30

2.2.2 Nghiên cứu về đất đai 31

Trang 7

2.2.3 Nghiên cứu hiệu quả kinh tế của các công thức bón 31

2.3 Phương pháp nghiên cứu 31

2.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 31

2.3.2 Điều kiện thí nghiệm 33

2.3.3 Nghiên cứu về cây trồng 34

2.3.4 Phương pháp phân tích đất 36

2.3.5 Chênh lệch thu nhập của các công thức thí nghiệm 44

2.3.6 Phương pháp xử lý số liệu 44

CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 45 3.1 Ảnh hưởng của việc bón thiếu hụt các yếu tố dinh dưỡng đến sinh trưởng phát triển và năng suất giống lạc L14 45

3.1.1 Ảnh hưởng của việc bón thiếu hụt các yếu tố dinh dưỡng đến chiều

cao cây và số lá của cây lạc qua các thời kỳ sinh trưởng phát triển

46 3.1.2 Ảnh hưởng của bón thiếu hụt các yếu tố dinh dưỡng đến sự ra hoa 49 3.1.3 Ảnh hưởng của việc bón thiếu hụt các yếu tố dinh dưỡng đến khối lượng nốt sần của giống lạc L14 qua các thời kỳ sinh trưởng 52

3.1.4 Ảnh hưởng của việc bón thiếu hụt các yếu tố dinh dưỡng đến năng suất sinh khối của cây lạc qua các thời kỳ sinh trưởng phát triển

54 3.1.5 Ảnh hưởng của việc bón thiếu hụt các yếu tố dinh dưỡng đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất giống lạc L14 57

3.2 Thu nhập của các công thức thí nghiệm 62

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66

KẾT LUẬN 66

KIẾN NGHỊ 67

TÀI LIỆU THAM KHẢO 68

Trang 8

PHỤ LỤC I

Trang 9

Đối chứngNăng suất lý thuyếtNăng suất thực thu

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Thành phần dinh dưỡng của một số cây có dầu 04

Bảng 1.2 Tỷ lệ một số chất dinh dưỡng trong thân lá lạc và phân chuồng 05 Bảng 1.3 Lượng dinh dưỡng khoáng cây lạc hấp thu 12

Bảng 1.4 Hiệu suất của 1 kg P2O5 đối với 1 kg lạc vỏ trên một số loại đất 23 Bảng 1.5 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam từ năm 2005÷2009 26

Bảng 1.6 Tình hình sản xuất lạc ở một số vùng từ năm 2005÷2009 27

Bảng 1.7 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc ở Nghệ An 28

Bảng 2.1 Diễn biến thời tiết vụ Xuân 2011 34

Bảng 3.1 Ảnh hưởng của việc bón thiếu hụt các yếu tố dinh dưỡng đến chiều cao cây và số lá của cây lạc qua các thời kỳ sinh trưởng phát triển

46 Bảng 3.2 Ảnh hưởng của bón thiếu hụt yếu tố dinh dưỡng đến sự ra hoa 50

Bảng 3.3 Ảnh hưởng của việc bón thiếu hụt các yếu tố dinh dưỡng đến khối lượng nốt sần của cây lạc qua các thời kỳ sinh trưởng phát triển 53

Bảng 3.4 Năng suất sinh khối của cây lạc qua các thời kỳ 55

Bảng 3.5 Ảnh hưởng của việc bón thiếu hụt các yếu tố dinh dưỡng đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất giống lạc L14 58

Biểu đồ 3.1 Ảnh hưởng của bón thiếu hụt yếu tố dinh dưỡng đến năng suất lạc 60 Bảng 3.6 Chênh lệch thu nhập của lạc giữa các công thức thí nghiệm 63

Biểu đồ 3.2 Thu nhập sau khi trừ chi phí phân bón của lạc ở các công thức thí nghiệm 64

Bảng 3.7 Một số tính chất hoá học của đất trước và sau thí nghiệm 65

Trang 11

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Nghi Lộc là huyện đồng bằng ven biển của tỉnh Nghệ An, có tổng diệntích đất sản xuất nông nghiệp là 15.493 ha, bao gồm 5 nhóm đất: đất cát, đấtphù sa, dốc tụ, đất mặn, đất phèn mặn, đất bạc màu và biến đổi do trồng lúa.Các loại cây trồng nông nghiệp chính của huyện như lúa, ngô, lạc, đậu đỗ đềuđược phân bố chủ yếu trên diện tích đất phù sa và đất cát (với tổng diện tích là10.597,2ha) [32] Do đó, có thể nói: đây là 2 nhóm đất có vị trí quan trọng và

có ý nghĩa lớn đối với sản xuất nông nghiệp của huyện

Lạc (Arachis hypogaea.L) là cây họ đậu, cây công nghiệp ngắn ngày có

khả năng thích nghi cao với nhiều loại đất, không có nhu cầu cao về dinhdưỡng đất lại có khả năng cải thiện độ phì đất nên được gieo trồng rất phổbiến trên diện tích đất cát thuộc các xã Nghi Long, Nghi Hợp, Nghi Xá, NghiThịnh, Nghi Phong của huyện Nghi Lộc Theo số liệu thống kê thì đến nay,tổng diện tích lạc của huyện Nghi Lộc là 4.667ha Nhờ có giá bán cao, thịtrường khá ổn định nên sản xuất lạc đang là ngành sản xuất đem lại lợi nhuậnkhá cho nông dân trồng lạc

Vì vậy, diện tích cây lạc trên địa bàn huyện Nghi Lộc được duy trì khá

ổn định qua các năm, đạt 5.567ha năm 2008; 4.702ha, năm 2009 và 4.667ha,năm 2010 [32] Tuy nhiên, bình quân năng suất lạc trên vùng đất cát vẫn cònthấp, chỉ đạt 22,6 ta/ha, so với tiềm năng năng suất lạc của giống (45÷55 tạ/ha)

Trong những năm gần đây, để có thể nâng cao năng suất lạc, đã có rấtnhiều giải pháp đã được áp dụng Nhiều giống lạc lai có năng suất cao như: L14,L18, L23, MD7, LVT đã được đưa vào sản xuất trên diện rộng (4.135ha, năm2010)

Mặc dù vậy, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà cho đến nay, trên địabàn huyện lại chưa có được một quy trình bón phân cho lạc lai ( trong đó cógiống lạc L14) được xây dựng Quy trình bón phân hiện đang được phổ biến

Trang 12

cho người sản xuất là quy trình chung cho các giống lạc trên nhiều loại đấtkhác nhau Đặc thù về điều kiện tự nhiên, đặc biệt là điều kiện cụ thể về tínhchất đất đai chưa được quan tâm một cách thỏa đáng trong xây dựng lượng và

tỷ lệ bón phân cho giống lạc này Một số thay đổi nhỏ so với quy trình chungchỉ được dựa trên kinh nghiệm của người sản xuất

Trong khi đó, trong các yếu tố hạn chế năng suất và lợi nhuận trong sảnxuất lạc trên địa bàn tỉnh Nghệ An nói chung và huyện Nghi Lộc nói riêng,(chất lượng giống, điều kiện canh tác, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh, quản lýdinh dưỡng, v.v) thì quản lý dinh dưỡng không hợp lý được xem là yếu tố cóảnh hưởng rất quyết định [1]

Được biết, trong thời điểm hiện tại, việc thực hiện quy trình bón phâncho lạc của phần lớn các hộ nông dân trên địa bàn huyện Nghi Lộc chỉ mớiđược thực hiện khá tốt ở khâu xác định thời kỳ và phương pháp bón Liềulượng phân bón được đầu tư cho cây lạc phần lớn đang tùy thuộc vào trình độthâm canh, khả năng đầu tư vốn của các nông hộ và nhìn chung còn tùy tiện,chưa thực sự dựa vào điều kiện cụ thể về tính chất đất đai Chính sự mất cânđối thể hiện ở cả liều lượng, tỷ lệ bón các loại phân của các hộ nông dân đã vàđang hạn chế đáng kể sinh trưởng, phát triển của cây lạc và làm cho năngsuất đạt không cao như mong muốn

Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi đã triển khai đề tài: “Nghiên cứu

các yếu tố dinh dưỡng chính hạn chế năng suất giống lạc L14 trên đất cát

ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An trong vụ Xuân 2011”

Mục đích nghiên cứu của đề tài

- Xác định các yếu tố dinh dưỡng chính hạn chế năng suất giống lạc L14trên vùng đất cát huyện Nghi Lộc, làm cơ sở để xây dựng quy trình phân bóncân đối và hợp lý, góp phần phát triển sản xuất lạc bền vững tại huyện NghiLộc

Trang 13

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa khoa học của đề tài

- Làm rõ ảnh hưởng của việc bón phân không cân đối đến sinh trưởng,phát triển và khả năng cho năng suất của giống lạc L14 trong điều kiện cụ thể

về đất đai và khí hậu của huyện Nghi Lộc

- Làm rõ tác động của việc bón thiếu hụt các nguyên tố dinh dưỡngchính đến chất lượng sản phẩm và hiệu quả của việc sử dụng phân bón cholạc L14 trong điều kiện cụ thể về đất đai và khí hậu của huyện Nghi Lộc

- Cung cấp cơ sở dữ liệu để làm cơ sở cho việc xây dựng một quy trìnhbón phân cân đối và hợp lý cho lạc L14 trên vùng đất cát của huyện

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

- Góp phần xây dựng quy trình phân bón thích hợp cho lạc nhằm nângcao thu nhập cho người sản xuất

- Cung cấp nguồn thông tin chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho cơ quankhuyến nông địa phương

Trang 14

CHƯƠNG I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài

1.1.1 Vai trò của cây lạc

1.1.1.1 Vai trò của cây lạc trong đời sống con người

Sản phẩm chính của lạc là hạt được sử dụng rộng rãi để làm thực phẩm

và nguyên liệu cho công nghiệp Lạc cung cấp tỷ lệ đáng kể thành phần chấtbéo và protein của khẩu phần ăn hàng ngày cho con người

Bảng 1.1 Thành phần dinh dưỡng của một số cây có dầu [11]

(%)

Chất đạm(%)

Chất khoáng(%)

Đường bột(%)

ở mức thấp hơn so với đậu tương, vừng và hướng dương; hàm lượng đường bột(gluxit) trong hạt lạc khá lớn (6÷22%) cao hơn vừng (6,7÷19,6%) [23]

Trong hạt lạc còn có các vitamin quan trọng: 68 mg vitamin P và nhiềuvitamin A, B, C, D, E, F, Mặc dù hàm lượng vitamin A trong dầu lạc rất

ít nhưng do hàm lượng dầu cao đã giúp cho cơ thể con người hấp thu vitamin

Trang 15

A tốt hơn, do vậy sử dụng các sản phẩm từ lạc có thể khắc phục được sự thiếuhụt vitamin A [23].

Nhờ công nghiệp thực phẩm phát triển, các sản phẩm từ lạc như dầu, bơlạc, chao, phomat lạc, sữa lạc, được sử dụng nhiều trong đời sống hàng ngày

1.1.1.2 Vai trò của cây lạc trong nền kinh tế quốc dân

Hiện nay ở nước ta, lạc là một trong số các mặt hàng nông sản xuất khẩuquan trọng, nó đóng góp khoảng 15% trong nguồn hàng nông sản xuất khẩu.Việt Nam đứng vào hàng thứ 5 trong số 10 nước xuất khẩu lạc lớn nhất thếgiới, đạt kim ngạch xuất khẩu hàng năm từ 40÷50 triệu USD Những năm gầnđây nước ta đã xuất khẩu khoảng 70÷80 ngàn tấn lạc nhân qua các nước như:Đức, Pháp, Ý, Mỹ, cho nên lạc là cây đem lại nguồn thu ngoại tệ quan trọng[23] Tuy nhiên chất lượng lạc xuất khẩu của Việt Nam vẫn chưa thật sự thỏamãn nhu cầu nhập khẩu của một số nước Vì vậy cần nâng cao chất lượng nôngsản phẩm để đạt được kim ngạch cao và mở rộng thị trường xuất khẩu

Sản phẩm phụ của lạc còn được dùng làm nguyên liệu trong côngnghiệp: làm dầu nhờn xoa máy, trục xe Khô dầu ép từ lạc có nhiều chất dinhdưỡng dùng để chế biến nước chấm, làm bánh kẹo, nấu xà phòng, làm thức ănchăn nuôi,

1.1.1.3 Vai trò của cây lạc trong việc cải tạo đất nông nghiệp

Bảng 1.2 Tỷ lệ một số chất dinh dưỡng trong thân lá lạc và phân chuồng [17]

Cây lạc có khả năng cố định đạm từ khí trời nhờ sự cộng sinh của vi

khuẩn Rhizobium Vigna trong nốt sần ở rễ cây lạc Vì vậy, trồng lạc không

cần bón phân đạm nhiều như các cây trồng khác mà vẫn đảm bảo năng suất,

Trang 16

từ 75÷200 kg N/ha/năm) [9] Bên cạnh đó, thân lá lạc làm phân xanh rất tốt,

vì trong thân lá lạc có chứa hàm lượng khá cao của một số chất dinh dưỡng

So với phân chuồng tính theo chất khô thì tỷ lệ lân và kali trong thân lálạc xấp xỉ phân chuồng, hàm lượng đạm cao gấp 2,5 lần Hiện nay, hầu hếtcác vùng trồng lạc đều sử dụng thân lá lạc làm phân bón cho lúa, màu Mỗi hathân lá lạc đủ bón cho 2÷3 ha lúa và năng suất tăng rõ rệt Mặt khác, với bộtán dày, có khả năng che phủ tốt nên cây lạc làm giảm mức độ xói mòn củađất, góp phần bảo vệ, nâng cao độ phì nhiêu của đất, đặc biệt vào mùa mưa

Vì vậy, người ta trồng lạc luân canh với cây trồng khác, xen canh giữa cáccây hàng rộng như chè, sắn, dâu, mía, [12]

1.1.2 Vai trò của một số yếu tố dinh dưỡng đối với cây lạc

1.1.2.1 Vai trò của đạm

Dinh dưỡng đạm đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình hình thànhhoa ở cây lạc Quá trình phân hóa mầm hoa bắt đầu từ khi lạc có 2 lá bắc nổilên ở nách lá Khi lạc có 2÷4 lá thật xòe ra thì hoa đầu tiên bắt đầu phân hóa.Sau khi mọc 25÷45 ngày hoa bắt đầu nở Như vậy, thời kỳ đầu rễ lạc còn non,

bộ rễ phát triển chưa hoàn thiện, sự hình thành nốt sần còn chưa nhiều nênthời kỳ này bón đạm đóng vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện cho sựsinh trưởng và phát triển thuận lợi của các bộ phận trên mặt đất Là cơ sở choviệc hình thành và phân hóa mầm hoa được thuận lợi

Đạm là thành phần của nguyên sinh chất tế bào, axít amin, axit nucleic(ADN và ARN), các enzim và diệp lục Đạm là chất dinh dưỡng chủ yếucủa cây lạc Đạm có vai trò làm tăng sinh trưởng và phát triển của mô sống,quyết định phẩm chất của nông sản Cây lạc chứa nhiều đạm trong lá vàhạt Thiếu đạm cây sinh trưởng phát triển kém, lá mảnh, có màu xanh nhạt,

sự hình thành quả bị hạn chế [17]

Trang 17

Tuy lạc có thể tự thoả mãn một phần nhu cầu đạm của mình nhờ hoạtđộng của vi sinh vật cố định đạm sống cộng sinh ở rễ nhưng phải sau 3 tuầnthì lạc mới phát triển đủ rễ và sau khi nở hoa thì nốt sần mới phát triểnmạnh Vì vậy, bón đạm cho lạc ở thời kỳ đầu là rất cần thiết để xúc tiến việchình thành nốt sần và phân hoá mầm hoa Tuy nhiên, nếu bón quá nhiều đạm

sẽ ức chế sự hình thành và hoạt động của vi khuẩn nốt sần làm cho cây vốnglốp, số cành hữu hiệu giảm [2]

Mặc dầu có nhu cầu đạm cao nhưng trong thực tế lượng đạm bón cho lạcbao giờ cũng thấp hơn lân và kali Bón nhiều đạm cho lạc sẽ làm cho sinhkhối phát triển mạnh [4], thời gian sinh trưởng bị kéo dài, ngăn cản sự hìnhthành nốt sần ở rễ và khả năng cố định đạm của vi sinh vật nốt sần do sảnphẩm quang hợp chuyển hoá nhanh thành protít, làm giảm việc cung cấphydrat cacbon cho các vi sinh vật này [19]

1.1.2.2 Vai trò của lân

Lân là thành phần của axit nucleic, photphatit, protein, lipit, coenzim,NAD, ATP và nhiễm sắc thể Lân cần thiết cho sự phân chia tế bào, mô phânsinh, kích thích sự phát triển của rễ, sự ra hoa, sự phát triển của hạt và quả [23].Ngoài việc xúc tiến rễ phát triển, lân còn là thức ăn chính của vi khuẩn có tácdụng đẩy mạnh sự hình thành và nâng cao hoạt tính của nốt sần, làm tăngcường khả năng hút, giữ đạm khí trời, thúc đẩy lạc tăng số cành hữu hiệu, hoa

nở sớm và tập trung, nâng cao tỷ lệ đậu quả và quả chắc, màu sắc đẹp, giảm tỷ

lệ nước trong qủa Quan trọng hơn là xúc tiến quá trình hình thành chất béo,dầu và chất đạm, làm tăng tỷ lệ dầu trong hạt, quả chóng già chín Đặc biệt khibón lân sẽ tăng cường hiệu lực hút phân đạm nên tiết kiệm được một lượngphân đạm dáng kể

Lân thường được xem xét như một yếu tố dinh dưỡng hạn chế sinhtrưởng, phát triển và năng suất của các loại cây họ đậu ở các vùng nhiệt đới

Trang 18

và cận nhiệt đới Thiếu lân làm giảm sự phát triển của lá và hình thành số látrên cây Chiều dài cành ít chịu ảnh hưởng của sự thiếu hụt lân trong cây,trong khi đó thiếu lân làm cho bộ rễ phát triển kém dẫn đến sự mất cân đốitrong tỷ lệ giữa thân lá và rễ [41] Lượng lân bón không thích hợp sẽ làmgiảm cường độ quá trình đồng hoá carbon hydrate, trong khi đó việc tổng hợphợp chất này thông qua quá trình quang hợp vẫn tiếp tục xẩy ra và gây ra hiệntượng tích luỹ carbonhydrate làm cho lá có màu xanh sẫm, trầm trọng hơn sẽ

có màu huyết dụ và có ảnh hưỏng bất lợi đối với quá trình quang hợp và cuốicùng sẽ làm sụt giảm năng suất cây trồng rất rõ rệt [46]

Sự hình thành và phát triển của nốt sần ở rễ lạc và quá trình cố định đạmchịu ảnh hưởng rất lớn của lượng lân trong đất trồng lạc cũng như lượng lânđược bón bổ sung từ các loại phân bón Theo các tác giả (Casanova, 2000;John.H và ctv, 1999; Barbagelata và ctv, 2002) thì mối liên quan chặt chẽ giữanguyên tố lân và quá trình cố định đạm ở cây họ đậu được thể hiện như sau:+ Nốt sần bắt đầu hình thành khi lông hút của rễ bị lây nhiễm bởi vikhuẩn Rhizobium và ở giai đoạn này, việc thiếu hụt lân làm cho rễ kém pháttriển sẽ ngăn cản sự hình thành nốt sần và giảm cường độ quá trình cố địnhđạm cũng như sự thu hút nước và dinh dưỡng của cây

+ Quá trình cố định đạm đòi hỏi nguồn năng lượng lớn cho sinh trưởngcủa vi khuẩn nốt sần và sự chuyển hoá N2 thành NH3 Nguồn năng lượng đóchủ yếu cũng được cung cấp từ lân ở dạng ATP

+ Lân có vai trò tích cực trong việc vận chuyển các sản phẩm của quátrình quang hợp từ lá về rễ và sự di chuyển của các hợp chất có đạm trong nốtsần về các bộ phận khác của cây và làm tăng hàm lượng đạm trong thân lá.Ngoài ra, bón lân có tác dụng kích thích sự phát triển của bộ rễ câytrồng, nhờ đó mà cây có khả năng thu hút nhiều hơn các nguyên tố dinhduỡng từ đất và từ phân bón

Thiếu lân có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành nốt sần, khả năngtích lũy chất khô và năng suất lạc Bón lân có tác dụng kích thích sự phát triểncủa bộ rễ, vì vậy ở cây họ đậu nói chung và cây lạc nói riêng được bón đầy đủ

Trang 19

lớn và có màu hồng [2]; [36] và vì vậy làm tăng khả năng tích luỹ đạm củacây [1].

Khi thiếu nguyên tố lân, cây con cằn cỗi, thời gian sinh trưởng chậm, lánon vàng nhạt, thể hiện dấu hiệu khô héo nhanh ảnh hưởng xấu tới sự pháttriển của nốt sần, hoa rụng nhiều quả ít, kém chắc, năng suất và phẩm chất lạcđều giảm [1]

1.1.2.3 Vai trò của kali

Đối với cây trồng, kali là một trong 3 nguyên tố khoáng thiết yếu nhất.Vai trò quan trọng nhất của kali được thể hiện ở khả năng hoạt hoá các enzymtrong hợp chất ATP đóng vai trò cung cấp năng lượng cho rất nhiều quá trìnhsinh lý, sinh hoá xẩy ra trong cây [17] Kali còn rất cần thiết cho quá trình đồnghoá đạm và tổng hợp protein trong cây

Thiếu hụt kali trong cây sẽ làm cho quá trình tổng hợp protein bị ngừngtrệ, đạm trong cây sẽ được tích lũy dưới dạng đạm nitrat và axit amin, là môitrường rất thuận lợi cho sâu bệnh xâm nhập [17]; [36] Thiếu kali trên rìa láthường xuất hiện những đốm vàng, sau đó lan ra rìa lá và làm cho quá trìnhsinh trưởng của cây bị ngưng trệ [19] Tuy nhiên, nếu bón quá nhiều kali cholạc sẽ ức chế việc hút can xi của tia và củ và kết quả là năng suất và phẩm cấphạt sẽ giảm [28]

Theo Vũ Hữu Yêm (1995), Võ Minh Kha (1996) thì kali có tác dụnghoạt hóa các enzym có liên quan đến quá trình quang hợp, chuyển hóa cáchydrat cacbon và protein cũng như giúp di chuyển và duy trì sự ổn định củachúng Kali giúp điều khiển quá trình sử dụng nước bằng đóng mở khí khổng,thúc đẩy quá trình sử dụng đạm dạng NH4+, cải thiện khả năng sử dụng ánhsáng khi thời tiết âm u nên làm tăng hiệu suất quang hợp Kali còn ảnh hưởngđến quá trình hình thành màng tế bào và độ chắc của nó, nên làm tăng khả

Trang 20

năng khả năng chống lớp đổ, làm tăng khả năng chống bệnh của cây trồng.Kali có tác dụng làm tăng phẩm chất của nông sản, tăng kích thước hạt

Khác với lân, kali không tham gia trực tiếp vào quá trình hình thành nốtsần Tuy nhiên, ảnh hưởng của kali đến chỉ tiêu này có thể thông qua việc tíchlũy và vận chuyển lân trong cây Một số tác giả [17]; [36] đã chỉ ra rằng, sựvận chuyển phốt pho và một số nguyên tố khác trong các xylem trong cây bịgiảm sút khi cây không được cung cấp đầy đủ kali Bón đầy đủ kali góp phầnđảm bảo cân bằng lân trong cây, tạo điều kiện để hệ rễ phát triển mạnh vàtăng nhanh số lượng nốt sần xâm nhập Kali có vai trò vận chuyển các hydratcacbon vào rễ cây họ đậu và tạo điều kiện để nốt sần có thể hình thành nhiềuhơn [26]

Cây lạc trong thời kỳ phát triển hút một lượng kali rất lớn Tác dụng củakali đối với lạc thể hiện ở khả năng xúc tiến sự phân cành, tăng chiều cao cây,tăng nhiều hoa, làm hoa nở đều, tăng tỷ lệ hoa hữu hiệu, tăng khối lượng quả hạt,quả chắc và to, chín đều và ít thối, trắng vỏ Nó còn tác dụng tăng sức đề khángcủa cây, giúp cây chống một số sâu bệnh Kali tác động đều đến toàn bộ thờigian sinh trưởng của cây và cuối cùng là đến năng suất của lạc [17]; [2]

Kali tập trung nhiều trong bộ phận non của cây Hàm lượng kali tối đatrong phần lớn thực vật thường thấy vào thời kỳ trước ra hoa Điều này chứng

tỏ rằng cây trồng hút kali rất lớn ở giai đoạn trước ra hoa Hàm lượng K2Otrong cây ở mức 2,15% làm cho cây lạc ra hoa kết quả tối đa [2]

Thông thường, ảnh hưởng của kali đến một số chỉ tiêu sinh trưởng củacây lạc không phải là ảnh hưởng trực tiếp mà thông qua một số quá trình sinh

lý xảy ra trong cây như quá trình quang hợp Sự trao đổi electron trong quátrình sản xuất ATP trong cây chỉ cân bằng với sự có mặt của K+ Sự thiếu hụtkali sẽ làm giảm sút quá trình hình thành ATP và vì vậy có ảnh hưởng tiêucực đến tất cả các quá trình xẩy ra trong cây Bón đầy đủ kali có tác dụng thúc

Trang 21

đẩy quá trình quang hợp và hình thành các cơ quan sinh trưởng Mặt khác,một vai trò nổi bật của kali và khác hẳn đạm và lân, đó là vai trò hoạt hoá hơn

60 enzim trong cây Kali làm thay đổi trạng thái lý học của phân tử enzim,trung hoà các anion hữu cơ và các hợp chất khác trong cây, giữ cho pH luôn ởmức ổn định từ 7÷8, là khoảng thích hợp cho rất nhiều phản ứng có enzymxúc tác [17]

1.1.2.4 Vai trò của can xi

Đối với lạc, trước hết can xi là thức ăn cần thiết Ngoài ra can xi còn làmgiảm độ chua, tạo môi trường thuận lợi cho vi khuẩn nốt sần hoạt động cốđịnh đạm nhiều hơn, can xi ngăn ngừa việc tích luỹ các chất độc hại và điềuchỉnh bốc hơi nước, làm tăng sức chịu hạn cho lạc

Bón can xi còn huy động được đạm cho cây dùng, quả thêm chắc và tiếtkiệm được bón đạm

Lạc rất mẫn cảm với canxi và có yêu cầu cao với canxi, nhất là thời kỳkết quả Can xi làm cho rễ phát triển, tia dài và cứng thuận lợi cho việc hìnhthành quả

Bộ rễ, tia và quả còn non trực tiếp hút được can xi Bón can xi phối hợpvới kali thì sẽ kiện toàn cấu tạo bộ máy của tia, tăng tỷ lệ đậu quả, giảm quả

ép, tăng số quả 2 hạt, hạt tròn đẹp, qủa ít eo Can xi là yếu tố quan trọng nhất

để sản xuất lạc qủa to Ngoài ra can xi còn có tác dụng phòng chống sâu bệnh,giảm kiến mối làm hại mầm

Thiếu can xi từ gốc đến ngọn cây lạc bị chuyển màu, lá chuyển màu cóđốm trắng, lá già hơi vàng chết dần, thiếu nặng thì cây vàng úa, cuống lá dễgãy, ngọn héo Ngoài ra khi thiếu can xi hoa rụng nhiều, ít đậu qủa, quả ốplép, vỏ quả giòn, kích thước hạt nhỏ [2]

1.1.3 Nhu cầu dinh dưỡng của cây lạc

Trang 22

Lạc là cây họ đậu, có nhu cầu dinh dưỡng không cao và có khả năng sửdụng được đạm từ không khí nhờ vi khuẩn nốt sần Nhu cầu dinh dưỡng củacây lạc thay đổi, phụ thuộc vào từng giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây

và tính chất đất Để thu được 1 tấn lạc vỏ (kèm với thân lá) cây lấy đi 64 kg N,

16 kg P2O5, 26,4 kg K2O, 26,4 kg CaO, và 11,9 kg MgO [3]

Ở Trung Quốc để đạt năng suất lạc quả 3 tấn/ha, cây lạc cần được bón 2,5tấn phân hữu cơ cùng với 20 kg P2O5, sau đó bón thúc 30 kg N/ha Để đạt 4,5tấn/ha người ta ốn lót 3,75 tấn phân hữu cơ, 30 kg P2O5 và 75 kg K2O [21].Theo Duan Shufen (1998) để thu được 100 kg lạc quả cần bón 5 kg N, 2

kg P2O5 và 2,5 kg K2O/ha Mức đạm bón cho lạc trên đất có độ phì trung bình

và cao cần phải giảm đi 50% trong khi đó lượng lân cần bón gấp 2 lần

Burkhart, Collins (1991) đã mô tả những triệu chứng thiếu dinh dưỡngthấy được bằng mắt Nhưng phương pháp kết hợp cả triệu chứng biểu hiệntrên lá do thiếu dinh dưỡng và nồng độ các chất ở mức tới hạn là cách tốt hơn

để nhận biết sự thiếu dinh dưỡng ở lạc

Bảng 1.3 Lượng dinh dưỡng khoáng cây lạc hấp thu [2]

Trang 23

Khi nghiên cứu về chế độ dinh dưỡng của cây lạc, các nhà khoa họcthuộc Viện Nghiên cứu cây có dầu ở Nam Senegan cho thấy, để có năng suất1.000 kg/ha thì cây lạc đã lấy đi từ đất một lượng nguyên tố khoáng như sau:45÷52 kg N; 2,2÷3,8 kg P; 11,8÷13,7 kg K; 5,9÷8,3 kg Ca; 3,8÷7,2 kg Mg.Như vậy cây lạc tích lũy đạm với lượng lớn nhất sau đó đến kali [2].

Thí nghiệm phân bón ở Punjab cho thấy tổng lượng dinh dưỡng để đạtđược năng suất 2.120 kg quả/ha cần phải có 167 kg K2O, 97 kg P2O5 và 87 kgCaO [44]

1.1.4 Đặc điểm của đất cát

Đất cát thuộc vào loại đất xấu, thoát nước dễ, thấm nước nhanh, do vậygiữ nước kém Đất có độ thông khí cao, vi sinh vật háo khí hoạt động mạnhlàm cho quá trình khoáng hoá chất hữu cơ và mùn xảy ra mãnh liệt, vì vậy đấtcát thường nghèo mùn Đất thường nóng nhanh, lạnh nhanh gây nhiều bất lợicho cây trồng Các loại cây trồng trên đất này thường cho năng suất thấp.Đất cát khi khô thì rời rạc nên dễ cày bừa, làm cỏ, rễ cây phát triển dễdàng nhưng cỏ cũng mọc nhanh Khi đất cát gặp mưa to hay tưới nhiềuthường bị dí chặt gây thối úng

Sức giữ ẩm đồng ruộng thấp, nhưng vì độ ẩm cây héo thấp, nên lượngnước trong đất thuộc loại khá

Độ phì nhiêu của đất cát nhìn chung thấp; Hàm lượng chất hữu cơ daođộng từ 0,6÷1%; Ở lớp đất mặt đạm tổng số thay đổi trong khoảng0,03÷0,09% , Kali tổng số thấp

Tuy nhiên đất cát cũng có một số ưu thế như thành phần cơ giới nhẹ, dễcanh tác, dễ cải tạo, nước ngầm nông nhờ vậy dễ điều hoà chế độ nhiệt và chế độ

ẩm cho cây trồng Nếu trên đất cát bố trí cây trồng hợp lý kết hợp chế độ phânbón cân đối và chăm sóc phù hợp sẽ cho năng suất và hiệu quả kinh tế khá

1.1.5 Các yếu tố hạn chế và định luật yếu tố hạn chế năng suất cây trồng

Trang 24

Theo Nguyễn Vy (1998) có rất nhiều yếu tố hạn chế sự phát triển củacây trồng và hình thành năng suất.

Khi cây trồng không phát triển hoặc phát triển không bình thường, khi câytrồng đó không cho năng suất hoặc năng suất thấp hơn bình thường hoặc khôngđạt chỉ tiêu về chất lượng protein, dầu, đường, vi lượng, thuận lợi cho bảo quản

và chế biến, người ta nói cây trồng đã bị ảnh hưởng của các yếu tố hạn chế Cónhững đất có độ phì nhiêu rất cao, xét về độ phì nhiêu tự nhiên nhưng lại thiếumột chất dinh dưỡng nào đó làm cho các chất dinh dưỡng khác không thể pháthuy được Như vậy sự thiếu hụt một chất dinh dưỡng này hoặc một chất dinhdưỡng khác sớm muộn cũng dẫn tới yếu tố hạn chế [26]

Những yếu tố hạn chế năng suất lạc ở Việt Nam là: thiếu giống có năngsuất cao, đất trồng lạc thiếu dinh dưỡng, hàm lượng chất hữu cơ và mùn thấp,

pH thấp (hoặc cao), vi sinh vật ít, sâu bệnh hại lạc phòng trừ chưa có hiệuquả Trong rất nhiều các yếu tố hạn chế đó, yếu tố dinh dưỡng hạn chế năngsuất lạc có ảnh hưởng trực tiếp và đáng kể [17]

Trên cùng một địa điểm, có thể xuất hiện cùng một lúc nhiều yếu tố hạnchế nhưng không thể khắc phục được triệt để nếu chưa tìm ra yếu tố hạn chếđứng hàng đầu Vì vậy, việc nghiên cứu để phát hiện yếu tố hạn chế có ý nghĩa

to lớn cả về lý luận lẫn thực tiễn trong việc bón phân hợp lý và cân đối để đạtđược năng suất cao, phẩm chất tốt đồng thời tạo được độ phì nhiêu cho đất.Năm 1840, Liebig phát hiện ra yếu tố dinh dưỡng hạn chế năng suất cây

trồng Và đã đưa ra Định luật yếu tố hạn chế năng suất cây trồng như sau:

“Năng suất cây trồng tỷ lệ với nguyên tố phân bón có tỷ lệ thấp nhất sovới yêu cầu của cây trồng”

Ở Việt Nam, hơn một nửa diện tích đất trồng trọt có hàm lượng chấtdinh dưỡng thấp và có những yếu tố hạn chế cần khắc phục như độ chua, hàmlượng nhôm và độ mặn cũng như khả năng giữ chất dinh dưỡng kém Trong

Trang 25

số các thiếu hụt về chất dinh dưỡng trong đất trồng trọt ở Việt Nam lớn nhất

và quan trọng nhất là thiếu hụt về đạm, lân và kali Đây cũng là chất dinhdưỡng mà cây trồng hấp thụ lớn nhất

Trong các loại đất chua, sự thiếu can xi và ma giê cũng trở nên quantrọng Việc hoàn trả không đầy đủ về lượng các chất dinh dưỡng ở dạng vô cơ

và hữu cơ đã làm cho đất bị cạn kiệt màu khá rõ, đây cũng là nguyên nhânxuất hiện yếu tố dinh dưỡng hạn chế

Yếu tố hạn chế cũng xuất hiện khi nồng độ một chất vượt quá ngưỡngcho phép đã trở thành độc tố thì cũng kìm hãm sự phát triển của cây trồng,làm giảm năng suất, thậm chí không cho thu hoạch Có thể lấy trường hợp đất

bị nhiễm mặn do nồng độ muối tan chủ yếu là Na+, Cl- cao, trong điều kiệnyếm khí sẽ dẫn đến tích lũy nhiều sản phẩm khử như H2S, Fe++ thường thấy ởcác vùng thung lũng núi cao, vùng đất phèn Trong trường hợp này ta gọi làyếu tố hạn chế thừa

Nói chung yếu tố hạn chế xuất hiện từ những nguyên nhân chủ yếu sau:+ Hệ quả của các quá trình thổ nhưỡng tự nhiên

+ Bón quá ít hoặc không bón một yếu tố dinh dưỡng

+ Các giống năng suất cao đã hút đi một lượng lớn các chất dinh dưỡng

từ đất nhưng không hoàn trả đúng mức

+ Bón cố định một loại phân

+ Những quá trình hóa học, sinh học tích lũy độc tố mới xẩy ra trong đất.Đối với các đất giàu mùn, giàu đạm thì yếu tố hạn chế được khắc phụctheo quy luật cân đối lân - đạm, với các đất mà tỷ lệ đạm trung bình hoặc thấpthì vai trò yếu tố hạn chế được khắc phục theo quy luật tối thiểu, nghĩa là lân

ít thì bón lân ắt phải có bội thu cao [45]

Trong thực tiễn sản xuất nông nghiệp Việt Nam hiện nay, sau khi yếu tốhạn chế năng suất chính là đạm đã được giải quyết thì lân nổi lên là yếu tố

Trang 26

hạn chế năng suất trong suốt gần 3 thập kỷ và hiện tại vẫn đang còn là yếu tốhạn chế trên rất nhiều loại đất Riêng kali, tuy mới được coi là yếu tố hạn chếnăng suất trên một số loại đất, một vài loại cây trồng, song do lượng hút kalingày càng lớn với tốc độ ngày càng cao, thậm chí cao hơn đạm thì kali cũngsớm trở thành yếu tố hạn chế năng suất cây trồng ở Việt Nam

Đó là nói đến các nguyên tố đa lượng, còn các nguyên tố trung lượng và

vi lượng thì sao? Ở các nước phát triển người ta không còn nghi ngờ về vaitrò sinh lý của các nguyên tố vi lượng và khả năng tăng năng suất cây trồng,nâng cao chất lượng nông sản của các loại phân vi lượng Trên cơ sở đó cũng

có thể nghĩ đến các nguyên tố trung lượng và vi lượng, tuy chỉ với lượng nhỏđối với cây trồng nhưng cũng có khả năng các nguyên tố đó là yếu tố dinhdưỡng hạn chế đến năng suất cây trồng

Tuy nhiên, định luật hạn chế năng suất cây trồng có thể mở rộng đối vớicác yếu tố ngọai cảnh như nhiệt độ, nước, ánh sáng Mặc dù đủ các yếu tố vềphân bón nhưng thiếu nước thì việc cung cấp nước sẽ quyết định mức năngsuất của cây trồng Nhiệm vụ của các nhà khoa học nghiên cứu ngành trồngtrọt là phải tìm ra được các yếu tố hạn chế, yếu tố hạn chế này được giải quyếtthì phát sinh yếu tố hạn chế mới Muốn đầy đủ và giúp cho việc bón phân cóhiệu quả thì định luật này được mở rộng như sau: “Năng suất cây trồng phụthuộc vào chất dinh dưỡng nào có hàm lượng dễ tiêu thụ nhất so với yêu cầucủa cây trồng” [9]

1.1.6 Tình hình nghiên cứu phân bón cho lạc trên thế giới và ở Việt Nam

1.1.6.1 Tình hình nghiên cứu phân bón cho lạc trên thế giới

Các kết quả nghiên cứu về sử dụng phân bón cho lạc cho thấy, để đạthiệu quả sử dụng phân bón cao nhất cần dựa vào kết quả phân tích đất Lạc làcây trồng khá mẫn cảm với độ chua, vì vậy, bón vôi cho lạc, đặc biệt trên cácloại đất chua thường cho hiệu quả rõ rệt

Trang 27

J.G De Geus (1983) cho biết, nếu pH thấp thì phải bón vôi khi làm đất.Các nghiên cứu ở Mỹ cho thấy, không cần dùng phân đạm khi đã bón vôi chođất để có pH thích hợp, vì đã có vi khuẩn tạo nốt sần Tuy vậy, cây lạc thườngđược trồng trên đất nhẹ, có thành phần cơ giới thô, phần lớn các lọai đất nàythường là nghèo dinh dưỡng, hàm lượng mùn thấp, vì vậy việc bổ sung nguồndinh dưỡng trực tiếp cho lạc là cần thiết

Bón vôi có tác dụng cải thiện độ chua của đất, tạo điều kiện thuận lợicho hoạt động của rất nhiều loại vi sinh vật Bón vôi trung hòa độ chua giúpcho chất hữu cơ trong đất phân giải mạnh và góp phần tích lũy các chất dinhdưỡng dễ tiêu trong đất Bón vôi, cải thiện độ chua của đất có tác dụng tăngcường hoạt động cố định đạm của vi khuẩn chủng Rhizobium [43] Bón vôicho đất còn có tác dụng giải phóng lân từ các hợp chất lân khó hoà tan vốn rấtnhiều trên đất chua như AlPO4 và FePO4 [34] [35] Bón vôi kết hợp với lân cótác dụng rất rõ rệt trong việc nâng cao năng suất lạc [39]

Trong các nguyên tố dinh dưỡng, lân là nguyên tố có vai trò rất lớn đốivới sinh trưởng, phát triển của cây lạc Hiệu lực của lân phụ thuộc vào loại đấttrồng lạc, lượng bón, tỷ lệ đạm - lân, phương pháp bón và dạng phân lân được

sử dụng

Các kết quả nghiên cứu trước đây cho thấy thì bón lân cho cây lạc có vaitrò quan trọng trong việc tích lũy lipít ở hạt trong thời kỳ chín Bón đủ Lân,hàm lượng dầu trong hạt tăng rõ rệt [39]; [41]

Ở Tây Phi người ta xác định liều lượng phân lân thích hợp để bón chocây lạc là 30 kg P2O5/ha, nhưng ít nhất là 3/4 số phân này ở dạng hòa tan [2].Tại nhiều vùng trồng lạc ở Trung Quốc, loại phân lân thường sử dụngbón cho cây lạc là super photphat và phân lân nung chảy Loại phân lân nàyphù hợp cho đất có độ phì trung bình, đất chua [38]

Cùng với nguyên tố lân, kali là nguyên tố dinh dưỡng đa lượng có ảnhhưởng nhất định đến sinh trưởng và phát triển của cây lạc

Theo Borkert và ctv (2000); Jonie While (2000) cây họ đậu có phản ứngvới phân kali khi lượng kali trao đổi trong đất ở mức dưới 40 mg K/kg đất.Cũng theo tác giả này thì bón kali ở mức trên 80 kg K2O/ha sẽ cho năng suấtcây trồng cao nhất và đồng thời cũng góp phần trả lại lượng kali trong đất đã

Trang 28

mất đi sau 5 năm thí nghiệm Abd - El - Hardi và ctv (1990) lại cho rằng, bónkali ở mức 70 kg K2O/ha cho năng suất cao nhất tại Egypt.

Ở Hà Nam (Trung Quốc) bón kali có tác dụng làm tăng hàm lượng chấtbéo và axit amin trong hạt lạc Phần trăm axit amin cần thiết tăng từ 8,7% ởcông thức không bón kali lên đến 9,4% ở các công thức có bón kali [47] Vai trò của các nguyên tố dinh dưỡng cũng thể hiện rõ khi chúng đượcbón với liều lượng và tỷ lệ phù hợp Trên thế giới đã có một số nghiên cứu về

tỷ lệ N : K2O bón cho cây đậu đỗ nói chung và cây lạc nói riêng Pamplona vàctv (1990) cho rằng: năng suất đậu tương đạt cao nhất ở tỷ lệ N : K2O bón là1: 2 (30 N và 60 K2O) Năng suất lạc tăng từ 16÷21% trên một số loại đất của

kg K2O/ha kết hợp với 30 kg N cho năng suất lạc cao nhất [40]

Để đạt được năng suất 2.875 kg/ha, ở Mỹ năm 1975 người ta bón 20÷25

kg N, 50÷60 kg P2O5, 50÷80 kg K2O Trong khi đó ở Ấn Độ liều lượng bón10÷13 kg N, 20÷26 kg P2O5, 0÷60 kg K2O [2]

Kết quả nghiên cứu của Chokhey Singh và Pathak cho biết: nếu bón phốihợp 11 kg N + 10 kg P2O5 + 19 kg K2O cho 1 ha thì năng suất lạc tăng 15,4%

so với đối chứng và cao hơn một cách có ý nghĩa khi bón đơn độc N, P, Khoặc khi bón hai trong ba yếu tố trên ở đất thịt nhẹ hay trung bình

Kết quả nghiên cứu của Pandey và Mc Intosh (1998) cho thấy để đạtnăng suất 1 tấn/ha thì lạc thường hút trung bình 2,3÷2,5 kg N/ha, 4,7÷19,3

kg P2O5/ha

Ở Xurinam, đối với đất hình thành trên các mạch đá cát pha trong cácđồng bằng duyên hải có trồng lạc, người ta đề nghị bón mỗi ha 500÷1.000 kgvôi kết hợp với 200 kg phân phức hợp 5 - 10 - 10 thêm 50 kg MgSO4 [28]

Ở Australia, các loại đất có tỷ lệ lân dễ tiêu thấp và trên loại đất canh táclâu ngày thường thiếu yếu tố kali, người ta thường bón các loại phân như lân,phân khoáng, NPK cho lạc và kết quả thật bất ngờ là năng suất lạc tăng lênmột cách đáng kể (Saint – Smith, 1969)

Nhìn chung trên thế giới cây lạc chiếm diện tích tương đối lớn và là mộttrong những cây lấy dầu quan trọng của hầu hết các nước trồng lạc Như vậybón phân đầy đủ và cân đối hợp lý giữa các nguyên tố N, P, K thì năng suất sẽ

Trang 29

cao hơn so với chỉ bón một, hai trong ba yếu tố nói trên Chỉ cần bón cân đối

có thể tăng sản lượng lạc lên rất nhiều (Kanwar, 1983)

Tóm lại: các tác giả trên thế giới đã nghiên cứu một cách khá đầy đủ vàtoàn diện về ảnh hưởng của các yếu tố dinh dưỡng bón đối với cây lạc Đó lànhững cơ sở thực tiễn giúp chúng ta nhìn nhận được vai trò quan trọng củaviệc bón phân cho lạc, đặc biệt là trên chân đất nghèo dinh dưỡng

1.1.6.2 Tình hình nghiên cứu phân bón cho lạc ở Việt Nam

Trong những năm gần đây, những công trình nghiên cứu phân bón cholạc ở nước ta đã đem lại những kết quả khả quan góp phần tăng năng suất câytrồng, và nâng cao chất lượng nông sản phẩm Những công trình nghiên cứu

có sự đóng góp đáng kể của Lê Văn Căn, Nguyễn Trọng Chi, Nguyễn HữuCầu và nhiều tác giả khác Các tác giả cho rằng, vai trò chủ yếu của lân làcung cấp lân, can xi, lưu huỳnh cho cây lạc

Cây lạc là loại cây họ đậu, có nhu cầu dinh dưỡng không cao và lại cókhả năng sử dụng được đạm từ không khí nhờ các vi khuẩn nốt sần Kết quảnghiên cứu của Nguyễn Thị Dần và ctv (1991) cho thấy, một trong những yếu

tố hạn chế của một số loại đất trồng lạc ở các vùng chuyên canh là vấn đề độ

ẩm và các chất dinh dưỡng Vì đất trồng lạc thường có thành phần cơ giới nhẹnên chất dinh dưỡng thường bị rửa trôi Để đưa ra một liều lượng các nguyên

tố dinh dưỡng thích hợp với lạc trên từng loại đất, việc nghiên cứu liều lượngbón phù hợp là cần thiết và phải được xác định cụ thể

Bón phân không cân đối, thiếu hụt một trong các nguyên tố dinh dưỡngcần thiết cho lạc không chỉ không làm tăng năng suất mà còn không đem lạilợi nhuận cho người sử dụng [13]

Tuy lạc hút nhiều đạm hơn so với các nguyên tố khác, song trên hầu hết cáclọai đất thì lân, kali, can xi lại là những nguyên tố chính hạn chế năng suất của lạc.Lương Đức Loan và ctv (1997) cho biết: vôi có tác dụng tích cực đếnviệc hình thành năng suất lạc trên đất bazan Tây Nguyên, hiệu quả 1 kg vôi là0,23÷0,26 kg lạc vỏ khô

Bón vôi cho lạc không chỉ có ý nghĩa làm tăng độ pH của đất mà còn cảitạo môi trường thích hợp cho vi sinh vật cố định N hoạt động, vệ sinh đồngruộng và là chất dinh dưỡng cần thiết cho quả lạc [6]

Trang 30

Bón vôi trên đất bạc màu làm tăng năng suất lạc từ 9÷10%, bón Mg làmtăng năng suất 11% Bón vôi cho lạc, ngoài việc cung cấp can xi như cácnguyên tố dinh dưỡng còn có tác dụng khử chua cho đất, tạo môi trường thuậnlợi cho các vi khuẩn nốt sần phát triển và quan trọng vôi góp phần hình thànhlạc quả [27].

Kết quả nghiên cứu trên đất bạc màu ở Ba Vì, đất bạc màu ở Hà Bắc

và đất cát biển ở Diễn Châu (Nghệ An) cho thấy, trên đất bạc màu ở Ba Vìnếu bón vôi ở mức 300÷500 kg CaO cho một ha, năng suất tăng từ 2÷4tạ/ha trên nền 8 tấn phân chuồng 90 kg P2O5 và 40 kg K2O Ở Hà Bắc vớilượng vôi bón 300÷500 kg CaO/ha năng suất tăng 3,8÷4,1 tạ/ha [8]

Cùng với vôi, lân là nguyên tố dinh dưỡng có vai trò quan trọng khôngchỉ đối với sinh trưởng và phát triển của lạc mà còn có ảnh hưởng đáng kểđến hoạt động của vi sinh vật cố định đạm ở nốt sần cây lạc và quá trình đồnghóa đạm trong cây Liều lượng, tỷ lệ và phương pháp bón lân vì vậy có ảnhhưởng rất lớn đến khả năng hình thành năng suất của cây lạc

Một số tác giả khi nghiên cứu liều lượng phân bón cho lạc tại một số tỉnhmiền Trung đã kết luận rằng, khi bón super photphat và phân lân nung chảy,liều lượng từ 30, 40, 60, 80, 90, 100, 120 kg P2O5 cho các giống Sen lai, SenNghệ An, lạc giấy Thừa Thiên Huế, lạc Kỳ Sơn đã làm tăng lượng nốt sần, tỷ

lệ hoa hữu hiệu, tổng số quả và số quả chắc trên cây, P100 quả và P100 hạt Bónlân đã làm tăng năng suất của quả khô từ 12,9%÷34,7% Ngoài ra bón lân cholạc không những làm tăng hiệu quả kinh tế sản xuất mà còn cải thiện tính chấtđất [10]; [5]

Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm và ctv, (1999) có nhận xét: bón phân lâncho lạc trên đất đỏ vàng phát triển trên bazan và phiến thạch sét làm tăng năngsuất tương ứng 24÷145% và 11÷71% so với không bón Năng suất lạc caonhất ở mức 90÷100 kg P2O5/ha

Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng và phương pháp bón lân(super photphat) cho lạc cho thấy, tưới thúc lân ở thời điểm 7 ngày sau khigieo tỏ ra có hiệu quả hơn với phương pháp bón lót Tưới thúc lân, ở mức

60, 90 và 120 kg P2O5/ha cho năng suất lạc tương ứng là 3,49; 3,80 và 3,81

Trang 31

tấn quả/ha Năng suất lạc không khác biệt có ý nghĩa ở mức bón 90 và 120

kg P2O5/ha [25]

Về hiệu suất phân bón: 1 kg P2O5 (dạng super photphat) ở mức 60 P2O5/

ha cho từ 4,5÷5,0 kg lạc vỏ so với 3,6÷4,0 kg lạc vỏ ở mức bón 90 P2O5/ha.Những kết quả tương tự cũng thu được khi tiến hành thí nghiệm với lạc trênđất bạc màu Bắc Giang [15]

Trên đất cát biển không chua (pH = 5,8÷6,0) hiệu lực phân lân (phân lânnung chảy và phân lân chậm tan) cao, chỉ thấp hơn superphotphat trên nền 8tấn phân chuồng + 30 kg N + 30 kg K2O Bón super lân năng suất lạc tăng sovới đối chứng 115%, phân lân nung chảy: 112% [14]

Nguyễn Thị Dần (1991) kết luận: trên đất cát biển có hàm lượng hữu cơ0,6÷1,0% đạm tổng số 0,03÷0,09%, hàm lượng kali tổng số thấp (0,75%),hàm lượng lân, kali dễ tiêu: 3÷5 và 6÷7 mg/100 g đất, có độ chua trung bình,khả năng hấp thu kém dễ bị rửa trôi thì hiêụ suất 1 kg P2O5 (dạngsuperphotphat) ở mức bón 60 P2O5 cho trung bình 4,5÷5,0 kg lạc vỏ Hiệu lực

1 kg P2O5 đầu tư là 3,0÷4,5 kg lạc vỏ, cá biệt đạt 7÷8 kg lạc vỏ Để đạt hiệuquả kinh tế cao thì nên đầu tư ở mức 60 P2O5 và để đạt năng suất cao nên đầu

tư ở mức 90 P2O5

Nguyễn Tử Siêm và Thái Phiên (1999) có nhận xét: trên đất đỏ vàng trênbazan, bón lân cho lạc làm tăng năng suất lạc đáng kể mặc dù đất có hàmlượng lân tổng số rất cao Bón lân cho lạc, năng suất lạc qủa đạt 522÷1337kg/ha, năng suất lạc nhân (tăng 24%) Bón lân nung chảy tăng 140% Phânchuồng kết hợp super photphat tăng 145% Hiệu suất đạt 6,3 kg quả lạc/ kg

P2O5 với liều lượng 90 kg P2O5 /ha

Theo Thái Phiên và Nguyễn Văn Bộ (1992): bón phân lân cho lạc trênđất phù sa ở Bình Lục (Nam Hà) với lượng bón là 60 kg P2O5, năng suất đạt18,4 tạ/ha hơn đối chứng 10,2%, hiệu lực đạt 2,8 kg lạc vỏ/1kg P2O5 và trướcthu hoạch pH = 5,0; sau thu hoạch pH = 6,0

Trang 32

Một số kết quả nghiên cứu của Viện Nông hóa Thổ nhưỡng trên nhiềuvùng đất trồng lạc khác nhau ở phía Bắc cho thấy, với liều lượng bón 60 kg

P2O5 trên nền: 8÷10 tấn phân chuồng + 30 kg K2O + 30 kg N, đạt giá trị kinh

tế cao nhất, trung bình hiệu suất 1 kg lân đạt 4÷6 kg lạc vỏ Nếu bón 90 kg

P2O5 thì tăng năng suất cao nhưng hiệu quả kinh tế không cao, hiệu suất 1 kg

P2O5 là 3,6 - 5 kg lạc vỏ [7]

Bên cạnh các nghiên cứu về lân cho lạc, đã có rất nhiều nghiên cứu về ảnhhưởng của kali đến sinh trưởng và phát triển của lạc được tiến hành Kết quảnghiên cứu ảnh hưởng của kali đến năng suất lạc Xuân trên đất bạc màu chothấy: bón phân kali cho lạc trong vụ Xuân trên đất bạc màu Bắc Giang đã cótác dụng làm tăng sự sinh trưởng và phát triển của cây lạc, đồng thời làm tăng

sự tích luỹ N, P và K trong thân lá Cũng theo các tác giả này thì trên đất bạcmàu, lượng kali bón ở mức 90 kg K2O/ha cho năng suất lạc cao nhất của [15]

Bảng 1.4 Hiệu suất của 1 kg P2O5 đối với 1 kg lạc vỏ trên một số loại đất [8]

Nền + 60 kg P2O5 Nền + 90 kg P2O5

1 Đất cát biển Nghệ An

Trang 33

Theo Lương Đức Loan và ctv (1997) bón phân chuồng kết hợp với vôilàm tăng năng suất lạc rất rõ Năng suất lạc trên đất đỏ bazan Tây Nguyên đạtcao nhất ở công thức bón 100 kg vôi và 10 tấn phân chuồng/ha Trên đấtbazan Phủ Quỳ bón phân chuồng làm tăng năng suất lạc nhân lên 131% sovới không bón Năng suất lạc nhân ở công thức bón lân phối hợp với phânchuồng tăng 146% so với bón lân đơn độc [21]

Là loại cây trồng có các vi sinh vật cố định đạm cộng sinh ở rễ nên việcbón đạm, lân và cân đối đạm - lân cho lạc có ý nghĩa hết sức quan trọng Bónlân cho cây lạc đặc biệt có ý nghĩa trên các loại đất nghèo đạm như đất phù sakhông được bồi ở Thừa Thiên Huế và đất cát Tuy cây lạc hút nhiều đạm hơn

so với các nguyên tố khác nhưng trên hầu hết các loại đất thì lân, kali và can

xi lại là những yếu tố hạn chế năng suất chính của lạc Bón phân cân đối cholạc dù trên loại đất nào cũng đều làm tăng năng suất đáng kể [3]

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Dần và ctv (1991) cho thấy: trênđất cát biển bón cân đối Đạm - Lân cho bội thu 2,5÷3,2 tạ /ha Trên đất bazan,cân đối Đạm - Lân cho bội thu năng suất lạc 5,6÷10 tạ/ha [18] Năng suất vàlợi nhuận thu được từ bón phân cho lạc trên đất bazan đạt cao nhất ở côngthức bón 30 N + 90 P2O5/ha [18]

Theo Công Doãn Sắt và ctv (1995) thì trên đất xám miền Đông Nam Bộ,

tỷ lệ và liều lượng đạm và kali bón cho năng suất lạc cao nhất là 30 N và 90

K2O và lượng đạm, lân và kali bón cho năng suất lạc khô đạt cao nhất là 40 N+ 90 P2O5 + 60 K2O Trên đất bazan, năng suất lạc đạt cao nhất ở công thức bón

30 N + 60 K2O [18], tỷ lệ N : K2O chỉ nên giữ trong khoảng 1 : 2 - 3 [3]

Trên đất xám bạc màu huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình với nền 10tấn phân chuồng + 400 kg vôi bột + 30 kg N/ha thì bón lân, kali với liềulượng 60 P2O5 + 30 K2O năng suất 20,4 tạ/ha bội thu 4,7 tạ/ha, tăng 23,8%

so với đối chứng [22]

Trang 34

Nhìn chung tỷ lệ N : P2O5 thích hợp cho lạc là từ 1 : 2 đến 1 : 3 còn tỷ lệ

N : K2O cũng nên giữ trong khoảng 1 : 2 - 3 Tất nhiên trên những đất chua,nghèo lân, khả năng giữ chặt lân của đất lớn như đất bazan thì cần bón tỷ lệlân cao hơn Ngược lại đất có thành phần cơ giới nhẹ như đất bạc màu, đấtxám thì lại cần tăng bón kali Canxi cũng là nguyên tố dinh dưỡng mà cây lạccần với lượng khá lớn [3]

Theo Nguyễn Thị Hiền và ctv (2001) thì công thức cho năng suất lạc ổnđịnh và kinh tế nhất là công thức bón 60 kg K2O trên cả 2 nền 30 N + 60 P2O5

và 30 N + 60 P2O5 + 6 tấn phân chuồng

NguyễnVăn Bộ (1999) cho biết: cũng như đối với lúa, bón phân cân đốicho lạc dù trên loại đất nào cũng đều làm tăng năng suất đáng kể Trên đất cátbiển, bón cân đối đạm lân (30 kg N, 60÷90 kg P2O5) cho bội thu 2,5÷ 3,2tạ/ha, trên đất bazan bội thu 5,6÷10 tạ/ha Bội thu do bón kali cao hơn so vớibón lân và đạt 3,5 tạ/ha (60÷90 kg P2O5/ha) Bón cân đối đạm - lân - kali làmtăng năng suất 6 tạ/ha Quy luật tương tự cũng thấy trên đất bạc màu, đất xám,bazan,

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.2.1 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam

Trong nhiều năm trở lại đây, việc thực hiện chính sách chuyển đổi cơchế quản lý trong sản xuất nông nghiệp đã giải quyết được vấn đề lương thực

Vì vậy, người dân có điều kiện chủ động để chuyển dần một phần diện tíchtrồng lúa thiếu nước sang trồng các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao hơn,trong đó cây lạc có vị trí quan trọng trong nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá,cũng như góp phần cải tạo và sử dụng tài nguyên đất đai, nhằm khai thác lợithế của vùng khí hậu nhiệt đới Đồng thời, việc sử dụng những giống mới cónăng suất cao, kỹ thuật thâm canh lạc tiên tiến cũng được áp dụng rộng rãi.Nhờ vậy năng suất và sản lượng lạc ở nước ta ngày càng tăng

Trang 35

Diện tích trồng lạc ở nước ta trong những năm qua không mở rộng nhiều(năm 2005 là 269,6 nghìn ha đến năm 2009 cũng chỉ có 249,2 nghìn ha)nhưng do áp dụng được các tiến bộ kỹ thuật nên sản lượng lạc đã tăng lên từ489,3 nghìn tấn năm 2005 tăng lên 525,8 nghìn tấn năm 2009 Sản lượng lạcViệt Nam tăng là do năng suất tăng, năm 2005 năng suất lạc bình quân mớichỉ 18 tạ/ha đến năm 2009 năng suất đã lên tới khoảng 21,1 tạ/ha [49].

Bảng 1.5 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam từ năm 2005÷2009 [49]

Chỉ tiêuNăm

Diện tích(1000 ha)

Năng suất(tạ/ha)

Sản lượng(1000 tấn)

Bảng 1.6 cho thấy, diện gieo trồng lạc của các vùng có biến động nhẹqua các năm Vùng chiếm diện tích gieo trồng lớn nhất là Bắc trung bộ vàduyên hải miền Trung là 116.000 ha (năm 2005) chiếm 43% diện tích cảnước Diện tích lạc của cả nước, và các tiểu vùng có giảm nhẹ qua các năm là

do một số diện tích trong vườn cây cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả đãkhép tán và nhiều diện tích chuyển đổi sang các cây công nghiệp dài ngày cóhiệu quả hơn như cao su, hồ tiêu, cà phê,

Bảng 1.6 Tình hình sản xuất lạc ở một số vùng từ năm 2005÷2009 [49]

ĐVT: 1.000 ha, tấn

Trang 36

269,6

246,7

254,

3 Bắc Trung Bộ và Duyên hải

miền Trung

116,0

107,1

trồng có sự đa dạng, một số loại cây trồng chính như lúa, lạc, ngô, có diệntích tương đối lớn, nhưng năng suất còn thấp do điều kiện đất đai đặc biệt làảnh hưởng trực tiếp sự hoạt động của hai loại gió mùa chính, gió mùa ĐôngBắc và gió phơn Tây Nam Gió mùa Đông Bắc thường xuất hiện vào mùaĐông từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, bình quân mỗi năm có khoảng 30 đợt,gió mùa Đông Bắc mang theo không khí lạnh, khô làm cho nhiệt độ giảmxuống 5÷10OC so với nhiệt độ trung bình năm Gió phơn Tây Nam là một loạihình thời tiết đặc trưng cho mùa hạ của vùng Bắc Trung Bộ Loại gió nàythường xuất hiện ở Nghệ An vào tháng 5 đến tháng 8 hàng năm, số ngày khônóng trung bình hàng năm là 20÷70 ngày Gió Tây Nam gây ra khí hậu khô,nóng và hạn hán, ảnh hưởng không tốt đến sản xuất và đời sống sinh hoạt củanhân dân trên phạm vi toàn tỉnh Trong mùa mưa, nhiệt độ hạ thấp, lượngmưa lớn, tập trung, gây ra lũ lụt trên diện rộng vào tháng 10, 11 Vì vậy, cơ

Trang 37

cấu mùa vụ của các cây hàng năm ở tỉnh được bố trí chủ yếu trong vụ Xuân

và vụ Hè Thu

Ở Nghệ An, lạc là một trong những cây trồng ngắn ngày quan trọng, cóhiệu quả kinh tế cao Tổng diện tích, năng suất và sản lượng lạc của tỉnh từnăm 2006 - 2010 được thể hiện ở bảng 1.7

Bảng 1.7 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc ở Nghệ An [32] Năm Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)

Những năm trước ở Nghệ An chủ yếu sản xuất các giống lạc Sen Nghệ

an, LVT, MD7, L08, có thời gian sinh trưởng 95÷115 ngày Năng suấtbình quân 15÷18 tạ/ha, những nơi thâm canh tốt năng suất đạt cao nhất 20÷22tạ/ha Trong các năm gần đây, tại các huyện như Nghi Lộc, Diễn Châu đã tiếnhành xây dựng mô hình khảo nghiệm một số giống lạc mới có năng suất cao,

Trang 38

chất lượng tốt như L14, L18, L23, Shan dầu 30, kết quả các mô hình rấtthành công, được các địa phương đánh giá cao Hiện nay, diện tích lạc giốngmới đã và đang phát triển nhiều trong sản xuất đại trà Nhưng bước đầu mớichỉ khảo nghiệm tính thích nghi, còn các khâu về chân đất, liều lượng phânbón thì chưa được nghiên cứu cụ thể, vì vậy nên năng suất của các giống lạctrong thực tế còn hạn chế.

CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Giống lạc: Thí nghiệm sử dụng giống lạc L14, thuộc dạng hình thực

vật Spanish, thân đứng, phân cành gọn, lá xanh đậm, sinh trưởng khỏe, ra hoatập trung, có khả năng kháng một số bệnh như đốm nâu, đốm đen, gỉ sắt, Trọng lượng 100 quả: 150g÷160g, trọng lượng 100 hạt: 50÷60g, tỷ lệ nhân

Trang 39

72÷74%, thời gian sinh trưởng Vụ Đông Xuân: 120÷130 ngày; Vụ Hè Thu90÷110 ngày, năng suất đạt: 45÷55 tạ/ha, khả năng thích ứng rộng.

- Phân bón

+ Phân đạm: Ure có hàm lượng N là 46%

+ Phân lân: Super photphat đơn có hàm lượng P2O5 là 16%

+ Phân kali: Kali clorua có hàm lượng K2O là 60%

+ Phân hữu cơ: Phân chuồng hoai mục

+ Vôi: Vôi bột

- Đất thí nghiệm: Thí nghiệm được tiến hành trên chân đất cát tại xã

Nghi Long, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An

Hàm lượng mùn trong đất: 1,17 %

pHKCl: 4,1; đạm tổng số: 0,08 %

Lân tổng số: 0,05 % Lân dễ tiêu: 15,27 mg/100 g đất

Ka li tổng số: 0,45% Kali dễ tiêu 4,2 mg/100 g đất

Cation trao đổi (Ca2+ và Mg2+) ở mức là 0,8 và 0,2 lđl/100 g đất

2.2 Nội dung nghiên cứu

2.2.1 Nghiên cứu về cây trồng

- Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bón thiếu hụt các yếu tố dinh dưỡngđến các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển:

+ Chiều cao cây giai đoạn: Bắt đầu ra hoa; Ra hoa rộ; Thu hoạch

+ Tổng số lá trên cây giai đoạn: Bắt đầu ra hoa; Ra hoa rộ; Thu hoạch + Tổng số hoa/cây; Tỷ lệ hoa hữu hiệu

- Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bón loại trừ các yếu tố dinh dưỡng đếncác chỉ tiêu về sinh lý:

+ Khối lượng tươi của nốt sần giai đoạn: Bắt đầu ra hoa; Ra hoa rộ; Thu hoạch.+ Năng suất sinh vật học giai đoạn: Bắt đầu ra hoa; Ra hoa rộ; Thu hoạch

Trang 40

- Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bón loại trừ các yếu tố dinh dưỡng đếncác yếu tố cấu thành năng suất:

+ Tổng số quả chắc/cây

+ Khối lượng 100 quả khô, 100 hạt

+ Tỷ lệ nhân/quả

+ Năng suất lý thuyết, năng suất thực thu

2.2.2 Nghiên cứu về đất đai

Nghiên cứu các tính chất đất trước và sau khi bố trí thí nghiệm: pH đất;Mùn tổng số; N, P, K tổng số; P, K dễ tiêu; Ca, Mg trao đổi

2.2.3 Nghiên cứu hiệu quả kinh tế của các công thức bón

2.3 Phương pháp nghiên cứu

7m

5

m

Ngày đăng: 21/12/2013, 12:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Thành phần dinh dưỡng của một số cây có dầu [11] - Nghiên cứu các yếu tố dinh dưỡng chính hạn chế năng suất giống lạc l14 trên dất cát ở huyện nghi lộc, tỉnh nghệ an trong vụ xuân năm 2011 luận văn thạc sỹ nông lâm ngư
Bảng 1.1. Thành phần dinh dưỡng của một số cây có dầu [11] (Trang 12)
Bảng 1.2. Tỷ lệ một số chất dinh dưỡng trong thân lá lạc và phân chuồng - Nghiên cứu các yếu tố dinh dưỡng chính hạn chế năng suất giống lạc l14 trên dất cát ở huyện nghi lộc, tỉnh nghệ an trong vụ xuân năm 2011 luận văn thạc sỹ nông lâm ngư
Bảng 1.2. Tỷ lệ một số chất dinh dưỡng trong thân lá lạc và phân chuồng (Trang 13)
Bảng 1.3. Lượng dinh dưỡng khoáng cây lạc hấp thu [2] - Nghiên cứu các yếu tố dinh dưỡng chính hạn chế năng suất giống lạc l14 trên dất cát ở huyện nghi lộc, tỉnh nghệ an trong vụ xuân năm 2011 luận văn thạc sỹ nông lâm ngư
Bảng 1.3. Lượng dinh dưỡng khoáng cây lạc hấp thu [2] (Trang 20)
Bảng 1.5. Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam từ năm 2005÷2009 [49] - Nghiên cứu các yếu tố dinh dưỡng chính hạn chế năng suất giống lạc l14 trên dất cát ở huyện nghi lộc, tỉnh nghệ an trong vụ xuân năm 2011 luận văn thạc sỹ nông lâm ngư
Bảng 1.5. Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam từ năm 2005÷2009 [49] (Trang 33)
Bảng 1.6 cho thấy, diện gieo trồng lạc của các vùng có biến động nhẹ  qua các năm. Vùng chiếm diện tích gieo trồng lớn nhất là Bắc trung bộ và  duyên hải miền Trung là 116.000 ha (năm 2005) chiếm 43% diện tích cả  nước - Nghiên cứu các yếu tố dinh dưỡng chính hạn chế năng suất giống lạc l14 trên dất cát ở huyện nghi lộc, tỉnh nghệ an trong vụ xuân năm 2011 luận văn thạc sỹ nông lâm ngư
Bảng 1.6 cho thấy, diện gieo trồng lạc của các vùng có biến động nhẹ qua các năm. Vùng chiếm diện tích gieo trồng lớn nhất là Bắc trung bộ và duyên hải miền Trung là 116.000 ha (năm 2005) chiếm 43% diện tích cả nước (Trang 34)
Bảng 1.7. Diện tích, năng suất và sản lượng lạc ở Nghệ An [32] - Nghiên cứu các yếu tố dinh dưỡng chính hạn chế năng suất giống lạc l14 trên dất cát ở huyện nghi lộc, tỉnh nghệ an trong vụ xuân năm 2011 luận văn thạc sỹ nông lâm ngư
Bảng 1.7. Diện tích, năng suất và sản lượng lạc ở Nghệ An [32] (Trang 35)
Sơ đồ thí nghiệm - Nghiên cứu các yếu tố dinh dưỡng chính hạn chế năng suất giống lạc l14 trên dất cát ở huyện nghi lộc, tỉnh nghệ an trong vụ xuân năm 2011 luận văn thạc sỹ nông lâm ngư
Sơ đồ th í nghiệm (Trang 39)
Bảng 3.6. Chênh lệch thu nhập của lạc giữa các công thức thí nghiệm - Nghiên cứu các yếu tố dinh dưỡng chính hạn chế năng suất giống lạc l14 trên dất cát ở huyện nghi lộc, tỉnh nghệ an trong vụ xuân năm 2011 luận văn thạc sỹ nông lâm ngư
Bảng 3.6. Chênh lệch thu nhập của lạc giữa các công thức thí nghiệm (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w