Trong đó, hạt lạc là nơi tiềm ẩn nhiều loài nấm gây bệnh, đặcbiệt là các loài nấm có nguồn gốc trong đất và truyền qua hạt giống như Aspergillus sp., Sclerotium rolfsii,v.v… Nhóm nấm này
Trang 1Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO Trờng đại học vinh
NGHIÊN CứU BệNH HéO Rũ GốC MốC ĐEN (Aspergillus niger)
hại lạc vụ xuân 2012 tại huyện hng nguyên, tỉnh nghệ an và biện pháp sinh học phòng trừ
KHOá LUậN tốt nghiệp
Trang 2NghÖ An – 2012
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này làhoàn toàn trung thực, các số liệu được thu thập qua các thí nghiệm do bản thân tiếnhành và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan các thí nghiệm để thu thập số liệu trong luận văn đã đượcchính bản thân tôi tiến hành tại phòng thí nghiệm tổ THTN Nông Lâm Ngư –Trung tâm THTN Trường Đại Học Vinh với sự đồng ý và hướng dẫn của Th.SNgô Thị Mai Vi và các kỹ thuật viên phụ trách phòng thí nghiệm
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đượccảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Nghệ An, ngày 15 tháng 05 năm 2012
Tác giả
Phạm Thị Loan
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài luận văn tốt nghiệp ngành
kỹ sư Nông học, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ quý báu từ phía các thầy côgiáo, bạn bè, người thân
Với tấm lòng chân thành và sự biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin được gửi lờicảm ơn đặc biệt tới Th.S Ngô Thị Mai Vi đã hướng dẫn tôi trong suốt cả quá trìnhthực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Thị Thanh đã nhiệt tình truyền đạtnhững kỹ năng, kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa học cho tôi Đặc biệt cô luônđộng viên khuyến khích và mang đến cho tôi niền tin, lòng say mê nghiên cứukhoa học
Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Bảo
vệ thực vật, các giáo viên phụ trách, các kỹ thuật viên phòng thí nghiệm đã tạo mọiđiều kiện về cơ sở vật chất cũng như những sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý kiếncho tôi trong suốt quá trình làm đề tài
Và tôi xin được chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn
bè đã động viên khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thànhluận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Nghệ An, ngày 15 tháng 05 năm 2012
Tác giả
Phạm Thị Loan
Trang 4MỤC LỤC
1.1 Đặ ấ đề 1 t v n 1.2 M c ích v yêu c u c a ụ đ à ầ ủ đề à 3 t i 1.1 Tình hình nghiên c u ngo i n ứ à ướ 5 c 1.2 Tình hình nghiên c u trong n ứ ướ 21 c
2.1 Đố ượ i t ng, v t li u, a i m v th i gian nghiên c u ậ ệ đị đ ể à ờ ứ 26
2.2 N i dung nghiên c u ộ ứ 27
2.3 Ph ươ ng pháp nghiên c u ứ 28
2.4 X lý s li u ử ố ệ 34
3.1 Th nh ph n v m c à ầ à ứ độ nhi m b nh n m h i trên h t gi ng l c ễ ệ ấ ạ ạ ố ạ 34
B ng 3.4 : T l nhi m n m h i ả ỷ ệ ễ ấ ạ đấ ồ t tr ng l c thu th p vùng H ng ạ ậ ở ư Nguyên - Ngh An v xuân 2012 ệ ụ 45
Hình 3.8 T l nhi m n m h i ỷ ệ ễ ấ ạ đấ ồ t tr ng l c thu th p vùng H ng ạ ậ ở ư Nguyên - Ngh An v xuân 2012 ệ ụ 46
3.5 nh h ng c a m t s d ch chi t th c v t Ả ưở ủ ộ ố ị ế ự ậ đế n kh n ng n y m m v ả ă ả ầ à m c ứ độ nhi m b nh c a h t gi ng l c ễ ệ ủ ạ ố ạ 55
K t lu n ế ậ 74
Trang 5DANH MỤC BẢNG
B ng 3.4 : T l nhi m n m h i ả ỷ ệ ễ ấ ạ đấ ồ t tr ng l c thu th p vùng H ng ạ ậ ở ư Nguyên - Ngh An v xuân 2012 ệ ụ 45 Hình 3.8 T l nhi m n m h i ỷ ệ ễ ấ ạ đấ ồ t tr ng l c thu th p vùng H ng ạ ậ ở ư Nguyên - Ngh An v xuân 2012 ệ ụ 46
Trang 6DANH MỤC HÌNH
B ng 3.4 : T l nhi m n m h i ả ỷ ệ ễ ấ ạ đấ ồ t tr ng l c thu th p vùng H ng ạ ậ ở ư Nguyên - Ngh An v xuân 2012 ệ ụ 45 Hình 3.8 T l nhi m n m h i ỷ ệ ễ ấ ạ đấ ồ t tr ng l c thu th p vùng H ng ạ ậ ở ư Nguyên - Ngh An v xuân 2012 ệ ụ 46
Trang 7BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
A.niger Aspergillus niger
A flavus Aspergillus flavus
A A.para Aspergillus parasiticus
Trang 8MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Cây lạc (Arachis hypogaea L.) có nguồn gốc từ Nam Mỹ được trồng phổ
biến và trở thành một trong những cây nông nghiệp truyền thống Lạc là cây côngnghiệp thực phẩm ngắn ngày, có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao Nó đượcxem là những cây mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế của nền nôngnghiệp Việt Nam
Trên thế giới, lạc là cây lấy dầu đứng thứ 2 về năng suất và sản lượng (saucây đậu tương) Theo số liệu thống kê của FAO, từ năm 1999 – 2004 diện tíchtrồng lạc trên thế giới đạt từ 23 - 26 triệu ha, năng suất từ 1,3 - 1,5 tấn/ha, sảnlượng dao động từ 32 - 36 triệu tấn/năm Bên cạnh đó lạc là cây thực phẩm có giátrị dinh dưỡng cao Toàn bộ cây lạc đều được sử dụng, hạt lạc chứa 44 - 56%Lipit, 25 - 34% Protein, 6 - 22% Gluxit, nhiều vitamin nhóm B Bởi vậy cây lạc
là nguồn bổ sung quan trọng các chất đạm, chất béo cho con người ( Lê Song Dự,Nguyễn Thế Côn, 1997) [7]
Về giá trị kinh tế có thể nói sản phẩm từ lạc có giá trị thương mại lớn Trên thếgiới có khoảng 80% số lạc sản xuất ra được dùng dưới dạng dầu ăn, khoảng 12%được chế biến thành các sản phẩm khác nhau như bánh, mứt, kẹo, bơ khoảng 6%dùng cho chăn nuôi, 1% dùng cho xuất khẩu ( Phạm Văn Thiều, 2000) [16]
Trong y học lạc có axit béo không no bão hoà có tác dụng phòng ngừa bệnhtim Chất lêctin (photphatidy choline) làm giảm hàm lượng cholesterol trong máuchống hiện tượng xơ vữa động mạch máu Cây lạc không chỉ là một cây thực phẩm
mà còn được xem như là một cây thuốc quý, từ lá, vỏ, hạt cho đến màng hạt đều cótác dụng chữa bệnh, từ dưỡng huyết, bổ tỳ, bổ phổi, chữa viêm phế quản đến viêmmũi (Nguyễn Tiến Phong, Phạm Thị Tài và ctv, 2000) [20]
Đặc biệt cây lạc còn có giá trị về mặt sinh học Rễ lạc có khả năng cố định
N2 tự do trong khí trời nhờ sự cộng sinh với vi khuẩn Rhizobium vigna trong các
nốt sần nhờ đó cung cấp một lượng đạm đáng kể cho đất
Trang 9Nghệ An là tỉnh có diện tích trồng lạc lớn với gần 30.000 ha, tập trung ởcác huyện như Diễn Châu, Hưng Nguyên, Nghi Lộc, Quỳnh Lưu, và ở đây câylạc được xem là một trong những cây trồng chủ lực
Tuy nhiên, trên thực tế sản xuất lạc còn nhiều hạn chế, năng suất lạc cònthấp và không ổn định, mà nguyên nhân chủ yếu là do bệnh hại Theo El- Wakil[29]: đối với cây lạc sản lượng giảm do bệnh hại là 11.5% tương đương với 550triệu tấn mỗi năm Trong đó, hạt lạc là nơi tiềm ẩn nhiều loài nấm gây bệnh, đặcbiệt là các loài nấm có nguồn gốc trong đất và truyền qua hạt giống như
Aspergillus sp., Sclerotium rolfsii,v.v… Nhóm nấm này phát sinh và gây hại trong
cả chu kỳ sống của cây trên đồng ruộng và trong kho bảo quản, ảnh hưởng đếnchất lượng hạt giống và là nguyên nhân gây ra các bệnh nguy hiểm cho con người
và vật nuôi
Nấm Aspergillus niger là một trong những loài nấm gây hại quan trọng trên
hạt, thiệt hại do nấm này gây ra biến động và rất khó đánh giá Sản lượng trên hạt
do nấm Aspergillus niger gây ra cá biệt tới 50% Trên hạt lạc tỷ lệ nhiễm nấm
Aspergiluus niger có thể tới 90% Bệnh gây hại nặng ở giai đoạn mầm và giai
đoạn cây con.: khi nhiễm bệnh trong khoảng dưới 50 ngày sau gieo gây thiệt hạirất nghiêm trọng, tỉ lệ chết có thể lên tới 40% cây trồng (R.J.Hillocks) [38]
Bởi vậy vấn đề phòng trừ bệnh hại lạc nói chung và bệnh héo rũ gốc mốc
đen do nấm Aspergillus niger nói riêng là mối quan tâm hàng đầu của các nhà sản
xuất Hiện nay, thuốc hoá học ngày càng được sử dụng rộng rãi với liều lượng vàtần suất sử dụng thường vượt ngưỡng cho phép, số lần phun thuốc trong một vụ
có thể lên tới 2 – 5 lần/ vụ lạc Do chưa nhận thức đầy đủ được vai trò của cácloài thiên địch và việc lạm dụng thuốc hoá học trong phòng trừ bệnh hại trên đồngruộng nên gây hiện tượng mất cân bằng sinh thái hình thành tính kháng thuốc củabệnh hại, xuất hiện nhiều chủng loại nấm bệnh mới, gây ảnh hưởng đến cây trồng.Đặc biệt ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ con người cũng như gây thiệt hại về mặtkinh tế thông qua các sản phẩm nông nghiệp
Mục tiêu của chúng ta hiện nay là xây dựng một nền nông nghiệp bền vững
Trang 10và hiệu quả Do đó, phát triển và thực hiện hệ thống biện pháp quản lý tổng hợpdịch hại (IPM và IPM-B) là mối quan tâm hàng đầu của nhiều nước trên thế giớitrong đó có Việt Nam
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, để góp phần vào việc phòng trừ bệnhhại hạt giống lạc an toàn, hiệu quả, đồng thời giảm tác hại của bệnh héo rũ lạc trênđồng ruộng, nâng cao năng suất và phẩm chất lạc, chúng tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài: "Nghiên cứu bệnh héo rũ gốc mốc đen (Aspergillus niger) hại lạc vụ xuân 2012 tại huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An và biện pháp sinh học phòng trừ bệnh ".
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích
- Xác định thành phần và đánh giá mức độ nhiễm bệnh do nấm gây hại trênhạt giống lạc thu thập tại vùng Hưng Nguyên - Nghệ An
- Xác định tình hình nhiễm nấm Aspergillus niger trên các mẫu đất thu thập
tại vùng Hưng Nguyên - Nghệ An
- Đánh giá mức độ gây hại, nghiên cứu đặc điểm phát sinh phát triển của
nấm Aspergillus niger gây bệnh héo rũ gốc mốc đen hại lạc vụ xuân 2012 và khảo
sát biện pháp sinh học phòng trừ bệnh tại vùng Hưng Nguyên - Nghệ An
- Đánh giá tình hình (tỷ lệ mẫu) nhiễm nấm Aspergillus niger của các mẫu
đất thu thập tại vùng Hưng Nguyên - Nghệ An
- Điều tra giám định thành phần bệnh hại lạc vụ xuân 2012 tại vùng HưngNguyên - Nghệ An
- Điều tra diễn biến bệnh bệnh héo rũ gốc mốc đen (Aspergillus niger)hại
lạc trong vụ xuân 2012 tại vùng Hưng Nguyên - Nghệ An
Trang 11- Đánh giá khả năng ức chế nấm Aspergillus niger hại lạc bằng dịch chiết
thực vật trong điều kiện phòng thí nghiệm và chậu vại, nhà lưới
Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Trang 121.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Bệnh hại lạc là vấn đề đã và đang được quan tâm ở tất cả các nước sản xuấtlạc trên thế giới Bệnh hại lạc do một số lượng lớn các loài nấm, vi khuẩn,phytoplasma, virus và tuyến trùng gây ra Trong đó nhóm bệnh nấm hại lạc chiếm
đa số và gây ra thiệt hại nguy hiển nhất Thành phần nấm hại lạc rất phong phú và
đa dạng, có khoảng 50 loài nấm gây hại trên lạc.Theo D.J Allen and J.M Lenne(1998),[21], Có khoảng 40 loại bệnh bệnh hại lạc đáng chú ý, được chia ra làm 5nhóm bệnh hại, bao gồm:
- Nhóm bệnh trên hạt và trên cây mầm: nhóm này rất phổ biến và quan trọng
- Nhóm gây chết héo: nhóm này cũng rất phổ biến và gây thiệt hại nghiêmtrọng trên toàn thế giới
- Nhóm gây thối thân và rễ: nhóm này thường phổ biến nhưng chỉ hại cụcbộ
- Nhóm gây thối củ: nhóm này thường phổ biến cục bộ ở một số vùng và
là bệnh thứ yếu
- Nhóm gây bệnh trên lá: gồm rất nhiều loài, trong đó chỉ một số loài gâyhại phổ biến và quan trọng
Tuy nhiên, nấm bệnh hại lạc chỉ chia làm 3 nhóm chính dựa vào bộ phận
bị gây hại trong các giai đoạn sinh trưởng khác nhau:
- Nhóm bệnh héo rũ, chết cây
- Nhóm bệnh hại lá
- Nhóm bệnh hại quả, hạt
1.1.1 Nghiên cứu thành phần bệnh trên hạt giống lạc
Trên hạt giống có nhóm bệnh hại hạt và truyền qua hạt, nhóm bệnh hạihạt và không truyền qua hạt Sự tồn tại của nguồn bệnh trên hạt giống là phươngthức tồn tại bảo đảm và quan trọng nhất của nguồn bệnh, chúng có thể truyền sangcây con làm ảnh hưởng tới sức sống của cây con sau này, nguồn bệnh tồn tại trênhạt giống bao gồm: các loại bào tử nấm, sợi nấm tiềm sinh, keo vi khuẩn và cáctinh thể virus Trong các bệnh truyền qua hạt giống, nhóm bệnh nấm chiếm đa số,
Trang 13đặc biệt là ở những vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới Có khoảng 29 loại
bệnh hại truyền qua hạt lạc, trong đó nấm bệnh chiếm 17 loại bao gồm: Aspergilus
niger, Aspergiluss flavus, Sclerotium sp., Botrytis sp., Diplodia sp., Fusarium spp, Rhizoctonia sp., v.v Các loại nấm trên thường xuất hiện đồng thời và cùng kết
hợp với nhau gây hại trên hạt Có những loài không chỉ gây hại trên hạt giống màcòn truyền qua hạt giống gây hại cho cây con
Phần lớn các loài nấm bệnh trên hạt giống thuộc các nhóm bán ký sinh vàbán hoại sinh, một số ít trong số chúng là ký sinh chuyên tính Nhiều loài nấmtrong số chúng còn có khả năng sản sinh độc tố mà tiêu biểu và quan trọng nhất
trong số đó là nhóm các loài nấm Aspergilus sp., Fusarium sp và Penicilium sp
1.1.1.1 Bệnh héo rũ gốc mốc trắng (Sclerotium rolfsii)
S rolfsii gây hại phổ biến ở các vùng trồng lạc trên thế giới Thiệt hại về năng
suất do bệnh gây ra ước tính khoảng 25 - 80% Ở vùng Georgia của Mỹ, tổn thất dobệnh gây ra ước tính 43 triệu USD/năm (N.KoKalis-Burelle, 1997) [25]
Theo [19], nấm Sclerotium rolfsii là một nấm đa thực, có phổ ký chủ rất
rộng, chúng có khả năng xâm nhiễm trực tiếp qua biểu bì hoặc qua vết thương cơgiới Chúng có khả năng lây nhiễm trên 500 cây ký chủ thuộc nhóm cây một lámầm và hai lá mầm, đặc biệt trên những cây thuộc họ đậu đỗ, bầu bí và một số rautrồng luân canh với cây họ đậu
Sợi nấm màu trắng phát triển rất mạnh trên vết bệnh, từ sợi nấm hìnhthành nên hạch nấm Hạch nấm lúc đầu có màu trắng, về sau chuyển thành màunâu, có thể hình tròn đường kính 1- 2 mm Hạch nấm có thể tồn tại từ năm nàysang năm khác ở tầng đất mặt (Aycook R, 1974) Nấm sử dụng chất hữu cơ làmdinh dưỡng, sản sinh ra axit oxalic và enzyme phân huỷ mô ký chủ Nấm nàythuộc loại háo khí ưa ẩm và nhiệt độ cao 300C (Mc.Carter S.M, 1993) Nấm sảnsinh một lượng lớn axit oxalic gây biến mầu trên hạt lạc và gây ra những điểmchết hoại của lá ở giai đoạn đầu khi bệnh mới phát triển
Bệnh phát triển thuận lợi trong điều kiện nhiệt độ 25 – 300 C và ẩm độ cao.Bệnh lan truyền qua đất, qua hạt giống Sự phát sinh, phát triển của bệnh phụ thuộc vào
Trang 14nhiều yếu tố Sự tác động qua lại của các chất khoáng, độ pH đất và kỹ thuật trồng trọtđều có ảnh hưởng đến sự phát sinh phát triển của bệnh [28].
1.1.1.2 Bệnh héo vàng do nấm Fusarium sp.
Nấm Fusarium sp có mặt nhiều ở các vùng trồng lạc trên thế giới Trong
17 loài Fusarium sp đã được phân lập từ đất trồng lạc, chỉ có 6 loài gây bệnh cho
lạc (Kokalis N et al., 1984) [25].
Theo Burgess (1983- 1985) khi nghiên cứu về độc tố của nấm Fusarium
oxysporum cho thấy chỉ có một số ít loài nấm có khả năng gây độc như Fusarium compactum là loại nấm hoại sinh nhưng sản sinh ra hàm lượng độc tố cao thuộc
nhóm Trichothecene (Wing et al, 1993).
Trên thân lạc, nấm Fusarium sp xâm nhiễm làm cho cây non, rễ và trụ dưới
lá mầm bị biến mầu xám, mọng nước Cây con bị bệnh sẽ bị ức chế sinh trưởng, chóp
rễ bị hoá nâu, dẫn đến bị thối khô do F solani Khi cây đã trưởng thành F.
oxysporum gây hiện tượng thối rễ làm cho cây héo từ từ hoặc héo rũ, lá cây chuyến
sang màu vàng hoặc xanh xám (N Kokalis et al., 1984) [25].
Trên quả lạc, nấm Fusarium sp gây ra triệu chứng thối quả, làm cho vỏ quả xù xì, xấu xí, làm mất màu vỏ quả Ở Libya, nấm F solani và nấm
F scirpi đã được xác định là nguyên nhân chính gây thối quả Tản nấm Fusarium
sp có màu trắng kem, sợi nấm đa bào mảnh và xốp, có thể hình thành nhiều bào tửphân sinh khi có mặt của giọt nước Biện pháp phòng trừ bệnh héo vàng do nấm
Fusarium sp chủ yếu là làm ải và luân canh cây trồng cho hiệu quả cao [28].
Ngoài ra có thể xử lý đất bằng hóa chất Mentansdum hoặc phun Bavistinkhi bệnh xuất hiện cũng có tác dụng ngăn ngừa bệnh phát sinh
1.1.1.3 Bệnh lở cổ rễ (Rhizoctonia solani Kuhn)
Trong những năm gần đây, bệnh do nấm Rhizoctonia solani gây ra tương đối
nguy hiểm đối với các vùng trồng lạc trên thế giới Ở miền Nam nước Mỹ, lở cổ rễ lạc đãtrở thành một vấn đề cấp bách Hàng năm ở Geogia (Mỹ) thiệt hại do bệnh gây ra ướctính khoảng hơn 1 tỷ USD (Kokalis N.eat., 1997) [25]
Rhizoctonia solani sản sinh ra một lượng lớn enzyme cellulilitic,
Trang 15pectinolitic và các độc tố thực vật Đây chính là nguyên nhân gây ra bệnh thối hạtlàm chết cây con, thối lá mầm, thối rễ, thối tia củ và gây cháy lá lạc khi nấm này
xâm nhập vào cây (Kokalis N et al., 1997) [25].
Nấm Rhizoctonia solani cùng với Fusarium sp gây ra bệnh chết vàng lạc, làm
cho cây con héo vàng từ từ, ở phần gốc thân biến mầu nâu và có thể làm cho lớp vỏthân cây hơi bị nứt
Rhizoctonia solani là loài nấm đất, sản sinh ra nhiều hạch nấm trên mô
cây kí chủ, chúng tồn tại trong đất và nẩy mầm khi được kích thích bởi những dịch
rỉ ra từ cây chủ bị bệnh hoặc việc bổ sung chất hữu cơ vào trong đất (Kokalis N et
al., 1997) [25].
Nấm Rhizoctonia solani là một trong những loài nấm có nguồn gốc trong đất
quan trọng, có phạm vi ký chủ rất rộng với những triệu chứng gây hại phong phú trên
những bộ phận khác nhau của cây trồng Rhizoctonia solani được phát hiện lần đầu
tiên trên cây khoai tây ở Châu Âu và được Kulh mô tả chi tiết năm 1858
Ngoài truyền bệnh qua đất và tàn dư cây trồng, R solani còn có khả năng truyền qua hạt giống Theo những nghiên cứu ở Scotland, R.solani có
khả năng truyền qua hạt giống lạc với tỷ lệ 11%, còn ở Mỹ tỷ lệ này lên tới 30%
(Kokalis N et al., 1997) [25]
1.1.2 Nghiên cứu thành phần bệnh trên lá
Lá là bộ phận giữ chức năng quang hợp của cây Bệnh hại trên lá làmgiảm diện tích quang hợp do tạo ra các vết thương và kích thích rụng lá Tùy nơi,tùy từng thời điểm mà bệnh hại lá có thể làm giảm từ 10-50% năng suất
Trong nhóm bệnh này thì phổ biến nhất là bệnh đốm đen, đốm nâu và gỉsắt, v.v gây hại phổ biến ở các vùng trồng lạc trên thế giới
1.1.2.1 Bệnh đốm nâu (Cercospora arachidicola Hori)
Bệnh xuất hiện sớm và không gây nguy hiểm như bệnh đốm đen do nấm
Cercospora personata Ellis (D.Mc Donald, 1985) Bệnh đốm nâu chủ yếu gây hại
trên lá, nếu bệnh nặng có thể lan xuống cuống lá, cành và thân
Mặt lá vết bệnh có dạng gần tròn, đường kính 1- 10mm, có màu nâu tối
Trang 16Xung quanh vết bệnh có quầng vàng, trên bề mặt lá, nơi bào tử được sinh ra nhiềunhất thường có màu nâu sáng ở dưới [28] Trong quá trình xâm nhiễm gây hại nấm
Cercospora arachidicola còn sản sinh độc tố Cercospora ức chế sự hoạt động của
lá làm lá già cỗi, chóng tàn và khô rụng sớm
Nguồn bệnh tồn tại chủ yếu trên tàn dư cây bệnh, nằm trong đất, đôi khibào tử túi, bào tử hậu và sợi nấm cũng là nguồn xâm nhiễm Bào tử phân sinh cóthể lan truyền nhờ gió, mưa Nhiệt độ để nấm hình thành bào tử là 25-310 C
1.1.2.2 Bệnh đốm đen (Cercospora personata Berk & Curtis)
Ở Ấn độ, bệnh đốm đen đã gây tổn thất về năng suất từ 20 - 70% tuỳ theotừng vùng và từng thời vụ gieo trồng (Sharief, 1972), ở Thái Lan năng suất giảm 27 -85% (Schiller, 1978), ở Trung Quốc thiệt hại là 15 - 59%
Bệnh trở nên đặc biệt nguy hiểm khi có sự gây hại đồng thời của bệnh gỉsắt Vết bệnh của bệnh đốm nâu gây ra có quầng vàng, bào tử phân sinh hình thành
ở mặt trên của lá, vết bệnh của bệnh đốm đen không có quầng vàng, bào tử phânsinh hình thành ở mặt dưới của lá Đôi khi vết bệnh có thể nhầm lẫn với vết thương
do cây bị ngộ độc thuốc hóa học
Bệnh đốm lá lạc phát sinh, phát triển mạnh trong điều kiện nhiệt độ tươngđối cao, trời ẩm ướt, vào cuối giai đoạn sinh trưởng của cây lạc
Năm 1985, Ellis và Everhad khi kiểm tra mẫu bệnh ở Alabama và Nam
Carolina đã có kết luận rằng nấm bệnh thuộc loại Cercospora sp và đặt tên là
Cercospora personatum Hiện nay, tên nấm này được đổi thành Cercospora personata [28].
Bệnh xuất hiện muộn và tương đối giống với triệu chứng của bệnh đốmnâu nên còn được gọi là bệnh đốm lá muộn Bệnh phổ biến ở tất cả các vùngtrồng lạc trên thế giới, có mức nguy hiểm hơn với bệnh đốm nâu, năng suất thấtthu thường lên tới 50% [21]
Bệnh đốm đen có thể gây hại ở tất cả các bộ phận trên mặt đất của cây lạcnhư thân, cành nhưng lá là bộ phận bị hại nặng nhất Nấm cũng sản sinh ra độc tốCercosporin kìm hãm sự hoạt động của lá gây hiện tượng rụng lá sớm Trong giai
Trang 17đoạn sinh sản hữu tính, nấm tạo quả thể bầu Đây chính là dạng bảo tồn qua đôngcủa nấm trong đất và tàn dư cây bệnh.
1.1.2.3 Bệnh gỉ sắt Puccinia arachidis Speg
Bệnh có thể gây thiệt hại đến 50% năng suất, khi kết hợp với bệnh đốm đen
có thể gây thiệt hại tới 70% năng suất đôi khi thất thu hoàn toàn (N- Kokalis et al.,1984)
Nấm bệnh gây hại làm giảm chất lượng, kích thước hạt (Anthur, 1929) vàlàm giảm hàm lượng dầu trong hạt (Castcellani, 1959) Nấm gây hại trên tất cả các
bộ phận trên mặt đất của cây, trừ hoa Vết bệnh trên lá là những ổ nổi màu vàngnâu, màu rỉ sắt, xung quanh có quầng nhạt [20]
Bào tử nảy mầm tốt nhất ở điều kiện nhiệt độ và ẩm độ: 29 - 310C, 75 78% Trong điều kiện nhiệt độ ánh sáng yếu hạ bào tử phát triển thuận lợi nhất,nước đọng lại trên lá bệnh dễ dàng lây lan Thời gian ủ bệnh thường 7-20 ngàyphụ thuộc vào môi trường và giống lạc Những cơn mưa đứt quãng với ẩm độtương đối trên 87% và nhiệt độ 23-240C trong nhiều ngày là điều kiện thuận lợicho dịch hại phát triển Sau khi thời tiết trở nên khô hanh nhiệt độ trên 260C, ẩm
-độ tương đối dưới 75% sẽ làm giảm mức -độ gây bệnh Nấm Puccinia arachidis
không qua đông trên tàn dư cây trồng
Bệnh thường gây chết hoại và làm lá khô đi mà không rụng xuống Tuynhiên, những lá bệnh như vậy cũng coi như bị rụng bởi nó không còn tác dụng chocây nữa [20]
1.1.3.Nghiên cứu về nấm Aspegillus niger gây bệnh héo rũ gốc mốc đen lạc
1.1.3.1 Tính phổ biến và tác hại của nấm A niger
Nấm A niger là loài nấm tồn tại trong đất, gây bệnh héo rũ lạc đồng thời
là loài nấm hại hạt điển hình (John Damicone, 1999) [24] Trên thế giới, đã có rất
nhiều những nghiên cứu vế nấm A niger, người ta đã phân lập được 37 loài gây hại trên thực vật Nấm A niger không chỉ gây hại trên cây trồng mà chúng còn
được quan tâm như là một nguyên nhân gây bệnh cho người và động vật Ngoài ra,chúng còn được sử dụng như một nguồn vi sinh vật cho sản xuất một số loại
Trang 18enzyme của ngành công nghệ chế biến [23]
Bệnh héo rũ gốc mốc đen hại lạc được báo cáo chính thức lần đầu tiên vàonăm 1926 ở Sumatra và Java (D.J Allen and J.M Lenne, 1998 [21] Thực tế bệnh
đã được ghi nhận từ năm 1920, do bệnh gây biến màu vỏ và hạt lạc Cho đến nay,bệnh thối gốc mốc đen vẫn là một bệnh quan trọng ở hầu hết các vùng trồng lạcchính trên thế giới Thiệt hại về năng suất lạc đã được ghi nhận cụ thể ở Malawi,Senegal, Sudan v.v Ở Ấn Độ, bệnh héo rũ gốc mốc đen là một trong những nhân
tố quan trọng gây nên năng suất thấp, với tỷ lệ nhiễm khoảng từ 5 – 10% Nếu nhiễmtrong khoảng 50 ngày sau gieo sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng và có thể gây chết tới40% số cây Ở Mỹ, bệnh héo rũ gốc mốc đen ngày càng trở nên quan trọng từ đầunhững năm 1970, khi việc xử lý hạt bằng thuốc hóa học có chứa thuỷ ngân bị cấm và
nó đã trở thành một vấn để ở Florida đầu những năm 1980
Nghiên cứu của [25] cho biết: nấm dễ dàng truyền từ hạt sang cây trong điềukiện nóng ẩm, độc tố do nó sản sinh gây ảnh hưởng tới sinh trưởng của cây như rễquăn xoắn, biến dạng ngọn Cây bị nhiễm bệnh có thể sống sót, sinh củ nhưng khi
bị nhiễm nặng có thể chết hơcj trở nên bị nặng hơn cho tới cuối vụ và hạt của nó
có thể bị nhiễm bởi một loài nấm khác, kết quả là ngay cả các axit béo tự do tronghạt cũng chứ độc tố (D.J Allen and J.M Lenne, 1998[21])
Là loài nấm cư trú phổ biến trong đất, là một tác nhân gây bệnh cơ hội, pháhoại và phát triển trên tế bào sống, gây bệnh thối gốc mốc đen ở lạc và gây bệnhtrên nhiều cây trồng khác, có thể gây bệnh cho người và động vật, tên thường gọi
là Aspergillus niger Tiegh.
1.1.3.2 Phân bố và phạm vi ký chủ của nấm A niger
Phân bố: Nấm A niger phân bố rộng khắp trên thế giới Theo [20]: nó xuấthiện ở trên 100 nước thuộc khắp các châu lục, đặc biệt là ở Australia, Iran, Ấn Độ,Sudan, Nam Mỹ, v.v
Phạm vi ký chủ: nấm A Niger gây hại trên rất nhiều họ thực vật trong đókhoảng trên 90 cây trồng và trên 11 ký chủ dại Ký chủ chính trên khoảng 10 họthực vật trên nhiều cây trồng, trong đó đáng chú ý nhất phải kể đến lạc, ngô, hành,
Trang 19tỏi, xoài, đậu, đỗ, điều, v.v.
1.1.3.3 Đặc điểm sinh học, sinh thái học nấm A niger
Nấm A Niger gây hại trên rất nhiều họ thực vật, trong đó có khoảng trên 90
loại cây trồng và trên 11 ký chủ dại, trong đó đáng chú ý nhất phải kể đến lạc, ngô,hành tỏi, xoài, đậu đỗ, điều.v.v
Nấm A niger hại trên lạc gây nên thối hạt, thối mầm và chết héo ở các
giai đoạn sau (D.J Allen, 1998[21]) Dạng tồn tại của nấm A niger (chủ yếu làbào tử) phổ biến ở trong hệ nấm đất và hệ nấm không khí của những vùng khí hậunóng Vì vậy, giai đoạn mầm có thể bị nhiễm từ đất, từ không khí hoặc từ nguồnbệnh ban đầu trên hạt
Nghiên cứu của Vannacci [30] cho biết: dễ dàng tìm được nấm A niger trong vùng rễ của lạc và trên cánh đồng trồng lạc, mầm bệnh của nấm A niger
ngay sau vụ lạc
Các tác giả [23] nhận định: nấm A niger không phổ biến ở vùng khí hậu
ôn đới, bào tử cua nó có nhiều trong không khí ở những vùng nóng như Ấn Độ
Theo [21]: sự gia tăng mầm bệnh nấm A niger khi có mưa kéo dài do sự tập trung
bào tử nấm tăng trong thới kỳ khô nóng và bị rửa trôi xuống theo nước mưa, tuynhiên sức sống của mầm bệnh sẽ giảm khi lượng mưa tăng Khi mầm bệnh trong
không khí của nấm A niger tiếp xúc được với tán cây, tế bào cây cũng có thể bị
nhiễm nếu điều kiện phù hợp xuất hiện như tế bào bị tổn thương, nhiệt độ và ẩm
độ cao
Dù nước không bắt buộc cho sự nảy mầm của bào tử nấm A niger nhưng
độ ẩm tới hạn là cần thiết Độ ẩm yêu cầu cho bào tử nảy mầm thay đổi theo nhiệt
độ nhưng độ ẩm thích hợp cho bào tử nảy mầm là 93% và nhiệt độ dưới 400C Nếu độ ẩm 100% thì sự nảy mầm thích hợp nhất ở 300C Khi bào tử bắt đầu nảymầm, chúng đặc biệt mẫn cảm với sự thay đổi điều kiện sinh thái đặc biệt là yếu tốnhiệt độ Tỷ lệ bào tử nảy mầm là rất quan trọng cho sự xâm nhiễm của bệnh lêncây sau này Trong điều kiện invitro, khoảng 90% bào tử nảy mầm trong vài giờ ở30- 340C Bào tử có thể duy trì được ở 470C và nảy mầm RH < 70% nhưng tỷ lệ
Trang 20nảy mầm rất thấp Sự nảy mầm của bào tử cũng đã được phát hiện sau 15 giờ ở độ
ẩm được duy trì ở 78 - 81% nhưng thường bào tử nảy mầm chỉ sau vài giờ ở điềukiện ẩm độ cao (Compendium of Crop Protection 2001[21]) Vì vậy, theo [21]: ởnhững vùng khí hậu nóng, ẩm như vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới là thích hợp cho
sự nảy mầm của bào tử hơn là những vùng khí hậu ôn đới
Tản nấm phát triển thích hợp nhất ở nhiệt độ 32.5 - 37.50C trên môi trườngnuôi cấy axenic Tản nấm hầu như không phát triển ở nhiệt độ dưới 100C và trên 450Ckhi ủ trên môi trường agar, bào tử sẽ hình thành nhiều khi cấy trên môi trường axenic ở
20 – 350C Bào tử hình thành ít hoặc không xuất hiện cho tản nấm phát triển ở nhiệt độ
150C và 400C (Compendium of Crop Protection 2001)
Rất nhiều nghiên cứ về ảnh hưởng của pH đến sự nảy mầm của bào tử
nấm A nige Theo [21]: có nghiên cứ đã xác định pH = 4 là thích hợp nhất cho
bào tử nảy mầm là ở pH = 6.2 với giá trị pH cực đại là pH = 7 Tuy nhiên, nhiềukết quả thực nghiệm sau này của các nhà nghiên cứu Ai Cập đều đưa đến kết luận:
pH thích hợp nhất cho sự nảy mầm của bào tử từ pH = 4.1 – 4.5 và hoàn toàn bị ứcchế ở pH = 3.5
Kết quả [25] cho biết dạng hạc nấm A niger có thể xuất hiện khi không
có mặt của hợp chất hữu cơ trong một thời gian dài và bào tử có thể bảo tồn sứcsống từ 1 -2 năm
1.1.3.4 Đặc điểm phát sinh phát triển của nấm A niger
Nấm A niger phân bố rộng khắp trên thế giới Tốc độ sinh trưởng của nấm A niger nhanh, sự phát triển và hình thành bào tử của nấm thích hợp trong
điều kiện nóng ẩm do đó khi gặp điều kiện thuận lợi chỉ một lượng nhỏ nguồn lâynhiễm cũng có thể phát trieenr sự gây nhiễm nghiem trọng Theo [29]: mầm bệnh
của A niger được tìm thấy ở đất ẩm nhiều hơn là ở đất khô và nó có khả năng
chịu được điều kiện đất có độ ẩm thấp Theo kết quả của [27]: đất ướt dễ dàng chonấm gây thối hạt ở cuối vụ trong khi điều kiện đất khô, khí hậu nóng tạo điều kiệnthuận lợi cho thối mầm và thối sau giai đoạn mầm
Kết quả nghiên cứu của [25] cho rằng: thành phần cơ giới của đất ít liên
Trang 21quan đến sự tồn tại nhiều hay ít của mầm bệnh nấm A niger trong đất nhưng nó
lại dễ tìm thấy trên đất cát có hàm lượng chất hữu cơ thấp Đây là kết quả khá bất
ngờ vì A niger là nấm hoại sinh và những nghiên cứu trước đó đều khẳng định nó
có nhiều ở đất có hàm lượng chất hữu cơ cao Còn theo R.J Hillocks, 1997[27]:
nấm A.niger có thể tìm thấy được ở tất cả các loại đất vùng nhiệt đới.
Nấm A niger là loại nấm gây hại trên hạt Theo [21]: A niger đã được
tìm thấy trên rất nhiều loại hạt cây trồng như ngô, lúa, cao lương, v.v, nhưngđược ghi nhận nhiều nhất là trên hạt lạc và họ hành tỏi Nghiên cứu của [27] chobiết: hạt lạc dễ bị nhiễm trong suốt giai đoạn củ già trong đất và giai đoạn thuhoạch, bóc vỏ và mua bán
Trên thế giới, đã có nhiều kết quả nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm nấm A.niger
trên hạt giống lạc cũng như đánh giá mối tương quan giữa tỷ lệ nhiễm và sự truyềnbệnh qua hạt giống Những kết quả nghiên cứu từ [21]: hạt lạc thu từng 3 vùng sản
xuất lạc chính ở Sudan (Gezira, Kosti and El Obeid) đều bị nhiễm nấm A.niger đặc
biệt ở là củ không lành lặn Theo kết quả điều tra (Subrahmanyam and Rao, 1976)
trên hạt lạc : nấm A niger chiếm tới 60% trong tổng số các loài nấm thu được từ hạt bằng phương pháp ly tâm Theo [25]: mức nhiễm nấm A niger trên hạt lạc có thể trên
90%, mầm mọc từ những hạt bị nhiễm nấm A niger thì có tỷ lệ cây bị nhiễm bệnhcao hơn so với mầm mọc từ hạt khoẻ
Sự gây hại của A niger trên hạt không chỉ là sự truyền bệnh qua hạt mà
còn là sự ảnh hưởng đến chất lượng hạt và sức nảy mầm của hạt Theo [21]: có tới60% số hạt nhiễm nấm bị ôi, hạt thường có tỷ lệ mọc thấp và hàm lượng dầu giảm
Nấm A niger còn gây ra sự thay đổi một số thuộc tính hoá lý cuả hạt nhiễm trong
suốt thời gian bảo quản như lượng axit, hàm lượng bột, hàm lượng Iodine, lượng
xà phòng hoá, chỉ số khúc xạ, màu ắc của dầu và lượng axit béo so với hạt khoẻ
Nghiên cứu của [25] đã chứng minh rằng nguồn bệnh trên hạt và trong đấtđều là nguồn gây nhiễm ban đầu Tuy nhiên, tỉ lệ mắc bệnh có liên quan thuận vớimức nguồn bệnh cao trong đất và bệnh phổ biến hơn trên đất trồng chuyên trồnglạc Đất trồng lạc ít luân canh có tỷ lệ nguồn bệnh cao Có nhiều kết luận khác
Trang 22nhau về nguồn lây lan của A niger từ vụ này sang vụ khác Theo [27]: Nguồn lây lan
từ vụ này sang vụ khác thông qua tàn dư cay trồng trong đất Nhưng cả [25][27] đềucho rằng: xu hướng xuất hiện (bẩm chất) là nhân tố chính trong sự phát triển của bệnhhéo rũ gốc mốc đen và sự bùng phát của bệnh là ít gặp
Một số tác giả[25][27] nhận định: khô hạn và điều kiện nhiệt độ cao ngayđầu vụ tao phù hợp cho sự bùng phát của bệnh thối gốc mốc đen Những điều kiệnbất lợi khác như sự thay đổi quá mức độ ẩm đất và nhiệt độ, chất lượng hạt giốngkém, cây giống bị tổn thương bởi thuốc trừ sâu, côn trùng ăn rễ và các nhân tố màlàm trở ngại đến sự phát triển của cây giống tạo điều kiện cho bệnh biểu lộ sớm
Quá trình xâm nhiễm của nấm kéo dài khoảng 10 ngày Bệnh thể hiệntriệu chứng rất sớm ở cây mầm hoặc cây con Tuy nhiên, bệnh cũng có thể phátsinh muộn vào tháng 7, tháng 8 với triệu chứng cây héo đột ngột, xuất hiện vớimột số lượng lớn [20]
1.1.3.5 Triệu chứng bệnh héo rũ gốc mốc đen hại lạc
Bệnh héo rũ gốc mốc đen có thể xuất hiện ở bất kỳ giai đoạn sinh trưởngnào của cây lạc và thường bị nhiễm chủ yếu ở hạt, mầm, cây con, cổ rễ và thân
Một loạt các nghiên cứu [21][25] cho biết: bệnh xuất hiện phổ biến ở đầu
vụ Giai đoạn mầm và cây con là mẫn cảm nhất với sự xâm nhiễm của bệnh, ở giaiđoạn cây con khi bị nhiễm bệnh thì tỷ lệ chết cao hơn so với giai đoạn cây trưởngthành Ở một vài năm, cây có thể bị chết do nấm ngay sau khi gieo
Theo [20][25]: khi theo dõi và quan sát trên hạt nhiễm bệnh trồng trên đấtkhử trùng trong điều kiện nhà lưới thấy sự nhiễm bệnh đầu tiên là ở trụ dưới lámầm và lá mầm Sợi nấm phát triển từ lá mầm vào trong vùng cổ thắt của lá mầm.Luôn quan sát thấy vết thối ướt suốt giai đoạn đầu của quá trình xâm nhiễm nhưng
ở giai đoạn sau xuất hiện vết thối khô, mô bệnh nứt nẻ Vết thối ướt có thể tiếntriển nhanh xuyên từ trụ dưới lá mầm hoặc vùng cổ lá mầm gây nên sự teo quắt vàchết Phần thân của trụ dưới lá mầm bị nhiễm vào khoảng 10 ngày sau mọc khichúng đội đất lên Ở nhiệt độ trên 300C, sự nhiễm bệnh của của trụ dưới lá mầm và
rễ của mầm gây hiện tượng thối cổ rễ hay còn gọi là thối vòng Khởi đầu, trụ dưới
Trang 23lá mầm trở nên mọng nước sau đó có màu nâu sáng rồi cánh bào tử phân sinh màuđen xuất hiện rõ.
Theo D.J Allen and Lenne(1998)[21]: mầm bị héo rất nhanh đặc biệttrong điều kiện thời tiết khô Lá mầm và điểm sinh trưởng bị bao phủ bởi cụm cáccành bào tử phân sinh kèm theo sự xuất hiện một khối bột màu đen Trong quátrình bệnh phát triển, vùng mô bệnh đặc biệt là vùng mô cổ lá mầm bị xé nứt ranhiều mảnh, mất màu và mầm nhiễm bệnh bị chết héo Hạt có thể bị tấn công ngaykhi gieo trong điều kiện ẩm, đất nhiễm bệnh Triệu chứng xuất hiện trên hạt bị thối
là một khối xốp lỗ rỗ các mô tế bào phân huỷ được bao phủ bởi khối các cành bào
tử phân sinh màu nâu hoặc màu đen
Hiện tượng hạt bị thối hoặc chết úng sớm là biểu hiện triệu chứng điểnhình ở hạt bị nhiễm bệnh khi trồng đặc biệt tỷ lệ hạt chết cao ở những củ thu từcây bị nhiễm bệnh
Các kết quả nghiên cứu của [23][25] đều cho rằng: triệu chứng điển hìnhcủa bệnh ở giai đoạn cây con là cây héo đột ngột và thường bị chết trong khoảng
30 ngày sau trồng Sự mất màu của các mô thể hiện rõ nét ở trên ngọn và rễ cây bịhéo Bệnh héo rũ gốc mốc đen xuất hiện ít khi cây đã phát triển thân gỗ và rễtrụ.Tuy nhiên, theo [27]: khi gặp thời tiết nóng và khô, đặc biệt trên đất khô, bệnh
có thể gây nhiễm lên cả cây già
Khi nghiên cứ triệu chứng trên cây các nghiên cứu [21][25][27] đều đưa
ra quá trình biểu hiện như sau: bẹnh không nhận thấy được cho đến khi một vàinhánh hoặc toàn bộ cây có biểu hiện héo Khi vết bệnh phát triển, toàn bộ vùng mô
cổ rễ bị nứt thnahf nhiều mảnh nhỏ và có màu nâu tối Dấu hiệu quan trọng để
nhận biết sự có mặt của nấm A niger trên đồng ruộng là xuất hiện đám mốc màu
tối với khối bào tử màu đen trên mô bệnh ( Amada Huber,2002[20])
Kết quả nghiên cứu của [23][27] cho biết: Khi cây bị nhiễm bệnh, vùngchóp rễ phía dưới mặt đất có thể bị sưng phồng và thậm chí còn bao phủ bởi mộtkhối sợi nấm đen như bòng hóng Sự thối rữa đôi khi còn tiếp tục ở một phần dướicủa rễ chính và trong trường hợp này cây sinh ra rễ bất định phía trên vùng bệnh
Trang 24Tuy nhiên những cây này thường chết khi gặp thời tiết khô hạn Khi giải phẫu rễ
và thân cây bệnh thấy hệ thống mạch dẫn biến màu và có màu xám tối
Một số cây khác có thể sống sót nhưng trọng lượng chất khô có thể giảm
và tế bào vùng rễ thường bị nứt nẻ Trên giống lạc Spanish, triệu chứng của héo rũ
gốc mốc đen do nấm Aspergillus niger trên cây già biểu hiện ở phần thân giữa mặt
đất và tầng lá tháp nhất (N Kokalis-Bủelle,1997[25])
1.1.3.6 Nguyên nhân gây bệnh héo rũ gốc mốc đen hại lạc
Khi nghiên cứu nguyên nhân gây bệnh héo rũ gốc mốc đen trên lạc, các
nghiên cứu đều kết luận nấm Aspergillus niger Tiegh là nguyên nhân gây ra bệnh.
Nó có mặt phổ biến trong đất trên khắp thế giới và là nấm hoại sinh rất hiệu quả kí
sinh trên lạc và rất nhiều cây trồng khác Theo [21]: Nấm A niger có sự biến đổi
mang tính hình thái và sinh lý nhưng ít có sự thay đổi về sự phát sinh bệnh Nấm
Aspergillus pulverulentus (McAlpin) Thom, là một dạng đột biến của A niger,
nhiều khi cũng phân lập được trên cây bị bệnh Nấm A niger phát triển tốt ở 250C
ở trên nhiều loại môi trường khác nhau tạo ra vô số cành bào tử phân sinh mangbào tử phân sinh lớn màu đen
Theo [21]: đặc trưng của nấm A niger có đầu của bào tử phân sinh (bào
tử đính) hình cầu đến hình toả xoè dạng cột đường kính 700 - 800 µm Cuống bào
tử phân sinh (cuống bào tử đính) thay đổi, đo được từ 1.5 – 1.3 mm x 15 – 20 µm.Đầu cành phình to hình cầu, vách dày màu hơi nâu có khả năng sinh sản trên toàn
bộ bề mặt, đường kính từ 45 – 75 µm tuy nhiên có khi nhỏ hơn hoặc đạt tới 80
µm Cuông đính bào tử có 2 loại: nguyên sinh và thứ sin
Dạng nguyên sinh đạt kích thước từ 20 – 30 x 5 – 6 µm khi non, đạt tới
60 – 70 x 8 – 10 µm khi thành thục Dạng thứ sinh đồng nhất hơn, kích thước đođược từ 7 – 10 x 3.0 – 3.5 µm Khi nuôi cấy trên môi trường Malt agar: sinh sảntán nấm xốp màu trắng đến hơi vàng sau đó phát triển nhanh thành màu đen haynâu tối do bào tử hình thành
IUMS ( 2004) [22] khi cấy nấm A niger trên môi trường CYA sau ủ 7
ngày: đường kính tản nấm là 60 – 65 mm, bào tử màu đen, không xuất hiện sắc tố