So với các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhỏ và vừa có ưu điểm là có thể tận dụng tất cả mọi nguồn lực tại chỗ, từ nguồn nguyên liệu, nguồn vốn cho đến nguồn lao động đủ mọi trình độ, k
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-
NGUYỄN VĂN TÂM
PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐẾN NĂM 2025
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-
NGUYỄN VĂN TÂM
PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐẾN NĂM 2025
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Hướng đào tạo: Nghiên cứu
Mã số: 8310102
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS LƯU THỊ KIM HOA
TP Hồ Chí Minh - Năm 2021
Trang 3Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài “Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025” là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi, những số liệu và trích dẫn trong luận văn là khách quan, trung thực
Tác giả
Nguyễn Văn Tâm
Trang 4MỤC LỤC
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ
MỞ ĐẦU
TÓM TẮT
ABSTRACT
1 Tính cấp thiết của đề tài:……… ……… 1
2 Tình hình nghiên cứu……… 2
3 Mục tiêu nghiên cứu……… 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 5
5 Phương pháp nghiên cứu……… 5
6 Ý nghĩa và thực tiễn của đề tài……… 5
7 Kết cấu luận văn……… 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 7 1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa……… 7
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa……… 7
1.1.2 Đặc điểm, vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong phát triển kinh tế………… 9
1.1.3 Nội dung phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa……… 14
1.1.4 Những nhân tố tác động đến sự phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa……… 21
1.2 Một số quan niệm về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ……… 25
1.3 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quá trình phát triển DNNVV… 27
1.4 Kinh nghiệm hỗ trợ phát triển DNNVV ở một số địa phương……… 32
1.4.1 Kinh nghiệm ở Huyện Bình Chánh……….… 32
1.4.2 Kinh nghiệm ở Quận 9……….……….… 34
1.4.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho sự phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa………… 35
TÓM TẮT CHƯƠNG 1… ……… 37
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN TÂN PHÚ TỪ NĂM 2014 ĐẾN 2019……… 38
2.1 Khái quát chung về đặc điểm kinh tế - xã hội của Quận Tân Phú……… 38
Trang 52.1.1 Đặc điểm tự nhiên……… ………… 38
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội……… ……… 38
2.2 Thực trạng chính sách liên quan đến doanh nghiệp nhỏ và vừa…… 39
2.2.1 Chính sách tín dụng……… 40
2.2.2 Chính sách đất đai……… ……… 40
2.2.3 Chính sách hỗ trợ phát triển kinh doanh……… ……… 40
2.3 Thực trạng phát triển của DNNVV trên địa bàn Quận Tân Phú……… 42
2.3.1 Quy mô cơ cấu vốn…….……… ……… 42
2.3.2 Năng lực cán bộ quản lý và số lượng, chất lượng nguồn nhân lực……… 45
2.3.3 Tình hình khoa học công nghệ……….……… 46
2.3.4 Mức độ liên kết hoạt động giữa các doanh nghiệp……….……… 47
2.3.5 Chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh trên thị trường… ……… 47
2.4 Kết quả hoạt động của DNNVV trên địa bàn Quận Tân Phú……… …… 48
2.4.1 Những kết quả đạt được……….……… 48
2.4.2 Những tồn tại hạn chế và bất cập……… ………… 49
TÓM TẮT CHƯƠNG 2… ……… 54
CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN TÂN PHÚ ĐẾN NĂM 2025……… 55
3.1 Quan điểm, mục tiêu và định hướng phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa của Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh……… ……… 55
3.1.1 Quan điểm, mục tiêu tổng quát……… 55
3.1.2 Mục tiêu cụ thể……… 58
3.1.3 Định hướng phát triển DNNVV trên địa bàn Quận Tân Phú……… 59
3.2 Một số giải pháp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh……… 59
3.2.1 Nhóm giải pháp từ phía Nhà nước……….……… 59
3.2.2 Nhóm giải pháp từ phía chính quyền địa phương……… 61
3.2.2.1 Giải pháp đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực……… 61
3.2.2.2 Giải pháp tăng cường kết nối, bảo trợ về vốn……… 62
3.2.2.3 Giải pháp khuyến khích đầu tư phát triển công nghệ……… 63
3.2.2.4 Kết nối thông tin, thị trường và xúc tiến thương mại……… 64
Trang 63.2.2.5 Đẩy mạnh đầu tư hạ tầng, mặt bằng sản xuất kinh doanh……… 65
3.2.3 Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả từ phía doanh nghiệp……… 66
3.2.3.1 Xây dựng tiềm lực tài chính ổn định, đủ mạnh……… 66
3.2.3.2 Nâng cao trình độ, năng lực quản lý, điều hành……… 67
3.2.3.3 Chủ động nguồn nguyên liệu, đổi mới máy móc thiết bị công nghệ……… 68
3.2.3.4 Chú trọng công tác nghiên cứu thị trường, xúc tiến xuất khẩu,……… 68
3.2.3.5 Xây dựng chiến lược sản xuất, kinh doanh theo hướng gắn chặt……… 70
3.2.3.6 Chủ động xây dựng mạng lưới liên kết……… 72
3.2.3.7 Chủ động áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế trong sản xuất kinh doanh,……… 73
3.3 KIẾN NGHỊ……… … 72
3.3.1 Cấp Trung ương……….… 74
3.3.1 Cấp Thành phố……….… 74
3.3.2 Cấp Quận……… 74
TÓM TẮT CHƯƠNG 3……… ……… 75
KẾT LUẬN……… 76 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CCN: Cụm công nghiệp
CNH - HĐH: Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
CN - TTCN: Công nghiệp -Tiểu thủ công nghiệp
DN: Doanh nghiệp
DNNN: Doanh nghiệp Nhà nước
DNNVV: Doanh nghiệp nhỏ và vừa
NQD: Ngoài quốc doanh
NSNN: Ngân sách Nhà nước
FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội/ Tổng sản phẩm nội địa KCN: Khu công nghiệp
KHCN: Khoa học công nghệ
KTTT: Kinh tế thị trường
KT - XH: Kinh tế - xã hội
SXKD: Sản xuất kinh doanh
UBND: Ủy ban nhân dân
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
TP HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 8DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ
Bảng 1 - 1 Tiêu chí xác định doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa……… 7
Đồ thị 1 - 1 Số doanh nghiệp đăng ký mới thành lập……… ……….…… 30
Bảng 2 - 1 Số lượng và quy mô doanh nghiệp nhỏ và vừa……… 42
Đồ thị 2 - 1 Số lượng DNNVV năm 2019 phân theo cơ cấu ngành nghề………… 43
Bảng 2 - 2 Số lượng và quy mô vốn các DNNVV thành lập giai đoạn 2014-2019 44
Trang 9phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) đến năm 2025 Tác giả phân tích thực trạng những hạn chế trong vòng 05 năm trở lại đây (2014 - 2019); đồng thời kết hợp với học hỏi có chọn lọc kinh nghiệm của một số quận (huyện) thành phố Hồ Chí Minh và các bằng chứng từ dữ liệu thống kê để đưa ra các định hướng và giải pháp trong thời gian tới Để phát tiển có hiệu quả và đúng hướng, tác giả đưa ra một số khuyến nghị dành cho địa phương và một số giải pháp, trong đó, trọng tâm nhất là hoàn hiện cơ chế, chính sách, pháp luật và cải cách thủ tục hành chính liên quan, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nguồn lực tài chính, thu hút vốn đầu tư, đồng thời chú trọng bảo vệ môi trường sinh thái cũng như trong quá trình sản xuất kinh doanh
Từ khóa: phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trang 10to support the small and medium enterprises in Tan Phu district, Ho Chi Minh City until
2025 The author analyzes the true limitations within the past 5 years (2014-2019); at the same time, combining with selective learning experiences of some districts of Ho Chi Minh City and evidence from statistical data to give directions and solutions in the upcoming time In order to develop effectively and in the right direction, the author gives some recommendations for the locality and some solutions, of which the most focus is on improving mechanisms, policies, laws and procedure reform related administration, improving the quality of human resources, financial resources, attracting investment capital, at the same time focusing on protecting the ecological environment as well as in the production and business process
Keywords: Small and Medium Entreprise Development
Trang 11MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài:
Trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp Việt nam nói chung, doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng đã không ngừng lớn mạnh cả về chất và lượng Sự đóng góp của các doanh nghiệp nhỏ và vừa đặt biệt quan trọng đối với nền kinh tế hiện nay Trong những năm qua, doanh nghiệp nhỏ và vừa đã đóng góp cho xã hội khối lượng hàng hóa lớn, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động
So với các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhỏ và vừa có ưu điểm là có thể tận dụng tất cả mọi nguồn lực tại chỗ, từ nguồn nguyên liệu, nguồn vốn cho đến nguồn lao động
đủ mọi trình độ, kể cả lao động phổ thông và đặc biệt trong đó là tạo việc làm cho người tàn tật, phụ nữ, những lao động dôi dư qua việc sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước… Chính vì vậy, việc quan tâm đầu tư phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cả về kinh tế, chính trị, xã hội, đúng với xu thế và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội hiện nay
Quận Tân Phú thuộc Thành phố Hồ Chí Minh là quận nội thành việc ưu tiên đầu
tư phát triển kinh tế là một việc làm cần thiết, cấp bách hiện nay Khẳng định tầm quan trọng của việc phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong những năm qua, quận Tân Phú đã không ngừng hỗ trợ về nhiều mặt cho khối doanh nghiệp này Qua đó, đã tạo lập được môi trường kinh doanh ngày càng thuận lợi, giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa có nhiều cơ hội để phát triển; đóng góp chủ yếu cho sự phát triển kinh tế của quận Tuy nhiên, cùng với những kết quả đạt được, do những hạn chế về quy mô nhỏ, những yếu kém trong năng lực sản xuất, quản lý kinh doanh và khả năng cạnh tranh, những trở ngại trong môi trường kinh doanh,…nên các doanh nghiệp này đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức Đó là sự cạnh tranh gay gắt, những biến động của thị trường, giá cả nguyên nhiên liệu; sự phát triển về khoa học, công nghệ, quản lý nguồn nhân lực, Đòi hỏi nhà nước và các loại hình doanh nghiệp này càng phải có sự thay đổi tư duy, cách nghĩ và sự thích nghi nhanh chóng, đề ra các giải pháp căn bản có chiều sâu, thực hiện tốt chủ trương, chính sách để tạo động lực mạnh mẽ, giữ vững sự phát triển, góp phần vào bức tranh chung tăng trưởng kinh tế của Thành phố
Để đáp ứng yêu cầu hiện nay, yêu cầu phát triển kinh tế của quận, tác giả chọn
đề tài "Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025" với mong muốn đóng góp đánh giá đúng thực trạng
Trang 12của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn quận Tân Phú hiện nay; đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế, đồng thời phát huy những ưu thế trong việc phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn quận
2 Tình hình nghiên cứu:
Với vai trò quan trọng trong nền kinh tế, DNNVV là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều sách, báo công trình, đề tài nghiên cứu của nhiều tác giả cả trong và ngoài nước Thời gian qua, ở Việt Nam liên quan đến vấn đề phát triển DNNVV đã công bố nhiều công trình, đề tài nghiên cứu tiêu biểu dưới nhiều góc độ khác nhau Nhìn chung, liên quan đến nội dung này, các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào bốn nhóm vấn đề nghiên cứu: (1) Tập trung vào phân tích vai trò, tầm quan trọng của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với phát triển nền kinh tế, qua đó khẳng định tính tất yếu của việc phải phát triển DNNVV trong chiến lược phát triển KT - XH chung của đất nước; (2) Các nghiên cứu về kinh nghiệm của các nước trong phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, từ đó tìm ra những bài học kinh nghiệm có thể áp dụng cho phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam; (3) Tập trung đi sâu phân tích thực trạng quản trị DNNVV ở Việt Nam trong những năm sau đổi mới kinh tế, trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế; (4) Các nghiên cứu một số nội dung liên quan đến hoạt động quản lý của Nhà nước đối với DNNVV và các chương trình, chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Có thể nêu một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:
+ Lê Xuân Bá, Trần Kim Hào, Nguyễn Hữu Thắng (2006), Doanh nghiệp nhỏ
và vừa của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia Cuốn sách này trình bày những tác động của hội nhập kinh tế quốc tế và cơ hội, thách thức đối với các DNNVV ở Việt Nam, thực trạng môi trường kinh doanh đối với các
DN, từ đó đưa ra một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
+ Phạm Quang Trung, Vũ Đình Hiển, Lê Thị Lan Hương (2009), Tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, Sách chuyên khảo, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Cuốn sách trình bày lý thuyết về năng lực cạnh tranh của
DN trong điều kiện hội nhập quốc tế; thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của DNNVV trên địa bàn Hà Nội sau khi Việt Nam gia nhập WTO
Trang 13+ Lê Anh Dũng (2003), Đổi mới cơ chế quản lý của Nhà nước đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Thành phố Hồ Chí Minh, luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Luận án đánh giá thực trạng phát triển
hệ thống DNNVV trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1993 - 2001; từ đó đề xuất định hướng và những giải pháp đổi mới cơ chế quản lý của nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
+ Lê Minh Tâm (2003), Quá trình phát triển DNNVV khu vực ngoài quốc doanh ở Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2000: Thực trạng và giải pháp, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân Luận văn đã đề cập đến thực trạng phát triển các DNNVV ở khu vực ngoài quốc doanh trong giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2000
và từ đó đưa ra những phương hướng giải pháp phù hợp với thực tế hiện nay
+ Phạm Minh Tuấn (2006), Hoàn thiện những chính sách chủ yếu để phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Luận văn đánh giá thực trạng tác động của những chính sách đến DNNVV; đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống chính sách nhằm phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa của Hà Nội đến năm 2010
+ Phạm Văn Hồng (2007), Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân,
Hà Nội Luận án phân tích, đánh giá thực trạng DNNVV, môi trường kinh doanh phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; đề xuất phương hướng và một số giải pháp nhằm tiếp tục phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa có hiệu quả hơn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
+ Nguyễn Văn Tiến (2009), Giải pháp hỗ trợ của Nhà nước nhằm phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Luận văn đưa ra những kinh nghiệm hỗ trợ phát triển DNNVV ở một số địa phương trong nước và quốc tế từ
đó rút ra bài học kinh nghiệm cho tỉnh Vĩnh Phúc
+ Phạm Thu Hương (2017), Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa nghiên cứu trên địa bàn thành phố Hà Nội, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại học
Mỏ - Địa chất, Hà Nội Trên cơ sở đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của DNNVV tại thành phố Hà Nội đã đưa ra một số khuyến nghị cho nhóm doanh nghiệp này trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
Trang 14+ Nguyễn Thị Hoàng Lý (2019), Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở tỉnh Hòa Bình, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Luận
án đã bổ sung và hoàn thiện cơ sở lý luận về phát triển DNNVV ở địa bàn cấp tỉnh, rút
ra bài học về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa cho tỉnh Hòa Bình trong thời gian tới
từ kinh nghiệm của một số địa phương
Ngoài các công trình trên, còn có nhiều bài viết tham luận về chính sách thúc đẩy phát triển DNNVV đăng trên các tạp chí chuyên ngành Các nghiên cứu này đã chỉ
ra ý nghĩa vô cùng quan trọng của các chính sách nhà nước trong việc huy động và sử dụng các nguồn lực xã hội là nền tảng cho sự phát triển của DNNVV Đồng thời, các nghiên cứu cũng đưa ra nhận định những chính sách này chủ yếu nhằm tạo môi trường thuận lợi để gia tăng số lượng doanh nghiệp, nhưng để nâng cao chất lượng và tăng năng lực cạnh tranh cần phải có sự điều chỉnh theo hướng phát huy vai trò tích cực của chính bản thân doanh nghiệp Tiêu biểu có thể kể đến “Hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, của Nguyễn Trường Sơn đăng trên tạp chí Sinh hoạt Lý luận năm 2012, “Hoàn thiện thể chế và chính sách nhằm phát triển các doanh nghiệp nhỏ ở Việt Nam” của Lê Thế Giới trên tạp chí Phát triển kinh tế năm 2010
Các công trình trên đã đưa ra cách nhìn tổng quát về DNNVV, kinh nghiệm phát triển DNNVV của một số nước trên thế giới, cũng như của một số địa phương trong nước; trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển DNNVV Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu mới chủ yếu được trình bày dưới góc độ chuyên ngành quản trị kinh doanh, kinh tế nông nghiệp, kinh tế lao động, vẫn còn “khoảng trống” trong một số vấn đề phát triển DNNVV tiếp cận dưới góc độ kinh tế chính trị, chưa có đề tài nào nghiên cứu chi tiết về thực trạng và giải pháp phát triển đối với DNNVV ở địa bàn cấp quận, huyện, trong điều kiện hội nhập quốc tế, dưới tác động của cách mạng công nghệ 4.0 Về mặt thực tiễn, chưa có công trình nào nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng, đề xuất phương hướng cũng như các giải pháp nhằm phát triển DNNVV tại quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh
3 Mục tiêu nghiên cứu:
Góp phần hệ thống hóa, sáng tỏ cơ sở lý luận và kinh nghiệm phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; từ đó rút ra những kinh nghiệm cần thiết để vận dụng phát triển
Trang 15doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam nói chung, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
Phân tích đánh giá thực trạng phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn
2014 đến 2019 Trên cơ sở dữ liệu phân tích đặc điểm, vai trò, tìm ra những nguyên nhân làm hạn chế sự phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển có hiệu quả doanh nghiệp nhỏ
và vừa trên địa bàn quận Tân Phú
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: các doanh nghiệp nhỏ và vừa và thực trạng phát triển của
khối doanh nghiệp này trên địa bàn Quận Tân Phú
Về thời gian: chủ yếu tập trung phân tích các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa
bàn Quận Tân Phú giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2019
5 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là duy vật biện chứng Dựa vào phương pháp này, những vấn đề đưa ra đều trên cơ sở khách quan đồng thời phải phù hợp với những thay đổi của thực tế nhằm phản ánh các vấn đề một cách chân thật nhất
Nguồn dữ liệu thu thập chủ yếu bao gồm lấy ý kiến trực tiếp các doanh nghiệp nhỏ và vừa để đưa ra các giải pháp mang tính thiết thực cao Ngoài ra, đề tài còn sử dụng phương pháp thống kê, đối chiếu các tư liệu thống kê, niên giám Thống kê của cơ quan thống kê quận Luận văn có kế thừa và phát triển kết quả của các công trình nghiên cứu trước đây
Đề tài sử dụng phương pháp luận khoa học, thu thập số liệu thông tin liên quan đến phát triển DNNVV trên địa bàn quận, từ đó phân tích tìm ra mối liên hệ và xu hướng chung của các nội dung nghiên cứu làm sáng tỏ hơn những vấn đề đặt ra
6 Ý nghĩa và thực tiễn của đề tài:
Tài liệu tham khảo bổ ích, thiết thực cho giáo dục đào tạo sinh viên, học viên, các nhà nghiên cứu về lĩnh vực doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay
Trang 16Đóng góp ý kiến cho các nhà quản lý các giải pháp phát triển doanh nghiệp nhỏ
và vừa trong thời gian tới một cách có hiệu quả
Nguồn dữ liệu bổ sung cho các nhà quản lý doanh nghiệp, nhà lao động hiểu biết thêm những cơ hội và thách thức của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong quá trình hội nhập kinh tế hiện nay
7 Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu của đề tài, kết luận, mục lục, danh mục các ký hiệu viết tắt, danh mục bảng, tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
Chương 2: Thực trạng hoạt động doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Quận Tân Phú từ năm 2014 đến 2019
Chương 3: Những giải pháp chủ yếu phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Quận Tân Phú đến năm 2025
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa
Khi nói đến doanh nghiệp nhỏ và vừa là nói đến cách phân loại doanh nghiệp dựa trên quy mô của doanh nghiệp Việc phân loại DNNVV phụ thuộc vào các tiêu thức sử dụng quy định giới hạn các tiêu thức phân loại quy mô doanh nghiệp Cho đến nay, trên thế giới chưa có định nghĩa thống nhất về doanh nghiệp nhỏ và vừa, cũng như nhận thức chung một cách có hệ thống về vai trò, vị trí và cơ chế quản lý DNNVV, bởi mỗi quốc gia quy mô nền kinh tế rất khác nhau, trình độ phát triển kinh tế ở mỗi thời
kỳ khác nhau Mỗi quốc gia căn cứ vào điều kiện cụ thể của mình trong từng giai đoạn phát triển cụ thể để xác định các cơ chế, chính sách Tuy nhiên, qua nghiên cứu phân loại ở các nước có thể nhận thấy một số tiêu thức chung, phổ biến nhất thường được sử dụng trên thế giới để xác định DNNVV (số lao động, vốn sản xuất, doanh thu, lợi nhuận, giá trị gia tăng)
Ở Việt Nam theo quy định tại nghị định 39/2018/NĐ-CP hướng dẫn Luật hỗ trợ DNNVV thì: DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng doanh thu hoặc tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) và số lao động bình quân năm, thể hiện ở Bảng 1.1:
Bảng 1-1 Tiêu chí xác định doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa
Không quá 100 người
Không quá 200 người
Không quá 10 người
Không quá 50 người
Không quá 100 người Doanh thu
hàng năm
Không quá 3 tỷ đồng
Không quá 50
tỷ đồng
Không quá 200
tỷ đồng
Không quá 10
tỷ đồng
Không quá 100
tỷ đồng
Không quá 300
tỷ đồng Tổng nguồn
vốn
Không quá 3 tỷ đồng
Không quá 20
tỷ đồng
Không quá 100
tỷ đồng
Không quá 3 tỷ đồng
Không quá 50
tỷ đồng
Không quá 100
tỷ đồng
Theo Nghị định số 39/2018/NĐ-CP
Trang 18“1 Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng
Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng
2 Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ
Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ
3 Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ
Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ.”
Như vậy, xuất phát từ quan niệm phát triển DN nêu trên, theo quan điểm của tác giả, khái niệm phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa được tiếp cận dưới hai góc độ:
Theo quan điểm của triết học và kinh tế chính trị, phát triển DNNVV là sự gia tăng về số lượng và sự biến đổi về chất lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa
Theo nội dung phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm: sự tăng trưởng (gia tăng về số lượng DN), chuyển dịch cơ cấu DN (cơ cấu DNNVV theo loại hình DN, ngành nghề kinh doanh và đơn vị hành chính) và gia tăng chất lượng, hiệu quả (quy
Trang 19mô, doanh thu của mỗi DN, lợi nhuận, đóng góp vào ngân sách Nhà nước, tạo việc làm
và thu nhập của người lao động)
1.1.2 Đặc điểm, vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong phát triển kinh tế
a Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa
- Về vốn kinh doanh: Các DNNVV được thành lập dễ dàng vì không đòi hỏi nhiều vốn Vì thế khi có nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp thường gặp phải khó khăn về vốn, thiếu vốn sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, tình trạng thiếu vốn ở các doanh nghiệp không giống nhau Có những doanh nghiệp là không huy động được đủ vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng có những trường hợp sử dụng vốn không hiệu quả dẫn đến thiếu vốn tham gia sản xuất kinh doanh
Việc cung ứng vốn cho DNNVV hiện nay chủ yếu là thực hiện qua thị trường tài chính phi chính thức Các chủ doanh nghiệp thường ưu tiên vay vốn trước hết là của người thân, bạn bè và sau đó là tìm đến những người cho vay lấy lãi Các DNNVV thường gặp khá nhiều trở ngại khi muốn tiếp cận với vốn tín dụng của các các ngân hàng Điều này do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có thể kể đến một số nguyên nhân chủ yếu sau:
Thứ nhất, hệ thống ngân hàng, kể cả hệ thống tài chính trung gian, còn yếu kém, chưa tiếp cận được với nhu cầu về tín dụng vốn rất dồi dào của các doanh nghiệp Các điều kiện cho vay và thủ tục thế chấp vừa thừa lại vừa thiếu Các ngân hàng vẫn có tỷ
lệ xấu, nợ khó đòi cao, nhưng những doanh nghiệp hoạt động hợp pháp, có hiệu quả thì lại không được vay vốn Trong những năm qua, khách hàng có dư nợ tín dụng lớn của
hệ thống ngân hàng chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa và chủ yếu là các DN có quy mô lớn Nhiều doanh nghiệp, trong đó phần lớn là DNNVV, do hạn chế về khả năng và năng lực lập dự án, năng lực quản lý, tài chính và tài sản thế chấp để đảm bảo cho khoản vay nên gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận với nguồn tín dụng này
Thứ hai, về phía chủ doanh nghiệp tư nhân do hạn chế về năng lực tài chính, nên thường e ngại khi vay ngân hàng vì khi đó buộc phải nộp các báo cáo tài chính phản ánh chính xác tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, điều
mà các doanh nghiệp không muốn vì các lý do khác nhau
- Về tổ chức quản lý doanh nghiệp và người lao động: Đa số các DNNVV của nước ta hiện nay vẫn tổ chức quản lý theo mô hình ''Gia đình'' Mô hình này thể hiện tương đối đặc trưng ở các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh như: Các doanh nghiệp
Trang 20tư nhân, Công ty TNHH Trong mô hình này, cả những người quản lý cũng như người lao động thường là những người thân trong gia đình, họ hàng hoặc bạn bè thân quen
- Về trình độ của cán bộ quản lý doanh nghiệp: Phần lớn các chủ doanh nghiệp
và các cán bộ quản lý doanh nghiệp phần lớn hạn chế về trình độ văn hóa cũng như chuyên môn, chưa được tạo cơ bản, thiếu năng lực và kinh nghiệm quản lý, thiếu hiểu biết về kinh tế thị trường
Người lao động làm việc trong các DNNVV phần lớn là lao động phổ thông, không được đào tạo cơ bản, hạn chế về trình độ văn hóa, thiếu kỹ năng…Chỉ một phần nhỏ trong số họ được đào tạo nghề và đa số là những khóa đào tào ngắn hạn của các doanh nghiệp Đây thực sự là một trở ngại lớn cho các DN trong việc gia tăng năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm
Ngoài ra để giảm thiểu chi phí và phù hợp với quy mô hoạt động, các doanh nghiệp thường sử dụng hình thức lao động thời vụ hoặc hợp đồng gia công với các hộ dân cư
Thu nhập của người lao động trong các DNNVV vẫn còn ở mức thấp, không ổn định Mặc dù mức thu nhập này về cơ bản là cao hơn so với làm nông nghiệp nhưng vẫn còn thấp hơn so với lao động trong các doanh nghiệp lớn Mặt khác, các quyền lợi
cơ bản, chế độ, chính sách của người lao động như các chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, nghỉ chế độ… cũng chưa được đầy đủ như những người lao động trong các doanh nghiệp lớn
- Về công nghệ: Doanh nghiệp nhỏ và vừa mới được chú trọng phát triển trong vòng vài năm trở lại đây Do đó, công nghệ, thiết bị phần lớn là lạc hậu, lao động chủ yếu là thủ công, trừ một số nhỏ các Công ty TNHH, CTCP được hỗ trợ từ bên ngoài
- Về thị trường: Do năng lực sản xuất, năng lực cạnh tranh còn hạn chế nên thị trường chính của các DNNVV là thị trường trong nước Các DNNVV cũng thường đầu
tư vào lĩnh vực dịch vụ, sản xuất hàng hóa gần với người tiêu dùng chứ chưa đủ năng lực để đầu tư vào những ngành công nghiệp, xây dựng Việt Nam là một thị trường lớn nhưng mức độ yêu cầu về chất lượng hàng hóa và dịch vụ chưa cao, nhất là ở nông thôn, nơi cư trú khoảng hơn 65% dân số cả nước (năm 2019) Vì vậy, thị trường trong nước là tiềm năng rất lớn cho khu vực DNNVV Tuy nhiên, thực tế hiện nay thị trường hàng hóa tiêu dùng đang bị ảnh hưởng rất lớn của hàng hóa nhập lậu Nạn nhập lậu hàng hóa, nhất là hàng hóa tiêu dùng, tác động trực tiếp đến DNNVV vì đó là thị
Trang 21trường của DNNVV Khác với doanh nghiệp lớn, DNNVV nhìn chung không đủ năng lực để giảm giá sản phẩm cạnh tranh với hàng nhập lậu Nhìn chung, sản phẩm của DNNVV nước ta phần lớn tiêu thụ ở thị trường nội địa, chất lượng kém, mẫu mã và bao bì hàng hóa chưa đa dạng, chưa đủ sức vươn ra thị trường quốc tế Chỉ một số ít các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực lâm, nông, thủy sản, may mặc
có sản phẩm xuất khẩu
- Về hình thức sở hữu: doanh nghiệp nhỏ và vừa có cả hình thức sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân và sở hữu hỗn hợp Nhưng phần lớn (trên 90%) các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên cả nước là các doanh nghiệp nhỏ và vừa
- Về lĩnh vực hoạt động: Doanh nghiệp nhỏ và vừa tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực kinh tế như công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng cơ bản, thương mại dịch vụ Ngành thương mại, dịch vụ chiếm một tỷ trọng lớn trong các DNNVV của cả nước với
tỷ lệ 46% Gần 20% số DNNVV của cả nước hoạt động trong ngành công nghiệp và xây dựng cơ bản và khoảng 10% doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong ngành vận tải hành khách và hàng hóa Số còn lại hoạt động trong các lĩnh vực khác
- Về địa bàn hoạt động: Hiện nay, các DNNVV phân bố rộng khắp, cả ở nông thôn và thành thị, ở tất cả các vùng và các địa phương trên cả nước Tuy nhiên, phân
bố của DNNVV không đều giữa các vùng Riêng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long đã chiếm trên 55% tổng số DNNVV của cả nước Ngoài ra, đồng bằng Sông Hồng với các địa phương như Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và Quảng Ninh cũng chiếm một tỷ trọng lớn về số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa trên cả nước
- Về quan hệ giữa các DNNVV với các doanh nghiệp lớn: Hầu hết các doanh nghiệp hoạt động mang tính độc lập, chưa có sự liên kết một cách chặt chẽ và còn cạnh tranh lẫn nhau mạnh mẽ do có cùng thế mạnh Các hiệp hội còn ít, hầu hết mới đi vào hoạt động, chưa có cơ chế hoạt động tốt nên hiệu quả hoạt động chưa cao Các hiệp hội này chưa thực sự bảo vệ được lợi ích của các DNNVV thành viên Sự phối hợp để tạo sức mạnh trong kinh doanh giữa các doanh nghiệp nhìn chung còn chưa rõ nét làm cho sức cạnh tranh trên thị trường nói chung còn yếu, số DNNVV phát triển thành các doanh nghiệp lớn rất ít Các DNNVV cũng chưa tạo thành một hệ thống các vệ tinh cho các DN có quy mô lớn, sự liên kết giữa doanh nghiệp nhỏ và vừa và DN lớn chưa tốt, chưa có sự hỗ trợ lẫn nhau
Trang 22b Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Vai trò và tầm quan trọng của các DNNVV thể hiện không giống nhau đối với những nền kinh tế với mức độ, đặc điểm phát triển khác nhau Nhưng nhìn chung, DNNVV thực tế cho thấy tầm quan trọng của mình ngày càng lớn thể hiện ở sự mở rộng phạm vi hoạt động, số lượng doanh nghiệp ngày càng gia tăng DNNVV có mặt ở hầu hết các hoạt động, ngành nghề, lĩnh vực và tồn tại như một bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế mỗi quốc gia
Thứ nhất, doanh nghiệp nhỏ và vừa tạo công ăn việc làm cho người lao động, góp phần giảm thất nghiệp Do các DNNVV với số lượng ngày càng tăng và mở rộng
phạm vi hoạt động khi tham gia ngày một đa dạng ở tất cả các ngành nghề, lĩnh vực của nền kinh tế nên có thể đảm bảo cơ hội việc làm cho nhiều đối tượng lao động ở nhiều vùng miền, độ tuổi với trình độ khác nhau Mặt khác, do đặc điểm sản xuất kinh doanh đơn giản không yêu cầu trình độ, tay nghề cao nên các DNNVV dễ dàng trong việc sử dụng được cả lao động ở các vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế kém phát triển và
ít có điều kiện thuận lợi để cung cấp được lao động có trình độ, tay nghề cao cho thị trường lao động Đặc biệt vai trò giảm thất nghiệp của DNNVV thể hiện càng rõ nét khi mà nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, các doanh nghiệp lớn thường giảm thiểu chi phí bằng cách sa thải hàng loạt nhân công dẫn đến tình trạng lao động mất việc làm hàng loạt gây bất ổn kinh tế thì trong bối cảnh đó các DNNVV, với tính chất linh hoạt và năng động của mình thường thích ứng nhanh chóng với sự biến động của thị trường, có thể đứng vững mà không phải cắt giảm nhân công, hoặc khi nền kinh tế phục hồi lại có thể nhanh chóng thu hút lại lực lượng lao động
Thứ hai, doanh nghiệp nhỏ và vừa giữ vai trò quan trọng trong việc ổn định
và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Ở hầu hết các nền kinh tế, các DNNVV là những nhà
thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định Vì vậy ở vai trò này, DNNVV được xem như thanh giảm sóc cho nền kinh tế trước những biến động lớn Với lợi thế cần đầu tư ít vốn và tạo nguồn việc làm cho lao động dồi dào, trong những năm qua, DNNVV phát triển ngày càng nhanh và chiếm tỉ trọng ngày càng lớn trong tổng số doanh nghiệp của nền kinh tế DNNVV cung cấp cho thị trường nhiều mặt hàng phong phú, đa dạng ở tất
cả các lĩnh vực của nền kinh tế, tạo ra nhiều sự lựa chọn, đáp ứng được mọi nhu cầu
Trang 23của người tiêu dùng, từ đó thúc đẩy sức tiêu thụ của nền kinh tế Vì thế mức độ đóng góp của các DNNVV vào tổng sản lượng của nền kinh tế là rất lớn
Doanh nghiệp nhỏ và vừa tạo ra khối lượng hàng hóa và dịch vụ lớn hơn, phong phú hơn, chất lượng tốt hơn đáp ứng được nhu cầu ngày càng đa dạng của người tiêu dùng, nhiều sản phẩm có thể thay thể được hàng nhập khẩu, từ đó giúp nâng cao mức tiêu dùng của người dân trong nước và tăng xuất khẩu, đó cũng là yếu tố giữ cho nền kinh tế ổn định và phát triển Các doanh nghiệp này đóng góp bình quân khoảng 50% GDP ở mỗi nước Riêng ở Việt Nam, trong những năm qua, mỗi năm, các DNNVV đóng góp khoảng 25% GDP của cả nước
Thứ ba, doanh nghiệp nhỏ và vừa khai thác và phát huy các nguồn lực địa phương, góp phần chuyền dịch cơ cấu kinh tế đặc biệt là với khu vực nông thôn Những vùng sâu, vùng xa, những vùng có điều kiện kinh tế kém phát triển, có
điều kiện tự nhiên không thuận lợi hoặc cơ sở hạ tầng chưa phát triển Thông thường các doanh nghiệp lớn sẽ có xu hướng bỏ qua các khu vực đó đầu tư ở những vùng đông dân cư, khu công nghiệp, các vùng có điều kiện cơ sở hạ tầng phát triển để thuận lợi cho việc thông thương Như vậy càng dễ dẫn đến sự bất cân xứng giữa các vùng trong phát triển kinh tế Trong khi đó, với quy mô vốn đầu tư nhỏ, bộ máy tổ chức gọn nhẹ,
dễ dàng khởi nghiệp kinh doanh, các DNNVV có thể tham gia vào nhiều thị trường, đặc biệt là các thị trường nhánh, vì thế khai thác được tiềm năng và thế mạnh Doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng chính là chủ thể tác động tích cực nhất vào việc duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống địa phương như mây tre đan, gốm sứ, dệt…Loại hình DNNVV rất thích hợp cho sản xuất thủ công Các ngành nghề truyền thống có thể dựa vào đó để sản xuất, kinh doanh, quảng cáo DNNVV cũng góp phần đưa công nghệ tiên tiến tiếp cận vào các ngành nghề này Vì vậy, có thể nói DNNVV đóng vai trò hết sức quan trọng trong công cuộc CNH, HĐH nông thôn góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa thành thị và nông thôn, đồng thời thúc đẩy các ngành thương mại dịch vụ, tiểu thương phát triển góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phù hợp
Thứ tư, doanh nghiệp nhỏ và vừa thúc đẩy nền kinh tế năng động Một nền
kinh tế mà các doanh nghiệp lớn thâu tóm tỷ lệ quá lớn nguồn lực tài nguyên và nhân lực thì do tính kém linh hoạt cùng với bộ máy quản lý cồng kềnh của các doanh nghiệp này khiến nền kinh tế chậm biến động phù hợp với biến động thị trường Các đơn vị
Trang 24càng to lớn thì càng thiếu tính linh hoạt và khả năng phản ứng nhanh, nói cách khác là sức ì càng lớn Ngược lại, với một tỉ lệ thích hợp các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, dễ điều chỉnh hoạt động thích nghi kịp thời với các biến động thị trường, nền kinh tế sẽ trở nên năng động, “nhanh nhẹn”, linh hoạt hơn, bắt kịp xu hướng phát triển của nền kinh tế thế giới Tính hiệu quả của nền kinh tế sẽ được nâng cao
1.1.3 Nội dung phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
Nội dung phát triển DNNVV trong phạm vi luận văn được nhìn nhận từ góc nhìn của kinh tế chính trị là sự phát triển của LLSX bao gồm sự phát triển của nguồn nhân lực, tư liệu sản xuất, nâng cao trình độ khoa học công nghệ Đi cùng với nó là sự phát triển tương xứng của QHSX bao gồm; quan hệ sở hữu, quan hệ tổ chức quản lý doanh nghiệp và quan hệ phân phối thu nhập
Dưới góc độ kinh tế học, nội dung phát triển DNNVV là sự gia tăng về số lượng, loại hình và quy mô của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Nội dung phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Thứ nhất, là sự tăng lên về số lượng, loại hình và đa dạng hóa các lĩnh vực hoạt động của DNNVV Đối với quốc gia với tỷ trọng dân số lao động nông nghiệp lớn như nước ta, thì việc phát triển DNNVV
sẽ thúc đẩy quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp tại nông thôn
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, DNNVV trở thành lực lượng nòng cốt tại các KCX, KCN Sự tham gia tích cực vào sản xuất kinh doanh với các mô hình hoạt động hết sức phong phú, đa dạng về ngành nghề, về thành phần kinh tế khác nhau, là điều kiện để phát huy những lợi thế tuyệt đối và so sánh của đất nước nói chung và từng địa phương nói riêng để hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả Hệ thống các DNNVV phát triển về số lượng đã tạo ra cầu nối giữa thị trường trong nước với các thị trường quốc tế, vừa góp phần khai thác có hiệu quả các nguồn lực về lao động, tài nguyên thiên nhiên, vừa góp phần tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp truyền thống của các địa phương để đẩy mạnh xuất khẩu Số lượng DNNVV phát triển hướng vào các ngành công nghiệp phụ trợ, dịch vụ, thương mại ngày càng tăng… tạo điều kiện nâng cao tính hấp dẫn của môi trường thu hút vốn đầu tư nước ngoài, để tranh thủ vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý hiện đại và thị trường rộng lớn ngoài nước
Trang 25Với sự gia tăng về số lượng, loại hình và đa dạng hóa các lĩnh vực hoạt động hệ thống DNNVV đã không ngừng tăng số lượng, chủng loại và nâng cao chất lượng hàng hoá, dịch vụ trên thị trường Việc gia tăng số lượng các sản phẩm cung ứng trên thị trường có tác dụng thúc đẩy cầu trên thị trường hàng hoá và dịch vụ Các yếu tố đầu vào của sản xuất gia tăng thúc đẩy LLSX phát triển, qua đó góp phần nâng cao đời sống của người dân Trong những năm qua, sự phát triển nhanh chóng của DNNVV về
số lượng và loại hình đã tạo ra lượng hàng hóa và dịch vụ ngày càng lớn để phục vụ các nhu cầu dân sinh, đặc biệt là những nhu cầu tại chỗ cho các địa phương Tuy nhiên,
sự gia tăng nhanh chóng về số lượng của DNNVV chưa thực sự tương xứng với những yêu cầu ngày càng cao của dân cư về hàng hóa và dịch vụ, do đó bên cạnh yêu cầu tích cực tham gia sản xuất các mặt hàng thay thế nhập khẩu, DNNVV phải không ngừng nâng cao chất lượng hàng hóa và dịch vụ phù hợp với xu thế mở rộng và ngày càng khó tính của các nhu cầu xã hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa phải trở thành cầu nối các khâu sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng trong các khu vực của nền kinh tế, đồng thời phải trở thành chủ thể không ngừng nâng cao chất lượng hàng hóa và dịch vụ Đối với khu vực nông thôn, để nâng cao chất lượng hàng hóa nông sản, DNNVV phải trở thành mô hình thúc đẩy sợi dây liên kết 4 nhà trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta hiện nay Cùng với sự gia tăng về số lượng và loại hình thì phát triển DNNVV còn là
sự gia tăng về quy mô của DN, đó là sự tăng cường về tiềm lực tài chính; về lao động
và sự gia tăng đóng góp của DNNVV vào mọi mặt của đời sống xã hội
Vốn hay tài sản là một trong những yếu tố đầu vào quyết định đối với sự tăng trưởng phát triển của bất kỳ một doanh nghiệp nào Phát triển DNNVV trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi phải huy động và sử dụng có hiệu quả cao mọi nguồn vốn trong và ngoài nước Đặc biệt trong điều kiện ngày nay khi mà nước ta đang đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thì trong tương lai không xa các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các DNNVV nói riêng sẽ phải đối mặt, cạnh tranh với những doanh nghiệp nước ngoài lớn với nguồn vốn khổng lồ, mặt khác do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã kéo theo sự thiếu hụt về nguồn vốn… Chính vì vậy, một trong những nội dung cơ bản nhất của quá trình phát triển DNNVV chính là quá trình tăng lên về vốn Vốn cho phát triển DNNVV có thể huy động từ nhiều nguồn như quỹ hỗ trợ của Chính phủ hoặc các tổ chức phi chính phủ nước ngoài, vay vốn ngân hàng, vốn huy động thông qua thị trường chứng khoán, vốn huy động thông qua các
Trang 26nguồn phi chính thức khác như vay của bạn bè, người thân… Và để làm được điều này thì Nhà nước phải có những chính sách tài chính tín dụng hết sức linh hoạt nhằm hỗ trợ cho các DNNVV có thể tiếp cận được các nguồn vốn nhàn rỗi trong và ngoài nước Nhà nước cần có những chính sách khuyến khích, đẩy mạnh hoạt động cho thuê tài chính đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, tập trung phát triển thị trường tài chính phi ngân hàng, tạo điều kiện cho các DNNVV huy động vốn trên thị trường chứng khoán Nhà nước cũng cần có chính sách khuyến khích các quỹ đầu tư mạo hiểm nước ngoài vào Việt Nam, tăng cường mạng lưới xúc tiến thương mại hơn nữa nhằm tạo điều kiện cho các DNNVV tối ưu hóa các nguồn lực sẵn có và tiếp cận tốt hơn với các nguồn vốn đi vay qua đó nâng cao tính cạnh tranh của mình trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Lao động là nhân tố không thể thiếu trong các doanh nghiệp, là một trong những nguồn lực đầu vào quan trọng nhất của quá trình sản xuất kinh doanh Đặc biệt với DNNVV sử dụng một lực lượng lao động khá lớn như hiện nay, lao động chiếm trên 70% tổng số lao động phi nông nghiệp, tương đương trên 20% lực lượng lao động của
cả nước Trong quá trình phát triển của mình, DNNVV có thể thu hút được lao động thuộc nhiều thành phần với trình độ chuyên môn, tay nghề khác nhau, do vậy sự gia tăng về số lượng lao động góp phần vào sự tăng trưởng lâu dài và ổn định của các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Ngoài ra, phát triển DNNVV về quy mô đồng nghĩa với việc gia tăng sự đóng góp của nó vào mọi mặt của đời sống xã hội Đó là sự gia tăng đóng góp vào sự tăng trưởng của nền kinh tế Bình quân mỗi năm DNNVV đã đóng góp khoảng trên 45% GDP Trong những năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của mình, khả năng đóng góp của doanh nghiệp nhỏ và vừa vào GDP, vào vốn đầu tư toàn xã hội tăng lên; doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả sẽ tăng thu ngân sách cho địa phương, cho đất nước và giá trị kim ngạch xuất khẩu cũng không ngừng tăng lên Phát triển DNNVV góp phần thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH Điều đó thể hiện qua đóng góp của các DNNVV vào sự tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế hàng năm Doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển đã đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng thúc đẩy thương mại, dịch vụ ở nông thôn phát triển, xóa dần tình trạng thuần nông và độc canh Bên cạnh đó, sự phát triển của DNNVV có tác động làm thay đổi cơ cấu ngành nghề thông qua đa dạng hóa ngành
Trang 27nghề Góp phần quan trọng giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, góp phần ổn định chính trị, xã hội Tăng trưởng kinh tế luôn phải đi kèm với giải quyết những khó khăn, bức xúc trong xã hội, trong đó giải quyết vấn đề thất nghiệp là một trong những khó khăn lớn nhất mà bất kỳ chính phủ nước nào cũng phải quan tâm Sau những năm đổi mới, sự phát triển của các DNNVV không những đáp ứng các nhu cầu hàng hoá, dịch vụ mà trước đây Nhà nước còn phải bao cấp mà còn tạo ra nhiều việc làm cho mọi đối tượng trong xã hội, từ thành thị đến nông thôn, từ lao động phổ thông đến lao động có trình độ Sự tăng trưởng lâu dài và ổn định của các DNNVV sẽ góp phần tăng thu nhập, cải thiện và nâng cao đời sống của người dân, qua đó góp phần quan trọng đảm bảo ổn định chính trị, xã hội
Thứ hai, nâng cao trình độ công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa chính là quá trình đổi mới không ngừng công nghệ - kỹ thuật, thiết bị máy móc ngày một tiên tiến, hiện đại trong các công đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh, trong chu kỳ tái sản xuất của sản phẩm Thực hiện quá trình phát triển DNNVV trong điều kiện cách mạng khoa học - kỹ thuật ngày nay phải gắn với quá trình CNH, HĐH nền kinh tế quốc dân, với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế về phương diện công nghệ, cả ở phần cứng và phần mềm Hiện đại hóa trang thiết bị máy móc dưới góc độ kinh tế - kỹ thuật là nhân tố quan trọng hàng đầu trong các DN để nâng cao năng suất lao động, giảm nhẹ điều kiện lao động, nâng cao trình
độ văn hóa, kỹ thuật, tác phong làm việc của người lao động, là mục tiêu vươn tới của bất kỳ một doanh nghiệp nào, nhưng không phải là với bất kỳ giá nào mà phải căn cứ vào tình hình thực tế, vào điều kiện cụ thể của từng nước cũng như của từng doanh nghiệp Trong điều kiện của Việt Nam, là một nước có nguồn nhân lực dồi dào, trình
độ quản lý có hạn, các DNNVV thiếu trầm trọng vốn đầu tư thì việc hiện đại hóa trang thiết bị máy móc trước hết có thể giải quyết dần dần, chỉ nên tập trung vào những lĩnh vực chủ chốt, làm rường cột, làm chỗ dựa cho cả DN cùng phát triển Làm tốt quá trình này có thể đảm bảo cho DN có đủ tiềm lực để có thể cạnh tranh không chỉ ở thị trường trong nước mà còn ở thị trường thế giới Trong điều kiện ngày nay, để đảm bảo sự thành công, quá trình đổi mới công nghệ, chuyển giao khoa học kỹ thuật của doanh nghiệp cần chủ động nắm bắt, gắn liền với tình hình thực tiễn của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta Hội nhập kinh tế quốc tế chính là cơ hội lớn mở ra đối với
Trang 28các DNNVV, thông qua quá trình liên doanh hợp tác với các DN nước ngoài, các tổ chức tài chính quốc tế để có thể tiếp cận được với những nguồn vốn mới, cơ hội lớn để chúng ta chuyển giao khoa học kỹ thuật, học hỏi kinh nghiệm quản lý tiên tiến từ bên ngoài, tiếp cận với các trang thiết bị máy móc hiện đại…
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cũng là nội dung quan trọng của sự phát triển DNNVV Để có thể tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế một cách nhanh chóng và hiệu quả, các DNNVV phải liên tục cải tổ chính mình để nâng cao hiệu quả kinh doanh và tăng cường sức cạnh tranh Đó là con đường tất yếu mà mỗi
DN đều phải đi để có thể tồn tại và phát triển Để làm được điều này các DNNVV phải dựa vào các nguồn nội lực của mình là chính, trong đó có nguồn nhân lực, một trong những nguồn lực được xem là có giá trị và có vai trò quan trọng nhất trong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh của các DNNVV ở nước ta hiện nay Đội ngũ lao động chính là những người sẽ nắm bắt khoa học kỹ thuật, điều khiển máy móc thiết bị và là những người trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra sản phẩm cho doanh nghiệp Để tạo ra một sản phẩm đẹp, có chất lượng, có tính cạnh tranh cao trên thị trường thì trình độ quản lý, kỹ năng tay nghề của người lao động là vô cùng quan trọng Chính vì vậy việc tuyển dụng lao động chất lượng cao, đào tạo nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động là một quá trình có tính quy luật trong tiến trình phát triển kinh tế nước ta nói chung và các DNNVV nói riêng Việc tạo ra một nguồn nhân lực ổn định, có trình độ, tay nghề cao phù hợp với chiến lược phát triển của doanh nghiệp và đáp ứng được phong cách làm việc mới thời CNH và hội nhập kinh tế quốc tế sẽ là một trong những yếu tố quan trọng, quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp trên thị trường
Để có được nguồn nhân lực phù hợp với điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, Nhà nước và các DNNVV phải có cái nhìn toàn diện và lâu dài trong việc sử dụng
và nuôi dưỡng đội ngũ lao động và cán bộ quản lý, từ công tác tuyển dụng đến phân công công việc gắn với trách nhiệm và chính sách đãi ngộ, thường xuyên quan tâm đến đào tạo, đào tạo lại nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Bên cạnh đó phải thực hiện đầy đủ các chính sách đối với người lao động như tiền công, tiền lương, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp…để người lao động yên tâm lao động sản xuất, tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội
Thứ ba, phát triển và mở rộng thị trường của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trang 29Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa chính là quá trình phát triển sản phẩm và
mở rộng thị trường của loại hình doanh nghiệp này Để tồn tại, phát triển và đứng vững trên thị trường, doanh nghiệp nhỏ và vừa phải biết lựa chọn cho mình những sản phẩm
có thế mạnh, xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm bằng cách không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa sản phẩm theo nhu cầu thị trường (chế biến, chế biến tinh theo nhiều giá trị sử dụng, hình thức bao bì…) Khai thác có hiệu quả các lợi thế so sánh của quốc gia trong lựa chọn sản phẩm mới, hiện đại hóa khâu thiết kế sản phẩm, chọn lựa hệ thống chất lượng tiên tiến phù hợp với doanh nghiệp để phát triển sản phẩm Mặt khác các DN luôn tìm cách để sản phẩm của mình có điểm khác biệt, độc đáo ở một điểm nào đó so với các sản phẩm cùng loại của các doanh nghiệp khác (như mẫu mã, bao bì, giá trị sử dụng…), đồng thời doanh nghiệp cần phải xây dựng thương hiệu riêng cho sản phẩm của mình Một thương hiệu mạnh có thể giúp doanh nghiệp đạt được vị thế dẫn đầu ngành, thương hiệu càng nổi tiếng thì khả năng tăng thị phần của sản phẩm trên thị trường ngày càng cao, nhờ đó doanh nghiệp
có thể điều tiết được thị trường, định giá cao hơn, làm ăn ngày càng hiệu quả hơn
Bên cạnh đó doanh nghiệp nhỏ và vừa phải không ngừng mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm không những trong thành phố, trong nước mà còn vươn xa đến thị trường quốc tế Tích cực tìm kiếm, chủ động lựa chọn thị trường, tìm hiểu kỷ thông tin
về thị trường, phân tích đối thủ cạnh tranh, vạch ra điểm mạnh, điểm yếu của họ để từ
đó có các chính sách mở rộng thị trường phù hợp với sản phẩm của doanh nghiệp
Thứ tư, nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Đây là một nội dung vô cùng quan trọng trong phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, là nhân tố phát huy nội lực từ bản thân doanh nghiệp Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển trước tiên phải nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình Để làm được điều đó doanh nghiệp phải có kế hoạch rà soát, sắp xếp, bố trí lại các công đoạn sản xuất kinh doanh hợp lý, tìm mọi cách để cắt giảm chi phí quản lý, chi phí bán hàng, tiết kiệm nguyên vật liệu đầu vào, nghiên cứu sử dụng các nguyên vật liệu thay thế, khai thác tối đa công suất của máy móc thiết bị, giảm tối đa phế phẩm…nhằm hạ giá thành sản phẩm, không ngừng nâng cao tổng doanh thu thuần qua từng năm, nâng cao lợi nhuận trước thuế và tỷ suất sinh lời Nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ có điều kiện đầu tư để mở rộng
Trang 30quy mô sản xuất kinh doanh, phát triển khoa học công nghệ, đầu tư nguồn nhân lực chất lượng cao, có điều kiện để xây dựng thương hiệu sản phẩm, làm tốt chiến lược phát triển sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ…theo đó sản phẩm sản xuất ra ngày càng tiêu thụ được nhiều hơn
Thứ năm, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp nhỏ và vừa Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa là quá trình tăng lên về năng lực cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp trên thị trường Do đặc tính cạnh tranh trong kinh tế thị trường, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa có không ít ảnh hưởng tiêu cực như chất lượng sản phẩm không ổn định, giá cả sản phẩm không hợp lý, hệ thống phân phối chưa phát triển, khâu chăm sóc khách hàng còn yếu hay ít quan tâm bảo vệ đến tài nguyên môi trường, trật tự trị an khu vực sản xuất….Điều này làm giảm uy tín của doanh nghiệp đối với công chúng Vì vậy, để phát triển một cách bền vững, doanh nghiệp nhỏ và vừa phải nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, mở rộng thị trường Trong đó chú trọng đến việc xây dựng thương hiệu doanh nghiệp, vì thương hiệu doanh nghiệp có giá trị cực kỳ to lớn đối với không chỉ các DN lớn, là tài sản vô hình của DN, thương hiệu góp phần làm tăng lợi nhuận của hàng hoá, giúp cho doanh nghiệp duy trì lượng khách hàng truyền thống và thu hút thêm các khách hàng mới, giảm các khoản chi phí cho hoạt động xúc tiến thương mại, hoạt động quảng bá, thương hiệu mang lại lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp Tuy nhiên, để tạo nên một thương hiệu cho sản phẩm, cho doanh nghiệp không phải là một việc dễ thực hiện, vì thế cần phải có sự đồng nhất trong mọi chu trình, các khâu quản lí, hoạt động của quá trình sản xuất kinh doanh
Bên cạnh đó nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa lại yếu kém và thụ động trong việc tiếp cận thông tin và các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp Một phần là do chất lượng nguồn nhân lực của các DNNVV còn thấp, trình độ chuyên môn, tin học, ngoại ngữ của giám đốc và đội ngũ quản lý doanh nghiệp còn hạn chế, mặt khác việc đầu tư cho
hệ thống thông tin chưa được chú trọng, chưa có phương tiện kỹ thuật nên chưa theo kịp diễn biến của thị trường Việc ra quyết định kinh doanh, lựa chọn chiến lược kinh doanh được đưa ra hầu hết chỉ dựa vào kinh nghiệm và phán đoán cảm tính, trong bối cảnh áp lực cạnh tranh quốc tế ngày càng mạnh mẽ đây là điểm yếu nhất các DNNVV của Việt Nam Vì vậy, đòi hỏi bản thân doanh nghiệp phải tự nỗ lực, đồng thời cũng cần có sự hỗ trợ thông tin thị trường từ các cơ quan quản lý Nhà nước
Trang 311.1.4 Những nhân tố tác động đến sự phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.4.1 Nhóm nhân tố bên ngoài
a Chính sách của Nhà nước
Trong những năm vừa qua, Chính phủ đã thực hiện nhiều chương trình hỗ trợ DNNVV trong việc tiếp cận tài chính, đăng ký kinh doanh, hỗ trợ việc giải phóng, xây dựng mặt bằng sản xuất, nâng cao năng lực công nghệ, mở rộng thị trường, phát triển nguồn nhân lực, Những chính sách đó đã đóng góp vai trò to lớn cho sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Bên cạnh đó, môi trường kinh doanh được nhìn nhận như là nhân tố tác động đến sự phát triển DNNVV bao gồm các nhân tố nằm bên ngoài DN, định hướng và ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động quản lý trong DN Ở đây, Chính phủ góp phần rất quan trọng trong việc tạo ra môi trường chính trị, môi trường đầu tư hấp dẫn không những cho các DNNVV mà còn cả hệ thống DN nói chung Trong giai đoạn hiện nay, môi trường kinh doanh ngày càng khó khăn đối với các DNNVV khi phải đối mặt với tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng tài chính với vai trò là một bộ phận trong chuỗi sản xuất chịu ảnh hưởng khá nặng khi các DN lớn ngừng các hợp đồng làm thu hẹp thị trường đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
Hệ thống luật pháp là một trong những nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh Đó là nhân tố thuộc kiến trúc thượng tầng xã hội, tạo lập khuôn khổ pháp
lý chung để điều chỉnh hành vi của các chủ thể trong nền kinh tế Vì vậy, khi hoạt động kinh doanh các DNNVV cần thiết và phải nắm bắt được đầy đủ và chính xác yếu tố này Đặc biệt trong môi trường hoạt động kinh doanh quốc tế nơi mà môi trường pháp luật chính trị đa quốc gia rất đa dạng và phức tạp hơn nhiều thì việc nghiên cứu môi trường chính trị pháp lý lại càng cần thiết hơn nữa
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa luôn phải tuân thủ các quy định của Luật Doanh nghiệp, các quy định của pháp luật, chính sách của nhà nước trong quản lý kinh tế xã hội, các quy định về quản lý đầu tư, phê duyệt, thanh tra hoạt động các doanh nghiệp, các quy định của UBND tỉnh, thành phố và các cơ quan quản lý trực thuộc tỉnh, thành phố Chính sách pháp luật phù hợp sẽ tạo thuận lợi và đảm bảo quản lý chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả, ngược lại sẽ gây ra những khó khăn trong quản lý và phát triển hệ thống DN của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Những chính sách của nhà nước hay pháp luật tạo nên tính công bằng và tạo nên môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa người lao động với người lao động,
Trang 32giữa cá nhân với tổ chức và giữa các doanh nghiệp với nhau
Như vậy, có thể thấy Chính phủ đóng vai trò là nhân tố chính ảnh hưởng đến sự phát triển của DNNVV, những cản trở đến từ Chính phủ có thể là nguyên nhân gây bất lợi cho hoạt động kinh doanh của DNNVV, vai trò của Chính phủ không chỉ trợ giúp các DNNVV mà còn tạo ra một môi trường đầu tư hấp dẫn nhằm thu hút các doanh nghiệp đầu tư
b Chính sách hỗ trợ của địa phương
Chính sách hỗ trợ của địa phương đối với các DNNVV chịu sự ảnh hưởng của chính sách chung của Chính phủ Song trên thực tế khi triển khai thì các chính sách đó lại bị lồng ghép với các chương trình hành động khác Điều này gây khó khăn cho các DNNVV trong việc tiếp cận và hưởng lợi từ các chính sách của Chính phủ Chính quyền các cấp ở địa phương hiện vẫn khó khăn trong việc xây dựng các chính sách đồng bộ, có hiệu quả đối với các DNNVV Việc giải quyết các thủ tục liên quan đến đầu tư, vay vốn của các cơ quan quản lý nhà nước còn chậm, nhiều bất cập Vì thế, ảnh hưởng lớn đến phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Bên cạnh đó, mặt bằng sản xuất tại địa phương cũng là một nhân tố quan trọng đối với bất kỳ doanh nghiệp nào Khoa học công nghệ tuy đã ngày càng phát triển và làm cho yêu cầu về mặt bằng sản xuất giảm so với trước, song đây vẫn là nhân tố không thể thiếu trong bất kỳ quá trình sản xuất kinh doanh nào Mặt bằng sản xuất chính là yếu tố về đất đai bao gồm các điều kiện kèm theo khác có liên quan đến cơ sở
hạ tầng như hạ tầng giao thông, hệ thống cấp thoát nước, cung cấp điện, hệ thống xử lý môi trường,…Mặc dù đã có nhiều KCN và CCN nhưng vấn đề mặt bằng sản xuất vẫn
là vấn đề khó khăn cố hữu đối với các DNNVV Nguyên nhân chính chủ yếu là những khó khăn liên quan về mặt tài chính hay khả năng chi trả, đặc biệt là đối với các DN mới thành lập
Ngoài những chính sách hỗ trợ cho các DNNVV ở địa phương thì hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng đóng vai trò quan trọng cho phát triển các DN nói chung và các DNNVV nói riêng Những chương trình mà Hội thực hiện như tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại, thực hiện vai trò là cầu nối giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội trên địa bàn với cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân Như vậy, bên cạnh sự hỗ trợ
từ phía Chính phủ thì chính sách hỗ trợ của địa phương đã thể hiện vai trò to lớn trong
Trang 33việc hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa
c Nguồn nguyên liệu
Nguồn nguyên liệu được sử dụng vào hoạt động sản xuất của DNNVV bao gồm nhiều loại nguyên liệu như nguyên liệu chính và nguyên liệu phụ Chúng tham gia một lần vào chu kỳ sản xuất và cấu thành thực thể sản phẩm Nguyên liệu là một trong những yếu tố đầu vào vô cùng quan trọng, không thể thiếu được đối với các DN sản xuất công nghiệp Đối với các DNNVV, chi phí sử dụng nguyên vật liệu thường chiếm
tỷ trọng lớn trong chi phí kinh doanh và giá thành đơn vị sản phẩm Số lượng, chủng loại, cơ cấu, chất lượng, giá cả của nguyên vật liệu và tính đồng bộ của việc cung ứng nguyên vật liệu ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu, năng suất và chất lượng của sản phẩm do đó ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và sự phát triển của doanh nghiệp
Ngoài ra, chất lượng của công tác đảm bảo nguyên vật liệu DN cũng ảnh hưởng lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của DN Nếu công tác tổ chức đảm bảo nguyên vật liệu luôn được cung cấp đầy đủ, kịp thời và đồng bộ, đúng số lượng, chất lượng, chủng loại theo yêu cầu của sản xuất kinh doanh, tình trạng thiếu hay ứ đọng nguyên vật liệu không xảy ra, đồng thời thực hiện việc tối thiểu hoá chi phí kinh doanh khi sử dụng nguyên vật liệu giúp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DN
Do đó, khi tiến hành hoạt động sản xuất, ngoài việc đảm bảo các yếu tố như lao động,
tư liệu lao động DN cần phải thực hiện tốt việc lập kế hoạch cung ứng nguồn nguyên liệu cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp mình
Trong điều kiện KTTT, nguồn nguyên liệu được nhập về doanh nghiệp nhỏ và vừa từ nhiều nguồn khác nhau như tự nhập khẩu, liên doanh liên kết, đối lưu vật tư và tùy thuộc vào mỗi đặc thù của loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa mà nguyên liệu của
nó có những nét đặc trưng riêng và các DNNVV cần phải đảm bảo chủ động được nguồn nguyên liệu đầu vào để đạt được những lợi thế về thuế Do đó, việc quy hoạch vùng nguyên liệu tập trung không chỉ là bước khởi đầu mà còn là vấn đề then chốt có tính chất quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.4.2 Nhóm nhân tố bên trong
a Trình độ công nghệ sản xuất
Ngày nay, công nghệ được hiểu là “Các giải pháp, quy trình, bí quyết có kèm
hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”
Trang 34(Luật chuyển giao công nghệ 2017) bao gồm trang thiết bị, kỹ năng tay nghề, kinh nghiệm của người lao động, các thông tin, dữ liệu, bí quyết sản xuất và cả yếu tố tổ chức Trình độ công nghệ sản xuất ảnh hưởng lớn tới năng suất, chất lượng sản phẩm, mức độ tiết kiệm nguyên vật liệu do đó, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và
sự phát triển của DN Hơn nữa, chỉ có công nghệ hiện đại mới tạo ra được những sản phẩm cao cấp Hiện nay, công nghệ của DNNVV ở Việt Nam còn khá lạc hậu, để có thể cạnh tranh trên thị trường cần có chính sách đổi mới công nghệ theo hướng chủ yếu
là tận dụng lợi thế của người đi trước, tiếp thu những công nghệ hiện đại của thế giới phù hợp với điều kiện của từng địa phương Như vậy, từ những quan điểm của các nhà nghiên cứu có thể khẳng định rằng sự tăng trưởng và phát triển của DN nói chung và DNNVV nói riêng phụ thuộc rất lớn vào trình độ công nghệ sản xuất mà DN đó đang
áp dụng
b Lao động
Trong các nguồn lực của DN thì con người là nguồn lực quan trọng nhất, có tính chất quyết định đối với sự tăng trưởng và phát triển của các doanh nghiệp Một doanh nghiệp cho dù có nhiều lợi thế về tài nguyên vốn, máy móc kỹ thuật tiên tiến nhưng thiếu đi những con người có trình độ, có đủ khả năng khai thác các nguồn lực thì cũng khó đạt được sự phát triển như mong muốn Trí tuệ, chất xám của nguồn nhân lực chất lượng luôn có ưu thế nổi bật ở chỗ nó là vô hạn nếu biết bồi dưỡng, khai thác và sử dụng hợp lý, còn các nguồn lực khác dù nhiều đến đâu cũng chỉ là yếu tố có hạn và chỉ phát huy được hiệu quả khi có nguồn nhân lực một chất lượng Vì vậy, có thể nói lực lương lao động và chất lượng đội ngũ lao động là một tiêu chí để đánh giá sức mạnh của doanh nghiệp
Trang 35quản lý được tình trạng tài chính và hiệu quả hoạ động của doanh nghiệp Điều này ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNVV trong giai đoạn vừa qua
Ngoài ra, đội ngũ chủ DNNVV cũng mới được hình thành từ những năm 90 trở lại đây nên kỹ năng quản lý của họ còn yếu kém, họ còn thiếu kinh nghiệm về nhiều mặt, từ kỹ năng quản lý đến hiểu biết công nghệ và thị trường Phần lớn họ chưa được đào tạo bài bản về quản trị kinh doanh và kỹ năng quản lý, đặc biệt là năng lực quản trị kinh doanh quốc tế Từ đó dẫn đến khuynh hướng phổ biến là hoạt động quản lý theo kinh nghiệm, thiếu tầm nhìn chiến lược, thiếu kiến thức…
d Tiếp cận tài chính
Vốn là yếu tố phản ánh toàn bộ sức mạnh tổng hợp của doanh nghiệp Doanh nghiệp có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh một cách dễ dàng hơn nếu có thể huy động được một khối lượng vốn cần thiết Trên thực tế, hầu hết các DN đều sử dụng phần lớn là vốn vay từ bên ngoài Do đó, khi đánh giá về khả năng huy động vốn của DN phải tính đến các khoản huy động vốn từ các nguồn khác nhau như vay tín dụng, thế chấp, tín chấp Bên cạnh đó, khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn bên ngoài chính là cản trở chính cho sự phát triển của DNNVV và đó là nguyên nhân gây thất bại trong kinh doanh của doanh nghiệp
1.2 Một số quan niệm về phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ
Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, khái niệm kinh tế tư nhân là một khái niệm được dùng để chỉ các thành phần kinh tế dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất Khái niệm này bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân Kinh
tế tư bản tư nhân về bản chất là sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc lột lao động làm thuê
Khẳng định, sự tồn tại của kinh tế tư nhân là một tất yếu khách quan trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, vì thế việc cải tạo và phát triển thành phần kinh tế tư bản tư nhân là một trong những nhiệm vụ kinh tế trọng tâm, cơ bản, lâu dài trong suốt thời kỳ quá độ Mặt khác, trên thực tế có thể thấy, việc phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa góp phần phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững, nâng cao đời sống của nhân dân Kinh tế tư nhận dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, tuy nhiên, để đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh
tế, hiện nay thay vì phân chia theo tiêu chí quan hệ sản xuất, các nhà kinh tế học hiện
Trang 36đại phân chia doanh nghiệp theo các tiêu chí nhỏ, vừa và lớn thì mới tạo ra sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trong nền kinh tế quốc dân
Phát triển là một phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trên thế giới Khái niệm của phạm trù triết học này lần đầu tiên được xuất hiện vào đầu thế kỷ XX và nguồn gốc của sự phát triển là tính thống nhất và đấu tranh qua các mặt đối lập trong bản thân sự vật và hiện tượng, làm cho sự vật hiện tượng không thể giữ nguyên trạng thái cũ Kết quả là mẫu thuẫn cũ mất đi, mâu thuẫn mới hình thành Phát triển không đơn thuần chỉ là sự tăng lên về lượng mà bao hàm cả sự biến đổi nhảy vọt về chất Phát triển bao hàm sự phủ định cái cũ và sự nảy sinh cái mới, sự lặp lại như cái cũ nhưng ở cấp độ cao hơn Như vậy có thể coi phát triển được hình dung như là hình xoáy ốc từ thấp đến cao
Như vậy, “Phát triển là khái niệm chỉ sự vận động của sự vật, hiện tượng theo chiều hướng tiến lên, cái mới, cái tiến bộ ra đời thay thế cái cũ, cái lạc hậu”
Phát triển kinh tế là quá trình biến đổi nền kinh tế quốc dân mà nền tảng là sự gia tăng sản xuất và nâng cao mức sống của dân cư Đối với các nước đang phát triển thì phát triển kinh tế là quá trình biến đổi từ nền kinh tế chậm phát triển, lạc hậu, đói nghèo trở thành một nền kinh tế có nền tảng công nghiệp thông qua quá trình CNH - HĐH, cơ cấu kinh tế, thể chế kinh tế, văn hóa, pháp luật bắt đầu có sự chuyển mình…
Như vậy nhắc đến phát triển kinh tế là đã bao hàm cả nội dung tăng trưởng kinh
tế Nó cũng là tiền đề và điều kiện tất yếu của phát triển kinh tế Các nhà kinh tế học cho rằng tăng trưởng kinh tế là cơ sở cho sự phát triển kinh tế, phát triển là mục đích của tăng trưởng và không thể có tăng trưởng sẽ không có phát triển Phát triển không chỉ bao gồm tăng trưởng kinh tế mà còn phải bao gồm cả sự biến chuyển của các yếu
tố khác trong nền kinh tế theo hướng tích cực hơn như thu hẹp sự bất bình đẳng xã hội, xóa đói giảm nghèo, cải cách cơ cấu xã hội và thể chế quốc gia để đảm bảo quyền lợi, nâng cao phúc lợi và trình độ văn hóa của đại đa số nhân dân
Doanh nghiệp nhỏ và vừa là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế, sự phát triển của DNNVV nói riêng và các DN nói chung sẽ góp phần tạo ra sự phát triển kinh
tế của mỗi quốc gia Khái niệm phát triển DN tuy được sử dụng trong khá nhiều công trình nghiên cứu khác nhau song đến nay vẫn chưa có khái niệm đồng nhất về phát triển DN nói chung và phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng
Trang 37Hiện nay, khái niệm phát triển DN thường được hiểu trước tiên là sự gia tăng về
số lượng doanh nghiệp, số lượng doanh nghiệp mới thành lập Phát triển DN của địa phương theo nghĩa này là sự tăng lên, lớn lên về số lượng của một tập hợp các DN, hệ thống các DN được phân định bởi địa giới lãnh thổ Phát triển DN theo nghĩa thông thường được nhận thức đó là sự mở rộng về quy mô DN Bên cạnh đó, phát triển DN không chỉ phản ánh ở trạng thái số lượng DN mà còn thể hiện ở sự thay đổi về chất của
sự phát triển DN Đó là sự phát triển DN ở trạng thái số lượng DN tăng lên song song với chất lượng của sự tăng trưởng tăng lên thông qua sự chuyển dịch cơ cấu DN và mức độ đóng góp vào nguồn thu ngân sách nhà nước, tạo việc làm cũng như nâng cao thu nhập cho người lao động trong doanh nghiệp
Các nhà nghiên cứu nước ngoài như Muhammad Abrar-ul-haq (2015) cũng như những nhà nghiên cứu trong nước như Trịnh Đức Chiều (2010), Nguyễn Thanh Liêm (2016) đều cho rằng có một mối quan hệ chặt chẽ giữa tăng trưởng và phát triển DN Bên cạnh đó, sự phát triển của doanh nghiệp không chỉ được đo bằng chỉ tiêu hiệu quả tài chính như tốc độ tăng trưởng doanh thu, tỷ suất lợi nhuận, năng suất lao động, mà còn thông qua các chỉ tiêu phi tài chính như sự đánh giá của chủ doanh nghiệp, cán bộ quản lý về sự phát triển của doanh nghiệp
1.3 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quá trình phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
Sự ra đời của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
Quá trình hình thành và phát triển của các DNNVV ở Việt Nam diễn ra từ khá lâu, trải qua nhiều giai đoạn chịu sự tác động sâu sắc của bối cảnh lịch sử, kinh tế xã hội Trong đó, phần lớn chịu sự ảnh hưởng của hai nguyên nhân chính là cuộc trường
kỳ kháng chiến kéo dài gần một thế kỷ và những quan điểm chính trị thời kỳ hậu chiến
Sau khi cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, cả nước bước vào giai đoạn kháng chiến chống Pháp Các DNNVV lúc này tồn tại cả ở vùng ta và vùng địch, các DNNVV ở vùng căn cứ đã đóng góp vai trò đáng kể, vừa phục vụ nhu cầu thời chiến của nhân dân, vừa đáp ứng nhu cầu hậu cần cho kháng chiến lâu dài
Sau năm 1954, cả miền Bắc bắt tay vào xây dựng lại đất nước trên con đường XHCN Thời kỳ này các DNNVV ra đời rất nhanh và nhiều, lúc này do sự chi phối của đường lối chính trị hình thức hợp tác xã, tổ hợp tác kinh doanh được khuyến khích phát
Trang 38triển, còn các DNNVV dưới hình thực sở hữu tư nhân thì bị loại trừ, lúc đó loại hình DNNVV tư nhân ở miền Nam lại rất phát triển
Sau khi thống nhất đất nước năm 1975 và đến trước đại hội Đảng lần thứ VI, trong giai đoạn này ở Miền Nam kinh tế tư nhân là hình thức bị kỳ thị và các DNNVV dưới hình thức sở hữu tư nhân buộc phải quốc hữu hóa DNNVV của tư nhân bị cải tạo, xóa bỏ, không khuyến khích phát triển Nếu muốn tồn tại thì phải tồn tại dưới dạng khác như dưới hình thức hộ gia đình, tổ hợp tác, hợp tác xã, công tư hợp danh
Quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân, là cơ sở phát triển DNNVV qua các lần đại hội
Đại hội VI của Đảng (năm 1986) nêu rõ: “Củng cố thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa bao gồm cả kinh tế quốc doanh và khu vực tập thể một cách toàn diện,… làm cho thành phần kinh tế này giữ vai trò chi phối trong nền kinh tế quốc dân… Bằng những biện pháp thích hợp, sử dụng mọi khả năng của các thành phần kinh tế khác trong sự liên kết chặt chẽ và dưới sự chỉ đạo của thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa” Đại hội VI cũng khẳng định “Cần sửa đổi, bổ sung và công bố rộng rãi chính sách nhất quán đối với các thành phần kinh tế… Xóa bỏ những thành kiến thiên lệch trong sự đánh giá và đối xử với người lao động thuộc các thành phần kinh tế khác nhau… tạo nên môi trường tâm lý xã hội thuận lợi cho việc thực hiện chính sách sử dụng và cải tạo nền kinh tế nhiều thành phần”
Đại hội VII khẳng định “Tiếp tục xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần và đổi mới quản lý kinh tế” Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) khẳng định là “Phát triển một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa Kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và mở rộng Kinh tế cá thể còn có phạm vi tương đối lớn, từng bước đi vào con đường làm ăn hợp tác trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi Tư bản tư nhân được kinh doanh trong những ngành, nghề có lợi cho quốc kế dân sinh do luật pháp quy định Phát triển kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức”…
Đại hội VIII (năm 1996) tiếp tục khẳng định “thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách này, khuyến khích mọi doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước khai thác các tiềm năng, ra sức đầu tư phát triển, yên tâm làm ăn lâu dài, hợp pháp, có lợi cho quốc
Trang 39kế dân sinh, đối xử bình đẳng với mọi thành phần kinh tế trước pháp luật, không phân biệt sở hữu và hình thức tổ chức kinh doanh”
Đại hội IX đã nâng lên một bước “Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần,
nhiều hình thức sở hữu”, “mọi doanh nghiệp, mọi công dân được đầu tư kinh doanh
theo các hình thức do luật định và được pháp luật bảo vệ Mọi tổ chức kinh doanh theo các hình thức sở hữu khác nhau hoặc đan xen hỗn hợp đều được khuyến khích phát triển lâu dài, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng và là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”
Tại Đại hội X, Đảng ta nêu rõ: “Trên cơ sở ba chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể,
tư nhân), hình thành nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài… Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế” Đây cũng là lần đầu tiên, kinh tế tư nhân được xác định chính thức với tư cách là một thành phần kinh tế được khuyến khích phát triển
Đến Đại hội XI, Đảng ta xác định phải: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát
triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế”
Đặc biệt tại Đại hội XII, Đảng đã khẳng định: “Nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật” Việc Đảng ta xác nhận “kinh tế tư nhân là một động lực
quan trọng” trong phát triển đất nước (Đại hội X mới ghi nhận: “Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế”)
Tại Đại hội XII cũng lần đầu tiên Đảng ta khẳng định chủ trương: “Khuyến khích hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước” Điều này cho thấy, Đảng ta đã nhận thấy rõ trong phát triển kinh tế, sự phát triển của các tập đoàn kinh tế tư nhân là một xu thế tất yếu, là một kênh quan trọng giúp Nhà nước thực thi nhiệm vụ kinh tế đã đề ra Ngày 03/6/2017 tại Hội nghị lần thứ 5 (khóa 12) thông qua Nghị quyết về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN “Kinh tế
Trang 40tư nhân là một động lực quan trọng để phát triển kinh tế Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cùng với kinh tế tư nhân là nòng cốt để phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ”
Đặc biệt, Đại hội XII của Đảng đã có những phát triển mới trong tư duy của Đảng về kinh tế tư nhân, phát triển kinh tế tư nhân Trong thời gian tới, với các chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện cụ thể, kinh tế tư nhân sẽ tiếp tục phát triển, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước
Các DNNVV ở Việt Nam đã trải qua 2 bước ngoặt tính từ giai đoạn đổi mới Bước ngoặt thứ nhất có thể xem như cởi trói cho doanh nghiệp là vào cuối thập niên
80, đầu thập niên 90 tạo cơ sở pháp lý cho sự ra đời của nhiều loại hình doanh nghiệp Bước ngoặt thứ hai kể từ khi Luật doanh nghiệp được ban hành vào 1/1/2000 Trong vòng một năm kể từ khi Luật doanh nghiệp có hiệu lực có 14.417 doanh nghiệp mới được thành lập Đồ thị 1.1 thể hiện số lượng doanh nghiệp đăng ký mới thành lập giai đoạn 2000-2019
Đồ thị 1-1 Số doanh nghiệp đăng ký mới thành lập
Từ năm 2000 trở đi, mỗi năm có từ 20.000 doanh nghiệp, rồi tăng thành 25.000 – 30.000 doanh nghiệp ra đời và dần lên đến khoảng 100.000 doanh nghiệp vào năm
2015 khi Luật Doanh nghiệp 2014 được ban hành và thực thi Đặc biệt, vào các năm
2016, 2017 và 2018, số lượng doanh nghiệp thành lập mới liên tục lên cao và thiết lập các kỷ lục mới 110.000, 126.000 và 131.100 doanh nghiệp Sáu tháng đầu năm 2019,
có gần 67.000 công ty sáng lập mới, tăng 4%, tăng hơn 31% so với cùng kỳ năm trước