LỜI CÁM ƠN Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Quí thầy cô khoa đào tạo Sau đại học, khoa Kiến trúc và Qui hoạch trƣờng Đại học Xây dựng Hà Nội, các thầy cô giáo trực tiếp đóng góp ý kiến quí báu qua các kỳ seminar, các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ tận tình, tạo điều kiện tốt cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận án. Đặc biệt, tôi vô cùng thƣơng tiếc và biết ơn cố NGƢT, GS, TSKH, KTS Nguyễn Mạnh Thu đã hết lòng giúp đỡ và tận tình hƣớng dẫn tôi thực hiện luận án này. Dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện, song chắc chắn rằng luận án sẽ không thể tránh khỏi thiếu sót. Tác giả rất mong nhận đƣợc sự góp ý, chỉ dẫn của Quí thầy cô và các bạn đồng nghiệp. Xin chân thành cám ơn. Tác giả luận án Nguyễn Văn Chƣơngiii LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chƣa đƣợc công bố trong các công trình khác. NGHIÊN CỨU SINH NGUYỄN VĂN CHƢƠNG iv MỤC LỤC Trang phụ bìa ............................................................................................................i Lời cám ơn ................................................................................................................ii Lời cam đoan .......................................................................................................... iii Mục lục......................................................................................................................iv Danh mục các bảng ..................................................................................................ix Danh mục các hình vẽ ..............................................................................................x MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1 1. Lý do chọn đề tài và tính cấp thiết của đề tài..........................................................1 2. Mục tiêu và mục đích nghiên cứu của đề tài...........................................................4 3. Nội dung nghiên cứu của đề tài...............................................................................4 4. Kết quả của luận án .................................................................................................4 5. Cấu trúc luận văn ....................................................................................................5 Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ KHÁI NIỆM YẾU TỐ NƠI CHỐN TRONG TỔ CHỨC KHÔNG GIAN ĐÔ THỊ.........................................................7 1.1 Những khái niệm về Nơi chốn, Tinh thần nơi chốn và việc tạo lập bản sắc đô thị ..7 1.1.1 Những khái niệm về Nơi chốn, Tinh thần nơi chốn....................................7 1.1.1.1 Nơi chốn...............................................................................................7 1.1.1.2 Tinh thần nơi chốn ...............................................................................9 1.1.2 Bản sắc và các yếu tố tạo thành bản sắc....................................................10 1.1.2.1 Bản sắc và bản sắc đô thị ...................................................................10 1.1.2.2 Bản sắc đô thị và các yếu tố tạo thành bản sắc đô thị........................12 1.2 Yếu tố Nơi chốn trong tổ chức không gian đô thị Đà Nẵng . .............................13 1.3 Yếu tố nơi chốn trong tổ chức không gian ở một số đô thị đặc trƣng của Việt Nam. ...................................................................................................................19 1.3.1 Đô thị Huế ................................................................................................19 1.3.2 Thành phố Đà Lạt .....................................................................................22 1.3.3 Thành phố Hồ Chí Minh ..........................................................................25 1.3.4 Thành phố Hà Nội ....................................................................................28v 1.4 Yếu tố nơi chốn trở thành bản sắc trong tổ chức không gian một số thành phố hiện đại trên thế giới...........................................................................................32 1.4.1 Thành phố Hong Kong..............................................................................32 1.4.1.1 Bối cảnh chung...................................................................................32 1.4.1.2 Đặc trƣng nơi chốn và bản sắc ..........................................................33 1.4.2 Thành phố Rome .......................................................................................34 1.4.2.1 Bối cảnh chung...................................................................................34 1.4.1.2 Đặc trƣng nơi chốn và bản sắc ..........................................................35 1.4.3 Thành phố Prague......................................................................................36 1.4.3.1 Bối cảnh chung...................................................................................36 1.4.3.2 Đặc trƣng nơi chốn và bản sắc .........................................................36 1.4.4 Thành phố Khartoum ................................................................................37 1.4.4.1 Bối cảnh chung...................................................................................37 1.4.4.2 Đặc trƣng nơi chốn và bản sắc ..........................................................38 1.5 Đối tƣợng, phƣơng pháp nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài ............39 1.5.1 Đối tƣợng nghiên cứu................................................................................39 1.5.2 Phƣơng pháp nghiên cứu...........................................................................39 1.5.3 Phạm vi nghiên cứu...................................................................................39 1.6 Kết luận chƣơng ..................................................................................................40 Chƣơng 2: CÁC LUẬN CỨ KHOA HỌC ĐỂ NHẬN DIỆN VÀ KHAI THÁC YẾU TỐ NƠI CHỐN TRONG VIỆC TẠO DỰNG BẢN SẮC KHÔNG GIAN ĐÔ THỊ .....................................................................58 2.1 Những cơ sở lý thuyết liên quan đến Nơi chốn và Tinh thần Nơi chốn ............58 2.1.1 Những lý thuyết của Phƣơng Tây .............................................................58 2.1.1.1 Không gian và Nơi chốn Các yếu tố tạo nên Hình ảnh đô thị ............58 2.1.1.2 Thời gian và Nơi chốn trong tổ chức không gian đô thị ...................62 2.1.1.3 Mối quan hệ giữa Nhận thức của con ngƣời và Nơi chốn trong tổ chức không gian đô thị. .....................................................................64 2.1.2 Những quan niệm về Nơi chốn trong triết học của Phƣơng Đông............65vi 2.1.2.1 Thuyết Tam tài ..................................................................................65 2.1.2.2 Thuật Phong thủy .............................................................................67 2.2 Nhận thức về yếu tố nơi chốn trong việc tạo dựng bản sắc không gian đô thị......72 2.2.1 Các đặc trƣng của yếu tố nơi chốn . ..........................................................72 2.2.2 Vai trò của yếu tố Nơi chốn trong việc tạo dựng bản sắc không gian đô thị 75 2.3 Những bài học kinh nghiệm liên quan đến Nơi chốn và Tinh thần Nơi chốn ....76 2.3.1 Những bài học kinh nghiệm về khai thác yếu tố Nơi chốn trong việc tạo lập bản sắc đô thị trên thế giới .................................................................76 2.3.1.1 Đô thị châu Á .....................................................................................76 2.3.1.2 Đô thị châu Âu ..................................................................................78 2.3.1.3 Đô thị châu Mỹ ................................................................................80 2.3.2 Những bài học kinh nghiệm của kiến trúc truyền thống Việt Nam về khai thác yếu tố Nơi chốn trong tạo lập bản sắc kiến trúc.....................................82 2.3.2.1 Kinh nghiệm của dân tộc Việt ...........................................................83 2.3.2.2 Kinh nghiệm của các dân tộc Tây Nguyên ........................................85 2.3.2.3 Kinh nghiệm của các dân tộc vùng núi phía Bắc..............................85 2.4 Những đặc thù của đô thị Việt Nam dƣới góc độ Nơi chốn và tinh thần Nơi chốn.86 2.4.1 Bối cảnh phát triển về điều kiện địa lý tự nhiên .......................................86 2.4.2 Bối cảnh phát triển về kinh tế xã hội ......................................................87 2.4.2.1 Lịch sử và truyền thống văn hóa........................................................88 2.4.2.2 Toàn cầu hóa, quốc tế hóa, địa phƣơng hóa.......................................89 2.5 Kết quả điều tra Xã hội học về Nơi chốn ở đô thị Đà Nẵng ..............................90 2.5.1 Mục đích việc điều tra...............................................................................90 2.5.2 Phƣơng pháp, quy mô và khu vực điều tra ...............................................90 2.5.3 Kết quả điều tra .........................................................................................91 2.5.3.1 Những câu trả lời phổ biến: ...............................................................91 2.5.3.2 Những hình ảnh đặc thù của Đà Nẵng dƣới góc độ Nơi chốn và Tinh thần nơi chốn......................................................................................93vii Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU NHỮNG ĐỀ XUẤT NHẰM NHẬN DIỆN VÀ KHAI THÁC YẾU TỐ NƠI CHỐN TRONG TỔ CHỨC KHÔNG GIAN ĐÔ THỊ CÓ BẢN SẮC ......................................................117 3.1 Nhận diện yếu tố Nơi chốn trong tổ chức không gian đô thị..........................117 3.1.1 Những nguyên tắc chung cho việc nhận diện yếu tố Nơi chốn và Tinh thần nơi chốn trong đô thị .......................................................................117 3.1.2 Nhận diện yếu tố Nơi chốn dƣới góc độ không gian vật chất ..........118 3.1.3 Nhận diện yếu tố nơi chốn dƣới góc độ không gian xã hội .........................119 3.2 Khai thác yếu tố Nơi chốn trong việc tạo dựng bản sắc không gian đô thị........120 3.2.1 Mối quan hệ giữa khai thác các yếu tố Nơi chốn và sự phát triển đô thị bền vững .................................................................................................120 3.2.2 Những nguyên tắc chung cho việc khai thác yếu tố nơi chốn và tinh thần nơi chốn trong đô thị ..............................................................................122 3.2.3 Khai thác yếu tố Nơi chốn dƣới góc độ không gian vật chất của đô thị......123 3.2.3.1 Môi trƣờng tự nhiên .........................................................................123 3.2.3.2 Môi trƣờng xây dựng .......................................................................125 3.2.4 Khai thác yếu tố nơi chốn dƣới góc độ không gian xã hội của đô thị....131 3.2.4.1 Khai thác các yếu tố về văn hóa xây dựng ......................................131 3.2.4.2 Tổ chức môi trƣờng hỗ trợ giao tiếp xã hội ....................................132 3.2.4.3 Tăng cƣờng mối liên hệ với lịch sử: ................................................133 3.3 Nhận diện và khai thác yếu tố Nơi chốn trong việc tạo dựng bản sắc không gian đô thị Đà Nẵng .................................................................................................133 3.3.1 Nhận diện yếu tố Nơi chốn của đô thị Đà Nẵng ....................................133 3.3.1.1 Nhận diện yếu tố Nơi chốn của đô thị Đà Nẵng dƣới góc độ không gian vật chất .....................................................................................133 3.3.1.2 Nhận diện yếu tố nơi chốn của đô thị Đà Nẵng dƣới góc độ không gian xã hội........................................................................................143 3.3.2 Khai thác yếu tố nơi chốn trong cải tạo và phát triển không gian đô thị Đà Nẵng có bản sắc......................................................................................145viii 3.3.2.1 Khai thác yếu tố nơi chốn trong cải tạo và phát triển đô thị Đà Nẵng dƣới góc độ không gian vật chất ......................................................145 3.3.2.2 Khai thác yếu tố nơi chốn trong cải tạo và phát triển đô thị Đà Nẵng dƣới góc độ không gian xã hội.........................................................153 3.3.3 Minh họa cụ thể......................................................................................156 4.1 Khẳng định vai trò của Nơi chốn và Tinh thần nơi chốn trong việc tạo lập bản sắc đô thị...........................................................................................................180 4.1.1 Lý thuyết Nơi chốn và Tinh thần nơi chốn mở ra một hƣớng nhận thức toàn diện về đô thị nhƣ một cơ thể sống với đầy đủ các yếu tố vật chất và tinh thần..................................................................................................180 4.1.2 Lý thuyết Nơi chốn và Tinh thần nơi chốn mở ra một hƣớng tiếp cận mới để có đƣợc một đô thị đặc trƣng và phát triển bền vững. ...................181 4.1.3 Lý thuyết Nơi chốn và Tinh thần nơi chốn chỉ ra đƣợc những yếu tố cơ bản hình thành nên bản sắc đô thị. ..................................................181 4.1.4 Lý thuyết Nơi chốn và Tinh thần nơi chốn chỉ ra phƣơng pháp nhận diện bản sắc đô thị một cách tổng hợp nhất.............................................183 4.2 Nội dung của việc khai thác yếu tố Nơi chốn trong tổ chức không gian đô thị ....184 4.2.1 Các nguyên tắc định hƣớng việc xây dựng đô thị có bản sắc .................184 4.2.2 Các giải pháp định hƣớng việc xây dựng đô thị có bản sắc....................185 4.3 Khả năng và phạm vi vận dụng lý thuyết Nơi chốn và Tinh thần nơi chốn trong việc tổ chức không gian đô thị .........................................................................185 4.3.1 Khả năng vận dụng lý thuyết Nơi chốn và Tinh thần nơi chốn trong việc tổ chức không gian đô thị...............................................................185 4.3.2 Phạm vi vận dụng lý thuyết Nơi chốn và Tinh thần nơi chốn trong việc tổ chức không gian đô thị...................................................................186 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ..............................................................................189 I. Kết luận ..............................................................................................................189 1. Lý thuyết Nơi chốn và Tinh thần nơi chốn: .................................................189 2. Nhận diện yếu tố Nơi chốn và Tinh thần nơi chốn của đô thị Đà Nẵng:.....190ix 3. Khai thác yếu tố nơi chốn trong qui hoạch đô thị Đà Nẵng:.......................190 II. Kiến nghị...........................................................................................................191 1. Kiến nghị từ góc độ quản lý nhà nƣớc của Bộ Xây dựng............................191 2. Kiến nghị từ góc độ quản lý nhà nƣớc của Thành phố ...............................192 3. Kiến nghị từ góc độ đào tạo trong các Trƣờng và các Viện nghiên cứu .....192 TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................193 DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ ...........................................................196 PHỤ LỤCx DANH MỤC CÁC BẢNG STT Tên bảng Trang 1 B.3.1 Mối quan hệ giữa Nơi chốn, Tinh thần Nơi chốn và không gian văn hóa đô thị 159 2 B.3.2 Nơi chốn, Tinh thần Nơi chốn trong không gian đô thị Đà Nẵng 160 3 B.3.3 Các yếu tố tạo lập và biến đổi hình thái học trong không gian đô thị Đà Nẵng 161xi DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ STT Tên hình vẽ Trang 1 H.1.1 Những khái niệm về Nơi chốn, tinh thần của Nơi chốn 42 2 H.1.2 Những khái niệm về bản sắc, bản sắc đô thị 43 3 H.1.3 Đà Nẵng : Yếu tố Nơi chốn và lịch sử phát triển đô thị 44 4 H.1.4 Đà Nẵng : Khai thác yếu tố Nơi chốn trong phát triển đô thị 45 5 H.1.5 Huế: Yếu tố Nơi chốn và lịch sử phát triển đô thị 46 6 H.1.6 Huế: Khai thác yếu tố Nơi chốn trong phát triển đô thị 47 7 H.1.7 Đà Lạt: Yếu tố Nơi chốn và lịch sử phát triển đô thị 48 8 H.1.8 Đà Lạt: Khai thác yếu tố Nơi chốn trong phát triển đô thị 49 9 H.1.9 Tp. Hồ Chí Minh: Yếu tố Nơi chốn và lịch sử phát triển đô thị 50 10 H.1.10 Tp. Hồ Chí Minh: Khai thác yếu tố Nơi chốn trong phát triển đô thị 51 11 H.1.11 Hà Nội: Yếu tố Nơi chốn và lịch sử phát triển đô thị 52 12 H.1.12 Hà Nội: Khai thác yếu tố Nơi chốn trong phát triển đô thị 53 13 H.1.13 Yếu tố Nơi chốn trong tổ chức không gian đô thị thế giới (HongKong) 54 14 H.1.14 Yếu tố Nơi chốn trong tổ chức không gian đô thị thế giới (Rome) 55 15 H.1.15 Yếu tố Nơi chốn trong tổ chức không gian đô thị thế giới (Prague) 56 16 H.1.16 Yếu tố Nơi chốn trong tổ chức không gian đô thị thế giới (Khartoum) 57 17 H.2.1 Lý thuyết Hình ảnh đô thị của Kevin Lynch 95 18 H.2.2 Lý thuyết Hình ảnh đô thị của Kevin Lynch Hình ảnh đô thị Boston 96xii 19 H.2.3 Lý thuyết Hình ảnh đô thị của Kevin Lynch Hình ảnh đô thị Florence 97 20 H.2.4 Lý thuyết Hình ảnh đô thị của Kevin Lynch Hình ảnh đô thị trong đô thị cổ 98 21 H.2.5 Lý thuyết Hình ảnh đô thị của Kevin Lynch Tổ chức không gian đô thị Việt Nam dƣới góc độ hình ảnh đô thị 99 22 H.2.6 Mối quan hệ giữa không gian và nơi chốn – Lý thuyết của Norber Schulz 100 23 H.2.7 Mối quan hệ giữa không gian và nơi chốn Đặc trƣng hình thái học trong tổ chức không gian đô thị 101 24 H.2.8 Mối quan hệ giữa không gian và nơi chốn Đặc trƣng Topo học trong tổ chức không gian đô thị 102 25 H.2.9 Mối quan hệ giữa không gian và nơi chốn Đặc trƣng hình học trong tổ chức không gian đô thị 103 26 H.2.10 Mối quan hệ giữa thời gian và Nơi chốn 104 27 H.2.11 Mối quan hệ giữa nhận thức con ngƣời và Nơi chốn 105 28 H.2.12 Thuyết Tam tài và Thuật Phong thủy 106 29 H.2.13 Thuyết Tam tài và Thuật Phong thủy Phân tích đặc tính các đô thị Việt Nam dƣới góc độ phong thủy 107 30 H.2.14 Các đặc trƣng của yếu tố nơi chốn 108 31 H.2.15 Kinh nghiệm khai thác yếu tố Nơi chốn trong tổ chức không gian đô thị HongKong 109 32 H.2.16 Kinh nghiệm khai thác yếu tố Nơi chốn trong tổ chức không gian đô thị Paris 110 33 H.2.17 Kinh nghiệm khai thác yếu tố Nơi chốn trong tổ chức không gian đô thị Berlin 111 34 H.2.18 Kinh nghiệm khai thác yếu tố Nơi chốn trong tổ chức không gian đô thị ở Châu Âu 112 35 H.2.19 Kinh nghiệm khai thác yếu tố Nơi chốn trong tổ chức 113xiii không gian đô thị ở Mỹ 36 H.2.20 Kinh nghiệm khai thác yếu tố Nơi chốn trong tổ chức không gian đô thị ở Việt Nam 114 37 H.2.21 Kinh nghiệm khai thác yếu tố Nơi chốn trong tổ chức không gian đô thị ở Việt Nam 115 38 H.2.22 Kết quả điều tra xã hội học về Nơi chốn ở đô thị Đà Nẵng 116 39 H.3.1 Nhận diện yếu tố Nơi chốn dƣới góc độ không gian vật chất 162 40 H.3.2 Nhận diện yếu tố Nơi chốn dƣới góc độ không gian xã hội 163 41 H.3.3 Khai thác yếu tố Nơi chốn dƣới góc độ không gian vật chất đô thị Khai thác yếu tố địa hình 164 42 H.3.4 Khai thác yếu tố Nơi chốn dƣới góc độ không gian vật chất đô thị Khai thác yếu tố mặt nƣớc 165 43 H.3.5 Khai thác yếu tố Nơi chốn dƣới góc độ không gian vật chất đô thị Khai thác yếu tố bầu trời 166 44 H.3.6 Khai thác yếu tố Nơi chốn dƣới góc độ không gian vật chất đô thị Khai thác các mô hình tổ chức đô thị 167 45 H.3.7 Khai thác yếu tố Nơi chốn dƣới góc độ không gian xã hội đô thị Khai thác các yếu tố về văn hóa xây dựng và kiến trúc địa phƣơng 168 46 H.3.8 Khai thác yếu tố Nơi chốn dƣới góc độ không gian xã hội đô thị Tổ chức không gian đô thị hỗ trợ giao tiếp xã hội 169 47 H.3.9 Nhận diện yếu tố Nơi chốn của đô thị Đà Nẵng 170 48 H.3.10 Nhận diện yếu tố Nơi chốn của đô thị Đà Nẵng 171 49 H.3.11 Nhận diện yếu tố Nơi chốn của đô thị Đà Nẵng 172 50 H.3.12 Nhận diện yếu tố Nơi chốn của đô thị Đà Nẵng 173 51 H.3.13 Một số bối cảnh kinh tế xã hội, hình thái kiến trúc qua các thời kỳ phát triển 174xiv 52 H.3.14 Nhận diện yếu tố Nơi chốn trong môi trƣờng xã hội của đô thị Đà Nẵng 175 53 H.3.15 Khai thác yếu tố nơi chốn trong cải tạo và phát triển không gian đô thị có bản sắc 176 54 H.3.16 Đƣờng Bạch Đằng trƣớc khi cải tạo 177 55 H.3.17 Đƣờng Bạch Đằng cải tạo mới 178 56 H.3.18 Cảnh quan đƣờng Bạch Đẳng 1791 MỞ ĐẦU
Trang 1i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG
NGUYỄN VĂN CHƯƠNG
KHAI THÁC YẾU TỐ NƠI CHỐN NHẰM TẠO LẬP
BẢN SẮC ĐÔ THỊ LẤY THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG LÀM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
Chuyên ngành: Qui hoạch Đô thị và Nông thôn
Mã số : 62.58.05.05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KIẾN TRÚC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TSKH NGUYỄN MẠNH THU
Đà Nẵng - 2011
Trang 2ii
LỜI CÁM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Quí thầy cô khoa đào tạo Sau đại học, khoa Kiến trúc và Qui hoạch trường Đại học Xây dựng Hà Nội, các thầy cô giáo trực tiếp đóng góp ý kiến quí báu qua các kỳ seminar, các bạn đồng nghiệp đã giúp
đỡ tận tình, tạo điều kiện tốt cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận án Đặc biệt, tôi vô cùng thương tiếc và biết ơn cố NGƯT, GS, TSKH, KTS Nguyễn Mạnh Thu đã hết lòng giúp đỡ và tận tình hướng dẫn tôi thực hiện luận
án này
Dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện, song chắc chắn rằng luận án
sẽ không thể tránh khỏi thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự góp ý, chỉ dẫn của Quí thầy cô và các bạn đồng nghiệp
Xin chân thành cám ơn
Tác giả luận án Nguyễn Văn Chương
Trang 3iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác
NGHIÊN CỨU SINH
NGUYỄN VĂN CHƯƠNG
***
Trang 4iv
MỤC LỤC
Trang phụ bìa i
Lời cám ơn ii
Lời cam đoan iii
Mục lục iv
Danh mục các bảng ix
Danh mục các hình vẽ x
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài và tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu và mục đích nghiên cứu của đề tài 4
3 Nội dung nghiên cứu của đề tài 4
4 Kết quả của luận án 4
5 Cấu trúc luận văn 5
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ KHÁI NIỆM YẾU TỐ NƠI CHỐN TRONG TỔ CHỨC KHÔNG GIAN ĐÔ THỊ 7
1.1 Những khái niệm về Nơi chốn, Tinh thần nơi chốn và việc tạo lập bản sắc đô thị 7
1.1.1 Những khái niệm về Nơi chốn, Tinh thần nơi chốn 7
1.1.1.1 Nơi chốn 7
1.1.1.2 Tinh thần nơi chốn 9
1.1.2 Bản sắc và các yếu tố tạo thành bản sắc 10
1.1.2.1 Bản sắc và bản sắc đô thị 10
1.1.2.2 Bản sắc đô thị và các yếu tố tạo thành bản sắc đô thị 12
1.2 Yếu tố Nơi chốn trong tổ chức không gian đô thị Đà Nẵng 13
1.3 Yếu tố nơi chốn trong tổ chức không gian ở một số đô thị đặc trưng của Việt Nam 19
1.3.1 Đô thị Huế 19
1.3.2 Thành phố Đà Lạt 22
1.3.3 Thành phố Hồ Chí Minh 25
1.3.4 Thành phố Hà Nội 28
Trang 5v
1.4 Yếu tố nơi chốn trở thành bản sắc trong tổ chức không gian một số thành phố
hiện đại trên thế giới 32
1.4.1 Thành phố Hong Kong 32
1.4.1.1 Bối cảnh chung 32
1.4.1.2 Đặc trưng nơi chốn và bản sắc 33
1.4.2 Thành phố Rome 34
1.4.2.1 Bối cảnh chung 34
1.4.1.2 Đặc trưng nơi chốn và bản sắc 35
1.4.3 Thành phố Prague 36
1.4.3.1 Bối cảnh chung 36
1.4.3.2 Đặc trưng nơi chốn và bản sắc 36
1.4.4 Thành phố Khartoum 37
1.4.4.1 Bối cảnh chung 37
1.4.4.2 Đặc trưng nơi chốn và bản sắc 38
1.5 Đối tượng, phương pháp nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài 39
1.5.1 Đối tượng nghiên cứu 39
1.5.2 Phương pháp nghiên cứu 39
1.5.3 Phạm vi nghiên cứu 39
1.6 Kết luận chương 40
Chương 2: CÁC LUẬN CỨ KHOA HỌC ĐỂ NHẬN DIỆN VÀ KHAI THÁC YẾU TỐ NƠI CHỐN TRONG VIỆC TẠO DỰNG BẢN SẮC KHÔNG GIAN ĐÔ THỊ 58
2.1 Những cơ sở lý thuyết liên quan đến Nơi chốn và Tinh thần Nơi chốn 58
2.1.1 Những lý thuyết của Phương Tây 58
2.1.1.1 Không gian và Nơi chốn - Các yếu tố tạo nên Hình ảnh đô thị 58
2.1.1.2 Thời gian và Nơi chốn trong tổ chức không gian đô thị 62
2.1.1.3 Mối quan hệ giữa Nhận thức của con người và Nơi chốn trong tổ chức không gian đô thị 64
2.1.2 Những quan niệm về Nơi chốn trong triết học của Phương Đông 65
Trang 6vi
2.1.2.1 Thuyết Tam tài 65
2.1.2.2 Thuật Phong thủy 67
2.2 Nhận thức về yếu tố nơi chốn trong việc tạo dựng bản sắc không gian đô thị 72
2.2.1 Các đặc trưng của yếu tố nơi chốn 72
2.2.2 Vai trò của yếu tố Nơi chốn trong việc tạo dựng bản sắc không gian đô thị 75 2.3 Những bài học kinh nghiệm liên quan đến Nơi chốn và Tinh thần Nơi chốn 76
2.3.1 Những bài học kinh nghiệm về khai thác yếu tố Nơi chốn trong việc tạo
lập bản sắc đô thị trên thế giới 76
2.3.1.1 Đô thị châu Á 76
2.3.1.2 Đô thị châu Âu 78
2.3.1.3 Đô thị châu Mỹ 80
2.3.2 Những bài học kinh nghiệm của kiến trúc truyền thống Việt Nam về khai thác yếu tố Nơi chốn trong tạo lập bản sắc kiến trúc 82
2.3.2.1 Kinh nghiệm của dân tộc Việt 83
2.3.2.2 Kinh nghiệm của các dân tộc Tây Nguyên 85
2.3.2.3 Kinh nghiệm của các dân tộc vùng núi phía Bắc 85
2.4 Những đặc thù của đô thị Việt Nam dưới góc độ Nơi chốn và tinh thần Nơi chốn 86 2.4.1 Bối cảnh phát triển về điều kiện địa lý tự nhiên 86
2.4.2 Bối cảnh phát triển về kinh tế - xã hội 87
2.4.2.1 Lịch sử và truyền thống văn hóa 88
2.4.2.2 Toàn cầu hóa, quốc tế hóa, địa phương hóa 89
2.5 Kết quả điều tra Xã hội học về Nơi chốn ở đô thị Đà Nẵng 90
2.5.1 Mục đích việc điều tra 90
2.5.2 Phương pháp, quy mô và khu vực điều tra 90
2.5.3 Kết quả điều tra 91
2.5.3.1 Những câu trả lời phổ biến: 91
2.5.3.2 Những hình ảnh đặc thù của Đà Nẵng dưới góc độ Nơi chốn và Tinh
thần nơi chốn 93
Trang 7vii
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU- NHỮNG ĐỀ XUẤT NHẰM NHẬN
DIỆN VÀ KHAI THÁC YẾU TỐ NƠI CHỐN TRONG TỔ CHỨC
KHÔNG GIAN ĐÔ THỊ CÓ BẢN SẮC 117
3.1 Nhận diện yếu tố Nơi chốn trong tổ chức không gian đô thị 117
3.1.1 Những nguyên tắc chung cho việc nhận diện yếu tố Nơi chốn và Tinh
thần nơi chốn trong đô thị 117
3.1.2 Nhận diện yếu tố Nơi chốn dưới góc độ không gian vật chất 118
3.1.3 Nhận diện yếu tố nơi chốn dưới góc độ không gian xã hội 119
3.2 Khai thác yếu tố Nơi chốn trong việc tạo dựng bản sắc không gian đô thị 120
3.2.1 Mối quan hệ giữa khai thác các yếu tố Nơi chốn và sự phát triển đô thị bền vững 120
3.2.2 Những nguyên tắc chung cho việc khai thác yếu tố nơi chốn và tinh thần nơi chốn trong đô thị 122
3.2.3 Khai thác yếu tố Nơi chốn dưới góc độ không gian vật chất của đô thị 123
3.2.3.1 Môi trường tự nhiên 123
3.2.3.2 Môi trường xây dựng 125
3.2.4 Khai thác yếu tố nơi chốn dưới góc độ không gian xã hội của đô thị 131
3.2.4.1 Khai thác các yếu tố về văn hóa xây dựng 131
3.2.4.2 Tổ chức môi trường hỗ trợ giao tiếp xã hội 132
3.2.4.3 Tăng cường mối liên hệ với lịch sử: 133
3.3 Nhận diện và khai thác yếu tố Nơi chốn trong việc tạo dựng bản sắc không gian đô thị Đà Nẵng 133
3.3.1 Nhận diện yếu tố Nơi chốn của đô thị Đà Nẵng 133
3.3.1.1 Nhận diện yếu tố Nơi chốn của đô thị Đà Nẵng dưới góc độ không gian vật chất 133
3.3.1.2 Nhận diện yếu tố nơi chốn của đô thị Đà Nẵng dưới góc độ không gian xã hội 143
3.3.2 Khai thác yếu tố nơi chốn trong cải tạo và phát triển không gian đô thị Đà Nẵng có bản sắc 145
Trang 8viii
3.3.2.1 Khai thác yếu tố nơi chốn trong cải tạo và phát triển đô thị Đà Nẵng
dưới góc độ không gian vật chất 145
3.3.2.2 Khai thác yếu tố nơi chốn trong cải tạo và phát triển đô thị Đà Nẵng dưới góc độ không gian xã hội 153
3.3.3 Minh họa cụ thể 156
4.1 Khẳng định vai trò của Nơi chốn và Tinh thần nơi chốn trong việc tạo lập bản sắc đô thị 180
4.1.1 Lý thuyết Nơi chốn và Tinh thần nơi chốn mở ra một hướng nhận thức toàn diện về đô thị như một cơ thể sống với đầy đủ các yếu tố vật chất và tinh thần 180
4.1.2 Lý thuyết Nơi chốn và Tinh thần nơi chốn mở ra một hướng tiếp cận mới để có được một đô thị đặc trưng và phát triển bền vững 181
4.1.3 Lý thuyết Nơi chốn và Tinh thần nơi chốn chỉ ra được những yếu tố cơ bản hình thành nên bản sắc đô thị 181
4.1.4 Lý thuyết Nơi chốn và Tinh thần nơi chốn chỉ ra phương pháp nhận diện bản sắc đô thị một cách tổng hợp nhất 183
4.2 Nội dung của việc khai thác yếu tố Nơi chốn trong tổ chức không gian đô thị 184
4.2.1 Các nguyên tắc định hướng việc xây dựng đô thị có bản sắc 184
4.2.2 Các giải pháp định hướng việc xây dựng đô thị có bản sắc 185
4.3 Khả năng và phạm vi vận dụng lý thuyết Nơi chốn và Tinh thần nơi chốn trong việc tổ chức không gian đô thị 185
4.3.1 Khả năng vận dụng lý thuyết Nơi chốn và Tinh thần nơi chốn trong việc tổ chức không gian đô thị 185
4.3.2 Phạm vi vận dụng lý thuyết Nơi chốn và Tinh thần nơi chốn trong việc tổ chức không gian đô thị 186
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 189
I Kết luận 189
1 Lý thuyết Nơi chốn và Tinh thần nơi chốn: 189
2 Nhận diện yếu tố Nơi chốn và Tinh thần nơi chốn của đô thị Đà Nẵng: 190
Trang 9ix
3 Khai thác yếu tố nơi chốn trong qui hoạch đô thị Đà Nẵng: 190
II Kiến nghị 191
1 Kiến nghị từ góc độ quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng 191
2 Kiến nghị từ góc độ quản lý nhà nước của Thành phố 192
3 Kiến nghị từ góc độ đào tạo trong các Trường và các Viện nghiên cứu 192
TÀI LIỆU THAM KHẢO 193
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ 196 PHỤ LỤC
Trang 10x
DANH MỤC CÁC BẢNG
1 B.3.1 Mối quan hệ giữa Nơi chốn, Tinh thần Nơi chốn và
2 B.3.2 Nơi chốn, Tinh thần Nơi chốn trong không gian đô thị
3 B.3.3 Các yếu tố tạo lập và biến đổi hình thái học trong không
Trang 11xi
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
1 H.1.1 Những khái niệm về Nơi chốn, tinh thần của Nơi chốn 42
2 H.1.2 Những khái niệm về bản sắc, bản sắc đô thị 43
3 H.1.3 Đà Nẵng : Yếu tố Nơi chốn và lịch sử phát triển đô thị 44
4 H.1.4 Đà Nẵng : Khai thác yếu tố Nơi chốn trong phát triển đô
5 H.1.5 Huế: Yếu tố Nơi chốn và lịch sử phát triển đô thị 46
6 H.1.6 Huế: Khai thác yếu tố Nơi chốn trong phát triển đô thị 47
7 H.1.7 Đà Lạt: Yếu tố Nơi chốn và lịch sử phát triển đô thị 48
8 H.1.8 Đà Lạt: Khai thác yếu tố Nơi chốn trong phát triển đô thị 49
9 H.1.9 Tp Hồ Chí Minh: Yếu tố Nơi chốn và lịch sử phát triển
10 H.1.10 Tp Hồ Chí Minh: Khai thác yếu tố Nơi chốn trong phát
11 H.1.11 Hà Nội: Yếu tố Nơi chốn và lịch sử phát triển đô thị 52
12 H.1.12 Hà Nội: Khai thác yếu tố Nơi chốn trong phát triển đô thị 53
13 H.1.13 Yếu tố Nơi chốn trong tổ chức không gian đô thị thế giới
17 H.2.1 Lý thuyết Hình ảnh đô thị của Kevin Lynch 95
18 H.2.2 Lý thuyết Hình ảnh đô thị của Kevin Lynch - Hình ảnh đô
Trang 12xii
19 H.2.3 Lý thuyết Hình ảnh đô thị của Kevin Lynch - Hình ảnh
20 H.2.4 Lý thuyết Hình ảnh đô thị của Kevin Lynch - Hình ảnh
21 H.2.5 Lý thuyết Hình ảnh đô thị của Kevin Lynch - Tổ chức
không gian đô thị Việt Nam dưới góc độ hình ảnh đô thị 99
22 H.2.6 Mối quan hệ giữa không gian và nơi chốn – Lý thuyết
23 H.2.7 Mối quan hệ giữa không gian và nơi chốn - Đặc trưng
hình thái học trong tổ chức không gian đô thị 101
24 H.2.8 Mối quan hệ giữa không gian và nơi chốn - Đặc trưng
Topo học trong tổ chức không gian đô thị 102
25 H.2.9 Mối quan hệ giữa không gian và nơi chốn - Đặc trưng
hình học trong tổ chức không gian đô thị 103
26 H.2.10 Mối quan hệ giữa thời gian và Nơi chốn 104
27 H.2.11 Mối quan hệ giữa nhận thức con người và Nơi chốn 105
28 H.2.12 Thuyết Tam tài và Thuật Phong thủy 106
29 H.2.13 Thuyết Tam tài và Thuật Phong thủy - Phân tích đặc tính
các đô thị Việt Nam dưới góc độ phong thủy 107
30 H.2.14 Các đặc trưng của yếu tố nơi chốn 108
31 H.2.15 Kinh nghiệm khai thác yếu tố Nơi chốn trong tổ chức
32 H.2.16 Kinh nghiệm khai thác yếu tố Nơi chốn trong tổ chức
33 H.2.17 Kinh nghiệm khai thác yếu tố Nơi chốn trong tổ chức
34 H.2.18 Kinh nghiệm khai thác yếu tố Nơi chốn trong tổ chức
35 H.2.19 Kinh nghiệm khai thác yếu tố Nơi chốn trong tổ chức 113
Trang 13xiii
không gian đô thị ở Mỹ
36 H.2.20 Kinh nghiệm khai thác yếu tố Nơi chốn trong tổ chức
37 H.2.21 Kinh nghiệm khai thác yếu tố Nơi chốn trong tổ chức
38 H.2.22 Kết quả điều tra xã hội học về Nơi chốn ở đô thị Đà Nẵng 116
39 H.3.1 Nhận diện yếu tố Nơi chốn dưới góc độ không gian vật
40 H.3.2 Nhận diện yếu tố Nơi chốn dưới góc độ không gian xã
41 H.3.3 Khai thác yếu tố Nơi chốn dưới góc độ không gian vật
chất đô thị - Khai thác yếu tố địa hình 164
42 H.3.4 Khai thác yếu tố Nơi chốn dưới góc độ không gian vật
chất đô thị - Khai thác yếu tố mặt nước 165
43 H.3.5 Khai thác yếu tố Nơi chốn dưới góc độ không gian vật
chất đô thị - Khai thác yếu tố bầu trời 166
44 H.3.6 Khai thác yếu tố Nơi chốn dưới góc độ không gian vật
chất đô thị - Khai thác các mô hình tổ chức đô thị 167
45 H.3.7 Khai thác yếu tố Nơi chốn dưới góc độ không gian xã hội
đô thị - Khai thác các yếu tố về văn hóa xây dựng và kiến
46 H.3.8 Khai thác yếu tố Nơi chốn dưới góc độ không gian xã hội
đô thị - Tổ chức không gian đô thị hỗ trợ giao tiếp xã hội 169
47 H.3.9 Nhận diện yếu tố Nơi chốn của đô thị Đà Nẵng 170
48 H.3.10 Nhận diện yếu tố Nơi chốn của đô thị Đà Nẵng 171
49 H.3.11 Nhận diện yếu tố Nơi chốn của đô thị Đà Nẵng 172
50 H.3.12 Nhận diện yếu tố Nơi chốn của đô thị Đà Nẵng 173
51 H.3.13 Một số bối cảnh kinh tế xã hội, hình thái kiến trúc qua
Trang 14xiv
52 H.3.14 Nhận diện yếu tố Nơi chốn trong môi trường xã hội của
53 H.3.15 Khai thác yếu tố nơi chốn trong cải tạo và phát triển
54 H.3.16 Đường Bạch Đằng trước khi cải tạo 177
Trang 151
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài và tính cấp thiết của đề tài
- Nơi chốn - kiến trúc - môi trường sống đô thị
Môi trường sống được hiểu là tất cả các sự vật - hiện tượng của môi trường xung quanh ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của con người Khi nghĩ về một địa điểm, một nơi chốn nào đó, một môi trường sống nào đó, những gì chúng ta nhớ thường gắn liền với những thông tin được ghi lại bởi các giác quan về hình ảnh và ký
ức của nơi chốn và kiến trúc là bộ phận quan trọng của địa điểm đó và môi trường
sống đó
Kiến trúc là một thực thể sử dụng và một thực thể cảm thụ Mục tiêu cuối cùng của kiến trúc là tạo dựng không gian cho cuộc sống của con người song nó lại đòi hỏi không chỉ đơn thuần những yêu cầu về công năng hay về hình thức Không có những loại kiến trúc đồng nhất cho mọi nơi mọi chốn mà trong những tình thế khác nhau sẽ dẫn tới những giải pháp kiến trúc cụ thể nhằm thỏa mãn những đòi hỏi vật chất và tinh
thần của con người tại một thời điểm và địa điểm cụ thể
Kiến trúc ra đời như một sản phẩm của con người trong cách thức ứng xử với môi trường tự nhiên, một sản phẩm vừa mang tính kỹ thuật vừa mang tính nghệ thuật, vừa mang tính khoa học vừa mang tính xã hội Trong lịch sử phát triển, kiến trúc được
nhìn nhận dưới những góc độ khác nhau
Trong đô thị truyền thống, kiến trúc là tấm gương phản ánh đặc điểm của truyền thống văn hóa dân tộc cũng như bối cảnh tự nhiên của nơi chốn cụ thể Trong các xã hội truyền thống, ngay cả các chi tiết nhỏ nhặt của môi trường xung quanh cũng
được biết tới và bằng cách đó tạo nên những không gian có ý nghĩa
Ngược lại, trong đô thị hiện đại, những ký ức được lưu lại hầu như hoàn toàn dành cho các chức năng thực dụng trong khi đó sự hòa đồng bị để qua một bên Kết quả là một môi trường sống đích thực không tồn tại bởi có một khoảng cách nhất định
giữa con người và môi trường
Con người hiện đại đã từng nghĩ rằng khoa học và công nghệ có thể giải phóng mình khỏi sự lệ thuộc vào một nơi chốn nào đó Trong suốt thời kỳ Hiện đại, kiến trúc hầu như chỉ được nhìn nhận dưới góc độ của khoa học tự nhiên với sự đề cao vai trò của
kỹ thuật và các yếu tố khách quan mà bỏ qua vai trò của con người là chủ thể cảm nhận
Trang 162
kiến trúc Điều này dẫn đến những quan niệm duy lý một cách máy móc: Nhà là một cái
máy để ở [33] theo quan điểm của công năng hoặc là những nghiên cứu về tiêu chuẩn của cái đẹp trong Modulor theo một phương thức kết hợp giữa kích thước cơ thể con
người và tỷ lệ vàng Kiến trúc trở thành một tập hợp của những con số và chức năng mà đỉnh điểm của nó là Phong cách Quốc tế (International Style) với những tòa nhà và không gian đô thị được cho là tẩy sạch cảm xúc Đây là một quá trình phát triển tất yếu
của kiến trúc bởi bản chất kỹ thuật của nó
- Nhìn nhận kiến trúc trong bối cảnh mới
Cùng với xu thế toàn cầu hóa việc nhận thức những đặc trưng của kiến trúc nhằm xây dựng một bản sắc riêng ngày càng được quan tâm Xu hướng tìm hiểu và khám phá ý nghĩa của nơi chốn đang trở thành chủ đề trung tâm của nhiều nghiên cứu gần đây Mối quan hệ có ý thức của con người với những yếu tố của nơi chốn tạo nên
một hình ảnh đầy đủ về môi trường sống
Nếu không chú ý đến vấn đề bản sắc, kiến trúc sẽ đánh mất mối liên hệ với thực tiễn của cuộc sống Khoa học về ngôn ngữ và mỹ học đã thúc đẩy việc nghiên cứu kiến trúc như là một hiện tượng bên cạnh việc nghiên cứu nó như một sự vật Con người cảm thấy hòa đồng trong một môi trường kiến trúc cụ thể khi anh ta đồng nhất với nó, tức là có thể định hướng trong môi trường đó cũng như hiểu được ý nghĩa của
nó Do đó, làm kiến trúc có nghĩa là làm cho biểu hiện tinh thần nơi chốn thông qua những giải pháp vật chất và công việc của kiến trúc sư là sáng tạo ra những nơi chốn
có ý nghĩa cho con người
- Đô thị ở Việt Nam và những nghiên cứu về thẩm mỹ đô thị
Những thành tựu phát triển kinh tế của Việt Nam trong những năm qua là cơ
sở cho sự ra đời và nâng cấp của hàng loạt các đô thị Nhiều khu đô thị mới mọc lên,
bộ mặt đô thị thay đổi nhanh chóng, điều kiện sống và làm việc của cư dân trong đô thị
đã được cải thiện Tuy nhiên, quá trình phát triển mạnh mẽ của họat động xây dựng dưới sức ép của nền kinh tế thị trường đã làm hình ảnh của đô thị nhạt nhòa bản sắc, biến dạng, thậm chí không kiểm soát nổi Điều này đã được khẳng định khi đánh giá
về tình hình quy họach đô thị trong chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ: “Trong những
năm qua, công tác quy hoạch xây dựng và phát triển kiến trúc đô thị ở nước ta đã có tiến bộ Nhiều đô thị, nhiều công trình, đường phố, khu đô thị mới được hình thành làm cho cảnh quan các thành phố, đô thị, khu dân cư có nhiều đổi mới Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, trật tự kiến trúc đô thị vẫn chưa được thiết lập; kiến
Trang 173
trúc phát triển khá đa dạng nhưng mang nặng tính tự phát và chưa hình thành bản sắc Một trong những nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do công tác thiết kế
đô thị chưa được coi trọng”.[28] Do vậy, trong bối cảnh đô thị hóa mạnh mẽ hiện nay
thì công tác quy hoạch và thiết kế đô thị giữ vai trò quan trọng trong việc thiết lập trật
tự đô thị, góp phần xây dựng nền kiến trúc Việt Nam hiện đại, giàu bản sắc dân tộc
Trên thực tế, có quá nhiều dự án quy hoạch hiện nay đã bỏ qua yếu tố làm đẹp cho không gian đô thị khi đưa ra những kiểu kiến trúc nhàm chán, không tạo được bản sắc riêng, không hài hoà với cấu trúc chung của thành phố, các không gian xanh không được quy hoạch một cách phù hợp hoặc thậm chí không hề có Những nhược điểm đó
về thiết kế đã dẫn đến hậu quả là tạo ra những không gian lộn xộn, ít hiệu quả sử dụng, đồng thời làm giảm giá trị của toàn bộ không gian đô thị Chính vì vậy, thiết kế đô thị chú trọng tới việc tạo ra những địa điểm có chất lượng cao, được sử dụng theo nhiều cách khác nhau và dành cho nhiều đối tượng khác nhau Đây thực sự là một công cụ đắc lực đảm bảo cho sự phát triển đô thị bền vững
Trong thời gian gần đây, cùng với sự phát triển của đời sống văn hóa xã hội cũng như sự thuận lợi trong việc tiếp cận các tri thức khoa học, vấn đề thẩm mỹ đô thị
đã bước đầu được nghiên cứu thông qua một số tài liệu như:
- Thiết kế đô thị có minh họa, Kim Quảng Quân, Đặng Thái Hoàng dịch, Nxb
Xây dựng, 2000
- Quy hoạch đô thị theo đạo lí Châu Á, William S.W.Lim, Lê Phục Quốc &
TrầnKhang dịch, Nxb Xây dựng, 2007
- Kiến trúc - đâu là những vấn đề, Văn Ngọc, Nxb Đà Nẵng, 2005
Những tài liệu nói trên đã bước đầu chỉ ra tầm quan trọng, cung cấp những khái niệm và cách thức tiếp cận mới của thế giới về vấn đề thẩm mỹ đô thị Tuy nhiên, với mục đích tổng hợp các quan niệm các tài liệu trên chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu
và những minh họa chủ yếu lấy từ thực tế xây dựng ở nước ngoài Nhưng Việt Nam nói chung và đô thị Đà Nẵng nói riêng có những điều kiện khác biệt về điều kiện tự
nhiên, hạ tầng kỹ thuật và xã hội, lối sống và văn hóa…
Đô thị Việt Nam cũng đã có một lịch sử phát triển lâu dài gắn liền với sự phát triển văn hóa và đã hình thành nên những đô thị mang giá trị bản sắc của mình Tuy nhiên, để giữ gìn và phát huy những giá trị bản sắc của các đô thị trong thời gian tới, trong bối cảnh chung của xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, việc tìm hiểu những vấn đề
lý luận mới về thiết kế không gian đô thị trong đó có lý thuyết Nơi chốn và Tinh thần
Trang 184
nơi chốn vào những điều kiện đặc thù riêng của Việt Nam sẽ góp phần tạo dựng những không gian đô thị hiện đại có bản sắc phù hợp với lối sống của người dân đô thị trong tương lai là điều cần thiết và cấp bách Mặt khác đề tài còn góp phần vào việc bổ
sung những vấn đề lý thuyết vốn còn ít ỏi ở nước ta
2 Mục tiêu và mục đích nghiên cứu của đề tài
- Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
+ Tìm hiểu, phát triển và vận dụng những lý thuyết về đô thị đặc biệt là lý
thuyết về Nơi chốn và Tinh thần nơi chốn vào điều kiện cụ thể của Việt Nam
+ Trên cơ sở nghiên cứu những đặc điểm riêng của các không gian đô thị dưới các góc độ tự nhiên, văn hóa, xã hội, kinh tế, kỹ thuật đề tài đề xuất những nguyên tắc, những định hướng tổ chức không gian dưới góc độ thiết kế đô thị thông qua
nghiên cứu cụ thể cho Tp Đà Nẵng
- Mục đích nghiên cứu của đề tài:
+ Góp phần bổ sung hệ thống lý luận đô thị còn khiêm tốn ở nước ta cũng như
góp phần xây dựng đô thị Đà Nẵng hiện đại và có bản sắc
3 Nội dung nghiên cứu của đề tài
Đề tài có những nội dung nghiên cứu sau:
- Hệ thống hóa các lý thuyết thẩm mỹ đô thị trên thế giới cũng như ở Việt Nam Tập trung đi sâu nghiên cứu lý thuyết về Nơi chốn và Tinh thần nơi chốn trong
nhận thức không gian đô thị
- Xây dựng những cở sở khoa học cho việc tổ chức không gian đô thị dựa trên việc áp dụng lý thuyết Nơi chốn và Tinh thần nơi chốn vào điều kiện thực tiễn của
Việt Nam
- Phân tích đánh giá về mặt thẩm mỹ trong tổ chức không gian, nhận diện và
khai thác những giá trị bản sắc của kiến trúc đô thị
- Đề xuất những định hướng và giải pháp cải tạo, phát huy những giá trị bản
sắc của đô thị Đà Nẵng
4 Kết quả của luận án
- Về mặt lý luận: nghiên cứu tìm hiểu, giới thiệu các lý thuyết về thẩm mỹ đô
thị, đặc biệt lý thuyết về Nơi chốn và Tinh thần nơi chốn để áp dụng trong tổ chức
không gian đô thị, nhằm phát triển và tạo lập đô thị có bản sắc
- Về mặt thực tiễn:
+ Nhận diện bản sắc kiến trúc đô thị của thành phố Đà Nẵng
Trang 195
+ Đề xuất những định hướng và giải pháp cụ thể trong việc gìn giữ, cải tạo và
phát triển không gian đô thị Đà Nẵng hiện đại có bản sắc
Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng có khả năng áp dụng cho những đô thị
khác của Việt Nam trong quá trình đô thị hóa đất nước
5 Cấu trúc luận văn
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài và tính cấp thiết của đề tài
2 Mục tiêu và mục đích nghiên cứu của đề tài
3 Nội dung nghiên cứu của đề tài
4 Kết quả của luận án
5 Cấu trúc luận văn
Chương 1: Tổng quan về khái niệm yếu tố Nơi chốn trong tổ chức không gian đô thị
1.1 Những khái niệm về Nơi chốn, Tinh thần nơi chốn và việc tạo lập bản sắc đô thị
1.2 Yếu tố nơi chốn trong tổ chức không gian đô thị Đà Nẵng
1.3 Yếu tố nơi chốn trong tổ chức không gian ở một số đô thị đặc trưng của Việt Nam
1.4 Yếu tố nơi chốn trở thành bản sắc trong tổ chức không gian một số thành phố hiện đại trên thế giới
1.5 Đối tượng, phương pháp nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài
1.6 Kết luận chương
Chương 2: Các luận cứ khoa học để nhận diện và khai thác yếu tố Nơi chốn trong việc tạo dựng bản sắc không gian đô thị
2.1 Những cơ sở lý thuyết liên quan đến Nơi chốn và Tinh thần Nơi chốn
2.2 Nhận thức về yếu tố Nơi chốn trong việc tạo dựng bản sắc không gian đô thị 2.3 Những bài học kinh nghiệm liên quan đến Nơi chốn và Tinh thần Nơi chốn 2.4 Những đặc thù của đô thị Việt Nam dưới góc độ Nơi chốn và Tinh thần nơi chốn
2.5 Kết quả điều tra Xã hội học về Nơi chốn ở đô thị Đà Nẵng
Trang 206
Chương 3: Kết quả nghiên cứu- Những đề xuất nhằm nhận diện và khai thác yếu tố Nơi chốn trong tổ chức không gian đô thị có bản sắc
3.1 Nhận diện yếu tố Nơi chốn trong tổ chức không gian đô thị
3.2 Khai thác yếu tố nơi chốn trong việc tạo dựng bản sắc không gian đô thị 3.3 Nhận diện và khai thác yếu tố Nơi chốn trong việc tạo dựng bản sắc không gian đô thị Đà Nẵng
Chương 4: Bàn luận về kết quả nghiên cứu
4.1 Khẳng định vai trò của Nơi chốn và Tinh thần nơi chốn trong việc tạo lập bản sắc đô thị
4.2 Nội dung của việc khai thác yếu tố Nơi chốn trong tổ chức không gian đô thị 4.3 Khả năng và phạm vi vận dụng lý thuyết Nơi chốn và Tinh thần nơi chốn trong việc tổ chức không gian đô thị
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I Kết luận
1 Lý thuyết Nơi chốn và Tinh thần nơi chốn
2 Nhận diện yếu tố Nơi chốn và Tinh thần nơi chốn của đô thị Đà Nẵng
3 Khai thác yếu tố Nơi chốn trong Qui hoạch đô thị Đà Nẵng
II Kiến nghị
1 Kiến nghị từ góc độ quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng
2 Kiến nghị từ góc độ quản lý nhà nước của Thành phố
3 Kiến nghị từ góc độ đào tạo trong các Trường và các Viện nghiên cứu
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 217
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ KHÁI NIỆM YẾU TỐ NƠI CHỐN TRONG TỔ
CHỨC KHÔNG GIAN ĐÔ THỊ 1.1 Những khái niệm về Nơi chốn, Tinh thần nơi chốn và việc tạo lập bản sắc
là không gian vật chất, nơi các hiện tượng của thế giới diễn ra Từ những hoạt động
nhỏ nhặt của đời sống hằng ngày đến tiến trình lịch sử của cả một quốc gia đều phải diễn ra trong một không gian nào đó Như vậy, ta có thể nói rằng nơi chốn là không gian vật chất, nơi các hiện tượng của thế giới diễn ra Từ những hoạt động nhỏ nhặt của đời sống hằng ngày đến tiến trình lịch sử của cả một quốc gia đều phải diễn ra trong một không gian (space) hay một địa điểm (location) nào đó (Hình H.1.1)
Tuy nhiên, nếu xem xét nơi chốn chỉ như một không gian vật chất thuần túy sẽ không phản ánh đầy đủ những đặc tính của nó Một nơi chốn thường bao gồm nhiều yếu
tố ví dụ như đô thị được tạo nên từ những ngôi nhà Khái niệm đô thị, vì thế, không chỉ phản ánh một tập hợp các sự vật mà còn phản ánh mối liên hệ giữa các sự vật ấy Do đó,
đô thị không chỉ được xem xét như một sự vật mà còn như một hiện tượng đóng vai trò làm môi trường sống cho các hiện tượng khác xảy ra Vì vậy, khái niệm nơi chốn còn được dùng như một cái gì đó vượt ra ngoài một vị trí cụ thể Norberg Schulz đã nhấn
mạnh vai trò của nơi chốn khi viết rằng: “Chúng ta tìm thấy ở đó một tập hợp bao gồm
các sự vật cụ thể, có nguồn gốc vật liệu, hình hài, hoa văn bề mặt, màu sắc Toàn thể tập hợp ấy của sự vật xác định nên một tính chất của khung cảnh và đó là thực chất của nơi chốn Nhìn chung, nơi chốn được xác định bởi tính cách (character) của nó hay bởi không khí (atmosphere) của nó” [37]
Tính chất phức tạp của nơi chốn không cho phép mô tả chúng bằng các khái
niệm khoa học thuần túy Khoa học thuần túy luôn tìm kiếm những tri thức khách quan
và do đó nó dễ dàng bỏ qua yếu tố cận nhân tình hay cảm xúc con người (human feeling) Trong khi đó, nhiệm vụ của kiến trúc là tạo nên nơi chốn cho cuộc sống hằng ngày, điều đó đòi hỏi nó phải gắn liền với một đối tượng sử dụng cụ thể, trong một giai
Trang 228
đoạn cụ thể và tại một địa điểm cụ thể Đây là điều mà kiến trúc Hiện đại đã bỏ qua khi quá đề cao công năng và sự thuần khiết (purist) Để tạo nên những nơi chốn thực
sự, kiến trúc đã chuyển hướng mối quan tâm của mình đến con người với môi trường
và quá trình tương tác giữa chúng Và thực tế xây dựng đô thị gần đây đã cho thấy những xu hướng nổi bật sau:
+ Xem xét lại bản chất của kiến trúc: “Bản chất của kiến trúc được được thể
hiện qua hai khái niệm: ý nghĩa (meaning) và cấu trúc (structure)”.[37] Ý nghĩa của
kiến trúc nằm trong mối quan hệ của nó với môi trường xung quanh còn cấu trúc hàm chỉ đặc tính bên ngoài của hệ thống các mối quan hệ Ví dụ như, Louis Kahn đã làm sáng tỏ bản chất đô thị khi cho rằng đô thị là nơi sự gặp gỡ đòi hỏi phải có nơi chốn
(cấu trúc), và ở đó, người ta có thể đến với nhau để khám phá thế giới của những người khác (ý nghĩa) “ Đô thị trở thành một tấm gương: tiếp nhận, phản chiếu và bộc
lộ Trong đô thị tất cả mọi thứ phản chiếu những thứ khác và những hình ảnh xuất hiện Thông qua những hình ảnh đó, chúng ta có thể xây dựng sự hiện hữu của mình
Do đó, gặp gỡ và lựa chọn chính là” kích thước” thực sự của thành phố.[38]
+ Xem kiến trúc như một tiến trình, một hệ thống các mối liên kết: Kiến trúc không chỉ đơn giản là một đối tượng cô lập, mà như một tập hợp của những mối liên hệ môi trường liên hệ đến người quan sát và khung cảnh xung quanh Điều này
không chỉ cho thấy tầm quan trọng của bối cảnh (context) trong thiết kế mà còn nói lên
sự cần thiết phải xem xét thiết kế như một tiến trình (process) Để tạo nên những mối
liên hệ môi trường, tiến trình quy hoạch cần nhấn mạnh cuộc sống hiện tại hay sự nguyên vẹn bằng cách bảo tồn những cấu trúc hiện hữu Nhờ vậy, quy hoạch đó thích nghi và trở thành sự lựa chọn duy nhất phù hợp với hoàn cảnh
+ Nhấn mạnh vai trò của con người: Khái niệm con người trong không gian
(body in space) được các kiến trúc sư phát triển và xem như một nhiệm vụ cấp thiết của kiến trúc nhằm ngăn chặn sự tan rã các tương tác xã hội trong xã hội hậu công nghiệp khi đường phố trở thành nơi những chiếc xe hơi tương tác với nhau còn con người thì vắng bóng Do đó, kiến trúc phải tạo nên nơi chốn, ở đó, con người tìm thấy bản thân mình trong mối liên hệ với môi trường xung quanh Điều này đòi hỏi người thiết kế phải làm việc trên khu đất, nâng cao vai trò của người sử dụng và tham khảo ý kiến của họ về đặc điểm địa phương trong mối liên hệ với những kiến thức chuyên môn của mình Quy hoạch xây dựng đô thị cần phải dựa trên những điều kiện cụ thể của môi trường tự nhiên, đặc biệt phải xem xét kỹ các mối quan hệ tương tác giữa con
Trang 23thành cho đến khi chết và xác định nên tính cách hay bản chất của họ Ngay cả các vị
thần cũng có tinh thần của mình và điều đó giải thích cho bản chất cơ bản của quan
niệm ấy “Như vậy tinh thần chỉ ra rằng một sự vật tồn tại hoặc có ý chí tồn tại, theo
cách nói của Kahn Không nhất thiết phải đi vào lịch sử của ý niệm tinh thần mà chỉ cần lưu ý rằng người xưa trải nghiệm môi trường sống của họ như thể nó được tạo nên bởi những tính cách nhất định Việc thỏa hiệp với tinh thần của khu vực mà họ phải sống có một tầm quan trọng sống còn đối với họ.”[37]
Trong tiến trình lịch sử, tinh thần nơi chốn luôn là yếu tố được đề cao cho dù
nó được gọi với nhiều cái tên khác nhau Trong kiến trúc tinh thần nơi chốn có thể
được hiểu một cách đầy đủ hơn qua việc phân biệt hai yếu tố không gian (space) và
tính cách (character) của nó
Trong khi không gian chỉ ra cấu trúc ba chiều của các yếu tố cấu thành nơi chốn thì tính cách chỉ ra cái không khí mà không gian đó biểu thị Đó không phải là một không gian toán học trừu tượng mà là không gian sống động với một tinh thần bên trong Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra điều này trong nghệ thuật tổ chức không gian của các kiến trúc sư bậc thầy Trong khi những ngôi nhà của Wright với những đường ngang và mặt bằng mở thể hiện tinh thần tự do của nước Mỹ trên những đồng cỏ thì không gian được tạo nên từ những bức tường beton dày của Ando lại thấm đẫm tinh thần tĩnh tại của Nhật Bản bởi những không gian nội thất cách biệt với thế giới đô thị bên ngoài và tràn ngập những yếu tố tự nhiên (ánh sáng, nắng, gió …) cho riêng mình
Con người ăn ở (living) có nghĩa là anh ta đồng thời tự đặt mình vào một
không gian và vào một tính cách nào đó của môi trường “Và hai chức năng tâm lý
chứa đựng trong sự ăn ở có thể được gọi là sự định hướng (orientation) và sự hòa đồng (identification) [37] Trong khi sự định hướng liên hệ đến yếu tố tổ chức không
gian thì sự hòa đồng liên hệ đến tính cách của không gian đó Có những nơi chốn rất
dễ định hướng bởi cấu trúc rõ ràng của nó mà không nhất thiết phải có sự hòa đồng đích thực, lại có những nơi chốn cho con người cảm giác hòa đồng mà không có sự
Trang 2410
định hướng Khi bị lạc lối, sự định hướng là quan trọng hơn cả nhưng để có cảm giác như ở nhà mình thì sự hòa đồng là yêu cầu tiên quyết Trong các xã hội tiền công nghiệp, các chi tiết nhỏ nhặt về môi trường chung quanh đều được chú ý và con người
có cảm giác liên hệ mạnh mẽ với nơi chốn mình sống Ngược lại, trong xã hội hiện đại, nơi cuộc sống diễn ra với tốc độ nhanh, những hình ảnh đô thị được ghi nhận chỉ phục vụ cho sự định hướng mà không cần biết đến ý nghĩa của chúng Vì thế, quy hoạch xây dựng đô thị ngày nay phải làm cho con người gắn bó chặt chẽ với nơi chốn nhằm đạt sự hoà đồng đích thực
1.1.2 Bản sắc và các yếu tố tạo thành bản sắc
1.1.2.1 Bản sắc và bản sắc đô thị
Về mặt ngôn từ, bản có nghĩa là gốc còn sắc là vẻ bên ngoài Vì thế, ta có thể nói một cách đơn giản rằng bản sắc là những giá trị gốc, cốt lõi được biểu hiện trong những đối tượng thuộc lĩnh vực mà ta xem xét Tuy nhiên, có rất nhiều những định nghĩa khác nhau vì khái niệm bản sắc, cũng như bản chất của nó, mang tính chủ quan
và thay đổi theo đối tượng nghiên cứu Với các nhà tâm lý học, bản sắc chỉ mối liên hệ giữa cá nhân với nhau và giữa cá nhân với môi trường xã hội Thế nhưng, các nhà xã hội học lại xem xét bản sắc như một tiến trình tâm lý mà mỗi cá nhân tự nhận biết và hình thành nhân cách của mình trong sự liên hệ với các cá nhân khác Trong tiến trình này, mỗi cá nhân tạo dựng bản sắc của mình thông qua hàng loạt những hành động
mang ý nghĩa trong mối liên hệ với người khác “Bản sắc của một cá nhân được cấu
thành như hình ảnh tự thân trong tiến trình tương tác với những người khác và những người này cũng giao tiếp bằng những hình ảnh tự thân của họ với cá nhân đó”.[3]
Có thể nói rằng bản sắc có nghĩa là chính mình trong mối liên hệ với những người khác Là chính mình có nghĩa là phải có những giá trị tự thân làm cơ sở cho việc xây dựng hình ảnh bản thân Những giá trị đó không phải tự nhiên mà có, mà được tạo thành dần dần và được khẳng định trong quá trình xây dựng, củng cố và phát triển Tuy nhiên, những giá trị đó không phải là bất biến Có những giá trị tiếp tục phát huy tác dụng dưới những hình thức mới, có những giá trị lỗi thời bị loại bỏ, và cũng có những giá trị mới được bổ sung Các giá trị chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó có thể đo lường được bằng cách so sánh với những giá trị khác Do đó, bản sắc luôn được lí giải trong bối cảnh cụ thể với những hệ thống giá trị đăc thù
Bản sắc được chia ra làm hai loại: bản sắc cá nhân và bản sắc cộng đồng Nói về
quan hệ giữa bản sắc cá nhân và bản sắc cộng đồng, Jacobs và Maier cho rằng: mọi bản
Trang 2511
sắc đều được cấu thành từ những giá trị xã hội, nguyên tắc ứng xử, những biểu tượng chung…và khái niệm bản sắc được sử dụng để chỉ cá nhân và mang tính cá nhân Tuy nhiên, cá nhân không thể tồn tại riêng lẻ mà gắn liền với nhóm, hội, cộng đồng…; mối
quan hệ này ảnh hưởng và tác động đến tiến trình tạo dựng bản sắc cá nhân Vì vậy,
“Bản sắc còn là những tiến trình tự nhận biết trên cơ sở phân loại Hay nói một cách khác, cá nhân có thể tự nhận thức lại mình và sự nhận biết lại này luôn luôn diễn ra trong nhóm cùng với sự phân loại và ít nhiều chịu áp lực ngay bên trong nhóm”.[3] Như
vậy, bản sắc là kết quả của tiến trình phân tích, so sánh, đối chiếu những giá trị và đặc điểm nhằm tạo sự phân biệt giữa tôi hoặc chúng ta với họ Nếu như bản sắc cá nhân mang lại cho cho con người cảm giác đặc trưng của riêng mình thì bản sắc cộng đồng là một tiến trình hai mặt Một mặt nó liên kết các cá nhân vào một nhóm và mặt khác nó tách biệt nhóm này với nhóm khác
Một dạng khai triển khác của khái niệm bản sắc là diễn dịch chúng bằng các cặp phạm trù như dân tộc và hiện đại hay tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc Cách thức khai triển này đã xuất hiện ở nước ta từ đầu những năm 60 và có ảnh hưởng
không nhỏ đối với lĩnh vực văn hóa nói chung và lĩnh vực kiến trúc nói riêng hiện nay
Tập trung vào các giá trị văn hóa có nghĩa là tập trung vào hệ thống các giá trị vật chất
và tinh thần được hình thành, lưu truyền và phát triển qua quá trình sáng tạo của con người trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội
Theo định nghĩa của UNESCO, “Bản sắc văn hóa là tổng thể sống động các
hoạt động sáng tạo của con người đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại Qua hàng thế kỷ, các hoạt động sáng tạo ấy đã cấu thành một hệ thống các giá trị, truyền thống, thị hiếu, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình”.[43] Mỗi dân tộc hay địa phương sống trong hoàn
cảnh tự nhiên và xã hội khác nhau sẽ tạo ra những nét văn hóa đặc sắc khác nhau Thông qua nét đặc sắc này, một dân tộc hay một địa phương này hiện ra với những nét độc đáo, khác biệt với dân tộc khác hay địa phương khác Đó chính là bản sắc văn hóa Theo dòng chảy liên tục của lịch sử, cái đặc sắc vốn có được kết hợp với những nhân
tố mới trong sự phát triển của trí tuệ cộng đồng và sự giao lưu với các nền văn hóa khác, sự kết hợp đó phải có tính chọn lọc và thích ứng để không làm mai một bản sắc
văn hóa của dân tộc mình “Đặc sắc văn hóa của một dân tộc là bằng chứng về bản
lĩnh sáng tạo của dân tộc đó”.[43] Qua đó, bản sắc văn hóa dân tộc trở thành linh hồn
dân tộc, làm cho dân tộc đó bất diệt trong mọi hoàn cảnh Bản sắc văn hóa của mỗi
Trang 2612
dân tộc hay mỗi địa phương bao gồm văn minh vật chất và văn minh tinh thần Đó chính là những quá trình sáng tạo truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, những tinh hoa được tích lũy trong những quá trình sáng tạo đó trở thành giá trị truyền thống của bản sắc văn hóa
1.1.2.2 Bản sắc đô thị và các yếu tố tạo thành bản sắc đô thị
Kiến trúc là phần quan trọng của văn hóa vật chất và tinh thần, phản ánh đầy
đủ bộ mặt kinh tế, xã hội, lịch sử của một dân tộc hay một địa phương Nó phụ thuộc vào các đặc điểm của điều kiện tự nhiên như địa lý, khí hậu thủy văn và tài nguyên Trải qua quá trình phát triển lâu dài của lịch sử, mỗi dân tộc hay mỗi địa phương tạo ra cho mình một bản sắc kiến trúc riêng Ngày nay, chúng ta thường nói về bản sắc văn hóa dân tộc mà bản sắc đô thị là một trong số đó Điều này ít thấy trong các thời kỳ trước vì các nền văn hóa và đô thị cổ về cơ bản rất khác nhau nhưng các nền văn hóa
và đô thị mới lại chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của những trào lưu chung trên toàn thế giới
Vì vậy, nhu cầu nhận diện bản sắc được đặt ra với hai mục đích: (1) nhận diện các giá trị độc đáo của riêng mình để chứng minh sự tồn tại độc lập của mình trước những trào lưu chung trong thời đại toàn cầu hóa và (2) các giá trị đó phải có khả năng thích ứng,
và được thừa nhận trong hệ thống giá trị chung, như vậy, chúng mới có thể là điểm tựa vững chắc để theo kịp sự phát triển của toàn thế giới (Hình H.1.2)
Trong lĩnh vực đô thị nói riêng, việc nghiên cứu bản sắc đô thị là một xu hướng đang hình thành tại nước ta nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn cần phải tạo dựng một bản sắc riêng cho đô thị trong thời kỳ bùng nổ đô thị hóa hiện nay Xu hướng này bắt đầu với việc đánh giá quỹ kiến trúc đô thị của các đô thị Việt Nam tiêu biểu như
Hà Nội, Huế [8] Công tác này bước đầu đã xác định được những yếu tố tự nhiên và nhân tạo có giá trị cần được giữ gìn và phát huy như một phần quan trọng tạo nên bản sắc đô thị Gần đây, hoạt động này lại được tiếp tục đào sâu hơn với những nghiên cứu
về hình thái học của các đô thị.[10] Trên cơ sở những giá trị đã được xác định, các nghiên cứu về hình thái học đô thị đã nhấn mạnh đến các yếu tố biểu hình của môi trường tự nhiên và môi trường xây dựng Ví dụ như nghiên cứu này áp dụng cho Hà Nội tập trung vào việc phân tích các yếu tố đặc trưng của hình thái đô thị gồm: mặt nước, lô phố, nhà ở, các công trình tôn giáo Các nghiên cứu này đã phản ánh được những đặc trưng của đô thị Hà Nội, nhưng chủ yếu phân tích chúng như những mặt riêng lẻ mà ít đề cập cách thức chúng liên kết với nhau nhằm tạo nên bầu không khí đô thị đặc trưng riêng Vì thế, một phương pháp phân tích bản sắc đô thị có tham khảo
Trang 2713
đầy đủ các yếu tố vật chất và tinh thần trong mối liên kết giữa chúng sẽ dễ dàng cho phép nhìn nhận đô thị không chỉ như một đối tượng bất biến mà còn là một cơ thể sống
có tinh thần
1.2 Yếu tố Nơi chốn trong tổ chức không gian đô thị Đà Nẵng (Hình H.1.3)
Thành phố trong sông, sông trong núi, núi trong biển này luôn mang đến một cảm giác khoáng đạt bởi vẻ đẹp trong trẻo của sông núi đất trời, phố phường sạch đẹp
và sự thân thiện, mộc mạc của người dân bản địa Sông, núi và biển cả đã đem lại cho thành phố một lợi thế về thiên nhiên để phát triển đô thị Song với chiều dài bờ biển trên 60km làm cho thành phố Đà Nẵng mang đậm dấu ấn của đô thị biển Trong năm
2005, từ sự kiện Tạp chí Kinh tế FORBES (Hoa Kỳ) bình chọn bãi biển Đà Nẵng là 1 trong 6 bãi biển quyến rũ nhất hành tinh, thành phố Đà Nẵng đã và đang đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đô thị với những đồ án về quy hoạch bay bổng trên nền đô thị văn minh, hiện đại Người thành phố và muôn khách thập phương đều có chung ví von : Đến Đà Nẵng chỉ một bước chân là vươn đến sóng biển Trong những năm qua, thành phố đã xác định chủ trương quy hoạch đô thị theo hướng : kéo dài bờ biển, kéo dài dòng sông Trong đó, chủ trương quy hoạch kéo dài bờ biển đã đem lại kết quả ấn tượng, việc quy hoạch dải đô thị ven biển đã định hình từ tổng thể và đi vào chi tiết Ngoài ra, còn xây dựng các khu đô thị mới và hệ thống cơ sở hạ tầng bảo đảm điều kiện phát triển quỹ đất ở cho cư dân Bước quy hoạch phát triển đô thị ở thành phố đã
có sự nhảy vọt khi thành phố đã hoàn chỉnh hướng quy hoạch phát triển kinh tế vùng
- Vị trí của Đà Nẵng: Tp Đà Nẵng có vị trí như một điểm trung chuyển quan
trọng của hệ thống giao thông Bắc-Nam về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không với những cơ sở hạ tầng kỹ thuật quan trọng như sân bay quốc tế, cảng biển nước sâu, hầm đường bộ Trong phạm vi khu vực và quốc tế, Đà Nẵng là một trong những cửa ngõ quan trọng ra biển của Tây Nguyên và hành lang kinh tế Đông Tây Trên bản đồ khu vực, Đà Nẵng có thể dễ dàng được nhận ra không chỉ bởi vị trí trung độ của nó mà còn bởi đặc điểm độc đáo về địa hình Các dãy núi chạy dọc ven biển ôm lấy một vùng đồng bằng nhỏ hẹp, và từ vùng đồng bằng này bán đảo Sơn Trà hiện ra như một cột mốc tự nhiên trên mặt biển có vai trò định hướng cho toàn bộ đô
thị và các phần đồng bằng rời rạc ở phía Tây
Không chỉ là trung điểm về vị trí địa lí, Đà Nẵng còn nằm trong vùng ảnh hưởng giao thoa của các nền văn hoá lâu đời như văn hoá Chăm Pa, văn hoá Sa Huỳnh
và văn hoá của người Việt trong buổi đầu của tiến trình mở đất, là tâm điểm của các di
Trang 2814
sản văn hoá thế giới Huế, Hội An và Mỹ Sơn Tên xưa của Đà Nẵng theo tiếng Chăm
là Danak thuộc châu Lý (Ulik) dưới thời vua Chế Mân (Jaya Simhavarman III) Khi được dâng cho nhà Trần làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân, vùng đất này đổi tên thành châu Hoá (Hoá: biến đổi) và sau đó thuộc về đạo Quảng Nam (Quảng: rộng, Nam: phương Nam) dưới thời vua Lê [2] Người Việt ở Đàng Trong, về nguồn gốc, cơ bản là di dân ở phía Bắc và khá phức tạp về hoàn cảnh di cư Mặc dù Đàng Trong là
mảnh đất ngày xưa thường gọi là miền ác địa, nhưng trên cơ sở biết kế thừa văn hóa
Đại Việt và văn hóa Champa, họ đã tạo dựng được một nền kinh tế đầy sức sống
“Nền văn hoá thuần nông đã được biến đổi thành nền văn hoá nông-chài và sau đó là bước đầu của một nền văn hóa cảng thị được hình thành trên vùng đất mới”.[26] Bên
cạnh những ngôi làng nông nghiệp truyền thống bắt đầu xuất hiện những làng nghề như làng đá Ngũ Hành Sơn, làng nước mắm Nam Ô, làng cá Thuận Phước và sau đó
là các cảng thương mại Hội An, Đà Nẵng, để rồi từ cuối thế kỷ XVI, mảnh đất này trở
thành một nơi giao thương đầy hấp lực với thương nhân nước ngoài
- Vai trò và chủ trương phát triển đô thị : Trong sự nghiệp phát triển kinh tế
xã hội hiện nay, vai trò của miền Trung nói chung và Đà Nẵng nói riêng đang được nhận thức ngày càng rõ nét Bộ Chính trị đã có riêng một Nghị quyết về định hướng phát triển thành phố và cựu đại sứ Nhật tại Việt Nam Katsunary Suzuki đã cho rằng:
Để hướng tới thế kỷ XXI, miền Trung là khu vực có vai trò then chốt trong quá trình đưa đất nước Việt Nam vào thế ổn định và phát triển Sự phát triển của miền Trung
mà Quảng Nam-Đà Nẵng là trọng điểm, không nằm ngoài ý đồ phát triển Việt Nam
một cách toàn diện Trong thế chiến lược của khu vực Đông Dương thì miền Trung
nằm ở vị trí cực kỳ quan trọng vì từ đây có thể dễ dàng thiết lập một mạng lưới quan
hệ với Lào, Thái Lan, Campuchia “Đây chính là một khu vực có tiềm năng phát triển
to lớn và lâu dài Tôi hy vọng miền Trung sẽ là một đòn bẩy cho sự phát triển toàn khu
vực Đông Nam Á”.[19]
- Lịch sử phát triển đô thị Đà Nẵng: Tuy đã xuất hiện cảng quân sự vào thời
Gia Long và sau đó là cảng thương mại vào thời Minh Mạng nhưng đô thị Đà Nẵng chỉ thực sự hình thành khi người Pháp chiếm lấy cửa Hàn làm nhượng địa sau Hiệp ước 1884 Đà Nẵng được xếp là thành phố cấp II tương đương với Chợ Lớn và Phnom Penh Đến thập niên 1930, Đà Nẵng đã mang dáng vẻ của một đô thị, được thế giới
biết tới khá nhiều dưới cái tên Tourane.[27] Sự hình thành và phát triển đô thị của
Trang 2915
thành phố Đà Nẵng từ ngày được thành lập có thể được phân chia thành các giai đoạn
chính như sau:
+ Thời kỳ nhà Nguyễn: Giữa thế kỷ XVI, khi Hội An đã là trung tâm buôn
bán sầm uất thì Đà Nẵng chỉ là một cảng trung chuyển hàng hóa, tu sửa tàu thuyền Nhưng sau năm 1835, khi vua Minh Mạng quyết định cửa Hàn là nơi duy nhất buôn bán với phương Tây thì Đà Nẵng trở thành một thương cảng bậc nhất miền Trung Cùng với sự phát triển kinh tế, các khu vực hành chính và dân cư bắt đầu được hình thành, Thành Điện Hải, Đình làng Hải Châu… được xem là dấu tích của giai
đoạn phát triển đô thị đầu tiên này
Sự phát triển của kỹ thuật hàng hải gắn liền với các đặc điểm tự nhiên thuận lợi (sông, biển, núi) là điều kiện cơ bản để Đà Nẵng dần thay thế vai trò của Hội An Yếu tố kinh tế là động lực cho sự phát triển của đô thị lúc bấy giờ, tuy nhiên khi chính sách bế quan tỏa cảng của nhà Nguyễn bắt đầu thì đô thị mất ngay động lực phát triển của nó Điều này cho thấy đô thị là một thực thể sống chỉ tồn tại cùng với động lực
phát triển của nó trong một bối cảnh nhất định
+ Thời kỳ Pháp thuộc: Sau khi xâm chiếm toàn bộ đất nước ta vào năm 1889,
thực dân Pháp tách Đà Nẵng khỏi Quảng Nam và đổi tên thành Tourane, chịu sự cai
quản trực tiếp của Toàn quyền Đông Dương Đầu thế kỷ XX, Tourane được Pháp xây
dựng trở thành một đô thị theo kiểu Tây phương Thành phố bắt đầu được hình thành
dọc bờ Tây sông Hàn với 13 con đường được đặt tên.[27] Đường Bạch Đằng và đường
Trần Phú ngày nay trở thành trung tâm đô thị với nhiều công trình quan trọng vẫn còn tồn tại đến ngày nay như Bảo tàng Điêu khắc Chămpa, UBND thành phố, Nhà thờ Con
gà, dãy phố thương mại dọc chợ Hàn
Đô thị Đà Nẵng thời kì thuộc địa tuy đã được biết đến trên bản đồ thế giới nhưng với mục đích khai thác hơn là xây dựng, chính quyền thực dân không chỉ chưa tạo nên một bộ mặt đô thị hoàn chỉnh mà còn gây ảnh hưởng cho sự phát triển về sau Nhằm tối đa hóa lợi nhuận, đô thị chỉ phát triển ở qui mô nhỏ, các chức năng co cụm vào một khu vực với các cơ sở hạ tầng như cảng, nhà ga, sân bay (xây dựng từ năm 1940) tổ chức ngay trung tâm thành phố đã trở thành yếu tố gây cản trở cho sự phát triển của đô thị hiện nay Công tác phát triển đô thị cần dựa trên các mục tiêu dài hạn,
việc chạy theo các lợi ích trước mắt thường gây tác hại lâu dài đến sự phát triển về sau
+ Thời kỳ trước 1975: Đà Nẵng được Mỹ-Ngụy xác định là trung tâm chính
trị, quân sự, văn hóa cho vùng I và II chiến thuật Mỹ cho xây dựng các căn cứ quân sự
Trang 3016
và kỹ thuật hạ tầng: sân bay, cảng, kho bãi, đường sá, công trình công cộng, cơ sở thông tin liên lạc và khu kỹ nghệ Tuy bộ mặt kiến trúc đô thị ít có thay đổi nổi bật nhưng việc xây dựng các hệ thống hạ tầng đặc biệt là sân bay, bến cảng và đường bộ
đã củng cố vị thế trung tâm của thành phố
Hệ thống hạ tầng tiếp tục hoàn thiện nhưng sự phát triển của bộ mặt đô thị hoàn toàn không tương xứng Sự phồn hoa giả tạo đến từ hàng hóa viện trợ không che dấu được những khu dân cư mới được hình thành một cách tự phát bởi sự di dân từ nông thôn ra đô thị nhằm tránh hậu quả chiến tranh Xung quanh các căn cứ quân sự,
mà điển hình là sân bay thành phố, hình thành nên một loạt những khu ổ chuột kiểu mới mà hậu quả của nó vẫn còn đang được giải quyết trong công tác chỉnh trang của
đô thị ngày nay
+ Thời kỳ 1975 đến nay: Đà Nẵng sau năm 1975 là một đô thị đã mất đi động
lực tồn tại của nó và trở thành một đô thị hàng tỉnh, thủ phủ của Tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng cũ Và trong gần 20 năm, thành phố dường như không phát triển lên bao nhiêu thậm chí tại một vài khu vực cơ sở hạ tầng còn xuống cấp nghiêm trọng Một thời kỳ mới cho quy hoạch thành phố được mở ra từ khi thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 1997 và trở thành đô thị loại I vào năm 2003 Cùng với sự đổi thay nhanh chóng của bộ mặt đô thị, nhận thức về vai trò cũng như các phương cách thực hiện quy hoạch
đô thị đã được nâng cao rõ rệt Việc quy hoạch thành phố Đà Nẵng được thực hiện
theo 3 giai đoạn chính như sau:
* Giai đoạn chỉnh trang đô thị: Giai đoạn này gắn liền với chủ trương đổi
đất lấy hạ tầng, đường Nguyễn Văn Linh nối sân bay với trung tâm thành phố được
xem như điểm mốc đánh dấu sự biến chuyển này “Quy hoạch không bao giờ dừng lại
ở việc tạo ra các mặt bằng quy hoạch mà phải đảm bảo cho nó được thực hiện bằng cách cung ứng cho nó những nguồn lực cần thiết”.[20] Thay vì bám lấy những mô
thức quy hoạch nặng về lý thuyết, việc chuyển sang mô thức quy hoạch hành động đã
ảnh hưởng tích cực đối với hoạt động xây dựng đô thị
Đổi đất lấy hạ tầng là cách thức tạo nguồn vốn chủ yếu của đô thị trong giai đoạn đầu của sự phát triển nhưng chính các đối tượng đầu tư đã ảnh hưởng đến xu hướng của sự phát triển Với một môi trường đầu tư chưa hấp dẫn và chỉ có các nhà đầu
tư tại địa phương nên đa số các dự án đều nhỏ lẻ, manh mún và thiếu kết nối Sự thiếu hoàn chỉnh trong bản thân từng dự án không chỉ làm giảm đi tính hiệu quả lâu dài của nó
mà tạo nên ấn tượng xấu đối với kết quả của hoạt động chỉnh trang đô thị
Trang 3117
* Giai đoạn mở rộng đô thị: Giai đoạn này được mở đầu bằng việc thực hiện
dự án cầu vuợt Sông Hàn Đây là dự án cơ sở hạ tầng lớn đầu tiên với toàn bộ sức dân của thành phố được huy động và mang một ý nghĩa to lớn về mặt quy hoạch Hệ thống
hạ tầng kỹ thuật đã vươn qua sông và theo đó ranh giới đô thị được mở rộng, các vùng
đất mới được thâu tóm vào đô thị đã mở ra hàng loạt những cơ hội mới “Quy hoạch
như một quá trình tìm kiếm tương lai, quy hoạch đúng có khả năng đánh thức tiềm năng của cả một vùng đất”.[20] Các dự án đường Nguyễn Tất Thành, đường Sơn Trà -
Điện Ngọc, tuyến đường ven sông, cầu Thuận Phước, cầu Tuyên Sơn, cầu Cẩm Lệ
đã liên kết các khu vực rời rạc của thành phố tạo điều kiện cho đô thị chiếm lĩnh
những không gian mới rộng lớn hơn gấp bội so với quy mô cũ của thành phố
Sự phát triển quá nóng và áp lực tái định cư đã làm nảy sinh nhiều vấn đề về xã hội lẫn kiến trúc đô thị Nguồn vốn khổng lồ cho việc xây dựng các công trình hạ tầng được thực hiện bằng giải pháp chia lô từ khu đô thị mới đến khu tái định cư Kết quả là kiểu chia lô xuất hiện tràn lan ngay tại những vị trí có ảnh hưởng lớn đến bộ mặt đô thị
mà không đóng góp gì vào việc tạo nên bản sắc cho bộ mặt chung Những khái niệm sông Hàn như nội thất đô thị hay biển như mặt tiền đô thị hầu như chưa xuất hiện vì mục đích của phát triển hạ tầng chỉ chủ yếu là tạo quỹ đất thay vì sự phát triển bền vững và hình ảnh của đô thị Những nhược điểm này có thể thấy dễ dàng thấy được khi đường ven biển Nguyễn Tất Thành bố trí quá gần biển không chỉ là mất đi một dãi bờ biển kéo dài vốn cần thiết trong khung cảnh chật chội của đô thị mà còn biến khu vực thành nơi
hứng chịu hàng loạt hậu quả khi thiên tai diễn ra
* Giai đoạn thiết kế quy hoạch đô thị đi vào chiều sâu: Việc mở rộng và
chỉnh trang đô thị đã góp phần rất lớn trong việc tạo dựng bộ mặt đô thị cũng như làm
rõ những tiềm năng của vùng đất Tuy nhiên, cùng với sự phát triển quá nhanh chóng những nhược điểm bắt đầu được bộc lộ: đời sống dân cư bị xáo trộn, tính khớp nối giữa các dự án yếu, đô thị phát triển nhưng môi trường sống chưa cao… Vì thế trong giai đoạn này, quy hoạch đô thị bắt đầu đi vào chiều sâu với việc chú trọng đến thiết
kế cảnh quan, thiết kế đô thị, phát triển có định hướng và bền vững… Đường ven sông Bạch Đằng Tây và tiếp sau đó là đường Điện Biên Phủ, đường ven biển Sơn Trà Điện Ngọc và gần đây nhất các dự án khu đô thị mới Đa Phước… thể hiện xu hướng này Quy hoạch không chỉ là những con đường chia lô ngang dọc mà bước đầu hình thành
nên một không gian sống Quy hoạch đã trở thành một nghệ thuật, nó mang lại cho con người một môi trường sống, mang lại cho thành phố một tinh thần
Trang 32vững trong tương lai (Hình H.1.4)
- Quy hoạch xây dựng Đà năng đến 2025: Nhằm tạo bước đột phá trong
công tác quy hoạch đô thị, thúc đẩy việc biến Đà Nẵng thành đầu tàu thực sự của khu vực Miền Trung-Tây Nguyên, Chính phủ đã phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Đà Nẵng đến năm 2025 dựa trên quy hoạch chung thành phố Đà Nẵng đến năm 2020, và hiện nay công tác điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Đà Nẵng đang được thực hiện với sự tư vấn của các tổ chức nước ngoài Quy hoạch đó không chỉ cho thấy cấu trúc đô thị của thành phố trong tương lai mà còn phản ánh những đặc tính về
tự nhiên và lịch sử của thành phố qua những khu vực chính như sau:
+ Khu vực bờ Tây sông Hàn: là trung tâm đô thị cũ của thành phố với các
con đường và công trình đầu tiên do người Pháp xây dựng Vai trò hạt nhân của nó đang được khẳng định và phát triển với hàng loạt dự án nhằm tạo nên hình ảnh sôi động và sầm uất của một trung tâm hành chính và dịch vụ quan trọng của toàn khu vực
Miền Trung
+ Khu vực phía Nam thành phố: nơi ba con sông đổ vào sông Hàn, là một
khu vực gắn liền với lịch sử phát triển lâu đời của thành phố Dự kiến đây là khu vực
để phát triển các khu ở, khu nghiên cứu và các khu du lịch
+ Khu vực Tây Bắc thành phố: trước kia chủ yếu tập trung các làng đánh cá
và hiện nay đang chuyển sang định hướng công nghiệp Các khu công nghiệp được hình thành trước ngày giải phóng đã được mở rộng và hoàn chỉnh nhiều hạ tầng quan
Trang 3319
trọng như cảng biển, bến xe trung tâm, ga đường sắt nhằm biến khu vực thành một
trung tâm sản xuất và phân phối hàng hóa lớn
+ Khu vực phía Đông bờ sông Hàn: là một dãi đất hẹp với một bên là sông
Hàn và bên kia là bãi biển tạo cho nó sự gần gũi tự nhiên rõ nét Các cây cầu Thuận phước, cây quay, cầu lần lượt được xây dựng đã nối kết chúng vào đô thị và vẻ đẹp
nguyên thủy của chúng được khám phá tạo nên một sức bật to lớn của thành phố
+ Khu vực đồi núi cao phía Tây Bắc và bán đảo Sơn Trà: không chỉ là hai
khu vực tự nhiên của thành phố mà còn là khu vực dự trữ cho phát triển đô thị Khi đã được kết nối, những dự án sắp được tiến hành tại Bà Nà và bán đảo Sơn Trà hứa hẹn
biến nơi đây thành một không gian đô thị đáng kỳ vọng
1.3 Yếu tố nơi chốn trong tổ chức không gian ở một số đô thị đặc trưng của Việt Nam
1.3.1 Đô thị Huế (Hình H.1.5)
Huế là một trong số rất ít những nơi mà các giá trị vật thể ít ỏi của kiến trúc cổ Việt Nam còn lại tương đối nguyên vẹn Bên cạnh sự đa dạng về chủng loại, phong phú về số luợng, và chất luợng thẩm mỹ cao của dòng kiến trúc cung đình thì quan trọng hơn hết là chúng đã liên kết với nhau trong một môi trường tự nhiên nhiều ý nghĩa tạo nên hình ảnh hoàn chỉnh về một đô thị Nghiên cứu về kiến trúc đô thị Huế cũng chính là nghiên cứu về tiến trình các thế hệ đi trước nhận thức những ý nghĩa ẩn dấu trong những yếu tố tự nhiên và sau đó làm cho nó hiển thị bằng những hoạt động
xây dựng của con người, qua đó tạo nên nơi chốn cho mình như một đế đô bền vững
“Thần kinh - Kinh thành tuyệt diệu - là tên Thiệu Trị đặt cho Huế khi nhà vua vịnh 20 thắng cảnh của nơi này Qua đó nhà vua không chỉ nghĩ đến khung cảnh kiều diễm nơi xây dựng Kinh thành đế đô mà muốn nói đến đặc điểm thần thiêng của một nơi được định vị để thu hút các năng lực thiên nhiên và của thế giới vô hình Chính cái quyền lực tài tình đó, những phòng thủ ma lực, hoặc do thiên nhiên hoặc do con người dựng nên, đã bao phủ che chở tứ phía, gạt xa đi những hiểm họa hung dữ Chính cái hùng mạnh không nơi nào có, cái vĩnh hằng muôn thuở đã ban cho chốn này cũng như triều đại chọn nơi đây làm cơ nghiệp, những sức mạnh vô hình, dưới đất cũng như
trên trời, đang hội tụ đổ về trên nó”.[5]
Những yếu tố hiện thân hóa các ảnh hưởng siêu nhiên trên được thể hiện ra bên ngoài, khi thì dưới dạng đồi núi, sông hồ nhưng có khi chỉ một tảng đá, gốc cây cũng là những bằng chứng thể hiện sức mạnh tiềm ẩn của nơi chốn Chúng phủ lấy cả
Trang 3420
Kinh thành bằng một bầu không khí huyền bí như nhắc nhở rằng con người đang sống trong một mối quan hệ thiêng liêng với các thế lực siêu nhiên Và các công trình xây dựng như đền miếu, chùa chiền, lăng tẩm, thành quách trở thành những chứng tích do bàn tay con người dựng nên để chứng tỏ sự hiểu biết và tôn vinh sức mạnh tiềm ẩn đó Qua đó, ta có thể thấy rằng Huế là đô thị mà thiên nhiên ngự trị, những gì tạo nên bởi
con người chỉ là sự khảm nạm nhằm hòa hợp với các tự nhiên Bởi thế “Huế là một đô
thị thơ, đô thị phong cảnh, đô thị tột độ hài hòa cùng thiên nhiên”.[9]
Bước đầu tiên của quá trình nhận thức này được bắt đầu khi Công Thượng Vương, vị thứ ba trong các chúa Nguyễn, lập phủ tại ví trí khoảng giữa cột cờ Thành Nội và đền Khổng Tử vào năm 1936 Sách Đại Nam Thực Lục đã ghi lại lý do của sự
lựa chọn này “Địa hình non nước Kim Long lại đặc sắc nên Vương đã ra lệnh xây cất
dinh thự, nhà ở và thiết lập chiến lũy cùng các công trình phòng thủ ở đây Và vào năm 1683, Ngãi Vương, vị chúa thứ năm trong các chúa Nguyễn lại dời đô nhà Nguyễn xuống khoảng một hai cây số, nằm trên linh địa Phú Xuân, chỉ lệch so với vị trí Kinh thành hiện nay vài trăm mét là cùng”.[5] Đồng thời với việc tận dụng tự nhiên
như dùng Ngự Bình làm Tiền Án, cồn Hến và cồn Dã Viên làm Thanh Long và Bạch
Hổ là quá trình cải tạo lại tự nhiên theo ý đồ phong thủy đã định Một nhánh của dòng sông Hương chảy xéo qua Kinh thành từ Tây sang Đông được nắn dòng cho vuông vức thành Hộ Thành Hà và một nhánh nhỏ chảy vào bên trong với tên Ngự Hà có vai trò như một dòng sông cảnh quan Đặc tính đe dọa về mặt tự nhiên và tâm linh của dòng nước đã được thay bằng tính chất bảo vệ và cảnh quan Quá trình khai thác cũng đồng thời là một quá trình định danh và cải tạo các yếu tố tự nhiên nhằm làm rõ đặc
tính vốn có của nơi chốn
Những sức mạnh vô hình ẩn dấu trong lòng đất được khẳng định và mở rộng ảnh hưởng của chúng về phương Nam bởi mối liên hệ với Ngự Bình theo trục chính của Kinh Thành và mối liên hệ với đàn Nam Giao theo trục chính Bắc-Nam Những mối liên kết vô hình này đã báo trước sự phát triển của đô thị tương lai sẽ liên kết hai
bờ sông Hương và người Pháp đã bổ sung vào cấu trúc được báo trước này một cách khéo léo bằng khu phố Tây với các công trình như khách sạn, trường học Kiến trúc Pháp ở Huế bên bờ Nam sông Hương tuy đối lập hẳn với phong cách kiến trúc truyền thống nhưng với quy mô của một đô thị nhỏ và một khoảng đệm hợp lí với những con đường, vườn hoa, cây xanh… đã giữ nguyên tinh thần cửa không gian đô thị cổ như sự yên tĩnh, mối liên hệ gần gũi với tự nhiên qua đó làm phong phú và tôn thêm các giá
Trang 3521
trị kiến trúc cổ nổi trội của Kinh Thành cũ Điều này cho thấy khai thác các yếu tố nơi chốn hoàn toàn không mâu thuẫn với sự phát triển tương lai mà còn góp phần hoàn
thiện thêm cấu trúc vốn có
Ngày nay, đặc trưng của Huế như một đô thị xây dựng dựa trên đặc tính linh thiêng của các yếu tố tự nhiên đang đối mặt với những nguy cơ sau (Hình H.1.6):
+ Những di tích đánh dấu sự ra đời và hình thành đô thị đang bị xâm phạm
không chỉ bởi các vấn đề về quản lý hay kinh tế mà còn bởi vì chúng chưa được nhìn nhận như những đối tượng cần được bảo vệ Nguyên nhân của thực trạng này không chỉ nảy sinh do việc thiếu một quy hoạch định hướng đủ rộng có khả năng bao trùm hết các khu vực cảnh quan trọng yếu mà còn do việc chỉ chú trọng đến sự liên kết trên mặt bằng thay vì nhìn nhận đô thị như một mô hình vũ trụ thu nhỏ như cách thức quy hoạch truyền thống Một ví dụ thực tế cho thấy rằng khi các công trình cao tầng, cột thu phát tín hiệu mọc lên ở bờ Nam sông Hương và hàng loạt khu nghĩa trang đang được xây dựng dưới chân Ngự Bình thì hình ảnh bảo vệ cũng như mối liên kết của
Ngự Bình với Kinh thành đang dần trở nên mờ nhạt
+ Sự hài hòa của đô thị với tự nhiên đang bị mất dần đi trong quá trình phát triển Việc bảo vệ những di sản kiến trúc cụ thể của Huế thường được nói đến nhiều hơn là việc bảo vệ cả tổng thể đô thị và hậu quả là nhiều hệ thống cảnh quan có giá trị đang bị lãng quên trong khi chúng là cái duy nhất mà ít có đô thị nào có được Một dự
án đề xuất khôi phục lại hệ thống hành lang trong Cấm thành dễ thuyết phục các cơ quan chức năng hơn nhiều so với việc khôi phục hệ thống hơn 50 ao hồ lớn nhỏ trong thành Nội mặc dù vai trò của chúng trong việc tạo dựng đặc trưng hài hòa với tự nhiên của đô thị cũng giống như vai trò hệ thống hành lang tạo dựng lại bầu không khí của cung điện Không xác định được vai trò độc đáo duy nhất của một hệ thống các yếu tố
tự nhiên như vậy là nguyên nhân khiến cho phần lớn các ao hồ này trở nên hoang phế,
ô nhiễm, bị lấn chiếm và san lấp dần
+ Sở hữu một phong cách kiến trúc thuộc hàng tinh hoa trong kiến trúc truyền thống nhưng việc phát huy chúng trong giai đoạn hiện tại lại không như mong muốn Dường như một di sản giàu có đã trở thành gánh nặng đối với hiện tại thể hiện qua sự loay hoay trong việc lựa chọn một phong cách kiến trúc phù hợp với Huế Tình trạng này tạo nên một sự gián đoạn trong mạch phát triển vì theo dòng chảy của lịch sử bên cạnh dòng kiến trúc cung đình các phong cách kiến trúc khác từ kiến trúc Pháp, kiến trúc Đông Dương cho đến kiến trúc Hiện đại đều tìm được tiếng nói ở Huế với một
Trang 3622
loạt các công trình như nhà thờ, trường học, trụ sở, khách sạn, bệnh viện hài hòa một
cách tự nhiên với khung cảnh đô thị
1.3.2 Thành phố Đà Lạt (Hình H.1.7)
Không như phần lớn các đô thị Việt Nam Cận đại được xây dựng dựa trên ít nhiều phần dân cư, kiến trúc đô thị đã có từ trước cũng như với chức năng hành chính là chủ yếu, Đà Lạt lại là một đô thị được xây dựng hoàn toàn mới với ý đồ quy hoạch ngay
từ đầu cho chức năng nghỉ dưỡng Được hình thành vào năm 1893, khi bác sĩ A Yersin đặt chân lên cao nguyên Lang Biang và được thúc đẩy bởi làn sóng người Âu đổ xô lên
Đà Lạt khi hai cuộc chiến tranh thế giới gây khó khăn cho những chuyến về nước nghỉ ngơi của họ Nhu cầu này đã gia tăng đến mức đồ án chỉnh trang và mở rộng Đà Lạt được chấp nhận vào năm 1943 và triển khai nhanh chóng nhằm biến Đà Lạt thành thủ
đô mùa hè của Đông Dương Nếu như đặc điểm khí hậu riêng của Đà Lạt do vành đai
núi cao bao bọc ở bên ngoài tạo nên là yếu tố quyết định việc hình thành đô thị thì vùng đồi lòng chảo bên trong đã mang lại cho cảnh quan Đà Lạt một đặc trưng hình thái nổi bật và cả hai đều đã được nhận ra, khai thác trong cách thức tổ chức không gian đô thị
ngay từ những đồ án quy hoạch đầu tiên
Đặc điểm địa hình cũng là ấn tượng của Yersin khi lần đầu tiên ông đặt chân
lên cao nguyên Lang Biang qua mô tả của chính mình “… Khoảng 15 đến 20 km trước
khi đến chân núi, chúng tôi ra khỏi rừng và thấy mình đang đứng trước một vùng đất hoàn toàn trơ trụi, phủ toàn cỏ Mặt đất như những luợn sóng dài làm cho ta có cảm tưởng đang đi trên một đại dương bị xao động bởi những đợt sóng khổng lồ Dãy Lang Biang sừng sững ở giữa như một hòn đảo và dường như càng lùi xa khi ta đến gần…”.[20] Và khi đã trở thành đô thị, những đặc trưng về địa hình vẫn tiếp tục duy
trì vai trò quan trọng đó Đà Lạt, trong hình dung của nhiều người, là hình ảnh từng lớp nhà xếp trên nhau và trải dài xuống thung lũng, ẩn hiện trong màu xanh của thông
và sương khói
Năm 1923, Kts Hébrard hoàn tất đồ án quy hoạch “Đà Lạt thành thủ đô Đông
Dương với quy mô 300ha tạo thành một tuyến dọc hệ thống chuỗi hồ trải dài theo hướng Đông-Tây Ngoài phạm vi đô thị là khu vực bảo tồn cảnh quan đồi núi và rừng được ngăn cách bởi đường vành đai phục vụ du lịch, ngoạn cảnh và săn bắn”.[16]
Chuỗi hồ này được hình thành trên cơ sở đắp các đập ngăn dòng suối Cam Ly tạo thành một trục cảnh quan với 6 hồ nhân tạo với các trục đường bao quanh men theo sườn các thung lũng như hạt nhân của từng khu vực chức năng Tuy nhiên, mô hình
Trang 3723
thành phố vườn đó đã không được thực hiện trọn vẹn do nó có hình thể quá mảnh mai, thiếu một trung tâm có sức thu hút và thực tế xây dựng đã chứng minh điều đó khi các công trình quan trọng có xu hướng tập trung xung quanh hồ Xuân Hương mà không phát triển lên các khu vực hồ khác Điều đó một lần nữa khẳng định đô thị là một nơi
chốn nhân tạo, nó đòi hỏi một sức sống có thể cảm nhận được thể hiện qua sinh hoạt của cư dân thay vì một mối quan hệ giản đơn giữa con người với môi trường tự nhiên
Để điều chỉnh sự phát triển của thành phố phù hợp với thực tế, đồ án chỉnh trang và phát triển Đà Lạt do Kts Lagisquet chủ trì đã được triển khai Theo quy hoạch mới, trung tâm thành phố tại bờ Nam hồ Xuân Hương sẽ được tổ chức thành một thể thống nhất, tập trung xung quanh hai trục chính của thành phố và định hướng
phát triển dọc phía Nam suối Cam Ly, về hướng Tây và Tây Bắc “Toàn bộ cơ quan
đầu não được bố trí quanh hồ Xuân Hương tạo nên một hạt nhân trung tâm Khu dân
cư được nới rộng: diện tích xây dựng khu người Âu được mở rộng lên 540ha gần khu trung tâm trong khi khu dân cư người Việt được phân khu theo tính chất nghề nghiệp Ngoài cùng là một vùng đất rộng ở vành đai phía Tây Bắc và Đông Nam dành cho những người làm nông nghiệp hay nghề thủ công”.[16] Mối liên hệ của thành phố với
dãy núi Lang Biang, một mối liên hệ rộng lớn hơn và là nguồn gốc của hình thái khí hậu đặc biệt của Đà Lạt, được nhấn mạnh bởi một không gian không xây dựng công trình hình rẽ quạt có gốc từ Hồ Xuân Hương hướng về phía Bắc Một phần trong không gian được dùng cho các hoạt động công cộng ngoài trời như công viên, sân thể
thao, sân cắm trại… và xa hơn về phía Bắc là các khu rừng cảnh quan phục vụ du lịch
Để làm làm rõ hơn sự lý giải về vùng đất, các công trình ở Đà Lạt trở thành những biểu hiện sinh động về sự gắn kết giữa công trình với tự nhiên khi các công trình vẫn giữ được dáng vẻ độc đáo của nó nhưng lại hoàn toàn hòa hợp với tự nhiên bởi một tỷ xích nhỏ và gần gũi Ở đây những ngôi nhà thấp và ẩn dấu dưới những cái mái dốc ôm chặt mặt đất và những rặng thông kết nối những ngọn đồi, nhấn mạnh phương ngang của những ngôi nhà, làm phong phú thêm nhịp điệu của các tháp
chuông Điều đó đã được P.Munier miêu tả trong tạp chí Đông Dương, số 28-1941:
“Đà Lạt không phải là một thành phố, Đà Lạt là một bãi cỏ rợn sóng, trên đó cây thông là lọai cỏ khổng lồ được điểm bằng những cánh hoa màu đỏ - những mái nhà”.[11] Được gợi ý từ một nhà thám hiểm và được tạo dựng bởi các kiến trúc sư, vì
thế từ ngay từ đầu nó đã là hình ảnh của một giấc mơ và thật may mắn nhà cầm quyền
đã hiểu và góp phần xây dựng giấc mơ đó thành hiện thực
Trang 3824
Ngày nay, đặc trưng của đô thị nghỉ dưỡng Đà Lạt được xây dựng như một thiên đường với các điều kiện tự nhiên đặc thù đang đối mặt với những nguy cơ sau (Hình H.1.8):
+ Nhiều vấn đề mới nảy sinh trong quá trình phát triển đô thị xuất phát từ chính những điều kiện đặc trưng về điều kiện tự nhiên Yếu tố địa hình tạo nên sự độc đáo cho Đà Lạt nhưng cũng tạo nên nhiều khó khăn cho quá trình phát triển: hệ thống giao thông dàn trải, chi phí đầu tư cao nhưng hiệu quả sử dụng thấp, các hệ thống hạ tầng kỹ thuật đặc biệt là thoát nước thiếu hoàn thiện, nhiều khu vực vẫn còn sử dụng phổ biến các hệ thống mương hở, cống nổi Khi thành phố còn ở quy mô nhỏ vấn đề nảy sinh chưa lớn và có thể xử lý cục bộ nhưng khi quy mô phát triển quá lớn cộng thêm công tác quản lý thiếu chặt chẽ đã làm suy giảm tiện nghi và chất lượng môi trường sống, gián tiếp ảnh hưởng đến hình ảnh về một thiên đường nghỉ dưỡng mà Đà Lạt đã tạo nên
+ Nhiều yếu tố tự nhiên cũng như kiến trúc đặc trưng đang mất dần ý nghĩa bởi sự ô nhiễm và xuống cấp Những yếu tố quan trọng như chuỗi hồ vốn là trung tâm của bố cục đô thị cũng đang bị đe dọa nghiêm trọng Tiêu biểu nhất là Hồ Xuân Hương thường xuyên trong tình trạng cạn nước về mùa khô và mật độ tảo độc ngày càng gia tăng Nhiều yếu tố tự nhiên khác vốn được xem là thắng cảnh của Đà Lạt như thác Pren, thác Camly, hồ Than Thở cũng lâm vào tình trạng tương tự do ô nhiễm bởi nước thải sinh hoạt hay cạn nước do phục vụ tưới tiêu Bên cạnh đó nhiều công trình kiến trúc cũng đang ở trong tình trạng duy tu, bảo trì kém, thậm chí bỏ hoang trong khi chúng thực sự là những minh chứng cho vai trò Đà Lạt như một thủ đô Đông Dương, một trung tâm quyền lực quan trọng có ảnh hưởng không nhỏ đến lịch sử Việt Nam cận đại ẩn mình dưới một thiên nhiên tươi đẹp
+ Thành phố thiếu một quy hoạch chi tiết mặc dù quy mô và dân số đô thị đã lớn hơn trước rất nhiều Mặc dù chỉ là một đô thị hàng tỉnh nhưng vị trí và sức hút từ
du lịch thúc đẩy đô thị phát triển nhanh chóng đã làm không gian đô thị biến dạng một cách nghiêm trọng bất chấp những nỗ lực bước đầu như việc thiết lập các sơ đồ điểm cao cần bảo vệ, công tác hệ thống hóa các di tích Ở một nơi có điều kiện địa hình đặc biệt như Đà Lạt đòi hỏi những quy hoạch rất chi tiết và vai trò quan trọng của công tác thiết kế đô thị Bởi bất kỳ một công trình hay một cụm dân cư nào ở đây cũng có thể được thấy từ nhiều điểm nhìn khác nhau và một khi nó ít được quan tâm trong các
Trang 3925
thiết kế quy hoạch cũng như thiết kế kiến trúc, sự bất hợp lí được nhân lên vì sự bất hợp lí đó có thể được nhìn thấy từ khắp mọi nơi
1.3.3 Thành phố Hồ Chí Minh (Hình H.1.9)
Vào đầu thế kỷ 17, hầu hết cả vùng Nam Bộ ở trong tình trạng đất đai hoang
vu, dân cư thưa thớt, kênh rạch chằng chịt Ở vị trí Tp Hồ Chí Minh khi ấy đã hình thành một thị trấn nhỏ với dân cư là người Khmer và những người Việt đến từ miền Trung Năm 1698, Nguyễn Hữu Kính vào kinh lý miền Nam khi đất đai đã mở rộng khắp miền Đông Nam Bộ, khẩn hoang lập ấp, cho lập phủ Gia Định và huyện Phước
Long, Tân Bình “Với phương châm dân làng đi trước, nhà nước đến sau, miền Nam
Bộ đã sát nhập vào lãnh thổ Việt Nam một cách thật êm thắm và hòa hợp”.[30] Nhờ
có vị trí thuận lợi nên vai trò kinh tế và chính trị của Sài Gòn-Gia Định ngày càng phát triển Một sự kiện quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của Sài Gòn khi nhóm người Hoa trung thành với triều Minh rời bỏ Trung Quốc do nhà Thanh cai trị từ Mỹ
Tho đã kéo về Sài Gòn lập nên Chợ Lớn ngày nay Như vậy, ngay từ đầu đô thị đã
được hình thành trong trạng thái mở, với một cửa ngõ giao lưu thuận tiện, một thành phần dân cư đa dạng nhưng hòa hợp và đó là nguồn gốc sự phồn thịnh
Giữa thế kỷ 19, thực dân Pháp đem quân đến chiếm Việt Nam Sài Gòn trở thành trung tâm cai trị và kinh tế của thực dân ở Nam Kỳ Thành phố Sài Gòn được thành lập năm 1861 với ranh giới bao gồm cả Chợ Lớn Trên mặt bằng của thành Gia Định, vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã liên tiếp mọc lên những công trình kiến trúc phương Tây như: Nhà thờ Đức Bà, Dinh Thống đốc, Bưu điện, Nhà hát, Chợ Bến Thành… tạo nên những điểm mốc cơ bản cho sự phát triển của trung tâm
thành phố sau này Mối giao lưu đã được mở rộng ra khắp khu vực và trên thế giới
biến Sài Gòn - Gia Định thành nơi hội tụ nhiều dòng chảy văn hóa nhưng vẫn giữ được đặc tính riêng của mình Như nhận xét của Tùy viên Văn hóa-Khoa học Pháp Stéphane
Dovert trong đề tựa cuốn sách viết nhân Sài Gòn 300 tuổi: “…nhưng Sài Gòn chưa
bao giờ là nước Pháp Nếu nó mang dấu ấn của các nhà kiến trúc Pháp thì ngược lại chính các nhà kiến trúc cũng mang nặng dấu ấn của Sài Gòn”.[17] Thời Pháp thuộc,
Sài Gòn đã tồn tại song song nhiều dạng ở và sinh hoạt: Có mạng lưới ngõ xóm của người Việt, thành phố vườn của người Pháp, phố xá sầm uất của người Hoa, đường phố bazar của người Ấn Thành phố Sài Gòn mang tính chất đa văn hóa, đa chủng tộc Bên cạnh đình chùa Việt là chùa miếu, hội quán của người Hoa, chùa Miên, thánh đường Thiên chúa giáo, nhà thờ Hồi giáo, đền Chăm… các lối sống và sinh hoạt văn
Trang 4026
hóa cứ đan xen nhau rõ rệt ở Sài Gòn Từ đất Gia Định, Gò Vấp, Hóc Môn nửa phố thị, nửa miệt vườn, ta có thể bước vào khu phố Tàu Chợ Lớn nhộn nhịp Từ quán ăn
Pháp có thể vào tiệm bazar Chà “Tính chưa đầy đủ Sài Gòn những năm đó có tới hơn
40 quốc tịch khác nhau sinh sống lâu năm".[22]
Cấu trúc cũng như tiến trình phát triển đô thị của thành phố gắn liền với địa hình kênh rạch đặc trưng của nó Sông chính của thành phố là sông Sài Gòn nối với sông Đồng Nai hình thành con đường thủy rộng rãi ra vào cảng Sài Gòn vừa chia cắt vừa tạo thành ranh giới tự nhiên cho từng khu vực Trên cơ sở san lấp, điều chỉnh hay
mở rộng hệ thống kênh rạch thành phố đã đáp ứng được nhu cầu sinh sống của cư dân cũng như tạo nên sự liên kết với các vùng khác qua đó thể hiện vai trò như một trung tâm quan trọng Công việc này không chỉ được thực hiện bởi người dân mà từ cả các
nhà cầm quyền từ rất sớm: “Kênh Tàu Hủ là đường thủy quan trọng nối liền Sài Gòn
với miền Tây đã được vua Gia Long cho mở rộng từ rạch Chợ Lớn nhỏ hẹp Bên cạnh
đó cũng có nhiều kênh rạch được lấp đi để làm đường phố như kênh Sa Ngư thành đường Nguyễn Huệ, rạch Cầu Sấu thành đường Hàm Nghi ” [30] Một lần nữa, tương
tự như ở Huế, quá trình khai thác cũng đồng thời là một quá trình cải tạo các yếu tố tự
nhiên nhằm làm rõ đặc tính vốn có của nơi chốn, mà cụ thể ở đây là vai trò trung tâm
của Nam Bộ
Nhưng Tp Hồ Chí Minh không chỉ thể hiện vai trò trung tâm của nó qua việc khai thác những đặc tính tự nhiên mà còn thể hiện qua lối sống đô thị thể hiện đa dạng
từ kiến trúc cho đến cách thức quy hoạch Quá khứ đã tạo nên diện mạo và bản sắc của
Sài Gòn như một thành phố ngã ba đường với một nhịp sống mãnh liệt Không có
một nơi nào trên cả nước lại có những đường phố thương mại sôi động và thuận tiện như khu vực trung tâm thành phố Sự sôi động của đường phố đã thấm sâu vào công trình khiến người đi bộ khó phân biệt đâu là bên trong hay bên ngoài nhà, qua đó, không gian nội thất đô thị được hình thành Đặc tính này cũng được thể hiện trong quá trình xây dựng và phát triển của đô thị Trên cơ sở quy hoạch khu trung tâm của người Pháp về với hai trục đường chính là Lê Lợi-Nguyễn Huệ và một vài công trình điểm mốc, hoạt động xây dựng ở các thời kỳ sau đã linh hoạt thêm vào các công trình mới
để có bộ mặt trung tâm như hôm nay Tuy mang các phong cách khác nhau: từ kiến trúc Pháp, kiến trúc Hiện đại và thậm chí là Đương đại, nhưng nhìn chung đây là một trong số ít những bộ mặt đô thị tạo nên dấu ấn về tính tổng thể và quan trọng hơn qua
hình ảnh đó người ta có thể cảm nhận được tính cách, tinh thần của thành phố