Đẩy mạnh hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp tại chi nhánh NHN&PTNT Hà Tây
Trang 1- DNNN: Doanh nghiệp Nhà nước
- DNNQD: Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
- NHNo&PTNT: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
- NHNN: Ngân hàng Nhà nước
- NHTM: Ngân hàng thương mại
- SXKD: Sản xuất kinh doanh
Trang 2Lời mở đầu
Trong những năm gần đây, hoạt động cho vay của hệ thống NHTM nước ta
đã có nhiều đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế Là một chi nhánh củaNHNo&PTNT Việt Nam nằm trong hệ thống NHTM quốc doanh, NHNo&PTNT
Hà Tây cũng có những đóng góp tích cực đối với nền kinh tế nói chung và kinh
tế Hà Tây nói riêng Với đối tượng phục vụ chủ yếu và truyền thống là cho vay là
hộ sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp, trong thời gian gần đây ngân hàng còn
mở rộng cho vay đối với các doanh nghiệp Qua tìm hiểu về thị trường kháchhàng doanh nghiệp của NHNo&PTNT Hà Tây em thấy hiện tại số doanh nghiệptrên địa bàn tỉnh Hà Tây có quan hệ giao dịch với ngân hàng rất ít, trong sốkhoảng 3282 doanh nghiệp trên địa bàn chỉ có 776 doanh nghiệp có quan hệ vayvốn của ngân hàng Trong khi đó, ở Hà Tây ngày càng có nhiều doanh nghiệpđược mọc lên và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của những doanhnghiệp này ngày càng cao, vì thế doanh nghiệp đối với ngân hàng là một thịtrường đầy tiềm năng, NHNo&PTNT Hà Tây cần phải đẩy mạnh hoạt động chovay đối với thị trường khách hàng này Thực tế trên đã khiến cho em quyết định
chọn đề tài: “Đẩy mạnh hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp tại chi nhánh NHNo&PTNT Hà Tây” cho chuyên đề tốt nghiệp của mình.
Mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề là phân tích rõ thực trạng cho vay đốivới doanh nghiệp của NHNo&PTNT Hà Tây từ đó đề xuất một số ý kiến nhằmđẩy mạnh hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp tại ngân hàng Phạm vi nghiêncứu của chuyên đề tập trung nghiên cứu ý luận cơ bản về cho vay đối với doanhnghiệp của NHTM, nghiên cứu doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tây và thựctrạng hoạt động cho vay của NHNo&PTNT Hà Tây đối với doanh nghiệp trênđịa bàn tỉnh Chuyên đề sử dụng phương pháp duy vật biên chứng, phương pháp
so sánh, phương pháp thống kê là phương pháp nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề còn có các phần sau:
Chương I: Hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp của NHTM
Chương II: Thực trạng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp tại chinhánh NHNo&PTNT Hà Tây
Trang 3Chương III: Ý kiến đế xuất nhằm đẩy mạnh hoạt động cho vay đối vớidoanh nghiệp tại chi nhánh NHNo&PTNT Hà Tây
Chuyên đề đã được hoàn thành với sự chỉ bảo và hướng dẫn tận tình, chuđáo của Ths Hoàng Lan Hương, giảng viên khoa Ngân hàng – Tài chính, trườngĐại học Kinh tế Quốc dân Hà nội và các cô chú phòng tín dụng NHNo&PTNT
Hà Tây Tuy nhiên do kinh nghiệm của bản thân còn hạn chế nên trong quá trìnhnghiên cứu không thể tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sựđóng góp quý báu của các thầy cô giáo trong khoa và các cô chú cán bộ trongngân hàng để chuyên đề được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn những sự giúp đỡ quý báu đó!
Trang 4Chương I Hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp của
NHTM
1.1 Hoạt động cho vay của NHTM
1.1.1 Khái niệm hoạt động cho vay của NHTM
Cho vay là một quan hệ hệ kinh tế phát sinh giữa các chủ thể trong nền kinh
tế với nhau, trong đó chủ thể này chuyển sang cho chủ thể khác quyền sử dụngmột lượng giá trị (có thể dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật) trong một thời giannhất định, sau thời gian này chủ thể đi vay phải hoàn trả một lượng giá trị lớnhơn ban đầu gồm cả phần dôi dư mà người ta gọi là phần lãi cho chủ thể cho vay.Lãi cho vay tỷ lệ với số lượng giá trị vay và thời gian vay
Một trong những chủ thể cho vay trong nền kinh tế là ngân hàng thươngmại Đây là một tổ chức tài chính quan trọng trong nền kinh tế, là mạch máu củanền kinh tế, giúp nền kinh tế vận hành một cách thông suốt, hoạt động chủ yếucủa NHTM là đi vay để cho vay
Cho vay của NHTM là một hình thức cấp tín dụng, theo đó NHTM giaocho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời giannhất định theo thoả thuận với nguyên tắc khách hàng phải có trách nhiệm hoàntrả gốc và lãi đầy đủ, đúng hạn cho ngân hàng
1.1.2 Đặc điểm hoạt động cho vay của NHTM
Cho vay là tài sản lớn nhất của NHTM, hoạt động cho vay của NHTM làhoạt động có tính chuyên nghiệp nhất, phổ biến nhất, là nghiệp vụ cơ bản nhấtđem lại thu nhập cho ngân hàng Hoạt động cho vay là hoạt động kinh doanh chủchốt của NHTM để tạo ra lợi nhuận, chỉ có lãi thu được từ hoạt động cho vaymới bù nổi chi phí tiền gửi, chi phí dự trữ, chi phí kinh doanh và quản lý, chi phívốn trôi nổi, chi phí thuế và các chi phí rủi ro đầu tư Hoạt động cho vay củaNHTM có một số đặc điểm sau:
Trang 5Thứ nhất: Cho vay là chức năng kinh tế hàng đầu của các ngân hàng để tài
trợ cho chi tiêu của các doanh nghiệp, cá nhân và các cơ quan chính phủ Do vậy,hoạt động cho vay của ngân hàng có mối quan hệ mật thiết với tình hình pháttriển kinh tế tại khu vực ngân hàng phục vụ, bởi vì cho vay thúc đẩy sự tăngtrưởng của các doanh nghiệp, tạo ra sức sống cho nền kinh tế Kinh tế càng pháttriển lượng cho vay của các NHTM càng tăng nhanh và loại hình cho vay cũngtrở nên phong phú
Thứ hai: Cho vay là việc chuyển nhượng quyền sử dụng vốn có thời hạn,
việc xác định thời hạn dựa vào quá trình luân chuyển của đối tượng vay nghĩa làthời hạn cho vay phải phù hợp với chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng đi vay
Sự phù hợp giữa thời hạn vay và chu kỳ sản xuất kinh doanh tạo điều kiện đểngười vay có thể trả nợ cả gốc và lãi đúng hạn cho ngân hàng Hơn nữa, nguồnvốn ngân hàng cho vay chủ yếu là nguồn vốn huy động của cá nhân, tổ chứctrong nền kinh tế có vốn tạm thời nhàn rỗi, nên sau một thời gian nhất định ngânhàng phải hoàn trả lại số vốn đó cho người gửi Vì vậy, hoạt động cho vay củangân hàng đối với khách hàng chỉ diễn ra trong một thời gian nhất định theo thoảthuận giữa ngân hàng và khách hàng để đảm bảo nhu cầu chi trả và khả năngthanh toán của ngân hàng
Thứ ba: Hoạt động cho vay của ngân hàng đối với khách hàng chỉ xảy ra
khi khách hàng cam kết hoàn trả cả gốc là lãi đủ và đúng thời hạn cho ngân hàng
vì cho vay chỉ là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị, chỉ là sự cung cấpmột lượng giá trị trên cơ sở lòng tin tức là người cho vay tin tưởng người đi vay
sẽ sử dụng vốn vay có hiệu quả, đúng mục đích và có khả năng hoàn trả chomình Khi một ngân hàng được thành lập và đi vào hoạt động, mối quan tâmchính và thường xuyên của ngân hàng là sẽ cho ai vay và sẽ đầu tư vào đâu, lợitức cho vay có cao và an toàn không Chính vì vậy, ngân hàng rất thận trọngtrong hoạt động cho vay của mình và như vậy để được vay vốn của ngân hàng thìkhách hàng phải có cam kết bảo đảm với ngân hàng về khả năng trả nợ và phảiđưa ra được phương án sử dụng vốn hiệu quả, thuyết phục được ngân hàng và chỉkhi nào ngân hàng tin tưởng vào khách hàng thì hoạt động cho vay mới đượcthực hiện
Trang 61.1.3 Vai trò của hoạt động cho vay đối với NHTM
* Đối với NHTM
Đối với hầu hết các ngân hàng, khoản mục cho vay chiếm quá nửa tổng giátrị tài sản và tạo ra từ 1/2 đến 2/3 nguồn thu của ngân hàng Trong hoạt động chovay mức độ và quy mô cho vay phải phù hợp với thực lực, khả năng của ngânhàng đồng thời đảm bảo đầy đủ nguyên tắc và điều kiện cho vay, đảm bảo khảnăng thanh khoản và hạn chế đến mức thấp nhất những rủi ro trong quá trình hoạtđộng kinh doanh Đặc biệt trong điều kiện sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữacác NHTM trên thị trường việc mở rộng hoạt động cho vay là một yêu cầu bứcxúc và đảm bảo được thắng lợi trong cạnh tranh vì việc mở rộng cho vay sẽ đemlại lợi nhuận cho ngân hàng nhiều hơn và đủ để bù đắp chi phí Ngoài ra, việcđầu tư cho vay là hoạt động hết sức quan trọng cả trước mắt và lâu dài Thực tếcho thấy, đầu tư cho vay đã làm cho ngân hàng mở rộng quy mô và phạm vi hoạtđộng, tăng thu nhập cho ngân hàng, đồng thời hoạt động cho vay của ngân hàng
đã làm cho các cán bộ ngân hàng nắm bắt nhanh các thông tin kinh tế phục vụcho hoạt động khác của ngân hàng mình ngày càng có hiệu quả hơn
* Đối với khách hàng vay
Hoạt động cho vay của NHTM là cầu nối trung gian giữa người cung ứngvốn và người cần vốn cho sản xuất kinh doanh, sinh hoạt đời sống, đồng thờihoạt động cho vay của NHTM cũng góp phần điều hoà vốn giữa vốn nơi thừa vàthiếu vốn Vì vậy thông qua hoạt động cho vay của NHTM mà nhu cầu về vốncủa khách hàng vay được đáp ứng Hơn nữa, nhờ có các khoản vay của ngânhàng mà khách hàng có thể nâng cao đời sống bản thân và gia đình, có thểhưởng các tiện ích khi mà khả năng tài chính hiện tại của họ chưa đủ khả năng.Quan trọng hơn các khoản vay này có thể giúp khách hàng trong những trườnghợp chi tiêu cấp bách Như vậy, nhờ các khoản vay này mà khách hàng có thể kếthợp được với khả năng tài chính hiện tại với tương lai từ đó tạo ra một động lựcthúc đẩy họ phải cố gắng trong các hoạt động ở hiện tại
* Đối với xã hội
Cho vay của NHTM một hoạt động đầu tư đa dạng, có khả năng tham giavào tất cả các khâu của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung Hoạt
Trang 7động cho vay của ngân hàng có vai trò hết sức to lớn đối với xã hội vì thông quahoạt động này vốn cho vay đã đáp ứng đầy đủ kịp thời nhu cầu vốn cho tiêudùng, sản xuất, lưu thông hàng hoá Từ đó góp phần giải quyết việc làm, hạn chế
tệ nạn xã hội, khai thác khả năng tiềm tàng vốn, lao động, tài nguyên trong nềnkinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ, tập trung vốn cho sản xuất hàng hoá, góp phầngiữ vững an ninh trật tự, ổn định phát triển xã hội, tăng thu nhập cho nhân dân vàtạo ra nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước, là động lực kích thích nền kinh tếphát triển, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới
1.1.4 Phân loại hoạt động cho vay của NHTM
Có rất nhiều căn cứ để phân loại hoạt động cho vay theo cách tiếp cận,tương ứng với mỗi một căn cứ là một cách phân loại khác nhau Dưới đây là một
số cách phân loại phổ biến
* Căn cứ vào phương pháp cho vay:
Cho vay trực tiếp: Là loại cho vay mà người vay là người trực tiếp nhận
vốn vay và trực tiếp trả nợ cho ngân hàng
Cho vay gián tiếp: Là loại cho vay được thực hiện thông qua người thứ ba
như cho vay qua tổ, nhóm, cho vay thông qua tổ chức tín dụng khác dưới hình thức đồng tài trợ
* Căn cứ vào thời hạn cho vay: Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được
tính từ khi khách hàng nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thoả thuận trong hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng Dựa vào thời hạn cho vay hoạt động cho vay được phân làm 3 loại:
Cho vay ngắn hạn: Là những khoản vay có thời hạn từ 12 tháng trở xuống,
tài trợ cho tài sản lưu động và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn Cho vay ngắn hạnthường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong khoản mục cho vay của NHTM
Cho vay trung hạn: Là những khoản vay có thời hạn từ trên 1 năm đến 5
năm, tài trợ cho tài sản cố định như: mua sắm, cải tiến thiết bị công nghệ, mởrộng kinh doanh, xây dựng các dự án có quy mô vừa và nhỏ phục vụ đời sống,sản xuất có thời hạn thu hồi vốn nhanh, mua sắm phương tiện vận tải
Trang 8Cho vay dài hạn: Là những khoản vay có thời hạn trên 5 năm, tài trợ cho
công trình xây dựng như: nhà máy, xí nghiệp, sân bay, cầu, đường, máy mócthiết bị có giá trị lớn thời gian sử dụng lâu
Việc phân loại thời hạn như trên cũng chỉ có tính chất tương đối vì nhiềukhoản cho vay không xác định được chính xác thời hạn Các khoản cho vay ngắnhạn tại các NHTM thường có tỷ trọng cao hơn các khoản cho vay trung và dàihạn vì khách hàng tìm đến các ngân hàng chủ yếu là ở trong tình trạng thiếunguồn vốn đáp ứng nhu cầu về tài sản lưu động Hơn nữa, các khoản cho vaytrung và dài hạn thường có tỷ trọng cao hơn do rủi ro cao hơn, nguồn vốn đắt vàkhan hiếm hơn
* Căn cứ vào tài sản bảo đảm cho vốn vay: Về nguyên tắc, mọi khoản cho
vay của ngân hàng đều có bảo đảm dưới hình thức có hoặc không có tài sản bảođảm
Cho vay có tài sản bảo đảm: Trong hoạt động cho vay của mình, ngân hàngthường yêu cầu khách hàng có tài sản bảo đảm Tài sản bảo đảm của khách hàngphải thoả mãn những yêu cầu nhất định ngân hàng do ngân hàng đề ra Hình thứcbảo đảm bằng tài sản cho vốn vay có thế là thế chấp tài sản hoặc cầm cố tài sản.Khi khách hàng đem tài sản ra thế chấp thì khách hàng vẫn có quyền sử dụng đểsinh lời đối với tài sản này, nhưng trong trường hợp tài sản đem ra để cầm cố thìkhông được quyền sử dụng tài sản cầm cố đó nữa Trong cả hai hình thức nàykhách hàng không được quyền nhượng, bán hay cho thuê tài sản đó và phải chịu
sự giám sát của ngân hàng
Cho vay không có tài sản bảo đảm: Là các khoản cho được bảo đảm dựa
vào lòng tin của ngân hàng đối với khách hàng ở khả năng và ý chỉ trả nợ haycòn gọi là dưới hình thức tín chấp Ngân hàng chỉ cho vay trong trường hợpkhách hàng có uy tín với ngân hàng Khách hàng có uy tín là những khách hànglàm ăn thường xuyên có lãi, tình hình tài chính vững mạnh, ít xảy ra tình trạng nợnần, dây dưa Hoặc khách hàng vay với số lượng tương đối nhỏ so với vốn củamình Ngân hàng cũng cho vay trong trường hợp khách hàng được bảo lãnh bởibên thứ ba, các khoản cho vay dựa trên sự bảo lãnh của bên thứ ba được bảo đảmbằng uy tín của bên thứ ba đối với ngân hàng và khả năng tài chính của họ
Trang 9* Căn cứ theo mục đích sử dụng vốn vay:
Cho vay tiêu dùng: Là các khoản cho vay để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như
mua sắm các vận dụng đắt tiền: ti vi, xe máy , cho vay để trang trải các chi phíthông thường trong đời sống hàng ngày
Cho vay bất động sản: Là các khoản cho vay liên quan đến việc mua sắm
và xây dựng bất động sản, nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực côngnghiệp, thương mại và dịch vụ
Cho vay xuất nhập khẩu: Trong hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch
vụ thường phải có sự can thiệp của ngân hàng không những về mặt kỹ thuật màcòn về mặt tài chính Cho vay xuất nhập khẩu là các khoản cho vay để đáp ứngnhu cầu vốn cho hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ
* Căn cứ vào đối tượng vay vốn
Cho vay cá nhân: Là các khoản cho vay đáp ứng nhu cầu của cá nhân.
Nhóm đối tượng khách hàng cá nhân của ngân hàng bao gồm: cá nhân, hộ giađình, chủ trạng trại, tổ hợp tác
Cho vay doanh nghiệp: Là các khoản cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu vốn
trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.5 Các phương thức cho vay của NHTM
Trên cơ sở nhu cầu sử dụng của từng khoản vay vốn của khách hàng và khảnăng kiểm tra giám sát việc khách hàng sử dụng vốn vay của ngân hàng ngânhàng cùng với khách hàng có thể lựa chọn một trong các phương thức cho vaysau đây:
* Cho vay từng lần
Đây là phương thức cho vay được áp dụng đối với khách hàng không cónhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi.Mỗi lần vay khách hàng làm đơn và phương án sử dụng vốn vay nộp ngân hàng.Các khoản vay này riêng biệt nhau theo các hồ sơ vay vốn khác nhau Ngân hàngtiến hành phân tích khách hàng và ký hợp đồng cho vay, xác định quy mô chovay, thời hạn giải ngân, thời hạn trả nợ, lãi suất và yêu cầu đảm bảo nếu cần.Mức = Tổng nhu cầu vốn - Vốn tự có của - Vốn khác
Trang 10cho vay của phương án, dự
* Cho vay theo hạn mức tín dụng
Đây là phương thức áp dụng đối với khách hàng vay mượn thường xuyên,vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh Ngân hàngcùng với khách hàng xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trongmột khoảng thời gian nhất định Mỗi lần vay, khách hàng chỉ cần trình bàyphương án sử dụng tiền vay, nộp các chứng từ chứng minh đã mua hàng hoặcdịch vụ và nêu yêu cầu vay Sau khi kiểm tra chứng từ ngân hàng sẽ phát tiền chokhách hàng
Hạn mức
tín dụng =
Nhu cầu vốnlưu động trongkỳ
-Vốn tự có củakhách hàng tham
gia
- Vốn khác(nếu có)
Nhu cầu vốn lưu
* Cho vay theo dự án đầu tư
Trang 11Theo phương thức này, ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các
dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụđời sống Ngân hàng và khách hàng ký hợp đồng tín dụng và thoả thuận mức vốnđầu tư duy trì cho cả thời gian đầu tư của dự án, phân định các kỳ hạn trả nợ.Ngân hàng thực hiện giải ngân theo tiến độ thi công của dự án
Mức cho
Tổng nhu cầuvốn của dự án -
Vốn tự có của chủ
dự án tham gia
-Vốn khác(nếu có)
Thời hạn trả
Mức cho vayKhấu hao cơ bản dùng để trả nợ + Lợi nhuận + Nguồn
khác
* Cho vay hợp vốn
Cho vay hợp vốn là việc nhiều tổ chức tín dụng cùng cho vay một dự án củakhách hàng Cho vay hợp vốn thường xảy ra khi: Nhu cầu xin vay của kháchhàng vượt giới hạn cho vay của ngân hàng (15% vốn tự có); khả năng tài chính
và nguồn vốn của một ngân hàng không đáp ứng được nhu cầu cho vay của một
dự án; khi ngân hàng có nhu cầu phân tán rủi ro; hay bên nhận tài trợ có nhu cầuhuy động vốn từ nhiều tổ chức tín dụng khách
* Cho vay trả góp
Áp dụng với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho TSCĐ hoặc hànglâu bền Khi vay vốn, ngân hàng cùng với khách hàng xác định và thoả thuận sốlãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạntrong thời hạn cho vay Ngân hàng sẽ thanh toán cho người bán lẻ về số tiền màkhách hàng còn phải trả Các cửa hàng bán lẻ sau khi nhận tiền từ phía ngân hàng
sẽ làm đại lý thu tiền cho ngân hàng hoặc khách hàng trả trực tiếp cho ngân hàng Đây là phương thức cho vay nhằm khuyến khích tiêu thụ hàng hoá, nhưngđối với ngân hàng đây là phương thức cho vay có rủi ro cao do khách hàngthường thế chấp bằng hàng hoá mua trả góp và khả năng trả nợ phụ thuộc vào thunhập đều đặn của người vay Vì vậy lãi suất cho vay trả góp thường là lãi suấtcao nhất trong khung lãi suất cho vay của NH
Trang 12* Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng
NHTM nơi cho vay chấp thuận cho khách hàng sử dụng số vốn vay trongphạm vị hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiềnmặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của ngân hàng Khicho vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, ngân hàng nơi cho vay và khách hàngphải tuân theo các quy định của Chính phủ và NHNN về phát hành và sử dụngthẻ tín dụng
* Cho vay theo hạn mức thấu chi
Phương thức này áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu vay theo hạn mứcthấu chi, có thu nhập ổn định , có tín nhiệm với ngân hàng Theo phương thứcnày khách hàng phải mở tài khoản thấu chi tại ngân hàng, phải có cam kếtchuyển thu nhập của mình vào tài khoản thấu chi và hoàn toàn chịu trách nhiệm
và nội dung và tính hợp pháp của khoản chi của khách hàng trên tài khoản thấuchi
1.1.6 Quy trình cho vay của NHTM
Quy trình cho vay được bắt đầu từ khi cán bộ tín dụng tiếp cận hồ sơ kháchhàng và kết thúc khi kế toán viên tất toán thanh lý hợp đồng tín dụng Quy trìnhcho vay của NHTM gồm các bước sau:
Bước1: Cán bộ tín dụng được phân công giao dịch với khách hàng có trách
nhiệm hướng dẫn khách hàng lập và gửi hồ sơ vay vốn Bao gồm: hồ sơ pháp lý,
hồ sơ kinh tế và hồ sơ vay vốn
Sau khi nhận được hồ sơ hợp pháp, hợp lệ do khách hàng gửi đến, cán bộtín dụng tiến hành thẩm định các điều kiện vay vốn (thẩm định cho vay) Thẩmđịnh cho vay là nội dung quan trọng nhất trong quy trình cho vay, đó chính làviệc thẩm định các điều kiện vay vốn Tuỳ theo loại hình khách hàng, loại chovay, phương thức cho vay, quy mô dự án, đối tượng cho vay để có nội dung thẩmđịnh thích hợp Nội dung cơ bản của thẩm định gồm các nội dung sau:
- Thẩm định năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự
- Thẩm định khả năng tài chính ( Sức khỏe của khách hàng)
Trang 13- Thẩm định mục đích vay vốn
- Thẩm định phương an, dự án vay vốn
- Thẩm định tài sản là bảo đảm nợ
Bước 2: Trưởng phòng tín dụng hoặc tổ trưởng tín dụng có trách nhiệm
kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của hồ sơ và báo cáo thẩm định do cán bộ tín dụnglập, tiến hành xem xét, tái thẩm định (nếu cần thiết) hoặc trực tiếp thẩm địnhtrong trường hợp kiêm làm cán bộ tín dụng, ghi ý kiến vào báo cáo thẩm định, táithẩm định (nếu có) và trình giám đốc quyết định
Bước 3: Giám đốc ngân hàng nơi cho vay căn cứ báo cáo thẩm định, tái
thẩm định (nếu có) do phòng tín dụng trình, quyết định cho vay hoặc không chovay
Bước 4: Hồ sơ khoản vay được giám đốc ký duyệt cho vay được chuyển
giao cho kế toán thực hiện nghiệp vụ hạch toán kế toán, thanh toán, chuyển thủquỹ để giải ngân cho khách hàng (nếu cho vay bằng tiền mặt)
Bước 5: Sau khi cho vay, cán bộ tín dụng tiến hành kiểm tra sử dụng vốn
vay như quy định
1.1.7 Điều kiện vay vốn của NHTM
Theo quy định của thống đốc NHNN Việt Nam, khách hàng vay vốn ngânhàng phải có 5 điều kiện sau đây:
- Có năng lực pháp luật dân sự: Năng lực pháp luật dân sự của doanh nghiệpđược phát sinh ở thời điểm đăng ký hoạt động
- Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp
- Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết
- Có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệuquả; hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi
- Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ,NHNN Việt Nam
1.1.7 Bảo đảm tiền vay
Trang 14Khi thẩm định các điều kiện vay vốn có một điều kiện rất quan trọng làkhách hàng phải thực hiện bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính Phủ vàNHNN Theo quy định tại nghị định 178/1999/NĐ-CP và thông tư 06/2000/TT-NHNN1 về bảo đảm tiền vay có các hình thức sau:
Thứ
nhất : Bảo đảm tiền vay bằng tài sản có ba hình thức
- Cầm cố, thế chấp bằng tài sản của khách hàng vay: Tài sản thế chấp, cầm
cố phải thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của doanh nghiệp, tài sản phải dễphát mại
- Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba: Bên bảo lãnh phải có năng lực phápluật dân sự đối với các pháp nhân, có khả năng về vốn, tài sản để thực hiện đượcnghĩa vụ bảo lãnh
- Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay: Khách hàng phải có tínnhiệm với ngân hàng, có mức vốn tự có tham gia tối thiểu theo quy định, có dự
án đầu tư hoặc phương án SXKD có hiệu quả, có khả năng trả nợ trong thời hạncam kết
Thứ hai: Bảo đảm tiền vay không có bảo đảm bằng tài sản.
Khách hàng được vay vốn của ngân hàng mà không cần tài sản bảo đảm thìthường khách hàng phải là khách hàng có uy tín đối với ngân hàng, kinh doanh
có lãi hai năm liền kề với thời điểm xem xét cho vay, có dự án hoặc phương ánsản xuất kinh doanh có hiệu quả, có khả năng trả nợ trong thời hạn cam kết, cócam kết thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tài sản nếu sử dụng vốn vay khôngđúng cam kết trong hợp đồng tín dụng
1.2 Cho vay đối với doanh nghiệp của NHTM
1.2.1 Sự khác nhau trong hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp của NHTM
Để phân biệt được hai nhóm khách hàng này ta cần khẳng định sự phân biệt
rõ ràng giữa chúng là không thể thực hiện được Sự phân biệt này chỉ mang tínhtương đối và ranh giới giữa hai nhóm khách hàng này cũng không rõ ràng đối vớingân hàng Tuy nhiên giữa hai nhóm đối tượng này có một số điểm khác nhau cơbản sau:
Trang 15* Đặc trưng về khoản vay
Các khoản vay đối với khách hàng cá nhân thường là các khoản vay có giátrị nhỏ, nhưng số lượng khoản vay là rất lớn Chính vì số lượng lớn khách hàngcũng như số lượng khoản vay là rất lớn nên tính nhạy cảm của nhóm khách hàngnày là rất cao, đòi hỏi ngân hàng phải có những chiến lược marketing riêng biệt,
cụ thể, mang lại sự gần gũi, tin tưởng và yên tâm cho khách hàng đến ngân hàngxin vay vốn
Đối với các doanh nghiệp do đặc thù riêng có của doanh nghiệp mà cácNHTM phải tổ chức các phòng tín dụng chuyên trách phục vụ Nhóm khách hàngnày thường có nhu cầu vốn với số lượng lớn và có thể là rất lớn, tuy nhiên sốlượng khách hàng loại này của mỗi NHTM thường không lớn Vì vậy, cácNHTM cần đặc biệt chú ý quan tâm đến từng khách hàng cụ thể, từ đó xây dựngtốt mối quan hệ tín dụng lâu dài đồng thời mở rộng các mối quan hệ với doanhnghiệp mới
* Chất lượng khoản vay
Đối với khách hàng cá nhân, chất lượng khoản vay thường khá tốt Cho vayđối với nhóm khách hàng cá nhân giúp ngân hàng phân tán được rủi ro thông quaviệc cho vay được nhiều món vay đối với nhiều khách hàng Tuy nhiên cáckhoản vay đối với khách hàng cá nhân chỉ có chất lượng tốt khi không có nhữngbiến cố từ khách hàng Đồng thời các khoản vay thường bị ngân hàng xem xét là
có tính rủi ro cao nên nó được áp dụng mức lãi suất cao nhất trong bảng lãi suấtcho vay áp dụng đối với khoản vay trong các NHTM
Đối với khách hàng doanh nghiệp, mỗi khoản vay đều đòi hỏi một quytrìmh nghiêm ngặt vì giá trị của mỗi khoản vay này rất lớn Bất kỳ một sự sai sótnào trong khâu thẩm định có thể dẫn đến hậu quả xấu cho hoạt động kinh doanhcủa ngân hàng Vì vậy khoản vay có chất lượng tốt khi ngân hàng làm tốt côngtác thẩm định trước khi cho vay Ngoài ra yếu tố kết quả hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp cũng ảnh hưởng tới chất lượng khoản vay
* Thời hạn cho vay
Trang 16Đối với khách hàng cá nhân thời hạn vay chủ yếu là ngắn hạn, một phần làtrung hạn và rất nhỏ là dài hạn Các cá nhân đến xin vay ngân hàng các khoản đểđáp ứng tức thời các nhu cầu của họ mà ngay tức thời chưa đủ khả năng chi trảnhưng họ hoàn toàn đủ khả năng chi trả trong một khoảng thời gian ngắn hoặctrung hạn
Thời hạn cho vay đối với doanh nghiệp thường ngắn và có tính ổn định cao(thường là mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh)
1.2.2 Vai trò của hoạt động cho vay của NHTM đối với doanh nghiệp
Các nhu cầu vốn trong kinh doanh của doanh nghiệp chủ yếu là do sự chênhlệch thời gian giữa chi phí và thu nhập kinh doanh Thật vậy, giữa thời điểm muanguyên vật liệu và thời điểm bán sản phẩm có một thời hạn thay đổi tuỳ thuộcvào độ dài của hoạt động chế biến và lưu kho của doanh nghiệp Ngoài ra, việcbán hàng thường kèm theo thời hạn thanh toán tiền hàng Vì vậy, các doanhnghiệp phải có nguồn ngân quỹ thoả đáng để đáp ứng đầy đủ kịp thời các nhu cầukinh doanh Thực tế các doanh nghiệp thường không đủ vốn để bù đắp mọikhoản sử dụng trong kinh doanh, mặc dù các doanh nghiệp cũng được ngườicung cấp của họ dành cho một thời hạn trả chậm khi mua hàng thì các doanhnghiệp vẫn không đủ ngân quỹ để đáp ứng mọi nhu cầu chi tiêu đó Vì vậy, cácdoanh nghiệp thường phải xin vay ngân hàng để đảm bảo cân bằng ngân quỹ, đápứng nhu cầu chi tiêu của doanh nghiệp Vì vậy, có thể khẳng định guồn vốn chovay của NHTM góp phần hình thành thị trường tài chính đáp ứng nhu cầu vốn cơbản cho sản xuất, chế biến lưu thông hàng hoá của doanh nghiệp Vai trò này củaNHTM đối với các doanh nghiệp thể hiện trên các mặt sau:
Thứ nhất, cho vay góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho doanh
nghiệp: Để thực hiện các quyết định đầu tư các chủ doanh nghiệp thường thích
sử dụng vốn vay Với việc vay vốn chủ doanh nghiệp vẫn nắm chắc quyền kiểmsoát doanh nghiệp, hơn nữa các doanh nghiệp có thể thu được lợi nhuận từ tiềnvay lớn hơn lãi phải trả làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp gia tăng đáng kể.Hơn nữa doanh nghiệp lại được hưởng một khoản tiết kiệm nhờ lãi vì lãi tiền vayđược tính vào chi phí hợp lý khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp
Trang 17Thứ hai, cho vay đáp ứng phần lớn nhu cầu vốn lưu động phục vụ sản xuất
kinh doanh của doang nghiệp: Để tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường đặcbiệt trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển các doanh nghiệp phải đáp ứngđược yêu cẩu đổi mới, tức là phải thường xuyên nâng cao trình độ của mình kể cảkiến thức xã hội, khả năng áp dụng quy trình, công nghệ kỹ thuật mới trong quátrình sản xuất kinh doanh, chấp nhận sự cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh đểđem lại hiệu quả kinh tế cao Đây là một đòi hỏi tất yếu đối với các doanhnghiêp, các doanh nghiệp cần phải có một nguồn vốn đủ để đáp ứng những đòihỏi đó mà nguồn vốn tự có của doanh nghiệp thường không đủ cho những đòi hỏinày, vì vậy các doanh nghiệp phải đi vay mà chủ yếu là vay của NHTM
Thứ ba, cho vay thúc đẩy doanh nghiệp sử dụng vốn hiệu quả hơn: Nguồn
vốn cho vay của ngân hàng đối với doanh nghiệp tuân thủ một cơ chế cho vaychung là: Cho vay đảm bảo thu hồi cả gốc, lãi đầy đủ, đúng hạn, vốn vay phảiđem lại hiệu quả kinh tế Điểm này bắt buộc các doanh nghiệp phải suy nghĩ: Sảnxuất kinh doanh cái gì? Như thế nào? Bán đi đâu? Hạch toán kinh tế ra sao? Tiếtkiệm cho phí đầu vào nâng cao chất lượng sản phẩm thu được phần lãi cao nhất.Hơn nữa trong quá trình cho vay NHTM vẫn có quyền kiểm tra giám sát hoạtđộng sử dụng vốn của doanh nghiệp đồng thời đôn đốc các doanh nghiệp vay vốntrả nợ đúng hạn đồng vốn của doanh nghiệp được sử dụng hiệu quả hơn Vì vậy,hoạt động cho vay của NHTM đã thúc đẩy doanh nghiệp sử dụng vốn hiệu quảhơn
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp của NHTM
1.2.3.1 Các nhân tố thuộc về ngân hàng:
* Chính sách tín dụng đối với doanh nghiệp của ngân hàng
Chính sách tín dụng của ngân hàng là sự thể hiện việc cung cấp tiền vay củangân hàng cho khách hàng, chính sách tín dụng được đưa ra là nền tảng cho chỉđạo hoạt động tín dụng đi đúng hướng phục vụ cho việc an toàn lành mạnh baogồm các vấn đề về quy mô các khoản vay, hình thức cho vay, kỳ hạn vay, đảmbảo và lãi suất cho vay Trong hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp ngânhàng muốn mở rộng quy mô cho vay thì chính sách tín dụng của ngân hàng
Trang 18không những phải đảm bảo đúng đường lối chính sách, tuân thủ pháp luật mà cònphải cởi mở, thông thoáng, đúng đắn, phù hợp với doanh nghiệp, phù hợp vớithực tiễn Bất cứ NHTM nào muốn đẩy mạnh hoạt động cho vay đều phải cóchính sách tín dụng thích hợp với ngân hàng mình.
* Quy trình cho vay
Quy trình cho vay là quy trình bắt buộc thực hiện trọng quá trình thẩm địnhcho vay, giám sát các khoản vay, thu nợ nhằm đảm bảo an toàn vốn Quy trìnhcho vay được cụ thể hoá thành các quy định cho vay bắt buộc, mọi khoản vayphải thực hiện chặt chẽ theo đúng các quy định này Quy trình cho vay của ngânhàng chặt chẽ thì chất lượng khoản vay được đảm bảo nhưng có thể sẽ ảnh hưởngđến số lượng các khoản vay vì quy trình cho vay chặt chẽ thường có sự rườm rà,phức tạp, nhiều thủ tục trong quy trình vay, vì thế có thể gây trở ngại cho cácdoanh nghiệp đến vay vốn ngân hàng Một ngân hàng với quy trình cho vay đơngiản, gọn nhẹ, ít thủ tục sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đến vayvốn ngân hàng nhiều hơn Vì vậy, vấn đề đặt ra cho các ngân hàng trong hoạtđộng mở rộng cho vay đối với doanh nghiệp là ngân hàng phải tạo lập được mộtquy trình cho vay đơn giản, loại bỏ bớt các thủ tục không cần thiết nhưng vẫnđảm bảo chất lượng khoản vay
* Chất lượng cán bộ tín dụng
Năng lực, trình độ cán bộ tín dụng thể hiện ở trình độ học vấn, kinh nghiệmnghề nghiệp và đạo đức nghề nghiệp của bản thân họ Việc quyết định cho vayđúng đắn hoặc sai sót của cán bộ tín dụng có ảnh hưởng đến việc đẩy mạnh hoạtđộng cho vay đối với doanh nghiệp Nếu ngân hàng có đội ngũ cán bộ tín dụngđầy đủ năng lực, trình độ, đạo đức nghề nghiệp thì trong hoạt động kinh doanhcủa ngân hàng nói chung và trong việc đẩy mạnh hoạt động cho vay đối với cácdoanh nghiêp nói riêng sẽ có nhiều thuận lợi và thu được kết quả cao Ngược lại,cán bộ tín dụng quan liêu, xét duyệt cho vay không vô tư, thiếu hiểu biết phápluật, thậm chí thoái hoá biến chất, báo cáo sai sự thật với cấp trên, đề xuất chovay sai lầm, không chung thực sẽ gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động cho vay vàrất dễ để lại một hình ảnh xấu về ngân hàng mình trong các doanh nghiệp và nhưvậy sẽ hạn chế việc các doanh nghiệp đến ngân hàng vay vốn
Trang 19Hơn nữa, nếu cán bộ cho vay không có trình độ sẽ không phân tích đượckinh tế tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và sẽ gặp phảinhững sai lầm trong các quyết định cho vay Vì vậy, hiện nay các ngân hàng rấtcoi trọng khâu tổ chức đề bạt, đào tạo và đào tạo lại cán bộ, tuyển dụng đúng đắntrình độ cán bộ trên các mặt: kiến thức kinh tế - xã hội, kiến thức phân tích tàichính, kiến thức pháp luật, kiến thức tin học, công nghệ hiện đại.
* Hoạt động thu thập phân tích thông tin của ngân hàng
Đây là hoạt động có vai trò quan trọng trong việc giảm thấp rủi ro tronghoạt động cho vay của ngân hàng Nhờ có thông tin người quản lý có thể đưa raquyết định đúng đắn hoặc sai lầm vì thế sẽ liên quan trực tiếp đến chất lượng cáckhoản vay Chẳng hạn một ngân hàng chọn nhầm thông tin không đánh giá đíchthực khả năng tài chính của doanh nghiệp, tình hình sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp có thể yếu kém thua lỗ sẽ gây ảnh hưởng đến việc thu hồi nợ Mặtkhác, khách hàng cũng có htể cung cấp thông tin không đầy đủ, sai sự thật chongân hàng Cả hai trường hợp trên dẫn đến rủi ro trong hoạt động cho vay củangân hàng Do vậy việc tổng hợp, phân tích thông tin về doanh nghiệp để xácđịnh khách hàng tiềm năng, khách hàng có triển vọng tốt, loại trừ khách hàng xấu
là một yêu cầu quan trong đối với mọi ngân hàng
1.2.3.2 Các nhân tố thuộc về doanh nghiệp:
Để đánh giá tầm vóc hoạt động của một ngân hàng có thể dựa trên nhiềutiêu thức khác nhau Song yếu tố khách hàng là yếu tố chủ yếu phản ánh bứctranh hoạt động của một NHTM, đặc biệt số lượng và chất lượng khách hàng Sốlượng ra sao, quy mô thế nào luôn là mối quan tâm của những nhà quản lý kinhdoanh trên lĩnh vực ngân hàng Chính vì vậy các NHTM thường xuyên “sànglọc” khách hàng để đạt mục tiêu lựa chọn khách hàng có triển vọng, loại trừkhách hàng xấu ra khỏi hệ thống khách hàng vốn có Thực tế hoạt động kinhdoanh đã chỉ rõ hoạt động cho vay của ngân hàng không thể tốt được nếu nhưkhông có một hệ thống khách hàng tốt Doanh nghiệp là một trong những đốitượng khách hàng của ngân hàng có ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của ngânhàng Doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, có uy tín, khả năng trả nợ cho ngân hàng
là cao, vì vậy nhu cầu vay vốn chính đáng của họ sẽ được ngân hàng chấp nhận
Trang 20cho vay Ngược lại, doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả, uy tín thấp, khả năngtài chính không đảm bảo sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro cho ngân hàng và khi rủi ro ấyxảy ra sẽ gây thiệt hại cho ngân hàng Như vậy, hoạt động cho vay đối với doanhnghiệp của NHTM có chịu ảnh hưởng bởi những nhân tố thuộc về doanh nghiệp,các nhân tố đó là:
* Năng lực tài chính của doanh nghiệp, uy tín của doanh nghiệp đối với ngân hàng
Năng lực tài chính của doanh nghiệp thể hiện ở mức vốn tự có của doanhnghiệp tham gia vào dự án sản xuất kinh doanh, tài sản thế chấp, tài sản đảm bảo.Năng lực tài chính của doanh nghiệp cao, lành mạnh thì khả năng trả nợ ngânhàng được đảm bảo Uy tín của doanh nghiệp đối với ngân hàng thể hiện ở kếtquả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được ngân hàng ghi nhận là tốt, cóhiệu quả, được ngân hàng xếp vào nhóm khách hàng tốt Những doanh nghiệp có
uy tín với ngân hàng thì khả năng được vay vốn ngân hàng là cao và thuận lợi
* Đặc điểm của dự án vay vốn
Dự án vay vốn có khả năng thực thi cao, có khả năng tạo lợi nhuận lớn, ítrủi ro thì khả năng trả nợ ngân hàng của doanh nghiệp được đảm bảo do đó ngânhàng sẵn sàng cho doanh nghiệp vay để đầu tư những dựa án như vậy Hơn nữa,doanh nghiệp sử dụng tiền vay đúng đối tượng, đúng mục đích thì mới có giá trịthực tiễn đem lại hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội và việc thu nợ gốc và lãivay sẽ khả thi Như vậy, đặc điểm của dự án vay vốn, tính hiệu quả của dự ánvay vốn, thời gian thu hồi vốn của dự án sẽ ảnh hưởng đến hoạt động cho vay đốivới doanh nghiệp của ngân hàng
1.2.3.3 Các yếu tố thuộc về môi trường bên ngoài:
* Điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội
Điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của ngân hàng.Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi, ít bị thiên tai sẽ tác động tích cực tới hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp Giao thông đi lại cũng ảnh hưởng đến hoạt độngcho vay doanh nghiệp của ngân hàng Thật vậy, nếu ngân hàng nằm trên tuyếnđường giao thông thuận lợi cho việc đi lại đối với các doanh nghiệp thì sẽ thu hút
Trang 21được nhiều doanh nghiệp đến giao dịch hơn so với những ngân hàng mà việc điđến giao dịch với ngân hàng gặp khó khăn, trắc trở, bất lợi.
Tình hình xã hội có ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của ngân hàng Một
xã hội ổn định, an ninh trật tự được giữ vững là môi trường tốt để các doanhnghiệp cũng như các NHTM ổn định hoạt động kinh doanh của mình Từ đó việc
mở rộng cho vay đối với doanh nghiệp sẽ an toàn và thuận lợi hơn
Nền kinh tế cũng ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của ngân hàng đối vớidoanh nghiệp Môi trường kinh tế lành mạnh tạo điều kiện cho ngân hàng pháttriển tốt và ngược lại Môi trường kinh tế tác động đến hoạt động cho vay thểhiện trên các mặt như: Thứ nhất là trình độ phát triển của nền kinh tế Một nềnkinh tế của một quốc gia đạt đến trình độ phát triển cao hoặc trung bình, lạc hậu
nó sẽ thể hiện rõ môi trường cho vay của các NHTM có hệ thống ổn định hay làmanh mún, nhỏ lẻ Thứ hai là tính tăng trưởng của nền kinh tế Nền kinh tế tăngtrưởng ổn định thể hiện môi trường kinh tế lý tưởng trong hoạt động kinh doanhngân hàng Song trong thực tế nền kinh tế thị trường luôn có bước phát triển đặcthù của nó vì vậy trong mỗi giai đoạn, hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngânhàng phải đối mặt với những thách thức như: nếu giai đoạn nền kinh tế hưngthịnh hoặc kinh tế phục hồi thì hoạt động ngân hàng diễn ra thuận lợi, ngược lạigiai đoạn suy thoái, khủng hoảng lạm phát, giảm phát diễn ra sẽ khó có thể tránhkhỏi những rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng
* Chính sách của Đảng và hệ thống pháp luật của Nhà nước đối với doanh nghiệp và ngân hàng
Đây là yếu tố rất quan trọng bởi vì sự can thiệp của Đảng và Nhà nước đốivới nền kinh tế là một tác nhân thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển nềnkinh tế,
từ đó ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của ngân hàng đối với các chủ thể trongnền kinh tế nói chung và đối với các doanh nghiệp nói riêng Sự điều tiết của Nhànước đối với nền kinh tế bằng những công cụ pháp luật để làm cơ sở, hành langpháp lý cho nền kinh tế phát triển lành mạnh Có thể nói rằng một hệ thống phápluật tốt, thông thoáng sẽ bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp nói chung
và ngân hàng nói riêng, ngăn chặn được những tiêu cực xảy ra trong xã hội như
Trang 22tham nhũng, buôn lậu, hụi họ, số đề, cờ bạc , và sẽ khuyến khích được sự pháttriển của các doanh nghiệp và ngân hàng.
Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng các quan hệ pháp luật của NHTMvới các pháp nhân, thể nhân rất phong phú, đa dạng, phức tạp Vì vậy hoạt độngcho vay của ngân hàng đối với các doanh nghiệp chịu tác động mạnh mẽ của hệthống pháp luật hiện hành đặc biệt là các văn bản pháp lý liên quan đến hoạtđộng ngân hàng
Trang 23Chương II Thực trạng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp tại chi nhánh NHNo&PTNT Hà Tây
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và các doanh nghiệp ở Hà Tây
2.1.1 Điều kiện tự nhiên của Hà Tây
Hà Tây với diện tích 2192 km2, liền kề và bao quanh thủ đô Hà Nội về phíatây và phía tây nam Phía đông của Hà Tây là tỉnh Hưng Yên Phía bắc, tây bắcgiáp các tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ Phía tây giáp với tỉnh Hoà Bình Phía nam làtỉnh Hà Nam Tỉnh Hà Tây ở về phía tây của vùng đồng bằng Bắc Bộ Hà Tâynằm cạnh khu kinh tế tam giác Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh - hạt nhân kinh
tế miền Bắc Đó chính là môi trường thuận lợi để tạo đà thúc đẩy kinh tế Hà Tâyphát triển
Hà Tây được sông Đà, sông Hồng bao quanh địa bàn tỉnh từ phía tây bắcxuống phía đông nam Ngoài ra trên địa bàn tỉnh có những sông lớn như sôngĐáy, sông Nhuệ, sông Tích và một số đầm hồ lớn Hệ thống sông ngòi cung cấpnước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp, vừa có giá trị tiềm năng nuôi trồng thuỷsản và du lịch…Ngoài ra, Hà Tây còn là một tỉnh có nhiều di tích lịch sử, nhiềucảnh quan đẹp tạo nên nhiều điểm du lịch nổi tiếng, đóng góp rất nhiều vào sựphát triển kinh tế của tỉnh nhà
Với những điều kiện tự nhiên như trên, Tỉnh đã thu hút được nhiều nguồnvốn, nhiều các nhà đầu tư đầu tư và hình thành nhiều doanh nghiệp
2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội của Hà Tây
Hà Tây là một tỉnh nông nghiệp, có hơn 80% dân số là nông dân Hà Tây cóvùng nông thôn rộng lớn, đất đai chứa đựng những tiềm năng kinh tế đa dạng.Thế mạnh của Tỉnh là phát triển nông nghiệp, cây công nghiệp, cây ăn quả, chănnuôi và phát triển tiểu thủ công nghiệp, với 1141 làng nghề truyền thống Đây làmôi trường thuận lợi để NHNo&PTNT huy động vốn, đầu tư tín dụng, giúp các
Trang 24thành phần kinh tế và hộ nông dân phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần xâydựng nông thôn Hà Tây ngày một giàu mạnh, văn minh tiến bộ.
Bên cạnh đó, nhiều khu công nghiệp, cụm điểm công nghiệp đã hình thành
và đang phát triển, thu hút nhiều doanh nghiệp đầu tư sản xuất kinh doanh, tạothêm viẹc làm cho hàng vạn người lao động
Trên địa bàn tỉnh có 8 đơn vị hoạt động kinh doanh tiền tệ - tín dụng vàdịch vụ ngân hàng, bao gồm: NHNo&PTNT, NH Đầu tư và phát triển, NH Côngthương, NH Chính sách xã hội, NH Phát triển Nhà Đồng Bằng sông Cửu Long,
NH cổ phần quốc tế, hệ thống 74 quỹ Tín dụng nhân dân và 1 quỹ Tín dụng TW.Đây là những đối thủ cạnh tranh của NHNo&PTNT Hà Tây Theo quy định củaNHNN Việt Nam thì một khách hàng có thể có quan hệ với nhiều tổ chức tíndụng, do vậỵ để đứng vững được trên thị trường thì NHTM nói chung vàNHNo&PTNT Hà Tây nói riêng phải hết sức cố gắng trong mọi hoạt động kinhdoanh của mình
Ý thức được những thuận lợi và khó khăn trên, để phát triển kinh doanh cóhiệu quả trong môi trường cạnh tranh theo cơ chế thị trường, trong những nămqua NHNo&PTNT Hà Tây đã nhận thức đầy đủ định hướng kinh doanh củaNHNo&PTNT Việt Nam và thường xuyên bám sát mục tiêu phát triển kinh tếcủa Tỉnh, đề ra nhiều giải pháp kinh doanh phù hợp và đã đạt được nhiều thànhcông như ngày hôm nay
2.1.3 Khái quát về các doanh nghiệp ở Hà Tây
* Doanh nghiệp nhà nước
Tính đến 31/12/2006 toàn tỉnh có 82 DNNN trong đó có 26 doanh nghiệpđang có quan hệ vay vốn NHNo&PTNT Hà Tây, giảm so với đầu năm là 6 doanhnghiệp,tỷ trọng DNNN có quan hệ tín dụng với NHNo&PTNT là 31,7% so vớitổng DNNN có trên địa bàn Số lượng DNNN trên địa bàn tỉnh ngày càng giảm(năm 2004 toàn tỉnh có 95 DNNN) do quá trình sắp xếp lại doanh nghiệp và quátrình cổ phần hoá chuyển sang công ty cổ phần Hiện tại các DNNN hầu nhưđang trong tình trạng khó khăn, sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả thấp, thua lỗ.Tình trạng này đã gây khó khăn cho việc thu hồi nợ của ngân hàng đối với nhữngdoanh nghiệp đã có quan hệ vay vốn của ngân hàng Ví dụ như: Công ty Xây
Trang 25dựng công trình giao thông 116 hiện tại nợ NHNo&PTNT Hà Tây 34.176 triệuđồng, Công ty Xuất nhập khẩu may thêu Hưng Thịnh hiện tại nợ 33.346 triệuđồng
Trước tình trạng hoạt động kinh doanh của khối các DNNN làm ăn gặp khókhăn như vậy ngân hàng vẫn phải giữ quan hệ với các doanh nghiệp này để giữchân khách hàng bởi vì trong tương lai các DNNN sẽ cổ phần hoá chuyển sangcông ty cổ phần hạch toán độc lập, làm ăn có hiệu quả hơn
* Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Số lượng các DNNQD trên địa bàn tỉnh ngày càng nhiều, năm 2005 toàntỉnh có 2164 doanh nghiệp, đến 31/12/2006 đã có tới 3200 doanh nghiệp và chủyếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa Trong số 3200 doanh nghiệp, hiện có 750 doanhnghiệp có quan hệ vay vốn NHNo&PTNT Hà Tây Đây là thành phần kinh tếđang phát triển mạnh đã có đóng góp lớn vào quá trình phát triển kinh tế của HàTây nhưng trình độ quản lý còn hạn chế, vốn tự có thấp, sức cạnh tranh yếu, sổsách kế toán chưa kịp thời, trong hoạt động sản xuất kinh doanh các doanhnghiệp vẫn chưa có những dự án, phương án phát triển vững chắc, lâu bền
Chính vì những hạn chế trên mà hoạt động cho vay của ngân hàng đối vớicác doanh nghiệp này gặp phải nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến việc kiểm tra,kiểm soát của ngân hàng đối với doanh nghiệp do đó làm hạn chế việc nghiêncứu mở rộng đầu tư tín dụng của ngân hàng Vì vậy để thúc đẩy và nâng caonăng lực cho khối doanh nghiệp này NHNo&PTNT Hà Tây cần phải đẩy mạnhhoạt động cho vay đối với các đối tượng doanh nghiệp này trên cơ sở nắm bắtđược hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
2.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT Hà tây
2.2.1 Hoạt động huy dộng vốn
Huy động vốn là một trong những hoạt động chủ yếu và quan trọng nhấtcủa NHTM nói chung và NHNo&PTNT Hà Tây nói riêng Hoạt động này manglại nguồn vốn để ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động khác của mình Hoạtđộng huy động vốn tuy không mang lại lợi nhuận trực tiếp cho ngân hàng nhưng