Trong giao dịch kinh doanh quốc tế, sự thoả thuận giữa các bên thường được thể hiện trong hợp đồng. Hợp đồng quy định trách nhiệm và quyền lợi của các bên tham gia giao dịch. Tuy nhiên, không phải lúc nào hợp đồng cũng dự liệu được trước các tình huống có thể xảy ra. Do đó, tập quán thương mại quốc tế được đặt ra để bổ sung cho hợp đồng. Đề làm rõ về vấn đề áp dụng tập quán thương mại quốc tế, em xin chọn Đề số 3: “Bình luận về trường hợp áp dụng loại nguồn tập quán thương mại quốc tế thông qua việc phân tích một tranh chấp thương mại quốc tế cụ thể”. NỘI DUNG 1. Khái quát về tập quán thương mại quốc tế 1.1. Khái niệm Tập quán thương mại quốc tế là thói quen thương mại được hình thành lâu đời, có nội dung cụ thể, rõ ràng, được áp dụng liên tục và được các chủ thể trong giao dịch thương mại quốc tế chấp nhận một cách phổ biến. Tập quán thương mại quốc tế chỉ được coi là nguồn của luật thương mại quốc tế khi nó thỏa mãn các điều kiện pháp lý nhất định. 1.2. Phân loại Thông thường các tập quán thương mại được chia làm ba nhóm: các tập quán có tính chất nguyên tắc, các tập quán thương mại quốc tế chung và các tập quán thương mại khu vực. Tập quán có tính chất nguyên tắc là những tập quán cơ bản, bao trùm được hình thành trên cơ sở của nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia và bình đẳng giữa các dân tộc. Tập quán thương mại quốc tế chung là các tập quán thương mại được nhiều nước công nhận và được áp dụng ở nhiều nơi, nhiều khu vực. Các tập quán thương mại khu vực địa phương là các tập quán thương mại quốc tế được áp dụng ở từng nước, từng khu vực hoặc từng cảng. 2. Phân tích một tranh chấp thương mại quốc tế cụ thể 2.1. Tóm tắt sự việc Nguyên đơn (người bán, tại Anh) và bị đơn (người mua, tại Việt Nam) ký hợp đồng mua bán hơn 200 nghìn tấn khoáng sản theo điều kiện CIF Incoterms 2010, cảng dỡ hàng tại Việt Nam (Hợp đồng). Hàng hóa được giao theo phương thức giao hàng từng phần. Mỗi lô hàng được vận chuyển bằng tàu biển có trọng tải từ 22.000 33.000 tấn (DWT). Sau khi các tàu theo đường biển đến Việt Nam, để giảm mớn nước đáp ứng điều kiện về mớn nước luồng của cảng, một phần hàng hóa của một số tàu đã được chuyển sang các tàusà lansà lan biển khác nhỏ hơn với sức chứa từ 4.800 đến 7.500 DWT để vận chuyển vào bờ. Một số tàu khác không cần chuyển tải sang tàu nhỏ hơn để dỡ hàng. Sau khi hoàn thành việc giao toàn bộ các lô hàng cho Bị đơn theo Hợp đồng, Nguyên đơn đã gửi cho Bị đơn hồ sơ tính toán tiền phạt dôi nhật (demurrage) của 17 tàu biểnsà lansà lan biển đã tham gia vận chuyển toàn bộ hàng hóa của Hợp đồng. Tuy vậy, Bị đơn đã không đồng ý thanh toán tiền phạt dôi nhật nên nguyên đơn đã khởi kiện tại một trung tâm trọng tài ở Việt Nam để yêu cầu bồi thường hơn 19 tỷ đồng tiền phạt dôi nhật, cùng với hơn 2 tỷ đồng tiền lãi do chậm trả, tiền thuê dịch vụ tư vấn pháp luật và phí trọng tài.
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
- -BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
ĐỀ SỐ 03
Trang 2M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
1 Khái quát về tập quán thương mại quốc tế 1
1.1 Khái niệm 1
1.2 Phân loại 1
2 Phân tích một tranh chấp thương mại quốc tế cụ thể 2
2.1 Tóm tắt sự việc 2
2.2 Phân tích và giải quyết tranh chấp về trường hợp áp dụng tập quán thương mại quốc tế 3
3 Bình luận về trường hợp áp dụng loại nguồn tập quán thương mại quốc tế 4
KẾT LUẬN 5
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 6
Trang 3MỞ ĐẦU
Trong giao dịch kinh doanh quốc tế, sự thoả thuận giữa các bên thường được thể hiện trong hợp đồng Hợp đồng quy định trách nhiệm và quyền lợi của các bên tham gia giao dịch Tuy nhiên, không phải lúc nào hợp đồng cũng dự liệu được trước các tình huống có thể xảy ra Do đó, tập quán thương mại quốc tế được đặt ra
để bổ sung cho hợp đồng Đề làm rõ về vấn đề áp dụng tập quán thương mại quốc
tế, em xin chọn Đề số 3: “Bình luận về trường hợp áp dụng loại nguồn tập quán
thương mại quốc tế thông qua việc phân tích một tranh chấp thương mại quốc tế cụ thể”.
Trang 5NỘI DUNG
1 Khái quát về tập quán thương mại quốc tế
1.1 Khái niệm
Tập quán thương mại quốc tế là thói quen thương mại được hình thành lâu đời, có nội dung cụ thể, rõ ràng, được áp dụng liên tục và được các chủ thể trong giao dịch thương mại quốc tế chấp nhận một cách phổ biến Tập quán thương mại quốc tế chỉ được coi là nguồn của luật thương mại quốc tế khi nó thỏa mãn các điều kiện pháp lý nhất định.1
1.2 Phân loại
Thông thường các tập quán thương mại được chia làm ba nhóm: các tập quán
có tính chất nguyên tắc, các tập quán thương mại quốc tế chung và các tập quán
thương mại khu vực Tập quán có tính chất nguyên tắc là những tập quán cơ bản,
bao trùm được hình thành trên cơ sở của nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia
và bình đẳng giữa các dân tộc Tập quán thương mại quốc tế chung là các tập quán
thương mại được nhiều nước công nhận và được áp dụng ở nhiều nơi, nhiều khu
vực Các tập quán thương mại khu vực địa phương là các tập quán thương mại quốc
tế được áp dụng ở từng nước, từng khu vực hoặc từng cảng
2 Phân tích một tranh chấp thương mại quốc tế cụ thể
2.1 Tóm tắt sự việc
Nguyên đơn (người bán, tại Anh) và bị đơn (người mua, tại Việt Nam) ký hợp đồng mua bán hơn 200 nghìn tấn khoáng sản theo điều kiện CIF Incoterms
2010, cảng dỡ hàng tại Việt Nam (Hợp đồng) Hàng hóa được giao theo phương thức giao hàng từng phần Mỗi lô hàng được vận chuyển bằng tàu biển có trọng tải
từ 22.000 - 33.000 tấn (DWT) Sau khi các tàu theo đường biển đến Việt Nam, để
Trang 6giảm mớn nước đáp ứng điều kiện về mớn nước luồng của cảng, một phần hàng hóa của một số tàu đã được chuyển sang các tàu/sà lan/sà lan biển khác nhỏ hơn với sức chứa từ 4.800 đến 7.500 DWT để vận chuyển vào bờ Một số tàu khác không cần chuyển tải sang tàu nhỏ hơn để dỡ hàng
Sau khi hoàn thành việc giao toàn bộ các lô hàng cho Bị đơn theo Hợp đồng, Nguyên đơn đã gửi cho Bị đơn hồ sơ tính toán tiền phạt dôi nhật (demurrage)2 của
17 tàu biển/sà lan/sà lan biển đã tham gia vận chuyển toàn bộ hàng hóa của Hợp đồng Tuy vậy, Bị đơn đã không đồng ý thanh toán tiền phạt dôi nhật nên nguyên đơn đã khởi kiện tại một trung tâm trọng tài ở Việt Nam để yêu cầu bồi thường hơn
19 tỷ đồng tiền phạt dôi nhật, cùng với hơn 2 tỷ đồng tiền lãi do chậm trả, tiền thuê dịch vụ tư vấn pháp luật và phí trọng tài
Nguyên đơn cho rằng theo tập quán quốc tế “một khi bị phạt thì luôn luôn bị
phạt” (once on demurrage always on demurrage) thì toàn bộ thời gian có thời tiết
xấu, làm thủ tục cho tàu nhập cảnh, lấy nước dằn tàu và tháo nước dằn, mở và đóng nắm hầm hàng, giám định mớn nước, v.v (nếu có) luôn luôn phải tính là thời gian phạt dôi nhật Giá mà Bị Đơn thu xếp việc dỡ hàng xong trước khi hết thời gian dỡ hàng thì những khoảng thời gian nêu trên (nếu có) đã không bị tính là thời gian dỡ
hàng (If the respondent could arrange to discharge cargo before laytime expired,
such periods of time (if any) shall not count as laytime).
Bị đơn không đồng ý với Nguyên đơn về việc áp dụng tập quán “một khi bị
phạt thì luôn luôn bị phạt” và lập luận rằng hợp đồng không quy định về việc áp
dụng tập quán này và Nguyên đơn cũng không đưa ra được bất kỳ cơ sở pháp lý nào
cho việc áp dụng tập quán đó (any legal authority for its application) Bị đơn yêu
cầu Hội đồng Trọng tài xem xét có áp dụng tập quán này hay không trên cơ sở Hợp đồng được điều chỉnh bởi pháp luật Việt Nam (vụ việc xảy ra trước ngày 01 tháng
01 năm 2017)
2 Demurrage Charge (DEM) là phí lưu container tại bãi mà hãng tàu thu khách hàng.
4
Trang 72.2 Phân tích và giải quyết tranh chấp về trường hợp áp dụng tập quán thương mại quốc tế
Theo khoản 2 Điều 4 Bộ luật Hàng hải năm 2005, các bên có quyền thỏa thuận áp dụng luật nước ngoài hoặc tập quán hàng hải quốc tế trong quan hệ hợp
đồng: “Các bên tham gia trong hợp đồng liên quan đến hoạt động hàng hải mà
trong đó có ít nhất một bên là tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài thì có quyền thoả thuận áp dụng luật nước ngoài hoặc tập quán hàng hải quốc tế trong các quan hệ hợp đồng và chọn Trọng tài, Toà án ở một trong hai nước hoặc ở một nước thứ ba
để giải quyết tranh chấp”
Tuy nhiên, theo hợp đồng, các bên không có thỏa thuận về việc áp dụng luật pháp Anh cũng như tập quán hàng hải quốc tế Tập quán thương mại quốc tế chỉ có giá trị bổ sung cho hợp đồng Vì vậy những vấn đề hợp đồng đã quy định thì tập quán quốc tế không có giá trị, hay nói cách khác hợp đồng mua bán hàng hóa có giá trị pháp lý cao hơn so với tập quán thương mại quốc tế
Do đó, theo quy định nêu trên của Bộ luật Hàng hải năm 2005, nguyên đơn
không có cơ sở để áp dụng tập quán “một khi bị phạt thì luôn luôn bị phạt”.
Tiếp đó, tại khoản 4 Điều 3 Luật Thương Mại 2005 quy định:
“Tập quán thương mại là thói quen được thừa nhận rộng rãi trong hoạt động thương mại trên một vùng, miền hoặc một lĩnh vực thương mại, có nội dung
rõ ràng được các bên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại”
Như vậy, trong trường hợp này (vụ việc xảy ra trước khi Bộ luật Dân sự 2015
có hiệu lực), tập quán quốc tế “một khi đã bị phạt thì luôn luôn bị phạt” chưa được
coi là “tập quán” ở Việt Nam vì chưa được hình thành và lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài và chưa được thừa nhận, áp dụng rộng rãi ở Việt Nam Chứng cứ là chưa có nhiều người trong nghành, nghề hàng hải biết đến tập quán quốc tế này vào thời điểm đó Do đó, căn cứ vào nội dung vụ tranh chấp, quyết
Trang 8định không áp dụng tập quán quốc tế này tại Việt Nam là có cơ sở pháp lý và muốn
áp dụng tập quán quốc tế tại Việt Nam cần có thỏa thuận trong hợp đồng nhưng không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam
3 Bình luận về trường hợp áp dụng loại nguồn tập quán thương mại quốc tế
Dựa vào khái niệm tập quán thương mại quốc tế và tranh chấp đã phân tích trên có thể thấy nội hàm tập quán thương mại gồm:
Thói quen: là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng được hình thành và lặp lại nhiều lần trong thời gian dài giữa các bên, được các bên mặc nhiên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng thương mại
Tính phổ biến (được thừa nhận rộng rãi)
Tính phạm vi (phải liên quan đến nhiều quốc hia, vùng địa lý, các lĩnh vực mang tính chất quốc tế)
Nội dung rõ ràng
Được các bên thừa nhận
Tập quán quốc tế về thương mại chỉ có giá trị bổ sung cho hợp đồng Vì vậy, hợp đồng mua bán hàng hóa có giá trị pháp lý cao hơn so với tập quán thương mại quốc tế Khi áp dụng, cần chú ý là do tập quán quốc tế về thương mại có nhiều loại nên để tránh sự nhầm lẫn hoặc hiểu không thống nhất về một tập quán nào đó, cần phải quy định cụ thể tập quán đó trong hợp đồng
Ví dụ: điều khoản giá: giá hàng là 250 USD/MT FOB Hải Phòng Incoterms năm 2000 Incoterms năm 2000 được hiểu là áp dụng bản Quy tắc của ICC về các điều kiện thương mại quốc tế, bản sửa đổi năm 2000 Việc nêu cụ thể Incoterms
2000 sẽ giúp chúng ta tránh áp dụng nhầm các bản sửa đổi Incoterms trước đó, như bản sửa đổi năm 1980, 1990…
Dù đóng vai trò hỗ trợ, tập quán không những giải thích những điều khoản của hợp đồng mà còn hướng dẫn việc thực hiện các hợp đồng đó và bổ sung cho hợp đồng những điều khoản mà các bên chưa quy định hoặc quy định chưa cụ thể
6
Trang 9Các tập quán thương mại, khi được dẫn chiếu vào hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, sẽ có hiệu lực bắt buộc áp dụng đối với các chủ thể tham gia Khi áp dụng tập quán thương mại quốc tế, các bên cần phải chứng minh nội dung của tập quán đó Do đó, nếu các bên biết trước những thông tin về tập quán thương mại quốc tế đó trước khi bước vào đàm phán sẽ rất thuận lợi Khi áp dụng tập quán thương mại quốc tế , cần phải tiến hành phân loại tập quán quốc tế Nếu có tập quán chung và tập quán riêng thì tập quán riêng có giá trị trội hơn Nếu có tập quán mặt hàng và tập quán ngành hàng thì tập quán mặt hàng sẽ được ưu tiên áp dụng Như vậy, khi lựa chọn luật điều chỉnh, các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cần phải bảo đảm nguyên tắc sau để tránh những rủi ro xảy ra trong thực tiễn:
- Nên lựa chọn nguồn luật áp dụng sao cho thuận tiện nhất cho việc thiết lập,
thực hiện hợp đồng và giải quyết tranh chấp phát sinh
- Cần phải nghiên cứu kỹ nguồn luật áp dụng để bảo đảm cho việc chọn luật
đạt được những mục đích có lợi cho mình hoặc ít nhất không làm mất đi lợi thế của mình
Trang 11KẾT LUẬN
Hiện nay có rất nhiều tập quán thương mại được sử dụng rộng rãi trong hoại động thương mại quốc tế của Việt Nam điều chỉnh các vấn đề khác nhau như thanh toán, vận chuyển hang hóa, giao hàng… Do đó, các thương nhân cần tìm hiểu rõ về tập quán thương mại quốc tế và xem xét kĩ lưỡng để có thể đưa ra những thỏa thuận tối ưu, mang lại lợi ích cho các bên và giảm thiểu mọi rủi ro có thể xảy ra trong môi trường kinh doanh quốc tế phát triển ngày càng đa dạng và phức tạp
Trang 12DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Luật Thương mại 2005
2 Bộ luật Hàng hải năm 2005
3 Bộ luật Dân sự 2015
4 Khoá luận tốt nghiệp, “Một số vấn đề pháp lý cơ bản và thực tiễn áp dụng tập quán thương mại quốc tế Incoterms trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế” / Trần Thị Tú Anh; TS Nguyễn Vũ Hoàng hướng dẫn
5 Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC), “Áp dụng tập quán qua một vụ tranh chấp”
< https://www.viac.vn/tin-tuc-su-kien/ap-dung-tap-quan-qua-mot-vu-tranh-chap-n696.html >
10