LỜI CAM ĐOANTôi xin cam đoan đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian bón đạm đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống đậu tương DVN-6 vụ Xuân 2011 tại Nghi Phong – Nghi Lộc - N
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-*** -NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI GIAN BÓN ĐẠM ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG ĐẬU TƯƠNG DVN-6 VỤ XUÂN 2011 TẠI NGHI PHONG - NGHI LỘC
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cam ơn Ban Giám Hiệu và Ban chủ nhiệm khoa Nông – Lâm – Ngư, trường Đại học Vinh đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp.Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn tập thể các thầy,
cô giáo tổ bộ môn nông học đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến GV.KS Nguyễn Hữu Hiềnthuộc tổ bộ môn nông học đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện tốt nhất
để tôi có thể hoàn thành quá trình thực tập của mình
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ cảm ơn chân thành đến bạn bè, tập thể lớp 48K2
Nông học đã giúp đỡ động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thời gian thực tậpvừa qua
Vinh, ngày 20 tháng 7 năm 2011
Sinh viên
Bùi Quang Tú
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian bón đạm đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống đậu tương DVN-6 vụ Xuân 2011 tại Nghi Phong – Nghi Lộc - Nghệ An” là do chính tôi thực hiện, không có sự gian lận hay sao chép trong quá trình nghiên cứu Kết quả thu được được thực hiện theo đúng phương pháp nghiên cứu khoa học
Vinh, ngày 20 tháng 07 năm 2011
Sinh viên
Bùi Quang Tú
Trang 4DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
CT: Công thức
đ/c: Đối chứng
LAI: Chỉ số diện tích lá TN: Thí nghiệm
NSCT: Năng suất cá thể NSLT: Năng suất lý thuyết NSTT: Năng suất thực tế
Trang 5
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Trang
Bảng 3.1.1 Thời gian và tỷ lệ mọc mầm của các công thức………Bảng 3.1.2 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các công thức……Bảng 3.1.3 Diện tích lá (S) và chỉ số diện tích lá (LAI)………Bảng 3.1.4 Số lượng nốt sần của các công thức (nốt sần)……….Bảng 3.1.5 Động thái tích luỹ chất khô của các công thức (g/cây)…… Bảng 3.2 Tình hình sâu bệnh hại, khả năng chống đổ, tách quả………
Bảng 3.3.1 Các yếu tố cấu thành năng suất của các công thức………
Bảng 3.3.2 Năng suất của các công thức………
Trang 6
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ TRONG KHOÁ LUẬN
TrangBiểu đồ 1 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các công thức…… Biểu đồ 2 Tốc độ ra lá của các công thức qua 3 thời kỳ………Biểu đồ 3 Diện tích lá của các công thức qua 3 thơi kỳ……….Biểu đồ 4 Nốt sần của các công thức qua 3 thời kỳ………Biểu đồ 5 Khối lượng chất khô của các công thức qua 3 thời kỳ…………Biểu đồ 6 Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu………
Trang 7MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU………
1 Tính cấp thiết của đề tài………
2 Mục đính và yêu cầu của đề tài………
2.1 Mục đích………
2.2 Yêu cầu………
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1.Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương trên thế giới………
1.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương ở Việt Nam………
1.3 Tình hình sản xuất đậu tương ở Nghệ An………
1.4 Nguồn gốc và sự phân loại cây đậu tương………
1.4.1 Nguồn gốc lịch sử………
1.4.2 Phân loại………
1.5 Sinh trưởng và phát triển của cây đậu tương………
1.5.1.Giai đoạn nảy mầm cây con………
1.5.2 Sự phát triển thân cành………
1.5.3 Sự phát triển bộ lá………
1.5.4 Sự phát triển bộ rễ………
1.5.5 Sự hình thanh nốt sần và sự cố định nitơ của vi khuẩn nốt sần… 1.5.6 Sự ra hoa và hình thành quả hạt………
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của đề tài………
2.1.1 Cơ sở khoa học………
2.1.2 Cơ sở thực tiễn………
2.2 Nội dung nghiên cứu………
2.3 Đối tượng, vật liệu và địa điểm, và thời gian nghiên cứu………
2.3.1 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu………
2.3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Trang 82.4 Công thức và sơ đồ bố trí thí nghiệm……….
2.4.1 Công thức thí nghiệm………
2.4.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm………
2.5 Quy trình kỹ thuật áp dụng………
2.5.1 Làm đất………
2.5.2 Thời vụ gieo………
2.5.3 Mật độ gieo………
2.5.4 Bón phân………
2.5.5 Chăm sóc………
2.5.6 Phòng trừ sâu bệnh………
2.5.7 Phòng trừ sâu bệnh………
2.6 Các chỉ tiêu theo dõi………
2.6.1 Chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển………
2.6.2 Chỉ tiêu về tính chống chịu………
2.6.3 Chỉ tiêu về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất……
2.7 Phương pháp xử lý số liệu 2.8 Đặc điểm tự nhiên………
2.8.1 Đặc điểm tự nhiên của Nghệ An………
2.8.2 Đặc điểm tự nhiên của Nghi Lộc………
2.8.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội Nghệ An………
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN…………
3.1 Ảnh hưởng của thời gian bón đạm đến các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển của đậu tương………
3.1.1 Thời gian và tỷ lệ mọc mầm………
3.1.2 Chiều cao cây………
3.1.3 Diện tích lá (S) và chỉ số diện tích lá 3.1.4 Khả năng hình thành nốt sần 3.1.5 Khả năng tích luỹ chất khô………
3.2 Ảnh hưởng của thời gian bón đạm đến khả năng chống chịu…………
Trang 93.2.1 Mức độ nhiễm sâu bệnh hại
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đậu tương còn được gọi là đậu nành, có tên khoa học là Glycinemax Merill, thuộc
họ đậu leguminosae có nguồn gốc từ cây đậu tương hoang dại Glycineussuriensis.
Đậu tương là một trong những cây trồng có lịch sử trồng trọt lâu đời nhất So vớinhiều loại cây trồng khác, cây đậu tương có vai trò khá quan trọng nhờ vào khảnăng thích ứng rộng với nhiều loại đất trồng và có tác dụng nhiều về mặt giá trị dinhdưỡng, giá trị sử dụng và giá trị kinh tế
Hạt đậu tương chứa nhiều thành phần dinh dưỡng như lipit, protein, vitamin (B1, B2,
B6, E) enzim và các khoáng chất (Ca, Fe,, P).Trong đó hàm lượng protein là caonhất 38 - 44%, hàm lượng lipit 18 - 25%, hydratcacbon 30 - 40%, khoáng chất 4 -5%
Protein của hạt đậu tương là loại protein có phẩm chất tốt nhất trong các loại proteinthực vật Chính vì thế hạt đậu tương được dùng làm thực phẩm cho con người, làmthức ăn cho gia súc, làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và là mặt hàng cógiá trị xuất khẩu trên thế giới
Hiện nay hạt đậu tương được sử dụng nhiều trong y học, chữa bệnh suy dinh dưỡng
ở trẻ em, người già Các chế biến của hạt đậu tương còn có khả năng ức chế sinhtrưởng của các tế bào ung thư bởi trong hạt đậu tương có chứa chất Isoflavons, chấtnày giúp cơ thể giảm cholesteron xấu trong máu làm giảm nguy cơ ung thư
Ngoài ra cây đậu tương có tác dụng cải tạo đất rất lớn trong hệ thống luân canh câytrồng Một hec ta đậu tương phát triển tốt sau khi thu hoạch có thể để lại trong đất
từ 50-70 kgN[8] Thân lá để lại cho đất nhiều chất dinh dưỡng, rễ có nhiều nốt sần
cố định đạm làm tăng độ phì nhiêu cho đất, vì thế nó trở thành cây trồng quan trọngtrong luân canh và xen canh ở nhiều nước trên thế giới Đặc biệt trồng cây đậutương trên các vùng đất dốc có ý nghĩa rất lớn trong việc che phủ đất chống xóimòn, rửa trôi góp phần không nhỏ trong sản xuất nông nghiệp bền vững
Trang 11Là cây trồng ngày ngắn, mỗi năm chúng ta có thể gieo trồng đậu tương từ 3 đến 4
vụ Chúng ta có thể trồng xen đậu tương với nhiều loại cây trồng như ngô, lúa,bông, cà phê, chanh leo,…góp phần mang lại hiệu quả kinh tế cao Đậu tương cótầm quan trọng lớn cho con người nên nó đã được trồng phổ biến trên các châu lục,tập hợp nhiều nhất ở châu Mỹ, tiếp đó là châu Á
Nước ta đã và đang tiến hành chuyển đổi cơ cấu cây trồng Trong đó việc đưa câyđậu tương vào sản xuất với vai trò là cây trồng chủ lực, là yếu tố đảm bảo sự pháttriển bền vững sinh thái nông nghiệp và phát triển kinh tế Văn kiện Đại hội V củaĐảng cộng sản Việt Nam tập 2, trang 37 đã ghi “Đậu tương cần được phát triểnmạnh mẽ để tăng nguồn đạm cho người và gia súc, đất đai và trở thành một loạihàng xuất khẩu chủ lực ngày càng quan trọng” [8] Theo dự báo kế hoạch Quốc gia,
để đáp ứng yêu cầu tiêu dùng trong nước thì sản lượng đậu tương của nước ta cầnđạt được 1,5 triệu tấn vào năm 2020
Tuy nhiên thực tiễn sản xuất nông nghiệp, sản lượng đậu tương vẫn còn thấp
ở nhiều nơi Nguyên nhân là do sử dụng bộ giống thích hợp với điều kiện ở địaphương và việc bón phân hoá học nhiều năm cho mọi loại cây trồng đã dẫn đến việcthiếu hụt các nguyên tố vi lượng trong đất làm cho cây đậu tương co năng suất thấp
và dễ dàng bị nhiễm bệnh hại Để khắc phuc hiện tượng trên trong thâm canh người
ta khuyến cáo nên bón đúng liều lượng va thời gian cho các loại phân hoá học đểgiúp cải thiện tính chất đất cũng như phòng chống sâu bệnh cho cây trồng làm tăngnăng suất cho người dân
Để góp phần nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm của đậu tương thông quatác động , hiệu quả của việc bón đạm chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Ảnh hưởng của thời gian bón đạm đến sinh trưởng ,phát triển và năng suất củagiống đậu tương DVN-6 vụ Xuân 2011 tại Nghi Phong – Nghi lộc – Nghệ An”
2 Mục đích và yêu cầu
2.1 Mục đích
- Đánh giá ảnh hưởng của thời gian bón Đạm đến sinh trưởng , phát triển và năngsuất giống đậu tương DVN-6
Trang 12- Thông qua kết quả nghiên cứu được có thể tìm ra được liều lượng và thời gianbón Đạm thích hợp đối với giống đậu tương DVN-6
Trang 13CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIÊU.
1.1 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương trên thế giới.
Cây đậu tương chiếm một vị trí quan trọng hàng đầu trong 8 cây lấy đều
quan trọng của thế giới; Đậu tương, bông, lạc, hướng dương, cải dầu, lanh, dừa và
cọ dầu Do vậy được trồng phổ biến hầu hết các nước trên thế giới, nhưng tập trungnhiều nhất ở các nước châu Mỹ chiếm tới 73,0% tiếp đó là các nước thuộc khu vựcchâu Á (Trung Quốc, Ấn Độ) chiếm 23,15% (Lê Hoàng Độ và ctv, 1997) [8]
Thức ăn cho người và thức ăn chăn nuôi từ đậu tương đã tăng nhanh ở nhiềunước trong 30 năm qua góp phần cung cấp thực phẩm giàu dinh dưỡng nhiều hơncho nhân dân trên thế giới Vì vậy diện tích trồng đậu tương trên thế giới có xuhướng tăng nhanh để khắc phục nạn suy dinh dưỡng do đói protein trong khẩu phầnthức ăn hàng ngày (Đỗ Thị Báu, 2000) [1]
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất sản lượng đậu tương trên thế giới (1996 - 2006)
(triệu ha)
Năng suất(tạ/ha)
Sản lượng(triệu tấn)
Trang 142003 83,61 22,67 189,52
(Nguồn: FAO STAT 2005 và food Outlook, FAO, No -1, June 2006)
Theo FAO (2005) diện tích đậu tương toàn thế giới năm 2004 là 91,62 triệu
ha, tăng 28,43 triệu ha so với năm 1996 Cùng với việc mở rộng diện tích, năng suấtđậu tương cũng có sự tăng trưởng đáng kể, Năm 2002 năng suất đậu tương là 23,34
tạ / ha tăng 3,08 tạ / ha so với năm 2995
Như vậy trong vòng 10 năm diện tích đậu tương tăng 3,08 tạ/ ha và sảnlượng tăng 88,82 triệu tấn đã khẳng định vai trò và hiệu quả của cây đậu tươngtrong nền nông nghiệp thế giới
Tổng sản lượng đậu tương thế giới năm 2006 dự báo sẽ đạt 220,18 triệu tấntăng nhẹ so với năm 2005 Điển hình là số nước đang mở rộng diện tích trồng đậutương, đầu tư thâm canh và tập trung nghiên cứu đó là: Braxin, Achentina, Mỹ, TrungQuốc và Ấn Độ (chiếm khoảng 89,6% về diện tích và 91,6% về sản lượng của cả thếgiới) Ở Mỹ là nước luôn đứng đầu thế giới về diện tích và sản lượng đậu tương chính
là nhờ các phương pháp chọn lọc, nhập nội, gây đột biến và lai tạo Họ đã tạo đượcnhững giống đậu tương mới (Nguyễn Trọng Trang, 2005) [37] Sản lượng đậu tươngngày càng tăng, cụ thể:
- Năm 2000, Mỹ sản xuất được 75 triệu tấn đậu tương, trong đó có hơn 1/3được xuất khẩu
- Năm 2001 sản xuất được 78,67 triệu tấn đậu tương và đến năm 2005 tănglên 82,82 triệu tấn, tăng 4,15 triệu tấn so với năm 2001
Phần lớn sản lượng đậu tương của Mỹ để nuôi gia súc hoặc để xuất khẩu mặc
dù nhu cầu tiêu thụ của người dân Mỹ ngày càng tăng; Trong đó đậu tương chiếmtới 80% lượng đậu tương được tiêu thụ ở Mỹ Sau Mỹ phải kể đến Braxin, là nướcsản xuất đậu tương lớn thứ 2 trên thế giới cũng như ở châu Mỹ Năng suất của nước
Trang 15này ít thay đổi trong 20 năm qua Tuy nhiên cho đến năm 2003 năng suất đậu tươngđạt kỉ lục 28,08 tạ / ha vượt trội lên so với năng suất trung bình của thế giới (23,79
tạ / ha) là 4,29 ha Hiện nay Braxin cũng là nước cung cấp và sản xuất đậu tươnglớn trên thế giới, đậu tương của Braxin cũng được các nước nhập khẩu rất ưachuộng (Phạm Văn Biên và cs, 1976) [2]
Ở Achentina đậu tương thường được luân canh với lúa mì Năng suất bình quâncủa đậu tương khoảng 1,1 tấn / ha vào những năm 60 Vào đầu những năm 70 năngsuất đạt kỉ lục là 2,3 tấn / ha (Ngô Thế Dân và cs, 1982) [6] Từ năm 2001 - 2005,diện tích và năng suất đậu tương ở nước này đã tăng lên rất nhiều: Năng suất đậutương năm 2003 đạt 28,01 tạ / ha cao hơn so với năng suất trung bình của thế giới(23,79 tạ / ha) là 4,22 tạ / ha Hiện nay Achentina phát triển mạnh cây đậu tương, nênAchentina đã trở thành nước sản xuất đậu tương đứng thứ 3 trên thế giới (Hymowitzand Nelwell, 1981) [53]
Trung Quốc là nứơc sản xuất đậu tương đứng đầu châu Á và đứng thứ tư trênthế giới Trước chiến tranh thế giới thứ 2, Trung Quốc là nước đứng đầu thế giới vềdiện tích và sản lượng đậu tương Từ năm 2001 - 2005 năng suất và sản lượng đậutương tăng liên tục Tập trung chủ yếu ở vùng Đông Bắc chiếm gần 59% sản lượngđậu tương của cả nước và vùng đồng bằng sông Hoàng Hà, sông Hoàng Hà chiếm45% sản lượng đậu tương của cả nước (Đoàn Thị Thanh Nhàn và cs, 1996) [14].Mặc dù Trung Quốc đứng hàng thứ 4, song hiện nay Trung Quốc vẫn là nước đứngđầu châu Á về diện tích, năng suất sản lượng đậu tương Do dân số đông cùng vớinhu cầu tiêu dùng trong nước tăng, nên Trung Quốc từ một nước xuất khẩu trởthành một nước nhập khẩu đậu tương (Nguyễn Thu Huyền, 2004) [12]
Ở Ấn Độ, đậu tương cũng là cây trồng được phát triển, diện tích của đậutương cũng được tăng nhanh từ năm 1979 đến nay, như:
- Năm 1979 diện tích đậu tương là 500 nghìn ha, sản lượng đạt 280 nghìntấn
- Năm 2001 diện tích đậu tương trồng được khoảng 6 triệu ha, sản lượng đạt
Trang 165300 nghìn tấn, chiếm khoảng 7,94% sản lượng đậu tương trên thế giới(Bhanagarps, 1995) [44] Thành công đáng kể trong những năm gần đây của Ấn Độ
là áp dụng giống đậu tương mới và kĩ thuật thâm canh nên năng suất bình quân đãtăng gấp 2,5 lần đạt 26,7 tạ/ha Chủ yếu là do những điều kiện khí hậu với nhữngtruyền thống về kinh tế xã hội ở nước này đã đưa Ấn Độ trở thành nước sản xuấtđậu tương lớn thứ 5 trên thế giới
Hiện nay, trên thế giới có khoảng trên 100 nước trồng đậu tương nhưngkhông phải nước nào cũng tự túc được nhu cầu đậu tương ở trong nước Phần lớncác nước đều phải nhập khẩu đậu tương Nhìn chung châu Á mới chỉ đáp ứng đượcmột nửa nhu cầu đậu tương, còn lại phải nhập khẩu Hàng năm, châu Á phải nhậpkhẩu 8 triệu tấn hạt đậu tương, 1,5 triệu tấn dầu, 1,8 triệu tấn sữa đậu lành (NguyễnThu Huyền, 2004) [12] Các nước nhập khẩu nhiều đậu tương phải kể đến TrungQuốc, Nhật Bản, Đài Loan, Inđonexia, Philippin
Một số nước Đông Âu cũng có nhu cầu nhập đậu tương lớn chủ yếu từ Mỹ vàBraxin như Hà Lan: 5,06 triệu tấn; Đức 3,9 triệu tấn; Tây Ban Nha: trên 3 triệu tấn(Ngô Thế Dân, 1982) [6]
Về tổng sản lượng đậu tương trên thế giới năm 2005 đạt 214,49 triệu tấn,trong đó, lượng đem ép dầu đạt 182,65 triệu tấn Tổng sản lượng dầu đậu tươngnăm 2005 đạt 33,8 triệu tấn và tổng sản lượng bột đậu tương 143,14 triệu tấn
Về xuất khẩu đậu tương trên thế giới năm 2005 đạt 65,47 triệu tấn, xuất khẩudầu đậu tương 9,2 triệu tấn, bột đậu tương 143,14 triệu tấn.Trung Quốc sẽ là nướctiêu dùng đậu tương lớn nhất thế giới, như:
- Năm 1984 tiêu thụ dầu ăn không tới 30 vạn tấn, năm 2003 đã tiêu thụ dầu ăn
đã tới 7 triệu tấn, bã đậu 23,3 triệu tấn Trước đây, Trung Quốc là nước xuất khẩuđậu tương, nay là nước nhập khẩu đậu tương lớn nhất thế giới
- Năm 2003 Trung Quốc phải nhập 20,4 triệu tấn đậu tương, 1,7 triệu tấn dầuđậu tương, cao hơn mức sản xuất trong nước
Trang 17- Năm 2004 vẫn nhập 20,76 triệu tấn, tốn 6,98 tỉ USD Trung Quốc có nhu cầuđậu tương 25 - 30 triệu tấn/năm, trong nước mới chỉ sản xuất được 15 triệu tấn/năm, còn thiếu hụt khoảng 10-15 triệu tấn/ năm.
Châu Á sản xuất đậu tương cũng được thúc đẩy mạnh là do nhu cầu thức ăn
và dinh dưỡng của con người cũng như gia súc cần rất lớn Tuy nhiên năng suất đậutương ở châu Á vẫn còn thấp hơn nhiều so với năng suất bình quân của thế giới mặc
dù diện tích trồng đậu tương ở châu Á đứng thứ 2 trên thế giới Sở dĩ như vậy, làđậu tương ở châu Á trồng nhiều nơi đất xấu, không đầu tư về phân bón, chỉ với mụcđích cải tạo đất
Hơn 10 năm nay, kể từ năm 1994, giống đậu tương chuyển gen khángGlyphosat (thuốc trừ cỏ) được ứng dụng, diện tích trồng đậu tương chuyển gen tăngrất nhanh Năm 2003, đạt 41,4 triệu ha, chiếm 55% diện tích đậu tương toàn cầu vàchiếm 61% diện tích các cây chuyển gen vào năm đó, chủ yếu là được trồng ở 8nước: Mỹ, Achentina, Braxin, Canada, Urugoay, Nam phi, Rumani Diện tích đậutương chuyển gen ở Mỹ lớn nhất, đạt 24 triệu ha, chiếm 81% diện tích đậu tươngtoàn nước Mỹ, trong đó có 22 triệu ha trồng đậu tương chuyển gen Gliphosat Hầunhư 100% diện tích đậu tương ở Achentina là đậu tương đã được chuyển gen.Tháng 9/2003, Chính phủ Braxin đã bãi bỏ lệnh cấm sử dụng và tiêu thụ đậu tươngchuyển gen được ban hành vào năm 2003 -2004, sau đó lại hợp thức hoá việc trồngcây đậu tương chuyển gen Đến nay diện tích trồng đậu tương chuyển gen ở nướcnày đã lên 10% tổng diện tích đậu tương Trồng giống đậu tương có chuyển genkháng Glyphosat thì phun Glyphosat, diệt được sạch cỏ dại mà đậu tương khôngchịu ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng, phát triển cây đậu tương Từ đó, có thể sửdụng thuốc diệt cỏ mà không gây hại cho đậu tương chuyển gen, giảm phí tổn vềnguyên liệu, nhân công, có thể ứng dụng được công nghệ trồng dày, không làm đất
mà hiệu quả sản xuất cây đậu tương đã tăng lên rõ rệt Trong nhiều năm qua, việc
mở rộng diện tích đậu tương có chuyển gen kháng thuốc trừ cỏ chư thấy gây hại chosức khoẻ con người và động vật, chưa phát hiện bất kì sự ngộ độc nào đối với người
và gia súc (Nguyễn Công Tạn, 2006) [20]
Trang 181.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương ở Việt Nam
Nước ta, có lịch sử trồng đậu tương lâu đời, trong thư tích ở thế kỉ VI chobiết, ở Bắc bộ đã có trồng đậu tương (sách Vân Đài loại ngữ của Lê Quý Đôn thế kỉ18) đã đề cập nhiều đến cây đậu tương Nhân dân ta đã biết trồng trọt và sử dụngđậu tương từ hàng nghìn năm nay, nhưng trước đây chỉ sử dụng bó hẹp trong phạm
vi nhỏ thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc, như: Cao Bằng, Lạng Sơn Trước cáchmạng tháng 8 diện tích đậu tương cả nước là 30.000 ha, năng suất 4,1 tạ / ha Saucách mạng tháng 8 và trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhà nước chú ý đẩymạnh sản xuất cây đậu tương nhưng năng suất đạt thấp, như: Năm 1967 diện tích lànăm cao nhất thời kì này, nhưng chỉ xấp xỉ bằng diện tích năm 1939 Sau năm 1973sản xuất đậu tương ở nước ta mới có bước phát triển đáng kể, sản xuất nhằm 3 mụcđích:
ta cũng là nước thích hợp cho sản xuất cây đậu tương Tuy nhiên kết quả thực tiễnsản xuất của các năm qua cho thấy, chúng ta gặp nhiều khó khăn về thời tiết, khíhậu đã ảnh hưởng đến sản xuất đậu tương trong điều kiện nhiệt đới ẩm Cụ thể sựbiến động thất thường về thời tiết cộng với nhiệt độ và ẩm độ cao dẫn đến sâu bệnhnhiều nhất là đậu tương vụ xuân làm cho năng suất đậu tương không ổn định, năngsuất thấp có khi thất thu Ngoài ra những điều kiện khác như điều kiện kinh tế xãhội còn hạn chế, sản xuất đậu tương còn gặp khó khăn, như: kho bảo quản, cơ sởchế biến, chất lượng giống kém, kinh tế cho nghiên cứu đậu tương còn ít Tuy
Trang 19nhiên, trong những năm gần đây, cây đậu tương đã và đang được chú ý nghiên cứu,
có những diện tích đậu tương nhân giống mới, được hỗ trợ về giống và các vật tưphân bón khác cho nông dân nên đã có giống tốt cung cấp cho sản xuất đặc biệt là
vụ đậu tương đông ở miền Bắc Miền Bắc tuy là vùng có truyền thống sản xuất đậutương, nhưng việc mở rộng diện tích vẫn còn nhiều hạn chế, như: thời vụ, giá cả thịtrường , mặc dù tiềm năng vẫn còn khá nhiều Theo ý kiến của các nhà hoạch định,nếu có chính sách đầu tư phát triển khoa học, phổ biến kỹ thuật, hỗ trợ giống, vật tư
và tiêu thụ sản phẩm cho nông dân sản xuất thì có thể mở rộng thêm hàng chục vạn
ha theo hướng tăng vụ ở vùng đồng bằng, thay đổi cơ cấu cây trồng, mở rộng diệntích ở vùng đồi
Ở miền Nam trước ngày giải phóng cây đậu tương được trồng ở một số nơinhư: Lâm Đồng, Đồng Nai, Hậu Giang, Phú Yên, Khánh Hoà, Bình Định, QuảngNgãi Tính đến năm 1993, diện tích đạt 56.00 ha và đã có những điển hình năngsuất cao như: Đồng Tháp, An Giang đạt (16 tạ -18 tạ/ ha) Nhìn chung năng suấtđậu tương ở nước ta còn thấp, nhiều nơi chỉ đạt 4 - 5 tạ/ ha Nguyên nhân năng suấtđậu tương ở nước ta còn thấp do nhiều yếu tố có thể là do chưa có giống tốt, chưađầu tư đầy đủ phân bón, gieo trồng chưa kịp thời vụ Do vậy để đưa cây đậu tươngtrở thành một cây trồng chính, tương xứng với giá trị chiến lược của nó trong sảnxuất nông nghiệp ở nước ta cần giải quyết toàn diện các vấn đề kinh tế xã hội cũngnhư khoa học kỹ thuật (Đỗ Thị Báu, 2000) [1]
-Về năng suất: Năng suất đậu tương bình quân của nước ta còn rất thấp, chỉ ởmức từ 9,5 - 11 tạ/ha Nếu lấy năng suất của năm 1992 để so sánh thì năng suất của
ta mới chỉ đạt (820 kg/ ha - 2088 kg/ha) năng suất bình quân của thế giới Nếu sovới nước có năng suất cao nhất thế giới thì năng suất thế giới so với năng suất của tachỉ mới bằng 22,87% Tuy vậy, năng suất có tốc độ lại tăng trưởng khá nhanh Vídụ:
- Năm 1976 năng suất bình quân của cả nước chỉ đạt 5,25 tạ/ha
- Năm 1995 đạt 9,6 tạ/ha Song tốc độ tăng năng suất đậu tương của những
Trang 20thập kỉ gần đây ở miền Bắc nhanh hơn ở miền Nam.
+Về sản lượng: Trong vòng 20 năm từ 1976 -1995 tăng 6 lần Tuy vậy nếu
so với yêu cầu thì còn thiếu rất nhiều, vì hiện tại sản lượng đậu tương của chúng tatính theo đầu người chỉ mới 1,1 kg/ năm Theo kế hoạch đến năm 2000 chúng taphải phấn đấu đạt 505,8 ngàn tấn, như vậy cũng chỉ đạt mức bình quân đầu người là6,3 kg/ năm Mức tiêu thụ dầu thực vật ở nước ta rất thấp, mới bình quân đầu người2,2 kg/năm Nếu nhân dân ta quen dùng dầu thực thì chính thị trường nội địa cũngkhá lớn Trong thời gian tới đây, cùng với nhịp độ tăng dân số và mức tăng thu nhậpcùng với việc thay đổi tập quán tiêu dùng dầu thực vật các loại và dầu đậu tương nóiriêng sẽ tăng lên Hiện nay chúng ta còn phải nhập đậu tương từ Thái Lan vàCampuchia để đáp ứng nhu cầu cho người và làm thức ăn gia súc, gia cầm
Sản lượng đậu tương thế giới 2004 là 2006 triệu tấn, bình quân trên 30 kg/người năm Nhu cầu protein, dầu ăn cho người và chăn nuôi rất lớn Nước ta vớitrên 88 triệu người, hàng năm cần hàng triệu tấn đậu tương để sản xuất các loại thựcphẩm cho người, dầu ăn nguyên liệu cho thức ăn chăn nuôi và nhiều ngành côngnghiệp khác Hiện nay sản xuất đậu tương của nước ta có quy mô còn rất nhỏ bé,như:
Năm 1995 đạt 121.000 ha, năm 2000 có 124.000 ha, năm 2001 có140.000
ha, năm 2002 có 160.000 ha và năm 2003 có 170.000ha (trong đó có trên 100.000
ha ở các tỉnh phía Bắc năng suất 13,5 tạ/ha, sản lượng 225.000 tấn, bình quân đầungười mới đạt gần 3 kg/năm, chưa bằng 10% mức thế giới) Vì vậy, thị trường tiêuthụ nội địa được coi như vô hạn, nếu có dư đậu tương thì xuất khẩu tương cũngthuận lợi, vì thế cần rất nhiều đậu tương và chế phẩm đậu tương mà hiện nay cungkhông đủ cầu
Trung Quốc sẽ là nước tiêu dùng đậu tương lớn nhất thế giới, năm 1984 tiêuthụ dầu ăn không tới 30 vạn tấn, năm 2003 đã tiêu thụ dầu ăn đã tới 7 triệu tấn, bãđậu 23,3 triệu tấn Trước đây, Trung Quốc là nước xuất khẩu đậu tương, nay lànước nhập khẩu đậu tương lớn nhất thế giới, năm 2003 nhập 20,4 triệu tấn đậutương, 1,7 triệu tấn dầu đậu tương, cao hơn mức sản xuất trong nước, năm 2004 vẫn
Trang 21nhập 20,76 triệu tấn, tốn 6,98 tỉ USD Trung Quốc có nhu cầu đậu tương 25 - 30triệu tấn/năm, trong nước mới chỉ sản xuất được 15 triệu tấn/ năm, còn thiếu hụt 10-
15 triệu tấn/ năm
Ở nước ta, đậu tương được trồng ở hơn 30 tỉnh, trong đó có khoảng 60 %diện tích trồng đậu tương ở các tỉnh phía Bắc, còn lại được trồng ở Cao Nguyên, đấtnghèo dinh dưỡng và có độ màu mỡ thấp (Phạm Văn Thiều, 1988) [31]
Hiện nay, cả nước ta đã hình thành 4 vùng chính sản xuất cây đậu tương là:Vùng đông Nam bộ có diện tích lớn nhất là 26,2%, miền núi và trung du Bắc bộ là24,7%, vùng đồng bằng sông Hồng là 17,5%, vùng đồng bằng sông Cửu long códiện tích nhỏ nhất là 12,4% Tổng diện tích của 4 vùng này chiếm tới 60% diện tíchtrồng đậu tương của cả nước (Ngô Thế Dân và cs,1982) [6] Trong 4 vùng trồngđậu tương trên, vùng đồng bằng sông Cửu Long có diện tích nhỏ nhất nhưng lại làvùng có năng suất cao nhất trong cả nước (năng suất bình quân là 18,8 tạ/ ha), cábiệt có những nơi đạt 30 tạ / ha) Miền đông Nam Bộ, đậu tương tập trung chủ yếutrên vùng đất đỏ thuộc tỉnh Đồng Nai Tuy có diện tích gieo trồng không được lớn,nhưng đã chiếm 1/3 sản lượng đậu tương của cả nước (Phạm Văn Thiều và cs,1988) [32] Về sản lượng, riêng 3 vùng, Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ,Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 63,8% sản lượng đậu tương của cả nước.(Nguyễn Trọng Trang, 2005) [37]
Tuy nhiên, năng suất đậu tương ở nước ta còn rất thấp so với các nước trongkhu vực châu Á và chỉ bằng 43% so với năng suất bình quân của cả thế giới Để đápứng được nhu cầu ngày càng tăng ở trong nước cũng như xuất khẩu, theo kế hoạch
dự báo quốc gia thì đậu tương cần đạt 770.442 tấn vào năm 2010 với diện tích là404.500 ha, Nhưng đến năm 2005 sản lượng đậu tương trong nước mới chỉ đạt 245nghìn tấn, năng suất mới chỉ đạt 13,24 tạ/ ha với diện tích mới chỉ có 185 nghìn ha
Vì thế để phát triển sản xuất đậu tương ngoài công tác chọn giống phải có các biệnpháp kỹ thuật hỗ trợ đặc biệt là phân bón cho cây, trong đó không thể không kể đếncác loại phân bón lá có tác dụng kích thích sinh trưởng và phát triển cây trồng
Ở nước ta hiện nay theo Nguyễn Ngọc Thành, (1996) [21] đã hình thành 3
Trang 22vụ đậu tương trong một năm đó là:
+ Vụ xuân: Gieo tập trung từ 10/2 - 10/3, như: Vùng Thanh Hoá, Nghệ An,
Hà Tĩnh có thể gieo sớm hơn từ 20/1 - 20/2 để tránh gió Tây cuối tháng 4, vùng tâybắc Bắc bộ (Sơn La, Lai Châu ) gieo muộn hơn từ 1/3 - 23/3
+ Vụ hè: Gieo 25/5 - 20/6 có tập quán gieo đậu tương hè giữa 2 vụ lúa thì phải
gieo kết thúc trước 8/6 và dùng giống ngắn ngày như ĐT12 (75 ngày)
+ Vụ đông: Gieo 15/9 - 5/10.
Hiện nay một số tỉnh đông bằng Bắc bộ, như: Hà Tây, Vĩnh Phúc, Phú Thọ
để tranh thủ thời vụ trên lúa mùa sớm, nông dân đã trồng đậu tương bằng phươngthức làm đất tối thiểu hoặc gieo vãi không làm đất nhờ đó tiết kiệm được nhân lực,tiết kiệm được chi phí cho thu nhập khá và mở rộng khả năng khai thác diện tích vụđông Điển hình tại tỉnh Hà Tây vụ đông, như:
- Năm 2004 trồng 24.00 ha đậu tương thì có 10.000 ha gieo vãi
- Năm 2005 trồng 28.830 ha thì chủ yếu gieo vãi và làm đất tối thiểu (Cục nông
nghiệp, 2005) [5]
Về giống đậu tương Tuỳ theo đất đai, mùa vụ, cơ cấu cây trồng của từng địaphương mà sử dụng giống cho thích hợp Các nhà khoa học khuyến cáo, việc bố trígiống thích hợp cho các mùa vụ như sau: Các giống thích hợp cho vụ xuân: VX93,AK06, ĐT200, DT96 được sử dụng ở Việt Nam
1.3 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương ở Nghệ An
Hiện nay cây đậu tương đang được tỉnh Nghệ An chú trọng đưa vào sản xuất
và mở rộng diện tích để tạo sự đa dạng hóa cây trồng tuy nhiên diện tích cũng nhưsản lượng đậu tương ở Nghệ An đang còn thấp Năng suất đậu tương ở đây chưacao cũng do nhiều yếu tố tác động như: Sâu bệnh phá hại, thời tiết khắc nghiệt, kỹthuật sản xuất chưa cao, sử dụng giống cũ So với năng suất bình quân của cả nướcthì trước đây và hiện tại năng suất đậu tương ở Nghệ An luôn thấp hơn Diện tíchsản xuất đậu tương ở Nghệ An phân bố chủ yếu ở các huyện như: Nghĩa Đàn, NamĐàn, Diễn Châu, Hưng Nguyên và chiếm tỷ lệ không đáng kể như Nghi Lộc, Quỳnh
Trang 23Lưu trong đó đậu được gieo trồng nhiều nhất ở Nam Đàn Tuy có diện tích lớn vềtrồng đậu tương nhưng năng suất, sản lượng đậu của huyện còn thấp Yếu tố ảnhhưởng lớn đến năng suất đậu tương ở Nam Đàn nói riêng và Nghệ An nói chungchính là bộ giống sản xuất Trong những năm qua nhìn chung nghiên cứu đậu tương
ở Nghệ An đang còn ít, các giống mới chưa được sử dụng nhiều vào sản xuất, cácloại giống sản xuất đều là những giống có năng suất thấp
Đối với vùng Bắc Trung Bộ các giống đã và đang được sản xuất đại trà là: CúcNam Đàn, Cúc Thọ Xuân, AK03 Đây là vùng có diện tích đất canh tác và sảnlượng đậu tương hàng năm tương đối cao, nhưng việc mở rộng và phát triển cây đậutương theo hướng sử dụng các giống cao sản đang còn gặp nhiều khó khăn
1.4 Nguồn gốc và sự phân loại cây đậu tương
1.4.1 Nguồn gốc lịch sử
Cây đậu tương (còn gọi là cây đậu nành) là một loại cây trồng cổ nhất của nhânloại, nguồn gốc ở Phương Đông (Đông Á) Nguồn gốc cụ thể và lịch sử xa xưa củacây đậu tương chưa được làm rõ
Căn cứ “Thần nông bản thảo kinh” và một số di tích cổ khác thì cây đậu tươngđược con người biết đến cách đây khoảng 5000 năm và được trồng trọt khoảng thế
kỷ XI trước công nguyên
Một số nhà khoa học cho rằng: Cây đậu tương xuất hiện đầu tiên ở lưu vực sôngTrường Giang - Trung Quốc Về ngôn ngữ: Âm “Soi - a” (Đậu tương) của nhiềuthứ tiếng trên thế giới đều bắt đầu từ chữ “Shu” (tiếng Trung Quốc) tên cổ của câyđậu tương (Đoàn Thị Thanh Nhàn và ctv, 1996)
Bằng chứng sớm nhất về lịch sử của cây đậu tương ở nước ta từ thế kỷ XIII đãđược Lê Qúy Đôn ghi chép lại trong sách; “Vân Đài Loại Ngữ” đậu tương đượctrồng ở một số vùng Đông Bắc nước ta
1.4.2 Phân loại
Trang 24Đậu tương (Glycinemax.L Mrrill) có số lượng nhiễm sắc thể 2n = 40, thuộc họFabaceae, họ phụ Legumisuae Tên Việt Nam thường gọi là “đậu tương” hoặc “đậunành”.
Vấn đề phân loại đậu tương cho đến nay chưa được thống nhất Các nghiên cứu
gần đây nhất đã đưa ra sự phân loại được nhiều người công nhận là của tác giả:R.C.Palmer, T.Hymowit và R.L.Nelson (1996) Theo các tác giả này thì chi Glycine
là hợp lại từ hai chi phụ Glycine và Soja (Moench) F.J.Herm
+ Chi phụ Glycine (Moench) F.J.Herm;
Các loài trong chi phụ Glycine hầu hết là những cây lưu niên , hoang dại cổ xưađược tìm thấy ở Australia, phía Nam Thái Bình Dương, Philippin, Đài Loan vàĐông Nam Trung Quốc
+ Chi phụ Soja (Moench) F.J.Herm
Chi phụ Soja bao gồm loại Glycine Soja và Zucc và loại Glycine Max là loại đậutương trồng có ý nghĩa kinh tế và quan trọng nhất khi lai tạo loài Glycine Max cóthể thu được kết quả trong các tổ hợp lai
- Loài Glycine Max là loại cây thân thảo hàng năm chưa bao giờ tìm thấy trạngthái hoang dại, được gieo trồng ở nhiều nước trên thế giới
- Loài Glycine Soja và Zucc cũng thuộc loài cây thân thảo hàng năm, dạng cây
bò, leo với các lá kép có 3 thùy nhỏ hẹp Hoa tim, hạt nhỏ, cứng, tròn, có màu đenhoặc nâu tối Mọc hoang dại ở các tỉnh phía Bắc và Đông Bắc Trung Quốc, Liên Xô(cũ), Triều Tiên, Nhật Bản
Cả hai loại Glycine Max và Glycine Soja và Zucc đều có số lượng nhiễm sắc thể2n = 40
1.5 Sinh trưởng và phát triển cây đậu tương
1.5.1 Giai đoạn nảy mầm cây con
* Giai đoạn nảy mầm: Bắt đầu từ khi hạt hút nước trương lên, mầm phôi phátđộng sinh trưởng, sau đó nảy mầm mọc lên khỏi mặt đất nhờ sự duỗi ra của vòngcung trục dưới lá, xòe lá tử diệp
Trang 25Hạt hút nước nhiều hay ít là do chất chiếm ưu thế trong hạt: Hạt nhiều protein hútnước nhiều hơn so với hạt chứa nhiều tinh bột Hạt đậu tương hút nước nhiều trongthời gian một giờ đầu tiên là những hạt cho năng suất cao.
* Giai đoạn cây con: Thời kỳ này cây đậu tương sinh trưởng dựa vào chất dinhdưỡng do tử diệp và lá mầm cung cấp để phát triển thân non và bộ rễ Chất dinhdưỡng trong lá
là chỉ tiêu đánh giá tốc độ sinh trưởng và khả năng cho năng suất
Gieo vụ Xuân,cây đậu chỉ cho 1 hoặc 2 cành, giống gieo muộn vào vụ hè có thể
có 4 – 10 cành
Các cành mọc từ chồi ở nách lá Các chồi ở phía dưới thân chính sẽ phát triểnthành các cành quả, các chồi ở phía giữa và dưới ngọn cây thì sẽ phát triển cácchùm hoa Số cành trên cây liên quan trực tiếp đến số quả.Cành trực tiếp là cànhquả.Vì vậy cành phát triển nhiều sẽ cho quả nhiều
1.5.3 Sự phát triển bộ lá
Lá đậu tương gồm 3 lá chét, cá biệt 4 hoặc 5 lá chét Các lá này mọc đối diệnnhau: Dài, hẹp, tròn, bầu dục, hình thoi…nhưng người ta thường quy định hai loạikhác nhau là lá rộng hoặc lá hẹp, lá có lông hoặc không có lông
Các biện pháp kỹ thuật nhằm kéo dài thời gian sinh trưởng của cây đậu tươnggồm: Dinh dưỡng đầy đủ, chế độ nước thích hợp, trồng cây có khoảng cách hợplý… Đều là các biện pháp nhằm tăng diện tích lá dẫn đến tăng năng suất
1.5.4 Sự phát triển của bộ rễ.
Phôi rễ của hạt đậu tương phát triển thành rễ chính, rễ của thân chính có thể ănsâu tới 150cm trong điều kiện tầng đất dày và khô ráo Từ thân chính, các rễ bênmọc sâu xuống còn phát triển nằm ngang tới 40 – 50 cm Rễ tiếp tục phát triển đến
Trang 26khi quả mẩy, sau đó giảm dần và dừng lại trước khi hạt chín sinh lý Rễ đậu tươngtrong điều kiện trồng trọt phân bố chủ yếu ở lớp đất 10 – 15cm.
Sự phát triển của bộ rễ có liên quan trực tiếp đến việc cung cấp đầy đủ chất dinhdưỡng, nước đảm bảo năng suất của cây đậu tương
1.5.5 Sự hình thành nốt sần và sự cố định Nitơ của vi khuẩn nốt sần
Những nốt sần đầu tiên xuất hiện ở giai đoạn 10 – 15 ngày sau khi mọc, vỏ màuhồng nhạt Lượng nốt sần tăng nhanh vào thời kỳ ra hoa đến đâm tia hình thành quả,
có màu hồng thẫm,kích thước lớn Đến giai đoạn cây già thì nốt sần giảm, lượng nốtsần già khô đi, nốt sần có màu đen bị vỡ ra Nốt sần phân bố ở rễ chính và rễ bên,phân bố chủ yếu ở lớp đất mặt
Nốt sần được hình thành là do sự cố định của vi khuẩn cộng sinh Rhizobium,những vi khuẩn này có khả năng tổng hợp Nitơ (N2) khí trời.Vì vậy mà khi thuhoạch rễ đậu tương đã để lại cho đất hàm lượng đạm lớn tham gia cải tạo đất và tạo
sự cân bằng hệ sinh thái nông thôn
Khi hạt đậu tương mới hình thành chứa 90% độ ẩm, các khoang hạt đã kín, quả
đã đầy đủ mầm thì cây ngừng sinh trưởng Trong quá trình lớn lên, độ ẩm trong hạt
Trang 27giảm dần đồng thời với sự tích lũy chất khô và tăng kích thước, lượng nước tronghạt giảm xuống chỉ còn 60 -70% Khi sự tích lũy chất khô gần hoàn thành, độ ẩmtrong hạt giảm nhanh, vài ngày có thể giảm từ hơn 30% xuống 15 – 20% Lúc này
là thời kỳ chín sinh lý, toàn bộ lá vàng và có thể có một số lá rụng
Khi bề ngoài thấy vỏ quả có màu vàng hoặc màu vàng nâu là thu hoạch được
Trang 28Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa hoc và cơ sở thực tiễn của đề tài
2.1.1Cơ sở khoa học
Năng suất của cây trồng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, bón phân là một trongnhững biện pháp kỹ thuật quan trọng trong việc tăng năng suất và sản lượng câytrồng để đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm cho con người và nguyên liệu sảnxuất công nghiệp Các nhà khoa học đã tổng kết rằng phân bón đóng góp trên 50%việc tăng năng suất cây trồng (FAO – Rome, 1984 )
Đạm là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng nhất và hút được nhiều nhất của câyđậu tương do hạt đậu tương có hàm lượng protein cao Để đạt năng suất 3 tấn/ ha thìcây đậu tương cần 285 kg N/ha Mặc dù cây đậu tương có khả năng tự túc phần lớn Nnhưng việc cung cấp N hợp lí cho đậu tương có tác dụng làm cây mọc nhanh, pháttriển hệ rễ, tạo cơ sở cho việc hình thành nốt sần Đồng thời phát triển thân, lá vàcành; tăng tỉ lệ đậu quả và tỉ lệ quả chắc, tăng trọng lượng hạt và hàm lượng proteintrong hạt (Nguyễn Như Hà, 2006) [12]
Trong cây đậu tương, đạm được tích luỹ khá nhiều ở thời kì đầu và nhiềunhất ở thời kì ra hoa kết quả, đặc biệt là từ khi hoa nở rộ cho đến khi hạt mẩy Câyđậu tương thiếu đạm, lá chuyển thành màu xanh vàng và bị rụng khi có gió, phiến láhẹp và diện tích lá nhỏ, cằn cỗi, lá kép sau nhỏ hơn hay bằng lá kép trước, hoa vàquả rụng nhiều hoặc lép, trọng lượng hạt giảm (Đỗ Thị Báu, 2000) [1] Nhưng thừađạm, lại cản trở sự xâm nhập của vi khuẩn vào nốt sần và việc cố định N của câyđậu tương Thừa đạm còn có khả năng làm cây phát triển quá mạnh, ức chế ra hoa
và quả làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng hạt (Nguyễn Như Hà, 2006)[11]
Thời kì ra hoa, đậu quả nếu không cung cấp đủ đạm thì số hoa, quả rụng nhiềuhoặc lép, trọng lượng hạt thấp Do rễ của cây đậu tương có khả năng sống cộng sinhvới vi khuẩn cố định đạm và nguồn đạm này có thể đáp ứng 60% lượng đạm mà câycần, cho nên việc cung cấp đạm cho cây ngay từ ban đầu của con người là không
Trang 29nhiều nhưng lại rất quan trọng để nó thúc đẩy cho quá trình cố định nitơ của vi khuẩn(Đoàn Thị Thanh Nhàn và cs, 1996) [14]
Như vậy Đạm có vai trò rất quan trọng trong đời sống của cây Do đó chúng taphải cung cấp Đạm cho cây trồng hợp lý
2.1.2 Cơ sở thực tiễn
Trong những năm gần đây với việc chuyển đổi cơ chế quản lý sản xuất nông
nghiệp đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, lương thực là một vấn đề cơ bản của ngườidân Việt Nam đã được giải quyết, từ đó người nông dân có nhiều điều kiện chủ độngsản xuất những ngành, những cây có giá trị kinh tế cao mà trong đó cây đậu tương làmột trong những mũi nhọn chiến lược kinh tế trong việc bố trí sản xuất và khai tháclợi thế của của vùng khí hậu nhiệt đới
Tuy nhiên sản lượng và năng suất đậu tương ở nước ta hiện nay còn thấp,chưađáp ứng được nhu cầu của người dân và nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp.Mộttrong những nguyên nhân chính là do việc bón phân tùy tiện, không cân đối về tỷ lệ
N – P – K Do đó, để tăng năng suất cây trồng, đồng thời bổ sung các chất dinhdưỡng thiết yếu nhằm nâng cao độ phì cho đất, tăng hiệu quả kinh tế chúng ta cần xácđịnh mức phân bón và thời gian bón phân thích hợp
Qua nghiên cứu có thể tìm ra được mức bón và thời gian bón Đạm thích hợp đốivới đậu tương được trồng trên nền đất cát pha tại Nghi Phong – Nghi Lộc – Nghệ An
Từ đó giúp người nông dân có chế độ bón phân hợp lý nhằm giảm chi phí đầu vàonhưng vẫn cho năng suất cao chất lượng tốt
Đối với nhà sản xuất đây có thể là căn cứ để triển khai thêm những nghiên cứu vềnhu cầu phân bón của từng vùng,từng địa phương để sản xuất ra các loại phân bónthích hợp cho cây trồng trong nhưng điều kiện khác nhau
2.2.Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian bón Đạm đến sinh trưởng, phát triển và
năng suất của giống đậu tương DVN6 trong điều kiện vụ xuân 2011 tai Nghi Phong Nghi Lộc – Nghệ An