TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NÔNG LÂM NGƯNGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI PHÂN HỮU CƠ ĐẾN SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN, SÂU BỆNH HẠI VÀ NĂNG SUẤT LẠC VỤ XUÂN 2008 KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP... Nhiều
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NÔNG LÂM NGƯ
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI PHÂN HỮU CƠ ĐẾN SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN, SÂU BỆNH HẠI VÀ NĂNG SUẤT LẠC VỤ XUÂN 2008
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, cáckết quả nêu trong khoá luận là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳmột công trình nào khác Mọi thông tin trích dẫn đã được chú thích rõ ràng vềnguồn tài liệu và tác giả Mọi sự giúp đỡ đã được ghi nhận và cảm ơn
Sinh viên
NGUYỄN THỊ NHÀN
Trang 3Lời cảm ơn
*****
Để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực không ngừng phấnđấu của bản thân, còn được sự giúp đỡ của quý thầy cô và các bạn Qua đây, chophép em được bày tỏ sự ngưỡng mộ và lòng biết ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo: KS.NGUYỄN VĂN HOÀN - Người đã định hướng, tận tình giúp đỡ, hướng dẫn suốttrong thời gian làm khoá luận
Cảm ơn quý thầy cô ở phòng thí nghiệm Nông học, cán bộ ở trại thực nghiệmNông học - khoa Nông Lâm Ngư - trường Đại học Vinh đã rất nhiệt tình, tạo điềukiện thuận lợi để em thực hiện tốt các thí nghiệm liên quan đến nội dung khoá luậntốt nghiệp
Cảm ơn những người thân, người bạn đã động viên góp sức giúp tôi nghiêncứu đạt kết quả và hoàn thành khoá luận
Trân trọng biết ơn!
Vinh, ngày 20 tháng 12 năm 2008
Trang 4MỤC LỤC
Trang M
Ở ĐẦU 1
1 Tầm quan trọng của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Mục đích và yêu cầu 3
2.1 Mục đích 3
2.2 Yêu cầu 3
3 Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
3.3 Nội dung nghiên cứu 5
CHƯƠNG MỘT: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 6
1.1 Tình hình nghiên cứu về bón phân hữu cơ cho lạc trên thế giới 6
1.2 Tình hình nghiên cứu về bón phân hữu cơ cho lạc ở Việt Nam 8
1.3 Những vấn đề còn tồn tại và những vấn đề mà đề tài luận văn tập trung nghiên cứu giải quyết 12
CHƯƠNG HAI : VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 14
2.1.1 Cơ sở khoa học 14
2.1.1.1 Việc bón phân cho cây trồng là yếu tố kĩ thuật quan trọng để đạt năng suất cây trồng cao và hiệu quả kinh tế cao 14
2.1.1.2 Muốn đạt năng suất lạc cao trước hết phải bón lót đầy đủ bằng phân hữu cơ 16
2.1.2 Cơ sở thực tiễn 19
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 20
2.3 Vật liệu nghiên cứu 20
2.4 Phương pháp nghiên cứu 20
2.4.1 Bố trí thí nghiệm 20
Trang 52.4.2 Quy trình kỹ thuật áp dụng 21
2.4.2.1 Thời vụ gieo 21
2.4.2.2 Mật độ gieo 21
2.4.2.3 Phân bón 21
2.4.2.4 Chăm sóc và vun xới 22
2.4.3 Chỉ tiêu theo giõi và phương pháp theo giõi các chỉ tiêu 22
2.4.3.1 Thời gian và tỉ lệ mọc mầm 22
2.4.3.2 Động thái tăng trưởng chiều cao cây, chiều dài cành cấp 1 .22 2.4.3.3 Diện tích lá và chỉ số diện tích lá 22
2.4.3.4 Thời gian ra hoa và động thái ra hoa 23
2.4.3.5 Khả năng hình thành nốt sần 23
2.4.3.6 Khả năng tích lũy chất khô 23
2.4.3.7 Tính chống chịu sâu bệnh 23
2.4.3.8 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 24
2.4.3.9 Tính hiệu quả kinh tế giữa các công thức thí nghiệm 25
2.4.3.10 Tính hiệu quả của đầu tư phân bón hữu cơ bón cho lạc 25
2.5 Phương pháp xữ lý số liệu 25
CHƯƠNG BA: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
3.1 Ảnh hưởng của phân bón hữu cơ đến thời gian và tỉ lệ mọc mầm 27
3.2 Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến động thái tăng trưởng chiều cao cây và chiều dài cành cấp 1 28
3.2.1 Chiều cao cây 28
3.2.2 Chiều cao cành cấp 1 31
3.3 Ảnh hưởng của bón phân hữu cơ đến diện tích lá, chỉ số diện tích lá (LAI) 33
3.4 Ảnh hưởng của phân bón đến số lượng nốt sần cộng sinh trong rễ lạc vụ Xuân 2008 34
3.5 Ảnh hưởng của phân bón đến động thái ra hoa, số hoa nở và thời gian nở hoa của lạc 36
Trang 63.5.1 Ảnh hưởng của phân bón đến thời gian nở hoa và số hoa nở của
lạc 36
3.5.2 Ảnh hưởng của phân bón đến động thái ra hoa 37
3.6 Ảnh hưởng của phân bón đến sự tích lũy chất khô của cây ở các giai đoạn sinh trưởng lạc vụ Xuân 2008 39
3.7 Ảnh hưởng của phân bón đến tình hình sâu bệnh hại lạc vụ Xuân 2008 trên vùng đất cát 40
3.7.1 Ảnh hưởng của phân bón đến tình hình sâu hại lạc vụ Xuân 2008 40
3.7.2 Ảnh hưởng của phân bón đến tình hình bệnh hại lạc vụ Xuân 2008 41
3.8 Ảnh hưởng của bón phân đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lạc vụ Xuân 2008 43
3.8.1 Ảnh hưởng của bón phân đến các yếu tố cấu thành năng suất lạc vụ Xuân 2008 43
3.8.1.1 Số cành cấp 1 trên cây 44
3.8.1.2 Hệ số kinh tế 44
3.8.1.3 Tổng số quả trên cây 44
3.8.1.4 Tỉ lệ quả chắc trên cây 44
3.8.1.5 Khối lượng 100 quả và khối lượng 100 hạt 45
3.8.1.6 Tỉ lệ nhân 45
3.8.2 Ảnh hưởng của bón phân đến năng suất lạc vụ Xuân 2008 45
3.8.2.1 Năng suất cá thể ( NSCT) 46
3.8.2.2 Năng suất lý thuyết (NSLT) 46
3.8.2.3 Năng suất thực thu ( NSTT) 47
3.9 Ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ đến hiệu quả kinh tế 47
3.10 Ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ đến hiệu suất phân bón 48
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50
1 KẾT LUẬN 50
Trang 72 KIẾN NGHỊ 51 TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1 Diễn biến khí hậu, thời tiết vụ Xuân năm 2008
Bảng 1.1 Ước tính tổng lượng dinh dưỡng thu được từ phân hữu cơ
Bảng 3.1 Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến thời gian và tỉ lệ mọc mầm của lạc
Bảng 3.7 Động thái ra hoa ở các công thức thí nghiệm
Bảng 3.8 Sự tích lũy chất khô của cây ở các công thức thí nghiệm
Bảng 3.9 Khả năng chống chịu sâu hại lạc ở các công thức thí nghiệm khác nhau
Bảng 3.10 Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến mức độ nhiễm một số bệnh phổ biến trên lạc vụ Xuân 2008
Bảng 3.11 Các yếu tố cấu thành năng suất lạc trên các công thức thí nghiệm khác nhau ở vụ Xuân 2008
Bảng 3.12 Năng suất lạc vụ Xuân 2008 ở các công thức thí nghiệm
Bảng 3.13 Ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ đến hiệu qủa kinh tế
Bảng 3.14 Ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ đến hiệu suất phân bón
Trang 9Hình 3.3 Động thái ra hoa ở các công thức thí nghiệm.
Hình 3.4 Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến NSLT và NSTT của lạc vụ xuân 2008
Trang 10BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tầm quan trọng của việc nghiên cứu đề tài
Cây lạc (Arachis hypogeae L.) còn gọi là “đậu phộng” thuộc cây bộ đậu, là
cây công nghiệp ngắn ngày có giá trị kinh tế cao ở nước ta và nhiều nước trên thếgiới Cây lạc chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế thế giới vừa mang lại giá trịdinh dưỡng cao, lại có nhiều ý nghĩa trong chăn nuôi, cải tạo đất đai, làm thựcphẩm, …
Cây lạc phù hợp với điều kiện khí hậu ở vùng nhiệt đới trong phạm vi từ 400 vĩBắc đến 400 vĩ Nam (Lê Song Dự, Nguyễn Thế Côn, 1979) [10] Trong số cây lấyhạt có dầu trồng hằng năm trên thế giới, lạc đứng hàng thứ 2 sau đậu tương về diệntích và sản lượng Trong 25 nước trồng lạc ở Châu Á, Việt Nam đứng hàng thứ 5sau Ấn Độ, Indonesia, Trung Quốc và Myanma (Ngô Thế Dân, 1995) [17]
Toàn bộ cây lạc đều có giá trị sử dụng, hạt lạc chứa 45-46% lipit, 25-34%protein, 6-22% gluxit, vitamin B1, B2, PP, vitamin E và F,… bởi vậy lạc là nguồn
bổ sung quan trọng các chất đạm, chất béo cho con người (Lê Song Dự, NguyễnThế Côn,1979) [10]
Bên cạnh đó từ lạc người ta có thể sử dụng khô dầu, thân lá xanh và cả cám vỏquả lạc để làm thức ăn gia súc góp phần quan trọng trong việc phát triển chăn nuôi.Trong đó sản lượng khô dầu lạc trên thế giới đứng hàng thứ 3 trong các loài khôdầu thực vật, thân lá xanh cho năng suất 5-15 tấn/ha, cám vỏ quả lạc chiếm 25-35%trọng lượng quả (Đoàn Thị Thanh Nhàn, 1996) [3]
Ngoài ra lạc còn có nhiều giá trị trong y học, theo nghiên cứu của nhiều tác giảcho biết: trong dầu lạc chứa nhiều axit béo không no bão hòa nên có tác dụng phòngngừa bệnh tim mạch, vỏ đào (màng bọc nhân lạc) được dùng để điều trị bệnh xuấthuyết, bệnh máu chậm đông và bệnh xuất huyết nội tạng Trong lạc có chất lecithin(photphatidycholine) có tác dụng lớn trong việc làm giảm hàm lượng cholesteroltrong máu, chống hiện tượng xơ vỡ động mạch máu (Báo NNVN số31/499 từ 31/7đến 6/8/1996) [19]
Trang 12Lạc là cây trồng cải tạo đất quan trọng trong hệ thống canh tác đa canh Rễ lạc
có nhiều nốt sần do vi sinh vật cộng sinh cố định đạm hình thành, đó là Rhizobium
vigna, trung bình mỗi vụ lượng đạm có thể cố định từ 27-207 kgN/ha (Peoples và
cs, 1995)
Về giá trị kinh tế, lạc là một trong những cây lấy dầu quan trọng nhất của thếgiới (Fletcher và cs,1992) Lạc là cây trồng ngắn ngày có vai trò quan trọng trongsản xuất nông nghiệp, ở nước ta cây lạc đứng đầu trong số các cây công nghiệpngắn ngày tham gia vào thị trường xuất khẩu, chính vì vậy trồng lạc và đậu tươngđang là 1 trong 10 chương trình ưu tiên phát triển của nhà nước So với một số câylương thực quan trọng thì diện tích trồng lạc ở nước ta không nhiều, đứng thứ 5 saulúa, ngô, khoai lang, sắn nhưng lại hơn hẳn một số cây trồng cạn như đậu tương,đậu xanh, vừng, … (Ngô Thế Dân, 2000) [10]
Lạc là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu có giá trị của nước ta.Mỗi năm nước ta xuất khẩu khoảng 80-127.000 tấn hạt lạc (Hoàng Việt Quốc,1995) [7] Trong những năm gần đây khối lượng lạc xuất khẩu của nước ta chiếm30-50% tổng sản lượng cả nước Ngày nay cây lạc đã và đang đem lại nguồn lợikinh tế lớn cho Đất Nước (trên 52 triệu USD, năm 2003) [9]
Ở Việt Nam đã có lịch sử trồng lạc, nhưng cho đến nay diện tích gieo trồngcòn hạn chế, năng suất thấp Một trong những vấn đề cần được quan tâm và giảiquyết hiện nay là diện tích trồng lúa không thể mở rộng thêm được nữa và việcnâng cao năng suất để tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích cũng gặp không ítkhó khăn Trong khi đó nhiều vùng đất có thể cải tạo để mở rộng diện tích trồng lạcnhư: đất phèn hoang hóa, đất vùng cao hạn, đất cát ven biển miền Trung, … khảnăng thâm canh tăng vụ còn lớn hơn nữa và năng suất lạc có thể phát triển cao hơnnhiều so với hiện tại nếu đưa được tiến bộ kỹ thuật vào trong sản xuất lạc và pháthuy được tiềm năng của đất [16]
Nghệ An là một trong những tỉnh có diện tích trồng lạc cao trong cả nước,nhưng năng suất lạc còn thấp chỉ đạt 21,6 tạ/ha [21] Nguyên nhân một phần là ởđây lạc thường được trồng nhiều ở vùng đất có tỉ lệ cát cao, khoáng sét ít, độ phì tự
Trang 13nhiên thấp, nghèo dinh dưỡng, khả năng giữ nước và giữ dưỡng chất kém Vì vậybón phân rất dễ bị rửa trôi nhất là N và K Nhiều nghiên cứu cho thấy việc sử dụngcác loại phân hữu cơ có khả năng cải thiện tính chất vật lý bất lợi của đất cát, giúptăng khả năng giữ nước và phân bón của đất góp phần làm tăng năng suất của câylạc (Chu Thị Thơm, 2006) [2] Xuất phát từ thực tiễn đó, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài "Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ đến sinh trưởng
phát triển, sâu bệnh hại và năng suất giống lạc L14 trong vụ Xuân năm 2008 tại Nghi Lộc - Nghệ An"
2 Mục đích và yêu cầu
2.1 Mục đích
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của lạc L14 ở các loại
phân bón hữu cơ khác nhau Từ đó đưa ra loại phân hữu cơ và công thức bón thíchhợp cho sự phát triển lạc vụ Xuân 2008 trên vùng đất cát ven biển Nghệ An
- Cung cấp dữ liệu khoa học về ảnh hưởng của việc bón phân hữu cơ đến sinh
trưởng, phát triển của lạc
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của việc sử dụng các loại phân hữu cơ khác nhau.
3 Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu
Trang 142 Lân hữu cơ sinh học: sản phẩm của công ty Sông Gianh Thị trấn Ba Đồn Quảng Trạch - Quảng Bình.
-3 Phân hữu cơ khoáng Cầu Diễn: sản phẩm của nhà máy phân hữu cơ CầuDiễn - Tây Mỗ - Huyện Từ Liêm - Hà Nội
4 Phân hữu cơ sinh học Môi Trường Xanh: sản phẩm của nhà máy xử lý rácĐông Vịnh - Thành phố Vinh - Nghệ An
200C và lớn hơn 450C đều ảnh hưởng xấu tới quá trình mọc mầm, kéo dài thời giansinh trưởng hoặc ngừng sinh trưởng
Bên cạnh nhiệt độ, nước là yếu tố cực kỳ quan trọng và là nguyên nhân trựctiếp ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển và cho năng suất cao sau này.Bảng 1 Diễn biến khí hậu, thời tiết vụ Xuân năm 2008
(Số liệu của trạm khí tượng thuỷ văn Nghi Lộc)
Yếu tố
Tháng
Nhiệt độ ( 0 C) Độ ẩm (%) Mưa
Trungbình
Thấp nhất
Trungbình
Thấp nhất
Tổng lượng mưa (mm)
Trang 15Số liệu diễn biến khí tượng thu được qua các tháng có ảnh hưởng tới cây lạcnhư sau:
Về nhiệt độ: nhiệt độ tăng dần từ tháng hai đến tháng sáu là điều kiện thuận lợicho cây lạc sinh trưởng, phát triển Tuy nhiên trong tháng hai và đầu tháng ba, cóngày nhiệt độ xuống dưới 15,10C đã ảnh hưởng đến quá trình nảy mầm của hạt và
sự lớn lên của cây con Từ đầu tháng bốn đến đầu tháng năm là thời kỳ lạc ra hoa,đâm tia và hình thành quả Nhiệt độ nhìn chung tăng cao, phù hợp cho quá trình rahoa và đâm tia quả Đến tháng sáu nhiệt độ tăng hơn tạo điều kiện thuận lợi cho quảtrình chín quả và thu hoạch
Về lượng mưa và độ ẩm: lượng mưa vào tháng hai, tháng ba, khá đồng đềunhau trong ngưỡng khoảng 32mm, ẩm độ đạt 86,86%, đây là điều kiện thuận lợi chocây lạc sinh trưởng phát triển mạnh, vì đây là thời kỳ cây lạc chưa cần một lượngnước lớn Tuy nhiên đến tháng bốn, thời kỳ lạc ra hoa rộ, cần lượng nước lớn choquá trình sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực, nhưng thời kỳ này lượngmưa cũng chỉ đạt 32,7mm Như vậy là lượng mưa hơi ít trong khoảng thời gian này,phần nào hạn chế năng suất lạc Đến tháng năm, lượng mưa tăng hơn nhưng khôngquá cao, ẩm độ đạt 79%, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình nuôi quả, khônggây hiện tượng thừa nước dẫn đến sự nảy mầm của quả
3.3 Nội dung nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu gồm các nội dung sau:
Nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ đến quá trình sinh trưởng pháttriển của lạc vụ Xuân 2008
Nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ đến mức độ sâu bệnh hai lạc vụXuân 2008
Nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ đến các yếu tố cấu thành năng suất
và năng suất lạc vụ Xuân 2008
Đánh giá hiệu quả kinh tế khi sử dụng các loại phân hữu cơ khác nhau
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình nghiên cứu về bón phân hữu cơ cho lạc trên thế giới
Trên thế giới phân hữu cơ được sử dụng từ rất lâu Từ thời La - Hy, lịch sửthành văn cho thấy việc bón phân đã được thực thi 900 năm trước Công nguyên vàbón cho cây nho Theophrast (372 - 287 TCN) đã nêu biện pháp độn chuồng để giữ
và nâng cao chất lượng phân chuồng Culomella đã lập danh sách nhiều cây bộ đậu
có khả năng cải tạo đất như lupin, đậu tằm, cỏ ba lá, Ông là người đặt nền tảngcho việc dùng cây họ đậu làm phân xanh ThomasWay (1852) đã phát hiện ra hiệntượng trao đổi ion và cho thấy rằng phân chuồng có thể làm giảm việc mất NH3
trong phân [2] Hiện nay các nước trên thế giới đang quan tâm đến việc sử dụngphân hữu cơ (nói rộng hơn là phân sinh học) bao gồm phân chuồng, phân ủ, phânxanh các loại, phân vi sinh Ấn Độ hàng năm sản xuất khoảng 286 triệu tấn phân ủ(compost) từ các chất thải nông thôn và thành phố, bình quân bón 2 tạ/ha/năm Ướctính tương đương 3,5 - 4,0 triệu tấn NPK Có khoảng 6,7 triệu ha cây phân xanh,mỗi ha thu được tương đương 40 - 50 kg N, ước tính thu được 0,3 triệu tấn N.Trung Quốc sử dụng phân hữu cơ từ các nguồn phân chuồng, rơm rạ, phân xanh,khô dầu Ước tính tương đương 9,8 triệu tấn NPK nguyên chất Phân sinh học sửdụng cho 1 ha tương đương 65 kg (N + P2O5 + K2O) (Lê Văn Tri, 2002) [9] Côngnghiệp hoá và sinh học hoá đã cung cấp cho con người nhiều phương tiện kỳ diệu:phân bón, thuốc trừ sâu, các sản phẩm trừ bệnh, cỏ dại để bảo vệ mùa màng Phânhoá học ra đời làm cho năng suất cây trồng đạt được bước nhảy kỳ diệu Tuy nhiên,các nước bón phân hoá học nhiều đều phải trả giá đắt về ô nhiễm môi trường vàchất lượng nông sản phẩm giảm Những thành tựu của khoa học nông nghiệp củanửa đầu thế kỷ XX đã đưa lại nhiều thành quả to lớn, nhưng cũng để lại hậu quả đedoạ nghiêm trọng môi trường sống, cũng như sức khoẻ con người, đặc biệt ở cácnước công nghiệp phát triển Do vậy, việc cải thiện và duy trì độ phì nhiêu của đấtthông qua việc sử dụng hợp lý và phối hợp nguồn chất dinh dưỡng hữu cơ và phânhoá học trong hệ thống dinh dưỡng cây trồng tổng hợp là cần thiết [9] Ngày nay,
Trang 17nhu cầu cho đời sống của con người ngày càng tăng, đòi hỏi những sản phẩm cóchất lượng tốt, nhiều thức ăn sạch Vì vậy, mà nhiều nước đã chú ý tới việc sản xuấtsản phẩm sạch, đặc biệt là sử dụng phân hữu cơ trong sản xuất nông nghiệp Tronghội nghị quốc tế về hoá học nông nghiệp ở Leizyg Đức (1997) đã xác định rằng việc
sử dụng phân hoá học phải rất cần thiết, nhưng phải đi đôi với phân hữu cơ để đảmbảo năng suất cao và lâu bền Hội nghị nêu lên qua hơn 1/4 thế kỷ, bón chủ yếuphân hoá học đã ảnh hưởng đến tỷ lệ mùn, dung tích hấp thụ, ảnh hưởng đến độ phìnhiêu của đất làm cho năng suất cây trồng giảm đáng kể Điều này khẳng định thêmvai trò của phân hữu cơ trong sản xuất nông nghiệp Khi sử dụng phân vô cơ kếthợp với phân hữu cơ, sẽ nâng cao được sức sản xuất và tính bền vững của hệ thốngnông nghiệp đặc biệt ở vùng đất nghèo mùn [2] Theo FAO (1996) thì biện pháptăng năng suất cây trồng đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất là bón phân kết hợp TạiXenegan người ta thí nghiệm về bón kết hợp: nếu không bón gì thì năng suất lạc thuđược là 1.040 kg lạc vỏ/ha, nếu bón lân, phân chuồng, lưu huỳnh thì thu được 2.170
kg lạc vỏ/ha Phân chuồng không chỉ tác dụng đến năng suất đầu vụ mà còn tácdụng tới các vụ tiếp theo (Đặng Trần Phú, 1997) [5] Thí nghiệm của Beckelu -Morran, Đức cho thấy khi không bón phân thì năng suất lạc thu được 1.950 kg/ha,nếu bón kết hợp 10 tấn phân chuồng/ha với N, P, K thì năng suất tăng cao 3.540 kg/ha
Tại Trung Quốc, một trong những kinh nghiệm đạt năng suất lạc cao làphương pháp sử dụng phân bón Mỗi giống lạc khác nhau yêu cầu lượng dinhdưỡng khoáng khác nhau và như vậy cần bón với các lượng khác nhau Đối với cácgiống lạc truyền thống ở Bắc Trung Quốc, để có sản lượng củ đạt 3000 kg/ha cần:22,5 tấn/ha phân hữu cơ + 20 kg/ha P2O5 bón vào luống rồi trộn lớp 10 cm đất trênmặt, sau đó bón thúc 30 kg/ha phân N Với giống lạc cải tiến trồng ở đất trung bìnhcủa tỉnh Sơn Đông, để có sản lượng củ đạt 4500 kg/ha cần: bón lót vào thời điểmgieo hạt 37,5 tấn/ha phân hữu cơ + 30 kg/ha P2O5 + 75 kg/ha K2O chủng vi khuẩntạo nốt sần vào, tiếp đó bón thúc một lần 30 kg/ha N vào thời điểm nẩy mầm và mộtlần 10 kg/ha N nữa vào lúc bắt đầu ra hoa (Hoàng Minh Châu, 2000) [6] Cũng tại
Trang 18Trung Quốc, muốn đạt năng suất lạc 3 tấn quả/ha cần phải bón 22,5 tấn phân hữucơ/ha + 20 kg P2O5/ha, sau đó bón thúc 30 kg N/ha Để đạt năng suất 4,5 tấn/ha bón37,5 tấn phân hữu cơ/ha + 30 kg P2O5/ha + 75 kg K2O/ha, còn phân đạm bón thúclần đầu lúc cây con 30 kg N/ha, thúc lúc cây ra hoa 10 kg N/ha (Nguyễn Tử Siêm,Thái Phiên, 1999) [13] Jayachandran (1975) quan sát thấy lạc phản ứng có ý nghĩavới phân chuồng và bón kali trong điều kiện trồng nhờ nước trời, trên những chânđất limong pha cát ở Tindivanam Tuy nhiên, Mohammed Ali (1974) lại thấy phânchuồng làm giảm năng suất trên đất limong đỏ ở Bahavansagar Kết quả thí nghiệmbón phân nhiều năm trong điều kiện trồng nhờ nước trời ở Tindivanam, với lượngphân chuồng 6,25 tấn/ha, đạm và kali với lượng 11,22 kg/ha và 33 kg/ha, dùnggiống TMV2 cho thấy phân chuồng và kali tăng năng suất không bón phân chuồngtrung bình 269 kg/ha (Jaychandran) [2] Theo Cornejo (1961) ở Tây Ban Nha trồnglạc sau vụ khoai tây và tập trung lượng phân bón cho khoai tây là 60 tấn phânchuồng + 600 kg super lân + 300 kg kaliclorua năng suất vẫn đạt 2,5 - 3,5 tấn/ha[3] Thí nghiệm tại Venezuela cho thấy bón 160 kg N/ha năng suất tăng 57% so vớibón 40 kg N/ha Nếu phân đạm đầu tư quá cao thì hiệu quả này giảm dần [18].
1.2 Tình hình nghiên cứu về bón phân hữu cơ cho lạc ở Việt Nam
Trước năm 1950 khi mà công nghiệp hoá học chưa phát triển thì người dântrên thế giới đều dùng chất thải của động vật và tàn dư của thực vật để bón cho câytrồng Ở Việt Nam trước năm 1954, nông nghiệp là ngành nông nghiệp hữu cơ,nông dân có tập quán dùng phân chuồng để bón cho cây Về sau, trong nước đã sảnxuất được phân hoá học và nhập khẩu từ nước ngoài vào nên việc dùng phân hoáhọc tăng lên Tuy nhiên, cho đến nay lượng phân chuồng bón cho cây trồng ở miềnBắc vẫn chiếm 70 - 80% tổng số phân bón dùng hàng năm [9]
Đất trồng lạc phần lớn thuộc loại đất có thành phần cơ giới nhẹ, do đó cần bónphân hữu cơ để cải thiện cấu tượng đất, tăng khả năng giữ nước, giữ ẩm, giữ nhiệt
và dinh dưỡng cho cây Đồng thời phải phối hợp với lân, kali, vôi để tăng năng suất
và chất lượng hạt Thực tiễn sản xuất của hợp tác xã điển hình, năng suất lạc đạttrên 20 - 25 tạ/ha với lượng bón 10 - 12 tấn phân chuồng hoai/ha + 60 - 80 kg ure/ha
Trang 19+ 350 - 400 kg super lân/ha + 300 - 400 kg vôi bột/ha + 60 - 80 kg KCl/ha [5] ỞViệt Nam cách đây hơn 20 năm, bình quân bón mỗi vụ cho 1 ha gieo trồng khoảng
5 - 6 tấn phân hữu cơ Hiện nay ước tính cũng chỉ bón được 5 - 6 tấn phân hữu cơ,trừ một số vùng thâm canh cao lượng bón đạt trên 10 tấn/ha gieo trồng Ngược lại,
ở một số vùng, do chăn nuôi giảm sút, lượng phân chuồng không có hoặc có ít thì
số lượng bón lại còn thấp hơn nhiều hoặc có hiện tượng cấy chay - không phânchuồng [9] Theo nghiên cứu của tác giả Vũ Thành, bón phân chuồng ngoài nângcao hàm lượng mùn trong đất còn cung cấp nhiều yếu tố dinh dưỡng quan trọng chocây Theo ông năng suất lạc tăng từ 17 - 30% là do bón 8 - 10 tấn phân hữu cơ/ha[18] Thí nghiệm tại xã Song Mai, Hà Bắc cho thấy năng suất tăng khi kết hợp bónphân khoáng với phân hữu cơ Nếu 1 ha bón 15 tấn phân chuồng kết hợp lần lượtvới 400 kg, 600 kg super lân thì năng suất thu được là 15,75 tạ/ha và 17,44 tạ/ha.Năm 1961, thí nghiệm trên đất cát pha ít dinh dưỡng tại Đầm Hà (Quảng Ninh) bóntrung bình 15 - 17 tấn phân hữu cơ cho lạc là tốt nhất Nhiều thí nghiệm cho thấybón phân cho lạc có hiệu quả khá cao: 1 kg N thu được 4 - 10 kg quả khô [5] TạiBắc bộ trên chân đất cát và cát pha, người ta thường bón tối thiểu 3,5 - 4,0 tạ phânchuồng kèm theo 4 - 5 tạ bùn ao hay phù sa bồi đập nhỏ cho 1 sào Bắc bộ Họ đãthấy năng suất tăng rõ hơn so với đối chứng chỉ bón riêng phân chuồng, cây pháttriển tốt hơn, quả chắc hơn Ở hợp tác xã Bái Dương Nam Dương - Nam Trực (NamHà) đã bón cho mỗi ha lạc: 8 tấn phân chuồng + 13 tấn bùn ao khổ nhỏ + 410 kgphốt phát nội + 55 kg sunphát đạm + 55 kg kaliclorua và cả phân xanh đã thu đượcnăng suất bình quân mỗi ha là 19,70 tạ lạc quả khô trên toàn bộ diện tích 38,5 hatrong vụ đông xuân mà thời tiết không mấy thuận lợi [5] Trên đất đồi Phú Thọ cũ 5tấn phân chuồng/ha + 800 kg vôi/ha + 60 kg amonsunfat/ha + 100 kg supeiotial/ha+ 60 kg kalisunfat, năng suất lạc đạt 9,72 tạ/ha Ở Hải Dương (Hải Hưng cũ), trong
vụ xuân năm 1960, bón 10 tấn phân chuồng/ha, năng suất lạc quả đạt 27,1 tạ/ha.Năm 1965 hợp tác xã Đại Đồng, Nam Đàn, Nghệ An cũ bón 8 tấn phân chuồng/ha,
4 tạ supephôtphat/ha và 4 tạ vôi/ha năng suất lạc đạt 3,28 tạ/ha Trên đất đồi hợp tác
xã Hoà Lộc, Kỳ Anh, Hà Tĩnh cũ bón 6 tấn phân chuồng/ha, 5 tạ vôi/ha làm tăng
Trang 20năng suất quả khô đạt 15,7% (21,30 tạ so với 21,00 tạ/ha) Bón lót phân chuồng với
20 - 30 kg N, 40 - 80 kg P và 40 - 100 kg K có thể bón cho cây trồng vụ trước vớimột lượng rất lớn phân bón (tới 40 - 60 tấn phân chuồng/ha) rồi sau đó trồng lạc,không cần bón nữa mà năng suất vẫn có thể tăng cao Ở Miền Nam Việt Nam, thínghiệm năm 1963 ở trại Long Khánh và năm 1964 ở trại Eakmat thấy trên đấtLatosol nâu đỏ, phân chuồng bón với lượng 10 tấn/ha làm tăng suất lạc 13 - 27%(so với không bón phân) Trong vụ xuân năm 1961, trại nông nghiệp Đầm Hà(Quảng Ninh) đã thí nghiệm với lạc 4 tháng vỏ vàng trên đất cát nhẹ nói chung ítmàu, xấu Bón phân chuồng kết hợp với vôi và phôtphat sản lượng từng loại tăngdần theo sản lượng phân chuồng: 12 tấn phân chuồng/ha + 500 kg vôi/ha + 500 kgphôtphat/ha cho năng suất là 2,5 tạ/ha Khi tăng lượng phân lên 17 tấn phân chuồng/
ha + 625 kg vôi/ha thì cho năng suất là 27 tạ/ha [5]
Theo Nguyễn Thị Dần, sử dụng phân bón hợp lý sẽ cho năng suất lạc và hiệuquả kinh tế cao hơn: trên nền đất có độ phì khá, để đạt năng suất lạc 5,0 - 5,5 tấn/hathì lượng phân bón cần cho 1ha là 37 tấn phân chuồng, 60 - 75 kg Urea, 370 - 450
kg Supephosphat, 150 - 220 kg K2O, 450 - 525 kg vôi bột Trên nền đất có độ phìtrung bình, để đạt năng suất 4 - 4,5 tấn/ha thì lượng phân bón cần cho 1 ha là 45 tấnphân chuồng, 75 - 150 kg Urea, 450 - 650 kg Supephosphat, 150 - 220 kg K2O, 420
- 525 kg vôi bột Trên nền đất xấu, để đạt năng suất 3,4 - 4,0 tấn/ha cần lượng phânbón là 60 tấn phân chuồng, 150 - 220 kg Urea, 75 - 150 kg K2O, 650 - 750 kg vôibột Ở phía Bắc Việt Nam, với liều lượng bón 60 kg P2O5 trên nền 8 - 10 tấn phânchuồng + 30 kg N + 30 kg K2O, lạc đạt năng suất kinh tế cao nhất (Nguyễn ThịDần, 1991) [13] Theo điều tra của Dương Viết Tình tại 3 xã Quảng Thái, Phú Đa,Phú Diên thì năng suất lạc thay đổi phụ thuộc vào lượng phân chuồng và phân lân.Năng suất đạt 1,49 tạ/ha khi bón 10,6 tấn phân chuồng và 46,5 kg P2O5/ha ở xãQuảng Thái Năng suất đạt 15 tạ/ha khi bón 12,5 tấn phân chuồng và 60,5 kg
P2O5/ha tại xã Phú Đa và năng suất đạt 1,25 tạ/ha khi bón 9,25 tấn phân chuồng và46,5 kg P2O5/ha ở Phú Diên [18] Ở Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp BắcTrung Bộ năng suất lạc đạt 5 tấn/ha khi người ta bón kết hợp 15 tấn phân chuồng +
Trang 2140 kg N + 120 kg P2O5 + 80 kg K2O + 500 kg vôi bột/ha [1] Nhìn chung, năng suấtlạc phụ thuộc vào lượng chất hữu cơ và lân Như vậy, phân hữu cơ và lân có mộtvai trò quan trọng trong việc tăng năng suất lạc trên vùng đất cát nói chung và đấtcát Thừa Thiên Huế nói riêng [18].
Trong mỗi loại phân vi sinh, có thể có 2 - 3 chủng có mối quan hệ tương hỗ,tăng cường hoạt động của nhau Nếu có sự kết hợp tốt thì sản phẩm phân vi sinh sẽ
có chất lượng rất cao Ở vùng đất mới (Thành phố Hồ Chí Minh), bón Nitragin trênnền phân bón 20 kg N, 60 kg P2O5, 60 kg K2O và 1000 kg vôi/ha cho lạc đã làmnăng suất tăng từ 1,5 - 3,6 tạ/ha so với đối chứng Bón Arozin cho lúa trên nền phânbón 80 kg N + 40 kg P + 20 kg K/ha cho thấy có thể làm năng suất lúa tăng từ 4,9 -10,9% so với đối chứng (Nguyễn Kim Vũ, 1995 - Viện khoa học Nông Nghiệp ViệtNam) [18]
Ở đất luân canh Thanh Hoá, bón Nitragin trên nền phân bón 30 kg N + 60 kg
P + 60 kg K + 400 kg vôi làm năng suất lạc tăng 1,0 - 2,2 tạ/ha so với đối chứng.Còn ở đất phù sa cổ (Hà Bắc), bón Nitragin trên nền phân bón 30 kg N + 60 kg P+ 60 kg K làm năng suất lạc tăng 2,5 - 3 tạ/ha so với đối chứng [2] Ở đất bạcmàu, bón phân vi khuẩn nốt sần trên nền phân bón 60 kg N + 60 kg P + (20 - 30)
kg K và 5 tấn phân chuồng làm năng suất lạc tăng 3 - 3,5 tạ/ha so với không bón.Cũng với lượng phân bón như trên nếu bón trên đất phù sa Sông Hồng sẽ làmnăng suất lạc tăng 3,2 - 3,5 tạ/ha Trên chân đất feralit với lượng phân bón đó sẽlàm năng suất lạc tăng 3,76 - 4 tạ/ha [17] Theo Võ Minh Kha và cộng tác viên(1995): bón vi khuẩn nốt sần trên nền 60 kg P + 60 kg K + 30 kg N + 8 tấn phânchuồng thì năng suất cao hơn so với đối chứng là 2 - 3 tạ/ha, trên đất mới bón vikhuẩn nốt sần trên nền 60 kg P + 60 kg K + (20 - 30) kg N + 5 tấn phân hữu cơ +
5 tấn vôi thì năng suất lạc tăng 2,2 tạ/ha so với đối chứng Phân vi khuẩn nốt sần
có tác dụng tăng sinh khối chất xanh và năng suất lạc vỏ 13,8 - 22%, tiết kiệm mộtphần đạm khoáng vô cơ tương đương với 30 - 60 kg N/ha/năm [17] Theo tài liệucủa Bùi Đình Dinh thì trong thời gian tới chúng ta cần khuyến cáo để bà con nôngdân tận dụng triệt để các nguồn phân hữu cơ để bón ruộng Phấn đấu để bón được
Trang 22trung bình 7 tấn/ha gieo trồng trong toàn quốc Ước tính tương đương 48 - 50 kgNPK/ha gieo trồng, chiếm khoảng 20% N, 30% P2O5 và 58% K2O trong tổng sốnhu cầu tối thiểu (bảng 1.1) [9].
Bảng 1.1 Ước tính tổng lượng dinh dưỡng thu được từ phân hữu cơ
Loại phân
Sản lượng (10 3 tấn)
Số lượng (kg/tấn tươi)
Tổng lượng (10 3 tấn)
%
N P2O5 K2O N P2O5 K2OPhân chuồng 45,000 3 1,5 4 135,00 67,5 180,00 79,0
(Nguồn: Lê Văn Tri, 2002)
Huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An chủ yếu là đất cát ven biển, trong đó diện tíchtrồng lạc tương đối lớn Nhưng năng suất ở đây còn rất thấp, trong đó nguyên nhânchính là do đất trồng lạc chủ yếu là đất cát thành phần cơ giới nhẹ, nghèo dinhdưỡng, đặc biệt là việc sử dụng phân bón chưa hợp lý Người dân chưa ý thức đượctác dụng của phân hữu cơ, nên chưa tận dụng hết các nguồn phân hữu cơ như phânchuồng, phân xanh, Họ sử dụng phân theo khả năng của nông hộ Mặt khác, chưaphát huy được hiệu quả của phân vô cơ khi bón, làm lãng phí một số lượng phânlớn Việc phối hợp phân hữu cơ với vô cơ trên đất cát là vô cùng quan trọng, nhưngđiều này các hộ nông dân chưa ý thức được Hiện nay đang có nhiều chính sách đểtăng khả năng khai thác và sử dụng vùng đất cát ven biển này Do vậy, xác định loạiphân hữu cơ và liều lượng thích hợp để cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng nóichung và cây lạc nói riêng trên vùng đất cát ven biển này là vấn đề được nghiên cứutrong đề tài này
1.3 Những vấn đề còn tồn tại và những vấn đề mà đề tài luận văn tập trung nghiên cứu giải quyết
Trong điều kiện khí hậu, đất đai nước ta nước ta nói chung, Miền Trung vàNghệ An nói riêng, thì loại phân hữu cơ nào quyết định đến năng suất cây lạc? Giảiquyết vấn đề này sẽ góp phần vào cơ sở lý luận và thực tiễn cho các biện pháp kỹ
Trang 23thuật tăng năng suất lạc ở nước ta mà chưa có một kết quả nghiên cứu nào trongnước đề cập đến một cách cụ thể.
Các kết quả đã được nghiên cứu chỉ mới nêu ra tầm quan trọng và liều lượngcủa phân hữu cơ trong việc ảnh hưởng đến năng suất thực thu cuối cùng của câylạc Ở nước ta các kết quả nghiên cứu về phân hữu cơ còn chưa được chuyên sâu vàchưa cụ thể hết ở tất cả các vùng, vùng nào nên dùng loại phân hữu cơ gì? và liềulượng bao nhiêu? Vậy thì bên cạnh vấn đề dùng các loại phân hữu cơ để thúc đẩynhanh sự dễ tiêu của phân vô cơ, giảm bớt liều lượng phân vô cơ còn sót lại trongđất sau khi đã thu hoạch cây trồng, thì loại phân nào quyết định nhiều nhất đến năngsuất cuối cùng, liều lượng bao nhiêu và loại phân nào được khuyến cáo là thích hợpnhất cho vùng đất cát ven biển Nghệ An vẫn chưa được nghiên cứu Đây là vấn đềcần làm sáng tỏ cho vùng sản xuất lạc ở Nghệ An, vốn được coi là vùng đất sảnxuất lạc lớn của cả nước
Xuất phát từ cơ sở khoa học và yêu cầu thực tiễn sản xuất, nhiệm vụ nghiêncứu của đề tài là:
-Nghiên cứu sự ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ khác nhau đến sự sinhtrưởng phát triển, sâu bệnh hại của giống lạc L14 trên chân đất cát ven biển ở Nghệ An.-Cung cấp dữ liệu về bón phân hữu cơ cho vùng đất cát ven biển Nghệ An.-Hiệu quả kinh tế mà các loại phân hữu cơ khác nhau đem lại kết quả khácnhau ra sao
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần bổ sung thêm một số tài liệu mới vềvai trò của các loại phân hữu cơ khác nhau, quyết định năng suất cây lạc Mức độthích hợp nhất của các loại phân hữu cơ đến năng suất cây lạc
Trang 24Chương 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
Không thể nâng cao độ phì nhiêu cho đất và năng suất cây trồng nếu chỉ đầu
tư lao động, mà phải đầu tư vật chất (phân hữu cơ, phân vô cơ, phân vi lượng vàphân vi sinh vật) Kết hợp một cách hợp lý cơ cấu cây trồng để tạo ra nhiều tàn dưhữu cơ cải tạo đất Chuyển sang một nền nông nghiệp thâm canh sản xuất hàng hóalớn, năng suất cao, lượng dinh dưỡng trong đất cây lấy đi nhiều nên cần bón phântăng về lượng toàn diện về chủng loại kể cả đa lượng, trung lượng và vi lượng.Không có loại phân nào có thể thay thế hoàn toàn cho nhau
Phân bón có vai trò rất quan trọng trong trồng trọt và nông dân đã tổng kếtthành các kinh nghiệm quý báu như: nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống; haynhư: người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân
Bón phân không chỉ có ý nghĩa trong việc tăng năng suất cây trồng mà cònảnh hưởng lớn đến sự phát sinh và gây hại của dịch hại Như vậy, biết cách sử dụngphân bón sẽ có ý nghĩa lớn trong phòng trừ dịch hại Nhiều loại phân vi lượng cótác dụng làm tăng tính kháng sâu, bệnh của cây trồng Silicđioxit làm cho thân câylúa trở nên cứng cáp, do đó làm tăng tính kháng Như vậy bón phân hợp lý sẽ có tácdụng tăng năng suất cây trồng, giảm sâu bệnh, giảm bớt sự ô nhiễm môi trường(Trần Ngọc Lân) [22]
Dựa trên những hiểu biết hóa học về dinh dưỡng thực vật Phân bón đã giúpcho cây phát huy hết tiềm năng sinh học từ đó góp phần to lớn vào việc tăng sản
Trang 25lượng và chất lượng nông phẩm, đồng thời ổn định và tăng độ phì nhiêu cho đấttrồng, phục hồi và nâng cao độ phì nhiêu cho đất thoái hóa, điều chỉnh dinh dưỡngtrong đất và giảm nhẹ ô nhiễm môi trường Cây trồng có sức chịu đựng hơn đối vớimột số loài sâu bệnh cũng như tác động của điều kiện ngoại cảnh (khí hậu) Qua đóngười nông dân thu được lợi nhuận cao hơn do sản xuất có hiệu quả.
Nhiều tài liệu đã chứng minh bón phân cho lạc làm tăng năng suất và hiệu quảkinh tế cao trên nhiều chân đất khác nhau so với không bón, đặc biệt là chân đấtthiếu lân thì có hiệu lực rất cao Vì vậy bón phân cho lạc trên đất nghèo dinh dưỡng
là việc làm có ý nghĩa khoa học
Đa phần NPK có trong thành phần tế bào, vì vậy rất cần cho sự tạo ra các bộphận của cây như: mọc mầm, đâm chồi, đẻ nhánh, phân cành, ra rễ, … Lân tham giacấu tạo nên Nucleotit là thành phần của nguyên sinh chất và trong nhân tế bào, nó
có nhiều trong mô phân sinh, hoạt động mạnh trong các bộ phận non của cây Ngoài
ra lân và đạm còn tham gia vào các thành phần của một số Enzim như Enzim vậnchuyển amin, làm tăng hàm lượng Protein trong quá trình trao đổi chất và tham giavào việc xây dựng nên ATP cung cấp năng lượng cho cây trồng
N, P, K là những chất cơ bản cần thiết cho mọi hoạt động sống của cây như:nảy mầm, hình thành hạt, phát triển rễ, … Đạm là thành phần của axitamin, nềntảng của các Protein trong cơ thể sống; Lân là yếu tố thúc đẩy tổng hợp Protein tổnghợp nên chất hữu cơ mới và là yếu tố của sự phát triển, kích thích quá trình chín cònKali là yếu tố xúc tiến quá trình quang hợp tạo thuận lợi cho việc tổng hợp protit,hoạt hóa các loại men trong cơ thể thực vật Phân hữu cơ là yếu tố đóng vai trò quantrọng trong việc cung cấp thêm các chất khoáng làm phong phú thêm nguồn thức ăncho cây, là yếu tố thúc đẩy làm cho các nguyên tố N, P, K dễ tiêu dễ hòa tan trongđất và cây trồng dễ dàng hấp thụ
Tuy nhiên trong quá trình bón phân chúng ta cũng phải tuân thủ theo các nguyêntắc: bón đúng nơi, đúng lúc, đúng chỗ, đúng liều lượng và đúng loại phân cần dùng Để
có được cơ sở khoa học cho việc sử dụng phân bón người ta phải biết được trong đất
Trang 26thiếu gì? Và cây cần gì? Liều lượng bao nhiêu? Việc bón phân phải dựa vào kết quảphân tích đất, yêu cầu sinh lý của cây như có thể nhìn vào màu sắc lá, …
Nếu bón phân quá thừa thì cây sẽ có hiện tượng lốp đổ, dễ bị sâu bệnh phá hại
và khó chống chọi với các điều kiện ngoại cảnh (khí hậu) bất thuận Nhưng việcbón thiếu phân thì cây trồng không đủ dinh dưỡng để đảm bảo cho quá trình sinhtrưởng, phát triển của mình dẫn tới năng suất cây trồng giảm, ảnh hưởng tới hiệuquả kinh tế rất lớn
Vận dụng chiến lược bón phân theo hệ thống dinh dưỡng cây trồng tổng hợp:giữ gìn, điều chỉnh độ phì nhiêu của đất và cung cấp thức ăn cho cây đến mức tốithích để ổn định năng suất cây trồng như mong muốn qua việc vận dụng một cáchtốt nhất mọi nguồn dinh dưỡng cây trồng một cách tổng hợp Kết hợp thích đángphân hóa học, phân chuồng, tàn thể thực vật, phân ủ hây các cây trồng có khả năng
cố định đạm tùy theo chế độ sử dụng đất và điều kiện sinh thái, xã hội và kinh tế(RRoy, 1995) (Dẫn theo Vũ Hữu Yêm) [23]
2.1.1.2 Muốn đạt năng suất lạc cao trước hết phải bón lót đầy đủ bằng phân hữu cơ
Về phương diện khoa học, các loại phân hữu cơ đều là những loại phân tổnghợp có hầu hết các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng và có tác dụng căn bảntrong việc cải tạo đất Trong các loại phân hữu cơ, tuy rằng tốt xấu khác nhaunhưng hầu hết đều có các chất như đạm, lân, kali và vôi Đây là những thức ănchính của cây trồng, ngoài ra còn có các chất vi lượng như đồng, kẽm, lưu huỳnh,magie, … Đồng thời lại có những chất hữu cơ là kết quả của sự chuyển biến của cơthể sinh vật Các chất hữu cơ đó chủ yếu là chất mùn có tác dụng căn bản trong việccải tạo và bồi dưỡng đất [23] Trong xu hướng phát triển của nông nghiệp bền vữnghiện nay một vấn đề đã và đang đặt ra là sử dụng cân đối giữa phân hữu cơ và vô
cơ, theo ý kiến của Võ Minh Kha, Bùi Đình Dinh thì cần có 1 gam phân bón đadạng vì theo các ông 1 gam đa dạng như vậy sẽ tiện lợi cho các nhà trồng trọt phốihợp để bón cân đối (Trần Thị Thu Hà, 1995) [18] Vai trò của phân hữu cơ thể hiệntrên các phương diện sau:
Trang 27-Tác dụng cải tạo hóa tính đất:
Khi chưa có phân hóa học, nông dân thường sử dụng phân hữu cơ bón cho đất
mà vẫn cho năng suất cao Bởi vì khi bón phân hữu cơ vào trong đất, sau khi đượcphân giải nó sẽ cung cấp chất khoáng cho cây làm phong phú nguồn thức ăn Chẳnghạn trong phân chuồng trung bình chứa 0,3 - 0,5% N, 0,25 - 0,35% P2O5 và 0,35 -0,65 % K2O tùy thuộc vào chất thải của động vật và chất độn chuồng Trong quá trìnhphân giải hợp chất hữu cơ, có thể tăng khả năng hòa tan các chất khó tan Việc hìnhthành các phức hữu cơ - vô cơ cũng có thể làm giảm khả năng di động của một sốnguyên tố khoáng làm hạn chế khả năng đồng hóa kim loại nặng của cây, làm cho sảnphẩm nông nghiệp sạch hơn Bón phân hữu cơ làm tăng tính đệm của đất nhờ vậygiảm được độ chua, tăng PH, nên tạo điều kiện cho rễ phát triển tốt quan trọng hơn làngăn chặn được sự rửa trôi [23] Các chất hữu cơ sau khi mùn hóa làm tăng khả năngtrao đổi của đất Đặc tính này rất quan trọng đối với đất có thành phần cơ giới nhẹ,đặc biệt là đất cát Khả năng trao đổi của mùn gấp 5 lần khả năng trao đổi của sắt.Theo P.G.Naiđin, ở Trung Quốc do bón phân chuồng qua nhiều năm, trong đất lúagiàu lân và kali hơn Nhiều thí nghiệm ở Mỹ cho thấy độc canh hay luân canh màkhông bón phân liên tục thì tỉ lệ cacbon và đạm giảm xuống Thí nghiệm ở trạmMarinxkaia (Liên Xô) sau 18 năm đất có bón phân chuồng (40 tạ/ha) hàng năm, hàmlượng mùn nhiều hơn đất không bón phân chuồng 1,2% Hàm lượng lân trong đất cóbón phân tăng gấp đôi so với không bón (6,96 và 12,6 mg/100g đất) [18]
Theo nghiên cứu của Fridland (1958-1964), Nguyễn Tử Siêm (1974-1979),
Vũ Thành (1981) cho thấy trong đất chua axit fulvic trội hơn axit humic và tỉ lệ H/F
< 1 (trừ macgalit =1,43) [18] Như vậy, nếu không có nguồn phân hữu cơ bổ sung
từ phân chuồng, phân xanh, phân hữu cơ sinh học,… thì chắc chắn đất sẽ nhanhchóng suy giảm độ phì nhiêu Theo nghiên cứu của Woodroof (1966) hàm lượngchất hữu cơ trong đất vào khoảng 2% sẽ năng cao khả năng giữ nước và chất dinhdưỡng của đất, tạo cơ hội cho lạc đạt năng suất cao
-Tác dụng cải thiện lý tính đất:
Trang 28Phân hữu cơ bón vào đất có tác dụng rất rõ đối với việc cải thiện lý tính củađất Kết quả nghiên cứu của Monnier cho thấy việc trộn chất hữu cơ vào đất làmtăng độ ổn định kết cấu đất Chính nhờ vậy mà phân hữu cơ bảo vệ được cấu trúccủa đất, hạn chế chống xói mòn và rửa trôi.
Một thí nghiệm sau 7 năm của PGS.PTS Nguyễn Thị Dần từ 1985-1994 chothấy khi vùi phân chuồng và phế phụ phẩm vào đất thì tổng độ xốp tăng trung bình
từ 3 - 5% và tăng 5 - 6% với công thức bón phân khoáng đơn độc [18]
-Tác dụng cải thiện sinh tính đất:
Phân hữu cơ bón vào đất không những cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng màcòn là nguồn thức ăn quan trọng cho sinh vật đất Chúng có tác dụng chuyển hóacác nguồn dinh dưỡng N, P, K cho cây trồng phát triển Đồng thời, sự phát triển của
vi sinh vật là yếu tố để đánh giá độ phì nhiêu của đất Mặt khác phân hữu cơ đặcbiệt là phân chuồng khi bón vào đất làm tăng tập đoàn vi sinh vật cho đất kể cả visinh vật có lợi và có hại
-Tác dụng đến năng suất cây trồng:
Bón phân hữu cơ cũng có tác dụng tăng năng suất cây trồng, tuy nhiên mức độthấp hơn so với phân hóa học Như vậy phân hữu cơ là yếu tố quyết định độ phìnhiêu của đất, góp phần làm tăng năng suất cây trồng Vì vậy trong việc quản lýdinh dưỡng cây trồng phân hữu cơ không thể thiếu được
Sau khi được bón vào đất trong quá trình phân giải, phân hữu cơ có thể tăngkhả năng hòa tan các chất khoáng khó tan Việc hình thành các phức hữu cơ - vô cơcũng làm giảm khả năng di động của một số nguyên tố khoáng làm hạn chế việcđồng hóa kim loại nặng của cây Sản phẩm nông nghiệp trở nên an toàn hơn, quantrọng hơn nữa là việc hình thành các phức hữu cơ - vô cơ ảnh hưởng đến việc rửatrôi Các chất hữu cơ sau khi mùn hóa làm tăng khả năng trao đổi của đất Đặc tínhnày rất quan trọng đối với đất có thành phần cơ giới nhẹ Phân hữu cơ do vậy cũnglàm tăng tính đệm cho đất
Đối với lạc thường được trồng trên đất nhẹ, có thành phần cơ giới thô Phầnlớn các loại đất này thường là đất nghèo dinh dưỡng, hàm lượng mùn thấp Đặc
Trang 29điểm này càng nghiêm trọng đối với các nước nghèo, những nước này thường trồnglạc trên đất bạc màu, đất nhiệt đới bán khô cằn,… Với phương pháp thu hoạch củahầu hết các loại cây trồng (lạc, ngô, khoai,… ) là tận thu toàn bộ sản phẩm hữu cơ.
Vì vậy hàm lượng mùn và dinh dưỡng trong đất thấp, kỹ thuật canh tác đối với lạcchủ yếu là canh tác thủ công, do đó phân hữu cơ được sử dụng phổ biến và là loạiphân bón chủ yếu cung cấp cân đối các nguyên tố dinh dưỡng cho lạc
Chính vì vậy sử dụng phân hữu cơ để bón lót toàn bộ (bón theo hàng trước khigieo hạt) là biện pháp kỹ thuật quan trọng trong việc thâm canh sản xuất nôngnghiệp, có tác dụng to lớn thúc đẩy việc sử dụng phân khoáng hữu hiệu hơn, nângcao năng suất, phẩm chất của nông sản và đạt tới một nền nông nghiệp bền vữnggiảm thiểu nguy cơ ô nhiễm môi trường
và cây rất cần, … Mặt khác đất nông nghiệp của ta bị rửa trôi, phong hóa nhanhcũng là yếu tố quan trọng làm giảm năng suất của lạc
Nghệ An là một tỉnh có diện tích trồng lạc lớn thứ 2 của cả nước (28000 ha)sau Tây Ninh (40000 ha) (Ngô Thế Dân) [17] Nhưng ở đây lạc được trồng chủ yếu
ở vùng đất cát ven biển có độ phì tự nhiên thấp, nghèo dinh dưỡng, khả năng giữnước và dưỡng chất kém, lại thường xuyên phải hứng chịu sự khắc nghiệt của thờitiết,… Do vậy việc bổ sung các chất dinh dưỡng thiết yếu nhằm nâng cao độ phì
Trang 30của đất, cải thiện tính chất vật lý bất lợi của đất cát là những biện pháp cơ bản đểnâng cao năng suất cây trồng và hiệu quả kinh tế cao.
Định công thức bón phân, xác định liều lượng phân bón cũng như loại phânbón phù hợp có nhiều cách tiến hành thí nghiệm để xác định nhu cầu về dinh dưỡngnhư: phân tích đất và nghiên cứu bản đồ địa chất, phân tích cây, chẩn đoán lá, kiểmtra trong phòng thí nghiệm, làm thí nghiệm thực tiễn ở đồng ruộng, …
Từ những kết quả thu được cho phép chúng ta xác lập những công thức phânbón phân bón phù hợp không những chỉ dựa vào kết quả riêng lẻ của từng thínghiệm hoặc từng lần phân tích hóa học mà còn chú ý đến các điều kiện sinh thái vàđiều kiện kinh tế trồng trọt
Do vậy nghiên cứu kỹ thuật bón phân cho lạc vụ Xuân nhằm xác định nhữngyếu tố cây cần và đất thiếu, góp phần xây dựng cơ cấu cây trồng phù hợp, tìm racông thức bón phân hớp lý, giảm chi phí đầu vào, nâng cao năng suất cây trồng phùhợp với điều kiện đất đai, khí hậu trên vùng đất cát ven biển là một việc cần thiết
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
-Địa điểm: thí nghiệm bố trí ở vùng đất cát ven biển tại trại thực nghiệm Nông
học thuộc xã Nghi Phong - Nghi Lộc - Nghệ An
-Thời gian nghiên cứu: vụ Xuân 2008 ( từ tháng 1 đến tháng 6).
2.3 Vật liệu nghiên cứu
Thí nghiệm lạc được tiến hành nghiên cứu trên giống lạc L14: đây là giống lạc
có nguồn gốc từ Trung Quốc cho năng suất cao, phù hợp với điều kiện của vùng, cóthời gian sinh truởng phù hợp và được sử dụng rộng rãi ở Nghệ An
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được tiến hành với 5 công thức khác nhau:
CT1: Không bón phân hữu cơ + phân nền
CT2: Phân chuồng + phân nền
CT3: Phân hữu cơ sinh học Môi Trường Xanh + phân nền
CT4: Lân hữu cơ sinh học Sông Gianh + phân nền
Trang 31CT5: Phân hữu cơ khoáng Cầu Diễn + phân nền
- Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên đầy đủ, với 3 lần
DẢI BẢO VỆ
DẢI BẢO VỆ
+ Phân chuồng : 10 tấn/ha
+ Phân hữu cơ sinh học Sông Gianh: 800 kg/ha
+ Phân hữu cơ khoáng Cầu Diễn: 850kg/ha
+ Phân hữu cơ sinh học Môi Trường Xanh: 2 tấn/ha
Trang 32+Bón lót : 100% phân hữu cơ + 100% lân + 50% Kali + 50% vôi
+Bón thúc: khi cây có 2-3 lá thật, bón 50% đạm + 50% Kali còn lại
khi cây bắt đầu ra hoa, bón 50% đạm + 50% vôi còn lại
2.4.2.4 Chăm sóc và vun xới
- Lần 1: khi lạc có 2 - 3 lá thật, xới nhẹ, làm đất tơi xốp, diệt cỏ dại phá vángnhằm cung cấp oxy cho vi khuẩn nốt sần hoạt động (lần này không vun)
- Lần 2: trước khi lạc ra hoa xới xáo, làm đất tơi xốp, diệt cỏ dại thuận lợi choquá trình đâm tia (lần này không vun)
- Lần 3: sau khi lạc ra hoa rộ 10 - 15 ngày, xới xáo kết hợp với vun cao tạođiều kiện bóng tối và ẩm độ cho quả lạc phát triển
2.4.3 Chỉ tiêu theo giõi và phương pháp theo giõi các chỉ tiêu
2.4.3.1 Thời gian và tỉ lệ mọc mầm
-Thời gian mọc mầm: tính từ ngày gieo đến khi có khoảng 80% cây mọc.
Phương pháp: đếm số cây mọc trên hàng có đánh dấu trước, mỗi ngày đếmmột lần vào buổi sáng
2.4.3.2 Động thái tăng trưởng chiều cao cây, chiều dài cành cấp 1
-Chiều cao cây (cm): đo từ khi cây có 3-4 lá thật, định kỳ 7 ngày/1lần Số câymẫu: 10 cây/1ô có đánh dấu trước (đo từ đốt lá mầm đến đỉnh sinh trưởng ngọn)
- Chiều dài cành cấp 1: đo từ khi cây có cành cấp 1 dài 1cm, định kỳ 7ngày/1lần Số cây mẫu : 10 cây/1ô có đánh dấu trước (đo từ gốc cành cấp 1 đếnđỉnh sinh trưởng của cành)
Số cây mọc
Tỉ lệ mọc mầm ( %) = × 100%
Tổng số hạt gieo theo dõi
Trang 332.4.3.4 Thời gian ra hoa và động thái ra hoa
- Thời gian ra hoa: thời gian từ khi bắt đầu ra hoa cho đến lúc hết hoa để tính
ra tổng thời gian ra hoa
- Động thái ra hoa: đếm số hoa nở hàng ngày, từ khi bắt đầu có hoa cho đếnkhi số hoa nở < 1hoa/cây/ngày liên tiếp trong 3 ngày Số lượng cây mẫu: 10 cây/1ô
đã đánh dấu trước (theo dõi vào mỗi buổi sáng)
2.4.3.5 Khả năng hình thành nốt sần
-Tiến hành cả 3 thời kỳ : bắt đầu ra hoa, ra hoa rộ, quả vào chắc (kết hợp với
đo diện tích lá)
Phương pháp lấy mẫu: trước khi nhổ cây tưới đẫm nước sau 15 phút tưới lần
2, sau đó dùng bai để nhổ cây tránh bị đứt rễ, rửa sạch đất và đếm số lượng nốt sần
Số cây mẫu: 3 cây/1ô
2.4.3.6 Khả năng tích lũy chất khô
-Tiến hành cả 3 thời kỳ: bắt đầu ra hoa, ra hoa rộ, quả vào chắc (kết hợp với
đo diện tích lá)
Phương pháp cân trọng lượng chất khô: sấy khô cây mẫu đến trọng lượng khôkhông đổi Sấy ở 1050C trong 24 giờ, sau đó cân lần 1, sấy tiếp 1 giờ cân trọnglượng lần 2, nếu trọng lượng thay đổi tiếp tục sấy Trọng lượng khô tính trung bìnhcủa các lần cân
Số cây mẫu : 3 cây/1ô
Trang 34- Đánh giá khả năng chống chịu của bệnh hại ở 3 thời kỳ: thời kỳ cây con, thời
kỳ ra hoa, thời kỳ quả vào chắc Đánh giá theo 2 cách:
+ Đánh giá mức độ bị hại qua sự tồn tại của lá
+ Đánh giá bệnh hại lá qua thang bệnh 9 điểm của ICRISAT
2.4.3.8 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
* Các yếu tố cấu thành năng suất
- Số cành cấp 1 trên cây: theo dõi 10 cây lấy mẫu/ô, đếm số cành cấp 1 trênmỗi cây, sau đó lấy giá trị trung bình
- Đếm tổng số quả/cây: theo dõi 10 cây lấy mẫu/ô, đếm số quả trên mỗi cây,sau đó lấy giá trị trung bình
Trang 35- Đếm tổng số quả chắc/cây: theo dõi 10 cây lấy mẫu/ô, đếm số quả chắc trênmỗi cây, sau đó lấy giá trị trung bình.
-Cân khối lượng 100 quả, khối lượng 100 hạt
-Tính tỷ lệ nhân: cân khối lượng 100 quả khô, bóc vỏ cân khối lượng hạt tính
- Năng suất lý thuyết (NSLT)
NSLT = Số quả chắc/cây × P100 quả × Số cây/m2 (tạ/ha)
- Năng suất thực thu (NSTT) dựa trên năng suất của các ô (tạ/ha)
NSTT = Năng suất ô × 1000 (tạ/ha)
(Năng suất của các ô: thu riêng từng ô bỏ quả lép và non, phơi khô kỹ cân khốilượng toàn bộ các cây trên ô kể cả 10 cây mẫu)
2.4.3.9 Tính hiệu quả kinh tế giữa các công thức thí nghiệm
- Tổng chi (1000đ/ha): phân bón + thuốc hóa học + giống + công lao động +các khoản khác
- Tổng thu (1000đ/ha): năng suất thực thu × giá bán trên thị trường
- Lãi ròng: tổng thu – tổng chi
2.4.3.10 Tính hiệu quả của đầu tư phân bón hữu cơ bón cho lạc
- Hiệu suất phân bón: số kg lạc tăng lên khi đầu tư 1 tấn phân hữu cơ
2.5 Phương pháp xữ lý số liệu
Tổng số quả chắc
Tỷ lệ quả chắc = × 100 (%) Tổng số quả trên cây