1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghĩa biểu trưng của các thành tố đất, trời, sông, núi trong thành ngữ (so sánh với ca dao) luận văn thạc sỹ ngữ văn

93 1,6K 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghĩa biểu trưng của các thành tố đất, trời, sông, núi trong thành ngữ (so sánh với ca dao)
Tác giả Trần Thị Huyền Trang
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 551 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó về thành ngữ và ca dao đã có nhiều công trình nghiêncứu có giá trị sau một thời gian dài chưa được quan tâm đúng mức.Về thành ngữ tiếng Việt, khá thú vị là tác phẩm đầu tiên bàn đế

Trang 1

Bộ giáo dục đào tạo Trờng đại học Vinh

1.1 Thành ngữ và ca dao là những sản phẩm dõn gian, được lưu truyền

từ đời này sang đời khỏc Đú khụng chỉ là cỏch núi búng bẩy, giàu hỡnh ảnhhay lời ca, điệu hỏt, mà cũn là nơi lưu giữ nhiều giỏ trị văn húa tốt đẹp của

Trang 2

dõn tộc ta Làm nờn giỏ trị nhiều mặt của thành ngữ và ca dao là do nhiều yếu

tố, trong đú phải kể đến đầu tiờn là vai trũ của ngữ nghĩa, mà trước hết lànghĩa biểu trưng của một số từ trong hai đơn vị ngôn ngữ này Tỡm hiểu nghĩabiểu trưng của cỏc từ ngữ trong thành ngữ và ca dao, ta sẽ phỏt hiện đượcnhiều điều lý thỳ về đất nước và con người Việt Nam thụng qua năng lực sửdụng ngụn ngữ của những người đi trước

1.2 Mặc dầu cỏc từ trong thành ngữ và ca dao xột từ bỡnh diện ngụnngữ cú những nột tương đồng trong cơ cấu nghĩa biểu trưng nhưng về hànhchức, thành ngữ và ca dao là hai đơn vị cú chức năng khỏc nhau nờn từ trongcỏc đơn vị này cú thể cú những điểm khỏc biệt Bởi vậy, khi tiến hành tỡmhiểu nghĩa biểu trưng cỏc từ ngữ trong hai đơn vị này, trờn cơ sở miờu tảnghĩa, cần so sỏnh nghĩa biểu trưng của cỏc từ trong hai đơn vị để gúp phầnlàm rừ những nột tương đồng và khỏc biệt giữa thành ngữ và ca dao về mặtcấu trỳc cũng như hành chức

1.3 Thành ngữ và ca dao là những đối tượng được đưa vào giảng dạytrong cỏc cấp học nờn nghiờn cứu chỳng ở phương diện nào cũng cú ý nghĩathực tiễn, cung cấp tư liệu phục vụ cho việc dạy học Ngữ văn trong nhàtrường mà trực tiếp là việc dạy học tiếng Việt

1.4 Từ trước tới nay, khi bàn về thành ngữ và ca dao người ta chỉ chỳtrọng nghiều vào nghiờn cứu cỏc đơn vị ở tớnh chỉnh thể Việc tiến hànhnghiờn cứu, so sỏnh cỏc thành tố đồng thời trong cả hai loại đơn vị này cũn là

một hướng tiếp cận mới mẻ Đú là lớ do khiến chỳng tụi lựa chọn đề tài Nghĩa

biểu trưng của cỏc thành tố đất, trời, sông, núi trong thành ngữ (so sỏnh

với ca dao).

2 Đối tượng và nhiệm vụ nghiờn cứu

Trang 3

2.1 Đối tượng nghiờn cứu

Đối tượng nghiờn cứu của luận văn là nghĩa biểu trưng của cỏc từ đất,

trời, sụng, nỳi trong thành ngữ và trong ca dao Việt Nam Vỡ vậy nờn cỏc

thành ngữ và ca dao cú chứa những từ đất, trời, sông, núi sẽ được thu thập,

- Thành ngữ học tiếng Việt, Hoàng Văn Hành, Nxb KHXH, 2004.

- Từ điển giải thớch thành ngữ tiếng Việt, Nguyễn Như í (Chủ biờn),

Nxb Giỏo dục, 1998

- Kho tàng ca dao người Việt, Nguyễn Xuõn Kớnh và Phan Đăng Nhật

(đồng chủ biờn), Nxb VHTT, 1995

2.2 Nhiệm vụ nghiờn cứu

Từ việc xỏc định đối tượng nghiờn cứu như trờn, chỳng tụi đề ra nhiệm

vụ nghiờn cứu là:

- Khảo sỏt, phõn loại, thống kờ cỏc thành ngữ và cỏc cõu ca dao cú chứa

từ: đất, trời, sụng, nỳi.

- Phõn tớch, miờu tả nghĩa biểu trưng của cỏc từ đất, trời, sụng, nỳi

trong thành ngữ và trong ca dao

- So sỏnh, đối chiếu nghĩa biểu trưng của cỏc từ đất, trời, sụng, nỳi

trong thành ngữ và trong ca dao, rỳt ra những nột tương đồng và khỏc biệtgiữa chỳng

3 Lịch sử vấn đề

Trang 4

Thành ngữ và ca dao là hai bộ phận quen thuộc và quan trọng của vănhọc dân gian Do đó về thành ngữ và ca dao đã có nhiều công trình nghiêncứu có giá trị sau một thời gian dài chưa được quan tâm đúng mức.

Về thành ngữ tiếng Việt, khá thú vị là tác phẩm đầu tiên bàn đến lại là

của một nhà ngôn ngữ học người Pháp V.Barbier trong công trình: Những

ngữ so sánh trong tiếng An Nam (1925) Công trình của ông chỉ miêu tả một

số thành ngữ so sánh của tiếng Việt mà chưa đề cập đến những vấn đề chung

và liên quan đến thành ngữ học

Tác phẩm đầu tiên của người Việt Nam nghiên cứu về thành ngữ dân

tộc là: Về tục ngữ và ca dao của học giả Phạm Quỳnh, công bố năm 1921.

Công trình Tục ngữ và phong dao của Ngô Văn Ngọc (1928) được xem

là hợp tuyển thành ngữ tiếng Việt đầu tiên, tác phẩm chứa một số lượng lớnthành ngữ Tác giả đã chứng minh một cách thuyết phục rằng tất cả các loại

tài sản dân tộc quý báu đều thuộc về kho vàng của nhân loại Trong công

trình của Ngô Văn Ngọc, thành ngữ được xem xét không phải với tư cách làđối tượng phân tích của ngôn ngữ học mà là đối tượng phân tích văn học

Vào những năm 70 của thế kỷ XX, thành ngữ trở thành một đối tượngnghiên cứu khoa học thực sự Cũng từ giai đoạn này, các tài liệu nghiên cứu

về thành ngữ mới gặt hái được nhiều thành tựu Tuy nhiên, đó mới chỉ dừnglại ở việc: xác định khối lượng của thành ngữ, phân xuất các thành ngữ trongtiếng Việt, nghiên cứu những thuộc tính của thành ngữ và cách thức khu biệtchúng với những đơn vị khác của ngôn ngữ: tục ngữ, cụm từ tự do, từ ghép,…

Các bài viết này chủ yếu đăng trên Tạp chí Ngôn ngữ với những tên tuổi như:

Nguyễn Thiện Giáp, Cù Đình Tú, Hoàng Văn Hành, Hồ Lê, Trương ĐôngSan…

Trang 5

Mốc son trong nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt là cuốn Thành ngữ tiếng

Việt của Nguyễn Lực, Lương Văn Đang (1979) Tác phẩm tuy không bao quát

hết được thành ngữ tiếng Việt nhưng đã cung cấp cho các nhà ngôn ngữ học

và cho ai quan tâm đến thành ngữ một tài liệu bổ ích Tác phẩm không chỉcung cấp một khối lượng lớn thành ngữ (trên 3.000 thành ngữ tiếng Việt) màcòn nêu những luận điểm khái quát về tình hình sưu tập, nghiên cứu thànhngữ và đặc biệt là tiêu chí xác định lựa chọn thành ngữ Các tác giả đã nêu lênđược những đặc tính quan trọng của thành ngữ về kết cấu cũng như ngữnghĩa

Năm 1989, cuốn Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam của tác giả Nguyễn Lân ra đời Gần thời điểm này là cuốn sách Kể chuyện về thành ngữ

và tục ngữ do Hoàng Văn Hành chủ biên (Nxb KHXH, 1988 – 1990).

Trong cuốn Từ và vốn từ tiếng Việt, tác giả Nguyễn Văn Tu đã giành

hẳn một chương để khảo sát cụm từ cố định nói chung và thành ngữ nói riêng.Gần đây có nhiều công trình đã đề cập đến nhiều mặt của thành ngữ như cấutrúc hình thức và ngữ nghĩa

Có thể thấy rằng từ Phạm Quỳnh, Ngô Văn Ngọc, Vũ Ngọc Phan chođến Đỗ Hữu Châu, Hồ Lê, Nguyễn Văn Tu, Trương Đông San đều đã đề cậpđến hầu hết các vấn đề của thành ngữ Tuy nhiên, khi bàn đến nghĩa biểutrưng, một số yếu tố ngôn ngữ cụ thể riêng biệt vẫn chưa được đề cập đến.Hướng đến đến đối tượng còn đa dạng và tiềm ẩn nhiều vấn đề thú vị nàycũng đã có nhiều khóa luận tốt nghiệp đại học, luận văn thạc sĩ bảo vệ tại Đạihọc Vinh đã được công bố

Ví dụ:

Trang 6

- Nghĩa biểu trưng của các hình ảnh chỉ con vật trong thành ngữ và tục ngữ ( khoá luận tốt nghiệp đại học).

- Đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của con số trong thành ngữ, tục

ngữ và ca dao (khóa luận tốt nghiệp đại học).

- Hình ảnh loài vật và ý nghĩa biểu trưng của chúng trong thành ngữ

ẩn dụ tiếng Việt (khóa luận tốt nghiệp đại học).

Tiếp tục hướng nghiên cứu này, chúng tôi chọn đề tài: Nghĩa biểu

trưng của các từ đất, trời, sông, núi trong thành ngữ (so sánh với ca dao)

làm luận văn thạc sĩ của mình Hy vọng đề tài này sẽ góp thêm một cách nhìnnhận mới về kho tàng thành ngữ và ca dao tiếng Việt

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng kết hợp các phươngpháp sau:

4.1 Phương pháp thống kê, phân loại

- Thống kê các thành ngữ và ca dao có chứa các yếu tố đất, trời, sông,

núi.

- Phân loại các thành ngữ, bài ca dao đã thống kê theo từng tiểu loại

4.2 Phương pháp so sánh đối chiếu

So sánh giữa nghĩa biểu trưng của các từ đất, trời, sông, núi trong thành

ngữ và trong ca dao

4.3 Phương pháp miêu tả, phân tích, tổng hợp

Phương pháp này được dùng đề phân tích ngữ liệu, miêu tả các thànhngữ, ca dao để thấy được ngữ nghĩa của các yếu tố cũng như của thành ngữ,

ca dao để rút ra điểm tương đồng và khác biệt

5 Cấu trúc luận văn

Trang 7

Ngoài phần MỞ ĐẦU, KẾT LUẬN và TÀI LIỆU THAM KHẢO,

nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số giới thuyết liên quan đến đề tài.

Chương 2: Biểu hiện nghĩa của các thành tố đất, trời, sông núi

trong thành ngữ và trong ca dao.

Chương 3: Những điểm tương đồng và khác biệt về nghĩa biểu

trưng của các thành tố đất, trời, sông, núi trong thành ngữ và trong ca

dao.

Trang 8

Nội dung khái niệm thành ngữ đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cậpđến Công việc của người đi sau là tổng hợp tất cả các ý kiến của những nhànghiên cứu trước đó để định hình cho mình một khái niệm phù hợp.

Thành ngữ được nhắc đến lần đầu tiên là trong sự phân biệt với tục ngữ

ở tác phẩm Việt Nam văn học sử yếu của tác giả Dương Quảng Hàm: “Một

câu tục ngữ tự nó phải có một ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn, hoặc chỉ bảođiều gì; còn thành ngữ chỉ là những lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn một

ý gì hoặc tả một trạng thái gì cho có màu mè” Vũ Ngọc Phan trong Tục ngữ,

ca dao dân ca Việt Nam không tán thành sự phân biệt ấy, ông viết “Định

nghĩa như vậy không được rõ, vì nếu thế, tác dụng của thành ngữ không khác

gì tục ngữ (…) tục ngữ là một câu tự nó diễn đạt trọn một ý, một nhận xét,một kinh nghiệm, một luân lý, một công lý, có khi là một sự phê phán Cònthành ngữ là một phần câu có sẵn, nó là một bộ phận của câu mà nhiều người

đã quen dùng, nhưng tự nhiên nó không diễn đạt được một ý trọn vẹn Vềhình thức ngữ pháp, mỗi thành ngữ chỉ là một nhóm từ, chưa phải là một câuhoàn chỉnh”[28,39] Đây là sự phân biệt rạch ròi, tuy nhiên tác giả đã quátuyệt đối hóa đặc điểm hình thức ngữ pháp – thành ngữ phải là một nhóm từ,

Trang 9

trên thực tế có nhiều thành ngữ mang kết cấu C – V như: chó ngáp phải ruồi,

chuột sa chĩnh gạo.

Năm 1976, với công trình Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại, tác giả

Nguyễn Văn Tu đưa ra định nghĩa nghiêng về khẳng định ý nghĩa và tính chất

cố định, chặt chẽ trong cấu tạo của thành ngữ: “Thành ngữ là một cụm từ cốđịnh mà các từ trong đó đã mất đi tính độc lập đến một trình độ cao về nghĩa,kết hợp làm một khối vững chắc, hoàn chỉnh Nghĩa của chúng không phải donghĩa của từng thành tố tạo ra Có thể có tính hình tượng cũng có thể không

có Nghĩa của chúng đã khác nghĩa của các từ trong đó nhưng cũng có thể cắtnghĩa bằng từ nguyên học” [39,189]

Gần gũi với quan niệm này là quan niệm của tác giả Đái Xuân Ninh:

“Thành ngữ là một cụm từ cố đinh mà các yếu tố tạo thành đã mất đi tính độclập ở mức nào đó và kết hợp lại thành một khối đối vững chắc và hoànchinhhr” [27,23]

GS Đỗ Hữu Châu lại nhấn mạnh thành ngữ ở đặc tính tương đương với

từ Ông viết: “Cái quyết định để xác định các ngữ cố định là tính tương đươngvới từ của chúng về chức năng tạo câu Chúng ta nói ngữ cố định tươngđương với từ không phải chì vì chúng có tính sẵn có, bắt buộc… như từ màcòn vì ở trong câu chúng có thể thay thế cho một từ, ở vị trí các từ hoặc có thểkết hợp với từ để tạo câu” [2,45]

Trong cuốn Từ điển tiếng Việt, khái niệm thành ngữ được định nghĩa

như sau: “Thành ngữ là cụm từ hay ngữ cố định có tính nguyên khối về ngữnghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác với tổng số ýnghĩa của các thành tố cấu thành nó, tức là không có nghĩa đen và hoạt độngnhư một từ riêng biệt trong câu” [29]

Từ góc độ ngôn ngữ học, chú ý tới đặc trưng cơ bản của thành ngữ, cố

GS Hoàng Văn Hành đã từng đưa ra một định nghĩa khái quát về các phương

Trang 10

diện của thành ngữ: “Thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định, bền vững vềhình thái – cấu trúc, hoàn chỉnh và bóng bẩy về nghĩa, được sử dụng với chứcnăng như từ” [8,148].

Ở đây, luận văn không có điều kiện và cũng chưa có mục đích bàn sâu

về khái niệm thành ngữ mà chỉ dựa trên kết quả của các nhà nghiên cứu tạmnêu lên một định nghĩa ngắn gọn để tiện cho quá trình nghiên cứu đề tài này

Thành ngữ là một cụm từ cố định có kết cấu vững chắc, mang ý nghĩabiểu trưng, được sử dụng tương đương như từ

b Đặc trưng thành ngữ

Thành ngữ là đơn vị định danh có chức năng sử dụng tương đương như

từ Tuy nhiên hiệu quả tác động của nó lại không thể có một đơn vị ngôn ngữnào thay thế được Nó được ví là “đội quân tinh nhuệ của ngôn ngữ dân tộc”

và cách nói của thành ngữ, tục ngữ “có lúc phải dùng nhiều trang sách mớiminh họa được” (Gorki) Khi nói đến đặc trưng của thành ngữ người tathường đề cập đến một số vấn đề sau:

- Thành ngữ có tính hài hòa – điệp đối

- Thành ngữ giàu hình ảnh

- Thành ngữ mang ý nghĩa khái quát, biểu trưng

Đặc điểm về tính hài hòa, điệp đối thể hiện rõ nhất ở lớp thành ngữ đối(còn gọi là thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng) chúng ta có thể thấy tính điệp đối

ngay từ mô hình cấu trúc: Ax – Ay như: Tay bồng tay mang, lá mặt lá trái,

chân nam chân chiêu, … hoặc Ax – Ay: Bầm gan tím ruột, ăn vóc học hay, con cha cháu ông, ăn tục nói phét, … “Loại thành ngữ này được tạo thành bởi

hai vế đối xứng nhau về ý và lời thông qua một trục hài hòa về âm thành, vầnđiệu” [6,56]

Về đặc trưng hình ảnh, thành ngữ là nơi thể hiện rõ nhất thói quen, lối

nói ưa sử dụng hình ảnh của người Việt Từ những hình ảnh cụ thể: thẳng

Trang 11

như kẻ chỉ, tối như hũ nút, ruộng cả ao liền… cho đến những hình ảnh trừu

tượng: lên voi xuống chó, chuột chạy cùng sào, đời cha ăn mặn đời con khát

nước… Hầu hết các hình ảnh được chọn lựa là kết quả của lối nói khoa

trương: đi guốc trong bụng , lòng lang dạ sói, bầm gan tím ruột, mổ bụng

mèo lấy cá… Nói đến thành ngữ người ta nghĩ ngay đến hình ảnh như một lẽ

tự nhiên Chính ở đặc trưng này, nhiều người đã ngộ nhận nghĩa của thànhngữ chính là hình ảnh Đây là nhận định không đúng, bởi hình ảnh mang tínhkhách quan, còn hiểu theo cách nào phải tùy thuộc từng hoàn cảnh cụ thể, tùythuộc vào hàm ẩn của người nói Một hình ảnh có thể có nhiều nghĩa khác

nhau Chẳng hạn dùng một hình ảnh voi nhưng trong các câu thành ngữ khác nhau có những nghĩa khác nhau Voi trong to như voi chỉ kích cỡ khổng lồ, trong khỏe như voi chỉ sức lực phi thường, trong đầu voi đuôi chuột mở đầu to tát; trong lên voi xuống chó chỉ địa vị cao sang; trong tránh voi chẳng xấu

mặt nào mang ý nghĩa một thế lực bạo tợn; voi trong rước voi giày mồ có ý

nghĩa tượng trưng cho lực lượng tàn ác ngoài gia đình, quê hương tổ quốcmình Rõ ràng hình ảnh chỉ có một nhưng ý nghĩa thì nhiều hơn một, các

nghĩa đó thậm chí trái ngược nhau Ví dụ cách hiểu về thành ngữ lang bạt kì

hồ hiện nay là lang thang trôi dạt khắp nơi không ổn định một nơi nào, trong

khi đó hình ảnh của chúng: con chó sói (lang) bị mắc vào cái bìu dưới cằm

(hồ) của nó (kì) bị vướng mắc tù túng không thể nhảy qua (bạt) có ý nghĩa

hoàn toàn ngược lại

Nghĩa của thành ngữ là vấn đề còn tồn tại nhiều quan điểm Có ý kiếnđồng nhất nghĩa và hình ảnh, có ý kiến cho rằng ý nghĩa thực tại là mộtphương tiện của thành ngữ, một số nhà nghiên cứu khác xem thành ngữ có ýnghĩa biểu trưng

GS Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: Đối với thành ngữ, cần phân biệt haiphương diện ý nghĩa, ý nghĩa từ nguyên là ý nghĩa hình thành từ nghĩa riêng

Trang 12

của các thành tố theo qui tắc cú pháp và ý nghĩa thực tại Trong ngôn ngữhọc, ý nghĩa từ nguyên còn được gọi là hình thái bên trong (…) Căn cứ vàohình thái bên trong người ta có thể giải thích lý do ngữ nghĩa của các ý nghĩathực tại [6,187].

Hầu hết các tác giả khác trong các công trình nghiên cứu về thành ngữnhư: Bùi Khắc Việt (1978), Nguyễn Văn Mệnh (1978), Đỗ Hữu Châu (1981),Nguyễn Đức Dân (1986) đều khẳng định thành ngữ có hai loại nghĩa: nghĩađen và nghĩa bóng, hay còn gọi là nghĩa khái quát, nghĩa biểu trưng Tác giả

Bùi Khắc Việt trong bài Về tính biểu trưng của thành ngữ trong tiếng Việt có

viết: “Do sự vật hoặc hình ảnh có một số phẩm chất nào đó chung với điều nóbiểu hiện nên biểu trưng gợi cho ta một ý niệm về nội dung biểu hiện” [42]

Trong quá trình xác định khái niệm thành ngữ, tác giả Nguyễn VănMệnh đã nêu quan điểm: “ý nghĩa của thành ngữ không phải là số cộng giảnđơn và trực tiếp ý nghĩa các thành tố như ở trường hợp các ngữ tự do hoặcquán ngữ mà hình thành dựa trên cơ sở khái quát và tổng hợp ý nghĩa biểutrưng của các yếu tố” [25,13]

Tác giả Đỗ Hữu Châu xem tính biểu trưng là đặc điểm ngữ nghĩa sốmột của thành ngữ: “ngữ cố định vật thực việc thực để biểu trưng cho nhữngđặc điểm, tính chất, hoạt động, tình thế phổ biến, khái quát(…) Biểu trưng là

cơ chế tất yếu mà ngữ cố định, mà từ vựng phải sử dụng để ghi nhận, diễn đạtnhững nội dung phức tạp hơn một khái niệm đơn.”[1,82] Cần khẳng địnhrằng, nghĩa của thành ngữ không phải là nghĩa đen hay nghĩa hình ảnh Có thểdẫn ra trường hợp thành ngữ xuất hiện muộn trong quá trình hình thành thành

ngữ là giẫm chân tại chỗ Lúc đầu, đây là tổ hợp tự do, biểu thị một hiện

tượng, một hành vi, một tính chất cụ thể, về sau được sử dụng trong một

phạm vi rộng, nghĩa được khái quát hoá, trở thành thành ngữ Giẫm chân tại

chỗ không còn chỉ hành động cụ thể của một người đang đứng giẫm chân

Trang 13

trong hàng ngũ theo lệnh mà còn có nghĩa chỉ tình trạng trì trệ bế tắc, đứng

nguyên chỗ cũ, không tiến lên được Cũng tương tự như vậy, bật đèn xanh

không còn là biểu hiện của tín hiệu giao thông cho phép phương tiện đi qua

mà còn là hành động ngầm cho phép tự do làm một việc gì đó Những nghĩanày gọi là nghĩa bóng, hay còn gọi là nghĩa biểu trưng

1.1.2 Ca dao

a Khái niệm ca dao

Trang Lời nói đầu của cuốn Sáng tác thơ ca dân gian Nga, Bôgatưriep,

nhà nghiên cứu văn học Liên Xô, đã nhận định: “Ca dao nói riêng và tácphẩm văn học dân gian nói chung thường tồn tại rất lâu, được truyền tụng từmiệng người này sang miệng người khác, thường xuyên được nhiều thế hệxây dựng bồi đắp…” Trong khi tác phẩm văn học viết về cơ bản không có gìbiến đổi sau khi tách khỏi ngòi bút của nhà văn thì tác phẩm dân gian lạithường xuyên được sửa chữa để phản ánh những đổi thay của cuộc sống cũngnhư tư tưởng và theo những quy tắc thẩm mĩ của họ

Bàn về thuật ngữ ca dao, tác giả Minh Hiệu cho rằng: “Ở nước ta, thuậtngữ ca dao vốn là từ Hán – Việt được dùng rất muộn Có thể muộn đến hàngngàn năm so với thời gian đã có những câu hát, câu ví” [13,50] Còn theo tácgiả Cao Huy Đỉnh thì “Dân ca và văn truyền miệng của dân tộc Việt Nam rađời từ rất sớm, và ở thời đại đồ đồng, chắc nó đã phồn thịnh và phức tạp.Trình độ sáng tác và biểu diễn cũng tương đối cao, nghệ sĩ cũng ra đời với cacông và nhạc cụ tinh tế [5,33]

Tác giả Vũ Ngọc Phan định nghĩa: “Ca dao là một loại thơ dân gian cóthể ngâm khúc được như các loại thơ khác và có thể xây dựng bằng các điệudân ca” Với định nghĩa này tác giả đã xem ca dao là một thuật ngữ chỉ mộtthể thơ dân gian Ông cho rằng “Nếu xét về nguồn gốc phát sinh thì dân cakhác với ca dao ở chỗ được hát lên trong hoàn cảnh nhất định, trong những

Trang 14

nghề nhất định, hay những địa phương nhất định Dân ca thường mang tínhchất địa phương, không như ca dao là những bài hát ít có địa phương tính dùnội dung ca dao có nói về một địa phương nào thì chúng vẫn được phổ biếnrộng rãi [28, tr.42-43].

Theo tác giả Nguyễn Xuân Kính: Ca dao hình thành từ dân ca khi nóiđến ca dao, người ta thường nghĩ đến lời ca Khi nói đến dân ca, người ta nghĩđến cả làn điệu và những thể thức nhất định Như vậy không có nghĩa toàn bộ

hệ thống những câu hát của một loại dân ca nào đó (như hát trống quân, hátquan họ…) cứ tước tiếng điệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi thì sẽ đều là ca dao”.Chính vì vậy mà ông định nghĩa: Ca dao là những sáng tác văn chương đượcphổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, mang những đặc điểmnhất định và bền vững về phong cách” [18,79]

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, khái niệm ca dao được hiểu: ca dao

còn gọi là phong dao Thuật ngữ ca dao đó dùng với nhiều nghĩa rộng hẹpkhác nhau Theo nhiều gốc thì ca là bài hát có khúc điệu, dao là bài hát không

có khúc điệu

Ca dao là danh từ dùng chỉ toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biếntrong dân gian, có hoặc không có khúc điệu Trong trường hợp này ca daođồng nghĩa với dân ca

Do tác động của hoạt động sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian, cadao đã dần dần chuyển nghĩa Từ một thế kỷ nay, các nhà nghiên cứu văn họcdân gian Việt Nam đã dùng danh từ ca dao để chỉ riêng thành phần nghệ thuậtngôn từ (phần lời thơ) của dân ca (không kể tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưahơi), với nghĩa này, ca dao là thơ dân gian truyền thống

Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, trên sách báo nước ta đã xuất hiệndanh từ “ca dao mới” để phân biệt “ca dao cổ” (hay ca dao cổ truyền) “Cadao mới” khác “ca dao cổ” trên nhiều phương diện (thời gian, hoàn cảnh, lực

Trang 15

lượng sáng tác, hệ thống đề tài, chủ đề, phương thức và phương tiện lưutruyền…) Ngoài phương thức sáng tác và lưu truyền bằng miệng của nhândân, “ca dao mới” còn được sáng tác và phổ biến bằng văn tự của các vănnghệ sỹ chuyên nghiệp hoặc nghiệp dư Những tập ca dao thành văn đượcxuất bản trong mấy chục năm qua (như ca dao kháng chiến, ca dao chống Mỹ,

ca dao chống hạn…) thiên về truyền thống chính trị là một hiện tượng mớichưa từng có trong lịch sử ca dao trước Cách mạng tháng Tám năm 1945

Theo Từ điển văn học Việt Nam, khái niệm ca dao (hay còn gọi là

phong dao) là danh từ chung chỉ toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biếntrong dân gian, có hoặc không có khúc điệu

Ca dao ra đời, tồn tại và được diễn xướng dưới hình thức những lời đốiđáp là sinh hoạt trọng yếu và phổ biến nhất; mặt khác ca dao cũng phần nàođược hình thành từ xu hướng cấu tạo những lời có vần, có nhịp trong sinhhoạt dân gian, do đó vẫn được dùng trong lời nói hằng ngày Như vậy, cảtrong hai lĩnh vực ca hát và lời nói hằng ngày, ca dao đều có xu hướng đượcdùng như một loại ngôn ngữ trao đổi trực tiếp Đặc điểm về chức năng trênđây của ca dao cổ truyền sẽ chi phối nhiều đặc điểm khác về cấu tứ và cấutrúc hình thái câu thơ của ca dao

Theo Bách khoa tri thức phổ thông thì ca dao là những bài thơ trữ tình

dân gian truyền khẩu được phổ biến rộng rãi, lưu truyền qua nhiều thế hệ.Tóm lại, hiện nay thuật ngữ ca dao có cách hiểu:

- Ca dao là những bài hát dân ca hay là dân ca (cả phần lời điệu)

Trang 16

văn học: Ca dao (hay còn gọi là phong dao) là danh từ chung chỉ toàn bộ

những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian, có hoặc không có khúc điệu

1.1.2.2 Đặc trưng ca dao

a Đặc trưng về nội dung

Ca dao Việt Nam là nguồn thơ dân gian vô tận, có truyền thống lịch sửlâu đời Với tư cách là thơ trữ tình, ca dao là tiếng nói tâm hồn, tiếng nói tìnhcảm của nhân dân trong trường kì lịch sử dân tộc Ở ca dao, dù kết cấu theolối đối đáp hay kể chuyện, chủ thể trữ tình ẩn đi hay hiện ra ta vẫn luôn cảmnhận được dáng dấp một con người đang giãi bày tâm sự Do đó, ca dao hếtsức phong phúc về nội dung, thể hiện đầy đủ mọi biểu hiện của tâm hồnngười Việt qua tình yêu nam nữ, tình yêu xóm làng, yêu gia đình, yêu đồngruộng, yêu đất nước…

Vì vậy, ca dao được xem là pho bách khoa toàn thư đời sống tinh thầncủa nhân dân lao động Qua những câu ca dao, ta không chỉ thấy tình cảmthắm thiết mặn mà của nhân dân mà còn thấy được phẩm chất đẹp đẽ của họ

Tình anh như nước dâng cao Tình em như giải lụa đào tẩm hương

Bởi thế, khi bàn về đặc trưng ca dao ở phương diện nội dung, các nhànghiên cứu đều thống nhất cho rằng: Nội dung của ca dao chủ yếu là trữ tình

b Đặc trưng về hình thức

Để phản ánh muôn mặt đời sống tinh thần phong phú của người lao động,

hình thức của ca dao rất đa dạng Các thể thơ trong ca dao đều là những thểthơ dân tộc có 3 thể thơ được ca dao sử dụng là:

+ Thể lục bát (chính thể và biến thể)

Nàng về giã gạo ba trăng

Để anh gánh nước Cao Bằng về ngâm (N20)

Trang 17

Yêu nhau tam tứ núi cũng trèoThất bát sông cũng lội, tứ cửu tam thập lục đèo cũng qua

(Y58a)

+ Thể song thất lục bát

Bến Cửa Tùng / bến vàng bến bạcSông Cửa Tùng / vừa mát vừa trong

Người tình ở bên kia sôngKhông đò em cũng băng đồng vượt sang

+ Thể hỗn hợp

Trong đặc trưng về hình thức, ta thấy ca dao sử dụng đa dạng các biện pháp tu từ phổ biến như: ẩn dụ, so sánh, nói quá, …

1.2 Nghĩa của từ

1.2.1 Khái niệm nghĩa của từ

Từ bao gồm hai mặt: âm và nghĩa Như ta đã biết, từ là một loại kí hiệuđặc biệt, chứa trong nó nhiều mối quan hệ hơn tất cả các loại kí hiệu lấy âmthanh làm cái biểu đạt Do vậy nghĩa của từ, cái được biểu đạt trong từ là mộtphức thể có được nhờ sự tổng hợp các mối liên hệ của nhiều yếu tố bên trong

và bên ngoài ngôn ngữ Nhân tố bên trong là toàn bộ các quan hệ về ngữ âm,ngữ nghĩa, ngữ pháp diễn ra trong lòng hệ thống ngôn ngữ Nhân tố bên ngoài

là toàn bộ sự vật hiện tượng của thế giới khách quan Theo Đỗ Hữu Châu “…Nghĩa của từ là một thực thể tinh thần cùng với phương diện hình thức lậpthành một thể thống nhất gọi là từ Các thực thể tinh thần đó hình thành từmột nhân tố không đồng nhất với những nhân tố đó nhưng không có nhữngnhân tố này thì không có nghĩa của từ Các nhân tố tự mình chưa phải lànghĩa, ở bên ngoài nghĩa nhưng để lại những dấu vết trong nghĩa, góp phầnnhào nặn nên nghĩa của từ Nói cách khác, nghĩa của từ là hợp điểm, là kếtquả của những nhân tố và tác động giữa những nhân tố tạo nên nghĩa Trong

Trang 18

số những nhân tố đó, có những nhân tố ngoài ngôn ngữ và có những nhân tốnằm trong ngôn ngữ” [2,166].

Từ không phải là một đơn vị biệt lập, nghĩa của từ không phải là mộtkhối đơn nhất Nghĩa của từ là một phức thể gồm nhiều thành tố, có thành tốnằm trong nội bộ của từ, có thành tố nằm trong mối quan hệ phức tạp của hoạtđộng ngôn ngữ Mối liên hệ giữa tín hiệu với tư duy làm nên nghĩa biểu niệmcủa từ; mối liên hệ giữa tín hiệu với hệ thống từ vựng, với các từ khác trênhình tuyến làm nên nghĩa cấu trúc của; mối liên hệ giữa tín hiệu với ngườidùng nó làm nên nghĩa ngữ dụng của từ Các thành phần nghĩa cửa từ nói trênkhông hiện hữu như nhau trong các từ loại khác nhau của một ngôn ngữ vàđược bộc lộ rất khác nhau trong hoạt động Khi nói về nghĩa cửa từ, người tathường phân biệt các thành phần nghĩa sau:

- Nghĩa biểu vật: là liên hệ giữa từ với sự vật (hoặc hiện tượng, thuộctính, hành động, ) mà nó chỉ ra Bản thân sự vật, hiện tượng, thuộc tính, hànhđộng… đó người ta gọi là biểu vật hay cái biểu vật Biểu vật có thể hiện thựchoặc phi hiện thực, hữu hình hay vô hình, có bản chất hoặc phi bản chất Vídụ: đất, trời, mưa, nắng, nóng, lạnh, thánh, thần, ma, quỷ, thiên đường, địangục, …

- Nghĩa biểu niệm: là liên hệ giữa từ với ý (hoặc ý nghĩa, ý niệm) Cái ý

đó người ta gọi là cái biểu niệm hoặc biểu niệm (sự phản ánh của thuộc tínhvào trong ý thức của con người)

Ngoài hai phần nghĩa trên, khi xác định nghĩa của từ, người ta còn phân

ra hai thành phần nghĩa nữa, đó là: nghĩa ngữ dụng và nghĩa cấu trúc

Nghĩa ngữ dụng còn được gọi là nghĩa biểu thái, nghĩa hàm chỉ, là mốiliên hệ giữa từ với thái độ chủ quan, cảm xúc của người nói

Nghĩa cấu trúc là mối quan hệ giữa từ với các từ khác trong hệ thống từvựng Quan hệ giữa từ này với từ khác thể hiện trên hai trục: trục đối vị và

Trang 19

trục ngữ đoạn Quan hệ trên trục đối vị cho ta xác định được giá trị của từ,khu biệt giữa từ này với từ khác còn quan hệ ngữ đoạn cho ta xác định đượcngữ vị - khả năng kết hợp của từ.

1.2.2 Ngữ nghĩa của thành ngữ

Với tư cách là một đơn vị từ vựng – ngữ nghĩa, bình diện ngữ nghĩa củathành ngữ luôn được các nhà nghiên cứu quan tâm Trước hết nghĩa của thànhngữ được xác nhận như là một chỉnh thể định danh, tương đương với từ Tuynhiên, định danh của thành ngữ lại là định danh bậc hai được khái quát trên

cơ sở kết hợp các từ ngữ tạo nên thành ngữ, mà ngụ ý điều gì đó lại suy ra từchúng [9,28]

Cấu trúc ngữ nghĩa của thành ngữ thường được diễn giải thành mộtcụm từ tự do trong đó có một trung tâm (hoặc một cụm từ trung tâm) vànhững thành phần phụ bổ sung những sắc thái phụ cho ý nghĩa của thànhphần trung tâm [2,79]

Ngữ nghĩa của thành ngữ cũng được nhắc đến với những đặc điểm như:Tính biểu trưng, tính hình tượng, tính cụ thể, tính biểu thái, tính dân tộc Đây

là những đặc điểm làm nên giá trị ngữ nghĩa độc đáo của thành ngữ trong cáchoạt động

Tính biểu trưng là đặc điểm ngữ nghĩa quan trọng nhất của thành ngữtiếng Việt, làm nên nét khu biệt quan trọng giữa thành ngữ với đơn vị tươngđương nó là từ Thành ngữ tiếng Việt lấy những vật thực việc thực để biểutrưng cho những đặc điểm, tính chất, hoạt động, tình thế… phổ biến khái quát[2,82] Đặc điểm nổi bật trong nghĩa của từ là tính võ đoán còn trong thànhngữ là tính biểu trưng “Vấn đề biểu trưng hoá làm sáng tỏ quá trình hìnhthành nghĩa của thành ngữ”[42,tr.1-6] Như vậy có nghĩa là nghĩa của thànhngữ được hình thành bằng cơ chế biểu trưng hóa

Trang 20

GS Hoàng Văn Hành cho rằng: Nghĩa của thành ngữ tiếng Việt thường

là kết quả của hai hình thái biểu trưng hóa so sánh và ẩn dụ [9;29] Với so sánh,

ta có những thành ngữ như: lạnh như tiền, đông như kiến, như chó với mèo, … với ẩn dụ, ta có: chuột sa chĩnh gạo, cá mè một lứa, mèo mù vớ cá rán…

Trên thực tế, ta còn thấy có một bộ phận thành ngữ tiếng Việt dùng

hình ảnh hoán dụ để biểu trưng hóa ngữ nghĩa cho mình Ví dụ: mồm năm

miệng mười, tai to mặt lớn, chân lấm tay bùn,… Như vậy có thể nói rằng hoán

dụ cũng là một phương thức biểu trưng hóa ngữ nghĩa của thành ngữ tiếngViệt

Ngoài ra, còn có một phương thức biểu trưng hóa ngữ nghĩa của thànhngữ dựa trên cơ sở các điển tích, điển cố Đối với loại này thì giá trị nghĩabiểu trưng của thành ngữ được toát lên từ chính nội dung ngữ nghĩa mà các

điển tích điển cố đã xây dựng VD: Bá Nha Tử Kỳ, Ngưu Lang Chức Nữ, Nợ

như chúa Chổm…

Đến nay các thành ngữ tiếng Việt vẫn đang tiếp tục được hình thànhbằng cả bốn hình thái biểu trưng hóa nói trên

Cuối cùng, cần đặt từ ngữ vào trong các ngữ cảnh sử dụng của chúng

để thấy được những đặc trưng ngữ nghĩa vượt trội của nó trong các hoạt độngngôn ngữ phong phú của người Việt Khi hành chức, ngoài chức năng địnhdanh (nghĩa từ vựng) thông thường với đặc điểm ngữ nghĩa hết sức ưu việtcủa mình, thành ngữ còn đóng những vai trò quan trọng trong cấu trúc ngữcảnh mà nó tham gia

1.3 Đặc trưng văn hóa được thể hiện qua nghĩa của từ

1.3.1 Khái niệm văn hóa

Theo Từ điển tiếng Việt, khái niệm văn hóa bao gồm những nghĩa sau:

Trang 21

1 Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sángtạo ra trong quá trình lịch sử: Kho tàng văn hóa dân tộc, văn hóa phươngĐông Nền văn hóa cổ

2 Những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần(nói khái quát) Phát triển văn hóa, công tác văn hóa

3 Tri thức biểu thức khoa học (nói khái quát) Học văn hóa Trình độ văn hóa

4 Trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh Sống có vănhóa Ăn nói thiếu văn hóa

5 Nền văn hóa của một thời kỳ lịch sử cổ xưa, được xác định trên cơ sở mộttổng thể những di vật tìm thấy được có những đặc điểm giống nhau văn hóagốm màu Văn hóa Đông Sơn [1100]

Theo tác giả Phan Ngọc trong cuốn Bản sắc văn hóa Việt Nam định

nghĩa: “Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc của một cánhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này haytộc người này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng Điềubiểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễthấy nhất, biểu hiện bằng một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người,khác các kiểu lựa chọn của các cá nhân hay các tộc người khác” [20]

Theo Frederic Mayor, nguyên Tổng thư ký UNESCO định nghĩa: Vănhóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của các nhá nhân và cáccộng đồng) trong quá khứ và hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy

đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu, nhữngyếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc [dẫn theo Nguyễn Hữu Thọ -

Một số suy nghĩ về nội dung văn hóa trong giảng dạy tiếng Pháp].

Tác giả Hoàng Phê cho rằng: Văn hóa là tổng thể nói chung những giátrị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử Còntác giả Trần Ngọc Thêm định nghĩa: “ Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các

Trang 22

giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trìnhhoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tựnhiên và xã hội [37,10].

Các định nghĩa trên khác nhau về nhiều diểm nhưng có điểm chung lànói đến văn hóa là nói đến những giá trị vật chất và tinh thần do con ngườisáng tạo ra

1.3.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa

Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa đã được bàn đến từ cuối thế kỷXIX Bắt đầu từ công trình của nhà ngôn ngữ học người Đức Withelm VonHumboldt Về sau, hàng loạt tác giả đều đề cập đến, xây dựng tương đối hoànchỉnh về khung lý thuyết cho mối quan hệ phức tạp nhưng không kém phần lýthú này Người ta đã phân xuất ra hàng loạt các đặc điểm của văn hóa và cáchthức diễn đạt văn hóa qua ngôn ngữ và bằng ngôn ngữ Dù bằng cách nào, khi

lý giải mối quan hệ này nhất định phải đụng đến bộ ba: Văn hóa – Ngôn ngữ

-Tư duy

“Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của loàingười” (V.I.Lênin), nhưng sự giao tiếp đó chỉ xẩy ra khi giữa người nói vàngười nghe có sự hiểu biết chung Nói cách khác, muốn sử dụng một ngônngữ, người ta phải có tri thức nền về lịch sử, văn hóa của người bản ngữ Chonên, văn hóa và ngôn ngữ có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, không thể tách rời.Ngôn ngữ là phương tiện chuyên chở văn hóa và văn hóa chứa đựng ngônngữ Ngôn ngữ và văn tự là kết tinh của văn hóa dân tộc Sự biến đổi và pháttriển của ngôn ngữ lại luôn đi song song với sự phát triển và biến đối của vănhóa Vì vậy muốn nghiên cứu sâu về văn hóa phải nghiên cứu ngôn ngữ và tấtnhiên muốn đi sâu vào ngôn ngữ phải hiểu biết về văn hóa Chúng phát triểntrong sự tác động qua lại lẫn nhau

Trang 23

Mác cho rằng: “Ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu đặc biệt là phươngtiện giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của các thành viên trong một cộngđồng Ngôn ngữ đồng thời cũng là phương tiện tư duy, truyền đạt, lưu giữtruyền thống văn hóa, lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác Những thông tincủa ngôn ngữ truyền đạt không chỉ là những thông tin mang tính xã hội mà cảnhững thông tin phản ánh tâm sự, nỗi niềm của những cá nhân riêng lẻ Ngônngữ đã giúp con người biểu đạt tư duy, tư tưởng, không có tư duy trần trụithoát khỏi vỏ ngữ liệu”

Có thể hiểu tư duy như là một hoạt động trí tuệ của con người Như vậyngôn ngữ còn đảm nhận chức năng làm công cụ hoạt động trí tuệ Để thựchiện hành động này, con người phải có một tổng thể tri thức đạt được trongquá trình nhận thức thế giới khách quan Ngôn ngữ chính là phương tiện chủyếu để tàng trữ những tri thức ấy và nhờ ngôn ngữ mà con người có thểtruyền thụ tri thức từ đời này sang đời khác, đến tận từng cá thể Không phảingẫu nhiên mà một số nhà nghiên cứu gần đây nói đến những chức năng như:chức năng bảo tồn các kinh nghiệm lịch sử, xã hội, chức năng phản ánhnhững đặc thù văn hóa dân tộc… của ngôn ngữ

Ngôn ngữ còn được loài người dùng làm phương tiện duy nhất để xâydựng hiện tượng ngôn từ Trong quá trình tư duy, con người đối diện với thếgiới thực tại, nhận biết thế giới ấy theo cách biểu trưng hóa bằng những thaotác liên tưởng, tưởng tượng của trí tuệ đã sáng tạo ra một thế giới ảo trong đầu

óc – thế giới ý niệm, rồi cũng bằng phương pháp biểu trưng đã diễn đạt nhưthật và hấp dẫn bằng thế giới biểu tượng – thế giới của sáng tạo văn hóa Conđường đó được thực hiện nhờ ngôn ngữ

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt ngôn ngữ lên hàng đầu trong các yếu tốcấu thành văn hóa “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loàingười mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật,

Trang 24

khoa học, tôn giáo, văn học, văn nghệ, những công cụ cho sinh hoạt hằngngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo vàphát minh đó tức là văn hóa” [23,31].

1.3.3 Đặc trưng văn hóa dân tộc thể hiện qua thành ngữ và ca dao

Theo cách nhìn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ở trên, ngôn ngữđược coi là yếu tố đầu tiên cần nói đến trong số các yếu tố tạo nên văn hóa.Như vậy bản thân ngôn ngữ là văn hóa Mặt khác, ngôn ngữ còn có vai trò làphương tiện quan trọng và hữu hiệu nhất để chuyển tải và lưu giữ những disản văn hóa của dân tộc

Khi nói đến chức năng của ngôn ngữ làm phương tiện chuyển tải và lưugiữ những di sản văn hóa dân tộc, người ta thường tìm thấy những biểu hiện

cụ thể trong từ vựng – ngữ nghĩa là chủ yếu, và một phần trong cách diễn đạt,nói năng Cụ thể hơn, các trầm tích văn hóa đặc sắc của dân tộc thường đượckhám phá ra trong kho tàng thành ngữ và ca dao vốn là những đơn vị địnhdanh từ vựng và đơn vị câu, lớn hơn câu trong ngôn ngữ

Để minh họa cho vấn đề này, chúng tôi xin trích dẫn một mục nhỏ

trong chương thứ VI thuộc tác phẩm Thành ngữ học Tiếng Việt của cố GS.

Hoàng Văn Hành, giáo sư viết: “Lạm bàn về chuyện ăn, hay là thử tìm hiểu

về văn hóa ẩm thực của người Việt qua thành ngữ, tục ngữ và ca dao” Quathành ngữ cũng như tục ngữ và ca dao thì chuyện ăn chẳng đơn giản chút nào

Ăn để làm gì? Làm gì để có cái mà ăn? Nên ăn cái gì? Ăn với ai? Ăn vào lúcnào? Ở đâu? Và cách ăn như thế nào cho phải đạo?

Trong cuộc sống, ăn được xem làm chuyện có tầm quan trọng hàng đâu:

dĩ thực vi tiên (lấy việc ăn làm đầu) Song nhiều khi người ta ăn không phải vì

để mà no mà vì tình, vì nghĩa: Vì tình, vì nghĩa, ai vì đĩa xôi đầy… Người ta rất

cẩn trọng trong việc chọn miếng ăn, chứ không xô bồ, hỗn tạp: miếng ngon, ăn

ít ngon nhiều… và muốn có cái ăn, muốn được hưởng thụ tất phải làm việc:

Trang 25

Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ… Hơn thế nữa, tuy rằng: đói đầu gối phải bò nhưng không thể vì thế mà có thể bào chữa cho thói: đói ăn vụng, túng làm càn… Mặt khác, có được cái ăn rồi còn phải biết dành dụm, tằn tiện: tích cốc phòng cơ, bởi tháng tám chưa qua, tháng ba đã đến, không thể ăn rồi ngồi không, ăn xổi ở thì hoặc được bữa bào xào bữa ấy được…

Đó thực sự là những kinh nghiệm quý báu được ông cha ta tổng kết từngàn đời nay liên quan đến việc bảo đảm tính an toàn, bền vững của sự sốngcon người… Đặc biệt, liên quan đến nền văn minh lúa nước tồn tại từ lâu trênđất nước ta, ông cha ta còn đề cập đến vai trò, giá trị của các loại lương thực,thực phẩm Về lương thực, quan trọng nhất là lúa gạo, … thứ đến là ngô,

khoan, sắn: Cơm tẻ là mẹ ruột, được mùa chớ phụ ngô khoai…, gạo chợ nước

sông, củi đồng trầu miếng… Thực phẩm thì có: tương, cà, muối, mắm, rau,

dưa, thịt, cá… tương cà là gia bản…

Bản thân tác giả, khi giảng dạy Ngữ văn ở chương trình THPT qua so

sánh hai tác phẩm: Tôi yêu em của A.Puskin và bài ca dao Tát nước đầu đình

cũng có nhận ra một nét văn hóa đặc trưng của người Việt Ở người Việt, lốinói vòng vo, ý nhị bóng gió được ưa chuộng hơn là cách nói thẳng thừng, trực

diện, không dấu diếm như người phương Tây Chàng trai trong bài ca dao Tát

nước đầu đình muốn chuyển tới cô gái anh yêu thông điệp tình cảm và lời

nhắn cưới bằng một bài ca dao dài 16 câu lục bát, với 112 từ Đầu tiên, anh tatrình bày việc tát nước và để quên mất áo Sau đó là lời hỏi xin lại Tiện thể,

anh kể qua về tình trạng cái áo “sứt chỉ đã lâu” vì hoàn cảnh “mẹ già” và

“vợ anh chưa có” Rất hợp lý, và có thể cô gái đã cảm thấy tội nghiệp nên

anh mạnh dạn nhờ “khâu cho cùng” và hứa sẽ trả tiền công, sẽ giúp cho khi

lấy chồng Đến đây người đọc vẫn thấy hạt nhân hợp logic trong lời nói của

anh chàng Tuy nhiên, vật giúp đỡ cứ lần lượt: thúng xôi vò, con lợn béo, vò

rượu tăm, cho đến cả những việc của một chú rể mới có quyền được thực

hiện: đôi chiếu, đôi chăn, đôi trằm, tiền cheo, tiền cưới… thì mục đích của

Trang 26

anh ta mới lộ rõ: Hóa ra, từng ấy câu là chỉ để nói rằng anh ta muốn cưới côgái làm vợ.

Cũng một ý nội dung như trên, với văn hóa phương Tây thiên về lý trí,chàng trai nhất là lại trong hoàn cảnh yêu đơn phương đã nói thẳng thừng,trực diện:

Tôi yêu em đến nay chừng có thể Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai.

1.4 Tiểu kết chương 1

Thành ngữ và ca dao là hai đơn vị quan trọng trong ngôn ngữ của dântộc Thành ngữ được xem là đơn vị định danh, có chức năng như từ, có tínhchất cố định, hài hòa – điệp đối Đặc biệt, thành ngữ rất giàu hình ảnh, mang

ý nghĩa khái quát, biểu trưng

Ca dao là thuật ngữ chỉ riêng thành phần nghệ thuật ngôn từ (phần lờithơ) của dân ca (không kể tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi)

Thành ngữ và ca dao là những yếu tố thuộc về ngôn ngữ Thành ngữđược xem là có cấp độ tương đương như từ còn ca dao thì phải tương đươngvới câu hoặc cao hơn là văn bản Do vậy, xét ở bình diện ngữ nghĩa, thànhngữ và ca dao đều rất phong phú và nhiều tầng, bậc Tuy nhiên, do khảo sátmột số từ ở cả thành ngữ và ca dao nên phải dựa trên nền tảng nghĩa của từ

Ngôn ngữ và văn hóa có mối quan hệ mật thiết Có thể nói rằng ngônngữ là một trong những tiêu chí hàng đầu để nhận diện dân tộc Cũng là mộttrong những bộ phận của ngôn ngữ Việt, thành ngữ và ca dao – sản phẩm tinhthần lâu đời, gắn bó với đời sống của cư dân lao động lúa nước, đã kết tinhnhững trầm tích văn hóa độc đáo của dân tộc

Trang 27

2.1.1.1 Nghĩa của từ đất tronG Từ điển tiếng Việt

Theo Từ điển tiếng Việt do GS Hoàng Phê chủ biên, từ đất có các nghĩa

sau đây:

1 Danh từ: Chất rắn ở trên đó người và các loài động vật đi lại, sinhsống, cây cỏ mọc, đối lập với trời hoặc với biển, nước VD: Trên mặt đất,chôn dưới đất

2 Chất rắn làm thành lớp trên cùng của bề mặt Trái Đất, gồm nhữnghạt vụn khoảng vật không gắn chặt với nhau và nhiều chất hữu cơ, trên đó cóthể trồng trọt được, đối lập với đá Cuối đất, Đất bồi Làm kỹ đất trước khigieo trồng

3 Khoảng mặt đất trên đó có thể trồng trọt được Diện tích đất trồngtrọt, không một tấc đất cắm dùi (không có một mảnh đất nhỏ nào, tả tình trạngnghèo khổ cùng cực)

4 Khoảng mặt đất không phải là ruộng Đất ở Tính cả đất lẫn ruộng làhai hecta

5 Vật liệu gồm thành phần chủ yếu là đất (thường là đất sét) Ấm đất.Nhà tranh vách đất

6 Vùng có con người ở, trong quan hệ với cộng đồng người sinh sống

ở đó Nơi quê cha đất tổ

7 Chỗ có địa hình mạch đất tốt để làm nhà cửa hoặc đặt mồ mả, theothuật phong thủy Thầy địa lý đi tìm đất Được đất

Trang 28

8 Nơi thuận lợi cho một hoạt động nào đó Tìm đất hoạt động Cùngđường, không còn đất dung thân.

9 (Phương ngữ)_ Ghét, tắm kì ra đất

Ta thấy, đất trong Từ điển có rất nhiều nghĩa Trong đó, 6 nghĩa đầu là

những nghĩa thực, 3 nghĩa sau là những nghĩa phái sinh

2.1.1.2 Biểu hiện nghĩa của thành tố đất trong thành ngữ

Chúng tôi tiến hành khảo sát trong cuốn Thành ngữ học tiếng Việt của

cố GS Hoàng Văn Hành

Tổng số thành ngữ được khảo sát là 3225 thành ngữ Trong đó có 112

thành ngữ chứa các từ: đất, trời, sông, núi Các thành ngữ này chiếm tỉ lệ

3,47% tổng số thành ngữ được khảo sát

Thành ngữ chứa từ đất có 28 thành ngữ, chiếm tỉ lệ 0,899% tổng số thành ngữ được khảo sát Trong số các thành ngữ chứa yếu tốt đất, trời, sông,

núi (112TN) thành ngữ chứa yếu tố đất chiếm 25,9% Là loại thành ngữ có số

lượng lớn thứ hai sau thành ngữ chứa từ trời.

Bên cạnh đó, từ đất xuất hiện một mình có 22 thành ngữ Từ đất xuất hiện cùng với từ trời (đi thành từng cặp) có 6 thành ngữ Khi xuất hiện độc lập nghĩa của từ đất khác với khi nó cùng xuất hiện với yếu tố trời trong cùng

một thành ngữ

Chúng ta đã khẳng định thành ngữ có nghĩa biểu trưng Tuy nhiên ởđây không đề cập đến nghĩa biểu trưng của toàn bộ thành ngữ mà chỉ bàn đếnnghĩa biểu trưng của một thành tố trong thành ngữ

Biểu trưng là một từ có quá trình chuyển nghĩa:

- Là động từ có nghĩa: biểu hiện một cách tượng trưng và tiêu biểu nhất

- Là danh từ động nghĩa với biểu tượng

Khi tiếp nhận khái niệm này như một danh từ, chúng tôi theo quanniệm thứ hai, biểu tượng ở đây không phải theo cách hiểu của triết học và tâm

Trang 29

lí học (chỉ một giai đoạn, một hình thức của nhận thức cao hơn cảm giác, cho

tả hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vàogiác quan ta đã chấm dứt), mà là thuật ngữ của mĩ học, lí luận văn học vàngôn ngữ học

Có nhiều loại giá trị biểu trưng hóa trong định danh ngôn ngữ Biểutrưng hóa dựa vào quan hệ tương thích giữa âm và nghĩa là giá trị biểu trưnghóa ngữ âm

Về tính biểu trưng của thành ngữ trong tiếng Việt đang có hai luồng tưtưởng có hay không có ý nghĩa biểu trưng trong tất cả thành ngữ Tiếng Việt

Tác giả Bùi Khắc Việt đã bàn về tính biểu trưng trong bài Về tính biểu

trưng của thành ngữ trong tiếng Việt, trong đó sự vật hoặc hình ảnh với ý

nghĩa biểu trưng trong thành ngữ

1 Thành ngữ biểu trưng hóa toàn bộ, VD: Giẫm chân tại chỗ, bật đènxanh, …

2 Thành ngữ biểu trưng hóa bộ phận, trong đó một số thành tố có

nghĩa biểu trưng rõ rệt, một số không có nghĩa biểu trưng VD: Quyền rơm vạ

đá, nợ như chúa Chổm (rơm, đá, chúa Chổm có nghĩa biểu trưng) [42,2].

Ở đây, khi đề cập đến các thành tố (đất, trời, sông, núi) trong một số

thành ngữ và biểu hiện nghĩa của chúng chính là đang đề cập đến hình ảnhbiểu trưng Hình ảnh biểu trưng là hình ảnh tạo nên giá trị biểu trưng củathành ngữ chính là toàn bộ ý nghĩa, ý niệm khái quát từ hình ảnh, sự vật hay

sự việc được mô tả, đề cập, gọi tên trong thành ngữ

Ý nghĩa này chỉ bàn đến để làm rõ hơn giá trị biểu trưng của hình ảnhtrong thành ngữ mà thôi

Tìm hiểu ngữ nghĩa của thành tố đất trong thành ngữ, chúng tôi nhận thấy các nét nghĩa biểu trưng của đất đều có liên quan đến một hay nhiều khía cạnh nào đó trong đặc tính tự nhiên của hiện tượng đất trong thực tế.

Trang 30

1) Đất được hiểu theo nghĩa tượng trưng cho sự vững chãi, bền vững, yên ổn,

trường tồn

Xuất phát điểm của nghĩa này là đất thường gắn với “người mẹ tráiđất”, là nơi con người sinh sống, đi lại, trồng trọt, xây dựng nhà cửa

Trên cơ sở đó, những sự việc, hiện tượng, hành động nào lớn lao, có

sức chấn động lớn người ta thường gắn với sự chuyển động của đất Chẳng hạn thành ngữ đất bằng nổi sóng với nghĩa là: Bất thường, xảy ra sự kiến lớn,

sự bất trắc không thể lường trước được “Đó là những ngày đất bằng nổisóng” (Nguyễn Sáng) [43,288]

Đặc biệt, đất trong một số kết hợp với trời càng tô đậm biểu hiện nghĩa này Kinh động đến hai thực thể to lớn, bền vững, trường tồn là đất và trời thì

hẳn đó là những sức mạnh to lớn, hùng hậu, gây nên sự đảo lộn lớn

Đó là các thành ngữ: - Xoay trời chuyển đất

- Long trời lở đất

- Chuyển đất long trời

- Đất chuyển trời rung

- Đội trời đạp đất 2) Đất biểu trưng cho tính chất hiền lành, chất phác, không làm hại ai bao

Trang 31

- Ăn đất nằm sương: Nếm chịu nhiều khó khăn gian khổ trên đường đi

dài ngày [43,21]

- Gối đất nằm sương: Nếm trải, chịu đựng nhiều gian truân vất vả, do

phải đi đường dài hoặc làm việc ngoài trời trong thời gian dài [43,357]

- Nhà tranh vách đất: 2 (gia cảnh) nghèo nàn, thiếu thốn [43,505].

- No trong mo ngoài đất: Thực ra còn đói, còn nghèo khổ chứ không

phải no đủ như người ta vẫn tưởng [43,524]

- Tấc đất cắm dùi: Phần đất nhỏ bé để sinh sống và canh tác của người

nông dân (thường dùng trong kết cấu phủ định để chỉ sự nghèo khổ, cùng cựccủa người nông dân trước đây) [43,597]

- Màn trời chiếu đất: không cửa nhà, chịu cảnh dãi dầm mưa nắng,

sương gió [43,433]

- Bán mặt cho đất bán lưng cho trời: Vất vả nhọc nhằn trong nghề làm

ruộng [43,54]

4) Đất dùng trong kết cấu đối lập chỉ nơi nghèo nàn, cơ cực nhưng lại chứa

đựng vật quý hiếm, sinh ra người tài giỏi

Biểu hiện nghĩa này có hai thành ngữ:

- Đất sỏi có chạch vàng: Nơi khắc nghiệt, nghèo nàn nhưng vượng khí

hào kiệt, sinh ra nhiều tài năng, nhiều nhân vật lỗi lạc [43,289]

- Chùa đất Phật vàng: Nơi nghèo đói, cơ cực lại có người tốt, của quý

hiếm [43,179]

5) Đất chỉ cái chết, tình huống nguy kịch ảnh hưởng đến sự an nguy của tính

mạng

Gắn với thực tế mai táng, chôn cất của cha ông ta từ bao đời nay, từ đất

đi vào thành ngữ còn biểu hiện nghĩa chỉ cái chết, tình huống nguy kịch ảnh

Trang 32

hưởng đến sự nguy hiểm của tính mạng Nghĩa đó của từ đất có trong thành

Biểu hiện nghĩa này của từ đất có trong các thành ngữ:

- Quê cha đất tổ: Quê hương bản quán, nơi tổ tiên ông cha đã từng sinh

sống [43,557]

- Đất có lề quê có thói: (Đất lề quê thói)

1 Phong tục, tập quán lề thói riêng của từng địa phương đòi hỏi phảiđược tôn trọng, tuân thủ

2 Có nề nếp, lề thói tốt [43,289]

- Đất lành chim đậu: Nơi có điều kiện thuận lợi, dễ làm ăn, nhiều người

tập trung, quy tụ đông đúc để sinh sống, gây dựng cơ đồ, sự nghiệp [43,289]

- Đất khách quê người: Nơi xa lạ, không có quan hệ thân thuộc vớimình [43,288]

7) Biểu hiện nghĩa sau cùng của từ đất trong thành ngữ chỉ nơi thuận lợi cho

một hoạt động nào đó

Anh hùng không có đất dụng võ: Người tài giỏi nhưng không có điều

kiện, môi trường để thể hiện [43,10]

Trang 33

Tóm lại, tìm hiểu biểu hiện nghĩa của từ đất trong thành ngữ, chúng tôi nhận thấy, khi tham gia kết cấu nên thành ngữ, đất biểu hiện nghĩa khá phong phú (7 nghĩa) Mỗi nghĩa biểu trưng của đất trong thành ngữ đều có liên quan đến một hay nhiều đặc tính tự nhiên của thực thể đất có trong thực tế Mặt khác những biểu hiện nghĩa đó cũng có mối liên hệ với từ đất có trong từ điển Đất trong thành ngữ tượng trưng cho cái gì đó vững chãi, yên ổn, tường tồn; đất mang ý niệm về sự hiền lành, yên ổn, chất phác; mặt khác, trong một

số thành ngữ, đất còn thể hiện ý nghĩa về sự thiếu thốn nghèo nàn gian khổ

mà con người phải chịu đựng; đất biểu trưng cho cái chết, tình thế nguy kịch ảnh hưởng đến sự an nguy tính mạng con người; đất là nơi thuận lợi cho một hoạt động nào đó… Trong bốn thành tố khảo sát (đất, trời, sông, núi) trong thành ngữ thì thành tố đất có biểu hiện nghĩa phong phú, đa dạng hơn cả.

2.1.2 Biểu hiện nghĩa của thành tố trời trong thành ngữ

2.1.2.1 Nghĩa của từ trời trong Từ điển tiếng Việt

Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, từ trời có các nghĩa

3 Thiên nhiên về mặt đối lập với con người Mưa nắng nhờ trời Tại trờichẳng tại ai Phí của trời

4 (Dùng sau d, kết hợp hạn chế) (Động thực vật) hoang dại có sẵn trong tựnhiên, không phải do con người nuôi trồng Vịt trời Cải trời

Trang 34

5 Lực lượng siêu tự nhiên, coi như ở trên cao, sáng tạo và quyết định số phậnmuôn loài trên mặt đất, theo tôn giáo, tín ngưỡng dân gian Cầu trời khấnphật Số trời đã định Duyên trời xe Kêu trời không thấu.

II (Trợ từ dùng hạn chế sau một danh từ chỉ thời gian).Từ biểu thị ý nhấnmạnh mức độ là rất lâu, rất dài của khoảng thời gian đã qua Suốt mấy ngàytrời gần ba tháng trời

III C(Kng) Tiếng thốt ra biểu lộ sự ngạc nhiên hay để than thở Trời sao lại

có thể như vậy được! [29,1045]

Sau thành tố đất, trời trong Từ điển tiếng Việt có số lượng nghĩa nhiều thứ hai Ngoài tư cách trợ từ và khẩu ngữ, trời với tư cách là danh từ biểu hiện 5

nghĩa, trong đó 3 nghĩa đầu là nghĩa thực, 2 nghĩa sau là nghĩa phái sinh

2.1.2.2 Biểu hiện nghĩa của thành tố trời trong thành ngữ

Chúng tôi khảo sát trong cuốn Thành ngữ học tiếng Việt của cố GS.

Hoàng Văn Hành

Thành ngữ chứa từ trời có 62 đơn vị, chiếm tỉ lệ 1,9222% tổng số thành

ngữ được khảo sát (3225 thành ngữ), chiếm tỉ lệ 52,1% tổng số bốn kiểu loạithành ngữ đang đề cập đến (112 thành ngữ)

Như vậy, trong các thành ngữ chứa yếu tố đất, trời, sông núi thì thành ngữ có chứa từ trời có số lượng nhiều nhất.

1) Trời trong thành ngữ là từ chỉ thiên nhiên, điều kiện tự nhiên ảnh hưởng

đến đời sống con người (tuy nhiên thường là chỉ tai họa làm hại cho cuộcsống con người)

Trang 35

2) Trong kết hợp với từ đất, nằm trong một trường nghĩa, ở một số thành

ngữ trời chỉ khoảng không gian vô tận, bao la, có tính chất bền vững, trườngtồn, to lớn

Bởi thế nên những hàng động, việc làm, hiện tượng tác động đến hai

thực thể đất, trời thường là những hành động, việc làm, hiện tượng vang có

chấn động lớn Các thành ngữ sau đây đều có chung một nghĩa như vậy

- Đầu đội trời chân đạp đất (Đội trời đạp đất)

- Rung trời chuyển đất

- Xoay trời chuyển đất

- Vá trời lấp biển

- Chọc trời khuấy nước (Khuấy nước chọc trời)

- Đội đá vá trời -Lấp biển vá trời

- Long trời chuyển đất

mặt đất, quyết định số phận muôn loài

Nhắc đến trời, người ta nghĩ ngay đến một lực lượng siêu tự nhiên, coi

như ở trên cao, sáng tạo và quyết định số phận muôn loài trên mặt đất Đâycũng là một biểu hiện nghĩa phổ biến Nó xuất phát từ quan niệm của tôn giáo

và tín ngưỡng dân gian và có nguồn gốc từ tư duy nguyên hợp về thế giới củacha ông ta Mặt khác đó cũng là sản phẩm của thời đại khoa học kỹ thuật chưa

Trang 36

phát triển, con người không thể lý giải được hết mọi hiện tượng của đời sốngnên gán cho một thế lực siêu nhiên, có sức mạnh thần bí.

Các thành ngữ có từ trời với biểu hiện nghĩa như trên là:

- Coi trời bằng vung: Liều lĩnh, chủ quan, ương gàn, coi thường tất cả

- Bán trời không văn tự:

1 Ba hoa, khoác loác

2 Ngang tàng, cả gan, liều lĩnh, bất chấp luật lệ, không cần biết đúngsai [43,58]

- Chạy trời sao khỏi nắng: không thể tránh được [43,131] (Tương tự nghĩa của câu tục ngữ: Lưới trời lồng lộng, thưa mà khó lọt).

- Chết đứng như bị trời trồng: lặng đờ người ra, sững sờ không kịp phản ứng

gì trước một tác động đột ngột [43,151] (do không lí giải được nên gán cho

thế lực siêu nhiên là trời)

- Đèn trời soi xét: Trong cậy vào sự sáng suốt, công tâm của quan trên thẩm

định, soi xét cho nỗi oan khuất của thần dân, kẻ thấp hèn trong xã hội, theoquan niện phong kiến [43,301]

- Trời có mắt: Xảy ra sự việc làm mọi người thỏa lòng, tưởng như trời nhìn

thấu mà xử lý việc một cách công bằng, hợp lý [43,673]

Trang 37

- Trời không có mắt: Để xảy ra cảnh ngộ oan trái, bất công làm cho mọi người

oán thán trời đất [43,674]

- Trời không dung, đất không tha: Phạm nhiều tội ác không thể dung tha được

[43,674]

- Trời sinh voi sinh cỏ: Tự thân sự ra đời của sự vật, con người đều có điều

kiện để tồn tại, phát triển [43,675]

- Trời xui đất khiến Trùng hợp ngẫu nhiên, xảy ra điều không ngờ tới, ví như

có trời xui đất khiến thế nào ấy [43,675]

- Trời cao đất dày: Lời than vãn

- Trời ơi đất hỡi: Lời than vãn

4).Trời (đặt trong kết cấu đối lập với các yếu tố tự nhiên khác) chỉ ý nghĩa

nhiều, phong phú về mặt nào đó, nghĩa khác nhau tùy vào ngữ cảnh

Đó là trời trong thành ngữ:

- Ao trời nước vũng: ( Ao trời tức là ao tự nhiên thì nước rất nhiều; nước ở

vũng thì rất ít, nước ao trời và nước vũng chênh lệch nhau rất xa) Chênh lệchnhau rất lớn

5) Biểu hiện nghĩa sau cùng của từ trời trong thành ngữ chỉ khoảng không

gian bao la, không giới hạn (Thường xuất hiện trong sự kết hợp với một sốyếu tố tự nhiên khác để tăng mức độ)

(Kết hợp với nước, biển, bể, mây…)

Các thành ngữ sau chứa từ trời có biểu hiện nghĩa như vậy:

- Cá nước chim trời (cá biển chim trời, chim trời cá nước).

1 Nay đây mai đó, khó tìm, khó gặp

2 Tự do, không bó ràng buộc gì

3 Xa xôi cách trở, mỗi người một ngả

Trang 38

4 Có tính vu vơ, không chắc chắn gì, hoặc phải phụ thuộc vào tự nhiên[43,153-164].

- Chân mây cuối trời: Xa xôi, cách biệt, mỗi người một nơi [43,138].

- Chân không bám đất, cật chẳng đến trời.

1 Ở vị trí, tình trạng lơ lửng, chung chiêng không có ưu thế hay bản sắc riêngcủa mình

2 Có địa vị thấp, nhưng không hẳn là kẻ thấp hèn mà cũng không phải là kẻ

có quyền lực gì [43,137-138]

- Chân trời góc bể (biển)

1 Nơi xa xôi, cách trở

2 Ở khắp mọi nơi, không sót nơi nào, kể cả nơi xa xôi, cách biệt [43,140]

Tóm lại, tìm hiểu biểu hiện ngữ nghĩa của thành tố trời trong thành ngữ chúng tôi nhận thấy mỗi nghĩa biểu trưng của trời đều có liên quan đến đặc tính tự nhiên của hiện tượng trời trong thực tế Đồng thời cũng thể hiện mối liên hệ chặt chẽ với các nghĩa của từ trời trong Từ điển tiếng Việt Trời đi vào

thành ngữ biểu hiện các nghĩa sau: thiên nhiên, điều kiện tự nhiên ảnh hưởng

đến đời sống con người; trời chỉ khoảng không gian vô tận, bao la, có tính chất bền vững, trường tồn Mặt khác, trời đi vào tâm thức người Việt với

nghĩa biểu trưng cho lực lượng siêu tự nhiên ở trên cao, sáng tạo và quyếtđịnh số phận muôn loài dưới mặt đất…

2.1.3 Biểu hiện nghĩa của thành tố sông trong thành ngữ

2.1.3.1 Nghĩa của từ sông trongTừ điển tiếng Việt

Trang 39

Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, từ sông có nghĩa như

sau:

Danh từ Dòng nước tự nhiên tương đối lớn, chảy thường xuyên trênmặt đất, thuyền bè thường đi lại được Sông có khúc, người có lúc (trong.).(Cảnh) gạo chợ nước sông

Theo khảo sát trong cuốn Thành ngữ học tiếng Việt của GS Hoàng Văn Hành, thành ngữ chứa từ sông có 9 đơn vị, chiếm tỉ lệ 0,279% trong

tổng số thành ngữ được khảo sát (3225 thành ngữ)

2.1.3.2 Biểu hiện nghĩa của từ sông trong thành ngữ.

1) Biểu hiện nghĩa của từ sông trong thành ngữ dễ nhận ra nhất đó là thể

hiện tính chất dài, rất dài theo phương nằm ngang của sự vật, hiện tượng Đây là biểu hiện nghĩa dễ nhận ra nhất vì nó thuộc về một thành ngữ sosánh

- Dài như sông Rất dài, tựa như dòng sông [43,245].

Biểu hiện nghĩa này của từ sông trong thành ngữ dễ giải thích được vì

nó xuất phát từ hình dáng thực tế của thực thể gọi là sông trong tự nhiên.

Chính cảm quan thực tế đó đã khiến ông cha ta đưa vào thành ngữ để so sánh.Con đường kiến tạo thành ngữ này xuất phát từ cơ sở thực tế cũng tương tự

như nghĩa của từ núi trong thành ngữ cao như núi.

2) Biểu hiện nghĩa thứ hai của từ sông trong thành ngữ là thể hiện sốlượng nhiều vô kể, không thể đong đếm được (đến mức thừa thãi)

Nét nghĩa này dễ dàng lí giải được bởi nhắc đến sông thì ta nghĩ ngay đến nước Nước sông là danh từ số nhiều không đếm được.

Tiêu biểu cho nét nghĩa này của từ sông là khi nó có mặt trong thành

ngữ:

- Nước sông công lính: Sử dụng một cách thoải mái, không phải tính toán

vì sức lực, của cái có phần thừa thãi, lại không phải của riêng ai [43,539]

Trang 40

3) Sông biểu hiện cho sự lớn lao, kì vĩ, khó lay chuyển

Vì sông trong đời sống thực tế là một dòng chảy tự nhiên tương đối lớn

nên con người mặc định xem nó (cùng với núi, biển…) là biểu trưng cho cái

gì đó lớn lao khó lay chuyển được Vì thế nét nghĩa này của sông thường xuất

hiện trong thành ngữ chỉ lời thề, lời khẳng định:

- Chỉ núi thề sông (chỉ non thể biển): Thề nguyền, hứa với nhau sẽ

chung thuỷ suốt đời [43,155]

- Sông cạn đá mòn: Tạo vật, cuộc đời thay đổi lớn lao (thường dùng

trong câu thề nguyền với ý chỉ hoàn cảnh thế nào thì vẫn kiên định, lòng dạ không đổi thay) [43,578]

4) Trong thành ngữ, sông còn chỉ nơi tụ họp buôn bán, giao lưu hàng hóa,

là đầu mối giao thông quan trọng từ nơi này qua nơi khác, từ vùng này quavùng khác

Là một đất nước với hệ thống kênh rạch, sông ngòi chằng chịt thì con

sông đối với người Việt cũng quan trọng như con đường trên cạn với những

dân tộc du mục khác Điều kiện thiên nhiên, tự nhiên, thực tế cư trú chính là

con đường kiến tạo nét nghĩa này của từ sông trong thành ngữ.

- Bỏ rọ trôi sông: Vứt bỏ, trừng trị thẳng tay, không vướng víu, thương

tiếc gì [43,117]

- Gạo chợ nước sông (nước sông gạo chợ):

1 Khó khăn, ăn đong từng bữa một

2 Sống tạm bợ, ăn đong từng bữa một, không cất giữ, tính toán dài lâu.[43,337]

5) Sông chỉ khó khăn, việc trước mắt phải giải quyết (bằng cách nhờ vả,

phiền luỵ đến một đối tượng nào đó)

Từ thực tế, sông là một dòng chảy tự nhiên tương đối lớn và trong một thời

kỳ việc qua sông đi lại còn gặp nhiều khó khăn, phụ thuộc nên thành ngữ:

Ngày đăng: 21/12/2013, 12:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1999
2. Đỗ Hữu Châu (1986), Các bình diện của từ tiếng Việt, Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bình diện của từ tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1986
3. Jean Chevalier Alain Gheerbrant (2002), Từ điển biểu tợng văn hóa thế giới, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển biểu tợng văn hóa thế giới
Tác giả: Jean Chevalier Alain Gheerbrant
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2002
4. Vũ Dung, Vũ Thúy Anh, Vũ Quang Hào (2000), Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, Nxb VHTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam
Tác giả: Vũ Dung, Vũ Thúy Anh, Vũ Quang Hào
Nhà XB: Nxb VHTT
Năm: 2000
5. Cao Huy Đỉnh (2000), Ca dao Việt Nam và những lời bình, Nxb Văn hoá, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao Việt Nam và những lời bình
Tác giả: Cao Huy Đỉnh
Nhà XB: Nxb Văn hoá
Năm: 2000
6. Nguyễn Thiện Giáp (1996), Từ và nhận diện từ tiếng Việt, Nxb GD, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ và nhận diện từ tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1996
7. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2004), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ "văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2004
8. Hoàng Văn Hành (2004), Thành ngữ học tiếng Việt, Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành ngữ học tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2004
9. Hoàng Văn Hành (2002), Kể chuyện thành ngữ tục ngữ, Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kể chuyện thành ngữ tục ngữ
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2002
10. Hoàng Văn Hành(1991), Thành ngữ tiếng Việt trên đường hiểu biết và khám phá, Nxb KHXH, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành ngữ tiếng Việt trên đường hiểu biết và khám phá
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1991
13. Minh Hiệu (1984), Nghệ thuật ca dao, Nxb Văn hoá, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật ca dao
Tác giả: Minh Hiệu
Nhà XB: Nxb Văn hoá
Năm: 1984
14. Hà Thu Hơng (2002), “Yếu tố văn hóa trong thành ngữ về ăn”, Ngữ học trẻ 99, Nxb Nghệ An, trang 309 – 311 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yếu tố văn hóa trong thành ngữ về ăn”," Ngữ học trẻ 99
Tác giả: Hà Thu Hơng
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2002
15. Nguyễn Thị Hơng (2001), “Đặc trng ngữ nghĩa của bộ phận tục ngữ có chứa từ chỉ trỏ bộ phận cơ thể ngời”, Sách Những vấn đề lí thuyết lịch sử văn học và ngôn ngữ, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trng ngữ nghĩa của bộ phận tục ngữ có chứa từ chỉ trỏ bộ phận cơ thể ngời”, Sách" Những vấn đề lí thuyết lịch sử văn học và ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Thị Hơng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
16. Nguyễn Thúy Khanh (1995), “Một vài nhận xét về TNSS có tên gọi động vật”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 3, trang 63 – 73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài nhận xét về TNSS có tên gọi động vật”, "Tạp chí Ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Thúy Khanh
Năm: 1995
17. Nguyễn Xuân Kính, Phan Đặng Nhật, (đồng chủ biên) (1995), Kho tàng ca dao ngời Việt, Nxb VHTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng ca dao ngời Việt
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính, Phan Đặng Nhật, (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb VHTT
Năm: 1995
18. Nguyễn Xuân Kính (1992), Thi pháp ca dao, Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp ca dao
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1992
19. Đinh Trọng Lạc (1999), Phong cách học tiếng Việt, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1999
20. Thanh Lan, Võ Ngọc Thành (1991), Thành ngữ cố sự, Nxb Tổng hợp Khánh Hòa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành ngữ cố sự
Tác giả: Thanh Lan, Võ Ngọc Thành
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Khánh Hòa
Năm: 1991
21. Nguyễn Lân (1989), Từ điển thành ngữ tục ngữ Tiếng Việt, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thành ngữ tục ngữ Tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Lân
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1989
22. Đỗ Thị Kim Liên (2006), “Khảo sát tục ngữ Việt có nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc biểu thị quan hệ so sánh”, Tạp chí Ngôn ngữ số 5, trang 10 – 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tục ngữ Việt có nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc biểu thị quan hệ so sánh”, "Tạp chí Ngôn ngữ số 5
Tác giả: Đỗ Thị Kim Liên
Năm: 2006

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w