Cuốn “Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ và hai mơinăm xây dựng đất nớc”, với bài “Tiến công ngoại giao trong thời kỳkháng chiến chống Mỹ” của tác giả Trần Hữu Đính đã đề cập đến :T
Trang 1Trờng đại học vinh
Khoa lịch sử -
Hồ Thị Thơng Khoá 44 – Lớp B2 Lớp B2
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Khoá học 2003-2007
Đề tài :
Nghệ thuật vừa đánh vừa đàm trong đấu
tranh ngoại giao của đảng tại hội nghị paris về việt nam (1968 – 1973)
Chuyên ngành: lịch sử việt nam
Ngời hớng dẫn khoá luận: Thạc sĩ Trần Vũ Tài.
Vinh, 5 – Lớp B2 2007
Trang 2Lời cảm ơn!
Luận văn này hoàn thành có sự cố gắng nỗ lực của bản thân và sựgiúp đỡ tận tình chu đáo của Thầy giáo hớng dẫn Trần Vũ Tài, cácthầy cô giáo trong tổ Lịch sử Việt Nam – Lớp B2 Khoa Lịch sử Trờng Đạihọc Vinh, cùng sự động viên khích lệ của gia đình và bạn bè
Từ đáy lòng tôi xin bày tỏ sự biết ơn chân thành tới thầy giáo hớngdẫn, các thầy cô giáo, gia đình và bạn bè
Do khả năng và thời gian có hạn chắc chắn khoá luận này khôngtránh khỏi những khiếm khuyết Tôi hy vọng nhận đợc sự chỉ bảo tậntình của thầy cô và sự góp ý chân thành của các bạn./
Vinh, tháng 5 năm 2007.
Tác giả : Hồ Thị Thơng.
Trang 3A-PHẦN MỞ ĐẦU
1-LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Sau hơn ba mươi năm giải phúng miền Nam, thống nhất tổquốc ,ngoại giao Việt Nam cú thể tự hào về vai trũ là một mặt trậnquan trọng, trong ba mặt trận: quõn sự, chớnh trị, ngoại giao, đó thựctốt chiến lược, sỏch lược của Đảng trong cuộc cỏch mạng của toàn dõn
ta nhằm đưa giang sơn về một mối,cựng tiến lờn chủ nghĩa xóhội Trong cuộc khỏng chiến chống Mỹ cứu nước, hoạt động ngoạigiao thực sự trở thành một chiến lược lớn của Đảng Tuy nhiờn ngoạigiao là một “nghệ thuật của cỏc khả năng” Vỡ vậy để nõng hoạt độngngoại giao lờn một tầm cao, đạt tới trỡnh độ nghệ thuật đũi hỏi phải cúphương phỏp và phương cỏch vận dụng chiến lược, sỏch lược đốingoại một cỏch nhạy bộn, uyển chuyển và sỏng tạo, đạt được hiệu quả
cú lợi nhất , trờn tương quan lực lượng và điều kiện cụ thể tại nhiềuthời điểm nhất định, đặc biệt là trong tỡnh thế hiểm ngốo Đảng ta tạiHội nghị Pari đó thể hiện được nghệ thuật đú, và Hội nghị Paris cũngchớnh là sự thể hiện trỡnh độ cao của nghệ thuật vừa đỏnh vừa đàm củaViệt Nam
Cuộc đấu tranh ngoại giao trong suốt quỏ trỡnh đàm phỏn ở Parisgiữ một vai trũ hết sức quan trọng, tớch cực, chủ động và cú ý nghĩachiến lược Đú là sự kiờn định về nguyờn tắc, độc lập tự chủ trongđàm phỏn, đồng thời luụn luụn sỏng tạo, khụn khộo mềm dẻo về sỏchlược; là sự kết hợp nhuần nhuyễn vừa đỏnh vừa đàm trong đàm phỏnhai bờn và bốn bờn, trong họp cụng khai và bớ mật…
Hội nghị Paris là cuộc thương lượng trực tiếp giữa Việt Nam và
Mỹ, là sự thể hiện sỏch lược mềm dẻo của Đảng nhằm sớm đi vào cụcdiện vừa đỏnh vừa đàm, buộc Mỹ phải “đi vào kế hoạch của ta” Đảng
ta chủ trương: đẩy mạnh tiến cụng toàn diện bằng quõn sự và chớnh trị,bằng ba mũi giỏp cụng, kết hợp với tiến cụng ngoại giao để giànhthắng lợi quyết định về ta
Ngày nay, nước ta đó hoàn toàn độc lập, thống nhất, đang đẩymạnh sự nghiệp cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoỏ vỡ mục tiờu “dõn giàu ,nước mạnh, xó hội cụng bằng dõn chủ, văn minh” theo định hướng xóhội chủ nghĩa Trong sự nghiệp lớn lao đú, chắc chắn ngoại giao vẫntiếp tục đúng vai trũ rất quan trọng và những bài học của cuộc hoàđàm Paris vẫn cũn nguyờn giỏ trị Bài học từ Hội nghị Paris và Hiệpđịnh Paris đối với ngoại giao Việt Nam và hoạt động đối ngoại trongbối cảnh tỡnh hỡnh phức tạp hiện nay là bài học về tổ chức cuộc đấutranh ngoại giao, tập hợp lực lượng, đấu tranh dư luận và nghệ thuậtđàm phỏn ngoại giao Tất cả những gỡ cú thể học hỏi được từ Hội nghịParis vẫn cú giỏ trị thời sự thiết thực đối với tất cả chỳng ta hụm nay
và mai sau
Trang 4Nhỡn lại cuộc đấu tranh ngoại giao đưa đến việc kớ Hiệp địnhParis, chỳng ta cú dịp cựng nhau ụn lại những năm thỏng lịch sử vẻvang, cựng nhau suy ngẫm về đường lối chỉ đạo, sỏch lược và nhữngbước đi ngoại giao tài tỡnh đó được vận dụng để chống lại những ý đồ,mưu mụ, hành động xảo quyệt và tàn bạo của đối phương Đồng thời,qua đú cũng để hiểu rừ hơn và đỏnh giỏ đỳng hơn về nguyờn nhõnthành cụng, tầm vúc và ý nghĩa to lớn của thắng lợi ngoại giao lịch sửcủa dõn tộc ta tại Paris.
Hơn 30 năm đó trụi qua, thế giới đó trải qua biết bao thay đổi.Lịch sử đó bước sang một giai đoạn mới trong sự nghiệp xõy dựng vàbảo vệ Tổ quốc xó hội chủ nghĩa phồn vinh, văn minh và hiện đại.Trờn đường đi tới tương lai cỏc bài học kinh nghiệm của Hội nghịParis về Việt Nam vẫn luụn sỏng mói giỏ trị thời sự và cú ý nghĩa thựctiến lớn lao
Nghiờn cứu về nghệ thuật vừa đỏnh vừa đàm trong đấu tranhngoại giao của Đảng tại Hội nghị Paris về Việt Nam là một đề tài haynhưng cho đến nay chưa cú một cụng trỡnh nào đề cập một cỏch cụngphu, trong khuụn khổ của một khoỏ luận tốt nghiệp Đại học, chỳng tụimạnh dạn chọn đề tài về “ Nghệ thuật vừa đỏnh vừa đàm trong đấutranh ngoại giao của Đảng tại hội nghị Paris về Việt Nam (1968-1973)” làm đề tài cho khoá luận tốt nghiệp của mình
2-lịch sử vấn đề
Vấn đề ngoại giao trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ đã đợcnhiều ngời nghiên cứu, với nhiều khía cạnh khác nhau
Cuốn “Tạp chí cộng sản cơ quan lí luận và chính trị của trung
-ơng Đảng Cộng sản Việt Nam số 8/4-2005 có bài “Mặt trận ngoại giaotrong cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam , thống nhất tổ quốc” củatác giả Phan Doãn Nam, đã đề cập đến những bớc đi khéo léo trên mặttrận ngoại giao trớc khi diễn ra Hội nghị Paris và sự linh hoạt “kiênquyết” nhng uyển chuyển trên bàn Hội nghị của Đảng ta tại Hội nghịParis Cuối cùng tác giả đề cập đến quá trình đấu tranh thi hành hiệp
định Paris của ta cho đến ngay giải phóng miền Nam
Cuốn thứ hai đề cập đến là “Mặt trận ngoại giao với cuộc đàmphán Paris về Việt Nam” của nhà xuất bản chính trị Quốc gia Hà Nội-
2004 Cuốn sách đã đi sâu phân tích, phác hoạ nên một bức tranh sinh
động, toàn cảnh về quá trình đấu tranh gay go ,quyết liệt từ khi bắt đầu
đến khi kết thúc cuộc đàm phán hoà bình tại Hội nghị Paris và cuộc
đấu tranh sau đó nhằm đảm bảo những kết qủa đã giành đợc trongHiệp định
Cuốn “Các cuộc thơng lợng Lê Đức Thọ – Lớp B2Kissinger tại Paris”tác giả Lu Văn Lợi – Lớp B2Nguyễn Anh Vũ của nhà xuất bản Công an nhândân -2002, đã đề cập đến các cuộc tiếp xúc Việt Nam-Hoa Kỳ trớc Hộinghị Paris, còn phần tiếp theo các cuộc thơng lọng Lê Đức Thọ-Kissinger tại Paris xoay quanh về việc kết thúc chiến tranh, rút quân
Mỹ về nớcvà cuối cùng kí hiệp định
Cuốn thứ t đợc đề cập đến là “Ngoại giao Việt Nam 2000”của nhà xuất bản chính trị Quốc gia Hà Nội năm 2005 ,các tácgiả đã phác hoạ những nét chính của hoat động ngoại giao ViệtNảmtong 55 năm,từ 1945-2000, một thời kỳ đầy biến động và biết bao
Trang 51945-đổi thay ở Việt Nam cũng nh trên thế giới.Trên nền của đời sống chínhtrị, kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế trong thời kỳ này, đồng thờigắn liền với quá trình vận động của cách mạng nớc ta ,cuốn sách trìnhbày một cách hệ thống và tổng hợp các sự kiện ngoại giao của ViệtNam.
Cuốn “Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ và hai mơinăm xây dựng đất nớc”, với bài “Tiến công ngoại giao trong thời kỳkháng chiến chống Mỹ” của tác giả Trần Hữu Đính đã đề cập
đến :Trong thời kỳ kháng chiến chống mỹ, cứu nớc hoạt động ngoạigiao không chỉ đơn thuần phản ánh, so sánh lực lọng trên chiến trờng,
mà còn là âm mu tấn công để giành thắng lợi và kết thúc chiến tranh “Quá trình Đảng lạnh đạo đấu tranh ngoại giao tại Hội nghi Pari
về Việt Nam(1968-1973)” của tác giả tiến sĩ Lơng Viết Sang, nhà xuấtbản chính trị Quốc gia Hà Nội-2005 Nội dung của cuốn sách này, tácgiả đã tập trung làm nổi bật vai trò lạnh đạo của Đảng trong đàm phánbuộc Mỹ chấm dứt ném bom bắn phá miền Bắc và chống chiến lợc
“Việt Nam hoá chiến tranh” buộc Mỹ kí hiệp định Pari Phần cuôícùng tác giả nêu lên ý nghĩa thắng lợi và một số kinh nghiệm của
Đảng trong lãnh đạo đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris
Tất cả các t liệu này đã đợc công bố rộng rãi, đã đựơc viếtthành sách báo, trở thành nguồn tài liệu tham khảo, nghiên cứu cho rấtnhiều ngòi.Tuy nhiên tất cả mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu kháiquát mà cha đi vào cụ thể và chúng tôi lấy đó làm những t liệu tài liệutham khảo quan trọng trong quá trình thực hiện đề tài
3-đối tọng và phạm vi nghiên cứu
*Đối tợng nghiên cứu : “Nghệ thuật vừa đánh vừa đàm trong đấu
tranh ngoại giao của Đảng tại Hội nghị Paris về Việt Nam”
*Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi không gian: những vấn đề trong khuôn khổ cuộc chiếnViệt-Mỹ trên chiến trờng và trên bàn đàm phán tại Hội nghị Paris vềViệt Nam
Phạm vi thời gian:(từ tháng 05/1968 đến tháng 01/1973)
4-phơng pháp nghiên cứu
Cơ sở phơng pháp luận: là lí luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, t ởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam vớicông tác nghiên cứu khoa học
Phơng pháp nghiên cứu: ngoài phơng pháp lịch sử và phơngpháp lô gíc là chủ yếu, tác giả sử dụng phơng pháp hỗ trợ nh: Môtả,giải thích…để rút ra những nhận xét, những kết luận khoa họcđể rút ra những nhận xét, những kết luận khoa họckhách quan
5-bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận,phụ lục và tài liệu tham khảo,thì nội dung chính của luận văn đợc trình bày trong hai chơng sau: Chơng1: Cơ sở lí luận về nghệ thuật vừa đánh vừa đàm
Chơng2: Nghệ thuật vừa đánh vừa đàm trong đấu tranh ngoại giao của
Đảng tại Hội nghị Paris về Việt Nam(1968-1973)
Trang 6b-nội dung
Chơng 1cơ sở lí luận về nghệ thuật vừa đánh vừa đàm
1.1 kháI niệm
Vừa đánh vừa đàm là nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh đã có từ lâutrong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam Đây là “ nghệthuật kết hợp tiến công địch cả về quân sự và ngoại giao, tạo nên sứcmạnh tổng hợp để giành thắng lợi cuối cùng” [10,45]
Một đặc điểm nổi bật trong lịch chống ngoại xâm của dân tộcViệt Nam là luôn phải chiến đấu chống lại những kẻ thù mạnh hơn vềquân số và vũ khí Trong điều kiện ấy,Việt Nam luôn phải áp dụngnghệ thuật lấy yếu đánh mạnh, lấy ít địch nhiều Nghệ thuật đó khôngchỉ đợc áp dụng trong từng trận đánh, từng chiến dịch quân sự màtrong nhiều cuộc kháng chiến còn là sự phối hợp giữa tiến công địchcả về quân sự và ngoại giao Đó chính là phơng thức vừa đánh vừa
đàm
Trong hàng nghìn năm dựng nớc và giữ nớc, dân tộc ta đã phảitrải qua nhiều cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ với nhiều loại giặcngoại xâm hùng mạnh gấp bội để giành lại và giữ vững nền độc lậpcủa mình và sự thống nhất Tổ quốc Nét đặc thù đó của nớc ta rất hiếmthấy trên thế giới Một nét đặc thù nữa là trong sự nghiệp đấu tranh ấy,
đấu tranh ngoại giao luôn luôn là bạn đồng hành của đấu tranh quân
sự Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nớc là một điển hình về nét đặcthù này của Việt Nam
Có lẽ trong trờng hợp Việt Nam, câu châm ngôn “khi tiếng súngngừng nổ là lúc các nhà ngoại giao lên tiếng” không thật phù hợp Đấutranh quân sự và đấu tranh ngoại giao luôn luôn có mối quan hệ biệnchứng, trong đó thắng lợi trên chiến trờng thờng quyết định thành côngtrên bàn đàm phán Tuy nhiên, đối với nớc ta, đấu tranh ngoại giaokhông mang tính chất thụ động mà hỗ trợ trực tiếp và rất đắc lực cho
Trang 7đấu tranh quân sự Quân sự và ngoại giao là hai mặt trận gắn liền hữucơ và hỗ trợ lẫn nhau Trên bàn đàm phán không thể giành đợc nhữnggì không giành đợc trên chiến trờng Nhng những gì giành đợc trênchiến trờng sẽ không đợc khẳng định nếu không có nghệ thuật giànhthắng lợi trên bàn đầm phán Hơn thế nữa, thắng lợi trên bàn đàm phántạo thêm điều kiện thuận lợi để giành thắng lợi lớn trên chiến trờng Trong chiến tranh, đấu tranh quân sự giữ vị trí hàng đầu Chiếntranh càng phát triển thì hình thức đấu tranh quân sự càng trở nên quantrọng, vì nó giữ vị trí quyết định trong việc tiêu diệt lực lợng quân sự
địch, làm thất bại âm mu quân sự và chính trị của địch Vì thế, Đảng tahết sức tập trung chỉ đạo cuộc đấu tranh trên mặt trận quân sự Mọihoạt động khác trong đó có ngoại giao , phải góp phần tạo ra sức mạnhcho cuộc kháng chiến Trong khi lãnh đạo toàn dân quyết tâm chiến
đấu đến cùng , với quan điểm nhân đạo và hoà bình, Đảng chủ trơngkhông bỏ lỡ cơ hội đàm phán để kết thúc chiến tranh Trên cơ sở giànhthắng lợi trên chiến trờng, làm tiêu tan hi vọng giành thắng lợi bằngquân sự của địch , Đảng đã chỉ đạo “vừa đánh vừa đàm”, kết hợp giànhthắng lợi quyết định trên chiến trờng với bàn đàm phán tại Hội nghịParis để kết thúc kháng chiến
Hội nghị Paris là sự thể hiện trình độ cao của nghệ thuật vừa
đánh vừa đàm của Việt Nam, Hội nghị cho thấy chúng ta đã vận dụngmột cách nghệ thuật mối quan hệ hữu cơ đó ,biết mở đàm phán đúnglúc, phù hợp với tình thế trên chiến trờng
1.2 kế sách “vừa đánh vừa đàm” trong truyền thống lịch sửviệt nam
Để dựng nớc và giữ nớc, để giành và giữ nền độc lập dân tộc,nhìn chung cả quá trình mấy nghìn năm lịch sử, nhân dân ta trơc kẻthù hung bạo , dùng vũ lực đặt ách thống trị , đã không đi trệch con đ-ờng đúng dắn, duy nhất đã chọn : con đờng cầm vũ khí đấu tranhquyết liệt một mất một còn với địch Cha đạt đợc mục đích độc lập dântộc , cha thực hiện quyền làm chủ hoàn toàn đất nớc mình thì tổ tiên taquyết nắm chắc vũ khí trong tay , quyết đánh quyết thắng.Chính đitheo con đờng dó mà cha ông sáng tạo ra một nghệ thuật chỉ đạo đúng
đắn , một nghệ thuật biết khởi sự và giỏi tiến hành chiến tranh đồngthời biết kết thúc chiến tranh và giữ vững thắng lợi của chiến tranh đómột cách có lợi cho đất nớc, dân tộc, một khi mà mục tiêu cơ bản củachiến tranh đã đạt đợc Đó là nghệ thuật giành, giữ vững, củng cốquyền làm chủ đất nớc của một dân tộc kiên cờng bất khuất, ngờikhông đông quân đội không nhiều, đất nớc không rộng, mà phải chiếnthắng những quân đội xâm lợc của một nớc phong kiến lớn mạnh Trong điều kiện ta là một nớc đất không rộng, ngời không
đông, phải đánh phải thắng oanh liệt một quân đội xâm lợc của một
n-ớc phong kiến lớn mạnh, dân tộc ta đã tạo nên một nghệ thuật mà tổtiên ta gọi là “lấy ít địch nhiều , lấy yếu trị mạnh , lấy đoản chống tr-ờng” [8,76] Trong việc xử trí tình huống chiến lợc cụ thể thì khôngkhinh địch, đánh giá đúng sức mạnh ban đầu của quân xâm lợc: lúcquân địch còn mạnh thì ta hành động rất thận trọng, nhng khi địch đãtrở thành yếu lại hành động rất táo bạo Trên cơ sở đánh giá đúng tìnhthế khách quan , biết địch biết ta một cách đúng đắn, tổ tiên ta đã pháthuy đến mức cao độ nỗ lực chủ quan, phát huy đến mức cao độ trí tuệcủa mình, tìm ra trăm phơng nghìn kế, khắc phục muôn vàn khó khăngian khổ và đã lập nên những chiến công kỳ lạ Đó cũng chính là điềukiện làm cho tính sáng tạo trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh, đạt
đến trình độ rất cao
Trang 8Điểm lại các cuộc kháng chiến trong lịch sử nớc ta , chúng tathấy tổ tiên ta đã biết khéo léo kết hợp đấu tranh vũ trang rất kiênquyết với đấu tranh ngoại giao rất mềm dẻo sau khi đã giành đợc thắnglợi to lớn quyết định trên chiến trờng, sau khi quân địch bị thất bạinặng nề mà thực chịu thua , nhằm củng cố và mở rộng thành quả đấutranh
Trong những cuộc chiến tranh thắng lợi, vấn đề “đánh” và “đàm”
đã đợc tổ tiên ta nhận thức một cách đúng đắn và giải quyết một cách
đúng đắn, sáng tạo Luôn luôn sẵn sàng đánh, đánh đến thắng lợi hoàntoàn, đánh hết trận này, đánh xong với kẻ thù này lại chuẩn bị đánhtrận khác, đánh kẻ thù khác nếu chúng dám xâm lợc Đó là quan điểmchiến lợc nhất quán của dân tộc ta Mặt khác tổ tiên ta cũng tỏ ra mìnhhiểu ngời , biết dùng biện pháp đàm phán kết hợp đợc tính cứng rắn vềnguyên tắc và tính mềm dẻo về sách lợc, để củng cố và mở rộng thànhquả của đấu tranh vũ trang
để tổ tiên ta tiến hành ngoại giao với địch Tuỳ theo so sánh lực lợnggữa ta và địch trong từng triều đại, tổ tiên ta đã biết áp dụng hai cáchvừa đánh vừa đàm và đánh thắng rồi đàm Trong quá trình giữ nớc củadân tộc, tổ tiên ta ở các thời đều kết hợp đấu tranh quân sự với đấutranh ngoại giao để đánh thắng giặc Chiến tranh giải phóng hay chiếntranh bảo vệ Tổ quốc, tổ tiên ta đều làm nh thế
Trong kháng chiến chống tống(1075-1077) thời kỳ nhà Lý ,saukhi đánh các căn cứ xâm lợc của quân Tống ở Khâm Châu, Ung Châu,Liêm Châu(1075), Lý Thờng Kiệt rút quân về nớc Mùa Thu 1076,sau khi đem quân từ Quảng Tây về, Lý Thờng Kiệt cho đắp ở bờ sôngcầu một khúc đê cao nh bức thành đất , dài gần 7 vạn bớc(khoảng 30km), chạy dài từ bến đò sông Nh Nguyệt tới chân núi Nham Biền, bênngoài đê, đóng cọc tre mấy lớp để làm giậu, giữ lấy chân đê Toàn bộkhúc đê cao này là một chiến luỹ kiên cố để chặn đánh địch , khôngcho chúng qua sông cầu tiến vào Thăng Long
Những ngày đầu năm 1077, tớng Tống là Quách Quỳ đem đạiquân vợt biên giới tiến sang nớc ta Sau 10 ngày hành quân rất chậtvật, ngày 18-11-1077, quân Tống mới tới bờ Bắc sông Cầu , nhngkhông sang đợc vì không có thuyền Đối diện với quân Tống bên bờBắc là phòng tuyến kiên cố của ta ở bên bờ Nam và có đại quân ta
đóng ngay tại phòng tuyến
Quân Tống nửa đêm bắc cầu phao qua sông, liều chết đánhsang bờ Nam Quân ta kiên quyết chống lại Sau trận đánh này, quânTống bị quân ta vây chặt ở bờ Bắc sông Cầu trong 40 ngày liền “QuânTống sang Đại Việt 10 vạn, bị chết 8 vạn, chỉ còn 2 vạn; 20 vạn dânphu cũng chết một nửa, 1vạn ngựa thì còn hơn 3 nghìn”[1,52] Tuy LýThờng Kiệt đã chặn đợc đại quân Tống trên phòng tuyến sông Cầu nh-
ng tình thế địch ta cha phân rõ thắng bại, dù thế ta có lợi hơn Bất kểthế nào thì đến khi đó quân Tống vẫn còn ở trên đất ta và đã chiếm đợcmột số vùng của ta
Trang 9Có hai vấn đề phải giải quyết: đuổi quân tống ra khỏi nớc và thuhồi các châu Quang Lang, Châu Môn, Tô Mậu, T Lang, QuảngNguyên…để rút ra những nhận xét, những kết luận khoa họcSau những tổn thất trên phòng tuyến sông Cầu và nhữngtổn thất do Lam Sơn chớng khí, tinh thần quân Tống sa sút,bản thân t-ớng Quách Quỳ hoang mang, tiến thoái lỡng nan.Nhng rút lui thì mấtthể diện của “thiên triều” Biêt rõ ý đồ xâm lợc của giặc đã bị đè bẹp,
Lý Thờng Kiệt liền chủ động đa đề nghị “ rút quân về thì giao hảo”thực chất là mở lối thoát cho quân Tống Đó là chủ trơng kết thúcchiến mềm dẻo của Lý Thờng Kiệt : “dùng biện sĩ để bàn hoà , khôngnhọc tớng tá khỏi tốn máu xơng mà bảo toàn đớc tôn miếu”[30,162]
Lý Thờng Kiệt cử Kiều Văn Ung đi thơng thuyết với Quách Quỳ Sứgiả bàn với Quách Quỳ : “ xin hạ chiếu rút lui đại quân về thì lập tứcsai sứ sang “tạ tội”và “tu cống”, chỗ nào quân Tống đã chiếm là đátTống”[2,13] Quách Quỳ – Lớp B2tớng Tống lúc đó chỉ có thể chọn mộttrong hai con đờng : hoặc tiếp tục đánh thì bị tiêu diệt hoàn toàn, hoặcnhận điều kiện rút quân thì bảo tồn đợc bộ phận sinh lực còn lại, giữ đ-
ợc tính mạng của bản thân Trong điều kiện nguy cơ bị tiêu diệt hoàntoàn, Quách Quỳ đã chọn con đờng thứ hai, lập tức rút quân, ngay trớckhi triều đình ra lệnh Vào tháng 3-1077, quân Tống bí mật rút lui Quân Tống rút đến đâu , Lý Thờng Kiệt cho quân theo sát lấylại đất đai đến đấy Quân ta nhanh chóng thu hồi các châu Môn,Quang Lang, Tô Mậu, T Lang Riêng châu Quảng Nguyên (Cao Bằng)
là miền đất có nhiều tài nguyên, nhất là mỏ vàng, nên nhà Tống có âm
mu chiếm đóng lâu dài Nhng rồi bằng những biện pháp đấu tranh kiênquyết kết hợp chiến tranh du kích với đấu tranh ngoại giao nhà Lýcũng lấy lại đợc vào năm 1079 Nhà sử học Phan Huy Chú bình luậnrất đúng “việc biên giới ở đời nhà Lý đợc nhà Tống trả lại rất nhiều.Bởi vì trớc thì có oai thắng trận , ngời Trung Châu hoảng sợ đủ làmcho nhà Tống phải phục, sau thì sứ thần bàn bạc lời lẽ thung dung,càng thêm khéo léo, cho nên cần gì dợc nấy làm cho lời tranh biệnkhiến ngời phơng bắc phải phục mà thế lực Nam giao đợcmạnh”[8,109]
Lý Thờng Kiệt chống Tống bằng một cuộc chiến tranh toàn diễntrên tất cả các mặt từ quân sự , ngoại giao, chính trị đến cả địch vận.Thiên tài của ông là đã táo bạo phá kế hoạch chuẩn bị chiến tranh củaquân Tống ngay trên đất Tống, ghìm chân trên phòng tuyến NhNguyệt để dùng “biện sĩ bàn hoà”với tớng Tống-Quách Quỳ khiến ybiết ta sẽ thơng lợng rồi màvẫn bí mật sút quân về nớc, không đợi lệnhVua Chính Lý Thờng Kiệt đã lần đầu tiên trong lịch sử nớc ta đa rakiểu “ vừa đánh vừa đàm” để kết thúc chiến tranh bằng thơng lợng Thời kỳ nớc ta bị quân Minh đô hộ, trong 10 năm chiến tranhgiải phóng (1407-1427) đã có nhiều lần vừa đánh vừa đàm nh vậy LêLợi và Nguyễn Trãi đã kiên trì đấu tranh ngoại giao kết hợp đấu tranhquân sự để đánh thắng giặc Lê Lợi và Nguyễn Trãi chủ trơng “ta mudẹp bằng đánh vào lòng, không chiến trận mà địch phải khuất”[1,122] Đánh vào lòng địch là một bộ phận của đấu tranh ngoại giao màNguyễn Trãi đã dùng với hai hình thức: Dụ hàng các tớng lĩnh , binh
sĩ địch và nguỵ quân ở các thành Cùng với chủ trơng dụ hàng, vận
động quân địch phản chiến , Nguyễn Trãi kiên trì đấu tranh hoà đàmvới địch Đấu tranh hoà đàm cuả ông là một hình thức đấu tranh ngoạigiao đi liền với đấu tranh quân sự, nhằm chấm dứt chiến tranh, đem lạihoà bình, gây lại giao hảo giữa ta và địch Nguyễn Trãi và nghĩa quânLam Sơn đã vận dụng rất linh hoạt, tài giỏi đấu tranh quân sự với đấutranh hoà đàm Đàm mà vẫn đánh, đánh mà vẫn đàm Vừa đàm vừa
Trang 10đánh cho tới khi kết thúc chiến tranh Đàm tới khi địch không thể đánh
đợc nữa và đánh tới khi địch phải đàm phán, chấp nhận đầu hàng mớithôi
Từ năm 1418, nghĩa quân Lam Sơn phất cờ khởi nghĩa, chiến
đấu kiên cờng, càng đánh càng mạnh, nhng vẫn khi đợc, khi thua, chadành đợc những chiến thắng lớn và những thắng lợi quyết định Năm
1423, Nguyễn Trãi tới Lam Sơn bắt đầu vận dụng kế sách đấu hoà đàm để mở đầu một giai đoạn chiến tranh mới, giai đoạn đánhmạnh vào lòng địch, kết hợp đánh mạnh bằng quân sự và bằng sứcmạnh của quần chúng nổi dậy để đánh bại hẳn quân địch
Muốn thực hiện kế sách đó công việc trớc tiên là phải đàm phánthơng lợng với địch, tăng cờng sức mạnh của mình Nguyễn Trãi đợctrao trách nhiệm nghiên cứu, trù liệu đàm phán và đàm phán thànhcông Giữa năm 1423 Lê Lợi sai các tớng Lê Vận, Lê Trăn mang năm
đôi ngà voi cùng th cầu hoà gửi Sơn Thọ và Mã Kỳ Thế vừa đánh vừa
đàm mở ra trong lúc nghĩa quân đang ở thế cùng “ lấy củ rau để làm
l-ơng” sẽ tiếp tục cho đến khi quân địch bị vây khốn trong thành ĐôngQuan Lúc đầu là để lấy lại sức, chuẩn bị đánh lâu dài, lúc cuối là đểphát huy thế thắng dành thắng lợi hoàn toàn
Sau hai năm hoà hoãn, trở về Lam Sơn nghĩa quân đã có bớc tiếnnhảy vọt, chiếm thành Nghệ An, từ đó kết hợp chiến đấu với địch vận,lần lợt giải phóng Diễn Châu, Thanh Hoá, Tân Bình, Thuận Hoá…để rút ra những nhận xét, những kết luận khoa học Nhận thấy sức ta đã mạnh, giặc thì suy yếu phải dựa vào thành
cố thủ đợi viễn binh sang, Lê Lợi, Nguyễn Trãi quyết định tiến công raBắc Tháng 9 – Lớp B2 1426 ba đạo quân trên 1 vạn ngời phái ra truớc vớinhiệm vụ chung là chặn viễn binh Từ 8 – Lớp B2 10 đến 9 -11 – Lớp B2 1427 vớichiến thắng vang dội Chi Lăng – Lớp B2 Xơng Giang, nghĩa quân đã tiêu diệt
đợc 15 vạn viễn binh của Liễu Thăng và Mộc Thạnh, đập tan cố gắngcao nhất cuối cùng của nhà Minh Kể từ sau chiến thắng Chi Lăng – Lớp B2Xơng Giang thế quân sự của ta mạnh hẳn lên, thế ta trong thế “vừa
đánh vừă đàm” càng mạnh và rõ ràng quân sự phục vụ ngoại giao,
“đánh” phục vụ “đàm”
Sau khi diệt viện, quân ta có đủ điều kiện và khả năng đẻ hạthành nhng chủ trơng của Lê Lợi, Nguyễn Trãi là muốn tiếp tục vâyhãm và kiên trì thuyết phục, buộc chúng phải đầu hàng Nh thế vừabảo đảm giành thắng lợi trong điều kiện ít tổn hại xơng máu nhất, vừa
mở ra lối thoát thuận lợi để kết thúc chiến tranh với nhà Minh
Tổng binh Vơng Thông mới đợc cử sang thay Trần Trí bị giamtrong thành Đông Quan cùng với 10 vạn quân, không còn hi vọngtrông chờ viện binh từ Trung Quốc sang đang lâm vào cảnh “kế cùnglực kiệt” một mặt mang th ra “xin giảng hoà, mở đờng cho về” nhngmặt khác, Vơng Thông vẫn còn ngoan cố, nghi ngại và hoảng sợ Hắnliều lĩnh dốc hết quân trong thành, tự mình cầm quân, mở một cuộcphản kích hòng phá vây về nớc Quân ta đã chuẩn bị sẵn sàng, nhử
địch vào nơi mai phục, rồi đánh cho tan tác, sau đó Lê Lợi – Lớp B2 NguyễnTrãi tiếp tục đàm phán với Vơng Thông Nguyễn Trãi đã viết 7 bức thgửi cho Vơng Thông , chỉ rõ cho Vơng Thông thấy tình thế của chúnglúc này “nhà lớn gần xiêu, một cây gỗ khôn hay chống đỡ, đê dài sắp
vỡ, một vốc đất khó thể chi trì Nếu không biết lợng sức mà cứ cỡnglàm thì ít khi không thất bại”[30,317] Nguyễn Trãi đã bác bỏ mọi lý
lẽ trì hoãn việc đầu hàng của quân Minh và phân tích một cách hết sức
ôn tồn, có tình có lý để xoá bỏ những mối ngờ vực, lo lắng của VơngThông
Trang 11Những lời khuyên dụ của Nguyễn Trãi tác động mạnh tới tinhthần tớng địch Vơng Thông xin làm theo lời Nguyễn Trãi, tự định việcrút quân về Ngày 10-12-1427 chủ tớng Vơng Thông cùng toàn bộ t-ớng lĩnh cao cấp của địch đã đến dự hội thề Đông Quan Trong buổi lễ,chủ tớng Vơng Thông thay mặt toàn thể quân giặc, trịnh trọng xin thề
“Tổng binh quan thành sơn hầu Vơng Thông quả tự lòng thành, đúngtheo lời bàn, đem quân về nớc không thể kéo dài năm tháng để đợiviện binh đến nơi Lại phải theo đúng nh sự lý bản tâu, đúng lời bàn tr-
ớc mà làm…để rút ra những nhận xét, những kết luận khoa học”[1,156]
Theo quy định của các lãnh tụ Lam Sơn tại hội thề Đông Quan,
đúng ngày 19-12-1427 hơn 10 vạn quân Minh bắt đầu rút về nớc mặcdầu cha có lệnh vua Minh
Trong sự nghiệp đánh đuổi quân Minh đô hộ, có phần đóng gópcông lao rất quan trọng của Nguyễn Trãi Ông vừa giỏi về quân sự, vừagiỏi về ngoại giao, kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự với đấu tranhngoại giao để đánh thắng địch Nguyễn Trãi đấu tranh ngoại giao với
địch rất linh hoạt,sắc bén, đúng thời cơ, sát với từng tình huống cụ thểcủa chiến trờng Khi đã giành thắng lợi quyết định bằng quân sự thìtiến hành đàm phán hoà bình, dùng ngoại giao để phát huy thắng lợiquân sự và chấm dứt chiến tranh, đặt lại quan hệ bình thờng giữa hai n-
ớc Công tác ngoại giao của Nguyễn Trãi đã góp phần vào công cuộc
đánh thắng hoàn toàn quân Minh xâm lợc Đờng lối và thành tíchngoại giao của Nguyễn Trãi cùng với đờng lối và thành tích chính trị,quân sự của ông đã góp phần tạo nên những chiến công vô cùng rực rỡcủa dân tộc ta trong chiến tranh chống quân xâm lợc đầu thế kỉ XV Tiếp tục truyền thống của Lý Thờng Kiệt, Lê Lợi theo kế hoạchcủa Nguyễn Trãi, đã biết dùng cục diện “vừa đánh vừa đàm” trong lúcthắng để kết thúc chiến tranh, đuổi quân Minh ra khỏi nớc Lúc nàykhông ít tớng lĩnh phản đối giảng hoà với Vơng Thông và đề nghị
đánh Đông Quan Lê Lợi nói “đánh thành là hạ sách, ta đánh thành lâuhàng tháng hàng năm không hạ đợc, quân ta sức mỏi mà khí nhụt, nếuviện binh giặc đến thì trớc mặt, sau lng đều có giặc, đó là con đờngnguy Không bằng nuôi dài, chứa sức để chờ viện, diệt viện thì thànhphải hàng, thế là làm một mà đợc hai, kế vẹn toàn đấy”[8,46]
Còn thời Trần, thời Nguyễn Huệ chỉ sau khi đã giành thắng lợihoàn toàn bằng những chiến công hiển hách, tiêu diệt gần hoàn toànquân xâm lợc, nhà Trần và Nguyễn Huệ mới chủ động tiến hành hoạt
động ngoại giao với các triều đình Nguyên và Thanh
Nh đã nêu trên, dù vùa đánh vừa đàm hay là đánh thắng rồi đàm,
tổ tiên ta tỏ ra nắm vững quan hệ giữa giành thắng lợi quyết định trênchiến trờng nớc ta và củng cố, mở rộng thắng lợi đó bằng hoạt độngngoại giao Đó là biểu hiện của sự kết hợp đúng đắn giữa ý chí kiên c-ờng bất khuất và nhãn quan trông xa thấy rộng, có lòng căm thù sâusắc quân địch, lại biết đánh giá đúng sức mình, sức ngời
Qua hàng nghìn năm đấu tranh bảo vệ Tổ Quốc, ông cha ta đã
để lại những bài học có giá về nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh nóichung và ngoại giao nói riêng: Trong chiến đấu bảo vệ tổ quốc phảibiết kết hợp cả chiến đấu và ngoại giao, kiên quyết chiến dấu trênchiến trờng, nhng khi cần có thể tạo ra thế vừa đánh vừa đàm, lúc dùngngoại giao phục vụ chiến trờng, lúc dùng thăng lợi trên chiến trờngphục vụ ngoại giao
1.3 chủ nghĩa mác-lênin, t tởng hồ chí minh về nghệ thuậtvừa đánh vừa đàm
Trang 12
Trong chỉ đạo cách mạng, chỉ đạo chiến tranh, chủ nghĩa Lênin cùng với t tởng Hồ Chí Minh là vũ khí tiến công của Đảng,
Mác-Đảng ta coi chủ nghĩa Mác-Lênin và t tởng Hồ Chí Minh là nền tảng ttởng và kim chỉ nam cho hành động của mình
Bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin đã
đợc vận dụng một cách sáng tạo, kết hợp một cách chặt chẽ và pháthuy tác dụng một cách đầy đủ nhất trong đờng lối và phơng pháp cáchmạng của Đảng ta Cách mạng có thể tiến hành bằng nhiều phơngpháp khác nhau, nhng vấn đề là trong số những phơng pháp đó, chủnghĩa duy vật biện chứng bao giờ cũng là cơ sở phơng pháp luận hớngdẫn cho Đảng biết chọn lấy phơng pháp cách mạng nào đúng đắn nhất,thực hiện đợc mục tiêu cách mạng tốt nhất, đa cách mạng đến đỉnhnhanh nhất
Lãnh đạo toàn dân tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứunớc, Đảng nhận thức rằng nhân dân Việt Nam không thể chỉ dùng sứcmạnh vật chất để chiến thắng nhanh chóng kẻ thù là một tên đế quốcmạnh nhất thế giới t bản Trên cơ sở t tởng của chủ nghĩa Mác-Lênin,
Đảng ta đã đánh giá so sánh lực lợng ta, địch một cách khoa học vàcách mạng: so sánh cả lực và thế, đánh giá cả số lợng và chất lợng,mặt mạnh và mặt yếu và dự kiến xu thế phát triển của nó chúng ta đãbiết căn cứ vào điều kiện cụ thể, tình hình so sánh lực và hoàn cảnhquốc tế của từng thời kỳ mà đặt ra những mục tiêu vừa sức, sát hợpnhất mà khả năng cho phép Trong chỉ đạo chiến lợc, Đảng ta đã vậndụng trong một thể thống nhất hữu cơ các mặt đấu tranh chính trị,quân sự, ngoại giao Sức mạnh tổng hợp ấy là sự tổng hoà của lực vàthế trong mối quan hệ biện chứng của nó Dùng lực để tạo thế, tạo thế
có lợi để sử dụng lực đến mức tối đa giành thắng lợi càng lớn, tạo ralực mới và thế mới Lực thế kết hợp chặt chẽ, nhịp nhàng càng pháthuy chỗ mạnh của ta, khoét sâu chỗ yếu của địch, đẩy chúng vào thếngày càng bất lợi, bảo đảm cho ta giành thắng lợi cuối cùng
Ngoại giao phải có thực lực, đó là một chân lý không thể thay
đổi Thực lực của ta trong kháng chiến chống Mỹ là những gì ta có đợc
từ đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị mà trớc hết là kết quả thu
đợc từ chiến trờng Hơn lúc nào hết chúng ta thấm nhuần lời dạy củaC.Mác: “Vũ khí phê phán cố nhiên không thể thay thế đợc sự phê pháncủa vũ khí, lực lợng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ băng lực lợng vậtchất”[12,202] Thực tiễn 21 năm kháng chiến chống Mỹ nói chung và
5 năm đấu tranh ngoại giao tại hội nghị Paris nói riêng cho thấy phải
có tiến công quân sự và thắng lợi quân sự, tiêu diệt và làm tan rã quân
đội Mỹ, nguỵ thì mới đánh bại đợc ý chí xâm lợc của đế quốc Mỹ, làmsuy sụp tinh thần nguỵ quân, nguỵ quyền Sài Gòn, làm cho hàng ngũ
địch bị chia rẽ, thúc đẩy đấu tranh chính trị tạo thế đấu tranh ngoạigiao
Mặt khác, việc vận dụng sách lợc trong đấu tranh ngoại giao đòihỏi phải biết nhân nhợng đối phơng khi cần thiết để đạt đợc mục tiêuchính cho từng giai đoạn và tiến tới mục tiêu cuối cùng của cáchmạng Chủ nghĩa Mác-Lênin coi đây là sự nhân nhợng, thoả hiệp cónguyên tắc của giai cấp vô sản “dù có thoả hiệp với kẻ thù mà có lợicho cách mạng vẫn phải làm”(Lênin)
Sau cách mạng tháng 10 năm 1917, nớc Nga vẫn trong tìnhtrạng chiến tranh với Đức Chủ trơng của chính quyền Xô Viết là đàmphán, kí hoà ớc với Đức và các nớc thuộc phe Đức để chấm dứt chiếntranh, lập lại hoà bình, xây dựng và củng cố lực lợng cách mạng NhngB.Tờrốtxki, ngời cầm đầu đoàn đàm phán , lại không chấp hành chỉ thị
Trang 13của V.I Lênin là phải duy trì cuộc đàm phán và trong trờng hợp phái
đoàn Đức đa ra tối hậu th thì phải ký ngay hoà ớc Vì thế nớc Ngaphải chiến đấu chống lại cuộc xâm lợc của liên quân Đức – Lớp B2Aó Vớihoà ớc Brétlitốp đợc ký ngay sau đó , nớc Nga phải chịu những điềukiện nặng nề hơn nh cắt một bộ phận lãnh thổ rộng 1 triệu km2, bồi th-ờng 6 tỉ mác cho Đức và giải ngũ quân đội Dù đã bỏ lỡ thời cơ trớc
đó, phải nhận những điều kiện nặng nề nh thế , nhng nớc Nga vẫn phải
ký vì đây là bớc rút lui tạm thời để bảo vệ thành quả của cách mạng
Về sau ,V.I Lênin cho rằng “đây là một hoà ớc tai hại nhất, tàn khốcnhất, nhục nhã nhất” nhng trong điều kiện bấy giờ, “chính sách đó đã
tỏ ra duy nhất đúng đắn”.V.I Lê nin cũng từng nói rằng trong lịch sử ,nhiều lúc hoà ớc đã tỏ ra có tác dụng nh một cuộc ngừng chiến để tậphợp lại lực lợng nhằm tiến hành những trận chiến đấu mới và tronglịch sử thế giới cũng “cha từng có những cuộc chiến tranh nào lại bắt
đầu và kết thúc bằng những cuộc tấn công luôn luôn thắng cả, hoặcnếu có thì đấy là những trờng hợp ngoại lệ”[12,199] Nh vậy , kinhnghiệm của cách mạng Nga khi đàm phán với Đức ở Brétlitôp cuốinăm 1917 đầu năm 1918 cho thấy nếu không nắm thời cơ để kí hiệp ớcvới kẻ thù thì sẽ dẫn đến những tổn thất to lớn cho đất nớc Diễn biếncủa cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris cho thấy mỗi lần ViệtNam có nhân nhợng mang tính sách lợc là mỗi lần cuộc đàm phán phá
vỡ dợc sự bế tắc
Chủ nghĩa Mác – Lớp B2 Lênin đã chỉ ra rằng : nhân nhợng là để tiếncông, nhân nhợng những cái trớc mắt để xây dựng cho kế hoạch lâudài và Hội nghị Paris chính là một mẫu mực về trờng hợp nhân nhợng– Lớp B2 thoả hiệp có nguyên tắc
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nớc chủ tịch Hồ ChíMinh và các đồng chí lãnh đạo Đảng đã vận dụng sáng tạo nhữngnguyên lý chủ nghĩa Mác-Lênin, đã thực hiện thành công chiến lợcchiến tranh cách mạng phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam Đảng ta đãbiết kết hợp linh hoạt các hình thức đấu tranh khác nhau: quân sự,chính trị, ngoại giao Và đây chính là một trong những yếu tố đảm bảocho sự thành công của nghệ thuật vừa đánh vừa đàm tại Hội nghị Paris
về Việt Nam Đồng chí Lê Duẩn cho rằng “là thuyết cách mạng triệt
để và duy nhất khoa học, chủ nghĩa Mác-Lênin nh ngọn đèn pha soisáng cho Đảng ta phơng hớng giải quyết mọi vấn đề của cách mạngViệt Nam, định ra đờng lối và phơng pháp cách mạng đúng đắn”[26,143]
Cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin, t tởng Hồ Chí Minh cũng soi ờng cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinhthần to lớn của Đảng và dân tộc ta Tại Hội nghị Paris, t tởng Hồ ChíMinh luôn là kim chỉ nam cho Đảng trong suốt quá trình đàm phán “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, “hoà bình thực sự quyếtkhông thể tách rời khỏi độc lập tự do thực sự” là cơ sở t tởng Hồ ChíMinh cho một giải pháp kết thúc chiến tranh xâm lợc của Mỹ Nó trởthành lập trừơng xuyên suốt của Việt Nam trong cuộc thơng lợng.Nghệ thuật thể hiện nó ở cuộc thơng lợng Paris là kết hợp với chính trị,quân sự để “lúc cơng lúc nhu” mềm dẻo, linh hoạt buộc đối phơng vàophơng án đàm phán có lợi cho ta
Tìm ra lối thoát cho cuộc chiến tranh của một dân tộc nhỏ yếuchống lại cuộc chiến tranh xâm lợc quy mô lớn của một cờng quốchàng đầu phơng Tây không phải là chuyện dễ dàng Buộc đối phơngcông khai thừa nhận thất bại thông qua thơng lợng hoà bình tay đôicòn khó khăn hơn rất nhiều Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “dùng lối
Trang 14nói chuyện thì phải nhân nhợng nhau đúng lúc mức” và “tranh lấy hoàbình không phải là một việc dễ, nó là cuộc đấu tranh trờng kỳ giankhổ, phức tạp, nó có những điều kiện có lợi, cũng có những khó khăn”[12,200].
Tại cuộc họp Bộ chính trị ngày 26-4-1969 bàn về việc đánh cho
Mỹ rút quân chủ tịch Hồ Chí Minh nói “ta sẵn sàng cho Mỹ rút quân
có thể diện, sẵn sàng trải thảm đỏ cho quân Mỹ rút về nớc, hoan tống
họ một cách lịch sự” Một nớc nhỏ chống sự xâm lợc của một nớc lớnthì tơng quan lực lợng không cho phép hy vọng có thể giành thắng lợibằng cách tiêu diệt hoàn toàn lực lợng quân sự của đối phơng Cách tốtnhất là làm sao đánh bại ý chí xâm lợc của chúng và buộc chúng phảirút quân Đã có lần chủ tịch Hồ Chí Minh suy ngẫm “…để rút ra những nhận xét, những kết luận khoa họcđối với Mỹ, ta
có cách chủ động cho nó rút ra, vì rất phức tạp Một tay đánh, một tay
mở cho nó ra, trớc cửa cần có rèm chống” [18,228]
Về vai trò của Bác Hồ trong quá trình chuyển thế trận đánh
-đàm, giáo s sử học Hunggari Laszlo Salgo nhận xét “không một chútnghi ngờ , hơn ai hết , chủ tịch Hồ CHí Minh là ngời đã sử dụng đếnmức tối đa sự mềm dẻo xung quanh tấm thảm xanh để thăm dò nhữngkhả năng cho một giải pháp hoà bình có thể đợc thực hiện bằng mộtthoả hiệp”[4,466]
T tởng mặt trận ngoại giao Hồ Chí Minhđợc hình thành trongnhững năm 1960, tiếp thu truyền thống đánh - đàm trong lịch sử ngoạigiao truyền thống và kinh nghiệm ngoại giao thời kỳ kháng chiếnchống thực dân xâm lợc Đấu tranh ngoại giao theo t tởng Hồ ChíMinh là phải có sự phối hợp “ăn ý” với đấu tranh quân sự, kinh tế, vănhoá Đấu tranh ngoại giao mà đơn lẻ, đơn độc sẽ không giành đợcthắng lợi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “thực lực là cái chiêng,ngoại giao là cái tiếng Chiêng có to tiếng mới lớn” “cái chiêng” ở đâychính là lực lợng của nhân dân , lực lợng quân sự Tiếng súng củachiến trờng vọng vào nghị trờng , làm tăng sức mạnh của tiếng nói Đó
là nhờ cái “chiêng to”, nên tiếng của nó “ mới lớn” Có lần Bác Hồ chỉ
rõ “muốn dựng ngôi nhà tốt thì phải xây nền cho thật vững” “gốc cóvững cây mới bền” “cái nhà” “cái cây” “cái nền” “cái gốc” đều là mốiliên kết , tác động lẫn nhau, cùng nhau đứng vững trớc ma to gió lớn Qua đó chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm rõ mối quan hệ giữa ngoại giao
và quân sự trong chiến tranh, trong đó đấu tranh quân sự là quyết
định, tác động mạnh mẽ vào thành quả của cuộc đấu tranh ngoại giao,còn đấu tranh ngoại giao là một mặt phản ánh thắng lợi trên mặt trậnquân sự Nh vậy chỉ có thắng lợi trên mặt trận quân sự mới có thểgiành đợc thắng lợi trên mặt trận ngoại giao Phát huy sức mạnh tổnghợp ở mức cao nhất để đánh thắng quân thù chính là pháp bảo thần kỳtrong t tởng Hồ Chí Minh Đó là những luận cứ khoa học của nghệthuật vừa đánh vừa đàm
…để rút ra những nhận xét, những kết luận khoa học…để rút ra những nhận xét, những kết luận khoa học…để rút ra những nhận xét, những kết luận khoa học…để rút ra những nhận xét, những kết luận khoa học…để rút ra những nhận xét, những kết luận khoa học…để rút ra những nhận xét, những kết luận khoa học…để rút ra những nhận xét, những kết luận khoa học…để rút ra những nhận xét, những kết luận khoa học…để rút ra những nhận xét, những kết luận khoa học
Chơng2
Nghệ thuật vừa đánh vừa đàm trong đấu tranh ngoại giao của đảng tại hội nghị paris về việt nam (1968 – 1973)
2.1 tạo cục diện vừa đánh vừa đàm (5/1968 -11/1968)
2.1.1 bối cảnh lịch sử trớc thế trận vừa đánh vừa đàm
* Bối cảnh quốc tế
Trang 15Trên măt trận quốc tế ,cuộc đấu tranh giữa ta và địch diễn ra gay
gắt và không kém phần phức tạp, đồng thời cũng mở ra phơng hớngmới trong tập hợp lực lợng :
- Việc đế quốc Mỹ chọn Việt Nam – Lớp B2 một địa bàn chiến lợc ở châu
á -Thái Bình Dơng-làm nơi áp dụng chiến lợc toàn cầu “phản ứng linhhoạt” ,chống chủ nghĩa xã hội và phong trào cách mạng thế giới , gâychiến tranh quy mô lớn ở Việt Nam và Đông Dơng đã trở thành tháchthức lớn của thời đại Nó chẳng những thách thức ý chí “không có gìquý hơn độc lập tự do” của nhân dân Việt Nam mà còn đối với trào luthế giới đấu tranh cho độc lập dân tộc , hoà bình dân chủ và chủ nghĩaxã hội Vì vậy, cuộc chiến tranh Việt Nam trở thành cuộc đụng đầulịch sử giữa một bên là thế lực đế quốc, thực dân mới hùng mạnh do
Mỹ đứng đầu và bên kia là các lực lợng của xu thế cách mạng thời đại
mà Việt Nam là tiêu biểu
Tình hình quốc tế, đặc biệt là chiến lợc các nớc lớn trực tiếp liênquan đến cuộc chiến tranh đang có những biến động quan trọng, cuộcchiến tranh lạnh đang đi vào xu thế vừa đấu tranh vừa hoà hoãn.Vì lợiích toàn cầu, trong hoàn cảnh Mỹ đang sa lầy ở Việt Nam , đang bị côlập trên thế giới và cán cân lực lợng thế giới đang có lợi cho các lực l-ợng cách mạng và xã hội chủ nghĩa , Liên Xô muốn tranh thủ thời cơthúc đẩy hoà dịu Xô - Mỹ, qua đó kiềm chế Mỹ và giảm gánh nặngchạy đua vũ trang, tăng cờng tiềm lực kinh tế của mình Liên Xô longại chiến tranh ở Việt Nam mở rộng làm quan hệ quốc tế căng thẳng,
có hại cho hoà dịu Xô - Mỹ ,đồng thời có lợi cho vai trò của TrungQuốc trong tập hợp lực lợng quốc tế và cải thiện quan hệ với Mỹ Bởivậy ,ở mức độ nào đó Liên Xô cũng tìm cách tác động vào diễn biếncủa cuộc chiến tranh để có thêm thế mặc cả với Mỹ Tuy vẫn ủng hộViệt Nam chống Mỹ nhng Liên Xô lại muốn Việt Nam sớm tìm giảipháp kết thúc chiến tranh thông qua con đờng thơng lợng hoà bình
- Phong trào giải phóng dân tộc ở vào thời điểm này đã phát triểnmạnh mẽ thu đợc nhiều thành tựu to lớn Bản đồ chính trị thế giới cónhững thay đổi lớn : bên cạnh hai hệ thống chính trị đối lập do các siêucờng Liên Xô và Mỹ đứng đầu, trên sự sụp đổ của từng mảng của hệthống thực dân cũ, đã ra đời một loạt các quốc gia độc lâp trẻ tuổi ởchâu á, Phi ,Mĩ La Tinh Tơí đầu những năm 60 đã có gần 60 quốcgia giành đợc độc lập, trong đó có các nớc lớn nh : ấn Độ , Inđônêxia,
Ai Cập…để rút ra những nhận xét, những kết luận khoa họcĐứng trớc thử thách to lớn (khả năng bị lệ thuộc vào các nớclớn), đa số các nớc đang phát triển cố tìm ra con đờng mới cho bảnthân dựa vào sức mình ,giữa thế cân bằng của hai khối Trong bốicảnh đó , với ý thức nói trên ,các nhà lãnh đạo một số nớc : G.Nêru(ấn Độ ), B.Titô(Nam T, Sucácnô(Inđonêxia), quyết định thành lậpphong trào không liên kết ( 9-1961) với mục tiêu : độc lập dân tộc,chung sống hoà bình, không tham gia các liên minh quân sự nhiều nớc Quyết định đó đợc sự hởng ứng nhiệt liệt của các nớc á , Phi , Mĩ LaTinh Xuất phát từ lợi ích căn bản , lâu dài của mình, phần lớn các nớc
độc lập dân tộc và phong trào giải phóng dân tộc ở á ,Phi , Mĩ La Tinh
ở mức độ khác nhau đã đồng tình ủng hộ ngày càng mạnh mẽ sựnghiệp chính nghĩa của nhân dân Việt Nam Lực lợng trung gian có lợicho Mỹ ngày càng giảm
- Nét nổi bật trong quan hệ quốc tế thời kỳ này là cuộc chiến tranhxâm lợc quy mô lớn của Mỹ chống nhân dân Việt Nam dần dần trởthành mối quan tâm hàng đầu trong d luận quốc tế Điều đó phản ánhcuộc đấu tranh quyết liệt trong tập hợp lực lợng và tranh thủ d luậnquốc tế giữa ta và Mỹ Mặc dù Mỹ đã huy động tối đa bộ máy tuyên
Trang 16truyền chiến tranh, dùng nhiều thủ đoạn lừa bịp hoà bình, đi đôi vớigây sức ép đe doạ, Mỹ vẫn không ngăn cản đợc làn sóng phản đốichính sách chiến tranh của Mỹ lan rộng trên thế giới Chính giới nhiềunớc, kể cả những nớc đồng minh của Mỹ cũng bị phân hoá, bất lợi chochủ trơng leo thang mở rộng chiến tranh của Mỹ Không ít giới cầmquyền ở các nớc này điều chỉnh chính sách đối với Mỹ cũng nh đốivới Việt Nam theo hớng bất lợi cho Mỹ.
*Thực tế chiến trờng Việt Nam
Những diễn biến ở chiến trờng và cục diện quốc tế không theo ýmuốn của Mỹ Việc quân Mỹ cùng phơng tiện quân sự hiện đại ồ ạt đổvào miền Nam và mở rộng chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, đánh Lào
và tiến công Campuchia tuy có gây cho chúng ta nhiều khó khăn, nhngkhông tạo ra đựơc bớc ngoặt chiến tranh có lợi cho Mỹ Trái lại, ta đãtừng bớc giữ vững và phát triển thế tiến công của cách mạng miềnNam, đánh thắng bớc đầu cuộc chiến tranh leo thang của Mỹ ở miềnBắc ở miền Nam, ta đã bẻ gãy các cuộc phản công chiến lợc quy môlớn của địch, làm thất bại các cuộc hành quân “tìm diệt” , “bình định”
1965 – Lớp B2 1967 của Mỹ – Lớp B2 Ngụy, đồng thời chủ động mở các chiến dịchtiến công trực diện quân Mỹ, đánh quân ngụy ở khắp các chiến trờng.Vùng giải phóng từng bớc đợc củng cố và mở rộng, lực lợng ta có bớcphát triển đáng kể
Thực hiện nghị quyết Trung ơng lần thứ 11, 12 và 13, quân vàdân cả nớc đã ngoan cờng bớc vào cuộc đối mặt trực tiếp với quân đội
và bộ máy chiến tranh hiện đại của Mỹ, ngay cả khi Mỹ ồ ạt đa hơn 50vạn quân vào miền Nam Việt Nam
Ta đã đánh bại cuộc phản công chiến lợc mùa khô 1965 – Lớp B2 1966,mặc dù có đến 75 vạn quân Mỹ – Lớp B2 Nguỵ đợc huy động , nhằm “tìmdiệt”quân chủ lực của ta Lần đàu tiên Mỹ - Nguỵ bị tiêu hao binh lựclớn và chịu thất bại về chiến lợc phản công , giành thế chủ động Tháng 5 – Lớp B2 1966, đại sứ Mỹ tại Sài Gòn thừa nhận : “ Mỹ không tiêudiệt dợc một đơn vị chính quy nào của Việt cộng, không ngăn chặn đ-
ợc du kích phát triển, lực lợng Mỹ không khắc phục đợc tình hìnhngày càng xấu đi và quân đội Sài Gòn giảm chất lợng nhanh chóng vàvẫn bị động”[22,204]
ở miền Bắc, với âm mu đợc chuẩn bị từ trớc ,Mỹ gây ra “sự kiệnVịnh Bắc Bộ” Mỹ vu cáo Việt Nam tiến công tàu Ma đốc(Maddox)của Mỹ ở ngoài khơi thuộc hải phận quốc tế để lấy cớ trả
đũa, ném bom bắn phá miền Bắc nớc ta Ngày 7-8-1964, Quốc hội Mỹthông qua “nghị quyết Vịnh Bắc Bộ”, tán thành hành động trả đũa đốivới Bắc Việt Nam Từ năm 1965, Mỹ mở các chiến dịch không quânmang mật danh “Sấm rền”(Rollingthunder) ném bom từng bớc và liêntục Bắc Việt Nam
Nhng trái với tính toán của Nhà Trắng và Lầu Năm Góc, các cuộcném bom bắn phá miền Bắc của Không quân và Hải quân Mỹ đã bị
đánh trả quyết liệt Với cố gắng to lớn, với tinh thần “mỗi ngời làmviệc bằng hai” quân và dân ta ở miền Bắc chẳng những đã làm nên thấtbại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ mà còn củng cố đợc hậuphơng lớn, chi viện ngày càng to lớn, hiệu quả hơn cho cuộc chiến đấungoan cờng của đồng bào miền Nam
Nh vậy là trong ba năm đầu của “chiến lợc chiến tranh cục bộ”,lực lợng so sánh ở chiến trờng chuyển dần sang thế có lợi cho ta Mỹ– Lớp B2 Nguỵ ngày càng lún sâu hơn trong thế bị động về chiến lợc, phải
đối phó cả về quân sự, chính trị và d luận Thất bại nặng nề qua haicuộc phản công mùa khô đã đặt Mỹ đứng trớc tình trạng bế tắc Thêm
Trang 17vào đó chuẩn bị bớc vào năm bầu cử tổng thống , các phe phái trongnội bộ nớc Mỹ ngày càng thêm lục đục chia rẽ.
Trên cơ sở đấu tranh quân sự , chính trị và ngoại giao có sự phốihợp chặt chẽ đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho cách mạng tiếptục phát triển giành nhiều thắng lợi mới , Trung ơng Đảng trong Hộinghị bộ chính trị 12-1967 và Hội nghị toàn thể lần thứ 14 (01-1968) đã
đi đến quyết định lịch sử “chuyển cuộc chiến tranh cách mạng miềnNam sang thời kỳ mới – Lớp B2thời kỳ giành thắng lợi quyết định” “Đa cuộcchiến tranh cách mạng của ta lên một bớc phát triển cao nhất, bằng ph-
ơng pháp tổng công kích , tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết
định”[33,209]
Thực hiện chủ trơng của Đảng, quân và dân ta mở cuộc tổngcông kích trên toàn miền Nam Cuộc tổng tiến công và nổi dậy chủyếu hớng vào các đô thị , nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng quânviễn chinh Mỹ , đánh sập nguỵ quân, nguỵ quyền, giành chính quyền
về tay nhân dân , buộc Mỹ phải đàn phán rút hết quân về nớc
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy đợc mở đầu đêm 30 rạng 31-3(tết Mậu Thân) là lúc địch chủ quan có nhiều sơ hở nhất , đã diễn ra 3
đợt : 30-1 đến 25-2; từ 5-6 đến 15-6; từ 18-8 đến 30-9 Quân và dân ta
đã đồng loạt tiến công và nổi dậy ở 37/44 tỉnh, 5/6 đô thị, 64/242quận lỵ và ở khắp các vùng nông thôn do địch kiểm soát Sài Gòn,Huế, Đà Nẵng là 3 trọng điểm cuộc tổng tiến công “Quân ta đã đánhtrúng 4 bộ t lệnh quân đoà ,8/11 bộ s đoàn quân đội Sài Gòn , 2 bộ tlệnh biệt khu , 2 bộ t lệnh dã chiến Mỹ, 30 sân bay trong đó có11/14sân bay lớn nhất của Mỹ ở miền Nam”[20,147] Chúng ta đãtiêu diệt và làm tan rã 15 vạn quân địch , phá huỷ 34% dữ trữ chiếntranh của Mỹ ở miền Nam, giải phóng thêm 100 xã, hơn 600 ấp chiếnlợc với 1,6 triệu dân
Cuộc tập kích chiến lợc tết Mậu Thân mở đầu cuộc tổng tiếncông và nổi dậy là đòn bất ngờ làm cho địch choang váng Nhng dolực lợng địch còn đông ( hơn nửa triệu quân Mỹ, gần 1 triệu quân nguỵ), cơ số của chúng ở thành thị mạnh nên chúng đã nhanh chóng tổchức lại lực lợng và phản công quân ta ở các thành thị và nông thôn Vì vậy, trong đợt 2,3 của cuộc tổng tiến công và nổi đậy, lực lợng của
ta gặp nhiều khó khăn và tổn thất Mặc dầu vậy, ý nghĩa của cuộctổng tiến công và nổi dậy vẫn hết sức to lớn, đã mở ra bớc ngoặt quyết
định cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc, làm lung lay ý chí xâmlợc của quân viễn chinh Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiếntranh
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy của ta nh “một đòn sét đánh” đốivới bọn trùm xâm lợc Mỹ , làm choáng váng cả nớc Mỹ đế quốc chủnghĩa và chấn động d luận thế giới Theo d luận chính giới Mỹ lúcnày , nó làm nổi bật lên trớc mắt chính quyền Giôn xơn, nguy cơ lần
đầu tiên trong lịch sử nớc Mỹ quân đội Mỹ bị đánh bại trong một cuộcchiến tranh
2.1.2 kéo mỹ vào bàn đàm phán
Cùng với việc tăng cờng hoạt động quân sự, đế quốc Mỹ tiến
hành các chiến dịch vận động ngoại giao , đa ra hàng loạt công thức
“hoà bình” nhằm che dấu hành động chiến tranh của chúng, tránh sựphản đối của nhân dân Mỹ và nhân dân tiến bộ thế giới
Một tháng sau khi Mỹ chính thức đa quân vào Việt nam, ngày 4-1965 trong bài nói tại Đại học Giôn hốp Kin, L.Giônxơn tuyên
7-bố :Mỹ sẵn sàng “thơng lợng không điều kiện” Tháng 5-1965,Oasinhtơn tiến hành cuộc vận động hoà bình giả hiệu mang mật danh
Trang 18“Hoa Tháng Năm” (Mayflower), tạm ngừng ném bom trong 6 ngày vàtìm cách gửi tới chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà thông điệp.Nhng đại diện phía Mỹ không thể gặp đợc đại diện phía Việt Nam dânchủ cộng hoà vì bị từ chối Thông điệp của Mỹ tìm cách gửi đến choViệt nam cũng bị trả lại “Hoa Tháng Năm ! một cái tên đẹp cho mộtsáng kiến hoà bình, nhng một bình phong quá nhỏ để che đậy hàngvạn quân Mỹ đang rầm rập tiến vào miền Nam và hàng nghìn máy baybay đen trên bầu trời Việt Nam gieo rắc tàn phá và chết chóc”[5,69].
Từ tháng 8-1965 đến tháng 1-1966, Mỹ tiến hành đợt vận độngngoại giao mang mật danh “Dự án XYZ” Phía mỹ chỉ ngừng némbom miền Bắc nếu Hà Nội chấm dứt xâm nhập vào miền Nam và rútquân về miền Bắc
Từ ngày 23-12-1965 đến hết tháng 1-1966, L.Giônxơn lại ra lệnhngừng ném bom miền Bắc và tiến hành các cuộc tiếp xúc với phía ViệtNam với mật danh PINTA Phôí hợp với cuộc vận động ngoại giaonày, ngày 29-12-1965 Bộ ngoại giao Mỹ công bố kế hoạch 14 điểm d-
ới một tiêu đề phụ là “Các đóng góp của Mỹ vào cái giỏ hoà bình”:
1 Hiệp nghị GiơNeVơ năm 1954 và 1962 là một cơ sở thích hợpcho hoà bình ở Đông Nam á
2 Chúng tôi hoan nghênh một cuộc Hội nghị về Đong Nam á haybất cứ phần nào của Đông Nam á
3 Chúng tôi hoan nghênh các cuộc thơng lợng không điều kiệntiên quýêt nh mời bảy nớc đề ra
4 Chúng tôi hoan nghênh các các cuộc thảo luận không điều kiện
nh tổng thống Giônxơn đề nghị
5 Ngừng bắn có thể là điểm đầu tiên trong thơng lợng hoặc là vấn
đề trong thảo luận sơ bộ
6 Bốn điểm của Hà Nội có thể đợc thảo luận cùng vứi cá điểm củangời khác
7 chúng tôi muốn không có căn cứ quân sự ở Đông Nam á
8 Chúng tôi không muốn duy trì quân đội Mỹ ở Việt Nam sau khihoà bình đợc bảo đảm
9 Chúng tôi ủng hộ tuyển cử ở Nam Việt Nam để cho nhân dân cóquyền lựa chọn
10 Vấn đề thống nhất nớc Việt Nam phải do nhân dân Việt Namgiải quyết thông qua quyết định tự do
11 Các nớc Đông Nam á có thể không liên kết hay không trunglập
12 Hoa Kỳ mong muốn sử dụng tài nguyên của mình xây dựng lại
Đông Nam á Nếu có hoà bình, Bắc Việt Nam có thể đợc lợi íchtrong số một tỉ đô la mà Hoa Kỳ sẽ đóng góp
13 Tổng thống đã nói rằng :Việt cộng không có khó khăn gì trongviệc cử đại diện và trình bày quan điểm của họ khi Hà Nội quyết
định chấm xâm lợc Đó không phải là trở ngại không vợt qua ợc
đ-14 Chúng ta sẽ chấm dứt ném bom Bắc Việt Nam xem nh là mộtbớc tién tới hoà bình nh không có dấu hiệu hay gợi ý của phíabên kia cho thấy họ sẽ làm gì một khi chấm dứt ném bom
Đồng chí Nguyễn Duy Trinh đã từng có nhận xét : “Rõ ràng lập ờng 14 điểm cũng nh những lời tuyên bố của chúng về một giải phápcho vấn đề Việt Nam là hoàn toàn trái ngợc với tinh thần và lời văncủa của Hiệp nghị Giơnevơ Lập trờng của Mỹ là xâm lợc là phinghĩa”[14,43]
Trang 19Tiếp sau đó Oasinhtơn còn cử các nhà ngoại giao có kinh nghiệm
đi tới 40 nớc , thảo luận với hơn 100 chính phủ, 113 nớc có quan hệ vàmột số nớc cha có quan hệ , liên tiếp ở Liên Hợp Quốc để ủng hộ lậptrờng của Mỹ Tuy nhiên cuộc tiếp xúc PINTA bị phía Việt Nam cắt
đứt do phía Mỹ ném bom trở lại và cuộc vận động ngoại giao ầm ĩ của
Mỹ không mang lại kết quả nh Mỹ mong muốn
Nửa cuối năm 1966 diễn ra cuộc vận động ngoại giao mang tên
“Bông Cúc Vạn Thọ”( Marigold ) Đây là cuộc tiếp xúc quaI.Lêvanđôxki, trởng đoàn Ba Lan trong uỷ ban Quốc tế về Việt Namnhng cũng không thành do Mỹ lại ném bom miền Bắc
Cùng với việc xúc tiến “Bông Cúc Vạn Thọ”, trong hai ngày 24và25-10-1966 tại Manila (Philippin) ,Hội nghị 7 nớc châu á Thái Bình
Đông Mỹ chủ trì đã ra bản tuyên bố trong đó nói đến việc rút quân củacác bên tham chiến ra khỏi miền Nam Việt Nam trong vòng 6 thángsau khi Bắc Việt Nam rút quân
Tóm lại, các cuộc vận động ngoại giao với những công thức “hoàbình” của Mỹ đa ra , mặc dù dới nhiều hình thức và qua nhiều kênhkhác nhau nhng đều chứa đựng một lập trờng chung là :
1 Mỹ và Việt Nam dân chủ cộng hoà đàm phán không điều kiện
2 Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc với điều kiện Việt nam dânchủ cộng hoà chấm dứt đa ngời và vũ khí vào miền Nam ViệtNam
3 Hai bêm Mỹ và Việt Nam dân chủ cộng hoà rút quân
4 Trở lại Hiệp định Giơnevơ 1954 về Đông Dơng với vĩ tuyến 17
là biên giới chính trị giữa hai miền: Nam và Bắc Việt Nam
Rõ ràng mục đích của Mỹ trong chiến dịch vận động ngoại giaonày là duy trì chế độ tay sai ở miền Nam , chia cắt lâu dài nớc ViệtNam , coi miền Nam nh một quốc gia riêng biệt Nếu bị khớc từ thơnglợng thì Mỹ sẽ lấy đó là cái cớ để đa ra sức ép d luận sang phía Việtnam và leo thang chiến tranh Qua đó Mỹ muốn thăm dò thử thách ýchí của nhân dân Việt Nam
Đối với đế quốc Mỹ , tên đế quốc đầu sỏ , luôn ỷ vào sức mạnhquân sự, và rất tinh ranh trong đấu tranh ngoại giao , vừa leo thangchiến tranh , vừa lừa bịp hoà bình, việc kéo Mỹ vào bàn đàm phán với
ta không phải dễ dàng Do đó, chọn đúng thời cơ để mở đòn tiến côngngoại giao , kéo Mỹ vào bàn đàm phán với ta là cả một vấn đề nghệthuật
Thấu hiểu bản chất, âm mu của kẻ địch ,với những kinh nghiệmdày dạn trong đấu tranh ngoại giao , Đảng và chính phủ ta nhận thứccái gọi là “sáng kiến hoà bình” “thơng lợng không điều kiện” của Mỹ ,chỉ nhằm che dấu các hành động chiến tranh và sự thất bại của chúngtrên chiến trờng , tuy nhiên phải đơng đầu với đế quốc Mỹ – Lớp B2 một nớc
có tiềm lực quân sự và kinh tế mạnh hơn ta gấp nhiều lần , ta phải có
đờng lối , sách lợc ngoại giao khôn khéo, độc lập tự chủ, khơi nguồntriệt đẻ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại , để chiến thắng kẻ
địch cả về quân sự , chính trịvà ngoại giao
Ngày 22-3-1965, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam ViệtNam đã ra một bản tuyên bố quan trọng Sau khi vạch trần luận điệubịp bỡm “thơng lợng không điều kiện tiên quyết” của Mỹ , mặt trận đa
ra lập trờng 5 điểm của nhân dân miền Nam:
1 Đế quốc Mỹ là kẻ phá hoại Hiệp định Giơnevơ, là kẻ gây chiến
và xâm lợc cực kỳ thô bạo, là kẻ thù không đội trời chung củanhân dân Việt Nam
Trang 202 Nhân dân miền Nam Việt Nam anh hùng cơng quyết đấnh đuổi
đế quốc Mỹ để giải phóng miền Nam, thực hiện một miền NamViệt Nam độc lập, dân chủ, hoà bình và trung lập, tiến tới thốngnhất đất nớc
3 Nhân dân miền Nam Việt Nam và quân giải phóng miền Namanh hùng quyết hoàn thành đầy đủ nhất nghĩa vụ thiêng liêngcủa mình là đánh đuổi đế quốc Mỹ để giải phóng miền Nam,bảo vệ miền Bắc
4 Nhân dân miền Nam Việt Nam tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với sựủng hộ nhiết tình của nhân dân yêu chuộng hào bình và công lýtrên toàn thế giới và tuyên bố sẵn sàng tiếp nhận mọi sự giúp đỡ
kể cả vũ khí và mọi dụng cụ chiến tranh khác của bạn bè khắpnăm châu
5 Toàn dân đoàn kết, toàn dân vũ trang, tiếp tục anh dũng xônglên, quyết chiến thắng giặc Mỹ và bọn Việt gian bán nớc
Lập trờng 5 điểm của mặt trận đã gây đợc tiếng vang lớn, đã đợc
Đảng Cộng Sản và công nhân, 22 chính phủ, 22 tổ chức quốc tế và 446
tổ chức và đoàn thể quốc gia của 92 nớc ủng hộ
Ngày 8-4-1965, thủ tớng Phạm Văn Đồng công bố lập trờng 4
điểm của chính phủ ta:
1 Xác nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, Mỹphải rút quân đội, nhân viên quân sự, các loại vũ khí Mỹ ra khỏimiền Nam Việt Nam, triệt phá các căn cứ quân sự ở miền NamViệt Nam, chấm dứt can thiệp ở miền Nam, các hành động quân
sự chống miền Bắc Việt Nam
2 Hai miền đều không có liên minh quân sự với nớc ngoài, không
có căn cứ quân sự, nhân viên quân sự nớc ngoài trên đất nớcmình
3 Công việc miền Nam do nhân dân miền Nam tự giải quyết, theochơng trình của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam ViệtNam, không có sự can thiệp của nớc ngoài
4 Việc hoà bình thống nhất Việt Nam do nhân dân Việt Nam ở haimiền tự giải quyết không có sự can thiệp của nớc ngoài
Các tuyên bố trên là những câu trả lời kiên quyết và đầy chínhnghĩa của Đảng của Chính phủ ta, vạch trần luận điệu xảo quyệt của
đế quốc Mỹ, đồng thời khẳng định ý chí chống Mỹ, cứu nớc khôngchịu khuất phục trớc sức mạnh của kẻ thù xâm lợc, không chấp nhậnmột cuộc thơng lợng theo điều kiện của Mỹ
Tháng 12-1965, Ban chấp hành Trung ơng Đảng họp Hội nghịlần thứ 12, sau khi chỉ ra phơng hớng chiến lợc cho quân và dân tatrong giai đoạn chống chiến tranh cục bộ đã nhấn mạnh phải áp dụngsách lợc đấu tranh chính trị và ngoại giao khôn khéo để phù hợp với
đấu tranh quân sự Phát biểu về vấn đề đánh và đàm tại Hội nghị lầnthứ 12, chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “hớng của ta là không phảithắng rồi mới đàm phán mà có thể đàm rồi mà vẫn tiếp tục đánh nh
Điện Biên Phủ”[12,31]
Nh vậy cho đến Hội nghị lần thứ 12 Ban chấp hành trung ơng, ttởng vận dụng sách lợc vừa đánh vừa đàm trong kháng chiến chống
Mỹ đã đợc khẳng định T tởng đã đợc đúc rút từ những bài học tronglịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, đặc biệt là từ chính kinh nghiệmcủa Đảng trong kháng chiến chống Pháp T tởng đó còn đợc thínghịêm, khẳng định qua những lần thăm dò trực tiếp với kẻ thù là đếquốc Mỹ Đây là sự chuẩn bị cần thiết cho cuộc đấu tranh ngoại giao
Trang 21sau này giữa ta và Mỹ khi có điều kiện vận dụng sách lợc vừa đánhvừa đàm.
Tháng 10-1966, Bộ chính trị họp ra chủ trơng: tích cực và chủ
động tạo điều kiện vận dụng sách lợc vừa đánh vừa đàm nhằm mục
đích tranh thủ d luận thế giới, cô lập Mỹ
Thực hiện chủ trơng của Đảng, các hoạt động đối ngoại và đấutranh ngoai giao đã đợc đẩy mạnh Ta đã cử đại diện của ta ở một số n-
ớc tiếp xúc với đại diện của Mỹ do phía Mỹ yêu cầu Những cuộc nóichuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thủ tớng Phạm Văn Đồng với cácnhà ngoại giao, các nhân sĩ quốc tế, các nhà báo Mỹ và các nớc kháccàng giúp họ hiểu rõ hơn lập trờng của Việt Nam là trớc sau nh mộtnhất quán và sáng ngời chính nghĩa, có lý, có tình
Trên chiến trờng miền Nam Việt Nam, ta đã đánh thắng liên tiếpcác cuộc phản công của địch trong mùa khô 1965-1966 và 1966-1967
ở Miền Bắc, ta đánh bại một bớc chiến tranh phá hoại bằng khôngquân và hải quân của địch Đảng ta quyết định tấn công trên cả mặttrân ngoại giao nhằm mở ra cục diện “vừa đánh vừa đàm”
Từ ngày 13 đến 27-1-1967, Hội nghị trung ơng lần thứ 13 đãhọp và ra nghị quyết nhấn mạnh “Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ,cứu nớc của nhân dân ta hiện nay, đấu tranh quân sự và đấu tranhchính trị ở miền Nam là yếu tố quyết định thắng lợi trên chiến trờng,làm cơ sở cho thắng lợi trên mặt trận ngoại giao Chúng ta chỉ có thểgiành đợc trên bàn Hội nghị những cái mà chúng ta giành đợc trênchiến trờng Tuy nhiên đấu tranh ngoại giao không chỉ đơn thuần phản
ánh cuộc đấu tranh trên chiến trờng, mà trong tình hình quốc tế hiệnnay với tính chất cuộc chiến tranh giữa ta và địch, đấu tranh ngoại giaogiữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động.”[9,174]
Nghị quyết trung ơng lần thứ 13 ra đời rất kịp thời, làm kim chỉnam cho mọi hoạt động ngoại giao của Đảng và nhà nớc ta Ta mởcuộc tiến công ngoại giao năm 1967 là đúng lúc vì ta đang thắng địch
và đang ở thế mạnh Chủ trì Hội nghị, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói rõ
ý nghĩa quan trọng của cuộc đấu tranh ngoại giao, đồng thới nhấnmạnh “cố nhiên ngoại giao là rất quan trọng nhng cái vốn chính làmình vừa phải đánh thắng và mình vừa phải có sức mạnh ngoại giao sẽthắng”[11,30]
Thực hiện đúng lời dạy của chủ tịch Hồ Chí Minh và với phơngchâm “đánh thắng từng bớc”, “đánh đổ từng bộ phận” Hội nghị vạch
rõ nhiệm vụ của ngoại giao lúc này là tố cáo mạnh mẽ hơn nữa tội áccủa đế quốc Mỹ, vạch trần những thủ đoạn hoà bình giả dối của họ,tranh thủ các nớc anh em bạn bè và nhân dân yêu chuộng hoà bình vàcông lý trên thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ Bớc thứ nhất màngoại giao cần phải làm để phối hợp với cuộc đấu tranh chung là “đòi
Mỹ chấm dứt không điều kiện và vịnh viễn việc ném bom và mọi hành
động chiến tranh chống nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”.[6,218]
Đây là một nhiệm vụ hết sức quan trọng để miền Bắc có thể hoànthành sứ mạnh là hậu phơng lớn đối với tiền tuyến lớn,
Mở đầu cho mặt trận ngoại giao mới, ngày 28-1-1967, trả lờiphỏng vấn nhà báo Burchet, Bộ trởng ngoại giao Nguyễn Duy Trinhtuyên bố: chỉ sau khi Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom vàmọi hành động chống nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà thì Việt Namdân chủ cộng hoà và Mỹ mới có thể nói chuyện
Đề nghị của đồng chí Nguyễn Duy Trinh lần này không chỉ nóilên thiện chí của ta mà còn vạch ra một khả năng thực hiện tìm ra mộtlối thoát cho cuộc chiến tranh ở Việt Nam Từng bớc đẩy đối phơng đi
Trang 22vào thế trận mới, thế trận “đánh - đàm” mà ở đó ta phát huy hết sứcmạnh chính nghĩa, sức mạnh dân tộc và thời đại.
Tuyên bố của đồng chí Nguyễn Duy Trinh đã làm xôn xao d luận
Mỹ và thế giới, tăng thêm sức ép đòi Mỹ chấm dứt ném bom để đi vào
đàm phán Nội bộ giới cầm quyền Mỹ đòi Giônxơn phải có hành động
đáp lại Giônxơn đã nhân nhợng, ngày 29-9-2967 ông ta đã đa ra cáigọi là công thức “Xan Antôniô” rằng: “Hoa Kỳ sẵn sàng ngừng mọihành động bắn phá bắng Không quân và Hải quân chống Bắc ViệtNam khi việc này ngừng nhanh chóng dẫn tới những cuộc thảo luận cóhiệu quả Chúng ta đơng nhiên giả định rằng trong khi các cuộc thảoluận đợc tiến hành Bắc Việt Nam không đợc lợi dụng việc chấm dứthạn chế ném bom”[5,233] Tuy công thức này còn mơ hồ vì nó khôngnói rõ thế nào là “lợi dụng việc chấm dứt hạn chế ném bom” nhng rõràng đây là một bớc xuống thang của Mỹ
Để thúc đẩy thêm Mỹ xuống thang, ngày 12-12-1967 Bộ trởngngoại giao Nguyễn Duy Trinh khẳng định: “sau khi chấm dứt không
điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống nớc
Việt Nam dân chủ cộng hoà, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ nói
chuyện với Mỹ về những vấn đề liên quan”[20,302] Nh vậy, đầu năm
chúng ta nói “có thể” đến cuối năm chúng ta chuyển sang khẳng định
là “sẽ” nói chuyện Tuy nhiên thái độ của Mỹ còn nặng về thăm dò
chứ cha chịu đi vào đàm phán Nh vậy có thể thấy rằng, những chuyểnbiến trên chiến trờng tuy có lợi cho ta nhng cha đủ để buộc Mỹ phảixuống thang chiến tranh và đi vào đàm phán
Bớc sang năm 1968, thực hiện chủ trơng của Bộ chính trị Đêm
29 rạng ngày 30 và ngày 31-1-1968 quân và dân miền Nam đồng loạttổng tiến công và nổi dậy,đánh thẳng vào cơ quan đầu não của địch ởcác thành phố, thị xã, thị trấn Cả miền Nam rung chuyển bởi đòn tiếncông quân sự mãnh liệt, bất ngờ của ta trong tết Mậu Thân Nớc Mỹbàng hoàng sửng sốt Ngời dân Mỹ bây giờ thấy rõ trên vô tuyếntruyền hình cảnh con em của mình bị chết một cách vô ích ở miềnNam Việt Nam Họ nhận ra rằng chính phủ Mỹ đã và đang lừa dối họ.Cảm giác không thể giành chiến thắng trong cuộc chiến tranh ViệtNam bắt đầu tràn khắp nớc Mỹ
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy nổ ra đúng vào thời điểm chínhtrị nóng bỏng ở nớc Mỹ Khi cuộc vận động bầu cử tổng thống Mỹ
đang sôi động vào thời điểm này, Mỹ đã trải qua 3 năm trực tiếp thamchiến ở Việt Nam Những nỗ lực của Mỹ đẫ lên gần đến đỉnh điểm.Tính đến tháng 12-1967, Mỹ đã huy động vào cuộc chiến tranh ở ViệtNam Nửa triệu quân với 40% số quân chiến thuật, 1/3 lực lợng hảiquân…để rút ra những nhận xét, những kết luận khoa họcchi phí cho chiến tranh Việt Nam tính đến năm 1968 lên tớitrên 70 tỉ đôla(gấp 3 lần chiến tranh Triều Tiên ) Gánh nặng chiếntranh Việt Nam đã ảnh hởng nặng nề đến nền kinh tế Mỹ, đến chiến l-
ợc toàn cầu và xây dựng quốc phòng của Mỹ, cuộc chiến tranh ViệtNam đã đi vào từng gia đình Mỹ thức tỉnh họ và trở thành sức ép hếtsức nặng nề đối với chính quyền Oasinhtơn Xã hội Mỹ bị cuộc chiếntranh Việt Nam làm rạn nứt trầm trọng, nội bộ giới cầm quyền Mỹ bịchia rẽ sâu sắc Trong bối cảnh tình hình nớc Mỹ rối ren nh vậy, cuộctổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân 1968 là một cú sốc đối với
Mỹ, đặt tổng thống L.Giônxơ trớc triển vọng nếu tiếp tục cuộc chiếntranh phải động viên lính trù bị quy mô lớn và “đặt đất nớc về mặt kinh
tế vào tình thế nửa chiến tranh” mà trong hơn ba năm mở rộng chiếntranh cục bộ Giônxơn hết sức tránh Nói nh nhà sử học Gabrien