Nhưng với những chính sách hợp lý Nhật Bản đãnhanh chóng phục hồi và phát triển với những bước nhảy vọt thần kỳ, trởthành nước có tiềm năng về kinh tế, tài chính và khoa học - kỹ thuật đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NGỮ VĂN
Trang
Mở đầu 2
Trang 21 Lý do chọn đề tài 2
2 Lịch sử vấn đề 5
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 10
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 10
5 Phương pháp nghiên cứu 11
6 Cấu trúc luận văn 11
Chương 1 Rừng Na-Uy trên hành trình sáng tạo nghệ thuật của Haruki Murakami 12
1.1 Vài nét về cuộc đời Haruki Murakami 12
1.2 Con đường sáng tạo nghệ thuật của H Murakami 15
1.3 Tiểu thuyết Rừng Na-Uy - dấu mốc trên hành trình sáng tạo nghệ thuật của H Murakami .21
Chương 2 Cấu trúc tự sự của tiểu thuyết Rừng Na-Uy 25
2.1 Giới thuyết khái niệm tự sự và cấu trúc tự sự 26
2.1.1 Tự sự 26
2.1.2 Cấu trúc tự sự .30
2.1.3 Một số phương diện cơ bản trong cấu trúc tự sự Rừng Na-Uy 35
2.2 Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Rừng Na-Uy 36
2.2.1 Hệ thống nhân vật và vai trò của nhân vật trong tác phẩm tự sự 36
2.2.2 Hình tượng nhân vật người kể chuyện .50
2.2.3 Hình tượng nhân vật trung tâm Toru Watanabe 54
2.3 Thủ pháp phân rã cốt truyện trong Rừng Na-Uy 63
2.3.1 Khái niệm “cốt truyện” và sự phân rã cốt truyện trong tác phẩm tự sự 63
Trang 32.3.2 Cốt truyện của tiểu thuyết Rừng Na-Uy 65
2.3.3 Sự phân rã cốt truyện .68
Chương 3 Một số thủ pháp nghệ thuật tự sự đặc sắc trong tiểu thuyết Rừng Na-Uy 70
3.1 Lựa chọn điểm nhìn và giọng điệu trần thuật 70
3.1.1 Giới thuyết khái niệm điểm nhìn 70
3.1.2 Sự linh hoạt trong điểm nhìn trần thuật 72
3.1.3 Khái niệm và tính chất đa thanh trong giọng điệu trần thuật 78
3.2 Thủ pháp “dòng ý thức” 85
3.2.1 Giới thuyết khái niệm 85
3.2.2 Tái hiện sự kiện qua dòng ý thức nhân vật 86
3.2.3 Sự đan xen giữa vô thức và bản năng trong tâm lý nhân vật .89
3.3 Thủ pháp làm nhoè mờ các lớp không - thời gian 92
3.3.1 Sự nhoè mờ không gian trần thuật 92
3.3.2 Sự nhoè mờ các lớp thời gian 94
Kết luận 98 Danh mục tài liệu tham khảo.
Lêi c¶m ¬n
Tiếp cận và bước đầu nghiên cứu một tác phẩm văn học từ góc nhìn
“tự sự học” ở Việt Nam còn là một hướng đi khá mới mẻ, nhất là đối với một tác phẩm văn học nước ngoài Bởi vậy, luận văn của chúng tôi không tránh
Trang 4khỏi những hạn chế, thiếu sót nhất định Chúng tôi hi vọng nhận được những
sự góp ý của thầy cô và các bạn.
Nhân đây, tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè đã giúp
đỡ, động viên tôi hoàn thành đề tài này Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS TS Nguyễn Văn Hạnh, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện đề tài này.
Vinh, ngày 3 tháng 5 năm 2009
Sinh viên
Nguyễn Văn Đức
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Nhật Bản là một quốc gia có bề dày về lịch sử, văn hoá truyền
thống, hiện đang có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế, chính trị Châu Á
Trang 5nói riêng và thế giới nói chung Thiên nhiên Nhật Bản khắc nghiệt, tài nguyênnghèo nàn, trong khi đó dân số đông, kinh tế lại bị tàn phá nặng nề sau haicuộc chiến tranh thế giới Nhưng với những chính sách hợp lý Nhật Bản đãnhanh chóng phục hồi và phát triển với những bước nhảy vọt thần kỳ, trởthành nước có tiềm năng về kinh tế, tài chính và khoa học - kỹ thuật đứng thứhai thế giới, chỉ sau Hoa Kỳ.
Bên cạnh sự phát triển về kinh tế, đến nay người Nhật Bản vẫn lưu giữđược những giá trị văn hoá truyền thống đặc sắc với nghệ thuật trà đạo “hoà,kính, thanh, tịch”, với nghệ thuật cắm hoa tinh tế, với những bộ kimônô rực
rỡ cùng tinh thần của những võ sĩ đạo samurai bất khả chiến bại…
Với những giá trị hiện đại xen lẫn giá trị truyền thống văn hóa đặc sắcnhư vậy, người Nhật Bản luôn tự hào với thế giới về đất nước Nhật Bản pháttriển nhưng vẫn không mất đi sự hấp dẫn đến kỳ lạ của mình
Nhật Bản là một quốc gia có nền văn học phát triển rực rỡ và lâu đờitrước khi nước Nhật Bản được hình thành Những tác phẩm đầu tiên của vănhọc Nhật Bản cho đến nay vẫn được đánh giá là những kiệt tác cổ điển, như
cuốn Cổ sự ký (Kokiji), Nhật Bản thư kỷ (Nihon shoki) hay Vạn Diệp tập
(Manyoshu) Đó là các dạng thức văn bản hoá các truyền thuyết, huyền thoạilập quốc của Nhật Bản ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VIII Văn học Nhật Bảnthời trung cổ (Heian, thế kỷ IX - XII) càng phát triển mạnh mẽ, đạt được
nhiều thành tựu mà đỉnh cao là tiểu thuyết Truyện Genji (Genji monogatari)
của một nữ học sĩ cung đình tài hoa có biệt danh Murasaki Shikibu Tiểu
thuyết Truyện Genji với nhiều điểm mới như bố cục nhất quán, lối kể chuyện
khách quan, tình tiết gần gũi với đời thường, phân tích tâm lý nhân vật tinh tế,
đa diện (yêu thương, hờn giận, nhớ nhung, ghen tuông, luyến tiếc…), dàndựng nhiều tình huống để trình bày sự biến chuyển thái độ nhân vật,… đãđược đánh giá là tiểu thuyết theo chủ nghĩa hiện đại đầu tiên của nhân loại
Trang 6Truyện Genji ra đời sớm hơn rất nhiều so với cuốn tiểu thuyết châu Âu hiện
đại đầu tiên là tác phẩm Nhà quý tộc tài ba xứ Man-tra của Miguel de
Cervantes vào thế kỷ thứ XVI Ảnh hưởng của nó lớn đến mức nhiều tác
phẩm thời kỳ sau đều cố gắng mô phỏng dạng thức của nó như: Sagoromi
monogatari, Hamanatsu monogatari, Torikaebaye monogatari…
Đến thời cận - hiện đại (thế kỷ XIX, XX), văn học Nhật Bản phát triểntheo nhiều khuynh hướng khác nhau: khuynh hướng truyền thống, khuynhhướng tự nhiên, khuynh hướng văn học vô sản vị nhân sinh hay trường pháitân cảm giác… Các trường phái này thay nhau chiếm ưu thế trên văn đànNhật Bản lúc bấy giờ Tuy vậy, dù phát triển theo khuynh hướng hay trườngphái nào thì tác động của sự phát triển ấy vẫn mang lại cho văn học Nhật Bảnnhững sự phong phú, hấp dẫn và những thành công đặc biệt vang dội Hai giảiNobel Văn chương trong vòng gần 30 năm của Yasunari Kawabata (1968) và
Oe Kenzaburo (1994) là những minh chứng tích cực nhất cho sự thành công
đó của văn học Nhật Bản
1.2 Haruki Murakami là một trong những tiểu thuyết gia Nhật Bản
được biết đến nhiều nhất hiện nay, ở trong lẫn ngoài nước Nhật HarukiMurakami góp tiếng nói quyết định trong việc mang lại cho văn học Nhật Bảnnhững làn gió mới trong lành, bên cạnh những tượng đài trong việc bảo tồnhồi sinh những giá trị văn hoá truyền thống như Yasunari Kawabata, OeKenzaburo, Tanizaki, Mishima hay Basho… Sáng tác của Haruki Murakamimang đậm dấu ấn cá nhân với những nhân vật có đời sống nội tâm phong phúnhưng sống khép kín với cuộc đời Có thể nói các tác phẩm của HarukiMurakami có sức sống và tầm ảnh hưởng mạnh mẽ nhất trong đời sống giớitrẻ hiện nay
Haruki Murakami sáng tác ở cả hai thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết
Ở thể loại truyện ngắn, H Murakami khá thành công với nhiều truyện ngắn
Trang 7được tập hợp trong các tuyển tập như: Con voi biến mất hay Cây liễu mù,
người đàn bà ngủ Nhưng H Murakami đặc biệt thành công và được biết
đến nhiều hơn ở thể loại tiểu thuyết với nhiều tác phẩm được đọc và dịch ra
nhiều thứ tiếng trên thế giới như: Lắng nghe gió hát, Rừng Na-Uy, Phía Nam
biên giới, phía Tây mặt trời, Biên niên ký chim vặn dây cót, Người tình Sputnik, Kafka bên bờ biển… Trong số đó, tiểu thuyết Rừng Na-Uy – tuy
không phải là tiểu thuyết xuất sắc nhất của H Murakami, nhưng đã được dịch
và đón đọc ở mọi quốc gia nơi mà nó xuất hiện Rừng Na-Uy được đánh giá là
“nơi Murakami phá vỡ địa hạt cấm cuối cùng, để cho cái nhìn phóng khoáng
và tự nhiên về xác thân của phương Tây tràn ngập trong văn ông” [14; 1]
Tiểu thuyết Rừng Na-Uy là một tác phẩm sex hay là một tác phẩm nghệ
thuật đích thực, đến nay, điều này vẫn còn gây khá nhiều tranh luận trong giớinghiên cứu, phê bình Việt Nam Nhưng không thể phủ nhận sức ảnh hưởngcủa nó đối với giới trẻ đương đại Việt Nam bởi nó đã phản ánh được tâm tư,cuộc sống và những mối quan tâm của họ hiện nay Hàng trăm cuộc thảo luậntrên các diễn đàn của giới trẻ Việt Nam được mở ra để bàn luận về đề tài này
đã khẳng định chỗ đứng của Rừng Na-Uy trong lòng độc giả trẻ Việt Nam.
Tuy nhiên, nghiên cứu chính thức về Haruki Murakami cũng như tiểu thuyết
Rừng Na-Uy ở Việt Nam còn khá ít ỏi Do vậy, chọn nghiên cứu Rừng Na-Uy
của Haruki Murakami, chúng tôi mong muốn được hiểu rõ hơn về cuộc đời,con người cũng như giá trị tác phẩm của ông Đồng thời, mong muốn góp
tiếng nói của mình trong việc đánh giá Rừng Na-Uy, trước hết là qua nghệ
thuật tự sự của tác phẩm
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Với truyền thống hàng ngàn năm và nhất là với hai giải thưởng
Nobel của Yasunari Kawabata (1968) và Oe Kenzaburo (1994), văn học Nhật
Trang 8Bản đã khẳng định được vị trí của mình trên văn đàn khu vực và thế giới Vănhọc Nhật Bản được phổ biến và nghiên cứu ở nhiều nước từ khá lâu
Ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu nổi tiếng như Nhật Chiêu, Lưu ĐứcTrung, Hữu Ngọc… đã công bố nhiều công trình nghiên cứu, dịch thuật về
văn học Nhật Bản nói chung Có thể kể đến một số công trình như: Truyện cổ
Nhật Bản và bản sắc văn hoá Nhật Bản (Nxb Văn học, 1966), Văn học Nhật Bản (Nguyễn Thị Khánh chủ biên, Viện Thông tin khoa học xã hội, TTKH &
NV Quốc gia, Hà Nội, 1998), Văn học Nhật Bản từ khởi thuỷ đến 1868 của Nhật Chiêu (Nxb Quốc gia, 2000), Dạo chơi vườn văn Nhật Bản của Hữu
Ngọc (Nxb Văn nghệ, 2002)
Bên cạnh các công trình nghiên cứu văn học Nhật Bản nói chung còn
có nhiều công trình nghiên cứu về từng tác giả lớn của Nhật Bản Trong đó Y.Kawabata là nhà văn được nghiên cứu nhiều nhất với hàng loạt tác phẩm
được dịch ra tiếng Việt như: Xứ tuyết (Chu Việt dịch, 1969), Tiếng rền của
núi (Ngô Quý Giang dịch, 1989), Ngàn cánh hạc (Giang Hà Vị dịch, 1990), Người đẹp say ngủ (Vũ Đình Phòng dịch, 1990)… Ngoài ra còn có các công
trình nghiên cứu khác như: Chân dung nhà văn của Vương Trí Nhàn (Nxb Văn học, 2000), Thi pháp tiểu thuyết của Kawabata – nhà văn lớn của Nhật
Bản (Lưu Đức Trung viết nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Kawabata,
1999)… đã góp phần dựng nên những nét tiểu biểu nhất về một trong nhữngnhà văn xuất sắc nhất của văn học Nhật Bản
2.2 Haruki Murakami bắt đầu sáng tác khá muộn, tác phẩm đầu tay
được viết khi ông đã 29 tuổi Đó là tiểu thuyết Lắng nghe gió hát (Hear the
wind sing) được viết năm 1979 Trong cuốn tiểu thuyết này, nhiều yếu tố màsau này trở thành yếu tố nổi bật trong sáng tác của H Murakami đã bắt đầumanh nha: đó là phong cách phương Tây xen lẫn nỗi nhớ quê nhà sâu sắc…
Trang 9Các tác phẩm của Haruki Murakami thường hài hước và mang tính siêuthực, cùng một lúc phản ánh sự ham muốn, nỗi cô đơn, và khao khát tình yêu,khiến độc giả nhiều nước trên khắp thế giới phải xúc động Các tác phẩm nàycòn mô tả về sự ám ảnh của xã hội tư bản đối với đất nước và con người NhậtBản Hầu hết các tác phẩm của H Murakami đều có sự thể hiện cảm giáctrống rỗng về linh hồn và sự khám phá những tác động tiêu cực của tâm lýhướng về công việc ở Nhật Bản Bên cạnh đó là phản ánh sự suy giảm giá trịđạo đức, giá trị người phụ nữ và sự mất mát mối quan hệ giữa con người vớicon người trong xã hội tư bản nước Nhật thời bấy giờ Do đó, các tác phẩmcủa H Murakami vẫn thường bị các tổ chức nghiên cứu phê bình văn họcNhật Bản chỉ trích là văn học bình dân, tầm thường Song song với những ýkiến chỉ trích gay gắt của các nhà nghiên cứu tiền bối là những ý kiến ghinhận những đóng góp của H Murakami về nội dung và nghệ thuật cũng như
sự thành công của ông Điển hình cho sự thành công đó là một loạt các giảithưởng như: Giải thưởng nhà văn mới - Gunzo (1979), giải thưởng Yomiuri(1995), giải thưởng Franz Kafka của cộng hoà Séc (2006) cùng với số lượngsách được xuất bản đạt đến con số hàng triệu cuốn khiến H Murakami trởthành thần tượng ở Nhật Bản, một điều chính ông cũng rất bất ngờ Có thểnói, Haruki Murakami là một hiện tượng văn chương đang thu hút được sựquan tâm của người đọc và giới nghiên cứu Nhật Bản cũng như toàn thế giới
Là một tác giả thuộc thế hệ hậu bối của Y Kawabata và O Kenzaburo,
H Murakami được độc giả trong và ngoài nước Nhật yêu thích bởi sự mới lạtrong phong cách, và “một giọng văn không che đậy”… Nhiều tờ báo có uytín ở Nhật Bản và trên thế giới đều có những bài viết đánh giá cao những giátrị cả về nội dung và cách tân nghệ thuật mà các tác phẩm của H Murakamichứa đựng Cho đến nay, đóng góp lớn nhất của Haruki Murakami đối vớivăn chương Nhật Bản chính là những cách tân trong nghệ thuật tự sự
Trang 10Nhà nghiên cứu Phạm Vũ Thịnh, hiện đang định cư ở Sydney, Úc đã
nêu ra những dòng nhận xét mà báo The Guardian số ra ngày 17 tháng 5 năm
2003 dành cho H Murakami như sau: “Không có nhiều tác giả cùng thời màtác phẩm lôi cuốn được giới độc giả trẻ trực tiếp đến như thế, không chỉ trongnước ông mà còn trên khắp thế giới” Từ điển bách khoa Colombia 2001 viết:
“Murakami Haruki là một trong những tiểu thuyết gia thế kỷ 20 quan trọngnhất của Nhật Bản” (Murakami Haruki – Tiểu thuyết gia hiện đại Nhật Bản,nguồn từ trang web http://www.erct.com) Đặc biệt, từ sau khi tiểu thuyết
Rừng Na-Uy được xuất bản, “Haruki Murakami trở thành một thần tượng văn
hoá đại chúng” (Bìa 2, Rừng Na-Uy, Nxb Hội nhà văn, 2008) Các nhà
nghiên cứu đã dành sự quan tâm đánh giá nhiều hơn đến các sáng tác của H
Murkami Tác giả Scott Reyburn trên tờ New Satesman đánh giá: “Haruki
Murakami là một trong những giọng nói hấp dẫn nhất trên văn đàn quốc tế(…) Murakami, cách này hay cách khác, chính là hình vóc của văn chươngthế kỷ XXI” Còn giáo sư Lê Âu Phạn hiện đang giảng dạy tại trường đại học
Harvard (Mỹ) trong tập tản văn Nhìn lại cuối thế kỷ của mình đã xếp Rừng
Na-Uy là một trong mười bộ tác phẩm văn học dịch có ảnh hưởng lớn nhất tới
Trung Quốc trong thế kỷ XX
Ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu nổi tiếng cũng đã có những bàinhận xét, phê bình đánh giá đối với Haruki Murakami nói chung và tiểu
thuyết Rừng Na-Uy nói riêng Nhật Chiêu – nhà nghiên cứu văn học Nhật Bản
hàng đầu Việt Nam khi trả lời phỏng vấn báo chí đã nói: “Murakami khôngtheo đuổi cái đẹp bi cảm như Kawabata, cái đẹp quý phái như Tanizaki haycái đẹp bạo liệt như Mishima mà ông tạo dựng một cái đẹp mới: cái đẹp củađời sống thường ngày và tự nhiên” Cái đẹp của đời sống thường ngày ấy in
dấu ấn rõ nét vào tiểu thuyết Rừng Na-Uy đã “được chạm trổ tuyệt vời và tràn đầy những điều tuyệt diệu” như cách nói của Nicholas Jose trên tờ báo The
Trang 11Age (Thời đại) nổi tiếng Cái đẹp trong đời sống hàng ngày ấy là nội dung về
những thân phận, tình yêu và nỗi cô đơn của con người
Năm 2007, NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh đã cho xuất bản cuốn
Truyện ngắn Murakami - Nghiên cứu và phê bình của tác giả Hoàng Long.
Trong cuốn sách này, người đọc được nhìn lại tiểu sử của nhà văn cũng nhưbối cảnh xuất hiện các tác phẩm của ông đặt trong sự thay đổi về văn học, xãhội và cả chính con người H Murakami Để làm rõ sự thay đổi của nền vănhọc Nhật, tác giả đã đặt những tác phẩm của ông đứng cạnh Kawabata, nhàvăn Nhật đầu tiên đoạt giải Nobel văn học Cuốn sách giới thiệu 14 truyệnngắn tiêu biểu của nhà văn H Murakami và 5 truyện ngắn của Kawabata nhưmột ví dụ cụ thể cho sự so sánh một cách tương đối về sự thay đổi của vănhọc Nhật Bản
Ngày 17/3/2007, Hội thảo Thế giới của Haruki Murakami và Banana
Yoshimoto được công ty Nhã Nam hợp tác cùng đại sứ quán Nhật Bản tổ chức
tại Hà Nội Tại hội thảo này, nhiều dịch giả và nhà nghiên cứu nổi tiếng đãthảo luận sôi nổi về hai tác giả Haruki Murakami và Banana Yoshimoto vớinhiều công trình nghiên cứu có giá trị, đặc biệt là về H Murakami và cuốn
tiểu thuyết Rừng Na-Uy Trong đó có thể kể ra các công trình đáng chú ý như:
“Murakami – Hiện tượng cùng thời đại” của Kouichi – Ký giả báo Mainichi,
“Tản mạn Rừng Na-Uy và Haruki Murakami” của nhà nghiên cứu PhạmXuân Nguyên, “Những vẻ đẹp trong tác phẩm Haruki Murakami” của dịchgiả Trung Quốc Lâm Thiếu Hoa…
Rừng Na-Uy được dịch sang tiếng Việt và xuất bản lần đầu tiên tại Việt
Nam vào năm 1997 do Kiều Liên và Hải Thanh thực hiện, Bùi Phụng hiệuđính Bản dịch này tuy không thật sự xuất sắc nhưng đã ít nhiều gây được sựchú ý đối với độc giả nói chung
Trang 12Gần 10 năm sau, theo thời gian và độ mở của văn hoá Việt Nam, nhiềutác phẩm văn học Nhật Bản và đặc biệt là các tác phẩm của H Murakami lần
lượt được dịch sang tiếng Việt Năm 2006, bản dịch Rừng Na-Uy của Trịnh
Lữ, Nxb Hội nhà văn ấn hành, ra mắt độc giả Việt Nam và được đánh giá làkhá hoàn chỉnh Haruki Murakami trở thành một hiện tượng văn học thực sựđáng chú ý Nhiều tác phẩm của ông được lần lượt dịch sang tiếng Việt Năm
2006, Trần Tiễn Cao Đăng dịch Biên niên ký chim vặn dây cót Năm 2007, Cao Việt Dũng dịch Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời, Dương Tường dịch Kafka bên bờ biển Về truyện ngắn, tháng 5 năm 2006, Phạm Vũ Thịnh dịch Ngày đẹp trời để xem Kangaroo, Đom đóm, Sau cơn động đất Đến
năm 2007, Phạm Vũ Thịnh tiếp tục cho xuất bản bản dịch các tập truyện ngắn
Bóng ma ở Lexington, Người tivi…
Bên cạnh đó, rất nhiều blog (nhật ký trên mạng), forum (diễn đàn) đãđược mở ra để thảo luận, đánh giá, trao đổi các sáng tác của HarukiMurakami Các trang web http://www.e-van.com, http://www.tienve.org;http://www.tuoitre.com.vn; http://dantri.com.vn, http://www.phongdiep.net cũng đăng khá nhiều tin bài về Haruki Murakami và những sáng tác của ông
Điểm qua tình hình dịch thuật, nghiên cứu Haruki Murakami và các tácphẩm của ông ở Việt Nam căn cứ trên những tài liệu đã bao quát, chúng tôinhận thấy nổi bật lên những vấn đề sau đây:
- Ở Việt Nam và trên toàn thế giới, tình hình dịch thuật các sáng tác củaHaruki Murakami là khá sôi nổi Qua đó đã giới thiệu được con người, quanđiểm sáng tác và sự nghiệp của Murakami đến với bạn đọc nói chung
- Tuy nhiên, các bài viết vẫn chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu một cáchkhái quát về Murakami chứ chưa có một công trình thực sự nào chuyên sâu về
Murakami và các tác phẩm của ông, cụ thể là Rừng Na-Uy, dù các nhà nghiên
cứu trong và ngoài nước đánh giá rất cao về tác phẩm này
Trang 13- Hướng tiếp cận văn bản văn học theo góc độ tự sự có thể nói là khámới mẻ và được nhiều học giả đánh giá là có triển vọng Tuy nhiên, số lượngcác công trình nghiên cứu văn học theo hướng đi này còn khá hạn chế Nếu cóthì cũng chỉ là những công trình mang tính chất lặp lại, khẳng định lại, ít cócông trình đi sâu tìm tòi khám phá cái mới
Với một tác giả mới như Haruki Murakami, tình hình dịch thuật vànghiên cứu các tác phẩm của ông diễn ra còn khá chậm, đơn lẻ và chủ yếu chỉ
là những ý kiến phát biểu cá nhân, mang tính tổng hợp hơn là khám phá Xácđịnh tiếp cận tác phẩm theo góc nhìn nghệ thuật tự sự, chúng tôi mong muốnvượt qua được cái nhìn đơn tuyến của chủ nghĩa cấu trúc để mang lại cái nhìn
bao quát hơn về Rừng Na-Uy
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích: Tìm hiểu nghệ thuật tự sự của Haruki Murakami thể
hiện qua tiểu thuyết Rừng Na-Uy.
3.2 Với mục đích đó, đề tài có nhiệm vụ:
- Thứ nhất, chỉ ra được những biện pháp tổ chức tự sự của Haruki
Murakami trong tiểu thuyết Rừng Na-Uy
- Thứ hai, phân tích những giá trị nghệ thuật và sự sáng tạo đặc sắc củaHaruki Murakami trong nghệ thuật tổ chức tự sự
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng: Nghiên cứu tiểu thuyết Rừng Na-Uy từ góc nhìn nghệ
thuật tự sự
4.2 Phạm vi: Văn bản tiểu thuyết Rừng Na-Uy - Trịnh Lữ dịch, Công
ty cổ phần văn hoá và truyền thông Nhã Nam giữ bản quyền, Nhà xuất bảnHội nhà văn ấn hành năm 2008
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 14Để thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng phương pháp khảo sát, thống kê,phân tích tổng hợp từ góc nhìn của “tự sự học”
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Rừng Na-Uy trên hành trình sáng tạo nghệ thuật của Haruki
Murakami
Chương 2 Cấu trúc tự sự của tiểu thuyết Rừng Na-Uy
Chương 3 Một số thủ pháp nghệ thuật tự sự đặc sắc trong tiểu thuyết Rừng Na-Uy
Và cuối cùng là danh mục Tài liệu tham khảo
Chương 1
RỪNG NA-UY TRÊN HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO
NGHỆ THUẬT CỦA HARUKI MURKAMI
Trang 151.1 Vài nét về cuộc đời Haruki Murakami
Đề cập đến thời đại lắm bão tố hiện nay, Matsuda Tetsuo của Nhật báoYomiuri có số in lớn nhất ở Nhật, viết: “Trong bất cứ trận bão lớn nào cũng
có những nhà văn giương cao ngọn đèn soi cho quần chúng HarukiMurakami đang và sẽ lãnh vai trò đó”
Haruki Murakami sinh ngày 12 tháng 1 năm 1949 ở Cố đô Kyotonhưng trải qua thời tuổi trẻ ở thành phố cảng Kobe, Nhật Bản Thân phụ củaông dạy môn văn học Nhật Bản ở cấp trung học, và đã gặp thân mẫu ôngtrong lúc cùng dạy môn ấy
Ngay từ thuở nhỏ, Haruki Murakami đã có khuynh hướng phản khángđối với văn hóa văn học truyền thống Murakami đã chịu ảnh hưởng lớn từvăn hóa phương Tây, đặc biệt là âm nhạc và văn học phương Tây Ông tìmđọc các tác phẩm của những tác giả Âu Châu thế kỷ XIX Sau đó, ông tự họctiếng Anh, tìm đọc nguyên tác những tác phẩm của các nhà văn Mỹ như KurtVonnegut, Truman Capote và Richard Brautigan Ông ham mê âm nhạc Châu
Âu và Châu Mỹ với những thần tượng là Elvis Presley, The Beatles, BeachBoys và nhạc Jazz Có thể nói, chính những tiền đề này đã góp tiếng nói quyếtđịnh đối với phong cách và sự nghiệp văn chương của Haruki Murakami.Những yếu tố về âm nhạc hay lối sống phương Tây, văn hoá phương Tây đãđược Haruki Murakami chuyển tải vào trong các tác phẩm của mình Điềunày giúp người đọc nhận ra một Haruki Murakami đặc biệt hơn so với nhữngnhà văn Nhật Bản khác
Năm 1968, Haruki Murakami theo học về nghệ thuật sân khấu tạitrường Đại học Waseda, Tokyo Ba năm sau, năm 1971, ông kết hôn vớingười bạn học Takahashi Yoko Năm 1974, với niềm đam mê nhạc Jazz, ông
Trang 16cùng vợ mở một quán bar có chơi nhạc Jazz mang tên Peter Cat tại
Kokubunji, Tokyo và quản lý nó từ năm 1974 đến năm 1982 Bố mẹ của ông
đã rất thất vọng về việc ông lấy vợ sớm và quay lưng lại với đời sống côngchức, vốn được xem là an định, lý tưởng trong đời sống xã hội Nhật Bản lúcbấy giờ
Năm 1978, ông mới bắt đầu viết tác phẩm đầu tay của mình, có nhan đề
Lắng nghe gió hát (Hear the wind sing), xuất bản năm 1979 Tác phẩm kể lại
những cuộc tranh đấu phản kháng của sinh viên mà ông đã từng tham gia vớimột sự hoài nghi nhất định Tác phẩm này đã mang lại cho ông giải thưởng
“Tác giả Mới – Gunzô” ngay năm đó Sự thành công này khuyến khích ôngtiếp tục sự nghiệp sáng tác Tiếp tục thành công với hai tác phẩm sau đó vàmột số các truyện ngắn khác, ông bán quán Jazz, và bắt đầu sống bằng nghềviết văn Cùng thời gian này ông bắt đầu việc dịch các tác phẩm củaRaymond Carver, Truman Capote, F Scott Fitzerald,… sang tiếng Nhật
Năm 1986, không chịu nổi lối sống đua đòi vật chất tầm thường hãnhtiến của xã hội Nhật Bản đương thời, ông cùng vợ chuyển sang sinh sống ởRoma, Ý Chính ở đây, H Murakami tạo được sự đột phá mạnh mẽ và được
công nhận như một “siêu sao” với tác phẩm Rừng Na-Uy viết năm 1987 Ngay trong năm đầu tiên, Rừng Na-Uy đã bán được hơn 2 triệu bản
Năm 1990, với mối băn khoăn về lý tưởng cuộc đời, bởi trước sau ôngvẫn là một nhà văn Nhật, ông cùng vợ trở về Nhật đúng vào năm cao điểmcủa nền “kinh tế bong bóng” Nhưng chỉ một năm sau, ông lại một lần nữa rờinước Nhật Lần này, H Murakami sang Mỹ và trở thành giảng viên văn họctại Đại học Princeton ở Princeton, bang New Jersey trong vòng 2 năm, vàtrong 2 năm tiếp theo ông là tác giả thường trú tại Đại học Tufts ở Medford,bang Massachusetts
Trang 17Tháng Giêng năm 1995, xảy ra thảm kịch động đất ở Kobe; hai thángsau lại xảy ra vụ tín đồ Chân lý Giáo Aum thả hơi độc sarin trong tàu điệnngầm ở Tokyo Hai thảm kịch này đánh dấu sự chuyển biến căn bản của xãhội Nhật Bản Từ lâu, một biểu hiện ưu việt của truyền thống văn hoá NhậtBản là ý thức an định do sự an toàn trong xã hội Ý thức này càng được cổ vũbởi tình trạng phát triển không ngừng của nền “kinh tế bong bóng” Thếnhưng, chính ý thức tưởng chừng cố hữu này bị thách thức mạnh mẽ đến mứcđứng trước nguy cơ sụp đổ khi “nền kinh tế bong bóng” dần vỡ tan và hoàntoàn sụp đổ sau hai sự kiện lớn nêu trên Hai cơn sốc liên tiếp này đã đưa H.Murakami trở về Nhật Bản Các nhân vật của ông thời gian này thường chứađựng nhiều cảm nhận sâu sắc về sự trống rỗng của chính mình, mất niềm tinvào sự an định của đời sống gia đình…
Từ thời điểm nhận giải thưởng “Nhà văn mới-Gunzo” năm 1979 đếnnay, hơn một phần tư thế kỷ hoạt động và viết văn, các tác phẩm của HarukiMurakami đã được dịch ra khoảng 38 thứ tiếng trên thế giới, đồng thời trongnước ông là người luôn tồn tại ở tiền cảnh sân khấu văn học Nhật Bản Ông
đã trở thành hiện tượng trong văn học Nhật Bản đương đại với những mĩ danh
“nhà văn được yêu thích nhất”, “nhà văn best-seller” (nhà văn có sách bánchạy nhất), “nhà văn của giới trẻ”
Murakami sống và sáng tác vào thời đại mà xã hội Nhật Bản đang có
sự chuyển biến, thay da đổi thịt một cách rõ nét Những nét văn hoá phươngTây ngày càng tràn ngập khắp các đường phố, từ Tokyo cho đến Nagashakihay Hiroshima Điều này dẫn ông vào con đường nghệ thuật khá mới mẻ vớinhững sự đặc biệt, khác lạ so với những nhà văn truyền thống mà ông vốnkhông ưa thích
1.2 Con đường sáng tạo nghệ thuật của Haruki Murakami
Trang 18Với mỗi tác giả, con đường sáng tạo nghệ thuật hay quá trình sáng tác
là rất lâu dài và trải nhiều thử thách Đặc biệt là phải có được “tính chất mãnhliệt thắm thiết trong tình cảm với cuộc đời” [7; 201] thì tác giả đó mới có thểsáng tạo, mới có thể thành công Là người có tư chất văn chương: nhạy cảmtrước thời cuộc, giàu tình cảm, dễ xúc động và không chịu được sự gò bó của
“xã hội bong bóng”, Haruki Murakami còn bộc lộ lập trường tư tưởng, cá tínhriêng một cách rõ nét qua các nhân vật trong tác phẩm của mình Trước thựctrạng xã hội Nhật Bản đương thời, ông đã quyết định chuyển hướng cuộc đời
đi theo con đường riêng của bản thân mình, không theo dòng cuốn của xã hội.Cùng với đó là sự từng trải, vốn sống phong phú đã giúp H Murakami phầnnào đạt được những thành công nhất định về cả nội dung và nghệ thuật trong
sự nghiệp văn chương của mình Văn chương của H Murakami bình dị dễđọc Nó là kết quả của một quá trình dày công rèn luyện
Haruki Murakami được sinh ra trong một gia đình mà cả bố và mẹ đều
là những giáo viên giảng dạy bộ môn văn học Nhật Bản Ông lại theo họcchuyên ngành nghệ thuật sân khấu ở trường đại học Waseda ở Tokyo Thếnhưng H Murakami chỉ bắt đầu sự nghiệp viết văn của mình khi đã 29 tuổi.Ông đã từng phát biểu: “Đến năm 29 tuổi tôi mới bắt đầu viết Trước thờigian đó tôi chẳng có gì để viết Đôi khi bạn phải sống cuộc đời của chínhmình cho hết sức hết lòng, hết mực chân thành, sau đó bạn mới tìm thấy mộtcái gì đó của riêng mình để viết”
Tuy nhiên, cái cách mà ông bắt đầu hành trình sáng tạo nghệ thuật củamình cũng rất kỳ lạ Khi đang xem một trận bóng chày, ý nghĩ viết văn chợtđến với ông, như một tiếng gọi siêu hình mà ông gọi đó là sự kiện hạnh phúcnhất của đời ông Ông về nhà và bắt tay vào viết tác phẩm này ngay buổi tốihôm đó Cái khoảnh khắc nảy ra ý định cầm bút khi xem cầu thủ Mỹ chơi mộttrò chơi ngoại nhập hoàn toàn tương ứng với tình thế của một tác giả mà sáng
Trang 19tác hầu như không theo khuôn mẫu văn học Nhật Bản truyền thống mà mangdáng dấp những tác phẩm văn học phương Tây cùng âm hưởng nhạc jazz và
nhạc rock ông say mê từ khi còn là sinh viên Sau khi Lắng nghe gió hát
(Hear the wind sing) hoàn thành, ông gửi cuốn sách đến một cuộc thi văn học
và giành giải Nhất
Ngày 10 tháng Tư năm 1979, báo Sankei đăng tin ngắn “Murakaminhận giải thưởng nhà văn mới Gunzo” Haruki Murakami đăng đàn từ đó, mộtcuộc đăng đàn khá thầm lặng
Một năm sau, ông xuất bản cuốn Pinball, 1973, có thể xem là phần tiếp theo của cuốn Lắng nghe gió hát Vào năm 1982, ông xuất bản cuốn Săn cừu
hoang (A wild sheep chase) và giành giải thưởng “Nhà văn mới văn nghệ
Noma lần thứ tư” Ba cuốn sách Lắng nghe gió hát, Pinball, 1973 và Săn cừu
hoang tạo thành “Bộ ba Chuột” với nhân vật trung tâm là người dẫn chuyện
vô danh và bạn anh tên là “Chuột” Dù cuốn Lắng nghe gió hát đã mang lại
cho ông giải thưởng “Tác giả mới Gunzo” nhưng ông vẫn đánh giá không cao
hai cuốn Lắng nghe gió hát và Pinball, 1973 và sự thực ông không hề có ý định dịch chúng sang tiếng Anh Trong khi đó, ông lại đánh giá cao cuốn Săn
cừu hoang, bởi với ông, một cuốn sách hay là cuốn sách mà trong đó người
viết cảm nhận được một sự xúc động, một niềm vui khi kể một câu chuyện
“Khi bạn đọc một câu chuyện hay, bạn cứ ngấu nghiến đọc Khi tôi viết mộtcâu chuyện hay, tôi ngấu nghiến viết” [Publishers Weekly, 1991]
Năm 1985 ông viết tác phẩm Xứ sở kỳ diệu lạnh lùng và nơi tận cùng
thế giới, một câu chuyện tưởng tượng và mơ mộng cùng những yếu tố ma
thuật trong tác phẩm đã đưa ông lên một tầm cao mới với “Giải thưởngTanizaki Junichiro lần thứ 21”
Nhưng những tài năng lớn luôn cô độc và Haruki Murakami cũngkhông phải ngoại lệ - cô độc ngay trên chính quê hương mình Trong khi độc
Trang 20giả trẻ ngưỡng mộ ông, thậm chí chọn tác phẩm của ông như một môn họcyêu thích tại trường Đại học, thì các nhà phê bình gạo cội vốn chỉ ngưỡngphục các trang viết của những cây đại thụ như Mishima, Tanizaki hayKawabata lại coi Murakami chỉ như một cây bút giải trí đơn thuần Cô độctrên mảnh đất đã sinh ra mình, Haruki Murakami quyết định rời Nhật Bản,chọn cho mình cuộc sống tha hương nhằm tránh xa cái xã hội hiện đại hãnhtiến và đầy ắp những giá trị vật chất
Haruki Murakami chỉ thật sự được biết đến trên toàn thế giới từ khi
Rừng Na-Uy ra đời Lúc bấy giờ ông đang định cư tại Roma (Ý) và ông hoàn
toàn bất ngờ về thành công mà Rừng Na-Uy mang lại “Dịu dàng, quyến rũ
như thơ, căng thẳng như bi kịch và gợi dục một cách mê đắm Một cuốn tiểu
thuyết kỳ diệu có âm hưởng hướng đạo và tự truyện” [6; 9] Rừng Na-Uy là
cuốn tiểu thuyết bán chạy nhất (best seller) của Haruki Murakami với hàngtriệu bản in
Năm 1994 – 1995, ông xuất bản tiểu thuyết Biên niên ký chim vặn dây
cót Cuốn tiểu thuyết này là sự hợp nhất hai khuynh hướng: hiện thực và
tưởng tượng, và chứa đựng cả yếu tố bạo lực Nó cũng được sự chú ý rộng rãi
từ xã hội hơn các tác phẩm trước đây, do có liên quan đến đề tài nhạy cảm về
tội ác chiến tranh ở Mãn Châu (Trung Quốc) Biên niên ký chim vặn dây cót
đã giúp Haruki Murakami đoạt giải “Yomiuri” Và người trao giải cho ôngchính là bậc tiền bối Oe Kenzaburo, người đoạt giải Nobel Văn học năm
1994, và là một trong những người phê bình Murakami gay gắt nhất
Chủ đề chính trong nội dung các tác phẩm của Haruki Murakami giaiđoạn này là “những chấn thương về tâm lý” của các nhân vật Lúc này, vớivăn học Nhật Bản, đây vẫn là một vấn đề được xem là của riêng cá nhân vàkhông được nói đến trong văn học Ngay thời điểm này, cả đất nước Nhật Bảnbàng hoàng với vụ động đất ở Kobe và vụ tín đồ Aum Shinrikyo tấn công xe
Trang 21điện ngầm bằng khí gas Haruki Murakami trở về Nhật Bản và đã đề cập đến
những sự kiện này trong tập hợp truyện ngắn Sau cơn động đất và trong
Đường xe điện ngầm - tác phẩm hiện thực đầu tiên của ông Cuốn tiểu thuyết Đường xe điện ngầm phần lớn là những bài phỏng vấn các nạn nhân trong
cuộc tấn công bằng khí gas ở hệ thống tàu điện ngầm Tokyo, cho thấy tâmtình phản kháng đối với những quan niệm tôn thờ vật chất, cố gắng tìm kiếm
ý nghĩa cuộc đời từ những giải thuyết siêu hình, có khi cực đoan đến nỗi trởthành tội ác Dù thủ phạm đứng sau vụ tấn công không phải là chủ đề chính
mà cuốn sách nói tới, nhưng bức tranh hiện thực mà H Murakami vẽ nên về
xã hội Nhật Bản thời bấy giờ đã khiến nhiều người phải suy nghĩ và thực sựhoảng hốt
Năm 1999, tác phẩm Người tình Sputnik được xuất bản lần đầu tiên Tiểu thuyết Kafka bên bờ biển được xuất bản năm 2002 Dẫu có tiêu đề Kafka
bên bờ biển, viết về nhân vật với cái tên rất phương Tây, nhưng đây vẫn là
cuốn tiểu thuyết giàu sắc màu Nhật Bản nhất của Murakami Tác phẩm đi sâukhai thác thế giới bí ẩn của đạo Shinto Vào cuối năm 2005, Murakami đã
xuất bản tập truyện ngắn có tựa đề Hợp tuyển Bí ẩn Tokyo Tháng 8 năm
2006, một tập truyện ngắn bằng tiếng Anh với 24 truyện ngắn, tựa đề Cây
liễu mù, người đàn bàn ngủ (Blind willow, sleeping woman) được xuất bản.
Tập truyện này bao gồm những tác phẩm từ thập niên 1980 cũng như một số
truyện ngắn gần đây nhất của ông (bao gồm cả 5 truyện ngắn trong cuốn Hợp
tuyển Bí ẩn Tokyo)
Năm 2006, Haruki Murakami trở thành nhà văn thứ sáu nhận “Giải
thưởng Franz Kafka” của Cộng hóa Séc cho tác phẩm Kafka bên bờ biển Đây
là giải thưởng danh giá nhằm tôn vinh tác giả mà những tác phẩm của họ đãkhiến cho độc giả “không còn quan tâm đến xuất xứ, dân tộc và nền văn hoá
mà chúng được sinh ra” Phát biểu trong lễ trao giải, Murakami nói: “Theo
Trang 22một cách nào đó, đọc những tác phẩm của Franz Kafka là một sự khởi đầucho nghiệp văn của tôi” Vào tháng 9 năm 2007, ông nhận bằng tiến sĩ danh
dự của Đại học Liège
Sau những thành công vang dội, Murakami trở lại với cội nguồn NhậtBản Vị thế của một nhà văn quốc tế chắc chắn đã được xác lập, chinh phụcthế giới thành công nhưng nhà văn mệt mỏi khoát tay trước sự xưng tụng từnước ngoài và bắt gặp chính mình trên hành trình tìm về với cha mẹ, vớimảnh đất chôn nhau cắt rốn Con đường hoài hương, tìm về với nguồn cội
tiếp tục xuất hiện trong tiểu thuyết Sau nửa đêm (After Dark) - một thiên
truyện khám phá một đêm không ngủ ở Tokyo Ông nói: “Trước đây, tôimuốn làm một nhà văn ngoài lề Nhật Bản Nhưng tôi vẫn là một nhà vănNhật Đây là đất nước tôi và gốc rễ của tôi Tôi không thể trốn chạy khỏi tổquốc mình Tôi sẽ vẫn như trước đây Tôi là người Nhật Bản, nhưng tôi làchính tôi”
Con đường sáng tạo nghệ thuật của Haruki Murakami mang trong nómột cảm quan về sự khác biệt, xuất hiện rất tự nhiên dưới ngòi bút của ông
Sự khác biệt ấy bắt đầu bằng việc nhà văn có sở thích thiên về các tác phẩmvăn học nước ngoài trong khi song thân của ông lại dạy văn học Nhật Bản.Khuynh hướng này tiếp diễn đến ngày nay, biểu hiện trong thái độ giữ khoảngcách nhất định với giới văn chương Nhật và trong lối sống điều độ mà ông lựachọn Murakami nói: “Giới nghệ sĩ thường được quan niệm là cần sống theolối kỳ dị, tự do, phóng túng Nhưng tôi chỉ muốn làm khác” Và ông thức dậyđều đặn vào 4 giờ sáng, viết vài giờ trước khi chạy marathon Ông muốn tậpthể dục để duy trì thể lực cho công việc viết lách vốn rất tiêu hao năng lượng.Với việc chọn nghề viết, một nghề có thể coi là cô đơn, và ông lại yêu thíchchạy bộ - là môn thể thao mang tính cá nhân, có lẽ những yếu tố này có liên
Trang 23quan tương đối với nhau Từ đây có thể hiểu phần nào về bản chất con ngườicủa Haruki, sống nội tâm, thậm chí hơi cô đơn.
Sức sáng tác của Murakami rất phong phú, đa dạng và mỗi tác phẩmcủa ông là một tìm tòi, khám phá mới về thế giới chung quanh và về đáy sâu
tâm hồn con người Nếu như Rừng Na-Uy có vẻ hiện thực, thể hiện bộ mặt
của Nhật Bản thập kỷ 60 thì những tác phẩm sau này của ông không phản ánhmột thời điểm, một địa điểm hay một xã hội cụ thể nào
Là một nhà văn đương đại, Haruki Murakami mang nhiều nét mới lạ(so với giới văn nghệ sĩ) cả trong phong cách văn chương lẫn trong phongcách sống Tác phẩm của ông không dính dáng tới văn hoá cổ Nhật Bản mà
có “âm sắc của văn hoá đại chúng, chủ yếu là từ Mỹ” Trong cuộc sống hằngngày, H Murakami thích chạy bộ, yêu mèo, thích âm nhạc Mỹ-Latinh, nhạcJazz và rất lãng mạn Có thể thấy sự xuất hiện của các yếu tố này trong nhiềutác phẩm mà ông viết Những bản nhạc, những con mèo đen, quán café, têncác cuốn sách được đặt theo tên các bài hát và cả sự lãng mạn trong đời sốngtình dục… không phải ngẫu nhiên mà tất cả những chi tiết này đều xuất hiệntrong các sáng tác của Murakami Chính tính cách ấy, cuộc đời ấy đã ảnhhưởng trực tiếp đến văn chương của ông Độc giả có thể thấy đằng sau nhữngnhân vật như Watanabe, Hajime, Kafka… là hình ảnh cuộc đời, hình ảnh conngười Haruki Murakami
Tất cả góp phần tạo nên phong cách nghệ thuật mang bản sắc rất riêngcủa Haruki Murakami - một trong những giọng nói hấp dẫn, được bắt chướcnhiều nhất ở trong và ngoài nước Nhật Và dù ngòi bút của ông, con đườngsáng tạo nghệ thuật của ông có chuyển hướng như thế nào thì chính cái bảnngã này vẫn khiến cho độc giả trên toàn thế giới tìm thấy chính mình trongcác sáng tác của ông
Trang 241.3 Tiểu thuyết Rừng Na-Uy - dấu mốc trên hành trình sáng tạo
nghệ thuật của Haruki Murakami
Tiểu thuyết Rừng Na-Uy được hoàn thành vào năm 1987 khi mà Haruki
Murakami đang sinh sống và làm việc ở Roma, Ý Đây là cuốn tiểu thuyếtviết về cuộc sống của tầng lớp thanh niên sinh viên Nhật Bản trong nhữngnăm 60 của thế kỷ XX Qua cuộc sống của họ, người đọc có thể hiểu đượcphần nào xã hội Nhật Bản đương thời
Trước Rừng Na-Uy, Haruki Murakami có viết “Bộ ba Chuột” (gồm 3 cuốn tiểu thuyết Lắng nghe gió hát, Pinball, 1973, Săn cừu hoang); Xứ sở kỳ
diệu lạnh lùng và nơi tận cùng thế giới và đã khá thành công trong phạm vi
nước Nhật
Với “Bộ ba Chuột”, Haruki Murakami đã bước đầu hình thành nhữngyếu tố căn bản tạo nên những tác phẩm sau này của Murakami Đó là phongcách phương Tây, cách nói hài hước mà rất thâm thúy, sâu sắc Trong khi đó,
“Xứ sở kỳ diệu lạnh lùng và nơi tận cùng thế giới” mang nhiều tính tưởngtượng, mơ mộng và bước đầu xuất hiện một số yếu tố siêu thực
Đến khi Rừng Na-Uy được xuất bản, H Murakami đã trở thành một
trong những nhà văn hàng đầu, một thần tượng văn hóa đại chúng không chỉ ởnước Nhật Hơn 4 triệu bản in của cuốn sách đã mang lại cho H Murakami sựthành công ngoài sức tưởng tượng của chính bản thân ông
Câu chuyện trong tiểu thuyết Rừng Na-Uy diễn ra trong bối cảnh nước
Nhật những năm 1960, khi mà thanh niên Nhật Bản, như thanh niên nhiềunước khác đương thời, đang đấu tranh chống lại những định kiến tồn tại trong
xã hội Với thủ pháp dòng ý thức, cốt truyện diễn tiến trong dòng hồi tưởngcủa nhân vật chính là một người đàn ông 37 tuổi Toru Watanabe, khi vừa đáp
máy bay xuống sân bay Hamburg (Đức), chợt nghe bản nhạc Rừng Na-Uy của
Trang 25The Beatles Thời sinh viên, anh ta đã trải qua nhiều cuộc tình chớp nhoángvới nhiều cô gái trẻ ưa tự do Nhưng anh ta cũng có những mối tình sâu nặng,điển hình là với Naoko, người yêu của người bạn thân nhất của anh, một côgái không ổn định về cảm xúc; bên cạnh đó là tình cảm với Midori, một côgái thẳng thắn, sôi nổi và hoạt bát.
Ở Việt Nam, cho đến nay đã có hai bản dịch Rừng Na-Uy Tác phẩm
được dịch sang tiếng Việt và xuất bản lần đầu tiên vào năm 1997 do KiềuLiên và Hải Thanh thực hiện, Bùi Phụng hiệu đính Bản dịch này không thực
sự xuất sắc và đã bị cắt xén khá nhiều câu, nhiều đoạn bị cho là “nhạy cảm”,
“dung tục” Năm 2006 bản dịch mới của Trịnh Lữ được Nhà xuất bản Hội nhàvăn ấn hành và được đánh giá khá cao
Mỗi người trong chúng ta thường tự nhủ với bản thân rằng mình là mộtsinh linh bé nhỏ giữa bao người Vì vậy, nỗi cô đơn và cái buồn luôn đeo
đuổi; nhiều cái chết là ở sự mất niềm tin vào cuộc sống Đọc Rừng Na-Uy,
bạn đọc trẻ tìm thấy sự đồng cảm Họ tìm thấy những nghĩ suy mà đôi khikhông thể gọi nên lời Dường như có một cái gì đó là chung giữa bạn đọc vớiToru Watanabe, Midori, Naoko và Kizuki dù khác thời đại, khác dân tộchay dòng máu Ai cũng có sự mất mát nào đó, và đều cảm thấy một nỗi
trống trải khôn cùng mỗi khi nghĩ về nó Chính vì vậy Rừng Na-Uy đạt được
sự đồng cảm của mọi độc giả Đó là sự gặp gỡ, sự đồng cảm của những tâmhồn đồng loại
Cái khó khăn nhất trong cuộc đời một con người là vượt qua chínhmình Và lại cũng khó khăn hơn để vượt thoát khỏi nỗi cô đơn Dù vậy, conngười ta vẫn luôn nỗ lực để làm được điều gì đấy Song kết quả có khi là một
sự thất bại Nó dẫn đến cái chết, hay sự biến mất vĩnh viễn Cuộc sống đôi khiquá nhỏ bé, ngột ngạt, không đủ chỗ dung chứa cho sự tồn tại của mỗi cánhân sống đúng như bản thể của mình Những người chết trong tác phẩm đều
Trang 26còn rất trẻ Họ cô đơn và lạc lõng trước cuộc đời Họ cố gắng vượt thoát khỏinỗi cô đơn đáng sợ ấy Và có lẽ bởi không còn đủ niềm tin, họ đã tìm đến cáichết như một giải pháp nhẹ nhàng, đơn giản.
Nhân vật trong Rừng Na-Uy được đánh giá là hiện đại hơn rất nhiều so
với nhân vật trong văn học Nhật Bản truyền thống vì niềm khao khát được làchính mình, sống cuộc sống của bản thân mình chứ không phải cuộc sống bầyđàn nhạt nhẽo Họ bị bủa vây bởi sự cô độc và luôn muốn đi tìm chính mình
Và do đó thường rơi vào những bi kịch tinh thần Chính Haruki Murakamicũng cho rằng, trong xã hội có tính ý thức cộng đồng chặt chẽ như Nhật Bản,một tinh thần cá nhân độc lập là rất khó tồn tại
Hàng trăm diễn đàn, thảo luận đã được giới trẻ Việt Nam mở ra trên
mạng Internet để chia sẻ suy nghĩ của mình về Rừng Na-Uy Điều này phần nào khẳng định đề tài, chủ đề, cốt truyện của Rừng Na-Uy có vẻ phù hợp và
dễ tiếp nhận hơn đối với những độc giả trẻ hơn là với những nhà nghiên cứulớn về tuổi đời và tuổi nghề
Sau Rừng Na-Uy, Haruki Murakami ngày càng thành công với nhiều
tác phẩm mang tính siêu thực với những chi tiết như người nói chuyện vớimèo, những con kỳ lân thay áo, một cô gái nhìn thấy chính mình đang làm
tình với một người đàn ông lạ Năm 1988, ông cho xuất bản cuốn Nhảy,
nhảy, nhảy (Dance, dance, dance) Lần lượt sau đó, Murakami xuất bản Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời (South of the border, West of the Sun), Biên niên ký chim vặn dây cót (The wind-up bird chronicle), “Người tình Sputnich”
(Sputnik Sweetheart), Kafka bên bờ biển (Kafka on the shore),… Những tác
phẩm này của Murakami được đánh giá khá cao về nội dung lẫn giá trị nghệthuật
Tuy là nhà văn thuộc thế hệ hậu bối trong làng văn Nhật Bản, nhưngHaruki Murakami không chịu sự tác động, không bị lệ thuộc phong cách hay
Trang 27phương pháp sáng tác của các bậc tiền bối Ông yêu thích nhạc Jazz và có lốisáng tác ngẫu hứng và tùy biến như các nhạc sĩ nhạc jazz chứ không theo một
kế hoạch nào định sẵn Murakami cũng thường bị giới phê bình trong nướclên án là một tác giả xa rời truyền thống văn học Nhật Bản, chí ít là đứngngoài dòng văn học chính thống Thế nhưng, ông lại cho rằng mình chính làmột nhà văn Nhật đang tìm một ngôn ngữ mới để thích hợp với thời đại, bởiđời sống đương đại của Nhật Bản hoàn toàn khác với với đời sống của nhữngthời đại trước đây
Có thể nói, những yếu tố mới lạ xuất hiện trong sáng tác của HarukiMurakami là sự hoà nhập các yếu tố văn học, thời đại, cá tính với các tácphẩm văn học phương Tây Nhìn nhận một cách khách quan và tổng quáthành trình sáng tạo nghệ thuật của Haruki Murakami ta có thể thấy hành trìnhnày bắt nguồn từ cá tính nhà văn, cùng với đó là những yếu tố khách quan:
chính trị, xã hội, hiện thực lịch sử, tình hình văn học Nhật Bản… Và Rừng
Na-Uy với những giá trị nội dung và nghệ thuật của mình, thực sự là một cột
mốc quan trọng trên hành trình sáng tạo nghệ thuật của H Murakami
Trang 28Chương 2
CẤU TRÚC TỰ SỰ CỦA TIỂU THUYẾT RỪNG NA-UY
Tác phẩm văn học là sự thống nhất một cách trọn vẹn các yếu tố đề tài,chủ đề, tư tưởng nhân vật, cốt truyện, lời văn Đồng thời đó cũng là một cấutrúc văn bản nghệ thuật được tổ chức một cách chặt chẽ thành một chỉnh thểhoàn thiện “Loại văn chương tột bậc trong thiên hạ, đúng là không ở trongcái giới hạn đóng mở kết cấu, nhưng mà không đóng mở kết cấu thì cũngkhông thành văn chương” Tác phẩm văn học là một kiểu tổ chức ngôn ngữ,
do vậy đương nhiên phải có tầng lớp, phải có đóng mở kết cấu, có sự gắn bógiữa các bộ phận trong tác phẩm và giữa bộ phận với toàn thể… Là một thểloại cao cấp nhất thuộc phương thức tự sự, việc nghiên cứu cấu trúc tự sự(hay kết cấu tự sự) là công việc không thể thiếu trong quá trình nghiên cứumột tác phẩm tiểu thuyết
Thông thường khi tiếp xúc một tác phẩm văn học, nhất là các tác phẩm
tự sự và kịch, vấn đề đầu tiên mà người đọc quan tâm là câu chuyện đó kể về
ai, kể về cái gì và diễn biến của nó ra sao Có nghĩa là người đọc quan tâmnhiều nhất đến nhân vật và cốt truyện, nội dung ý nghĩa của tác phẩm đó.Nhưng điều góp phần quan trọng làm nên thành công của một câu chuyện lànghệ thuật kể chuyện (nghệ thuật tự sự) thì lại ít người để ý Chính nghệ thuật
tự sự sẽ quyết định việc câu chuyện đó sẽ diễn ra như thế nào, có bao nhiêunhân vật và các tình tiết trong câu chuyện đó được diễn ra như thế nào, trongmột không gian, thời gian ra sao Và quan trọng hơn cả, qua nghệ thuật tự sự,qua nhân vật người kể chuyện và cách lựa chọn điểm nhìn, giọng điệu trầnthuật mà người đọc có thể hiểu được quan điểm, tư tưởng cá nhân và cả tráitim, tâm hồn của tác giả
Trang 292.1 Giới thuyết khái niệm “tự sự” và “cấu trúc tự sự”
2.1.1 Tự sự
Trên thế giới, khái niệm “tự sự”, cùng với sự ra đời của khái niệm “tự
sự học”, đã xuất hiện từ rất lâu Từ thời cổ đại, khi mà Platon, Aristote đã bắtđầu phân biệt các loại tự sự: tự sự lịch sử khác với tự sự nghệ thuật Đến thế
kỉ thứ V, người ta đã phân biệt: tự sự mô phỏng (hoàn toàn không có sự thamgia của người kể, như kịch), tự sự giải thích (thường có kèm phân tích, bìnhluận), và tự sự hỗn hợp (điển hình là sử thi) Dù vậy, phạm vi quan tâm củanhững sự phân biệt này vẫn không vượt ra ngoài giới hạn về mặt tu từ học
Roland Barthes (1915 - 1980) nhà phê bình văn học nổi tiếng ngườiPháp có nói: “Đã có bản thân lịch sử loài người, thì đã có tự sự” Trong khi
đó, ở phía bên kia bán cầu, J H Miller, nhà giải cấu trúc Mĩ lại nói: “Tự sự làcách để ta đưa các sự việc vào một trật tự, và từ trật tự ấy mà chúng có được ýnghĩa Tự sự là cách tạo nghĩa cho sự kiện, biến cố” Jonathan Culler cũngnói: “Tự sự là phương thức chủ yếu để con người hiểu biết sự vật” Muốnhiểu một sự vật nào thì người ta kể câu chuyện về sự vật đó Bản chất của tự
sự ngày nay được hiểu là một sự truyền đạt thông tin, là quá trình phát ra đơnphương trong quá trình giao tiếp, văn bản tự sự là cụm thông tin được phát ra,
và tự sự có thể thực hiện bằng nhiều phương thức, con đường Hội họa, điêukhắc, phục sức, kiến trúc tất cả đều là phương tiện tự sự
Đến những năm 60 của thế kỷ XX, “tự sự” mới xuất hiện với tư cách làđối tượng nghiên cứu chính thức và chủ yếu của một ngành khoa học độc lập– “tự sự học” Đó là khi trường phái cấu trúc luận ra đời ở Pháp với những đạibiểu ưu tú như Tezvetan Todorov hay Gérard Genette
Trong tiếng Anh, người ta dùng từ “narrate” nghĩa là “kể lại, thuật lại
sự việc”, “narration” với nghĩa “sự kể chuyện, sự tường thuật sự việc” Như
Trang 30vậy, “tự sự” tương đương với nghĩa “kể, trần thuật” Từ đây, “narratology”xuất hiện với hàm nghĩa là khoa học về trần thuật
Đây là cách định danh được các nhà phê bình theo chủ nghĩa cấu trúcnhư Gérard Genette, Mieke Bal, Gerald Prince dùng một cách phổ biến vàothập kỷ 70 Dần về sau, cách gọi này mang “ý nghĩa rộng lớn hơn nghĩa là “tự
sự học” chứ không còn bó hẹp trong phạm vi ý nghĩa hình thức chủ nghĩa của
từ ngữ này (trần thuật học)” [8; 18]
Ở Việt Nam, Lại Nguyên Ân định nghĩa: “Tự sự là một khái niệm khoahọc nhằm chỉ một trong ba phương thức biểu đạt của văn học bên cạnh “trữtình” và “kịch” “Tự sự” và “kịch” đều tái hiện hành động diễn ra trong thờigian và không gian, tái hiện tiến trình các biến cố trong cuộc đời các nhânvật” [1; 371]
“Tự sự” (narration) và “tự sự học” (narratology) là một vấn đề khá mới
mẻ ở Việt Nam Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhaunhằm đóng góp những định hướng hợp lý cho sự thống nhất một cách gọichung về khái niệm “tự sự” và “tự sự học”
Trong bối cảnh như vậy, Hội thảo Tự sự học đầu tiên ở nước ta, đượckhoa Ngữ văn - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội tổ chức năm 2001 và việcxuất bản công trình “Tự sự học - một số vấn đề lý luận và lịch sử” (NxbĐHSP, 2003) đã góp phần định danh cho một chuyên ngành nghiên cứu quantrọng trên thế giới Đặc biệt, công trình “Tự sự học - một số vấn đề lý luận vàlịch sử” đã tập hợp nhiều chuyên luận, nhiều công trình nghiên cứu có giá trị
về “tự sự”, “tự sự học” và các vấn đề liên quan
Trong khi đó, cuốn “Lý luận văn học” giới thiệu chung về loại tácphẩm tự sự một cách cụ thể và sâu sắc “Tác phẩm tự sự phản ánh đời sốngtrong tính khách quan của nó – qua con người, hành vi, sự kiện được kể lại
Trang 31bởi một người kể chuyện nào đó” [7; 375] Để tái hiện cuộc sống một cáchkhách quan, tác phẩm tự sự tập trung phản ánh đời sống con người qua cácbiến cố, sự kiện xảy ra với nó từ đó phơi bày những bộ mặt nhất định của bảnchất con người Sự kiện chính là toàn bộ thế giới hành động, cảm xúc tâmtrạng của con người được nhà văn chuyển vào trong trang viết Và ở mộtphạm vi rộng hơn, tác phẩm tự sự có khả năng phản ánh cuộc sống một cáchbao quát rộng lớn: miêu tả con người trong nhiều mối quan hệ phức tạp giữa
nó với môi trường xung quanh Xã hội ngày càng phát triển với tốc độ chóngmặt, và con người cũng ngày càng có nhiều mối quan hệ phức tạp hơn với xãhội ấy
Mối quan hệ đầu tiên cần nhắc đến đó là mối quan hệ giữa con người
và hoàn cảnh Bêlinxki cho rằng “số phận là tính tất yếu của lý tính, là cácquy luật của hiện thực, là các tương quan của nguyên nhân và kết quả” [7;377] Thế giới vận động một cách khách quan, tự phát trong khi đó con ngườimang đặc tính chủ quan và tính tự giác Và do đó, đặc trưng cơ bản đầu tiêncủa “tự sự” chính là miêu tả tính chỉnh thể khách quan của thế giới Hoàncảnh sống, môi trường của nhân vật là đối tượng được tác phẩm tự sự miêu tả
cụ thể và chi tiết nhất
Bên cạnh đối tượng hoàn cảnh sống, tác phẩm tự sự hầu như không bịhạn chế về mặt không gian và thời gian, so với các tác phẩm trữ tình và tácphẩm kịch Bởi tác giả tự sự có toàn quyền, có thể dẫn dắt độc giả đi theonhững phương hướng khác nhau, quay về quá khứ hay vượt qua hiện tại đểđến tương lai Chính vì thế, tác phẩm tự sự có khả năng bao quát cuộc sốngtrên một phạm vi rộng lớn đồng thời cốt truyện và nhịp điệu tác phẩm cũng cónhững nét khác biệt so với tác phẩm kịch
Từ đó, nhân vật trong tác phẩm tự sự được khắc hoạ đầy đặn, đa diệnhơn so với các nhân vật trữ tình và kịch vốn chỉ giàu tính ước lệ Nhân vật tự
Trang 32sự có thể được miêu tả từ ngoại hình, hành động cho đến tâm trạng cảm xúcsuy nghĩ, bản năng hay ý thức, quá khứ, hiện tại và tương lai.
Một yếu tố không thể thiếu trong các tác phẩm tự sự đó là hình tượngngười trần thuật Tác giả xuất hiện như hình tượng người trần thuật hoặc sángtạo ra hình tượng người trần thuật để phân tích, nghiên cứu, bình luận, làm rõnhững mối quan hệ giữa nhân vật và hoàn cảnh sống của nó Vai trò củangười trần thuật trong tác phẩm là “ở bên cạnh, giúp đỡ, mách bảo cho nhânvật hành động Đồng thời giải thích cho người đọc hiểu được những nguyênnhân sâu xa phía sau những hành động của nhân vật” [5; 133]
Lời văn tác phẩm tự sự cũng là một yếu tố quan trọng, có cấu trúcthành phần khác hẳn so với lời văn trong tác phẩm kịch và trữ tình Các đặcđiểm này làm cho tác phẩm tự sự trở thành loại văn học có khả năng phản ánhhiện thực sâu rộng nhất, giữ vị trí ngày càng quan trọng trong đời sống tinhthần của con người thời đại ngày nay
Trong tác phẩm tự sự, nghệ thuật kể chuyện giữ vai trò rất quan trọng.Lịch sử phát triển của tác phẩm tự sự (văn xuôi) chính là lịch sử phát triển củanghệ thuật kể chuyện Từ trong các sử thi Hi Lạp, La Mã cổ đại cho đến cáctác phẩm của nền văn học đương đại (chủ nghĩa hiện đại, hậu hiện đại ), dùhữu hình hay vô hình đều có thấp thoáng bóng dáng người kể chuyện - yếu tố
cơ bản của nghệ thuật tự sự Trong sử thi vĩ đại Homère, tác giả xuất hiện mộtcách trực tiếp và kể lại diễn biến câu chuyện Nhưng trong các tác phẩm vềsau, tác giả không còn trực tiếp xuất hiện trong tác phẩm nữa mà thông quahình tượng nhân vật người kể chuyện để từ đó bộc lộ quan điểm, cách nhìn,cách suy nghĩ và giải quyết các vấn đề đặt ra Cho đến tận bây giờ việc phânbiệt “chủ nghĩa hiện đại” và chủ nghĩa hậu hiện đại” trong văn học cũng đượclấy tiêu chí từ nghệ thuật kể chuyện
Trang 33Nghệ thuật kể chuyện chiếm một vai trò rất quan trọng trong thànhcông của một tác phẩm văn học, bởi người kể chuyện (story teller – narrator),điểm nhìn trần thuật (point of view), trật tự trần thuật (narrative chronology)
và giọng điệu trần thuật (narrative structure) sẽ ảnh hưởng một cách trực tiếpđến cách xây dựng nhân vật, cốt truyện cũng như không - thời gian nghệthuật Quan trọng hơn, thông qua điểm nhìn trần thuật chúng ta sẽ hiểu hơn vềthế giới quan của tác giả, hiểu được cái tài và cái tâm của người cầm bút
Như vậy, các định nghĩa đều chỉ ra rằng: điểm cơ bản nhất của “tự sự”chính là “trần thuật” diễn biến sự việc Trong khuôn khổ đề tài khoá luận này,chúng tôi cũng đã sử dụng các định nghĩa về “tự sự” và “tự sự học” trên đâynhư một gợi ý để giải quyết vấn đề nghệ thuật tự sự của nhà văn Nhật Bản
Haruki Murakami trong tiểu thuyết Rừng Na-Uy trên những bình diện cơ bản
nhất của “tự sự” và “nghệ thuật tự sự”
2.1.2 Cấu trúc tự sự
“Tự sự học” trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài đã cónhững thay đổi về hệ thống lý thuyết và phương pháp nghiên cứu tự sự Làmột bộ phận không thể tách rời của hệ thống lý thuyết tự sự, cấu trúc tự sựcũng có những sự thay đổi về nhiều phương diện
Như trên đã trình bày, nói đến văn học là nói đến nghệ thuật kể chuyệncho dù đó là bất kỳ thể loại nào, thơ, văn xuôi hay kịch trong số đó, vănxuôi thể hiện đậm nét nhất nghệ thuật kể chuyện vì bản chất của văn xuôi là
tự sự - kể chuyện Trên cơ sở đó đã hình thành một chuyên ngành với tên gọi
“Tự sự học” (narratology) Nó đề cập một cách đặc biệt đến việc nhận diệnnhững yếu tố cấu trúc và những mẫu thức đa dạng của sự kết hợp, với nhữngphương thức trần thuật được lặp lại, và việc phân tích những loại hình truyện
kể mà câu chuyện được kể ra
Trang 34Lý thuyết về “tự sự học” này đã tập hợp những chủ đề và cách xử lý
chủ đề đó theo kiểu truyền thống từ Nghệ thuật thi ca của Aristotle đến Nghệ
thuật tu từ trong văn học (1961) của Wayne Booth Cùng với đó là việc ứng
dụng hệ thống khái niệm, chuỗi tiến trình phân tích từ đó cho đến những đónggóp gần đây nhất trong chủ nghĩa hình thức Nga và đặc biệt là chủ nghĩa cấutrúc ở Pháp Những nhà tự sự học giải quyết vấn đề không theo cách thứctruyền thống, xem văn chương như là một mẫu thức của hiện thực mà xem đónhư là một hệ thống cấu trúc của hình thức Điều mà các nhà tự sự học cấutrúc đặc biệt yêu thích đó là cách mà câu chuyện được tạo thành, hình thứccủa một câu chuyện - chuỗi sự kiện trong thời gian - trở thành một cấu trúc tổchức của một cốt truyện văn học Các nhà chủ nghĩa hình thức Nga đã tạo nênmột sự song song giữa những chất liệu cơ bản để kiến thiết nên một câuchuyện và các cách thức được sử dụng để chuyển tải câu chuyện đó Việcthực hiện một cách tổng quát được xác định là những quy tắc, những mã củaviệc kết hợp, được thể hiện thông qua những hình thức khác nhau của cốttruyện “ngữ pháp” của truyện kể trên phương diện cấu trúc, cách thức trầnthuật, và được xuất hiện nhiều lần trong nhiều câu chuyện, ở bất kỳ điểm khácbiệt nào trong những vấn đề về chủ đề được kể
Trong Bàn luận về Tự sự (1980) và Những đặc điểm về văn học (1982),
nhà phê bình theo chủ nghĩa cấu trúc Pháp Gérard Genette phân tích về sựảnh hưởng về mối quan hệ phức tạp giữa một câu chuyện và những cách thức
mà câu chuyện được kể, và nó được làm cho trở nên tinh tế hơn bởi sự thamgia của điểm nhìn trong nghệ thuật kể chuyện
Theo Phương Lựu trong Tìm hiểu về lý luận văn học phương Tây hiện
đại, thì về mặt thể loại, chủ nghĩa cấu trúc giữa thế kỷ XX tập trung chủ yếu
vào thể tự sự, nhất là tiểu thuyết Có thể bắt gặp ở đây những công trìnhnghiên cứu tiêu biểu như “Khái luận về phân tích cấu trúc tác phẩm tự sự”
Trang 35(1966) của Roland Barthes; “Ngữ pháp “Chuyện mười ngày” (1969) củaZevetan Todorov Với những góc độ khác nhau, họ đã vận dụng những lýluận và phạm trù ngôn ngữ học, nghiên cứu những tầng cấu trúc và phươngthức trần thuật trong tác phẩm tự sự, những mối quan hệ giữa tác giả và ngườitrần thuật, giữa sự kiện trong tác phẩm với sự kiện trong đời sống hiện thực,giữa cốt truyện với giọng điệu…, nhằm xây dựng những hệ thống mô thức vềcác vấn đề “câu chuyện do ai kể” và “kể như thế nào”.
Khi nhà nghiên cứu nổi tiếng thế giới T Todorov đề xuất “tự sự học”,ông đã định nghĩa: “Tự sự học là lí luận về cấu trúc của tự sự” (Ngữ pháp
“Chuyện mười ngày”) Hướng đi của ông chỉ tập trung nghiên cứu hành động
sự kiện mà bỏ qua việc nghiên cứu cách kể, nhân vật, và do đó, đã có lúc bịcho rằng, đã rơi vào khủng hoảng hoặc đã lỗi thời Giai đoạn sau, Todorov, G.Genette, G Prince… chuyển sang nghiên cứu lớp ngôn ngữ trần thuật và cácyếu tố người kể, hành động kể, ngôi kể, giọng điệu Lý thuyết tự sự cấu trúcchủ nghĩa này đã cung cấp một hệ thống khái niệm rất có giá trị để đọc hiểuvăn bản tự sự
Tiếp đó, Mieke Bal, nhà nghiên cứu người Hà Lan đã kết hợp nghiêncứu cấu trúc chuyện với văn bản và chia tự sự thành ba bậc: văn bản trầnthuật, chuyện kể, miêu tả Văn bản trần thuật gồm người kể chuyện, trầnthuật, bình luận phi trần thuật và miêu tả Chuyện kể gồm trật tự sắp xếp, nhịpđiệu, nhân vật, không gian, tiêu điểm Chất liệu gồm sự kiện, thời gian, địađiểm Một lần nữa, hệ thống khái niệm đã được định nghĩa khá chính xác vàchặt chẽ trong tính hệ thống của chúng
Tự sự học từ giai đoạn kinh điển với chủ nghĩa đã bước sang giai đoạnhậu kinh điển, mở ra nhiều cách nhìn mới về chức năng tự sự và cấu trúc tự
sự, mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới Đó là hướng nghiên cứu tác phẩm tự
sự theo quan hệ tự sự và tiếp nhận, tức là sự tác động qua lại giữa người đọc
Trang 36và văn bản tự sự; nghiên cứu tác phẩm tự sự theo nghệ thuật kể chuyện; hoặcnghiên cứu tự sự theo mô hình “tự sự học + X”, trong đó X là một phạm trùbất kỳ của cuộc sống, như: tự sự học tâm lý, tự sự học lịch sử, tự sự học tu từ,
tự sự học hậu hiện đại…
Lý thuyết tự sự học hiện đại cho thấy sự phức tạp của cấu trúc tự sự củamột tác phẩm văn học Đó là, tác giả không bao giờ hiện diện trong tiểuthuyết như là một người kể, người phát ngôn, mà chỉ xuất hiện như là một tácgiả hàm ẩn, một “cái Tôi” thứ hai của nhà văn, với tư cách là người mang hệthống quan niệm và giá trị trong tác phẩm Tác giả thực sự xuất hiện chỉ nhưngười sao chép, biên tập lời kể Người trần thuật (hay còn gọi là người kểchuyện) là nhân vật được sáng tạo ra để mang lời kể Theo đó, hành vi trầnthuật là hành vi của người kể chuyện đó mà sản phẩm của nhân vật này chính
là văn bản tự sự Người trần thuật trong văn bản văn học là một hiện tượngnghệ thuật phức tạp nhất, mà ngôi kể chỉ là hình thức biểu hiện ước lệ Ngườitrần thuật vốn không có gì là ngôi kể, mà chỉ là chủ thể kể Sự khác biệt của
“ngôi thứ nhất”, “ngôi thứ ba” chỉ là sự khác nhau về mức độ bộc lộ và ẩngiấu của người trần thuật mà thôi Sự ẩn giấu này của ngôi kể thứ ba làm chochính nó trở nên gần như là không có tên gọi (vô nhân xưng) Ngôi kể là yếu
tố quyêtd định điểm nhìn trần thuật và cả giọng điệu trần thuật
Cấu trúc tự sự trong tiểu thuyết Rừng Na-Uy có thể được xem xét theo vấn đề mở đầu, kết thúc và tính toàn vẹn của nó Rừng Na-Uy mở ra bằng
khung cảnh của một chuyến máy bay sắp hạ cánh, tiếp đó là dòng suy nghĩ,
ký ức của Toru Watanabe về quãng đời sinh viên hai mươi năm trước đây, vớinhững mối tình đượm màu u buồn Ký ức nối tiếp ký ức, ý nghĩ nối tiếp ýnghĩ như một dòng chảy, chính xác hơn là như một giấc mơ dài… Chỉ cóđiều, đó “là những ký ức không hoàn hảo và những ý nghĩ không hoàn hảo”.Trong giấc mơ không hoàn hảo ấy, Toru Watanabe vẫn phải chịu đựng những
Trang 37cơn sợ hãi đến thắt lòng Khởi đầu bằng một hồi ức được khơi gợi qua bảnnhạc Rừng Na-Uy của The Beatles có lẽ cũng là dụng ý không rõ ràng của tácgiả Để rồi kết thúc bản nhạc ấy, thực tại dần bị kéo lùi về hồi ức trong quákhứ, những hồi ức rõ ràng, sống động và đầy dục tính như nó đang diễn rachứ không chỉ là đã từng diễn ra Những hình nhân đại diện cho những nhânvật ở quá khứ đang lướt qua trong hệ thống màng lọc phức tạp của nhân vật,trút vào trong cái “tưởng kí” lạ lùng ấy những suy tư trăn trở và chiêmnghiệm về cuộc đời.
Cuốn tiểu thuyết kết thúc bằng tiếng gọi của Toru Watanabe trong mộttrạm điện thoại dưới làn mưa bụi, sau rất nhiều biến cố cuộc đời, vui buồn,đau khổ, mất niềm tin, mất phương hướng, sau những cái chết và sự ra đi củakhông ít người Tương lai của Toru Watanabe, Midori hay Reiko ra sao saukết thúc truyện, tác giả không nói rõ Cũng như không nói rõ về sự biến mấtcủa một số nhân vật khác, như Quốc-xã Nhưng đó chính là cách kết thúc mởcủa Haruki Murakami Người đọc phải suy nghĩ, tự tìm hiểu, tự cảm nhận vàđưa ra cho chính mình một cái kết hợp lý nhất Sự toàn vẹn của một tác phẩmkhông nằm ở cái kết thúc có hậu hay không mà quan trọng hơn, đó là cái kếtthúc tự bản thân mỗi người đọc nhận thức được Đó mới là vấn đề của cấu
trúc tự sự trong tiểu thuyết Rừng Na-Uy của Haruki Murakami
Có thể nói, cấu trúc tự sự của một tác phẩm về cơ bản là kết cấu củamột tác phẩm tự sự được thể hiện qua những phương diện về hình thức và nộidung, góp phần quan trọng trong việc biểu đạt ý đồ nghệ thuật của tác giả, từ
đó tái hiện cuộc sống con người Cấu trúc tự sự của một tác phẩm văn học cóthể bao gồm nhiều phương diện khác nhau Tuy nhiên, trong phạm vi khoáluận và giới hạn đề tài này, chúng tôi chỉ cố gắng phân tích, tìm hiểu nghiêncứu một số vấn đề nổi bật như: nhân vật trần thuật, giọng điệu trần thuật,điểm nhìn trần thuật,…
Trang 382.1.3 Một số phương diện cơ bản trong nghệ thuật tự sự trong Rừng Na-Uy
Tiểu thuyết là tác phẩm tự sự cỡ lớn, chiếm địa vị trung tâm trong hệthống thể loại văn học cận hiện đại Tiểu thuyết có nhiều dạng thức kết cấutùy theo yêu cầu của đề tài, chủ đề hoặc theo sở trường của người viết Thậmchí người ta còn cho rằng, về nguyên tắc, tiểu thuyết không có một hình thứcthể loại nhất định Bởi vì nó là “sử thi của thời đại chúng ta”, tức là sử thi củacái hiện tại, cái đang hàng ngày hàng giờ đổi thay, bởi vì điều quan trọng đốivới nó là sự tiếp xúc tối đa với cái thực tại dang dở, cái thực tại đang thànhhình, cái thực tại luôn bị đánh giá lại, tư duy lại Tiểu thuyết không có nhữngkết cấu chặt chẽ, nó không có quy phạm cố định và người viết thậm chí có thểphá vỡ những khuôn mẫu sẵn có để vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạocác hình thức kết cấu khác nhau
Mỗi người khi đọc Rừng Na-Uy có thể có những cảm nhận khác nhau
về tác phẩm này Tuy nhiên, tiểu thuyết Rừng Na-Uy cuốn hút người đọc bởi
“một lối cấu tứ tinh tế” (S Poole, The Guardian), bởi những trang viết miêu
tả thiên nhiên, miêu tả tâm trạng nhân vật rất nhẹ nhàng, trữ tình và giàu chấtthơ chứ không phải bởi một cốt truyện kịch tính hoặc sự dồn dập liên tục củacác tình tiết truyện Cái cảm giác buồn, một nỗi buồn nhè nhẹ, êm êm khônglàm người ta bi lụy mà chỉ thấy nhớ nhung và tiếc nuối một điều gì đó Đó cóthể là nỗi nhớ về những ngày tháng thanh xuân bất diệt sẽ không trở lại baogiờ, về sự đam mê và gấp gáp của ái tình tuổi trẻ, về nỗi ưu tư và cô đơn nhưmột định mệnh của cuộc đời
Chính cái lối kể, lối viết văn rất nhẹ nhàng nhưng sâu sắc của Haruki
Murakami đã tạo ra cho Rừng Na-Uy một sự hấp dẫn không thể cưỡng lại.
Nghệ thuật tự sự đóng vai trò quan trọng tạo nên sự hấp dẫn của một tác phẩmvăn học tự sự Nó chi phối một cách trực tiếp đến cách xây dựng nhân vật, kết
Trang 39cấu, cốt truyện Trong văn xuôi hiện đại, nghệ thuật kể chuyện ngày một hoànthiện để miêu tả hiện thực một cách thực tế hơn – mô tả điều mình không biết,tái hiện cuộc sống như nó vốn vậy Sự hoàn thiện trong nghệ thuật tự sự nàycũng hoàn toàn dễ dàng để có thể nhận ra khi độc giả tiếp xúc với các tácphẩm của Haruki Murakami mà tiểu thuyết chúng tôi lựa chọn để nghiên cứu
là một ví dụ điển hình về nghệ thuật kể chuyện
Nói đến nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Rừng Na-Uy là nói đến cả
một thế giới nhân vật trần thuật, nói đến điểm nhìn trần thuật, giọng điệu trầnthuật, cốt truyện và cả không gian - thời gian nghệ thuật Thủ pháp tự sự dòng
ý thức (stream of consciousness) được bắt nguồn từ “Phân tâm học” củaFreud và “Tâm lí học cơ năng” của William Jame, đã trở thành một công cụquan trọng trong việc khám phá thế giới nội tâm phức tạp của con người chonhiều tiểu thuyết gia hiện đại trong đó có Haruki Murakami
2.2 Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Rừng Na-Uy
2.2.1 Hệ thống nhân vật và vai trò của nhân vật trong tác phẩm tự sự
Công trình 150 thuật ngữ văn học định nghĩa về nhân vật văn học là
“hình tượng nghệ thuật về con người, là một trong những dấu hiệu về sự tồntại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ” [1; 249] Con ngườiđược miêu tả thể hiện trong tác phẩm bằng phương tiện văn học, khi đó conngười trở thành nhân vật văn học Nhân vật văn học có thể có tên như ThạchSanh, Thuý Kiều… hoặc không tên như thằng bán tơ, lũ ưng khuyển tay saitrong Truyện Kiều, cũng có thể là những con vật mang tính cách, ý nghĩgiống như con người như “chú mèo đi hia” hay những loài động vật trongtruyện ngụ ngôn Lafonten Nhân vật còn có thể được miêu tả ngoại hình nộitâm trọn vẹn hoặc được miêu tả thiếu hẳn những nét này nhưng lại có tiếngnói, có cảm xúc, nỗi niềm cụ thể…
Trang 40Như nhân vật Naoko - nhân vật nữ chính trong truyện - là một cô gái có
vẻ ngoài thật dịu dàng và dễ thương: “Giống như một trong những bé gái xinhđẹp thường thấy trong các bức tranh khắc gỗ thời Trung cổ” [6; 202] Trongsuốt tác phẩm, người đọc chỉ có thể hình dung về Naoko qua những hình ảnhghép nối Có khi là những hình ảnh rất thực tế, gắn liền với kích thước, màusắc, âm thanh và cảm giác rõ ràng: “Bàn tay lạnh tý xíu của nàng, mái tóc đen
và duỗi thẳng của nàng, sờ vào thật mịn và thật mát (…); chiếc áo khoác lônglạc đà nàng mặc mùa đông; thói quen nhìn thẳng vào mắt tôi mỗi khi nànghỏi; giọng nói thỉnh thoảng lại hơi run run của nàng (như thể nàng đang nóitrên một đỉnh đồi lộng gió)” [6; 26-27] “Tôi bước đi, mắt nhìn bờ vai nàng vàmái tóc đen buông lơi của nàng Nàng dùng một dải buộc tóc màu nâu rộngbản, và mỗi khi nàng quay đầu, tôi lại thoáng một vành tai trắng nhỏ củanàng” [6; 54]
Có khi đấy là những hình ảnh đầy mộng mị, huyền ảo: “Naoko imphăng phắc ở đó, như một con thú ăn đêm nhỏ bé vừa bị ánh trăng nhử rangoài tổ Trăng sáng làm rõ nét đường viền của môi nàng Có vẻ cực kỳ mỏngmanh và rất dễ bị tan vỡ, đường viền ấy rung động hầu như không thể nhậnthấy được, theo với nhịp đập của tim nàng hoặc những chuyển động của nộitâm nàng, như thể nàng đang thì thầm với bóng đêm những từ ngữ vô danh(…) [6; 250-251]
Tuy nhiên, nhân vật văn học về cơ bản vẫn là con người được phản ánhtrong tác phẩm với tính toàn vẹn của nó
Dù vậy, nhân vật văn học không tồn tại độc lập trong tác phẩm và trong
xã hội Bởi con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội Do đó, khái quát,phản ánh hiện thực xã hội chính là chức năng cơ bản của nhân vật văn học.Nhân vật thể hiện các mối quan hệ ấy phần nào qua tính cách cá nhân Nhânvật còn mang trong nó quan niệm về tính cách và tư tưởng về cuộc đời mà tác