1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghệ thuật trữ tình thơ nôm truyền tụng của hồ xuân hương

63 1,7K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghệ thuật trữ tình thơ nôm truyền tụng của hồ xuân hương
Tác giả Nguyễn Thị Huế
Người hướng dẫn TS Trương Xuân Tiếu
Trường học Trường đại học Vinh
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Bản tóm tắt khoá luận
Năm xuất bản 2003
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 226,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoặc cũng có ngời chú ý nhiều đến vấn đề “dâm”và “tục”Trần Thanh Mại, có ngời cho thơ bà là “thi trung hữu quỷ” Tản Đà, có ngời lại cho bà là “nhà đại t tởng, đại cách mạng” Hoa Bằng Hoà

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

Trờng đại học vinhKhoa ngữ văn

========

nguyễn thị huế

nghệ thuật trữ tình trong thơ nôm truyền tụng của hồ xuân hơng.

Bản tóm tắt khoá luận

(Chuyên ngành văn học viêt nam)

ngời hớng dẫn : TS trơng xuân tiếu

Vinh, năm 2003.

Trang 2

1.2.1.4 Thơ trữ tình có ý nghĩa phê phán xã hội 201.2.2 Nghệ thuật trữ tình trong thơ Nôm Đờng luật 231.2.2.1 Trữ tình bằng ớc lệ tợng trng 231.2.2.2 Trữ tình bằng tả cảnh ngụ tình 251.2.2.3 Trữ tình bằng trào lộng, trào phúng 271.2.2.4 Trữ tình bằng tự bạch, tự thán 29

Chơng 2 Nghệ thuật trữ tình trong thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hơng

332.1 Thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hơng chủ yếu là thơ trữ tình 332.2 Thơ trữ tình của Hồ Xuân Hơng không phải là thơ của nhà nho… 37 372.3 Nội dung trữ tình trong thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hơng 412.3.1 Thái độ bất bình, tố cáo sự bất công của xã hội phong kiến… 37 412.3.2 Đề cao con ngời phụ nữ, con ngời cá nhân 43

2.4 Nghệ thuật trữ tình trong thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hơng 50

Trang 3

2.4.1 Trữ tình bằng tự tình 50

2.4.2 Trữ tình bằng tả cảnh ngụ tình 55

2.4.3 Trữ tình bằng trào lộng, trào phúng 60

2.4.4 Trữ tình bằng các biện pháp tu từ 65

2.4.5 ẩn dụ 65

2.4.5.1 Chơi chữ 66

2.4.5.2 Từ láy và thủ pháp trơng phản 68

2.4.5.3 Trữ tình bằng nhịp thơ, câu thơ 71

Kết luận 74

Th mục 75

Lời giới thiệu.

Hồ Xuân Hơng không chỉ là nữ sĩ nổi tiếng trong thơ ca Trung đại mà

còn là một nhà thơ có vị trí lớn trong lịch sử thơ ca Việt Nam Khi nhắc đến những nhà thơ có cái gì đó đặc biệt, phá cách hẳn không ai không nghĩ đến Hồ Xuân Hơng Bà rất xứng đáng với danh hiệu mà nhà thơ Xuân Diệu đã từng gọi - “Bà Chúa thơ Nôm”

Từ trớc đến nay, khi nghiên cứu, tiếp cận thơ Hồ Xuân Hơng, ngời ta vẫn cho bà là một nhà thơ trào phúng.Từ đó, ngời ta thờng chú ý nhiều đến tiếng cời trào phúng trong thơ bà Hoặc cũng có ngời chú ý nhiều đến vấn đề

“dâm”và “tục”(Trần Thanh Mại), có ngời cho thơ bà là “thi trung hữu quỷ” (Tản Đà), có ngời lại cho bà là “nhà đại t tởng, đại cách mạng” (Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm)v.v… 37 Nhìn chung, đã có rất nhiều vấn đề đợc quan tâm trong thơ Hồ Xuân Hơng song có lẽ không nhiều ngời nhìn nhận Hồ Xuân

H-ơng với t cách là nhà thơ trữ tình, đặc biệt, nghệ thuật trữ tình trong thơ Hồ

Trang 4

Xuân Hơng thì ngời ta đề cập đến còn rất ít Là một ngời yêu thích Hồ XuânHơng, nhân một lần đợc đọc quyển “Hồ Xuân Hơng - Thơ trữ tình” của Nhàxuất bản Hội nhà văn do Lại Nguyên Ân biên tập và đợc sự gợi ý của thầy giáohớng dẫn, tôi đã đi vào tìm hiểu về Hồ Xuân Hơng dới góc độ là một nhà thơ

trữ tình mà cụ thể là đi vào tìm hiểu nghệ thuật trữ tình trong thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hơng Vậy, Hồ Xuân Hơng thực chất là nhà thơ trữ

tình hay nhà thơ trào phúng? Nghệ thuật trữ tình trong thơ Nôm truyền tụngcủa Hồ Xuân Hơng đợc thể hiện nh thế nào? Luận văn của chúng tôi sẽ cốgắng đi vào tìm hiểu những vấn đề đó Trong quá trình tìm hiểu, chúng tôikhông chỉ khẳng định Hồ Xuân Hơng là nhà thơ trữ tình, không chỉ tìm hiểu

về nghệ thuật trữ tình mà qua đó còn chỉ ra các khía cạnh trữ tình sâu xa trongthơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hơng để từ đó thấy đợc hồn thơ của nữ sĩ

họ Hồ

Trong thời gian thực hiện luận văn này, chúng tôi đã nhận đợc sự giúp

đỡ tận tình của thầy giáo hớng dẫn và các thầy cô trong khoa Ngữ văn cùngnhiều bạn bè Chúng tôi xin đợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô vàcác bạn, xin kính chúc thầy cô, các bạn sức khoẻ, hạnh phúc và thành đạt

Trang 5

số bài đã đợc chọn đem vào giảng dạy trong chơng trình văn học ở trờng phổthông (Tự tình I, Tự tình II, Mời trầu, Bánh trôi nớc, Đề đền Sầm Nghi Đống) Thực tế và hoàn cảnh tiếp nhận ở tr

tôi đi vào tìm hiểu, nghiên cứu thơ Hồ Xuân Hơng nói chung, nghệ thuật trữtình trong thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hơng nói riêng

Trong giới nghiên cứu, ngời ta cha thống nhất về hiện tợng Hồ Xuân

H-ơng Có ngời cho bà là nhà thơ trào phúng, lại có ngời cho bà là nhà thơ trữtình, cũng có ngời cho bà là nhà thơ hiếu dâm đến cực độ… 37Thực chất, thơ HồXuân Hơng cũng có một số bài thiên về trào phúng: Trách Chiêu Hổ, Mắnghọc trò dốt, Vịnh s, S bị ong châm … 37Nhng đa số thơ Hồ Xuân Hơng là thơ trữtình Và thực chất những bài mà ta cho là thiên về trào phúng thì xét đến cùngbản chất của nó vẫn là những tiếng nói trữ tình mang giá trị nhân văn sâu sắc

Nghệ thuật trữ tình trong thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hơng rất

độc đáo, chính nó tạo nên những yếu tố kỳ diệu, tạo nên sức hấp dẫn cho ngời

đọc Cho nên đi vào tìm hiểu nghệ thuật trữ tình trong thơ Nôm truyền tụngcủa Hồ Xuân Hơng chắc chắn sẽ có nhiều điều thú vị Đây cũng là một nguyênnhân khiến chúng tôi đi vào tìm hiểu đề tài này

Trang 6

Nghiên cứu thơ Hồ Xuân Hơng, có ngời cho bà là nhà “đại t tởng, đạicách mạng”(Hoa Bằng) nhng có ngời cho thơ bà “chỉ là tiếng nói đòi hỏi dụcvọng bản năng thấp hèn”(Trần Thanh Mại) Đó những quan niệm cực đoan,phiến diện Đi vào nghiên cứu thơ Hồ Xuân Hơng chúng tôi chỉ muốn khẳng

định bà là một nhà thơ lớn, là nhà thơ trữ tình độc đáo nhất trong làng thơNôm Việt Nam

2 Phạm vi nghiên cứu

Đối tợng nghiên cứu của khoá luận là thơ Nôm truyền tụng của HồXuân Hơng Vì vậy, trong quá trình tìm hiểu chúng tôi sẽ dựa vào một số tàiliệu đợc nhiều ngời thừa nhận nh: “Thơ Nôm Đờng luật” (Lã Nhâm Thìn),

“Hồ Xuân Hơng – thơ và đời” (Lữ Huy Nguyên), “Lạm bàn thơ Hồ Xuân

H-ơng” (Trần Khải Thanh Thuỷ) và gần đây trong tủ sách thơ trữ tình của Nhàxuất bản Hội nhà văn- Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây- cùng với việccho xuất bản thơ trữ tình của các nhà thơ nh: Nguyễn Bính, Xuân Diệu, HànMạc Tử… 37 đã cho xuất bản cuốn thơ trữ tình của Hồ Xuân Hơng Tất cả nhữngtài liệu này đều xác định thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hơng có khoảng

50 bài và một số bài trữ tình đợc rút trong tập “Lu Hơng ký” đợc viết bằngchữ Hán, phát hiện năm 1964 ở đây, chúng tôi chỉ đi vào tìm hiểu những bàithơ trong phần thơ Nôm truyền tụng còn phần “Lu Hơng ký” chúng tôi chỉdùng để đối chiếu khi cần thiết

Thơ Nôm trữ tình cũng đã đợc nhiều giáo trình, chuyên luận, nhiều côngtrình nghiên cứu về các mặt nh: nội dung, ngôn ngữ, đề tài Về nghệ thuật, ng-

ời ta đã có nghiên cứu về mặt kết cấu, về các biện pháp tu từ, về thể loại… 37.và

đã có những đóng góp hết sức quan trọng ở đây, với t cách là một khoá luậntốt nghiệp, chúng tôi chỉ đi vào nghiên cứu nghệ thuật trữ tình trong thơ Nômtruyền tụng của Hồ Xuân Hơng trên phơng diện thể loại chứ không bao quáthết đợc tất cả các mặt

Trong quá trình nghiên cứu, chắc chắn sẽ cần so sánh đối chiếu, chúngtôi cũng sẽ chỉ so sánh, đối chiếu với những bài thơ Đờng luật của các tác giảkhác chứ không so sánh đối chiếu với các tác phẩm không cùng thể loại

3 Lịch sử vấn đề

Khi nghiên cứu một tác phẩm văn học ngời ta không chỉ nghiên cứuphần nội dung mà còn quan tâm nhiều đến mặt nghệ thuật Nội dung tạo nên

Trang 7

hình thức còn hình thức lại biểu hiện nội dung Do vậy, nghiên cứu về thơ HồXuân Hơng chúng ta cũng cần đi vào mặt nghệ thuật, tìm hiểu xem nghệ thuậttrữ tình trong thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hơng đợc biểu hiện nh thếnào? Bằng hình thức gì ?

Về nghệ thuật trữ tình trong thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hơng từtrớc đến nay cha có một công trình nào chuyên sâu Các nhà nghiên cứu thờngbàn nhiều về tiếng cời, tiếng khóc; về vấn đề dâm, tục; vấn đề t tởng… 37Cònnghệ thuật trữ tình chỉ là một mục nhỏ nằm lẫn vào trong các vấn đề khác rất ít

đợc nói đến Điều đó cũng gây nên một số khó khăn trong việc tìm kiếm tàiliệu, trong việc định hớng chung nhng lại tạo cơ hội cho việc phát hiện ranhững điều mới lạ Từ giới hạn là một khoá luận tốt nghiệp, chúng tôi chỉ cóthể giới thiệu rất khiêm tốn một số bài viết, bài nghiên cứu có đề cập đến nghệthuật trong thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hơng nh sau:

Phạm Thế Ngũ trong khi nói về “Đặc sắc trong thơ Nôm Hồ Xuân

H-ơng” đã cho thơ Nôm Hồ Xuân Hơng là “lối thơ Nôm thuần tuý” : “Về mặtnghệ thuật ta cũng chỉ thấy thơ Hồ Xuân Hơng chính là sự vơn lên của vănnghệ bình dân”, là “thơ tả nghĩa chân đôi” : “Bài thơ thờng có hai nghĩa, mộtnghĩa gần gũi và ngay thực về sự vật ở nhan đề, một nghĩa xa xôi ranh mãnh là

câu chuyện tục” (Hồ Xuân Hơng – Về tác gia và tác phẩm NXBGD – H

2002, tr 120,121 )

Ta thấy rằng, ở đây Phạm Thế Ngũ mới chỉ chú ý đến mặt nghệ thuậtthơ Hồ Xuân Hơng nói chung chứ cha chú ý đến nghệ thuật trữ tình Hơn nữa ,nếu nói về nghệ thuật thơ Hồ Xuân Hơng mà chỉ có chừng đó thì vẫn cha baoquát hết đợc các mặt nghệ thuật trong thơ Hồ Xuân Hơng

Nguyễn Hồng Phong cũng giành một phần để viết về nghệ thuật thơ HồXuân Hơng.Trớc hết, tác giả này cũng đồng ý kiến với Phạm Thế Ngũ ở chỗkhẳng định mặt nổi bật nhất trong nghệ thuật thơ Hồ Xuân Hơng là “do nơi bà

đã hấp thu và phát huy đợc vốn văn nghệ dân gian phong phú Những cái gìthành công, những cái gì là tinh tuý, là tuyệt diệu của nghệ thuật thơ Hồ XuânHơng đều có liên quan đến nền văn nghệ dân gian mà thi sĩ đã rất thấm nhuần”(Hồ Xuân Hơng – Sđd tr 131) Từ điểm nhìn đó, tác giả nhấn mạnh nghệthuật trào lộng và nghệ thuật tả cảnh độc đáo cùng nghệ thuật tả thực sắc sảo ởthơ Hồ Xuân Hơng Tác giả viết: “Xuân Hơng là nhà thi sĩ độc nhất có ngòi

Trang 8

bút tả thực một cách sắc sảo, có ngòi bút tả thực trào lộng bậc thầy” (Hồ XuânHơng - Sđd, tr.135).

Ta thấy rằng, Nguyễn Hồng Phong đã chú ý nhiều đến nghệ thuật trongthơ Hồ Xuân Hơng nhng tác giả này lại xuất phát từ điểm nhìn văn hoá dângian và xem đó có ảnh hởng thế nào đến nghệ thuật thơ Hồ Xuân Hơng chứcha đứng ở khía cạnh qua đó tác giảc bộc lộ tình cảm chủ quan của mình

Thanh Lãng khi nói đến nghệ thuật thơ Hồ Xuân Hơng đã chú ý so sánhnhững cái mới của thơ bà với các tác giả trớc và cùng thời với bà Thanh Lãng

đã nhấn mạnh đến lối thơ phá cách của Xuân Hơng trên nhiều phơng diện: Tảcảnh, ngôn ngữ, đề tài và đặc biệt Thanh Lãng có đả động một chút đến cáchdiễn tả tình cảm của Hồ Xuân Hơng Thanh Lãng viết: “Hồ Xuân Hơng là mộttrong những ngời đầu tiên dùng chữ nôm na để diễn tả tình ý Và là ngời tiênphong trong phong trào dùng toàn tiếng Việt Nam để diễn tả t tởng” (HồXuânHơng –Sđd, tr.139)

Thanh Lãng đã nói những cách bộc lộ tình cảm Hồ Xuân Hơng Tuynhiên “cách dùng chữ nôm na” và “cách dùng toàn tiếng Việt Nam” để diễn tả

“tình ý”, “t tởng” mới chỉ là một yếu tố trong nghệ thuật trữ tình của thơ Nômtruyền tụng của Hồ Xuân Hơng

Trong bài viết “Luận về thơ Hồ Xuân Hơng”, Hà Nh Chi lại một lần nữakhai thác nghệ thuật thơ Hồ Xuân Hơng ở chỗ thơ bà thờng dùng lời thơ của cadao, tục ngữ, thoát ra ngoài khuôn sáo, không dùng điến cố Hán văn … 37 Hà

Nh Chi viết : “lời thơ lại mau lẹ không cầu kỳ óng chuốt chứng tỏ rằng thơcủa bà đã trực tiếp biểu lộ tình cảm của bà” (Hồ Xuân Hơng-Sđd, tr 149)

ở đây, Hà Nh Chi đã phát hiện ra Hồ Xuân Hơng bộc lộ tình cảm mộtcách trực tiếp, không vòng vo, không dùng sáo ngữ Tuy nhiên không phảiXuân Hơng bao giờ cũng bộc tuệch, nói thẳng về tình cảm, tâm sự của mình.Nhiều khi, thi sĩ của chúng ta cũng rất kín đáo, rất nhẹ nhàng, nữ tính, giántiếp bộc lộ tình cảm, khát vọng của mình Tất nhiên, ta cũng không chê trách

Hà Nh Chi đã phiến diện bởi “Luận về thơ Hồ Xuân Hơng” của ông khôngphải là công trình chuyên sâu về nghệ thuật trữ tình của thơ Hồ Xuân Hơng

Nh thế, qua một vài bài viết, một vài công trình của các tác giả về nghệthuật thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hơng ta thấy rằng các nhà nghiên cứuvẫn cha đi sâu vào nghiên cứu nghệ thuật trữ tình trong thơ Nôm truyền tụng

Trang 9

của Hồ Xuân Hơng Những công trình có đề cập đến thì chỉ là một phần nhỏnằm lẫn với các phần khác và nó cũng cha trọn vẹn Điều đó nói lên rằng

“mảnh đất” mà chúng tôi khám phá vẫn cha đợc cày xới nhiều mà mới chỉ cónhững nhát cuốc vỡ vạc đầu tiên Trong quá trình tìm hiểu chúng tôi sẽ cốgắng khám phá để đem lại sự mới mẻ cho ngời đọc trên cơ sở kế thừa và pháthuy Kế thừa ở đây là kế thừa phơng pháp, cách nhìn còn phát huy là phát huy

về mặt nội dung vấn đề, tức tìm hiểu cụ thể về nghệ thuật trữ tình trong thơNôm truyền tụng của Hồ Xuân Hơng

4 Phơng pháp nghiên cứu

Nghiên cứu về Hồ Xuân Hơng không phải là một việc dễ dàng cho nênkhông thể tiến hành nghiên cứu một cách tự do, tự phát Với mục đích tìmhiểu và giải quyết đề tài một cách sâu sắc, toàn diện chúng tôi sử dụng các ph-

ơng pháp nghiên cứu sau:

Phơng pháp phân tích tổng hợp nhằm cụ thể hoá, khái quát hoá để rút ranhững kết luận có cơ sở khoa học về đặc điểm nghệ thuật trữ tình trong thơNôm truyền tụng của Hồ Xuân Hơng

Sử dụng phơng pháp miêu tả, so sánh, đối chiếu để thấy đợc nét độc

đáo, riêng biệt trong nghệ thuật trữ tình của Hồ Xuân Hơng

Sử dụng phơng pháp thống kê, phân loại để tìm ra đặc trng chung, tìm

ra các mặt biểu hiện của nghệ thuật trữ tình một cách có khoa học (dựa trênnhững số liệu cụ thể)

Chúng tôi nghiên cứu thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hơng dựa trênhai nguyên tắc là: Nguyên tắc đồng đại (đặt trong mối quan hệ với các tác giảcùng thời) và nguyên tắc lịch đại (đặt trong mối quan hệ với tiến trình pháttriển của lịch sử văn học dân tộc) để từ đó thấy đợc nét tơng đồng và dị biệt

trong nghệ thuật trữ tình của thơ Hồ Xuân Hơngv.v

5 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung khóa luận này cóhai chơng :

Chơng 1 : Nghệ thuật trữ tình trong thơ Nôm Đờng luật

Chơng 2 : Nghệ thuật trữ tình trong thơ Nôm truyền tụng của Hồ XuânHơng

Trang 10

Phần II phần Nội dung

Chơng1 nghệ thuật trữ tình trong thơ nôm đờng luật

1.1 Giới thuyết chung về nghệ thuật trữ tình:

1.1.1 Khái niệm trữ tình.

Theo nghĩa của từ Hán Việt, “trữ” có nghĩa là kéo ra, rút ra, bộc lộ, bày

tỏ còn “tình” có nghĩa là tình cảm, cảm xúc (Theo khoá luận tốt nghiệp “Nghệ thuật trữ tình trong truyện ngắn của R.Tagor – Thạc sỹ Nguyễn VănHạnh hớng dẫn, tr.10) Hiểu một cách cơ bản nhất “trữ tình” nghĩa là bộc lộtình cảm, thái độ, cảm xúc

Theo “Từ điển thuật ngữ nghiên cứu văn học” (Lê Bá Hán chủ biên –NXBĐHQG – H.2000, tr.316) thì trữ tình là một trong ba phơng thức thể hiện

đời sống (bên cạnh tự sự và kịch ) làm cơ sở cho loại tác phẩm văn học Nếu tự

sự thể hiện t tởng, tình cảm của tác giả bằng con đờng tái hiện một cách kháchquan các hiện tợng đời sống thì trữ tình lại phản ánh đời sống bằng cách bộc lộtrực tiếp ý thức của con ngời nghĩa là con ngời tự cảm thấy mình qua cảm xúcchủ quan của mình đối với thế giới và nhân sinh ở đây nguyên tắc chủ quan lànguyên tắc cơ bản trong việc chiếm lĩnh hiện thực, là nhân tố cơ bản quy địnhnhững đặc điểm cốt yếu của tác phẩm trữ tình

Nh vậy, trữ tình là bộc lộ thái độ, tình cảm và nó gắn bó chặt chẽ với tínhchủ quan của nhân vật trữ tình

1.1.2 Bút pháp trữ tình.

Theo “Từ điển tiếng Việt”: “ Bút pháp là cách dùng ngôn ngữ hoặc ờng nét, màu sắc, hình khối, ánh sáng để biểu hiện hiện thực, thể hiện t tởngtrong tác phẩm nghệ thuật” (Từ điển tiếng Việt – NXB Đà Nẵng 2002 ) ở

đ-đây, bút pháp trữ tình là cách sử dụng chất liệu ngôn từ để biểu hiện hiện thực

Trang 11

Từ đó, ta có thể kết luận, nghệ thuật trữ tình chính là cách thức, biện phápbộc lộ tình cảm của tác giả trong toàn bộ nội dung mà nó thể hiện.

1.2 Nghệ thuật trữ tình trong thơ Nôm Đờng luật:

1.2.1 Các dạng thơ trữ tình trong thơ Nôm Đờng luật.

1.2.1.1 Thơ trữ tình đạo lý.

Thơ trữ tình đạo lý là loại thơ lấy đạo đức, lễ giáo phong kiến làm

t tởng chủ đề ở đây, con ngời, sự việc, tình cảm, các mối quan hệ đều đợcnhìn nhận từ góc độ đạo đức, t tởng phong kiến Tức nó phải tuân theo, phải h-ớng đến cái chuẩn đã định sẵn trong xã hội Thơ trữ tình đạo lý hớng đến việcchấn chỉnh kỷ cơng, đạo thánh hiền, xây dựng một nhà nớc phong kiến vữngchắc

Đạo đức phong kiến thờng lấy “Tam cơng ngũ thờng ” làm cơ sở t tởng.Vì thế thơ trữ tình đạo lý thờng là tiếng nói ca ngợi những con ngời trung,hiếu, tiết, nghĩa; là tiếng nói tuyên truyền về bổn phận làm tôi, bổn phận làmcon; là tiếng nói ca ngợi những ông vua sáng, những bậc tôi hiền

Thơ trữ tình đạo lý trong thơ ca Trung đại nói chung, trong thơ Nôm ờng luật nói riêng chiếm số lợng khá lớn Ngay trong lực lợng sáng tác và số l-ợng các tác phẩm, đề tài đạo lý luôn chiếm tỷ lệ lớn Đặc biệt trong nhữngnăm từ thế kỷ XVI trở đi, khi chế độ phong kiến bắt đầu suy vi, những hành vixấu xa, những hiện tợng tiêu cực đầy rẫy trong xã hội thì vấn đề đạo lý trởthành một nôi dung chủ yếu trong sáng tác của các nhà thơ Lực lợng sáng tácthơ đạo lý đa phần là vua quan hoặc những nhà nho có ớc muốn đợc sđem thânmình, tài năng của mình ra giúp đời Tiêu biểu Nguyễn Trãi, Nguyễn BỉnhKhiêm, Nguyễn Công Trứ… 37

Trang 12

Đ-Nguyễn Bỉnh Khiêm là một đại biểu nổi bật của thơ văn đạo lý, luôn longại trớc thế tình điên đảo, lòng ngời ngả nghiêng, con ngời chạy theo điều ác,chạy theo danh lợi, việc danh nghĩa chẳng ai màng Nguyễn Bỉnh Khiêm muốn

đa hết sức mình ra giúp nớc nhng “ sau nhiều năm rong ruổi, gắng hết sứcmình mà vẫn không thể nào xoay chuyển đợc tình thế, đem lại cảnh thái bìnhthịnh trị cho đất nớc Nguyễn Bỉnh Khiêm đành ngậm ngùi trở về quê để bảotoàn danh tiết ”, nhà thơ nêu cao đạo lý làm ngời, chỉ vạch cho ngời đời: “ nếu

biết lấy trung làm bến chính , giữ đợc đúng mức thì mọi việc trong thiên hạ cứ

do đó mà thi thố ra để đi đến chỗ tận thiện” (Đinh Gia Khánh - Văn học ViệtNam từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XVI, tr.398) Những điều mà NguyễnBỉnh Khiêm khuyên răn ngời đời đều nằm trong khuôn khổ lễ giáo phong kiến

Thơ đạo lý của Nguyễn Trãi là tiếng nói của một tâm hồn yêu nớc nồngnàn Nguyễn Trãi ớc mơ đợc đem cái tài của mình ra giúp nớc Và quả thật,suốt cả cuộc đời mình Nguyễn Trãi đã đa hết tài năng ra giúp dân, cứu nớc.Thơ văn của ông là khát vọng hành đạo để thực hiện lý tởng của mình ThơNguyễn Trãi thể hiện lý tởng chiến đấu vì độc lập của tổ quốc, vì một lý tởngnhân nghĩa:

Bui một tấc lòng u ái cũ

Đêm ngày cuồn cuộn nớc triều đông

(Thuật hứng 5)

Con ngời ấy bao giờ cũng gắn bó với nhân dân, với đất nớc, với cuộc

đời Vì thế cho nên dù là khi ở tuổi xông pha trên chính trờng hay khi đã vềsống ẩn dật nơi Côn Sơn thanh bạch thì tâm hồn Nguyên Trãi cũng cha bao giờnguôi khát khao đợc lo cho dân và “dĩ đáp ân quân” (báo đáp ơn vua )

Nếu nh tiếng thơ đạo lý của Nguyễn Trãi là khát vọng đợc hành đạo thìthơ trữ tình đạo lý của Lê Thánh Tông lại là tiếng nói tự hào về đất nớc thờithịnh trị

Vì là ngời cầm đầu bộ máy cai trị, thơ Lê Thánh Tông thờng liên quansâu sắc đến chế độ phong kiến Thơ ông thờng là những lời thuyết giáo cho

đạo đức phong kiến hoặc những câu tán tụng minh quân lơng tớng (vua hiền ớng tốt), hiếu tử trung thần (con hiếu tôi trung) Thơ Lê Thánh Tông bám sátnhiệm vụ mà giai cấp ông đòi hỏi

Trang 13

Thời Lê Thánh Tông là thời hng thịnh của nhà hậu Lê, cho nên ngoàinhững lời thuyết giáo cho một chính quyền phong kiến vững chắc còn có những bài ca ngợi xã hội, đất nớc thịnh trị:

Hiếu tôn Hồng Đức thừa phi tự

Bát bách Cơ Chu lạc trị bình

(Minh lơng)

(Cháu hiếu là Hồng Đức này nối giữ nghiệp lớn

Vui thấy cuộc trị bình sẽ đợc lâu nh đời Cơ Chu 800 năm)

Có khi nhấn mạnh trách nhiệm của mình với nhân dân :

Lòng vì thiên hạ những sơ âu

Thay việc trời dám trễ đâu

(Tự thán)

Có khi là lòng tự hào vì non sông đất nớc tơi đẹp, hùng vĩ Trong bài

“Vịnh làng Chế ”, tác giả ca ngợi cảnh non nớc hữu tình, chợ búa tấp nập đồngthời có liên hệ đến chính sách huê dân :

Mênh mang khóm nớc nhuộm màu lam

Chận ngất đỉnh non lồng bóng quếChợ họp bên sông gẫm có chiềuThuyền bày trên đất xem nhiều thếCảnh vật bằng dây hoạ có haiVì dân khoan giản bên tô thuế

Nhìn chung, dù là buồn hay vui, dù tích cực hay tiêu cực thì thơ trữ tình

đạo lý cũng xoay quanh các mối quan hệ “Tam cơng ngũ thờng”, cũng lànhững vấn đề về quốc gia dân tộc Điều này xuất phát từ đặc điểm đạo đức và

t tởng của xã hội phong kiến Trong xã hội đó, một tác phẩm nổi tiếng phải cónhững nội dung đề cập đến những vấn đề to lớn, những mối quan hệ cơ bảntrong xã hội Ngời ta ít quan tâm đến những vấn đề trong cuộc sống đời thờng,hoặc nếu có quan tâm thì mục đích cuối cùng vẫn là mục đích xây dựng mộtnhà nớc phong kiến vững chắc mà trong xã hội đó “Dân giàu đủ khắp đòi ph -

ơng” Vì vậy, cũng dễ hiểu vì sao trong thơ trữ tình Trung đại thể loại này lạiluôn là chủ đạo

1.2.1.2 Trữ tình thế sự.

Trang 14

Trữ tình thế sự là loại thơ “ghi lại những xúc động, những cảm nghĩ vềcuộc đời và thế thái nhân tình Trong những thời kỳ lịch sử nhiều biến động,nhiều sự việc cha rõ ràng thì thơ trữ tình thế sự gợi ý cho ngời đọc đi sâu, suynghĩ về thực trạng trong xã hội” (Lí luận văn học - Sđd, tr 364)

Các nhà Nho xa thờng có hai loại: một lọai nhà nho có khả năng thựchiện lí tởng của mình thì xuất thế, hăng hái giúp đời Loại nhà Nho thứ hai lànhững nhà Nho bất nh ý, họ ở ẩn, không màng danh lợi Thực sự những ngời

về ở ẩn có xa rời thế thái nhân tình hay không ? Thiết nghĩ, một con ngời luôn

có khát khao xây dựng xã hội, kỷ cơng thì ở ẩn chẳng qua chỉ là một hình thứcquan tâm đến thế sự một cách gián tiếp chứ không phải hoàn toàn rũ bỏ tất cả

Và chính những nhà Nho đó cũng sẽ ghi lại những cảm xúc (dù là cảm xúctiêu cực) về cuộc đời và nhân tình thế thái

Nguyễn Bỉnh Khiêm đã phản ánh đợc nỗi lòng, tâm sự, suy nghĩ củamình trớc thời cuộc - xã hội phong kiến mục nát kìm hãm con ngời Qua rấtnhiều bài thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thể hiện điều này

Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh ra trong xã hội mục nát, cơng thờng rệu rã,

ông đã sống nh một ẩn sĩ, cố quên đi thời cuộc nhng rồi với tấm lòng của mộtcon ngời có trách nhiệm với dân với nớc, dù có về ở ẩn, vị c sĩ này vẫn khôngnguôi nỗi ái u vì đất nớc Có khi Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện thái độ ungdung, lãnh đạm trớc cuộc đời :

Yên đòi phận dầu t tại

Lành giữ khen chê cũng mặc ai

Thơ Nguyễn Trãi là nỗi buồn của một con ngời muốn lo cho dân mà

ch-a vẹn nghĩch-a Thấy cuộc đời buồn, quch-anh co, phức tạp, ông viết :

Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn

Lòng ngời quanh tựa nớc non quanh

Tác giả sống một cuộc sống giản dị :

Trang 15

Cơm ăn chẳng quản da muối

áo mặc nài chi gấm thêu

(Thuật hứng, bài 23)

Thơ ông ít nặng về thế sự đã đành, thỉnh thoảng ông có nói đến thì ôngcũng chỉ nói qua lòng mình, trữ tình thế sự qua nội tâm là chủ yếu Đến HồXuân Hơng những con ngời cụ thể đã xuất hiện: anh học trò dốt, cô gái chửahoang, ngời phụ nữ chết chồng, s hổ mang… 37 Xuân Hơng cũng đề cập đếnnhiều mặt của cuộc sống: đánh đu, dệt cửi, tế tự nơi chùa chiền, thăm thú cácdanh lam… 37 Nó không còn là thơ nói đến thế sự chung chung kiểu “ng tiềucanh mục” trong “Hồng Đức quốc âm thi tập”; những nghèo giàu, sang hèn

nh trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, nó cũng không mang tính phạm trù, côngthức có sẵn mà là những con ngời, những sự việc cụ thể, đời thờng

Nếu Nguyễn Bỉnh Khiêm khi bất đắc chí đã tìm đờng thoát tục thì tráilại, Nguyễn Công Trứ lại theo t tởng nhập thế Nguyễn Công Trứ có ý thức vềcuộc sống và chú ý nhiều đến các vấn đề của cuộc sống Đó là cảnh nghèo : Kìa ai bốn vách tờng mo ba gian nhà cỏ

Đầu kèo mọt tạc vẽ sao, trớc cửa nhện giăng màn gió Cũng có khi là những lời tố cáo sắc sảo về thế thái nhân tình Thế tháinhân tình của Nguyễn Công Trứ là thấm thía tình cảnh của ngời lép vế trongxã hội, về đạo đức của bọn phong kiến, quan lại :

Đéo mẹ nhân tình đã biết rồi

Lạt nh nớc ốc bạc nh vôi

Xuân Hơng cũng có thái độ phẫn khích trớc xã hội nhng cái quan tâmcủa bà không phải là những vấn đề về đạo đức phong kiến mà là những tìnhcảm nh là goá bụa, làm lẽ, chửa hoang… 37

Nh thế có thể khẳng định trữ tình thế sự cũng là một dạng thức rất tiêubiểu trong văn học Trung đại

1.2.1.3 Trữ tình phong cảnh

Đây là những bài thơ nói về mối quan hệ giữa con ngời với thiênnhiên, biết nhận ra vẻ đẹp của thiên nhiên, biết giao hoà tình cảm với thiênnhiên

Với các nhà thơ cổ điển, thiên nhiên là đề tài muôn thuở cho nên hầu

nh các nhà thơ Trung đại ai cũng có thơ viết về phong cảnh Các thi nhân

Trang 16

th-ờng mợn phong cảnh để nói lên nỗi lòng tâm sự của mình Lã Nhâm Thìn cóviết : “Đề tài thiên là mảng tờng để treo lên những bức tranh cuộc sống và tâmtrạng tác giả ” (Thơ Nôm Đờng luật – Sđd, tr 57) Quả thật, một tiếng chimkêu, một ngọn gió thoảng, một mảnh trăng thu đều có thể làm rung động tơlòng nhà thơ.

Nguyễn Trãi viết rất nhiều về thiên nhiên Thiên nhiên trong thơNguyễn Trãi phong phú và đa dạng, là “ một kích thớc để đo tâm hồn” (XuânDiệu) Nguyễn Trãi viết về một trong những loại cây của bộ tứ bình :

Hoa nẩy cây nên thở đốc sơng

Chẳng tàn chẳng cỗi hãy phong quang

Tự bén hơi xuân tốt lại thêm

Đầy buồng lạ mầu thâu đêmTình th một bức phong còn kínGió nơi đâu gợng mở xem

(Cây chuối) Quét trúc bớc qua lòng suối Thởng mai về đạp bóng trăng

Trang 17

Bớc tới Đèo Ngang bóng xế tà

Cỏ cây chen đá lá chen hoa Lom khom dới núi tiều vài chú Lác đác bên sông chợ mấy nhà

(Qua Đèo Ngang)

Hồ Xuân Hơng cũng viết nhiều về thiên nhiên (khoảng 15/50 bài) với

“những cảnh bình thờng mà cao rộng, có hình khối, có cây, có gió, có âmthanh sắc màu” (Nguyễn Lộc—Sđd , tr 404), cảnh nào cũng cựa quậy, cũngsống động, cũng vui… 37 Thiên nhiên trong thơ Hồ Xuân Hơng không tiêu taonhẹ nhàng mà là “xiên ngang”, “đâm toạc”, là “lún phún”, “lam nham” đầysức sống và nhiều khi pha chút trào phúng hóm hỉnh:

Giữa in chiếc bích khuôn còn méo

Ngoài khép đôi cung cánh vẫn khòm

(Trăng thu ) Trời đất sinh ra đá một chòm

Nứt làm đôi mảnh hõm hòm hom

(Hang Cắc Cớ)Chính những điều đó làm nên nét riêng cho thơ Hồ Xuân Hơng

đó, nếu đã tốt thì họ ca ngợi hết mình và ra sức xây đắp nhng nếu nó tiêu cựcthối nát thì lại muốn dựng nên một thiết chế phong kiến khác tích cực hơn Vàkhi chí lớn không thành, các nhà Nho mặt khác lại tìm đến chữ “nhàn”, tìm về

ở ẩn Thơ của họ thờng thể hiện thái độ phê phán sâu sắc trật tự xã hội màmình đang sống

Trang 18

Nguyễn Công Trứ không chỉ có những câu thơ buồn về “nhân tình thếthái”, không chỉ có những câu thơ tỏ chí nam nhi mà ông còn có những câu thơ

đập thẳng vào bộ mặt xấu xa thối nát của bộ máy cai trị hay nói đúng hơn làbọn vua quan đại diện cho bộ máy cai trị đó

Điều này cũng có thể lý giải đợc vì Nguyễn Công Trứ sống trong mộtgiai đoạn lịch sử “đặc biệt”- nhà Tây Sơn bị diệt vong, Nguyễn ánh lên thay Nhà Nguyễn vào thời kỳ này không phải tiêu biểu cho một lực lợng mới trongxã hội nh sự thay thế các triều đại ta vẫn thờng thấy Xã hội này, triều đình chỉ

là công cụ để thực hiện ý muốn của nhà vua Tuy nhiên, những thối nát xấu xavẫn đợc che đậy bằng một bộ mặt giả tạo, nhiều khi đánh lừa đợc những Nho

sĩ thuộc quan lại lớp dới Nguyễn Công Trứ xuất thân trong một gia đình quanlại nhỏ, mới một đời làm quan, ân huệ vói triều đại cũ không có là bao Không

bị vớng mắc trong triều đại cũ, ông hăm hở bớc đi dới triều đại mới nhng càng

đi sâu vào xã hội, Nguyễn Công Trứ càng thấy rõ dần tính chất thối nát của xãhội ấy Những bài thơ “trách đời”, viết về thế thái nhân tình của ông có ý nghĩaphê phán, tố cáo xã hội sâu sắc:

Tuổi tác tuy rằng chửa mấy mơi, Đổi thay mắt đã thấy ba đời

Ra trờng danh lợi vinh liền nhục, Vào cuộc trần ai khóc trớc cời

Chuyện cũ trải qua đà chán mắt , Việc sau nghĩ lại chẳng thừa hơi Đã hay đờng cái thời ra thế , Sạch nợ tang bồng mới kể ngời

(Tình cảnh làm quan ) Nói về bọn vua quan lộng hành ;

Mặc sức đâm thùng và tháo đáy Tha hồ tráo đấu lại lừa thng

Phê phán xã hội mà đồng tiền có thể thâu tóm cả trời đất :

Đủ vuông tròn tợng đất tợng trời Khẳm hoạ phúc nguy yên tử hạt

Đơng om sòm chóp giật sấm ran

Trang 19

Đang xóc xách lại gió hoà ma thuận.

Tiền tài hai chữ son khuyên ngợc Nhân nghĩa đôi đờng nớc chảy xuôi

Không chỉ Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Trãi cũng có những câu thơ có ý nghĩaphê phán xã hội:

Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn Lòng ngời quanh tựa nớc non quanh

Hoa thờng hay héo cỏ thờng tơi

Bởi Nguyễn Trãi cũng sống trong thời mà bọn gian thần thờng xoayquanh xu nịnh vua, nội bộ triều đình tranh giành quyền lực ráo riết, một sốkhông ít những kẻ có quyền lực trớc đây là những ngời lãnh đạo nhân dântrong cuộc kháng chiến giờ đây thoái hoá trở thành những kẻ bóc lột, đàn ápnhân dân trong hoà bình Có thể nói những câu thơ của Nguyễn Trãi đã phơibày tất cả cái xấu xa, bất nhẫn đáng buồn của xã hội và thái độ căm phẫn củatác giả:

Hai chữ công danh chẳng cảm cộc Một trờng ân oán những hầm hè

(Trần tình , bài 8)

Dễ hay ruột bể sâu cạn

Khôn biết lòng ngời vắn dài

( Ngôn chí , bài 5)

Hồ Xuân Hơng cũng có thơ phê phán xã hội nhng bà không phê phánnhân tình thế thái, phê phán những kẻ ham danh lợi, những kẻ xu thời Thơ HồXuân Hơng chỉ châm biếm những đối tợng cụ thể vì lí do cơ bản là những cái

đó tớc đi quyền sống, quyền đợc yêu của con ngời, đặc biệt là ngời phụ nữ.Tiếng nói phê phán chế độ đa thê, phê phán bọn hiền nhân quân tử, vua chúa… 37

đều xuất phát từ sự đòi hỏi quyền lợi đó Cho nên, nếu nói thơ Hồ Xuân Hơngphê phán xã hội một cách khái quát nh ở Nguyến Trãi, Nguyễn Công Trứ thìcha đúng nghĩa Hồ Xuân Hơng phê phán không nhằm mục đích xây dựng lạimột xã hội tốt hơn nh Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Trãi Tiếng nói trữ tình phê

Trang 20

phán trong thơ Hồ Xuân Hơng vì thế cũng khác Chúng ta sẽ tìm hiểu cụ thể ởnhững phần sau.

Trên đây là những dạng thức trữ tình tiêu biểu mà chúng ta thờng gặptrong thơ Nôm Đờng luật Sau đây chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu nghệ thuật trữtình trong thơ Nôm Đờng luật nói chung

1.2.2 Nghệ thuật trữ tình trong thơ Nôm Đờng luật:

1.2.2.1 Trữ tình bằng nghệ thuật ớc lệ tợng trng.

Xã hội phong kiến là một xã hội quy phạm, nền văn học phong kiến do

đó cũng là văn học quy phạm Quy phạm trong thể loại, trong ngôn ngữ, trong

đề tài … 37 Thể loại thờng là thất ngôn bát cú hoặc là thất ngôn tứ tuyệt, ngônngữ thờng dùng chữ Hán với những điển tích, điển cố Trung Hoa… 37 Văn họcphong kiến, khi nói về con ngời thì thờng nói về những con ngời thuộc tầnglớp trên với những “trang”, “đấng”, “bậc”, hoặc ít ra cũng là những giai nhântài tử, cung tần mĩ nữ chứ không đề cập đến cuộc sống của những ngời dân lao

động hay các tầng lớp khác; khi nói về thiên nhiên thì nói đến tùng, trúc, cúc,mai; sự vật là long, ly, quy, phợng Chính vì tính chất quy phạm này quy định

đối tợng phản ánh cho nên văn học phong kiến không phản ánh hết đợc nhữngkhía cạnh khác nhau vốn rất phong phú của cuộc sống mà nó hớng đến mộtbiện pháp nghệ thuật cũng có tính chất quy phạm là nghệ thuật ớc lệ tợng trng– một nghệ thuật chỉ giữ lại những cái phổ biến nhất, tiêu biểu nhất, thờngdiễn đạt bằng những công thức có sẵn, bằng điển cố, bằng hình thức ẩn dụ,hoán dụ hoa mĩ

Trong thơ Nôm Đờng luật, nghệ thuật ớc lệ tợng trng đợc sử dụng mộtcách hết sức phổ biến Khi miêu tả, các nhà thơ thờng lấy thiên nhiên làmchuẩn mực, coi đó nh là một cái chuẩn mà mọi ngời, mọi vật cần đạt đến

Nguyễn Trãi cũng nh các nhà thơ khác thờng mợn hình ảnh cây tùng đểthể hiện t thế hiên ngang của ngời quân tử Cây tùng đợc sử dụng để tợng trngcho ngời quân tử cho nên nó phải đợc miêu tả trong cảnh “ba đông”, “bãobùng” để tỏ rõ t thế ngời quân tử Nghệ thuật này không tính đến những chitiết xác thực của đời sống Nói đến “tứ quý” thì phải có cả tùng, trúc, cúc, mai;nói về thiên nhiên thì phải có đủ bốn hớng đông, tây, nam, bắc; nói về các mùathì phải có xuân, hạ, thu, đông… 37 Nguyễn Trãi còn viết về trúc, cúc, mai để thểhiện khí chất thanh cao, trong sạch của mình :

Trang 21

Hoa liễu chiều xuân cũng hữu tình Ưa mi vì bởi tiết mi thanh.

( Trúc I ) Xuân đến hoa nào chẳng tốt tơi, Ưa mi vì tiết sạch hơn ngời

( Mai II ) Bóng tha ánh nớc động ngời vay

Lịm đa hơng, một nguyệt hay

Huống lại bảng xuân xa chiếm đợc

So tam hữu chẳng bằng mày

( Mai III )

Chuốt lòng đơn chẳng bén tục Bền tiết ngọc kể chi sơng

( Cúc đỏ )Những hình ảnh cao quý đó tợng trng cho vẻ thanh cao, tao nhã của conngời Đó là những hình tợng nghệ thuật có sẵn vì chúng đợc tạo ra từ những -

ớc lệ nghệ thuật có sẵn trong t tởng Các nhà thơ không quan tâm đến việc cócây mai, cây trúc chịu gió sơng thơm mát nh thế ở ngoài đời hay không, điềucác nhà thơ quan tâm là làm sao qua những hình ảnh ớc lệ tợng trng đó thểhiện đợc tâm t, tình cảm, thái độ của mình

Nghệ thuật hiện thực ngày nay không cho phép nh thế Đó là sự pháttriển tất yếu của văn học Còn nghệ thuật ớc lệ tợng trng trong thời đại đó vẫnmang giá trị tích cực, nó giúp các nhà thơ thể hiện đợc mình Đó cũng là nét

đặc sắc trong nghệ thuật trữ tình của thơ Nôm Đờng luật nói chung

1.2.2.2 Trữ tình bằng tả cảnh ngụ tình.

Tả cảnh ngụ tình là bút pháp chủ yếu trong nghệ thuật thơ Trung đại.Cùng với việc tả cảnh là tả tình Tình thấm trong cảnh, cảnh quyện với tình.Qua cảnh vật nhà thơ bộc lộ cảm xúc, gửi gắm những tâm sự Cảnh trong thơluôn là cảnh tâm trạng, ít khi là cảnh thiên nhiên khách quan Lã Nhâm Thìnviết :“Thiên nhiên luôn là thiên nhiên của tâm trạng, ít khi là thiên nhiên kháchquan thuần tuý”

Chính đặc điểm đó làm nên bản chất trữ tình của thiên nhiên trong thơTrung đại, đặc biệt là thơ Nôm Đờng luật vì thơ Nôm Đờng luật nặng về đời

Trang 22

sống tình cảm hơn là t duy triết học Khi tả cảnh các nhà thơ thờng thông quacác biện pháp so sánh, các hình ảnh ớc lệ để bộc lộ tình cảm của mình Điềunày có mặt hầu khắp các bài thơ của các nhà thơ nh : Nguyễn Trãi, NguyễnBỉnh Khiêm, Bà huyện Thanh Quan… 37

“ cỏ ” ở dây là bọn nịnh thần, bất tài, tàn ác Bọn chúng đầy rẫy trong xã hội,vì “biết” bóc lột, “biết” nịnh bợ nên luôn “tơi tốt” “Hoa” và “cỏ” đã thể hiệncho hai loại ngời trong xã hội : xấu – tốt Tác giả đã tả cảnh để phê phán, lên

án xã hội đồng thời bày tỏ sự chiêm nghiệm đáng buồn của mình trớc thờicuộc

Hay “Trời chiều lảng bảng bóng hoàng hôn” của Bà huyện Thanh Quan

là một không gian u tịch, mờ ảo, đầy sơng khói Tác giả đã khéo chọn thờigian (buổi chiều) để kết hợp với từ láy (lảng bảng) để thể hiện tâm trạng uhoài, mênh mang buồn của con ngời khi đứng trớc hoàng hôn

Nguyễn Khuyến cũng gửi gắm tâm trạng cô đơn của mình trớc cuộc đờidâu bể qua việc tả cảnh núi Long Đội :

Hai mơi năm cũ lại lên đây, Phong cảnh nhà chiền vẫn chửa khuây

Chiếc bóng lng trời am các quạnh, Mảnh bia thuở trớc bể dâu đầy

( Chơi núi Long Đội )Bốn câu thơ có giọng buồn man mác Cảnh ở núi Long Đội rất buồn:hình ảnh ngôi chùa đứng chót vót trên đỉnh núi vắng vẻ, quạnh hiu, mảnh bia

cũ từng chứng kiến bao sự đổi thay, bao hng vong thành bại… 37 Tất cả đều bângkhuâng man mác nh chính sự bâng khuâng man mác trong tâm hồn nhà thơvậy Hẳn rằng không phải ngẫu nhiên Nguyễn Khuyến lại sử dụng các thanhbằng ở cuối câu: đây – khuây - đầy bởi vì những âm đó tạo sự ngân vang nhènhẹ, trầm trầm đem lại cho ta một cảm giác buồn buồn, văng vắng

Trang 23

Trong dòng chảy chung đó, thơ Hồ Xuân Hơng cũng là nhà thơ tả cảnh

để ngụ tình nhng cảnh trong thơ Hồ Xuân Hơng là cảnh luôn cựa quậy, đầysức sống Nó nhằm thể hiện một cái tình cũng hết sức sôi nổi, hết sức mạnh

mẽ của một tâm hồn ham sống, tha thiết yêu đời và hừng hực lửa tình ở phầnsau chúng ta sẽ tìm hiểu một cách có hệ thống và cụ thể hơn

1.2.2.3 Nghệ thuật trữ tình bằng trào lộng, trào phúng.

Ta biết trào lộng là lối văn có tính chất chế giễu, gây cời; trào phúng là lốivăn dùng lời lẽ kín đáo, bóng bẩy để cời nhạo, mỉa mai kẻ khác Trong vănhọc, trào phúng đợc xem là một dạng trữ tình đặc biệt mà trong đó tác giả thểhiện thái độ phủ nhận, phê phán những điều xấu xa

Phécnăng Grếch nói: “Nguồn cảm hứng trào phúng chẳng qua chỉ lànguồn cảm hứng trữ tình mà ở đó sự căm thù khinh bỉ thay thế cho tình yêu.Thơ trào phúng là thơ trữ tình áp dụng cho một đối tợng đáng ghét, lố bịch”.(Nghệ thuật trữ tình trong truyện ngắn Mây và Mặt trời của Tago – LV197 -

nh tâm hồn tác giả ”.(Nguyễn Lộc – Sđd ,tr.286 ) Do đó ta có thể khẳng địnhrằng trào phúng cũng là một dạng thức tiêu biểu của nghệ thuật trữ tình –nghệ thuật bộc lộ tình cảm qua tiếng cời và bằng tiếng cời Các nhà thơ châmbiếm, đả kích nhngkhông phải để hạ bệ đối tợng mà nhằm đến một mục đíchnhân văn cao cả đó là làm cho xã hội tốt hơn, con ngời sống có ý nghĩa hơn

Về phần thơ có tính chất trào phúng Nguyễn Khuyến, Tú Xơng, HồXuân Hơng là những đại biểu xuất sắc

Nguyễn Khuyến viết :

Kìa hội Thăng Bình tiếng pháo reo

Bao nhiêu cờ kéo với đèn treo

Bà quan tênh nghếch xem bơi trải

Trang 24

Thằng bé lom khom nghé hát chèo Cậy sức cây đu nhiều chị nhún

Tham tiền cột mỡ lắm anh leo

để nhận đợc vài đồng bố thí Nguyễn Khuyến phê phán, châm biếm hội Tây

đồng thời thể hiện thái độ đớn đau nhng bất lực của mình trớc thời cuộc

Tú Xơng cũng viết :

Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt Dới sân ông cử ngỏng đầu rồng

Tác giả đã tạo ra tiếng cời qua các hình ảnh đối nhau chan chát: trênghế /dới sân, bà đầm / ông cử, ngoi /ngỏng, đít vịt /đầu rồng

Lấy cái hình ảnh “đít vịt ”của bà đầm đang “ngoi” trên ghế đem đối với

“đầu rồng”của ông cử đang “ngỏng” lên dới sân thì quả là không có gì “độc

đáo” hơn Cái sự lẫn lộn giữa ta và tây đó thật nực cời nhng cũng thật chuachát Buồn thay!

Ai cũng thừa nhận Nguyễn Khuyến và Tú Xơng là những nhà thơ tràophúng và ai cũng biết họ chỉ sử dụng trào phúng nh một vũ khí để đấu tranh,một phơng tiện để bộc lộ thái độ bất bình, đau đớn của mình Trào phúng làtrạng thái đối ngợc của cái bên trong đầy tình cảm, cảm xúc Nguyễn CôngTrứ viết:

“Khi vui muốn khóc buồn tênh lại cời.”

Đúng là cời nhng là cái cời ra nớc mắt Cái cời của các nhà Nho thờng làcái cời thâm hậu, sâu kín Ngay cả khi phê phán thì cái cời đó cũng mang tíchchất quan phơng Các nhà Nho trào phúng, trào lộng và ý thức đợc mình đangtrào phúng, trào lộng Về nghệ thuật trữ tình bằng trào phúng, có thể nói HồXuân Hơng là tác giả tiêu biểu nhất Hồ Xuân Hơng cũng sử dụng nụ cời đểbộc lộ tình cảm, có khi là nỗi đau đớn, khổ tâm của mình nhng cái cời của bàbật ra một cách khoẻ khoắn, tự nhiên; nó không hớng đến việc xây dựng xã hội

Trang 25

mà hớng về chính con ngời, cho con ngời Hồ Xuân Hơng không ý thức đợcmình đang trào phúng nên tiếng cời bật ra tự nhiên và chân thực hơn, thẳngthừng hơn

1.2.2.4 Trữ tình bằng tự bạch, tự thán

Các nhà thơ Trung đại Việt Nam cha bao giờ tự gọi thơ mình là thơ trữtình Những khi muốn bộc lộ tình cảm của mình thì họ gọi là ngôn hoài (tỏlòng), tự thuật (kể, trình bày), trần tình (bày tỏ tình cảm), tự thán (trình bày nỗibuồn) Đó là cách trữ tình của thơ văn Trung đại phơng Đông

Một đặc điểm bao quát tiến trình thơ Trung đại phơng Đông là nghệthuật trữ tình thiên về khẳng định chí hớng, lý tởng, hoài bão, có khi mang tínhchất tuyên ngôn, công bố lập trờng, thái độ có tính chất lí tính Trần Đình Sử(Mấy vấn đề thi pháp văn học Trung đại –NXBGD 1999- H.tr.173) khẳng

định : “Nếu thơ trữ tình là sự biểu hiện của thế giới chủ quan, của ý thức conngời thì phạm vi chủ quan trong thơ trung đại là chí hớng, hoài bão, nó hớngcon ngời vào một miền lí tởng khao khát trong tâm t ”

Quả thật, các nhà thơ Trung đại đã luôn gửi gắm hoài bão, chí hớng củamình trong các trang thơ

Lê Thánh Tông có “Tự thuật ”:

Lòng vì thiên hạ những sơ âu

Thay việc trời dám trễ đâu

Lê Thánh Tông đã tự đặt mình trong vai trò một ông vua để bộc bạchtâm sự Đó là tâm sự về trách nhiệm của một ngời làm vua, của một ông vuahết mình vì đất nớc

Nguyễn Trãi cũng viết :

Quân thân cha báo lòng canh cánh

Tình phụ cơm trời áo cha

Niềm xa trung ái thề chẳng phụ

(Bạch Vân quốc âm thi tập – Bài 14)

Trang 26

Ưu ái một niềm hằng nhớ chúa.

(Bạch Vân quốc âm thi tập – Bài 109)

Ta thấy những gì Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm muốn bộc lộ đều lànhững tình cảm đối với quốc gia, dân tộc, triều đại Nhà thơ luôn canh cánhtrong lòng chữ “trung hiếu”, “trung quân ái quốc” Đó không phải chỉ riêng ởmột ngời mà là truyền thống có tính lịch sử của những ngời quân tử Nhữngsuy nghĩ đó “một mặt giúp nhà thơ sống cụ thể với một ông vua, một nhân dân

cụ thể, ở một hoàn cảnh nhất định Mặt khác, những suy nghĩ đó còn đa nhàthơ đến những suy t hết sức sức trừu tợng với hàng loạt sách thánh kinh, hiềntruyện, những “tử viết”, “thi vân” ”… 37 (Lã Nhâm Thìn-Sđd – tr.73) Vì lẽ đó

ta thấy, trữ tình bằng tự thán, tự bạch ở đây nhiều khi còn mang tính chất lí trí,tính chất sách vở, nó hớng về một ớc mơ, một hoài bão lớn lao của một đấngnam nhi ở đời Nó không có những nỗi niềm thầm kín, không có những ớc ao,khát khao về đời sống thờng nhật của con ngời cá nhân

Hồ Xuân Hơng không có kiểu tự bạch, tự thán nh thế Những vấn đề mà

Hồ Xuân Hơng đề cập đến là những vấn đề liên quan trực tiếp đến con ngời,

ời phi ngã, còn con ngời cá nhân bị con ngời thần dân lấn át, cái tôi của các thi

sĩ hoà mình vào cái ta chung cho nên, nh ta đã thấy dù Nguyễn Trãi, Nguyễn

Trang 27

Bỉnh Khiêm có thể hiện lòng mình thế nào đi nữa thì đó cũng là cái xu thếchung của thời đại Nghệ thuật trữ tình ở đây vì thế còn mang tính chất quanphơng, ít biến đổi

Sau đây chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu nghệ thuật trữ tình trong thơ Nômtruyền tụng của Hồ Xuân Hơng

Chơng 2 : nghệ thuật trữ tình

Trong thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hơng

2.1 Thơ Nôm Đờng luật của Hồ Xuân Hơng chủ yếu là thơ trữ tình

Nghiên cứu về thơ Hồ Xuân Hơng, nhiều ngời phân vân không biết nênxếp bà vào hàng nhà thơ trữ tình hay nhà thơ trào phúng.Trào phúng - trữ tình,dâm – tục là những vấn đề nổi trội khi nghiên cứu thơ Hồ Xuân Hơng

Giáo s Nguyễn Lộc khẳng định Hồ Xuân Hơng vừa là nhà thơ trữ tìnhvừa là nhà thơ trào phúng Ông viết : “Xuân Hơng là một nhà thơ trào phúng,

Trang 28

đả kích Nhiều ngời nghĩ nh vậy Nhng bảo Xuân Hơng chỉ là nhà thơ tràophúng, đả kích thì quả cha hiểu hết cái phong phú, đa dạng của nhà thơ này ”.(Nguyễn Lộc – Sđd , tr.286) Giáo s Dơng Quảng Hàm cho Hồ Xuân Hơngthuộc khuynh hớng tình cảm nhng có chút ít màu sắc trào phúng Ông viết :

“Hoặc có ý lẳng lơ, hoặc có giọng mỉa mai nhng bài nào cũng chan chứa tìnhcảm” (Hồ Xuân Hơng – Về tác gia và tác phẩm -tr.88)

Cần phải thấy rằng thơ Hồ Xuân Hơng cời đời nhng tha thiết yêu đời “Thơ bà là thơ cời đời nhng vẫn là thơ yêu đời một cách nhẹ nhàng, bình thản ”(Nguyễn Sĩ Tế - “Hồ Xuân Hơng - Sđd, tr.89”) Tiếng cời của Hồ Xuân Hơngcay độc mà sâu lắng Cuộc đời Xuân Hơng bị xoáy lốc trong guồng quay củaxã hội và bà đa thơ ra cời Cho nên trào phúng trong thơ Hồ Xuân Hơng gắnchặt với trữ tình, là trữ tình Thơ của bà có sự phối hợp chặt chẽ giữa tình cảmvới trào phúng “đến nỗi nếu tách rời nhau ra thì thơ Hồ Xuân Hơng đổi hẳn bộdạng, không còn là thơ Hồ Xuân Hơng nữa” ( Nguyễn Sĩ Tế – Sđd, tr 89 )

ở phần trớc chúng ta đã đồng ý rằng trào phúng là một dạng trữ tình đặcbiệt Đến đây ta lại có thể khẳng định thêm trào phúng và trữ tình chỉ là haimặt của một khối thống nhất, trào phúng chỉ là khía cạnh khác của trữ tình tạinhững thời điểm, những hoàn cảnh khác nhau mà thôi

Khi đã thừa nhận trong thơ Hồ Xuân Hơng tình cảm và trào phúng gắtchặt tạo nên cấu trúc thơ Hồ Xuân Hơng thì dĩ nhiên ta phải thừa nhận rằngthơ Hồ Xuân Hơng cũng có một số bài mang tính chất trào phúng Khảo sátgần 50 bài trong phần thơ Nôm truyền tụng chúng tôi thấy có thể xếp nhữngbài sau vào loại có tính chất trào phúng nh : Mắng học trò dốt, Trách Chiêu

Hổ, Vịnh s… 37 Phải thừa nhận ở những bài này nụ cời châm biếm, đả kích hiệnlên rõ rệt Tuy nhiên ta vẫn thấy đó là cái cời đùa, cời quấy hơn là đả kích đếncùng Xuân Diệu khi nói về bản chất tiếng cời trong thơ Hồ Xuân Hơng đãcho thấy điều đó: “Những nhà thơ trào phúng vĩ đại không nhe răng ra cời,không chửi bằng lời nói, họ ném cả trái tim của họ, ném cả quan điểm của họvào cuộc đời cũng nh những nhà thơ trữ tình vĩ đại… 37Thơ của họ thực chất làmáu và nớc mắt đó thôi.” ( Xuân Diệu – Các nhà thơ cổ điển Việt Nam-NXBVH- H.1982, tr 28) Nh vậy, xét về sâu xa thì thơ trào phúng của HồXuân Hơng cũng chính là thơ trữ tình

Trang 29

Về cơ bản thơ Hồ Xuân Hơng là thơ trữ tình Bà có hàng chục bài thơbộc bạch tâm sự, khát vọng, ớc mơ của mình: Bà bài “Tự tình”, Làm lẽ, Mờitrầu, Không chồng mà chửa,… 37 Cho nên “Thơ Hồ Xuân Hơng tóm lại khôngchỉ hiến cho chúng ta một suy nghĩ về cái cời tục nhả của nó Nó còn cho tathấy một tâm tình khi che kín, khi bộc lộ và làm cho chúng ta phải cảm động

” (Phạm Thế Ngũ - Sđd, tr 120)

Các bài thơ của Hồ Xuân Hơng bộc lộ một cách sâu sắc khát vọng sốngcủa bà Xã hội mà Xuân Hơng sống là xã hội đang trên đà thối nát cực độ, vuaquan chỉ ngày đêm hởng lạc, tranh giành quyền lực Một xã hội “mà tất cả mọicái từ vua chúa đến quan lại s mô đều “lộn lèo”cả rồi !”(Xuân Diệu- Sđd ,tr.6).Trong xã hội đó, ngời phải chịu cực khổ, oan nghiệt nhất là ngời phụ nữ Họkhông đợc tự do yêu đơng, không đợc sống với cái bản ngã của mình HồXuân Hơng có cuộc đời, số phận giống những phụ nữ bình thờng khác, chỉ có

điều, bà là một ngời phụ nữ nhạy cảm, bạo dạn khác ngời nên bà mới có thểnhận ra mình đang sống trong một xã hội không có tính nhân bản Bà khôngchỉ nhận ra mà còn vẫy vùng, đấu tranh muốn thoát ra khỏi xã hội đó Có ng ờinói cuộc đời Hồ Xuân Hơng thì bình thờng (nh bao ngời phụ nữ khác trong xã

cũ ) chỉ có điều nàng không chịu bình thờng nên mới thế Quả thật, cái khácthờng của bà đã đợc gửi vào trong thơ Và đó cũng “là một thứ thơ không chịu

ở trong những cái khuôn khổ thông thờng, một thứ thơ muốn lặn thật sâu vào

sự thật, những đáy rất kín thẳm của tâm t”

Nói thơ Hồ Xuân Hơng là thơ trữ tình vậy nó biểu hiện ở những mặt nào

?

Trớc hết, đó là ở lòng yêu mến thiên nhiên Thiên nhiên trong thơ XuânHơng là một thiên nhiên gần gũi, giản dị, đời thờng (không phải là thiên nhiên

ớc lệ) nhng rất sống động; thiên nhiên có hình khối, màu sắc,có cây, có gió và

ẩn hiện sau đó bóng dáng con ngời “Đèo Ba Dội” là hình ảnh các ngọn đèo kếtiếp nhau hiện ra trớc mắt ngời đọc nh một bức tranh, một công trình kiến trúccủa tạo hoá:

Một đèo, một đèo, lại một đèoKhen ai khéo tạc cảnh cheo leo

Ta tởng nh Xuân Hơng đang đứng đó chỉ trỏ cho ngời đọc thấy cảnh núinon ở đèo Ba Dội trùng trùng, điệp điệp

Trang 30

Cũng có khi đó là bức tranh thiên nhiên với những gam màu mạnh:

Cửa son đỏ loét tùm hum nócHòn đá xanh rì lún phun rêu

Có khi lại là một thiên nhiên ớt đẫm sơng đêm:

Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc

Đầm đìa lá liễu giọt sơng gieo v.v… 37Thơ Hồ Xuân Hơng còn là tiếng nói bênh vực ngời phụ nữ, đòi hỏi vàbảo vệ những quyền lợi mà mỗi con ngời cần đợc hởng Bà che chở cô gáichửa hoang:

Cả nể cho nên sự dở dang Nỗi niềm chàng có biết chăng chàng?

đồng cảm với ngời lẽ mọn:

Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng Chém cha kiếp lấy chồng chung

Khuyên ngời phụ nữ có chồng chết:

Nín đi kẻo thẹn với non sông

Ta thấy thơ Hồ Xuân Hơng không rên rỉ mà khoẻ mạnh, rắn rỏi Trớcnay chỉ có ngời quân tử mới ví ý chí, ví mình nh sông, nớc, mây, trời còn HồXuân Hơng lại đặt cái thẹn của một ngời đàn bà khóc chồng ngang tầm núisông (Dỗ ngời đàn bà khóc chồng)

Thơ Xuân Hơng có một bộ phận có tính chất trào phúng nhng cái cờicủa thơ bà là cái cời có tính chất phát hiện Chẳng hạn trong bài “Thiếu nữ ngủngày” có hai câu thơ có vẻ nh châm biếm, đả kích bọn hiền nhân quân tử bịhút hồn trớc vẻ đẹp rất đỗi tự nhiên của ngời thiếu nữ :

Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt

Đi thì cũng dở ở không xong

Hoặc cái ham hố của họ trớc cuộc sống lứa đôi:

Hiền nhân quân tử ai mà chẳng

Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo

Nhng thực chất đằng sau đó là gì? Hồ Xuân Hơng vốn là ngời coi hạnh phúclứa đôi là phải có sự gần nhau về thể xác, bà đặc biệt ngợi ca cái tự nhiên, trầntục ở con ngời Bà đề cao vẻ đẹp của ngời phụ nữ, bà coi trọng cuộc sống tựnhiên cho nên hiền nhân quân tử có “dùng dằng”, có “muốn trèo” cũng là điều

Trang 31

bình thờng Cái bà phê phán là phê phán thói đạo đức giả của bọn ngời đó màthôi Hơn nữa, bà nói quân tử dùng dằng thì càng tăng thêm vẻ đẹp của ngờithiếu nữ Tơng tự, ở các bài “Vịnh s”, “S bị ong châm”,”S hổ mang” hay cácbài “Mắng học trò dốt”, “Phờng lòi tói” cũng đều hớng đến một quan niệmnhân sinh sâu sắc, đó là con ngời sống thật với chính mình.

Đến đ ây ta đã có thể khẳng định rằng thơ Hồ Xuân Hơng cơ bản là thơtrữ tình

2.2 Thơ trữ tình của Hồ Xuân Hơng không phải là thơ của nhà nho mà là thơ của một trí thức bình dân, gần với thơ ca dân gian, không mang tính chất cung đình.

Xã hội phong kiến lấy nho giáo làm quốc giáo Mọi t tởng, lễ nghi trongxã hội đều lấy nho giáo làm kim chỉ nam cho hành động Nho giáo trói buộccon ngời trong những quy định của nó nh “Tam cơng ngũ thờng ”, “Ngũ luân”,thiên mệnh, trung dung… 37Các nhà thơ nh Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm,

Lê Thánh Tông, đều là những nhà Nho, là “đệ tử” của “cửa Khổng sân Trình”nên chịu ảnh hởng sâu sắc của t tởng Nho giáo Văn thơ Nguyễn Trãi, NguyễnBỉnh Khiêm có ít nhiều tính chất dân dã nhng nhìn chung các nhà Nho đó đềuthuộc dòng văn học bác học, thuộc tầng lớp trên Trong thơ họ, từ t tởng đến

đề tài đều bị trói buộc trong thiết chế Nho giáo, mang tính chất triết, giáo huấnnhiều cho nên thơ họ dù là viết bằng chữ Nôm thì vẫn có vẻ uyên bác và xa lạ

đối với quần chúng lao động

Theo thống kê của Lã Nhâm Thìn thì vấn đề đạo lí cơng thờng trong thơNôm rất đợc đề cao Chẳng hạn: “Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi có 12/21bài có nội dung nho giáo, “Bạch Vân quốc ngữ thi tập” của Nguyễn BỉnhKhiêm có 11/22 bài, “Hồng Đức quốc âm thi tập” của Lê Thánh Tông có 5/9bài

Ngoài những bài, những câu thơ nói về đạo lý cơng thờng còn có nhữngbài thơ khuyên mọi ngời sống theo giáo lý Khổng Mạnh trong quan hệ ứng xửgiữa quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu… 37; trong việc rèn luyệncác phẩm chất nh: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín Tiêu biểu “Hồng Đức quốc âm thitập” có:

Khuyên làm ngời(Vi nhân tử):

Đạo cả cơng thờng năm lẫn ba

Ngày đăng: 21/12/2013, 12:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân( Biên tập) – Hồ Xuân Hơng – thơ trữ tình – NXB Hội nhà văn – 2001 Khác
2. Dzuy Dzao – Sự thật thơ và đời Hồ Xuân Hơng – NXBVH – 2000 Khác
3. Xuân Diệu – Các nhà thơ cổ điển Việt Nam – NXBVH – H.1982 Khác
4. Lê Bá Hán – Từ điển thuật ngữ văn học – NXBGD – 2000 Khác
5. Nguyễn Văn Hạnh ( hớng dẫn ) – Nghệ thuật trữ tình trong truyện ngắn Mây và Mặt trời của R.Tago. LV 197 – 1997.(Th viện khoa Văn - Đại học Vinh Khác
6. Đinh Gia Khánh – VHVN từ thế kỷ Xuân Hơng đến nửa đầu thế kỉ XVIII – NXBGD – 2000 Khác
7. Đặng Thanh Lê - VHVN nửa cuối thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX – NXBGD – 1999 Khác
8. Phơng Lựu – Lí luận văn học – NXBGD – 1997 Khác
9. Nguyễn Lộc – VHVN từ nửa cuối thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX – NXBGD – 2000 Khác
10. Nguyễn Đăng Mạnh – T liệu văn học 11- NXBGD 2001 Khác
11. Lữ Huy Nguyên - Hồ Xuân Hơng thơ và đời – NXBVH – H.1998 Khác
12. Trần Đình Sử – Mấy vấn đề thi pháp văn học Trung đại – NXBGD - 1999 Khác
13. Trần Đình Sử – Về con ngời cá nhân trong văn học cổ – KV – 679 – 683 (Th viện khoa Văn - Đại học Vinh) Khác
14. Lã Nhâm Thìn – Thơ Nôm Đờng luật – NXBGD – 1999 Khác
15. Trần Khải Thanh Thuỷ – Lạm bàn thơ Hồ Xuân Hơng – NXBVHDT – H.2002 Khác
16. Lê Văn Tùng – Bài giảng về chuyên đề thi pháp Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w