1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết sông côn mùa lũ của nguyễn mộng giác luận văn thạc sĩ ngữ văn

127 821 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Sông Côn Mùa Lũ của Nguyễn Mộng Giác
Tác giả Nguyễn Mộng Giác
Người hướng dẫn TS. Lê Thời Tân
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 612 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ 1986 trở đi, ta đã thấy có rất nhiều đổi mới trong phương thức sángtạo ở các tác phẩm tự sự của các nhà văn: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn HuyThiệp, Dương Hướng, Bảo Ninh, Nguyễn Quang T

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ XUÂN NGỌC

NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT

TRONG TIỂU THUYẾT SÔNG CÔN MÙA LŨ

CỦA NGUYỄN MỘNG GIÁC

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Nghệ An, 2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ XUÂN NGỌC

NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT SÔNG CÔN MÙA LŨ

CỦA NGUYỄN MỘNG GIÁC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60.22.34

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thời Tân

Nghệ An, 2012

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhậnđược sự giúp đỡ của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài trường Đại họcĐồng Tháp, Đại học Vinh

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và sự biết ơn sâu sắc tới TS Lê Thời

Tân, trường Đại học Quốc Gia Hà Nội, người đã luôn tận tình hướng dẫn,

động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô khoa Ngữ Văn, khoa Sau Đại học

trường Đại học Đồng Tháp, trường Đại học Vinh đã tạo điều kiện thuận lợi

nhất cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu

Trong quá trình làm đề tài, tôi còn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình củacán bộ thư viện trường Đại học Đồng Tháp và Đại học Vinh đã giúp đỡ tôi vềmặt tài liệu tham khảo

Lời cuối cùng tôi xin chân thành cảm!

Đồng Tháp, ngày 18 tháng 10 năm 2012

Nguyễn Thị Xuân Ngọc

Trang 4

MỤC LỤC

Trang MỞ ĐẦU 01

1 Lí do chọn đề tài 01

2 Lịch sử vấn đề 03

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 08

4 Phương pháp nghiên cứu 08

5 Những đóng góp của luận văn 08

6 Cấu trúc luận văn 09

Chương 1 10

QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC SÔNG CÔN MÙA LŨ VÀ TIỀN ĐỀ LÍ LUẬN CỦA VIỆC PHÂN TÍCH NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TIỂU THUYẾT NÀY 10

1.1 Lí luận về kết cấu tác phẩm tự sự và kết cấu tiểu thuyết Sông Côn Mùa Lũ 10

1.1.1 Quá trình sáng tác tiểu thuyết Sông Côn Mùa Lũ 10

1.1.2 Lý thuyết kết cấu tác phẩm tự sự 15

1.1.3 Kết cấu tiểu thuyết lịch sử dưới góc độ tự sự học 21

1.1.4 Kết cấu tiểu thuyết Sông Côn Mùa Lũ 23

1.2 Cốt truyện Sông Côn Mùa Lũ 29

1.2.1 Lý thuyết cốt truyện 29

1.2.2 Những tiền đề cơ sở hình thành cốt truyện 31

1.2.3 Cốt truyện tiểu thuyết Sông Côn Mùa Lũ 34

1.3 Không gian và thời gian trần thuật trong Sông Côn Mùa Lũ 36

1.3.1 Không gian trần thuật trong Sông Côn Mùa Lũ 36

1.3.2 Thời gian nghệ thuật trong Sông Côn Mùa Lũ 41

1.4 Đối sánh Sông Côn Mùa Lũ với tự sự sử học về đề tài Tây Sơn trên một số phương diện nghệ thuật trần thuật 47

Chương 2 56

Trang 5

CHỦ THỂ TRẦN THUẬT TRONG SÔNG CÔN MÙA LŨ 56

2.1 Lí thuyết về điểm nhìn trần thuật 56

2.1.1 Lý luận về điểm nhìn trần thuật 56

2.1.1.1 Điểm nhìn trần thuật bên ngoài 56

2.1.1.2 Điểm nhìn trần thuật bên trong 56

2.1.1.3 Điểm nhìn trần thuật di động 56

2.1.2 Điểm nhìn trần thuật trong tiểu thuyết Sông Côn Mùa Lũ 56

2.2 Hình tượng người kể chuyện trong tiểu thuyết Sông Côn Mùa Lũ .63 2.2.1 Người kể chuyện toàn tri 64

2.2.2 Người kể chuyện đa thức 67

2.3 Nhân vật trong tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ 69

2.3.1 Nhân vật mang khát vọng lịch sử 69

2.3.2 Nhân vật số phận trong dòng lịch sử 82

Chương 3 91

NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT TIỂU THUYẾT SÔNG CÔN MÙA LŨ 91

3.1 Ngôn ngữ người kể chuyện 91

3.1.1 Lớp ngôn ngữ lịch sử trang trọng, cổ kính 93

3.1.2 Lớp ngôn ngữ tiểu thuyết nhiều màu sắc, giàu cá tính 96

3.2 Ngôn ngữ nhân vật 98

3.2.1 Ngôn ngữ đối thoại 99

3.2.2 Ngôn ngữ độc thoại 104

3.3 Giọng điệu trần thuật 110

3.3.1 Giọng điệu thành kính, ngợi ca 112

3.3.2 Giọng điệu trữ tình sâu lắng 114

3.3.3 Giọng hoài nghi chất vấn 117

3.3.4 Giọng điệu triết lí chiêm nghiệm 120

KẾT LUẬN 125

TÀI LIỆU THAM KHẢO 128

Trang 6

sự đã trở thành một hướng nghiên cứu mới vừa hấp dẫn, vừa phức tạp tronggiới lý luận - phê bình, và đặc biệt là ở các trường đại học Việt Nam Việcvận dụng tự sự học vào nghiên cứu tiểu thuyết nhất là tiểu thuyết lịch sử hứahẹn nhiều điều thú vị.

1.2 Văn học Việt Nam từ 1986 trở đi đã có nhiều thành tựu to lớn Một trongnhững thành tựu đó phải kể đến là sự chuyển đổi theo hướng hiện đại hóa vềphương thức sáng tạo nghệ thuật của các nhà văn, nhà thơ

Tiểu thuyết Việt Nam, một thể loại được coi là rất quan trọng của nềnvăn học hiện đại Việt Nam thế kỉ XX Tiểu thuyết vẫn được coi như là mảnhđất lưu giữ hình ảnh lịch sử của một dân tộc Tiểu thuyết Việt Nam viết bằngQuốc ngữ dù sao vẫn còn là non trẻ trong độ dài khoảng 100 năm so với tiểuthuyết trong các nền văn học khác như Tây Ban Nha, Pháp, Trung Quốc cólịch sử nhiều thế kỉ Đặc biệt là mảng tiểu thuyết lịch sử Việt Nam, mặc dù

số lượng tác phẩm không nhiều nhưng vẫn để lại những dấu ấn quan trọngcho thể tài

Trang 7

Trong số các thể loại của văn học đương đại, “tiểu thuyết được coi là cỗmáy cái”, “là sử thi về đời tư” (Bê-lin-xki); là nơi mà cuộc đời được phơi trêntrang giấy một cách chân thực nhất, sâu sắc nhất; là “giá trị không thể thay thếđược” Một tiểu thuyết hay không phụ thuộc độ dài, ngắn, số lượng trang, mà

ở chỗ nó khám phá và lý giải ra sao về một lĩnh vực nào đó của đời sống, “đặt

ra những câu hỏi” nhân sinh và tìm cách “trả lời những câu hỏi đó” như thếnào

Tiểu thuyết đương đại thể hiện một bước đột phá mạnh mẽ về “kỹ thuật

tự sự”, tiết tấu trần thuật nhanh hơn; kết cấu phức tạp, biến hoá, đan xen nhiềutầng bậc; phương thức xây dựng nhân vật cũng hoàn toàn khác trước Văn họcđương đại nói chung và tiểu thuyết đương đại nói riêng không quan tâm quámức đến việc nhà văn viết về đề tài gì: về cuộc sống, lịch sử, văn hóa…nữa

mà chủ yếu là xem nhà văn đó viết như thế nào về cùng một đề tài với nhữngngười khác; xem “kỹ thuật” của anh ta có những nét gì mới và khác lạ Trongcùng công việc là “cày xới mảnh đất hiện thực”, ai “trồng được cây” tốt hơn

có nghĩa là người đó phải có một kỹ thuật riêng, ở đó phát huy đầy đủ và hiệuquả nhất toàn bộ bí quyết, “kỹ năng, kỹ xảo” và sở trường của anh ta

Từ 1986 trở đi, ta đã thấy có rất nhiều đổi mới trong phương thức sángtạo ở các tác phẩm tự sự của các nhà văn: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn HuyThiệp, Dương Hướng, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Thân,… Đặc biệt sự xuấthiện của những cuốn tiểu thuyết lịch sử của Lê Đình Danh, Nguyễn MộngGiác… viết về đề tài Tây Sơn Tuy nhiên chúng tôi mới chỉ thấy một số bàibáo viết giới thiệu về tác giả này và bình luận về những tác phẩm mới đây củahai ông; chưa thấy có ai nghiên cứu chuyên sâu về nghệ thuật tiểu thuyết củanhà văn trẻ này Mặt khác người tiếp nhận tiểu thuyết lịch sử vẫn còn nhầmlẫn về vai trò, nhiệm vụ, chức năng của thể loại này và đồng nhất nó như một

tác phẩm lịch sử Vì thế khi tác phẩm Sông Côn Mùa Lũ của nhà văn hải

ngoại Nguyễn Mộng Giác ra mắt đã dấy lên những tranh luận trong giớinghiên cứu và độc giả

Trang 8

1.3 Trong lịch sử Việt Nam, triều đại Tây Sơn là một giai đoạn lịch sử hàohùng, một mốc son chói lọi trong sử sách với ánh hào quang là người anhhùng áo vải Nguyễn Huệ, sau là hoàng đế Quang Trung cùng với các sự kiệntrọng đại bốn lần vào Nam truy chúa Nguyễn, ba lần ra Bắc diệt vương tôn,đánh tan ba kẻ thù xâm lược: Xiêm, Pháp và kì diệu nhất là trận đại phá quânThanh… những chiến thắng đó không thể không nhắc đến các danh tướngkiên trung, hào kiệt dưới trướng vị lãnh tụ tài ba Câu chuyện triều đại TâySơn đã trở thành đề tài hấp dẫn cho các nhà văn khai thác dưới nhiều góc độ

và một loạt các tác phẩm đã ra đời: Hoàng đế Quang Trung, Gió lửa, Phẩm

tiết, Sông Côn mùa lũ, Tây Sơn bi hùng truyện,…

Với những lí do trên tôi quyết định tìm hiểu về đề tài: Nghệ thuật trần

thuật trong tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Tự sự học là lĩnh vực tri thức liên ngành, nghiên cứu về một trong nhữngphương thức căn bản kiến tạo lại bức tranh thế giới sự kiện khúc xạ vào hìnhdung của con người, hình thành ý nghĩa của nó trong quá trình truyền đạt,giao tiếp Tự sự học hiểu theo nghĩa rộng như vậy có nguồn gốc và quá trìnhphát triển lâu đời bắt rễ từ lịch sử nghiên cứu văn hoá của nhân loại từ thời Cổđại Theo một nghĩa hẹp hơn, tự sự học như một hệ thống học vấn chặt chẽnhư một khoa học lại được hình thành chỉ từ đầu thế kỷ XX và chỉ thực sựđịnh hình từ những năm 1960-1970 Bắt nguồn từ lý thuyết trần thuật của một

số nhà nghiên cứu phương Tây (Đức, Anh) đầu thế kỷ XX, tự sự học như mộtkhoa học được hình thành dưới ảnh hưởng tư tưởng sâu đậm của nhiều họcgiả ngữ văn Nga từ những năm 1910-1920 cho đến nửa sau thế kỷ Có thểnói, một trong những cái nôi của ngành khoa học vừa lâu đời vừa non trẻ, cósức sống mạnh mẽ trong thời hiện đại này, được thừa nhận là nước Nga

Wolf Schmid-một trong những đại diện tiêu biểu của tự sự học đương

đại đã khẳng định như sau trong sách Tự sự học (2003): “Những phạm trù của

tự sự học hiện đại được hình thành dưới ảnh hưởng quan trọng của những nhà

Trang 9

lý thuyết và trường phái nghiên cứu Nga, cụ thể là những người đại diện chochủ nghĩa hình thức Nga (V.Shklovsky, B.Tomashevsky), những học giả củanhững năm 1920 như V.Propp, M.Bakhtin, V.Voloshinov, và cả những nhà lýthuyết thuộc trường phái Tartus-Moskva (Iu.Lotman, B.Uspensky) Ngoàilịch sử tự sự học Nga còn tự sự học Trung Quốc…

Tự sự học hiện đại có thể chia làm ba thời kì Tự sự học trước chủnghĩa cấu trúc, tự sự học cấu trúc chủ nghĩa và tự sự học hậu cấu trúc chủnghĩa Trước chủ nghĩa cấu trúc, tự sự học nghiên cứu các thành phần và chứcnăng của tự sự B.Tomasepxki, năm 1925, đã nghiên cứu các yếu tố và đơn vịcủa tự sự V.Shklovski chia truyện thành hai lớp: Fabula và syuzhet, hoặcchất liệu và hình thức V.Propp nghiên cứu cấu trúc và chức năng tự sự trongtruyện cổ tích (1928) Từ những năm 20 của thế kỉ trước, Bakhtin đã nghiêncứu mối quan hệ giữa tác giả và nhân vật, ngôn từ trần thuật và tính đối thoạicủa nó Họ trở thành những người mở đường cho tự sự học hiện đại Ởphương Tây, với sáng tác của Flaubert ở thế kỉ XIX, cũng như sáng tác củaHenry James (Mĩ) và M.Proust (Pháp) ở đầu thế kỉ XX, người ta đã biết rằngtrong tiểu thuyết sự kiện không phải là cái quan trọng nhất, mà quan trọngnhất là ý thức, là phản ánh tâm lí của nhân vật đối với sự kiện, từ đó người taquan tâm tới “trung tâm ý thức”, chi tiết trong tiểu thuyết phải lọc qua trungtâm ý thức của nhân vật mới bộc lộ ý nghĩa Từ đó, các vấn đề điểm nhìn,dòng ý thức được đặc biệt quan tâm với Percy Lubbock (1921),K.Friedemann (1910) Về sau các vấn đề này còn được phát triển bởi một loạttác giả Âu, Mĩ khác như J.Pouillon, A.Tate, Cl.Brooks, T.Todorov,G.Gennette Những tìm tòi này gắn với ý thức về kĩ thuật của tiểu thuyết

Giai đoạn thứ hai của lí thuyết tự sự là chủ nghĩa cấu trúc, đi tìm mô

hình cho hình thức tự sự, mở đầu với công trình Dẫn luận phân tích tác phẩm

tự sự của R.Barthes năm 1968 và “S/Z”, 1970 (tác phẩm này đã bắt đầu

chuyển sang hậu cấu trúc chủ nghĩa) Todorov có Ngữ pháp “Câu chuyện

mười ngày” Sơ khởi của quan niệm này là Hình thái học truyện cổ tích của

Trang 10

Propp, tiếp theo là Nghiên cứu cấu trúc thần thoại của Claude Levi-Strauss và

Mô hình hành vi ngôn ngữ của Roman Jakobson.

Đặc điểm của lí thuyết tự sự chủ nghĩa cấu trúc là lấy ngôn ngữ họclàm hình mẫu, xem tự sự học là sự mở rộng của cú pháp học, còn trữ tình là

sự mở rộng của ẩn dụ Todorov xem nhân vật như danh từ, tình tiết là động

từ, trong chủ nghĩa hiện thực thì tình tiết thuộc thức chủ động, còn trong thầnthoại lại thuộc thức bị động A.J.Greimas vận dụng sự đối lập trục liên kết vàtrục lựa chọn để nghiên cứu cấu trúc tự sự G.Genette tuyên bố mỗi câuchuyện là sự mở rộng của một câu-chủ yếu là vị ngữ động từ và ông sử dụngtràn lan các thuật ngữ ngôn ngữ học R.Barthes cũng tán thành quan điểm đó.Mục đích của chủ nghĩa cấu trúc là nghiên cứu bản chất ngôn ngữ, bản chấtngữ pháp của tự sự nhằm tìm một cách đọc tự sự mà không cần đối chiếu giảnđơn tác phẩm tự sự với hiện thực khách quan Mặc dù không phủ nhận đượcmối quan hệ văn học với đời sống, nhưng họ đã góp phần làm sáng tỏ bảnchất biểu đạt và giao tiếp của tự sự Song sự lạm dụng mô hình ngôn ngữ học

đã làm cho tự sự học gặp khó khăn, và chính Todorov cũng vấp phải thất bại,bởi ông chỉ quan tâm ngữ pháp tự sự hơn là văn bản tự sự

Giai đoạn thứ ba của tự sự học là gắn liền với kí hiệu học, một bộ mônquan tâm tới các phương thức biểu đạt ý nghĩa khác nhau, lấy văn bản làm cơ

sở (Jean-Claude Coquet) Ở đây, hình thức tự sự là phương tiện biểu đạt ýnghĩa của tác phẩm Tư tưởng này gắn với việc phân tích ý thức hệ củaM.Bakhtin Các tác giả như Iu.Lotman, B.Uspenski, cũng theo hướng này,nhìn thấy đằng sau điểm nhìn một lập trường quan điểm xã hội thẩm mĩ nhấtđịnh Đặc điểm của lí thuyết tự sự hiện nay, tuy cũng coi trọng phân tích hìnhthức nhưng không tán thành việc sao phỏng giản đơn các mô hình ngôn ngữhọc mà đi theo kí hiệu học và siêu kí hiệu học Pierre Macherey, nhà mác xítPháp cho rằng bất cứ sự đồng nhất nào giữa phê bình văn học với ngôn ngữhọc đều sẽ thất bại, bởi nó bỏ qua vai trò tác động của hình thái ý thức, cònIu.Lotman cho rằng thông tin ngôn ngữ là thông tin phi văn bản, mà điểm

Trang 11

xuất phát của văn bản lại chính là chỗ bất cập của ngôn ngữ khiến nó trởthành văn bản Nếu văn bản trở về với ý nghĩa của ngôn ngữ học thì có nghĩa

là sự sụp đổ của văn hóa Như thế lí thuyết tự sự phải gắn với chức năng nhậnthức và giao tiếp

Tổng quan quá trình phát triển của lí thuyết tự sự, nhà lí luận tự sự MĩGerald Prince chia làm ba nhóm theo ba loại hình Nhóm một là những nhà tự

sự học chịu ảnh hưởng của các nhà hình thức chủ nghĩa Nga như V.Propp,trong số này có Greimas, ông đã giản lược số chức năng của Propp xuống tớicon số 20 và làm nổi bật lôgic tự sự Các ông Todorov, Barthes, Remak,Norman Friedman, Northrop Frye, Etienne Souriau mỗi người một cách,chú ý tới cấu trúc của câu chuyện được kể, đi tìm mẫu cổ của tự sự, chứcnăng của biến cố và qui luật tổ hợp, lôgic phát triển và loại hình cốt truyện…

Đặc biệt khi nghiên cứu vào các cấu trúc tự sự cụ thể, thì người ta đềudùng thuật ngữ “tự sự học” (ví dụ: A.H.Plaks: Chinese Narrative - Tự sự họcTrung Quốc; Wallace Martin: Recent theories of Narrative - Tự sự học đươngđại; G.Genette: Narrative Discourse - Thoại ngữ tự sự T.Todorov trong cáctrường hợp dùng từ Narratologie người ta đều dịch là tự sự học Thuật ngữtrần thuật học gắn với một lí thuyết của M.Bakhtine phát triển từ những năm

30 (dưới tên hiệu Volosinop) (xem sách Todorov: Mikhail Bakhtine Leprincipe dialogique, Nxb Seuil, 1981, bản dịch Trung văn: 2001) Gọi là tự

sự học, theo chúng tôi nghĩ, nó bao gồm cả phần lí thuyết cấu trúc văn bản tự

sự, cấu trúc sự kiện, vừa bao gồm cả phần nghiên cứu các hình thức và truyềnthống tự sự trong các nền văn học dân tộc cũng như sự so sánh chúng vớinhau

Tự sự học sẽ liên kết các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam với các nhàngữ học và rộng hơn, các nhà văn hóa học, trong một cố gắng chung nhằmnghiên cứu truyền thống văn học Việt Nam, phong cách học tiểu thuyết ViệtNam, khám phá bản sắc dân tộc Việt Nam trong lĩnh vực tự sự Tự sự học từKinh điển đến Hậu kinh điển Ở Việt Nam công trình nghiên cứu tự sự học có

Trang 12

quy mô là quyển Tự sự học một số vấn đề lí luận và lịch sử của GS.TS Trần

Đình Sử

2.2 Mảng tiểu thuyết về hoặc liên quan tới phong trào Tây Sơn và anh hùng

Nguyễn Huệ khá phong phú với các tác phẩm Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác, Gió lửa của Nam Dao, Quang Trung hoàng đế của Nguyễn Thu Hiền, Tây Sơn bi hùng truyện của Lê Đình Danh… là một điểm nhấn ấn

tượng vừa là bổ sung vừa làm phong phú bức tranh tiểu thuyết lịch sử Việt

Nam sau 1985 Trong số đó Sông Côn mùa lũ là một tác phẩm đặc sắc về đề tài Tây Sơn Sông Côn mùa lũ xuất bản lần đầu năm 1991 tại Nhà xuất bản

An Tiêm, California, Hoa Kỳ, gồm 4 tập Đây là lý do để chúng tôi xếp Sông

Côn mùa lũ vào những cuốn tiểu thuyết lịch sử sau 1985 Bảy năm sau, năm

1998, Sông Côn mùa lũ lần đầu tiên được xuất bản tại Việt Nam, 4 tập Năm

2003, in lần thứ hai, 2 tập, Nhà xuất bản Văn học - Trung tâm Nghiên cứuQuốc học Lần gần đây nhất, năm 2007, in lần thứ ba, vẫn Nhà xuất bản Vănhọc - Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, 3 tập, với ngót 2000 trang Như vậy,

với nhiều người, Nguyễn Mộng Giác và Sông Côn mùa lũ không phải là xa lạ 2.3 Sông Côn Mùa Lũ mặc dù không xa lạ với người đọc song đến nay vẫn

chưa có những công trình nghiên cứu lớn mà chỉ mới dừng lại ở những bàitranh luận, những bài báo, và một số đề tài nghiên cứu thạc sĩ, nghiên cứusinh có tính chất liên quan

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Các phương diện tự sự học chủ yếunhư kết cấu, cốt truyện, chủ thể, ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật ở tiểu

thuyết Sông Côn mùa lũ, có sự đối sánh với chính sử.

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài cần vận dụng kết hợp một số phương pháp nghiêncứu sau:

- Phương pháp tiếp cận thi pháp học, tự sự học, lịch sử học

- Phương pháp hệ thống

Trang 13

- Phương pháp phân tích.

- Phương pháp thống kê phân loại

- Phương pháp so sánh, đối chiếu và tổng hợp khái quát

5 Những đóng góp của luận văn

- Người viết hy vọng luận văn đóng góp một phương diện nho nhỏ vàoviệc tìm hiểu thêm về ngành tự sự học nói chung và tiểu thuyết lịch sử qua cáinhìn tự sự học nói riêng (nghệ thuật trần thuật) mà cụ thể là qua tác phẩm

Sông Côn mùa lũ

- Khảo sát và lý giải một cách có hệ thống, thuyết phục đối với nhữngyếu tố nghệ thuật chính làm nên tính hấp dẫn của nghệ thuật trần thuật trongtiểu thuyết của Nguyễn Mộng Giác

- Khẳng định có sự tiếp nối và cách tân trong nghệ thuật tự sự của Sông

Côn mùa lũ

- Đưa tiểu thuyết lịch sử đến gần bạn đọc hơn, giúp người đọc phân biệtđược đâu là tác phẩm văn học khai thác đề tài lịch sử, đâu là chính sử dựa trên

cơ sở tự sự học

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo luận văn gồm có 3chương

Chương 1: Quá trình sáng tác Sông Côn Mùa Lũ và tiền đề lí luận của

việc phân tích nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết này

Chương 2: Chủ thể trần thuật trong tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ

Chương 3: Ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết Sông

Côn mùa lũ

Trang 14

Chương 1

QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC SÔNG CÔN MÙA LŨ

VÀ TIỀN ĐỀ LÍ LUẬN CỦA VIỆC PHÂN TÍCH NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT NÀY

1.1 Lí luận về kết cấu tác phẩm tự sự và kết cấu tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ

1.1.1 Quá trình sáng tác tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ

Nhà văn Nguyễn Mộng Giác sinh năm 1940 tại Bình Định Học trunghọc ở trường Cường Để Qui Nhơn, trường Võ Tánh Nha Trang và trường ChuVăn An Sài Gòn Học một năm ở Đại Học Văn Khoa Sài Gòn rồi ra Huế họcĐại học Sư phạm ban Việt Hán Năm 1963 tốt nghiệp thủ khoa Đại học Sưphạm Huế, khóa Nguyễn Du Từ năm 1963-1973 dạy học tại các trường ĐồngKhánh Huế, trường Cường Để Qui Nhơn Năm 1973-1974 Chánh Sự Vụ Sở

Trang 15

Học Chánh tỉnh Bình Định Năm 1974-1975 chuyên viên nghiên cứu giáo dục

Bộ Giáo Dục, Sài Gòn Bắt đầu viết văn năm 1971, đã cộng tác với các tạpchí Bách Khoa, Văn, Thời Tập, Ý Thức

Trước năm 1975 ông là giáo sư dạy văn nổi tiếng ở Sài Gòn và đã làtác giả của nhiều tập truyện dài

Năm 1982 đến định cư tại Hoa Kỳ cùng gia đình tại thành phốWestminster thuộc quận Orange, California Cộng tác với các báo Đồng Nai,Việt Nam Tự Do, Người Việt, Văn, Văn Học Nghệ Thuật của người Việt hảingoại tại Hoa Kỳ Từ 1986 đến tháng Tám năm 2004 làm chủ bút tạp chí VănHọc, California, Hoa Kỳ

Qua đời lúc 22 giờ 15 phút ngày 2 tháng Bảy năm 2012 (ngày giờ địaphương ở California) tại nhà riêng ở Westminster, California

Những tác phẩm đã xuất bản: Nỗi băn khoăn của Kim Dung (tiểu luận, Nxb Văn mới, Sài Gòn, 1972); Bão rớt (truyện ngắn, Nxb Trí Đăng, Sài Gòn, 1973); Tiếng chim vườn cũ (Nxb Trí Đăng, 1973); Qua cầu gió bay (truyện dài, Nxb Văn mới, Sài Gòn, 1974); Đường một chiều (truyện dài, Nxb Nam Giao, Sài Gòn, 1974); Ngựa nản chân bon (truyện ngắn, Nxb Người Việt, 1983); Xuôi dòng (truyện ngắn, Nxb Văn nghệ, 1987); Mùa biển động (trường thiên tiểu thuyết, Nxb Văn nghệ, 1984 - 1989); Sông Côn mùa lũ (trường

thiên tiểu thuyết, Nxb An Tiêm, 1991)…Ngoài ra còn có một số bài tiểu luậnphê bình khác

Thành công của nhà văn Nguyễn Mộng Giác chủ yếu trên lĩnh vực

truyện ngắn, truyện dài và tiểu thuyết Tiểu thuyết lịch sử Sông Côn mùa lũ ra

đời là một đánh dấu trong sự nghiệp văn chương của ông Là một nhà vănnặng lòng với quê hương, nhất là quê hương Bình Định, nơi sinh ra người anhhùng dân tộc Nguyễn Huệ và cũng là quê hương của nhà văn Vì thế ông luôncanh cánh là phải làm một cái gì đó cụ thể cho quê hương mình

Mặc khác ông nhận ra rằng tìm hiểu lịch sử dường như đã trở thànhnhu cầu và cảm hứng đối với văn nghệ sĩ Việt Nam Đặc biệt là làm rõ mối

Trang 16

quan hệ giữa văn chương và lịch sử, sự hư cấu nghệ thuật với sự thật lịch sử.Chính điều đó làm cho nền văn học phát triển hơn, đặc biệt là thể loại tiểuthuyết viết về đề tài lịch sử Thể loại tiểu thuyết lịch sử đã tiến xa, ở ViệtNam sau những năm dài phân tranh chia rẽ, trở thành phức tạp, không thể đơnsơ! Đa số minh họa lịch sử, rất ít thành công văn chương Thất bại vì viết theomẫu, mà không độc đáo hóa nhân vật nhất là nhân vật phụ, hoặc không thật

có kỹ thuật văn chương

Trong điều kiện đó có không ít tiểu thuyết lịch sử ra đời đã đánh dấu

bước phát triển của văn học sau năm 1975 Trước sau với nhiều tác phẩm Bão

táp triều Trần của Hoàng Quốc Hải, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Hội thề của Nguyễn Quang Thân, Tây Sơn Bi hùng truyện của Lê Đình

Danh… và Sông Côn mùa lũ cũng để lại dấu ấn trong giai đoạn này Sông

Côn mùa lũ là đứa con chào đời sớm so với một số tác phẩm trên nhưng đến

năm 1991 xuất bản ở Hoa Kỳ, năm 1998 tái bản ở Việt Nam

Có thể nói ý định viết tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ đến với Nguyễn

Mộng Giác thật tình cờ vào dịp gần tết năm 1978 khi tác giả ở Việt Nam “…một lúc cao hứng, hứa với Hải sẽ viết một cuốn tiểu thuyết thật dài về tâmtrạng trí thức thời loạn, chọn thời Tây Sơn của các nho sĩ thời xưa.” [22,567]

Ngày 24-5-1978: Bắt đầu viết chương một của bản phác thảo

Ngày 1-9-1980: Viết xong chương cuối của phần 6

Ngày 1-3-1981: Viết xong chương cuối phần kết từ

Ngày 6-8-1981: Sửa lại cấu trúc và xem lại sử liệu

Như vậy bộ trường thiên tiểu thuyết đã được nhà văn hoàn thành saubốn năm lao động nghệ thuật miệt mài 1978- 1981 Nhà xuất bản An Tiêm

(Mĩ) phát hành năm 1991 Sông Côn mùa lũ là một trường thiên tự sự về lịch

sử thế kỉ 18 Đây là một cuốn tiểu thuyết lịch sử gây sự chú ý trong của côngluận, trước hết bởi nó có một số phận đặc biệt gắn với số phận của tác giả.Mặt khác, giữa những khuynh hướng viết tiểu thuyết lịch sử trái cực gây bàn

Trang 17

cãi không dứt thì sự xuất hiện của Sông Côn mùa lũ như là một sự trung hoà

giữa những lối viết Nó đem đến cho người đọc một cảm giác vừa lạ vừaquen- lạ không đến nỗi gây sốc và quen nhưng không nhàm chán

Ngay từ ban đầu, Nguyễn Mộng Giác có ý định “viết về tâm trạng tríthức thời loạn nói chung, trong đó có một phần tâm trạng mình trong nhữngnăm nhiều biến chuyển sau tháng tư 1975”, ông muốn ký thác rất trực tiếpnhững trải nghiệm tinh thần của bản thân vào tác phẩm Rõ ràng, chọn thờiđại lịch sử nhiều biến động cuối thế kỉ XVIII, thời kì giới nho sĩ trí thức cảđàng trong lẫn đàng ngoài đều bị đặt trước những thử thách sinh tử NguyễnMộng Giác đã nhìn thấy ở đó có nét tương đồng với giai đoạn lịch sử nhiềubiến động cuối thế kỉ XX - thời điểm mà nhà văn viết tác phẩm này Và nhânvật Quang Trung mà nhà văn sáng tạo ít nhiều đều là sản phẩm của sự hiểubiết và tưởng tượng mang màu sắc cá nhân và chủ quan của một con ngườisống ở cuối thế kỉ XX Quang Trung hiện lên giản dị, mọi hành động và suynghĩ đều gần gũi với đời thường Vấn đề nhà văn đặt ra trong tác phẩm là thânphận con người trong cơn bão động của lịch sử, từ con người của chốn cungđình đến những người dân dưới đáy xã hội Kết thúc cuối cùng của mỗi sốphận con người như thế đều là bất hạnh, khổ đau Thế mới biết, trong cơn vạnbiến của lịch sử thân phận con người thật bé nhỏ, mong manh! Phải khẳngđịnh rằng, khi chú trọng đến yếu tố tiểu thuyết thì lịch sử có thêm một sứcsống mới Lịch sử không còn là sự kiện biên niên mà đã được tái tạo và mangtheo những vấn đề mà con người hiện tại quan tâm Lịch sử được xem nhưmột chất liệu để phản chiếu những vấn đề của con người ở tầm phổ quát nhất

Nguyễn Mộng Giác đã có lần “tâm sự” khi viết Sông Côn Mùa Lũ ông

nghĩ nhiều đến người đọc, với con số hai nghìn trang “bộ sách tràng giang đạihải như thế” có thể sẽ làm cho bạn đọc ngán ngẩm vất bỏ đi thì phí “công hìhục viết bao nhiêu năm” thế nên bộ truyện cần phải có một sự nhất quán, mộtsợi dây dẫn dắt người đọc đi suốt chiều dài những trang sách Cái nhất quán

mà tác giả mong muốn là câu hỏi lớn về triết lí lịch sử: thế nào là chính thống

Trang 18

thế nào là ngụy triều? Nói theo ngôn ngữ hiện đại là chính nghĩa chính trị bịtác động bởi hoàn cảnh miền Nam và giới trí thức lúc ông viết, nhất là chương

90 Nhiệm vụ của một người viết tiểu thuyết nếu có theo ông là “phức tạp hóanhững điều tưởng là đơn giản, để người ta nhớ rằng con người, đời sống là cái

gì mong manh dễ vỡ, phải cố gắng thông cảm với những tế vi phức tạp của

nó, nhẹ tay với đồng loại những lúc bất đồng, kiên nhẫn với những yếu đuốikhó hiểu ”

Khi viết Sông Côn mùa lũ, ông vẫn nghĩ mình đang viết một cuốn tiểu

thuyết lịch sử, nghĩa là đang chịu những qui luật thành văn hay bất thành văncủa hai thể loại “tiểu thuyết” và “lịch sử” Tiểu thuyết, nói cho cùng (trừnhững thí nghiệm khai phá muốn làm khác đi mà thất bại nhiều hơn thànhcông) là một thể loại văn chương nhằm thỏa mãn nhu cầu muốn ngóngchuyện thiên hạ của người đời Người viết tiểu thuyết là người kể Người đọctiểu thuyết là người muốn nghe kể Người kể chuyện, giống như ông thầyđứng trên bục giảng giảng bài cho sinh viên ngồi phía dưới, phải kể thế nào

để người nghe hiểu được câu chuyện của mình, nghĩa là cả hai bên phải nóicùng một ngôn ngữ, dùng cùng một tần số cho tín hiệu phát và thu, có chungmột trục qui chiếu của lý luận và phương cách diễn đạt Mà theo ông, căn bảncủa tiểu thuyết là chuyện thế sự, là chuyện con người và cuộc đời Ngay cảnhững tiểu thuyết truyền kỳ hay viễn tưởng bạo dạn nhất như truyện kiếmhiệp Kim Dung, phim khoa học giả tưởng Mỹ, truyện ma quỉ của Bồ Tùng

Linh, truyện thần kỳ như Tây Du Ký, căn bản hấp dẫn và lôi cuốn người nghe,

người đọc, người xem những tác phẩm ấy vẫn là: những nhân vật huyễntưởng ấy cư xử y như người đời, y như những độc giả khán giả Con người,đời sống trong tiểu thuyết cần thiết cho thể loại này hơn bất cứ thể loại nàokhác Nếu Nguyễn Du viết một thiên tiểu luận sâu sắc về thuyết “tài mệnhtương đối” chắc ngày nay không ai thèm đọc, nhưng ông lại làm khác đi,thuật rất tài cái ghen lạ lùng của Hoạn Thư, tả rất giỏi cảnh lầu xanh ở tận bênTàu…

Trang 19

Ý định bạn đầu là thế, thế nhưng khi bắt đầu tìm hiểu những tư liệu vềthời đại Tây Sơn ông mới nhận ra định hướng đó có phần hạn hẹp Nhà vănmuốn tái hiện toàn cảnh giai đoạn lịch sử ấy từ chốn triều đình cho đến thânphận những người dân ở cùng đáy xã hội và phong trào Tây Sơn từ lúc khởidấy cho đến khi Quang Trung mất Tất cả đều được thể hiện trong cái gọi làtiểu thuyết lịch sử theo suy nghĩ của ông “tiểu thuyết lịch sử đúng nghĩa luônluôn phải là một cuốn tiểu thuyết thế sự- bản chất của tiểu thuyết là thế sự.Thế sự là da thịt của tiểu thuyết lịch sử, cũng như lịch sử là xương cốt của tiểuthuyết lịch sử”.

Có thể nói thế giới nghệ thuật trong Sông Côn Mùa Lũ mà nhà văn tạo

ra rất gần gũi với cuộc đời Ông đi sâu vào biến cố của từng gia đình: gia đìnhgiáo Hiến, gia đình Hai Nhiều, gia đình Lợi, gia đình Huệ, Nhạc… đi sâu vàotâm lý từng nhân vật: An một hình mẫu của phụ nữ trong chiến tranh; mộtlãnh đạo phong trào quyết liệt mạnh mẽ như Nhạc nhưng cũng rất dân giã đờithường của một con buôn; một Nguyễn Huệ xuất thần tài tình nhưng cũng rấtđời tư trong tình yêu với An, với cuộc sống gia đình; hay những Lợi cơ hội cánhân; Chỉnh gian xảo, chờ đợi thời cơ; giáo Hiến trí thức thất thời; Lãng,Kiên, Thọ Hương những số phận bị cuốn theo dòng lịch sử

Về tiểu thuyết Việt Nam, Giải thưởng Sách hay trao cho trường thiên

tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ của nhà văn Nguyễn Mộng Giác (Nxb Văn học

và Trung tâm Nghiên cứu Quốc học xuất bản năm 1998) sau những đóng góp

mà bộ tiểu thuyết đem đến cho nền văn học Việt Nam Trao giải cho Sông

Côn mùa lũ, Hội đồng tuyển chọn muốn khẳng định tài năng và tâm huyết của

tác giả Nguyễn Mộng Giác, người đã viết tác phẩm này trong những nămtháng khó khăn thời hậu chiến Ra mắt lần đầu tiên ở Mỹ, sau đó được in lại

trong nước, Sông Côn mùa lũ đã kết nối bạn đọc Việt Nam trong những hoàn

cảnh xa cách nhau, cùng chung một tình tự dân tộc và một niềm tin về sứcmạnh tinh thần của đất nước, điều mà tác phẩm đã gợi ra một cách nghệ thuật

1.1.2 Lý thuyết kết cấu tác phẩm tự sự

Trang 20

Khái niệm kết cấu, các dạng kết cấu.

Kết cấu là toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh động của tác phẩm Khi bàn

về kết cấu ta cần phân biệt bố cục với kết cấu của tác phẩm Nếu như thuậtngữ bố cục là nói đến sự sắp xếp, phân bố các bộ phận của tác phẩm theo mộttrình tự mạch lạc nhất định thì kết cấu thể hiện một nội dung rộng rãi, phứctạp hơn Tổ chức tác phẩm không chỉ giới hạn ở sự tiếp nối bề mặt, ở nhữngtương quan bên ngoài giữa các bộ phận, chương đoạn mà còn bao hàm sự liênkết bên trong nghệ thuật kiến trúc nội dung cụ thể của tác phẩm

Kết cấu còn bao gồm: tổ chức hệ thống tính cách, tổ chức thời gian vàkhông gian nghệ thuật của tác phẩm; nghệ thuật tổ chức những liên kết cụ thểcủa các thành phần cốt truyện, nghệ thuật trình bày, bố trí các yếu tố ngoài cốttruyện… sao cho toàn bộ tác phẩm thực sự trở thành một chỉnh thể nghệthuật

Kết cấu giữ những chức năng rất đa dạng như thể hiện được chủ đề và

tư tưởng của tác phẩm; giúp nhà văn triển khai, trình bày cốt truyện thật hấpdẫn, cấu trúc hệ thống tính cách hợp lí, tổ chức điểm nhìn trần thuật của tácgiả…Kết cấu giúp nhà văn có sự linh hoạt trong việc chọn lựa cách thức trầnthuật Sau đây là một số hình thức kết cấu trong tác phẩm văn học

Những hình thức kết cấu trong tác phẩm văn học rất phong phú và đadạng Ở đây có thể tìm hiểu một số hình thức kết cấu đã từng xuất hiện tronglịch sử văn học và đã tạo nên nhiều tác phẩm có giá trị

Kết cấu theo trình tự thời gian

Ðây là dạng kết cấu phổ biến nhất trong văn học Việt Nam từ trước

1930 Theo kết cấu này, câu chuyện được trình bày theo thứ tự, phát triểntrước sau của thời gian Các sự kiện được sắp xếp, xâu chuỗi lại và lần lượtxuất hiện không bị đứt quãng Hầu hết những tác phẩm chương hồi sử dụnglối kết cấu này Ở đây, tác phẩm được chia thành nhiều chương, hồi theo sựphân bố về mặt hành động và sự kiện của cốt truyện Mỗi chương, mỗi hồithường gắn liền với một giai đoạn nào đó của cốt truyện và nhiều khi khá trọn

Trang 21

vẹn, loại kết cấu này giúp người đọc dễ theo dõi câu chuyện nhưng nhiều khilại đơn điệu

Kết cấu đảo trình tự thời gian

Trên phương diện kết cấu, một trong những loại hình mới mẻ mà thểloại tự sự đặc biệt tiểu thuyết từ đầu thế kỷ XX đem đến trên phương diện kếtcấu cốt truyện là sự đảo lộn thời gian của sự kiện - tức là nghệ thuật trần thuậtkhông tuân theo trình tự diễn tiến của cốt truyện tự nhiên theo thời gian tuyếntính Các truyện này thường bắt đầu ở phần giữa hoặc phần kết thúc của cốttruyện tự nhiên Sự tái tạo lại trật tự nghệ thuật cho các sự kiện trong cốttruyện là một đặc trưng của tư duy nghệ thuật hiện đại Sự đảo lộn trật tự thờigian của các sự kiện có ý nghĩa không nhỏ trong việc thể hiện nội dung tácphẩm nên kiểu kết cấu này đã rất phổ biến ở truyện ngắn các giai đoạn sau

Kết cấu theo hai tuyến nhân vật đối lập

Lối kết cấu này được sử dụng nhiều trong văn học cổ Nhà văn xâydựng 2 tuyến nhân vật chính diện và phản diện đối lập nhau về lí tưởng, chínhkiến, đạo đức, hành động Một bên đại diện cho lực lượng chính nghĩa, cáiđẹp, chân lí Một bên thì ngược lại Hai lực lượng này đấu tranh không khoannhượng với nhau và thường kết thúc với thắng lợi của lực lượng chính nghĩa.Hầu hết những truyện thơ Nôm ở Việt Nam sử dụng kết cấu này

Kết cấu này có tác dụng làm nổi rõ chủ đề tư tưởng thông qua so sánh,đối chiếu giữa 2 tuyến nhân vật đối lập Tuy nhiên sự phân biệt khá rạch ròigiữa thiện và ác nhiều khi dẫn đến lí tưởng hóa hiện thực Trong thực tế cuộcsống, các lực lượng xã hội có tác động qua lại, chuyển hóa cho nhau chứkhông tồn tại một cách ổn định và tĩnh tại

Hình thức kết cấu theo 2 tuyến nhân vật đôi khi được trình bày khôngphải là sự đối lập mà là 2 tuyến song song, làm cơ sở để đối chiếu và hỗ trợcho nhau Ở đây mỗi tuyến tập hợp những kiểu người gần gũi với nhau về

hoàn cảnh sống, về tính cách, đạo đức Có thể coi Anna Karênina của L.

Tônxtôi được xây dựng theo hình thức kết cấu này

Trang 22

Kết cấu đa tuyến.

Trong những bộ tiểu thuyết lớn, để khái quát về một bức tranh xã hộirộng lớn gồm nhiều hạng người, nhiều mối quan hệ đan xen nhau, khai thácnhiều mặt khác nhau của đời sống, các nhà văn thường sử dụng hình thức kếtcấu theo tuyến nhân vật Trong những tác phẩm này, nhà văn tổ chức cácnhân vật theo các tuyến dựa trên những mối quan hệ về gia đình, nghề nghiệp,

giai cấp Trong Chiến tranh và hòa bình, L Tônxtôi đã xây dựng hai tuyến

lớn và ở mỗi tuyến lớn lại có nhiều tuyến nhỏ tập hợp các nhân vật theo từngdòng họ, từng gia đình

Hình thức kết cấu này thường được sử dụng trong văn học hiện đại,nhất là trong các tiểu thuyết lớn Erenbourg có nhận xét về kết cấu của một sốtiểu thuyết trong thế kỉ XX: “Tiểu thuyết của thời đại ta có nhiều chỗ khác vớitiểu thuyết thế kỉ XIX vốn xây dựng trên lịch sử một con người hay một giađình Trong tiểu thuyết hiện đại có nhiều nhân vật hơn, số phận của họ đanchéo vào nhau, nhà văn thường hay đưa người đọc từ thành phố này sangthành phố khác, đôi khi đi sang một nước khác nữa, cách kết cấu khiến tanghĩ tới sự luân phiên của những đoạn cận cảnh với những cảnh quần chúng

trên màn ảnh” Có thể coi những bộ tiểu thuyết Sông Ðông êm đềm của Sôlôkhôp hay Vỡ bờ của Nguyễn Ðình Thi, Cửa biển của Nguyên Hồng sử

dụng lối kết cấu này

Kết cấu tâm lí

Ðây là hình thức kết cấu dựa theo qui luật phát triển tâm lí của các nhânvật trong tác phẩm Loại kết cấu này xuất hiện cùng với sự xuất hiện của cáctrào lưu văn học khẳng định vai trò của cá nhân trong xã hội Kết cấu nàythường dựa vào trạng thái tâm lí có ý nghĩa nào đó để sắp xếp các sự kiện,

nhân vật, cốt truyện Trong Sống mòn, Nam Cao đã sắp xếp nhiều mẫu

chuyện vặt vãnh, quẩn quanh trong sinh hoạt hằng ngày với những trạng tháitâm lí bi quan, bất lực, tự ti, khinh bạc của các nhân vật Kết cấu đó góp

Trang 23

phần thể hiện cuộc sống chật hẹp, tù túng, bế tắc của người tiểu tư sản nghèotrong xã hội cũ

Có thể nói đây là kiểu kết cấu mới mẻ nhất trong văn học Việt Namgiai đoạn đầu thế kỷ XX Đó là kiểu kết cấu của những tác phẩm có cốt truyệntâm lí nhằm miêu tả những diễn biến tinh vi, phức tạp của đời sống nội tâmcon người Trong những truyện này, chỉ có một vài sự việc, còn lại là cảmgiác, suy nghĩ của nhân vật với những hồi ức, liên tưởng và độc thoại nội tâm.Nếu có sự kiện thì sự kiện chỉ đóng vai trò khơi gợi cho dòng chảy tâm lý.Tiêu biểu cho truyện có kết cấu tâm lý này là những truyện của các tác giảthuộc dòng truyện ngắn trữ tình như Thạch Lam, Thanh Tịnh và sau này đượctiếp nối, phát huy, thành công rực rỡ với Nam Cao

Hẳn nhiên mạch truyện được triển khai theo tâm lý nhân vật nhưng vẫnphải bám sát vào các sự kiện, dựa vào sự kiện Do vậy, để có một truyện hay,người viết không chỉ miêu tả tâm lý mà là phân tích tâm lý, phân tích gắn vớivới sự kiện, vì sao chỉ có sự kiện ấy thì tâm lý nhân vật mới có biểu hiện nhưvậy

Kết cấu trần thuật dạng “truyện lồng trong truyện”

Trong bài viết “Sự di chuyển của kết cấu truyện lồng truyện và kiểutruyện khung trong văn học từ Ấn Độ sang Đông Nam Á” tác giả NguyễnNgọc Bảo Trâm cho ta biết được kết cấu truyện lồng truyện ở góc độ một thủpháp văn chương đã xuất hiện rất sớm trong lịch sử văn học thế giới Nói mộtcách đơn giản đây là thủ pháp để lồng ghép một câu chuyện độc lập (có liênquan hoặc không về mặt nội dung) vào tác phẩm chính trong quá trình diễntiến của tác phẩm Có thể thấy biểu hiện xa xưa của nó trong sử

thi Odyssey của Hy Lạp (thế kỷ VIII trước công nguyên) khi người anh hùng

Ulysses tự kể lại những chuyện phiêu lưu của mình trong bữa tiệc Từ thời cổđại, kết cấu truyện lồng truyện đã được văn học Ấn Độ sử dụng triệt để để tạo

nên hai thiên sử thi đồ sộ nhất trong lịch sử nhân loại là Mahabharata (thế kỷ

Trang 24

V trước công nguyên) và Ramayana (khoảng thế kỷ IV-III trước Công

nhất là của nhân vật “tôi” kể cho bạn đọc nghe về cuộc gặp gỡ giữa bản thân

và thầy Phiền, chuyện thứ hai là chính thầy Phiền đã kể lại chuyện đời mìnhcho nhân vật “tôi” nghe từ việc thầy đã lấy được một người vợ đáng yêu nhưthế nào, thầy đã nghi ngờ và tìm cách giết vợ ra sao, và những ăn năn dằn vặtcủa thầy…)

Một đặc điểm đáng lưu ý nữa là ở những tác phẩm có kết cấu truyệnlồng trong truyện như vừa nêu trên là những câu chuyện trong một truyệnkhông tách rời mà luôn được đan cài vào nhau rất linh hoạt, tự nhiên, chongười đọc những ấn tượng về sự chân thực của chuyện được kể, kéo họ lạigần với thế giới nghệ thuật của tác phẩm hơn, đồng thời tạo sự sinh động chotruyện

Mặt khác, sự đan cài hai câu chuyện vào nhau là một cách thức tạo sựluân phiên điểm nhìn, góp phần làm cho nhân vật (nhất là thế giới nội tâm củanó) được xem xét dưới nhiều góc độ và được xây dựng một cách tự nhiênhơn Đó chính là thế mạnh của kết cấu truyện lồng trong truyện, góp phần tạodựng cho truyện một nghệ thuật trần thuật hiện đại

1.1.3 Kết cấu tiểu thuyết lịch sử dưới góc độ tự sự học

Tiểu thuyết là một thể loại tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thựcđời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh

số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức, xã hội, miêu

tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng, khai tháctâm lý, tư tưởng tình cảm của con người

Trang 25

Ở châu Âu tiểu thuyết phát triển rất sớm từ thời Phục Hưng (thế kỉXIV-XVI) và phát triển rực rỡ vào thế kỉ XIX với những bậc thầy Ban-dắc,L.Tônxtôi… Ở Trung Quốc tiểu thuyết cũng xuất hiện rất sớm (thế kỉ III-IV)

dưới dạng ghi chép Và Việt Nam với sự xuất hiện của Nam triều công

nghiệp diễn chí của Nguyễn Khoa Chiêm và Hoàng Lê nhất thống chí của

Ngô gia văn phái vào thế kỉ XVIII đã đánh dấu cho thể loại tiểu thuyết lịch sửtrong nền văn học Việt Nam Song trong nghiên cứu hai tác phẩm vẫn cònchịu ảnh hưởng khá lớn của tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc

Mãi đến sau những năm 1975 tiểu thuyết đổi mới thật sự có nhữngthành tựu đáng ghi nhận Sáng tác tiểu thuyết trong giai đoạn này bắt đầu có

sự phân chia: tiểu thuyết sử thi, tiểu thuyết tâm lý, tiểu thuyết trinh thám, tiểuthuyết truyền kì… trong đó có mảng tiểu thuyết lịch sử

Tác phẩm nghệ thuật bao gồm nhiều yếu tố, nhiều thành phần phức tạp,tất cả những bộ phận khác nhau đó được nhà văn sắp xếp, tổ chức theo một hệthống một trật tự nhất định gọi là kết cấu Khái niệm kết cấu là một công cụ líluận quan trọng trong phê bình phân tích tiểu thuyết và tiểu thuyết lịch sửcũng không ngoại lệ Không một sự vật nào tồn tại mà không có kết cấu, tồntại của sự vật là khẳng định tồn tại của kết cấu

Như vậy, kết cấu tác phẩm là toàn bộ quá trình tổ chức tác phẩm để đạtđược mục đích phản ánh sáng tạo của mỗi nhà văn Kết cấu trong tác phẩmkhông bao giờ tách rời nội dung cuộc sống, tư tưởng, tình cảm Kết cấu là mộtthành tố mang tính tổng hợp

Mặt khác, kết cấu còn là phương tiện khái quát nghệ thuật Một vấn đềquan trọng ta đã gặp trong nhiều tác phẩm: nhà văn không chỉ xây dựng cáchình tượng nghệ thuật mà thông qua hình tượng để gửi gắm những bức thôngđiệp với cuộc đời Nhà văn có thể không được lưu tâm, nhưng hình tượng tiêubiểu, những vấn đề then chốt thì luôn có sức sống và giá trị thẩm mĩ Chính vìtính khái quát của tác phẩm mà mỗi nhà văn đều đầu tư chăm chút để làm saovấn đề chính yếu trong bức thông điệp tư tưởng của mình được nổi lên hàng

Trang 26

đầu Nói như vậy nghĩa là mỗi kết cấu là một quá trình vật lộn của nhà văntrước cuộc đời Quá trình này in vào đó sự thao thức, nghĩ suy, tìm tòi và sángtạo Như vậy, thứ tự trước sau của các chi tiết không phải là ngẫu nhiên màđòi hỏi nhà văn phải tư duy, lựa chọn, sắp xếp Do vậy, kết cấu phản ánh quátrình tư duy của nhà văn, sự suy nghĩ của nhà văn: Tư tưởng của mỗi tác giảbao giờ cũng được thể hiện trong kết cấu và qua kết cấu.

Kết cấu xử lí mối quan hệ giữa tuyến sự kiện và tuyến nhân vật, tổ chứccác yếu tố tự sự, tổ chức các hình thức bên ngoài của tác phẩm… để tác phẩmtrở thành một chỉnh thể nghệ thuật thống nhất và hoàn chỉnh Cái tài của tácgiả Trung đại không phải ở một cốt truyện hay, bởi cốt truyện đó đã có sẵntrong lịch sử và được lưu truyền rộng rãi Mà cái làm nên sức hấp dẫn cho tácphẩm chính là khả năng kết cấu tác phẩm, tài tổ chức và sắp xếp các biến cố,

sự kiện và đặc biệt là một phương thức kể chuyện độc đáo

Trong tác phẩm tự sự nhất là về thể loại tiểu thuyết lịch sử, phươngdiện kết cấu giúp ta nắm bắt tác phẩm về hình thức thể loại, nắm bắt đượcsáng tạo nghệ thuật của nhà văn, hiểu được nội dung mà nhà văn muốn thểhiện Từ lâu, hễ nhắc đến tiểu thuyết lịch sử thì ta nghĩ ngay đến kết cấuchương hồi, đây là kiểu kết cấu có ảnh hưởng rất lớn trong cách viết tiểuthuyết

Ví dụ như đối với tiểu thuyết Hoàng Lê nhất thống chí tìm hiểu sâu ở

hai mặt kết cấu bên trong và bên ngoài của tác phẩm với tính chất của mộttiểu thuyết được viết theo lối chương hồi Nghĩa là đi vào tìm hiểu cách thứckết cấu chương hồi và vai trò của kết cấu này trong việc xâu chuỗi các sựkiện, tạo cốt truyện như thế nào

1.1.4 Kết cấu tiểu thuyết Sông Côn Mùa Lũ

Sông Côn Mùa Lũ gồm 101 chương, chia làm 7 phần lớn (I-Về AnThái: 12 chương; II-Tây Sơn thượng: 5 chương; III-Hồi hương: 20 chương;IV-Phương Nam: 18 chương; V-Vượt đèo Hải Vân: 16 chương; VI-PhúXuân: 25 chương; VII-Kết từ: 5 chương)

Trang 27

Mở đầu năm 1765 là hình ảnh gia đình giáo Hiến đi tránh nạn, đó làmột hành trình mà giáo Hiến- một nhà nho vừa trốn nạn Trương Phúc Loanchuyên quyền, từ Phú Xuân lánh vào quê vợ (An Thái) Ở đây, giáo Hiến đãnhận hai anh em Lữ và Huệ làm học trò… và kết thúc năm 1792 khi NguyễnHuệ mất, An (con giáo Hiến, người yêu của Nguyễn Huệ) ra Phú Xuân dựđám tang vua Quang Trung

Tác giả Sông Côn Mùa Lũ đã mượn câu chuyện thăng trầm, tan hợp

đầy sóng gió của gia đình ông giáo Hiến và gia đình ba anh em Tây Sơn để táihiện lịch sử dân tộc ta trong suốt gần ba thập kỷ cuối thế kỷ 18, chứ không chỉmiêu tả cuộc khởi nghĩa Tây Sơn và những chiến công của Nguyễn Huệ

Có thể nói tác phẩm Sông Côn Mùa Lũ là một tác phẩm khá thành công

về mặt kết cấu

Trước hết toàn bộ câu chuyện về triều đại Tây Sơn được xây dựng theokết cấu trình tự thời gian Các sự kiện trong truyện được sắp xếp theo một trật

tự tuyến tính từ lúc bắt đầu cho đến kết thúc Tác phẩm tái hiện biến cố lịch

sử cuộc khởi nghĩa Tây Sơn từ lúc khởi dấy cho đến khi Quang Trung(Nguyễn Huệ mất) từ năm 1765- 1792 Với thời gian 27 năm được tái hiệntrong 2000 trang sách nhà văn đã tạo nên một khoảng thời gian với nhiều biếnđổi

Phần I nhà văn tái hiện biến cố gia đình giáo Hiến từ khi ở Phú Xuânsau phải lưu lạc về An Thái tạm cư với sự giúp đỡ của gia đình Hai Nhiều Ởđây gia đình giáo Hiến bắt đầu cuộc sống mới trên vùng đất mới, với cuộc hộingộ giữa giáo Hiến và Nguyễn Nhạc, tình trò với Huệ, mối nhân duyên giữa

An và Huệ Trong thời gian sống ở An Thái, An nhận ra sự quan tâm của Lợicho gia đình mình, mâu thuẫn của Kiên ở Tây Sơn thượng và kết thúc ởchương 12 là việc Huệ đem cả gia đình ông giáo lên Tây Sơn thượng Tất cảcác diễn biến tuần tự diễn ra theo một trật tự qua lời trần thuật

Phần II tiếp nối tái hiện cuộc sống ở Tây Sơn thượng Những ngàytháng gia đình An ở Tây Sơn thượng từ (1771- 1772), tại đây An đã chứng

Trang 28

kiến bao biến đổi: cuộc hành quyết để thị uy qui quyền của Nhạc, nhữngchuẩn bị cho một quá trình khởi nghĩa của phong trào Tây Sơn, những mâuthuẫn về tư tưởng của Nhạc, Huệ, giáo Hiến… cùng những thất bại ban đầucủa cuộc khởi nghĩa Đan xen trong những diễn biến của phong trào là diễnbiến tình yêu mơ hồ của An và Huệ.

Phần III từ 1773 lực lượng Tây Sơn lớn mạnh bắt đầu những cuộc kéobinh trở lại Kiên Thành của Nhạc và việc sắp xếp lại lực lượng trong nghĩaquân Tây Sơn Vượt lệnh anh dẫn binh tiến sâu xuống An Thái, Huệ ghi nhậnthái độ của Nhạc, Huệ hân hoan trong ngày giải phóng An Thái Nhạc chuẩn

bị đánh chiếm và trở lại Qui Nhơn của anh em Tây sơn, những vụ phản bộicủa các thế lực, Nhạc xưng vương ở Qui Nhơn Những thay đổi mới trongcuộc đời khiến An, Kiên, Lợi, Thọ Hương suy nghĩ hoang mang Tâm trạngHuệ đối với cuộc hôn nhân của An Sự xuất hiện của Chỉnh tạo nên sự bấpbênh vị thế của giáo Hiến

Phần IV khi giáo Hiến thất chí, An dần thích nghi với cuộc sống vợchồng, nhưng phải đối diện với một loạt biến cố: An thấp thỏm lo âu khi sinhcon đầu lòng, tai biến Lợi biển thủ khi lo việc cấp lương, ông giáo mất, Lợiđược phóng thích, Chinh bỏ mạng tại Cần thơ, Huệ cưới em gái Bùi VănNhật Thời điểm bấy giờ sự bất đồng của Huệ và Nhạc về việc đánh Gia Định,

sự thay đổi của Kiên và Lữ trong suy nghĩ về cuộc đời Sau khi được phóngthích Lợi cũng có sự biến đổi về “kĩ thuật” sống, làm thân với Hữu Chỉnh.Kết thúc chương 55 là trận đánh vang dội trong lịch sử: Rạch Gầm- XoàiMút

Phần V Trong thời điểm mới vị trí của Lãng, Lợi, Huệ cũng có nhiềubấp bênh Huệ đánh chiếm Phú Xuân, tại đây Huệ chiêu mộ Trần Văn Kỷ, sautiến công ra Bắc dẹp họ Trịnh, Nguyễn Huệ kết duyên cùng công chúa NgọcHân Trở lại Bắc Hà, Chỉnh cảm thấy đắc chí nhưng e ngại thái độ cố chấpcủa sĩ phu Bắc hà Vua Lê băng hà, thái độ của dân chúng Thăng Long trướccác biến cố Chỉnh nhận ra sự thất sủng của mình

Trang 29

Trong các phần của tác phẩm thì phần VI chiếm dung lượng nhiều nhất,chủ yếu tập trung tái hiện khúc quanh quan trọng trong cuộc đời Huệ Mâuthuẫn giữa anh em Huệ, Nhạc đẫy lên đến mức căng thẳng Công cuộc cai trị,chế độ chính trị, tư tưởng chiêu một nhân tài (La Sơn Phu Tử, Ngô Thì Nhậm,Phan Huy Ích…) và hình ảnh rực rỡ của hoàng đế Quang Trung Bên cạnhánh hào quang của Nguyễn Huệ thì hình ảnh cuộc đời các nhân vật cũng bắtđầu bước vào giai đoạn cao trào Nguyễn Nhạc có thái độ dứt khoát hơn vớiHuệ và các tướng lĩnh theo Huệ, Lữ và Kiên thực sự bước vào con đường mớitheo đuổi thế giới tâm linh, tình yêu của Lãng đi vào bế tắc, An đối diện vớibiến cố Lợi bị hành quyết Ở phần V có thể xem là phần trung tâm của toàn

bộ tác phẩm

Phần kết từ chủ yếu tập trung vào tuyến nhân vật hư cấu sau khi vuaQuang Trung mất An phải đương đầu với số phận vì con, Lãng dần dần bịđào thải, sống kiếp sống lang bạt rồi mất tích Hình ảnh kết thúc là cuộc sốngcủa ba mẹ con An ở bến Ván

Không chỉ kết cấu theo trật tự thời gian mà tác giả còn sử dụng kết cấuđảo ngược thời gian trong nghệ thuật trần thuật Điều đó được thể hiện trướchết ở chương hai trần thuật quá trình lánh nạn của gia đình qua việc nhớ lại

“Đã nửa tháng qua từ ngày ông giáo may mắn quá giang được một chiếc ghebầu về cửa giã!” [20,44] Hay như việc để cho nhân vật bác Năm kể về

“chuyện tuồng Tàu” của gia đình Hai Nhiều, gốc gác từ thời ông ngoại vàcuộc đời của Hai Nhiều Rồi việc thuật lại nguyên nhân Kiên bị hành hungtrên trường trầu qua lời kể của Lãng

Kiểu kết cấu thứ ba có thể nhận thấy trong tác phẩm là kết cấu theotuyến nhân vật Thông thường với tác phẩm tự sự kết cấu theo hai tuyến đối

lập nhưng trong Sông Côn Mùa Lũ nhà văn tạo ra hai tuyến nhân vật song

song làm cơ sở đối chiếu và hỗ trợ cho nhau Đối với tiểu thuyết lịch sử khikhai thác những sự kiện lịch sử tác giả phải tôn trọng tính sự thật về các nhânvật lịch sử nhà văn giữ lại đúng những gì mà nhân vật lịch sử có, nhưng nếu

Trang 30

chỉ dừng lại ở chỗ lịch sử là lịch sử thì rõ ràng tác giả đã đem văn chương làmphương tiện ghi sử Bên cạnh tuyến nhân vật lịch sử tác giả đã xây dựngtuyến nhân vật hư cấu, và khai thác thêm những khía cạnh khác trong tínhcách, tư tưởng tình cảm của cả nhân vật lịch sử Tuyến nhân vật lịch sử làNhạc, Huệ, giáo Hiến, Lữ, Chỉnh, Nhậm, Tuyết, Diệu, Sở…là những ngườitạo ra sự kiện lịch sử, dẫn dắt lịch sử vận động theo tính khách quan Tuyếnnhân vật hư cấu là An, Lợi, Lãng, Kiên, Thọ Hương… là những nhân vật hưtưởng, đời thường, thế sự, là cái nền cái hồn, cái sâu thẳm của tiểu thuyết lịch

sử Những nhân vật hư cấu góp mặt vào những sự kiện làm cho sự kiện sốngđộng hơn, chân thực hơn, gần gũi với người đọc hơn Ngoài ra nhân vật hưcấu có thể chi phối diễn biến câu chuyện nhanh hơn hoặc chậm lại tậm chí cóthể dừng lại ở một thời điểm nào đó Tác giả tạo ra hai tuyến nhân vật vớinhững mối quan hệ , những mâu thuẫn, đan xen nhau được đặt trong bối cảnhthời gian không gian của diễn biến sự kiện Đó là tình tình yêu giữa An vàHuệ, mối quan hệ giữa hai gia đình Nhạc và giáo Hiến, mối quan hệ chủ tớgiữa Lợi và ba anh em Tây Sơn, sự cưu mang của Huệ dành cho Lãng, sựđồng cảm giữa Lữ và Kiên… tình yêu, tình bạn, tình vợ chồng, tình thầytrò… tất cả như một sợi dây trói buộc các nhân vật lại trong một thể thốngnhất của lịch sử Khi nghiên cứu kết cấu này ta thấy nó có điểm tương quanvới kiểu kết cấu đa tuyến

Tiểu thuyết lịch sử là phản ánh bức tranh cuộc sống phong phú đa dạng

về con người về lịch sử và điều làm nên sự đa dạng đó là sự đa dạng về nhânvật, đa dạng về số phận, cuộc đời… Với gần cả trăm nhân vật, mỗi nhân vậtkhông kể có danh hay vô danh đều có một số phận, một cuộc đời riêng, nhữnghạnh phúc, những tai ương bất hạnh của họ đều được tác giả tái hiện trong tácphẩm khi họ xuất hiện trong tác phẩm Tác giả để cho những câu chuyệnđược kể ra có khi qua lời người trần thuật ngôi thứ ba (người kể toàn tri), cókhi lại mượn lời nhân vật hoặc các nhân vật này kể lại lời kể của nhân vật

Trang 31

kia…nhữg số phận này đan chéo vào nhau tạo nên một bức tranh xã hội dướithời Tây Sơn đa dạng phong phú.

Trong kết cấu hai tuyến nhân vật chính tác giả chia ra những tuyếnnhân vật nhỏ theo từng đặc điểm riêng của từng nhóm: có thể là những ngườicùng gia đình như gia đình giáo Hiến: giáo Hiến, An, bà giáo, Kiên, Chinh,Lãng; gia đình Nguyễn Nhạc: Nhạc, Huệ, Lữ, Thọ Hương, Vũ Văn Nhậm, emgái Bùi Văn Nhật, công chúa Ngọc Hân ; nhóm gia đình Hai Nhiều nhữngnhân vật cùng chung chí hướng: Huệ, Sở, Diệu, Ngô Thì Nhậm, Trần Văn

Kỷ, Phan Huy Ích ; Nhạc, Tuyên, Nhật, Tập Đình, Lí Tài…; Những nhân vật

nữ số phận của cuộc khởi nghĩa: An, Thọ Hương, Ngọc Hân, Em gái Nhật,Cúc…; những người tìm lối giải thoát cho cuộc đời bằng đạo hạnh như Lữ,Kiên… Mỗi người một tâm trạng, mỗi người một đặc điểm riêng, hòa nhậpvào dòng chảy, vào tiến trình của lịch sử để làm nên một thể thống nhất trong

Sông Côn Mùa Lũ, làm nên một phong cách riêng của Ngyễn Mộng Giác.

Mỗi nhân vật, mỗi gia đình khi xuất hiện thì đồng thời cũng bắt đầu chonhững câu chuyện khác hiện ra Truyện dược lồng trong truyện nhưng khôngnhập nhằng mà trái lại càng phản ánh rõ cuộc sống của con người của cáctầng lớp, giai cấp, nó đẩy những mâu thuẫn trong lịch sử trở nên gay cấn hơn,

nó tạo nên bức tranh lịch sử giàu màu sắc của cuộc đời Câu chuyện lịch sửđược tái hiện qua hai gia đình tiêu biểu là giáo Hiến và gia đình biện Nhạc.Trong câu chuyện nhà giáo Hiến mở ra hàng loạt câu chuyện lồng chuyện vớinhau:câu chuyện về giáo Hiến, bà giáo, An, về Chinh, về Kiên, rồi Lãng…một loạt những chuyện được kể chồng lên nhau như chuyện giáo Hiến vớiquan nội hữu, với sự cụ chùa Hà Trung; câu chuyện về vợ chồng Hai Nhiều,

về con cái Hai nhiều và mối quan hệ với Lợi; khi kể về Kiên là sự lồng ghép

về câu chuyện năm Ngạn, gia đình viên cai cơ, những chiêm nghiệm về cuộcđời; với Lãng là câu chuyện tình yêu với Thọ Hương, với Cúc… Kể về Huệtác giả lại xây dựng lồng ghép chuyện của vua Lê, của công chúa NgọcHân, Cái hay của nhà văn là sự sắp xếp các câu chuyện theo một tuần tự tự

Trang 32

nhiên hợp lí không gò bó, những câu chuyện đan xen vào câu chuyện chínhkhông làm cho người đọc có cảm giác cụt hứng mà trái lại nó có nhiệm vụdẫn dắt lôi cuốn người đọc trôi theo diễn biến câu chuyện Tất cả rất thật rấthợp lí như chính người đọc đang đi, đang chạy theo sự lôi cuốn đó.

Về mặt kết cấu tâm lý có lẽ tác giả tập trung vào diễn biến tâm lý củanhân vật An, giáo Hiến, Huệ, Lãng là nhiều Giáo Hiến một người luôn dằnvặt, trăn trở về cái gọi là trung quân của một lớp nho sĩ lúc bấy giờ, chính cáitrung quân ấy đã đưa đẩy cuộc đời giáo Hiến và cả gia đình biến đổi theodòng lịch sử từ Phú Xuân đi An thái, lên Tây Sơn thượng xuống Kiên Thành,

từ một chính khách của Trương Văn Hạnh đến thầy giáo của Huệ, Lữ, rồiquân sư của Nhạc và cuối cùng quẫn trí vì thất sủng Đến An từ một ngườicon gái với những suy nghĩ về biến cố gia đình, đến những rung động xaoxuyến bâng khuâng trước Huệ, thẹn thùng hãnh diện trước sự săn đón củaLợi, những lo sợ của buổi đầu trở thành thiếu nữ, những hoang mang trongđêm tân hôn và cuộc sống vợ chồng, để rồi bị cuốn vào cuộc sống đời thườngnhư bao phụ nữ khác, nhưng vẫn thoáng đâu đó tồn tại những rung cảm đam

mê của tình yêu đầu đời Một Huệ biết nghi ngờ qua lời thầy giảng về chínhnghĩa về anh hùng, những trăn trở về lịch sử, chính trị, những run rẩy của tìnhyêu với An, sự cảm thông bao bọc chở che với Lãng Và Lãng một nhân vậtkhông ít tâm trạng và tâm trạng ấy chi phối khá nhiều trong hành động củaLãng để rồi làm cơ sở cho những diễn biến tiếp nối nhau

Như vậy với kỹ thuật đan xen những kiểu kết cấu trong tiểu thuyết nhàvăn đã biến một sự kiện lịch sử thành sự kiện cuộc đời, những trang viếtthành những hoàn cảnh cụ thể trong đời thường Lịch sử hào hùng đã phảnánh được hiện thực cuộc đời, hiện thực cuộc đời càng làm cho ánh hào quanglịch sử rực rỡ hơn

1.2 Cốt truyện Sông Côn Mùa Lũ

1.2.1 Lý thuyết cốt truyện

Trang 33

Trong nghiên cứu văn học, từ lâu các nhà nghiên cứu xem vấn đề cốttruyện là một trong những yếu tố cơ bản để tìm hiểu tác phẩm.Trông ngành tự

sự học cốt truyện là yếu tố cơ bản quan trọng tạo nên kết cấu cho tác phẩm tựsự

Theo từ điển thuật ngữ văn học, cốt truyện (plot) là hệ thống sự kiện cụthể Được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất định, tạo thành bộphận cơ bản, quan trọng nhất trong hình thức động của tác phẩm văn họcthuộc các loại tự sự và kịch

Có thể tìm thấy qua một cốt truyện hai phương diện gắn bó hữu cơ: mộtmặt, cốt truyện là phương diện bộc lộ nhân vật, nhờ cốt truyện nhà văn thểhiện sự tác động qua lại giữa các tính cách nhân vật; mặt khác cốt truyện còn

là phương tiện để nhà văn tái hiện các xung đột xã hội Cốt truyện giúp nhàvăn tổ chức tốt hệ thống tính cách qua đó bộc lộ đặc điểm tính cách nhân vật,hệ thống sự kiện phản ánh chân thực xã hội có sức lôi cuốn hấp dẫn hơn vớingười đọc

Trong văn học cốt truyện tác phẩm hết sức đa dạng, nó phản ánh đượcthành tựu văn học của mỗi thời kì lịch sử Đã có không ít công trình nghiêncứu về lý thuyết cốt truyện Lí thuyết cốt truyện cổ điển từ thời Aristote tỏ ra

sơ lược và nhiều nhà khoa học đã nêu ra nhiều kiến giải bổ sung

Theo Aristote có hai loại cốt truyện: cốt truyện đơn giản và cốt truyệnphức tạp Trừ những cốt truyện đơn giản với các hành động liên tục, thốngnhất thì ở cốt truyện “đan vào nhau” (phức tạp) hành động của nhân vật luôndiễn ra qua đột biến và nhận thức Khi xét về cấu trúc cốt truyện đơn giản hayphức tạp thì ông cũng chia cốt truyện ra làm ba phần: đầu, giữa và kết Phầnđầu giới thiệu hành động chính theo cách nào đó để người đọc háo hức chờđợi diễn biến tiếp theo Phần giữa kết thúc sự kiện trước đó và gợi dẫn sự kiệntiếp theo Phần kết tiếp nối những gì đã xảy ra không gợi dẫn điều sắp đến vàtạo ra cái kết nhằm thõa mãn nhu cầu khám phá nghệ thuật của người đọc

Trang 34

Ngày nay chúng ta còn chia cốt truyện kịch tính ra làm năm phần: mở đầu,thắt nút, phát triển đỉnh điểm, kết thúc.[45, 181]

Các nhà lý luận thuộc trường phái cấu trúc J Lotman trong côngtrình “Cấu trúc văn bản nghệ thuật” coi cốt truyện là một trong những yếu tố

cơ bản tạo nên kết cấu tác phẩm nghệ thuật ngôn từ Trên nguyên tắc đối lậpnhị phân ngữ nghĩa của tổ chức nội tại các yếu tố của văn bản, J Lotman đãxác lập cấu trúc cốt truyện trên cơ sở của một loạt những cặp phạm trù có tínhchất đối lập, liên kết với nhau theo từng cấp độ của văn bản nghệ thuật: vănbản phi cốt truyện/văn bản có cốt truyện; không có biến cố/biến cố; nhân vậtbất hành động/ nhân vật hành động… Ông cũng yêu cầu xem cốt truyện trong

sự tương quan chặt chẽ với những yếu tố khác của kết cấu tác phẩm nghệthuật như khung khổ, không gian nghệ thuật, điểm nhìn…

Lịch sử nghiên cứu cốt truyện có nhiều biến đổi phức tạp sâu sắc Tùytheo quan niệm cá nhân mà mỗi nhà nghiên cứu có những cách phân chiakhác nhau về cốt truyện Khi phân loại cốt truyện các nhà nghiên cứu dựa vàotiêu chí để phân loại Dựa vào tiêu chí sự kiện: cốt truyện phân đoạn (chươnghồi- Episodic plot), cốt truyện liền mạch (hrono-logical plot), cốt truyệnhuyền ảo(supermat-ure plot), cốt truyện ghép mảnh(Fragment plot), cốttruyện siêu văn bản(hypertext plot); tiêu chí thời gian: cốt truyện tuyếntính(linear plot), cốt truyện khung(zigzag plot), cốt truyện gấp khúc(frameplot); tiêu chí nhân vật: cốt truyện đơn tuyến(simple plot), cốt truyện đatuyến(complex plot), cốt truyện hành động(active plot), cốt truyện tâmlý(psychological plot), cốt truyện dòng ý thức(stream of consciousness plot)

… ngoài ra theo đề xuất của các nhà nghiên cứu có thể dựa vào tiêu chí nộidung có cốt truyện triết học, cốt truyện luận đề… hay theo kết cấu: cốt truyện

mở cốt truyện đóng… tuy nhiên theo PGS.TS Lê Huy Bắc trên đây là nhữngcách phân loại cốt truyện co tính phổ quát và thiết thực hơn cả [45, 187]

1.2.2 Những tiền đề cơ sở hình thành cốt truyện

Trang 35

Cơ sở khách quan: đó là xung đột xã hội Trong quá trình xây dựng tácphẩm, nhà văn bao giờ cũng thể hiện trực tiếp hoặc gián tiếp những xung đột

xã hội của thời đại vào tác phẩm của mình Vì vậy, cốt truyện mang tính lịch

sử cụ thể, được qui định bởi những điều kiện lịch sử, xã hội mà nhà văn đangsống Chính những điều kiện lịch sử, xã hội khác nhau đã tạo nên sự khácnhau giữa các cốt truyện trong thần thoại và cổ tích, giữa những truyện thơNôm và văn học hiện đại Dostoiepxki nhấn mạnh vai trò của cuộc sốngtrong việc xây dựng cốt truyện : “Anh hãy nhớ lấy lời tôi: đừng bao giờ bịa racác cốt truyện anh hãy lấy những cái do bản thân cuộc sống cung cấp Khôngmột trí tưởng tượng nào nghĩ ra được những điều mà đôi khi cuộc sống bìnhthường quên thuộc nhất đưa lại Hãy tôn trọng cuộc sống.”

Không nên tuyệt đối hóa ý kiến của Dostoiepxki nhưng rõ ràng trongđời sống văn học, nhất là trong văn học của các trào lưu hiện thực, nhiều cốttruyện đã được xây dựng từ chính những câu chuyện ngoài cuộc đời Cốt

truyện của những tác phẩm Bà Bovary của Flobert, Ðỏ và đen của Standhal.

Nhiều cốt truyện của Tsêkhôp, L Tônxtôi, Dostoiepxki thường dựa vàonhững câu chuyện có thật ngoài cuộc đời và trên báo chí

Ở Việt Nam, ta có thể kể đến cốt truyện của các tác phẩm Ðào kép mới của Nguyễn Công Hoan, Chí phèo của Nam Cao, Ðất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, Hòn Ðất của Anh Ðức, Người mẹ cầm súng của Nguyễn

Thi

Cơ sở chủ quan: Xung đột xã hội mới chỉ là cơ sở khách quan của cốttruyện vì vậy không thể đồng nhất xung đột xã hội với cốt truyện Khi nói đếncốt truyện, cần chú ý rằng, đó luôn luôn là sản phẩm sáng tạo của người nghệ

sĩ Thông qua cốt truyện, nhà văn vừa khái quát những xung đột xã hội, vừathể hiện tâm hồn, tình cảm và sự đánh giá chủ quan của họ đối với cuộc sống

Do đó, không thể bê nguyên xi những chuyện có thật ngoài cuộc đời vào tácphẩm Những xung đột xã hội phải được đồng hóa một cách có nghệ thuậtnhằm loại trừ những yếu tố ngẫu nhiên, thứ yếu để xây dựng cốt truyện theo

Trang 36

hướng điển hình hóa Vì vậy, cùng xuất phát từ một xung đột xã hội giốngnhau, những nhà văn khác nhau lại xây dựng những cốt truyện khác nhaunhằm thể hiện quan điểm, thái độ, ý đồ tư tưởng, phong cách nghệ thuật, cátính sáng tạo của nhà văn đối với cuộc sống Những xung đột xã hội giữanông dân, địa chủ, quan lại được thể hiện qua nhiều cốt truyện khác nhautrong các tác phẩm của các nhà văn Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, NamCao, Nguyên Hồng là những ví dụ cụ thể

Quá trình xây dựng cốt truyện là một quá trình lao động phức tạp vàgian khổ Timôfiep có nhận xét về quá trình xây dựng cốt truyện của L.Tônxtôi như sau: “Tất cả các cốt truyện của Tônxtôi đều được thai nghénnhiều năm và mỗi cốt truyện đều có một lai lịch phức tạp và một số phậnriêng của nó Tônxtôi lo lắng về các cốt truyện, giận dỗi đối với chúng nhưngười sống vậy, đôi khi ông chán, mệt mỗi vì chúng, vì sự vật lộn với tài liệu

và ngôn từ để không ngừng hoàn thiện từng cốt truyện, từng tác phẩm Trongđầu óc thiên tài của ông, trong các phòng thí nghiệm tuyệt diệu ấy, bao giờcũng có nhiều cốt truyện luôn luôn sống và vật chọi với nhau, làm cho ôngphải lần lượt chú ý tới chúng lúc nhiều hơn, lúc ít hơn”

Về mặt nghệ thuật cốt truyện bao quát mối quan hệ với nhận vật, sựkiện, người kể chuyện, thời gian, không gian…

Sự kiện (biến cố) nói chung là những hành vi(việc làm) của nhân vậthay sự việc xảy ra đối với nhân vật dẫn đến hậu quả, làm biến đổi hay bộc lộmột ý nghĩa nào đó Không chỉ văn mà trong thơ cũng có sự kiện song sự kiệntrong thơ thường nằm ở tầng chìm Mỗi sự kiện trong văn học đều có ý nghĩatượng trưng sâu sắc về nhân sinh quan về xã hội, tự bản thân sự kiện đều cónguyên nhân hậu quả do đó nó có thể được mở rộng thành cả cốt truyện

Điều đó có thể thấy qua tác phẩm tiểu thuyết Số đỏ Sự kiện bắt đầu khi bà

Phó Đoan đến chơi ở sân quần vợt nơi Xuân tóc đỏ làm việc Vô tình Xuântóc đỏ vì xem trộm một cô đầm thay đồ nên bị cảnh sát bắt giam và được bàPhó Đoan bảo lãnh Sau đó, bà Phó Đoan giới thiệu Xuân đến làm việc ở tiệm

Trang 37

may Âu Hóa, từ đó Xuân bắt đầu tham gia vào việc cải cách xã hội Qua sựkiện ta thấy được phạm vi quan tâm của nhà văn.

Nhưng sự kiện sẽ không thành cốt truyện nếu không có nhân vật nhânvật và sự kiện có tác động qua lại Nhân vật làm cho sự kiện có sự sống códiễn biến, cao trào và kết thúc Ngược lại chính sự kiện là yếu tố để nhà vănthể hiện tác động qua lại giữa những nhân cách nhân vật, là phương tiện táihiện những xung đột xã hội Cơ sở chung của mọi cốt truyện, xét đến cùng lànhững xung đột xã hội được khúc xạ qua các xung đột nhân cách nhưng sẽ sailầm nếu đồng nhất xung đột xã hội với cốt truyện tác phẩm văn học Xung đột

xã hội là cơ sở khách quan, là đối tượng nhận thức, phản ánh trong khi đó cốttruyện lại là sản phẩm sáng tạo độc đáo của nhà văn Điều quan trọng của việctìm hiểu cốt truyện là thâm nhập sâu sắc vào nội dung cụ thể của tác phẩm,khảo sát các chặng đường phát triển có ý nghĩa quyết định đối với số phậnnhân vật chính có như thế việc phân tích các thành phần của cốt truyện mớiđem lại hiệu quả thiết thực cho việc cảm thụ nghệ thuật

1.2.3 Cốt truyện tiểu thuyết Sông Côn Mùa Lũ

Sông Côn mùa lũ phẩm dài hơn 2000 trang, được tác giả gọi là “trường

thiên tiểu thuyết”, sau này in lại trong nước, người ta gọi là "tiểu thuyết lịch

sử" Phan Cự Đệ, trong bài viết “Tiểu thuyết lịch sử”, xếp Sông Côn mùa lũ

vào thể loại “tiểu thuyết lịch sử”

Cốt truyện tiểu thuyết Sông Côn Mùa Lũ là cốt truyện đa tuyến Tác

phẩm đã dành nhiều trang tái hiện cuộc sống và bối cảnh lịch sử cuộc khởinghĩa Tây Sơn ở Huế những năm cuối thế kỷ 18 mà trọng tâm là những lầnNguyễn Huệ kéo quân ra Phú Xuân rồi lên ngôi hoàng đế tại núi Bân…

Quá trình diễn biến cốt truyện tập trung vào giai đoạn khởi nghiệp của

ba anh em Tây Sơn Diễn biến cuộc khởi nghĩa của ba anh em Tây Sơn làmột giai đoạn lịch sử tao loạn đầy bi tráng của nước ta vào nửa cuối thế kỷ

18 Thông qua số phận gia đình một nho sĩ, một chính khách của Trương vănHạnh thất thế phải trốn khỏi Phú Xuân về ẩn cư ở đất võ Bình Định, câu

Trang 38

chuyện dẫn đến cuộc gặp gỡ của một người con gái nết na, thuần hậu An vớingười anh hùng áo vải Nguyễn Huệ mà tính cách nghĩa hiệp đầy cao vọng đãhình thành ngay từ thời niên thiếu, cắt nghĩa cho vai trò của Người qua nhữngcuộc chinh phạt và chiến công vĩ đại mùa Xuân năm Kỷ Dậu 1789 đánh tanđội quân xâm lược của nhà Thanh.

Trong câu chuyện ấy là những ràng buộc của những mảnh đời nhưng sốphận với lịch sử, với thời đại Câu chuyện của 3 anh em nhà họ Nguyễn từvùng đất quê nghèo Tây Sơn đã lập được nên sự nghiệp từ Nam ra Bắc trên

200 năm trước Cùng với thân phận nổi trôi của 4 người con, 3 trai, một gáicủa ông Giáo Hiến khi đất nước phải trải qua biết bao cuộc bể dâu của Vua

Lê, Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và con cháu của Chúa Nguyễn là Nguyễn Ánh

ở Đàng Trong

Tác phẩm tái hiện lại những sự kiện quan trọng cùa một cuộc khởinghĩa nông dân mà người lãnh đạo là một Nguyễn Nhạc xuất sắc, một QuangTrung tài ba xuất chúng và một loạt tướng lĩnh lang bạt kiêu hùng Tất cả họthuộc mọi tầng lớp có thể là những kẻ đi buôn Huyền Khê, Phạm Ngạn,những nông dân nghèo khổ bị ức hiếp, đến cả những tên đầu trộm đuôi cướpNguyễn Thung, Tập Đình, Lí Tài và một tầng lớp không thể không nhắc đến

là tầng lớp nho sĩ thất thế bất mãn với thời cuộc giáo hiến, Trần Văn Kỷ, NgôThời Nhậm, Phan Huy Ích… mặt khác tác giả còn tập trung khai thác cuộcsống đời thường của gia đình, của xã hội, và cái lãng mạn của tình yêu tuổitrẻ: tình yêu của An và Huệ, tình yêu của Lãng với Thọ Hương, với Cúc

Người viết đi sâu khai thác những quan niệm về chính trị, chính sách,

tư tưởng trong quá trình khởi nghĩa của nhà Nguyễn Tây Sơn Đặc biệt làquan điểm chính thống hay ngụy triều, nó là sợi dây kết nối những sự kiệnthiên về lịch sử Song song với nội dung về lịch sử là bức tranh phản ánh cuộcsống đời thường của con người trong xã hội lúc bấy giờ mà tiêu biểu là âuchuyện tình yêu giữa An và Huệ Theo Nguyễn Mộng Giác đây là “ Một dâychuyền khác ở tầm thấp hơn, mối tình tưởng tượng giữa Nguyễn Huệ và cô

Trang 39

con gái ông giáo Hiến Mối tình đó làm cho câu chuyện được thống nhất, lạiqua đó tạo thêm những quan hệ khác làm sườn cho bộ truyện”.[22, 572]

Với cốt truyện trải dài nhiều tuyến sự kiện khi là những mâu thuẫn giữacác thế lực thù địch với quân Nguyễn Ánh, với nhà Trịnh, có khi là nhữngmâu thuẫn nội bộ giữa anh em, giữa các tướng lĩnh, giữa những người tronggia đình, và cả trong tình yêu Mỗi sự kiện mỗi nhân vật quấn chặt lấy nhau

để tạo nên giá trị nghệ thuật và nội dung cho tiểu thuyết Sông Côn Mùa Lũ.

1.3 Không gian và thời gian trần thuật trong Sông Côn Mùa Lũ

1.3.1 Không gian trần thuật trong Sông Côn Mùa Lũ

Trong Thi pháp học, khái niệm không gian nghệ thuật là một phạm trù

của hình thức nghệ thuật, là phương thức tồn tại và triển khai của thế giớinghệ thuật Nếu thế giới nghệ thuật là thế giới của cái nhìn và mang ý nghĩathì không gian nghệ thuật là trường nhìn mở ra từ một điểm nhìn, cách nhìn.Không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ nhằm biểuhiện con người và thể hiện qua niệm nhất định về cuộc sống Do đó, khôngthể đồng nhất không gian trong tác phẩm văn học với không gian địa lí, khônggian vật lí được “Không gian nghệ thuật là mô hình nghệ thuật về cái thế giới

mà con người đang sống, đang cảm thấy vị trí, số phận mình ở trong đó.Không gian nghệ thuật gắn liền với quan niệm về con người và góp phần biểuhiện cho quan niệm ấy” và “Không gian nghệ thuật có thể xem là một khôngquyển của tinh thần bao bọc cảm thức của con người, là hiện tượng tâm linh

nội cảm, chứ không phải hiện tượng địa lí và vật lí” (Thi pháp Truyện Kiều).

Vế mặt cấu trúc của không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học được chialàm hai loại:

Không gian trần thuật

Không gian trần thuật là người trần thuật nhập vào thế giới đang đượctrần thuật, là sống trong không gian của truyện Khi kể chuyện, giữa người kểchuyện với thế giới xung quanh hình thành một khối không gian ảo với nhiềumối tương quan lẫn nhau Tương quan giữa người kể với thế giới các nhân

Trang 40

vật, các sự kiện, các quan hệ…; giữa người kể và ngôn ngữ của nhân vật; giữangười kể với ngôn ngữ của chính mình.

Tác phẩm văn chương có khả năng gợi ra một không gian liên tưởng vàtưởng tượng có biên độ rộng lớn hơn không gian thực Truyện có khả năngrút gọn hoặc kéo dài khoảng cách bằng sự tham gia của người kể vào từnghành vi, động tác của nhân vật

Không gian được trần thuật

Không gian được trần thuật: là không gian được kể, được tả trongtruyện Nó bao gồm: không gian bối cảnh, không gian sự kiện và không giantâm lí

Không gian bối cảnh: là môi trường hoạt động của nhân vật, một địađiểm nào đó có đủ các yếu tố thiên nhiên, xã hội, con người Không gian bốicảnh có 3 loại:

Không gian bối cảnh thiên nhiên Bao gồm những hiện tượng thiênnhiên bao quanh con người như: trời, đất, núi, sông…làm khung cảnh rộnglớn, đa dạng Thiên nhiên một mặt gắn liền với nhân vật và hoạt động củanhân vật, mặt khác cũng gắn liền với tâm trạng người kể truyện Cùng viết vềmùa thu nhưng khung cảnh mùa thu trong thơ Nguyễn Khuyến khác với

khung cảnh mùa thu trong bài thơ Đây mùa thu tới của Xuân Diệu, khác với khung cảnh mùa thu trong bài thơ Đất Nước của Nguyễn Đình Thi Bối cảnh

mùa thu cũng gắn liền với tâm trạng khác nhau của từng nhân vật mà tác giảmuốn thể hiện

Không gian bối cảnh xã hội: Bối cảnh xã hội bao gồm cuộc sống củanhững tầng lớp người, từng cá nhân, từng thế hệ… tạo thành bầu không khí

xã hội phức tạp Bối cảnh xã hội của truyện ngắn Vợ Nhặt là xã hội nghèo đói,

loạn lạc Việt Nam những năm trước Cách mạng tháng Tám, bối cảnh của tác

phẩm Chí Phèo là làng quê nông thôn Vũ Đại đầy những bất công, ngang trái.

Không gian bối cảnh tâm trạng: Bối cảnh tâm trạng là thế giới nội tâmcủa nhân vật Đó có thể là những dòng hồi ức, những niềm vui, nỗi buồn,

Ngày đăng: 21/12/2013, 12:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w