1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghệ thuật trần thuật trong người đẹp ngủ say (y kawabata) và hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi (g marquez)

82 1,1K 13

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghệ thuật trần thuật trong Người đẹp ngủ say (Y. Kawabata) và Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi (G. Marquez)
Tác giả Hồ Thị Bình
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Văn Hạnh
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 334 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 1 : Nhõn vật trần thuật và điểm nhỡn trần thuật trong Ngời đẹp say ngủ và Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi Chương 2 : Giọng điệu trần thuật trong Ngời đẹp say ngủ và Hồi ứ

Trang 1

Trờng Đại học VinhKhoa ngữ văn

====*****====

Hồ thị bình

NGHệ THUậT TRầN THUậT

TRONG NG ời đẹp say ngủ Ười đẹp say ngủ (y Kawabata) và

hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi (g marquez)

Khoá luận tốt nghiệp đại học Chuyên ngành: văn học nớc ngoài

Vinh – 2010 2010

Trang 2

Lời cảm ơn

Để hoàn thành khóa luận này, ngoài sự nỗ lực, phấn đấu học hỏi củabản thân, tôi còn nhận đợc sự ủng hộ, giúp đỡ từ phía các thầy cô giáo, gia

đình, bạn bè mà đặc biệt là thầy giáo PGS.TS Nguyễn Văn Hạnh - ngời trực

tiếp hớng dẫn tôi trong quá trình thực hiện đề tài này Tôi xin gửi lời cảm ơnchân thành, sâu sắc tới thầy giáo Nguyễn Văn Hạnh và cũng xin gửi lời cảm

ơn đến quý thầy cô giáo, gia đình, bạn bè đã quan tâm, giúp đỡ tận tình, tạo

điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành khóa luận

Trong khả năng còn hạn chế, bản thân còn chập chững trên con đờngnghiên cứu khoa học nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót nhất

định Kính mong những ý kiến đóng góp quý báu của thầy cô và bạn bè

Xin chân thành cảm ơn!

Vinh, tháng 05 năm 2010

Sinh viên

Hồ Thị Bình

Trang 3

Mục lục

Trang

Mở đầu 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu 8

3.1 Đối tợng 8

3.2 Phạm vi nghiên cứu .9

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 9

5 Phơng pháp nghiên cứu 9

6 Cấu trúc khóa luận 9

Chương 1 Nhân vật trần thuật và điểm nhìn trần thuật trong Ngời đẹp say ngủ và Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi 10

1.1 Nhân vật trần thuật 10

1.1.1 Nhân vật trần thuật và vai trò của nhân vật trần thuậ trong tác phẩm tự sự 10

1.1.2 Nhân vật trần thuật trong Ngời đẹp say ngủ (Y.Kawabata) .14

1.1.3 Nhân vật trần thuật trong Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi (G Marquez) 22

1.2 Điểm nhìn trần thuật .27

1.2.1 Điểm nhìn và vai trò của điểm nhìn trần thuật trong tác phẩm tự sự .27

1.2.2 Điểm nhìn bên trong 30

1.2.3 Sự vận động điểm nhìn 38

Chơng 2 Giọng điệu trần thuật trong Ngời đẹp say ngủ và Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi 44

2.1 Giọng điệu trần thuật và vai trò của giọng điệu trần thuật trong tác phẩm tự sự 44 2.1.1 Khái niệm giọng điệu trần thuật 44

2.1.2 Vai trò của giọng điệu trần thuật 47

2.2 Giọng điệu trong Ngời đẹp say ngủ (Y.Kawabata) 48

2.2.1 Giọng tiếc muối hoài niệm 49

2.2.2 Giọng hoài nghi do dự 52

2.2.3 Giọng trầm t triết lý 54

2.3 Giọng điệu trong Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi (G Marquez) 56

2.3.1 Giọng hoài niệm tiếc nuối 57

2.3.2 Giọng điệu trầm t triết lý .60

2.3.3 Giọng điệu hồn nhiên sôi nổi 63

Trang 4

Chơng 3 Một số thủ pháp nghệ thuật cơ bản trong Ngời đẹp say ngủ

và Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi 68

3.1 Một số thủ pháp nghệ thuật cơ bản trong Ngời đẹp say ngủ 68

3.1.1 Thủ pháp dòng ý thức .68

3.1.2 Thủ pháp phân mảnh 72

3.1.3 Thủ pháp đồng hiện 76

3.2 Một số thủ pháp nghệ thuật cơ bản trong Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi (Marquez) .80

3.2.1 Thủ pháp “Dòng ý thức” 80

3.2.2 Thủ pháp đồng hiện 85

3.2.3 Thủ pháp nhân quả 87

Kết luận 89

Tài liệu tham khảo 92

Trang 5

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Giao lu là xu thế của thời đại là động lực cho sự phát triển.

R.Tagore từng cho rằng: “sức sống của một nền văn hoá là biết thừa kế tinhhoa từ hai nguồn truyền thống và hiện đại, dân tộc và nhân loại, dung hợp cáimuôn đời vào cái khoảnh khắc” Nghĩa là giữ lại cái tinh tuý nguồn cội, bảnsắc, đồng thời giao lu tiếp thu tinh hoa nhân loại T tởng này của Tagorekhông chỉ đúng với văn hoá ấn Độ thời kỳ Phục hng mà còn đúng với xu thếhội nhập, giao lu quốc tế hoá của thế giới ngày này Và tất nhiên văn học cùngnằm trong xu thế đó bởi “không có nền văn học nào không nảy sinh từ mộtnền văn hoá nhất định” Khi văn học nằm trong xu thế này thì sẽ có các mốiquan hệ ảnh hởng và tiếp nhận văn học trên bình diện quốc tế Có con mắtquốc tế một hiện tợng văn học của một nền văn học sẽ đợc định vị, đánh giámột cách có căn cứ và tăng độ nhạy cảm của việc phát hiện ra những cái riêng

Từ đó khẳng định đợc cái độc đáo có ý nghĩa đặc trng của hiện tợng văn học

Vì vậy, nhìn nhận nghệ thuật trần thuật của hai tác phẩm văn học Ngời đẹp say ngủ (Yasunari Kawabata) và Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi (G Marquez) trong mối quan hệ giao lu quốc tế dới cái nhìn đối sánh là con

đờng mà chúng tôi lạ chọn ở đây

1.2 Nghệ thuật trần thuật là một vấn đề cốt yếu trong xây dựng tác

Với loại hình văn xuôi tự sự, nghệ thuật trần thuật là một trong nhữngyếu tố quan trọng trong phơng thức biểu hiện, nó còn là yếu tố cơ bản thể hiệncá tính sáng tạo của nhà văn Chính vì thế tìm hiểu về nghệ thuật trần thuật là

viềc làm cần thiết trong cái nhìn đối sánh hai tác phẩm Ngời đẹp say ngủ,

Trang 6

(Yasunari Kawabata) và Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi

(G.Marquez) để nhận ra phong cách, tài năng, cỏ tớnh sỏng tạo của nhà văn

1.3. Yasunari Kawabata là một bậc thầy, một trong những nhà tiểu

thuyết xuất sắc nhất thế giới với bộ ba tác phẩm đoạt giải Nôbel văn học: Xứ tuyết, Cố đô, Ngàn cánh hạc Đồng thời, ông cũng là một trong những phong cách đại diện cho nên văn hoá phơng Đông, duy mỹ, duy cảm, duy tình Ngời

đẹp say ngủ là tiểu thuyết cuối đời của ông khi bút lực và phong cách đạt đến

điểm chín của nó Đó là cuốn tiểu thuuyết dòng ý thức đỉnh cao của ông, nókhông chỉ mang tính hoài cổ mà còn khá hiện đại, phảng phất màu sắc huyền

ảo Marquez là nhà văn Côlômbia, đại diện cho chủ nghĩa hiện thực huyền ảo,

đạt giải Noben văn học năm 1982 Trong tác phẩm của ông, ta bắt gặp ảo

mộng ngập tràn Thế nhng Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi ra đời sau khi Marquez đọc Ngời đẹp say ngủ làm ông chú ý đến văn học Nhật bản

lại giàu hiện thực, ít mộng ảo hơn Cùng một đề tài nhng s cách chiếm lĩnh vàthể hiện khác nhau Qua cái nhìn đối sánh, nó góp phần cho ta hiểu đượcnhững đóng góp của những nhà văn lớn cho nền văn học thế giới, thấy đợc sựgiao thoa của các nền văn hoá, văn học dù khác xa nhau

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Kawabata là một hiện tợng văn học đặc biệt ở thế kỷ XX ông đợc

xếp vào vị trí quan trọng trong văn học thế giới và đợc bạn đọc khắp thế giới

đón đọc, nghiên cứu về ông

Năm 1971, Nxb Mátxcơva đã cho xuất bản tuyển tập tác phẩm của

Kawabata với nhan đề Kawabata sinh ra bởi vẻ đẹp nớc Nhật Đến năm 1975, Nxb này lại một lần nữa cho in cuốn Y Kawabata sự tồn tại và khám phá cái

đẹp, từng có cả tình yêu và lòng căm thù Việc dịch tác phẩm của Y.

Kawabata ra tiếng Nga sớm tạo điều kiện cho bạn đọc ở Nga và cho cả bạn

đọc trên toàn thế giới trong đó có Việt Nam đợc tiếp xúc với hiện tợng vănhọc độc đáo này

ở Việt Nam, tác phẩm của Y Kawabata đợc biết đến lần đầu tiên vào

năm 1969 với bản dịch tiểu tuyết, Xứ tuyết của Chu Việt Cùng năm này, Tạp

Trang 7

chí văn (Sài Gòn) đã cho ra số đặc biệt về Y Kawabata Trong đó có hàng loạt

truyện ngắn cùng các bài nghiên cứu về cuộc đời cũng nh sự nghiệp của ông.Tuy nhiên từ sự nhạy cảm đầu tiên này đối với “hiện tợng văn học”, Y.Kawabata, chúng ta mới có đợc biết tác phẩm thứ hai của ông thông qua bản

dịch, Tiếng rền của núi của Ngô Quý Giang Kể từ đó, tác phẩm của Y.

Kawabata liên tục đợc giới thiệu rộng rãi vào Việt Nam Năm 1990, Giang Hà

Vị dịch Ngàn cánh hạc, Vũ Đình Phòng dịch Ngời đẹp say ngủ Đến 2001 Nxb Hội nhà văn cho xuất bản Tuyển tập Y Kawabata gồm 4 tiểu thuyết: Xứ Tuyết, Ngàn cánh hạc, Tiếng rền của núi, Ngời đẹp say ngủ Gần đây nhất,

trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây đã cho ra đời tuyển tập Y Kawabatagồm khá đầy đủ các tác phẩm của ông trên tất cả các thể loại: 6 truyện ngắn,

46 Tuyện trong lòng bàn tay, 6 tiểu thuyết cùng một số bài nghiên cứu về Y.

Kawabata trong và ngoài nớc Đây là cuốn sách tổng hợp, tạo điều kiện tiếpxúc một cách khá đầy đủ và có hệ thống về các sáng tác của Y Kawabata Trong hệ thống các sáng tác của Y Kawabata đợc dịch vào Việt Nam,

Ngời đẹp say ngủ đợc dịch và giới thiệu muộn hơn (1990) Ngời đọc chủ yếu biết đến bộ ba tác phẩm nổi tiếng của ông là: Xứ Tuyết, Ngàn cánh hạc, Cố

đô Khi t duy văn chơng đợc cởi mở hơn, Ngời đẹp say ngủ, cũng đợc nhỡn

nhận và thu hút bạn đọc Việt Nam khám phá Đặc biệt khi cuốn hồi ức đợc thể

hiện dới dạng truyện ngắn là Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi đợc dịch vào Việt Nam thì Ngời đẹp say ngủ càng trở nên hấp dẫn, cuốn hút bạn

đọc bởi sự tơng đồng nhất định ở hai tác phẩm Cho đến nay, bạn đọc Việt

Nam đã quen và yêu thích Ngời đẹp say ngủ, đặc biệt là những ngời hâm mộ

Kawabata

Năm 1968, Kawabata nhận đợc giải thởng Nobel văn học, Viện Hàn lâm

Thuỵ Điển đã có bài giới thiệu giải Nobel văn chơng đã bao hàm sự nghiên

cứu sơ giản về Kawabata Đồng thời đây cũng chính là công trình đầu tiêntrực tiếp bàn đến “nghệ thuật kể chuyện” của Kawabata Bài giới thiệu đã ngợi

ca nghệ thuật bậc thầy của Kawabata qua hai tác phẩm Xứ tuyết và Ngàn Cánh hạc Từ đó đi đến khẳng định mang tính bao quát về nghệ thuật kể

chuyện của Kawabata “làm lu mờ kỹ thuật kể chuyện của châu Âu” Đây là cơ

sở gợi ý để chúng tôi tìm hiểu về nghệ thuật trần thuật tài tình của Kawabata ở

tác phẩm Ngời đẹp say ngủ trờn cơ sở đối sánh với nghệ thuật trần thuật của

G Marquer trong tác phẩm Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi.

Trang 8

Cùng nhận định về nghệ thuật trong tác phẩm của Kawabata, Donald

kene đã chỉ ra rằng, “ngời ta cần đọc Kawabata một cách cẩn thận [….] văn

phong ông có thể khó nắm bắt lại dựa vào khả năng độc đáo để tạo sự mơ hồ,

dù cho lối truyền đạt biểu cảm đợc cung cấp đầy đủ bởi chính ngôn nữ NhậtBản” [15;1058] Sự khó nắm bắt, mơ hồ trong tác phẩm của ông một phần là

do sự đảo lộn thời gian, cốt truyện dòng ý thức của ông

ở Việt Nam những công trình nghiên cứu khái quát về cuộc đời và sựnghiệp của Kawabata cũng đã có những nhận định khái quát chung về phong

cách nổi bật của Kawabata Tiêu biểu là chuyên luận Kawabata, cuộc đời và tác phẩm (1997) của Lu Đức Trung Trong chuyên luận của mình Lu Đức

Trung đã kết luận, Phong cách nổi bật của Kawabata mà ngời đọc dễ dàngcảm nhận đợc là “chất trữ tính sâu lắng, nổi buồn êm dịu” Đây là một sự kháiquát phong cách đồng thời có thể phân biệt đợc với phong cách Marquez

Bàn về những vấn đề liên quan đến phong cách của Kawabata trong 100 nhà lý luận phê bình văn học thế kỷ XX, mục từ Yasunari Kawabata của Đỗ

Thu Hà có nhắc đến nghệ thuật viết văn của Kawabata: “Cấu trúc tác phẩm làdòng ý thức đợc kỹ thuật chắp cánh” Đây là điểm tựa cho chúng tôi nghiên

cứu về thủ pháp dòng ý thức trong Ngời đẹp say ngủ

Còn Chu Sỹ Hạnh trong Yasunarri Kawabata dới nhãn quan phơng

Đông (1969) đã có những cảm nhận sắc sảo về bút pháp của nhà văn này nh

âm hởng chung về cái cô đơn, những suy ngẫm nội tâm… trong tác phẩm của

Kawabata

Công trình bàn về nghệ thuật kể chuyện của Kawabata mang tính công

phu nhất đó là Văn hoá Nhật Bản và Yasunari Kawabata của Đào Thị Thu

Hằng xuất bản năm 2007 Trong công trình này tác giả đã đi sâu vào nghệthuật kể chuyện, một hớng tiếp cận từ góc độ tự sự học Từ đó đã có nhiều lýgiải sau sắc về sáng tạo nghệ thuật cũng nh khái quát phong cách Kawabatathông qua nghệ thuật trần thuật Những khái quát về ngời kể chuyện, điểmnhìn trần thuật, giọng điệu trần thuật là những cơ sở vô cùng quan trọng đểchúng tôi tiến hành tìm hiểu về những vấn đề đó trong nghệ thuật trần thuật

của Ngời đẹp say ngủ Điều đặc biệt là chúng tôi tìm thấy ở công trình này bài nghiên cứu so sánh Yếu tố huyền ảo trong tác phẩm của Yasunari Kawabata

và Garcia Marauez Đây là bài nghiên cứu đầu tiên về hai tác giải Marquer và

Yasunari Kawabata trong cái nhìn đối sánh Nó gợi ý cho chúng tôi trong thực

Trang 9

hiện đề tài đối sánh nghệ thuật trần thuật trong hai tác phẩm cụ thể của hainhà văn này Nhất là khi trong bài viết đó có sự đối sánh về giọng điệu hai tácgiả tuy đang ở mức sơ lợc khái quát

Ngoài ra còn có một số luận văn, luận án tuy không đi sâu vào nghệthuật trần thuật nhng ở đó cũng có một số ý kiến nghiên cứu về vấn đề này

Chẳng hạn trong Tiểu thuyết Ngời đẹp say ngủ của Yasunari Kawabata (từ góc nhìn lý thuyết hiện sinh), của Nuyễn Khỏnh Ly đó đề cập đến kết cấu và

điểm nhìn trần thuật, thủ pháp phân mảnh, thủ pháp dòng ý thức Hay trong

Thế giới biểu tợng trong tiểu thuyết của Y Kawabata (qua khảo sát bộ ba tác phẩm: Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Cố đô), Lê Thanh Huyền cũng đã đề cập đến

sự lựa chọn ngôi kể và điểm nhìn trần thuật trong tiểu thuyết Yasunari

Kawabata… Còn trong luận văn thạc sỹ Nghệ thuật trữ tình trong tiểu thuyết Yasunari Kawabata (qua khảo sát tuyển tập Yasunari Kawabata) có đề cập

đến giọng điệu cùng sự linh hoạt điểm nhìn và thủ pháp trong tiểu thuyết Y.Kawabata

2.2 Là một nhà văn đại diện cho một khuynh hớng văn học “chủ nghĩa

hiện thực huyền ảo”, Marquez từ lâu đã đợc bạn đọc trên thế giới biết đến.Tuy nhiên đến giải Nobel văn chơng (1982) mới là sự tôn vinh của cả thế giớigiành cho Marquez ở tầm cao tài năng nhân loại Vị trí của Marquez trên bầutrời văn học MỹLatinh và văn học thế kỷ XX đợc xác lập rõ ràng hơn, và cũng

từ đây tên tuổi của ông đợc đọc và nghiên cứu trên khắp thế giới, đặc biệt là ởphơng Tây

Tại Việt Nam, những tác phẩm của Marquez ngày càng đợc độc giả biết

đến nhiều hơn qua các bản dịch của các dịch giả: Nguyễn Trung Đức, Phạm

Đình Lợi, Nguyễn Quốc Dũng, Phan Quang Minh, Lê Xuân Quỳnh, NguyễnMạnh Tứ, Đoàn Định Ca… mà công đầu tiên thuộc về cố dịch giả NguyễnTrung Đức Những tác phẩm của ông đựơc dịch và giới thiệu vào Việt Nam từcuối thập niên 60 thế kỷ XX Đến nay số lợng tác phẩm của ông đợc giới thiệu

vào Việt Nam khá nhiều Về tiểu thuyết có: Giờ xấu (1963), Trăm năm cô đơn (1967), Tình yêu thời thổ tả (1985), Tớng quân giữa mê hồn trận (1989), Tình yêu và những con quỷ khác (1994) Về truyện ngắn: Bão lá (1955), Ngài đại tá chờ th (1961), Đám tang của mẹ vĩ đại (1962), Chuyện buồn không thể tin

đợc của Erendiran ngây thơ và ngời bà bất lơng (1972), Mời hai truyện phiêu

Trang 10

dạt (1992), Hồi ức về những cô gái điém buồn của tôi (2004)… Về ký sự, phóng sự: Chuyện kể của ngời bị chìm tàu (1970), Chi lê đảo chính và bọn

Mỹ (1974), Tin tức về một cuộc bắt cóc (1997), Sống để kể lại (2002) Tuy

nhiên, trên thực tế mọi sự chú ý của các dịch giả và các nhà nghiên cứu vềMarquez cha toàn diện, hầu nh chỉ tập trung ở một số tác phẩm, nhiều tácphẩm cha đợc chú ý đến, đặc biệt là kịch và kịch bản phim cha đợc giới dịchthuật quan tâm Do đó, Marquez vẫn là một hiện tợng, môt ẩn số cha đợc giải

đáp đối với độc giả Việt Nam

Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi đợc xuất bản năm 2004 Tin

cuốn sách sắp xuất bản lập tức thu hút hàng triệu ngời hâm mộ Marquez trênthế giới, mọi ngời đã mong chờ sự kiện này rất lâu Chỉ sau tuần lễ phát hành,cuốn sách đã đợc bán với số lợng lớn và hiện đã đợc dịch ra nhiều nớc trên thếgiới trong đó có Việt Nam Tuy nhiên, cho đến nay dù tác phẩm đã đợc nhiềubạn đọc Việt Nam biết đến nhng độc giả vẫn cha có sự định hớng khi tiếp cậntác phẩm

Marquez đã đợc bạn đọc Việt nam biết đến từ cuối những năm 60 của

thế kỷ XX Vậy nhng, cho đến nay vẫn cha có một công trình nghiên cứu nào

về những tác phẩm của ông một các quy mô, công phu Trong số tác phẩm của

ông dờng nh chỉ có Trăm năm cô đơn là đợc chú ý nhiều Bạn đọc Việt Nam

mới biết về Marquez qua cuộc đời, sự nghiệp và những tác phẩm của ông dới

dạng đơn thuần văn bản Trong Cái kỳ ảo trong tiểu thuyết Trăm năm cô đơn của G Marquez, khoá luận tốt nghiệp 2008, Trần Thị Thanh Tâm đã giới

thiệu về tiểu sử, sự nghiệp, về chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Trong đó, TrầnThị Thanh Tâm có đề cập đến những đột phá trong nghệ thuật biểu hiện củaMarquez,như: phản ánh nghệ thuật truyền thống, tiêu biểu là chủ nghĩa hiệnthực thế kỷ XIX nh: Sự miêu tả cuộc sống y nh thật bằng hình thức tơng ứngvới bản thân cuôc sống […] đồng thời ông cũng đã sáng tạo ra những phản

ánh mới phù hợp với việc biểu hiện tâm trạng bất an, lạc loài nổi lo âu và tình

trạng lu đày của con ngời trớc hiện tại

2.3. Điểm lại quá trình dịch, giới thiệu, nghiên cứu về hai tác giả và hai

tác phẩm trong phạm vi tài liệu bao quát đợc chúng tôi nhận thấy:

- Cho đến nay, các công trình nghiên cứu về Kawabata nhìn chung đã

đạt đợc những thành tựu nhất định, tuy nhiên còn khiêm tốn Các công trình

đã bước đầu đề cập đến một số phơng diện nghệ thuật của Kawabata nhng cha

Trang 11

có tính hệ thống Cho đến nay cha có công trình nào bàn về nghệ thuật trần

thuật trong Ngời đẹp say ngủ

- Từ cuối những năm 60 độc giả Việt Nam biết đến Marquez qua cáctác phẩm dịch nhng đến nay những tác phẩm dịch cha bao quát đợc hết cácmảng tác phẩm của ông Đặc biệt cha có đợc những công trình chuyên sâunghiên cứu về tác phẩm của ông bằng tiếng Việt Bởi vậy, cho đến nayMarquez vẫn là hiện tợng văn học lạ đối với bạn đọc Việt Nam Công trình

nghiên cứu về tác phẩm Marquez còn khiêm tốn, chỉ tập trung vào Trăm năm cô đơn Còn lại các tác phẩm của ông hầu nh chỉ dừng lại ở dạng giới thiệu Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi cũng nằm trong số đó

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

Phạm vi khảo sỏt của khúa luận là tiểu thuyết Ngời đẹp say ngủ (1991),

NXb văn học và Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi (2007), Nxb tổng hợp TP Hồ Chí Minh Ngoài ra, chúng tôi còn liên hệ những tác phẩm có liên

quan

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích của đề tài đợc thể hiện ngay ở tên đề tài đó là nghiên cứu nghệ thuật trần thuật trong Ngời đẹp say ngủ (Kawabata) và Hồi ức về những

cô gái điếm buồn của tôi (Marquez) trong cái nhìn đối sánh.

4.2 Với mục đớch đú, đề tài đặt ra nhiệm vụ:

Thứ nhất: Chỉ ra đợc nhân vật trần thuật và điểm nhìn trần thuật trongcái nhìn so sánh hai tác phẩm

Thứ hai: Chỉ ra đợc giọng điệu trần thuật trong cái nhìn so sánh hai tácphẩm

Thứ ba: Chỉ ra đợc một số thủ pháp cơ bản trong cái nhìn so sách hai tácphẩm

5 Phơng pháp nghiên cứu

Trang 12

Khoá luận vận dụng lý luận văn học so sánh trên cơ sở sử dụng các ph

-ơng pháp, nh:

- Phơng pháp khảo sát, thống kê, phân loại

- Phơng pháp phân tích, so sánh

- Phơng pháp tổng hợp

6 Cấu trỳc của khúa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chớnh củakhúa luận gồm ba chương

Chương 1 : Nhõn vật trần thuật và điểm nhỡn trần thuật trong Ngời

đẹp say ngủ và Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi

Chương 2 : Giọng điệu trần thuật trong Ngời đẹp say ngủ và Hồi ức

về những cô gái điếm buồn của tôi

Chương 3 : Một số thủ phỏp nghệ thuật cơ bản trong Ngời đẹp say ngủ và Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi

Chương 1 Nhân vật trần thuật và điểm nhìn trần thuật trong

Ngời đẹp say ngủ và Hồi ức về những cô gái điếm buồn

của tôi

1.1 Nhân vật trần thuật

1.1.1 Nhân vật trần thuật và vai trò của nhân vật trần thuật trong tác phẩm tự sự

1.1.1.1 Khái niệm nhân vật trần thuật

“Ngời trần thuật” là một khái niệm tơng đối phức tạp, có sự khôngthống nhất giữa các ý kiến của các nhà nghiên cứu Theo Andrew Hplaks,

“Vấn đề ngời trần thuật là vấn đề trung tâm, còn giọng điệu trận thuật là vấn

đề trung tâm của trung tâm” Các nhà nghiên cứu Pháp mà đại diện là G.Gennette thì hiểu ngời trần thuật có chức năng tác giả vừa kể chuyện vừa chỉhuy cách kể, vừa truyền đạt thông tin, vừa thuyết phục ngời đọc… Các nhànghiên cứu Anh, Mỹ, thì lại thiên về hiểu ngời trần thuật là một vai trò thụ

động do tác giả điều khiển, tác giả cần nó vì cần giọng điệu, cần một điểmnhìn, cách nhìn Nhà lý luận Mỹ Johnathan Culler cho rằng, Bất cứ trần thuậtnào đều phải có ngời trần thuật, bất kể ngời trần thuật ấy có đợc xác định rõràng hay không Bởi vì vấn đề trung tâm của chủ đề mỗi câu chuyện đều là

Trang 13

vấn đề mối quan hệ giữa ngời trần thuật hàm ẩn (phạm vi tri thức, quan niệmgiá trị) với câu chuyện mà nó kể ra, Do đó muốn giải thích một đoạn tự sự bắtbuộc phải xác nhận ngời kể chuyện hàm ẩn trong đó, xác nhận các bộ phậnthuộc về cái nhìn của nó, phân biệt bản thân hành động và sự quan sát của ng-

ời trần thuật với hành động đó

Vì sự không thống nhất trên của các ý kiến nên chúng tôi giới thuyếtkhái niệm “ngời trần thuật” để làm điểm tựa cho sự nghiên cứu, phân tích,

khảo sát về ngời trần thuật trong Ngời đẹp say ngủ (Ykawabata) và Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi (G Marquer) Theo Lê Bá hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong Từ điển thuật ngữ văn học: “Ngời trần thuật là một

nhân vật h cấu hoặc có thật mà văn bản tự sự là do hành vi ngôn ngữ của anh

ta tạo thành” [8;221] Trong trần thuật viết có tính chất văn học thì ngời trầnthuật trở thành một nhân vật trong tác phẩm, tuy là nhân vật đặc thù nhngcũng là nhân vật trên giấy do nhà văn tạo ra thực hiện chức năng tự sự Ngờitrần thuật trong tác phẩm là một ngời trần thuật đợc trần thuật ra Nh vậy, ngờitrần thuật là kết quả sáng tạo của nhà văn, từ nhà văn mà ra thay mặt tác giả

đứng ra kể chuyện, quan sát, miêu tả

Tác giả không bao giờ trực tiếp đứng ra kể lại câu chuyện, mà thờngsáng tạo ra nhân vật khác (nhân vật trần thuật) thay mình đứng ra tự sự với ng-

ời đời Chính vì thế nhân vật trần thuật vừa là ngời thay mặt tác giả kể chuyệnvừa là nhân vật trong tác phẩm

Tuy nhiên mức độ hoá thân thành vai trò ngời trần thuật khác nhau vàtạo ra những hình thức biểu hiện khác nhau “Có thể chia ra ngời trần thuật lộdiện và ngời trần thuật ẩn tàng Ngời trần thuật lộ diện là ngời trần thuật theo

“ngôi thứ nhất”, còn ngời trần thuật ẩn tàng là ngời trần thuật theo “ngôi thứba” [8;222] Ngời trần Thuật theo ngôi thứ nhất là ngời trần thuật xuất hiệntrực tiếp, thờng xng “tôi” hoặc “chúng tôi”trong tác phẩm, trần thuật lại câu

chuyên Về ngời trần thuật theo ngôi thứ ba trong Về khái niệm “truyện kể” ở ngôi thứ ba và “ngời kể chuyện ở ngôi thứ ba”, Nguyễn Thị Thuy thuỷ đã phân

biệt truyện kể ở ngôi thứ ba (hàm ẩn) kể theo điểm nhìn của mình Truyện kể

ở ngôi thứ ba kể theo điểm nhìn của nhân vật là trờng hợp nhân vật và truyện

kể có ngời kể chuyện ngôi thứ ba kể theo điểm nhìn hợp truyện kể có ngời kểchuyện khác ngời tiêu điểm hoá (ngời thể hiện quan điểm đánh giá về thếgiới nhân vật sự kiên trong tác phẩm, ngời mà thông qua những hành động,

Trang 14

cảm nhận suy nghĩ làm điểm tựa cho ngời kể chuyện thực hiện hành vi kểhay còn gọi là ngời phản ánh), “tựa vào điểm nhìn nhân vật để kể chuyện vàanh ta đã hoà vào nhân vật đến mức ta khó phân biệt đợc giọng kể của anh tavới giọng kể của nhân vật Và thờng chỉ thấy giọng nhân vật, giọng nhânvậtnổi trội hơn” [24;140] Nhờ nấp sau cái giọng nhân vật mà ngời trần thuật dễdàng thâm nhập vào nội tâm của nhân vật, dễ dàng hoà quyện vào câu chuyện,

đặt các sự kiện nhân vật trớc độc giả mà không cần một lời giới thiệu nào cả.Nhng có lúc ngời kể chuyện không nấp đợc sau cái giọng của nhân vật, ấy là ởchỗ mà giọng nhân vật không phù hợp với sự kiện đợc kể

Còn truyện kể ở ngôi thứ ba kể theo điểm nhìn của mình là trờng hợpngời kể chuyện đồng thời là ngời tiêu điểm hoá, không xuất hiện trực tiếptrong tác phẩm “Ngời kể chuyện có vị trí quan sát ở bên ngoài thế giới nhânvật, ngời kể chuyện không kể theo điểm nhìn của một nhân vật nào cả mà kểtheo điểm nhìn của chính mình” [24;143] ở đây ngời kể chuyện hàm ẩn đứngngoài thế giới hiện thực trong truyện và kể lại những gì mà mình quan sát vàcảm nhận đợc Chính vì vậy trờng hợp này là truyện kể có ngời kể hàm ẩn kểtheo điểm nhìn của chính mình

Nh vậy ngời trần thuật ngôi thứ ba hàm ẩn có hai kiểu ngời trần thuậthàm ẩn kể theo điểm nhìn nhân vật và ngời trần thuật hàm ẩn kể theo điểmnhìn của chính mình

Ngoài ra, ngời trần thuật còn có thể phân chia thành ngời trần thuật

“tham gia vào truyện” và ngời trần thuật “bàng quan” đứng ngoài

Từ những dẫn giải trên, chúng ta có thể hiểu khái niệm ngời trần thuật

nh sau: Ngời trần thuật (ngời kể chuyện) là khái niệm để chỉ ngời thay mặt tácgiả, đại diện cho tác giả thuật lại câu chuyện trong tác phẩm là ngời dẫn dắt,

định hớng và khơi gợi khả năng đối thoại, tranh luận cho ngời đọc và là ngờilàm điểm tựa để tác giả bộc lộ quan điểm của mình Đồng thời ngời trần thuậtcũng là nhân vật trong tác phẩm, tham gia vào tác phẩm Và dựa vào mức độhoá thân và tham dự vào tác phẩm mà ta nhận ra đợc ngời trần thuật trong tácphẩm

1.1.1.2 Vai trò của ngời trần thuật

Văn bản tự sự là do hành vi ngôn ngữ của ntgời trần thuật tạo thành Do

đó, ngời trần thuật có vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo dự tác phẩm tự

sự Có thể nói hành vi ngôn ngữ của ngời trần thuật là một yếu tố hàng đầu

Trang 15

không thể thiếu trong văn bản tự sự mà đặc biệt là nghệ thuật trần thuật trongvăn bản đó Cha có ngời trần thuật thì cha có văn bản tự sự Tác phẩm nàocũng có ngời trần thuật Ngời trần thuật có khi tham dự vào câu chuyện có khibàng quan, đứng ngoài Khi ngời trần thuật trong tác phẩm tự sự kể lại các sựkiện, con ngời nh những gì xảy ra bên ngoài mình, không phụ thuộc vào tìnhcảm, ý muốn của anh ta chính là lúc ngời trần thuật đã tạo nên tính kháchquan cho tác phẩm tự sự Mà ngời trần thuật là sản phẩm của nhà văn, do đótính khách quan của tự sự là ảo giác nghệ thuật về tính khách quan của vănhọc là cái khách quan thứ hai, so với tính khách quan văn học mang tính thứnhất Tuy nhiên, ngời trần thuật bên cạnh sự khách quan vẫn tạo cho tác phẩm

có sự chủ quan, cái nhìn bên cạnh sự khách quan vẫn tạo cho tác phẩm có sựchủ quan, cái nhìn chủ thể của tác giả bởi xét đến cùng thì tác phẩm văn học

là sản phẩm sáng tạo, là tiếng nói của tác giả Ngời trần thuật là trung giangiữa tác giả và thực tại đợc miêu tả nên tác giả có thể hiện hình trong tácphẩm thông qua ngời trần thuật mà vẫn đảm bảo đợc tính khách quan nhờ đảmbảo khoảng cách với thế giới đợc miêu tả và vừa giản cách, vừa hớng đạo đợccho ngời đọc Thông qua nhân vật trần thuật, tác giả hiện hình để phân tích,nghiên cứu, khêu gợi, bình luận làm sáng tỏ mọi qua hệ giữa nhân vật vớihoàn cảnh Gocrki nói: “Trong tiểu thuyết trong truyền những con ngời đợc tácgiả thể hiện đều hành động với sự giứp đỡ của tác giả, tác giả luôn luôn ở bêncạnh họ, tác giả mách cho ngời đọc hiểu những ý nghĩ thầm kín, những độngcơ bí ẩn sau những hành động của các nhân vật đợc miêu tả tô đậm thêm chonhững tâm trạng của họ bằng những đoạn mô tả thiên nhiên trình bày hoàncảnh và nói chung là luôn luôn giật dây cho họ thực hiện những mục đích củamình, điều khiển một cách tự do và nhiều khi rất khéo léo nhng lại rất võ

đoán Mặc dù ngời đọc không nhận thấy những hành động những lời lẽ, nhữngviệc làm nhng mối tơng quan của họ, luôn luôn tìm mọi cách để làm chonhân vật trong truyện đợc rõ nét và có sức thuyết phục đến mức tối đa về ph-

ơng diện nghệ thuật” Nh vậy Gorki đã cho thấy cụ thể nhiều mặt vai trò của

ngời trần thuật Trong Từ điển thuật ngữ văn học có nói đến năm chức năng

khác nhau của ngời trần thuật: “Chức năng truyền đạt đóng vai một yếu tố của

tổ chức tự sự, chức năng chỉ dẫn, thuộc phơng pháp trần thuật, chức năng bìnhluận; chức năng nhân vật hoá” [22,307] Khi thực hiện những chức năng nhiềumặt đó, rõ ràng ngời trần thuật đã thực hiện vai trò của mình

Trang 16

Ngời kể chuyện là một trong những hình thức thể hiện quan điểm, sángtác của nhà văn trong tác phẩm Quan điểm chỉ có thể thể hiện qua “điểmnhìn”, “tầm nhận thức” của ngời trần thuật nh một hiện tợng ít nhiều mangtính tồn tại độc lập Ngời kể chuyện có thể tỏ thái độ với thế giới câu chuyện

đợc kể lại Phần nào đây là một “hình tợng thái độ” Thái độ của ngời kểchuyện phần nào trùng khít với quan điểm tác giả, nhng không bao giờ trùngkhít hoàn toàn Ngời trần thuật do vậy, vừa là hình thức thể hiện quan niệmcủa tác giả, vừa là ngời tồn tại độc lập nhất định có quan điểm riêng theo lôgíchiện thực nhất định Do đó ngời trần thuật phần nào tạo nên sự đối thoại với

độc giả của tác phẩm tự sự

Nh vậy, chúng ta có thể thấy ngời kể chuyện có vai trò quan trọng trongtác phẩm tự sự, là yếu tố đầu tiên trong nghệ thuật trần thuật của tác phẩm.Hiểu đợc ngời trần thuật và nắm đợc vai trò của ngời trần thuật là cơ sở để

chúng tôi tìm hiểu về ngời trần thuật trong Ngời đẹp say ngủ và Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi, góp phần làm nổi bật nghệ thuật trần thuật

trong hai tác phẩm

1.1.2 Nhân vật trần thuật trong Ngời đẹp say ngủ (Y.Kawabata)

Nh chúng tôi đã nói từ trớc, căn cứ vào mức độ hoá thân, ngời trần thuậtthờng đợc phân biệt: ngời trần thuật lộ diện (ngôi thứ nhất) ngời trần thuật ẩntrong (ngôi thứ ba) Tuy nhiên, ngời trần thuật ngoài hai kiểu thông thờng đó,các nhà nghiên cứu ngày nay còn bàn đến ngời trần thuật ở ngôi thứ hai với t

cách là ngời đối thoại với độc giả Khi bàn về giọng J.A Cuddton trong Từ

điển Penguin về thuật ngữ và lý luận văn học có nhắc đến Plato và Aristole

với sự phân biệt ba kiểu ngời kể chuyện cơ bản sau: “(a) ngời kể hoặc nhà thơ(hoặc bất kỳ kiểu nhà văn nào) sử dụng giọng của chính mình; (b) ngời giả vờgiọng ngời khác hoặc giọng những ngời khác, và nói bằng giọng không phảigiọng của mình; (c) ngời sử dụng sự trộn lẫn giọng của chính mình và giọngcủa những ngời khác” [dẫn theo Đào Thị Thu Hằng] Nh vậy theo Plato vàAristole thì “giọng” cũng thể hiện đợc vị trí kể chuyện Giọng (a) chính làgiọng cảu ngời kể chuyện xng “tôi”, ngôi thứ nhất, giọng (b) là ngời kểchuyện giấu mặt ngôi thứ ba, còn giọng (c) là giọng của ngời kể chuyện nữatrực tiếp, hay cũng có thể là một vị trí còn gây nhiều tranh cãi Kể từ ngôi thứhai nhng ngôi thứ hai ít đợc nói đến và ở đề tài này chúng tôi chỉ quan tâm

đến ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba

Trang 17

Ngời trần thuật trong tác phẩm của Y Kawabata thờng ở ngôi kể thứnhất và ngôi thứ ba Trong đó theo sự thống kê của Đào Thị Thu Hằng thì toàn

bộ tiểu thuyết của Kawabata đợc kể bằng ngôi thứ ba chiếm 2/3 số lợng tácphẩm Sự lựa chọn ngôi kể ngời trần thuật này đã thể hiện phong cách và tàinăng của tác giả bởi theo G.N Pospelop thì “những tác phẩm hay nhất lànhững tác phẩm trong đó tác giả cố gắng che đậy quan niệm riêng của mìnhnhng đồng thời lại tỏ ra luôn luôn trung thành với vô số tất cả những nơi màngời ta thấy tác giả lộ ra” [22;94] Đó chính là trờng hợp của Kawabata

Ngời kể chuyện dấu mặt hay còn gọi là ngời kể chuyện “ngôi thứ ba”

đ-ợc coi là một “thợng đế toàn thông” trong tiểu thuyết truyền thống Anh tabiết hết mọi thứ cần biết về nhân vật, sự kiện, hoàn toàn có thể di chuyển theothời gian và không gian theo ý muốn của chính mình, có thể xâm nhâp vàosuy nghĩ, động cơ tình cảm bên trong cũng nh hành động công khai của nhânvật Do đó “ngời kể toàn thông”đã cho mình toàn quyền và định hớng cảm thụcho độc giả, khiến độc giả bị áp đặt sự yêu ghét, buồn vui, đồng tình hay phản

đối của anh ta

Ngày nay, để khách quan hoá tự sự và khẳng định vai trò của độc giảtrong tiếp nhận văn họ, tiểu thuyết hiện đại có xu hớng di chuyển điểm nhìnvào nhân vật, ngời kể chuyện xng “tôi” hoặc cũng là ngời kể chuyện dấu mặtnhng đã “dời” chỗ vào nhân vật” (Flaulert), nhìn bằng cách nhìn của nhân vật.Y.Kawabata với tài năng của mình đã tiếp thu mặt tích cực và loại bỏhạn chế của truyền thống và tiếp thu hiện đại hợp thành tạo nên ngời trần thuật

độc đáo trong tác phẩm của mình Là một tác phẩm gần nh cuối đời khi mà

bút lực và tinh hoa đạt đến đỉnh cao của tài năng Ngời đẹp say ngủ là một tác

phẩm điển hình của sự kết hợp đó

Ngời đẹp say ngủ là một sự trần thuật phi cốt truyện (hiểu theo cốt

truyện truyền thống trình bày, thắt nút, phát triển, đỉnh điểm và kết thúc) Câuchuyện không có gì nhiều đáng nói, thiên về cốt truyện tâm lý tình cảm, đợctriển khai theo dòng ý thức của nhân vật Chính vì vậy mà việc lựa chọn nhânvật trần thuật là vô cùng quan trọng để làm sao có thể vừa đi sâu vào dòng ýthức nhân vật mà trần thuật lại vừa đảm bảo tính khách quan cho hiện thực đ-

ợc miêu tả tạo nên sự cuốn hút kì lạ, lôi cuốn hấp dẫn ngời đọc, làm cho họ

đọc đi đọc lại mà không chán Một việc thật là khó khăn nh vậy đặt ra trongsáng tạo nghệ thuật lại đợc Y.Kawabata giải quyết hết sức khéo léo tài tìnhbằng việc xây dựng ngời trần thuật ba ngôi thứ ba hàm ẩn di chuyển điểm

Trang 18

nhìn vào nhân vật chính, nhìn bằng thế giới đợc miêu tả bằng con mắt củanhân vật chính ông già Eguchi

Ngời trần thuật trong Ngời đẹp say ngủ đã ẩn, tựa vào điểm nhìn của

nhân vật chính là Êguchi để kể Vì vậy từ những trang đầu tiên, độc giả đã bịcuốn vào câu chuyện đầy hấp dẫn không phải bằng cảnh tình tiết éo le, xung

đột gay cấn, sự kiện nóng bỏng mà bằng lối dẫn dắt của nghệ thuật kể chuyệntài tình của một tâm hồn Nhật Bản Ngời trần thuật đã ẩn đi, di chuyển điểmnhìn vào nhân vật Êguchi nên dờng nh ngời trần thuật đã hoà vào nhân vật

Êguchi đến mức ta khó mà phân biệt đợc đâu là giọng của ngời trần thuật hàm

ẩn, đâu là giọng của Êguchi Và ta thờng chỉ thấy giọng của Êguchi trong tácphẩm Y.Kawabata đã chuyển dịch phần lớn u thế giành điểm nhìn cho ngời

trần thuật hàm ẩn ở những tác phẩm trớc (Xứ tuyến, Ngàn cánh hạc…) sang

điểm nhìn của nhân vật ở Ngời đẹp say ngủ Nhờ sự chuyển dịch này ta thấy

giọng của nhân vật Êguchi trội hơn, mạch chính của tác phẩm đợc tạo bởicách nhìn nhận, đánh giá cuộc đời của nhân vật chính Êguchi, chứ ngời trầnthuật vẫn giấu mặt Chính vì “dời chỗ” vào nhân vật Êguchi để trần thuật câuchuyện nên ngời trần thuật có thể đi sâu sát vào câu chuyện tạo cho độc giả sựtin cậy, niềm tin vững vàng vào câu chuyện ông ta kể bởi cái nhìn trong cuộc.Ngời trần thuật vì thế có thể thâm nhập vào đời sống nội tâm của nhân vật

Êguichi bởi không ai thấu hiểu đời sống nội tâm Êguchi hơn chính bản thân

ông ta Êguchi đã kể lại cuộc đời mình nh là sự trải nghiệm, độc giả hồi hộp,sống cùng tâm trạng, sự trải nghiệm của ông Đồng thời, ngời trần thuật hàm

ẩn thông qua Êguchi cũng dễ dàng hoà nhập vào câu chuyện, các sự kiện,nhân vật trong không gian của “kiểu nhà chứa hiện đại” ra trớc độc giả màkhông cần một lời giới thiệu nào cả

Sự chuyển dịch chủ yếu vai trò trần thuật sang ông già Êguchi của ngờitrần thuật, trao điểm nhìn cho nhân vật đã tạo nên điểm xuất phát trần thuậtcủa truyền là khoảng thời gian “xế chiều” mà Êguchi ở tuổi sáu mơi bảy Từ

điểm xuất phát đó, dới con mắt của chính mình Êguchi đã cho chúng ta mộtcái nhìn toàn vẹn về cuộc đời của ông: hiện tại là những lần đến bên ngời đẹpsay ngủ với những xúc cảm tâm trạng, kết hợp với tâm tởng – ý thức đa ta vềvới quá khứ một thời trai trẻ, tiến đến tơng lai nhuốm màu xám xịt của mộtxuất phát hiện tại đầy cô đơn, u sầu Nhờ cái nhìn của ngời trong cuộc, tự trầnthuật về cuộc đời bản thân của Êguchi đã cho ta thấy một cuộc đời sống động,

Trang 19

phức tạp bày ra trớc mắt đáng tin cậy, đặc biệt là những dòng hồi tởng, cuộc

đời trong kí ức của Êguchi bởi kí ức nhân vật thì không ai có thể biết đợc trừchính bản thân ngời mang kí ức Quá khứ hiện về rõ mồn một với những cuộctình ghi dấu ấn không thể phai mờ Đó là sự hồn nhiên và thân hình đẹp vôsong của cô gái ở mối tình đầu; đó là sự ghen tuông của cô gái do mùi sữa khi

ông đã có vợ, đó là sự thoải mái không cảm thấy tội lỗi của cô gái đã có chồng

ở Kôbê mang lại; đó là bà vợ ông giám đốc, đó còn là những kỉ niệm về concái… Quá khứ đó và hiện tại, tơng lai cứ đan xen vào nhau nhờ ngời kểchuyện hàm ẩn luôn dẫn dắt để nhân vật luôn ở t thế chủ động trong câuchuyện, đặt nhân vật vào những tình huống mở để ông ta có thể trần thuật câuchuyện theo liên tởng, tởng tợng cuả mình Sự liên tởng, tởng tợng ấy khôngchỉ cho Êguchi nhìn lại quá khứ của mình mà cũng là điểm tựa để cho ông cóthể tự bộc lộ bản thân Vì thế sự chuyển dịch điểm nhìn trần thuật sang Êguchiphần lớn của ngời trần thuật hàm ẩn đã tạo điều kiện đi sâu vào thế giới nộitâm của nhân vật trong tác phẩm Đằng sau những câu chuyện về ngời đẹp sayngủ là những suy nghĩ, cảm giác thể hiện tâm lý nhân vật Đó là tâm lý tò mòcủa Êguchi qua lời giới thiệu của ông bạn đã đa ông đến với những ngời đẹpsay ngủ Sau đó qua sự trải nghiệm của chính bản thân và sự chất vấn vềnhững suy nghĩ cảm giác của những ông già, khi đến “ngôi nhà bí mật”, cuốicùng Êguchi đã cho ta một cái nhìn về lý do các ông già đến đây Đến để đợcnghỉ ngơi hoàn toàn, để tìm thấy thời trai trẻ của mình, đến vì không bị mộthậu quả phiền phức nào về sau, đến vì biết đâu còn tìm đợc sự dâng hiến củamột cô gái còn thanh xuân ở buổi xế chiều… Qua những lý do này, chúng tacảm nhận đợc một sự nuối tiếc thời trai trẻ và muốn kéo dài tuổi xuân của ônggià Êguchi và những ông già khác Nó còn cho thấy tâm lý cô đơn, sợ tuổi giàbởi cô đơn nêu muốn tìm đến các cô gái còn trinh nguyên an ủi mình lúckhông còn “sinh lực” nữa, mong tìm thấy thời trai trẻ dĩ vàng của mình bởi vềgià con ngời ta thờng hoài niệm Nhng trong khi đến với các cô giá thanh xuânthì Êguchi lại vẫn thấy cô đơn bởi những thân hình đẹp đẽ kia đang bị say ngủvì thuốc không thể đáp trả lại ông Ông cảm thấy cô đơn, sợ tuổi già và sợmình sẽ vô nghĩa với cuộc đời và nó làm cho ông không chịu nổi” cứ để cô ấyngủ, cứ để cô ấy không nói năng gì, cứ để cô ấy không thấy mình, không nghethấy giọng nói mình, nói tóm lại cứ để cô ấy trong trạng thái say ngủ nh thếnày, hoàn toàn thản nhiên với con ngời tên là Êguchi đang trớc mặt cô ý nghĩ

Trang 20

ấy bỗng lại làm ông không chịu nổi, số phận ông, con ngời ông hoàn toàn vônghĩa đối với cô gái này” [14;21] Sợ tuổi già, nổi cô đơn nên Êguchi đã đến

đây và vì thế sợ số phận mình sẽ vô nghĩa Muốn nó có ý nghĩa, Êguchi đã

đánh thức cô gái hai lần, thậm chí muốn làm quen nhng không đợc do vấpphải những quy định không thành văn của nhà trọ Và từ cái cô đơn của tuổigià ấy, ta nhận thấy Êguchi dần có sự “trắc ẩn” đối với các cô gái “Êguchibỗng có cảm giác cô đơn và u sầu Có lẽ đúng hơn là cảm giác u sầu lạnh lẽocủa tuổi già, rồi cảm giác ấy nhờng chỗ cho lòng thơng xót trìu mến đối với côgái mà mùi da thịt đang toát lên bầu nhiệt huyết của tuổi thanh xuân Phảichăng do một cảm giác tội lỗi bùng lên trong lòng ông già Êguchi mà ôngthấy nh một điệu nhạc vang lên từ thân thể cô gái? Tiếng nhạc chứa đầy tình

ái, Êguchi muốn chạy trốn khỏi đây [….] nó đã nhốt cô giá đang ngủ say vàochung với một ông già!” [14;21] Những cảm giác này chỉ có thể có đợc dớicái nhìn tự bạch của Êguchi Nó cho ta thấy sự dã man của nhà chứa hiện đạidùng phụ nữ nh những búp bê sống cho những ông già liệt dơng, bất lựckhông còn mơ ớc gì hơn là đợc chết bên cô gái đẹp loã lồ

Bằng cách để cho Êguchi tự bộc lộ bản thân mình, đời sống nội tâm sâusắc đợc soi chiếu góp phần thể hiện quan điểm của tác giả ẩn kín một cáchkhách quan, không bình luận, bàn giải trực tiếp mà thông qua hình tợng nhânvật giúp độc giả nhận ra Ngời trần thuật ở đây không tham gia trực tiếp vàocâu chuyện nhng lại kể với t thế của một ngời trong cuộc Cốt truyện là củanhân vật, ngời kể chuyện không can thiệp vào, nhng những chỗ cần đến chấtsuy t thì điểm nhìn lại đợc chủ quan hoá bằng kinh nghiệm cá nhân trongnghệ thuật trở thành một giá trị và thực chất thành điểm nhìn nghệ thuật củatác giả Dẫn dắt cho Êguchi nhớ lại lời của Kiga “đến đây ngủ giống nh ngủvới đức Phật nấp kính đâu đây vậy” [14;22] phần nào cho thấy quan niệm màngời trần thuật hàm ẩn muốn nói về vấn đề bản chất của sắc dục khi biết “th-ởng thức” đúng cách Hay khi Êguchi thắc mắc không hiểu vì sao mình lạinhớ về hai nỗi nhớ kỉ niệm cùng một lúc, ngời trần thuật hàm ẩn đã chủ quanhoá điểm nhìn, nh trực tiếp đứng ra triết lý: “Thật ra khi đụng đến quá khứ thì

kí ức, con ngời ta in hình sự việc đâu có căn cứ vào thời điểm xảy ra từ lâunhiều hay ít Nhiều khi chuyện xảy ra từ thời thơ ấu, cách đây sáu chục năm

mà vẫn giữ lại trong kí ức rõ nét hơn cả việc mới xảy ra hôm qua Nhất là khi

về gìa, con ngời ta lại dễ tái hiện trong óc những kỉ niệm xa xa Hơn nữa nhiều

Trang 21

khi chính những sự việc xảy ra từ thời thơ ấu mới thực sự tạo nên tính cáchriêng cho mỗi chúng ta và quyết định số phận cho cả cuộc đời” [14;25].

Tuy nhiên, cái giọng chủ quan hoá này ít khi xuất hiện Nó chỉ xuất hiệnkhi ngời trần thuật có nhu cầu bình luận, đánh giá suy t triết lý Hầu hết ngờitrần thuật hàm ẩn đã chuyển dời sang Êguchi điểm nhìn để Êguchi trần thuậtcâu chuyện Nhờ đó ngời trần thuật ở đây không còn là “thợng đế toàn thông”nữa mà đã rút tối đa sự ảnh hởng của mình tạo nên mối quan hệ hết sức bình

đẳng với nhân vật Êguchi Tôn trọng nhân vật, tôn trọng quyền tự do ngônluận của nhân vật, ngời kể chuyện trong tác phẩm chỉ giữ vai trò môi giới đểcho các nhân vật gặp gỡ những sự kiện, tình huống tạo lên sự liên tởng, tởng t-ợng ở nhân vật mà thôi Chẳng hạn, trong đêm thứ nhất lúc Êguchi đang đợcquyền thoải mái ngắm toàn bộ thân thể cô gái, nhắm mắt lại th giản, ngời trầnthuật khéo dẫn dắt cho ông ngửi thấy mùi trẻ sơ sinh sộc vào mũi, đó chính làmùi ngời mẹ đang cho con bú để từ đó khơi dậy sự liên tởng, tởng tợng: “hay

đấy là do ông tởng tợng ? Mặc cho thứ gì đó ám ảnh khiến ông bị rối loạnkhứu giác? Hay do óc ông chợt nghĩ đến chuyện gì xa xa và ký ức về cái mùi

ấy trở lại trong óc ông?” [14;21] Để cuối cùng những kỉ niệm không vui làm

ông hối tiếc liên quan đến mùi sữa đàn bà hiện lên trong óc ông Đó chính là

kỉ niệm về sự ghen tuông của cố nhân tình khi thấy mùi trẻ sơ sinh và kỉ niệm

về cô ngời yêu có núm vú rớm máu, và những kỉ niệm này đợc tái hiện bởi sựtrần thuật tin cậy của chính Êguchi – ngời có những kỉ niệm

Bằng sự “dời chỗ”, ngời trần thuật ở ngôi thứ ba hàm ẩn đã kể cho độcgiả nghe những cảm xúc, suy nghĩ và quan sát của Êguchi bằng chính điểmnhìn của chính ông ta Êguchi không phải là “ngời nói” trong tác phẩm Êguchithuộc về cái mà tác giả hàm ẩn chọn làm điểm xuất phát để kể chuyện, là ph -

ơng tiện để thể hiện điểm nhìn của ngời trần thuật Êguchi chính là ngời “tiêu

điểm hoá” của ngời trần thuật tạo nên truyện có ngời trần thuật ngôi thứ bahàm ẩn trần thuật theo điểm nhìn “tiêu điểm hoá”

Nh vậy, ngời kể chuyện trong Ngời đẹp say ngủ đã ẩn đi và trao điểm

nhìn cho Êguchi Êguchi soi rọi các sự kiện, tình huống bằng cái nhìn tự thânanh ta kể chuyện Vì thế khi độc giả khám phá tác phẩm chỉ thấy hiện lên một

Êguchi thật sinh động, giàu cảm xúc, yêu cuộc sống và ham sống theo quanniêm riêng của ông ta Và ngời đa câu chuyện, đa độc giả đến với những miềnhồi ức chính là ông ta chứ không phải là ngời kể chuyện hàm ẩn Ngời kểchuyện mất đi vai trò “toàn thông” không thể đang kể chuyện này ở nơi này

Trang 22

lại tự ý di chuyển sang chuyện khác ở nơi khác Ngời kể chuyện phải phụthuộc vào những cảm giác liên tởng của nhân vật với sự kiện Êguchi chứngkiến để trần thuật chứ không đợc tự ý quyết định Và việc ngời kể chuyện đa

ta đến khám phá cuộc đời, kỉ niệm, những giấc mơ của nhân vật chính là nhờ

Êguchi đã tự thân tham gia vào trò chơi dẫn dắt ấy Tuy nhiên, không có một

kỉ niệm nào, một giấc mơ nào của Êguchi lại không có mối liên hệ với thựctại Và thực tại thì ngời trần thuật hàm ẩn lại đảm nhiệm vai trò trần thuật củamình một cách rõ nét Có ngời đã ví sự kết hợp giữa trần thuật câu chuyện tựthân mình của Êguchi với ngời trần thuật trong tác phẩm nh hai vai chínhtrong một vở kịch Mỗi vai đảm nhận một phần quan trong nh nhau: Ngời kểchuyện kể về hiện tại, nhìn thấy các sự kiện, tình huống ở hiện tại và nhân vậtthì kể về quá khứ qua những lần nhớ, giấc mơ Đó là sự kết hợp tài tình giữamột ngời nhắc và một ngời nhớ Câu chuyện đợc kể nhuần nhụy tới mức độcgiả hoàn toàn quên mất ngời kể chuyện giấu mặt, dù đó là một ngời kể chuyệnvô cùng thông minh và khéo léo

ở Ngời đẹp say ngủ đợc trần thuật bởi nhân vật tiêu điểm hoá Êguchi,

đ-ợc ngời trần thuật trao cho điểm nhìn để trần thuật Do đó trong tác phẩm ờng nh ta thấy Êguchi kể về những hồi ức của mình dới sự dẫn dắt của ngời

d-trần thuật hàm ẩn Khác với Ngời đẹp say ngủ, Hồi ức buồn về những cô gái

điếm buồn của tôi dù cũng là câu chuyện đợc kể dới dạng hồi ức nhng lại đợc

trần thuật bằng ngời trần thuật ở ngôi thứ nhất xng “tôi”

Nếu nh ngời kể chuyện ngôi thứ ba hàm ẩn trao điểm nhìn cho nhânvật, ẩn khuất đằng sau nhân vật, đẩy nhân vật ra phía trớc để kể và đối thoạivới độc giả thì ngời trần thuật ở ngôi thứ nhất trực tiếp lộ diện trong tác phẩm

kể về cuộc đời mình một cách trực diện và độc giả biết rằng anh ta đang kể vềchính cuộc đời mình Do đó, với ngời kể chuyện ở ngôi thứ nhất, độc giả đã có

đợc niềm tin vững vàng vào câu chuyện mà anh ta kể và nếu đó là câu chuyện

về cuộc đời anh ta thì độ tin cậy càng lớn, tiểu thuyết ấy chẳng khác nào tiểu

thuyết tự thuật Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi là một trong những

trờng hợp nh thế

Ngời trần thuật ngôi thứ nhất xng “tôi” trong Hồi ức về những cô gái

điếm buồn của tôi đã trần thuật về cuộc đời mình và hồi ức đó chính là hồi ức

của anh ta – ngời trần thuật Ngay từ đầu tác phẩm, ta đã nhận thấy nhân vật

Trang 23

“tôi” xuất hiện với vai trò là ngời kể chuyện: “Vào cái năm tròn chín mơi tuổi,tôi muốn tự thởng một đêm tình cuồng điên với một thiếu nữ còn trinhnguyên” [19;9] Và từ cái điểm xuất phát đó nhân vật đã trần thuật về tất cả;

về ngôi nhà, cha mẹ, về nghề nghiệp, về thời trai trẻ, về ngời bạn mai mối và

đặc biệt nhất và cũng là điều cốt yếu trọng tâm của sự trần thuật của “tôi” là

về bé gái mà trong đêm đón đợi tuổi chín mơi ý muốn của ông đã đa ông đến,

và đó chính là mối tình muộn mằn của ông Chính vì với ngời trần thuật ở

Ngời đẹp say ngủ vừa có cái khách quan lại vừa có cái nhìn chủ quan soi sát từ

bên trong nên vừa miêu tả, đi sâu vào thế giới nội tâm của nhân vật vừa có sựkhách quan mà rất kĩ lỡng về các ngời đẹp say ngủ và ngôi nhà chứa hiện đại

Từ đó lên tiếng về sự dã man, sử dụng cô gái nh những búp bê sống và các bà

mẹ đừng tởng con gái còn trinh mà nghĩ họ còn trinh nguyên, đồng thời nóilên cái nhìn rất nhân văn khi ngời trần thật để cho Êguchi nhớ lại lời của Kigarằng khi đến bên các cô gái mà không bị sắc dục cám dỗ mà nh ngủ với ĐứcPhật Nghĩa là sự kết hợp giữa ngời trần thuật bên trong (Êguchi) và ngời trầnthuật bên ngoài (ngời trần thuật hàm ẩn – ngời trần thuật của truyện) rất nhuầnnhuỵ đến mức khó phân biệt đợc tạo ra một hiệu quả nghệ thuật độc đáo, tuyệtvời

Ngợc lại, với ngời trần thuật ngôi thứ nhất xng “tôi” trong Hồi ức về những cô gái điếm buồn cuả tôi trần thuật về truyện cũng là trần thuật về câu

chuyện cuộc đời nhân vật Bởi vậy, ngời trần thuật ở đây chủ yếu nói về dòngnội tâm của mình - nhân vật “tôi” Và khác với ngời trần thuật hàm ẩn trong

Ngời đẹp say ngủ là không giới thiệu mình (bởi ngời trần thuật đã ẩn đi, đẩy

nhân vật Êguchi ra phía trớc thay mình trần thuật) và cả khác với Êguchi -

ng-ời có những hồi ức mà ta cứ tởng ngng-ời trần thuật trong tác phẩm – cũng khôngnói về diện mạo của mình ngoài những điều hiện lên trong kí ức, giấc mơ vàkhi ở bên những ngời đẹp thấy đợc sự đối lập tuổi già và sức trẻ thì “tôi” trong

Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi đã giới thiệu về mình cho bạn đọc

tiện theo dõi Đó là “tôi xấu trai, nhút nhát và cổ lỗ Bấy lâu nay tôi đã cố sứclàm đủ mọi chuyện để chứng tỏ điều ngơc lại” [19;11] và giới thiệu về nhàmình ở nh thế nào một cách tỉ mỉ, về nghề làm báo, về những cuộc phiêu lutình ái của mình, những năm hai mơi tuổi đến mức làm bảng thống kê vềnhững ngời tình và tự lý giải về mình viết hồi ức này ở đâu Từ đó giới thiệu

về th phòng và cuộc sống của mình: không chó, không chim, không ngời giúp

Trang 24

việc (ngoài trừ Damina trung thành luôn đến vào cuối tuần giúp việc) vàkhông vợ, không con với tất cả những lý do của chúng để rồi cho chúng tathấy những thay đổi khi tuổi chín mơi tới Xin thôi việc cái việc mà trớc đâykhi nó rớt hạng ông đã cố chấp, đấu tranh vì nó; đợc tặng một con mèo nuôi;căn phòng đợc sửa soạn lại và cuộc sống của ông đã thay đổi nh thế nào khigắp bé gái say ngủ Hay nói đúng hơn là ông đã yêu và cuộc sống đã đổi thaydới con mắt ngời đang yêu Toàn bộ câu chuyện về cuộc đời mình đã đợc tôitrần thuật lại Đó là một cuộc đời có sự đổi thay từ quá khứ cô đơn, trầm tkhông mấy thú vị đã có cuộc sống sôi nổi, hạnh phúc hớng tới tơng lai tơi đẹp

đầy hi vọng khi có tình yêu “Tôi” không chỉ là ngời trần thuật tham dự mà lànhân vật trung tâm trong câu chuyện, dẫn dắt bạn đọc theo dõi về chính cuộc

đời của mình Chính vì vậy mà sự trần thuật ở đây rất cụ thể, sống động và đầyniềm tin cậy bởi cái nhìn tự thân mang lại

Nh vậy, về cơ bản ngời trần thuật trong Ngời đẹp say ngủ và Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi khác nhau rõ nét, một bên là ngời trần thuật

ngôi ba hàm ẩn và một bên là ngời trần thuật ở ngôi thứ nhất xng “tôi” Tuy

nhiên ngời trần thuật ở ngôi thứ ba hàm ẩn trong Ngời đẹp say ngủ đã trao

điểm nhìn cho Êguchi trần thuật về cuộc đời mình Do đó, ta thấy dù khácnhau ở ngời trần thuật của chuyện, hai tác phẩm cũng có sự gặp nhau ở điểm

có ngời trần thuật về câu chuyện cuộc đời mình và trong câu chuyện đó, sựkiện về những cô gái đẹp say ngủ đứng ở vị trí trung tâm Chúng ta thấy có sựgặp gỡ nhau trong trần thuật của họ đó là đều có mô típ ngời đẹp say ngủ vàbản thân họ đều là những “lữ khách đi tìm cái đẹp” và trong quá trình “đi tìm”

đó những hồi ức của họ hiện về cho ta cái nhìn toàn cảnh về cuộc đời họ Lúc

đầu, dờng nh họ đến với những ngời đẹp say ngủ vì tò mò, thèm khát nhng sau

đó họ đều nhận thấy sự thanh thản, thích thú thực sự khi chiêm ngỡng thân thểphụ nữ mà không bị dục tính dày vò hay bị bối rối bằng lối diễn đạt khácnhau; họ đều nghĩ rằng sẽ đến một lần nhng sau đó lại quay lại nhiều lần Từnhiều lần đó sự trần thuật về cuộc đời và về các ngời đẹp say ngủ cũng đợctiếp diễn ở đây có sự gặp gỡ giữa hai tác phẩm rất khác xa nhau về nền vănhoá của hai tác giả khác nhau nhng cũng gặp nhau ở trần thuật về những cô

gái đẹp say ngủ Tuy Ngời đẹp say ngủ miêu tả về 6 cô gái trong 5 lần đến ngôi nhà chứa hiện đại của Êguchi và Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi lại chỉ miêu tả về một cô bé gái nhng chúng ta thấy những điểm tơng đồng trong miêu tả của họ ở Ngời đẹp say ngủ chúng ta thấy vẻ đẹp của các cô gái

Trang 25

đợc miêu tả tỉ mỉ thì ở Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi cũng có đợc

sự miêu tả tỉ mỉ ấy Thấy từ đôi lông mày cha bị phấn sáp làm hỏng đến lànmôi, mặt, cặp vú… đều đợc miêu tả tỉ mỉ Và Êguchi luồn tay đỡ lấy gáy củacô gái đêm thứ nhất khi rút bàn tay ra khỏi gáy của cô gái, cô khẽ nghiêng mặt

lại, đôi vai cũng chuyển động theo thì ở Hồi ức buồn về những cô gái điếm buồn của tôi ta cũng bắt gặp một cách hành xử tơng tự: “tôi” luồn ngón tay trơ

lớt nhẹ dọc gáy đẫm mồ hôi của con bé và toàn thân nó run lên nh dây đàn.Hay trong đêm thứ năm với cô gái da đen “mồ hôi lấm tấm trên trán, sát lớptóc” Êguchi đã lấy khăn lau cho cô gái lau cả nách cho cô thì “tôi” cũng dùngkhăn lau cho cô bé gái: “Tôi thấm đến đâu thì thân thể nó ớt đẫm đến đó”[19;62] Êguchi đã ngắm vẻ đẹp của các cô gái đẹp say ngủ từ ánh sáng hắt từtrên trần xuống của căn phòng thì “tôi” cũng ở trong không gian “chỉ có một

đốm sáng nhạt hắt từ trên trần xuống” [19;19]

Cùng với những chi tiết đó trong tác phẩm, những chi tiết tơng đồng gặp

gỡ khác nữa đã khiến ngời đọc đọc Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi lại nhớ đến Ngời đẹp say ngủ

Song ở Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi ngoài những trang hồi

ức về thời trai trẻ “tất cả những mối tình có thể đã từng có hoặc không hề có”[19;60], ý thức về tuổi già nên cảm thấy cô đơn giống nh Êguchi thì “tôi” còn

có một tình yêu, tình yêu nồng cháy ở tuổi 90, cái tuổi mà phần đa con ngời

đã đi sang thế giới bên kia, ông lại có mối tình đầu Và nhờ mối tình muộnmàng này ông đã có nhiều thay đổi trong cuộc sống

Nh vậy, khác với ngời trần thuật trong Ngời đẹp say ngủ trần thuật về

những ngời đẹp say ngủ làm chủ đạo (ngôi ba hàm ẩn) và vì ngời đẹp say ngủnên có những hồi ức về thời trai trẻ, những cảm xúc tuổi già (tức là do ngời

đẹp say ngủ gây ra) thì ngời trần thuật trong Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi lại lấy việc trần thuật về cuộc sống của mình làm trục chính và

việc tìm đến bé gái say ngủ là một sự kiện trong đó và là sự kiện quan trọngtác động đến tình cảm và cuộc sống của “tôi” Chính vì thế, ta thấy nhữngdòng trần thuật “tôi” tự kể về cuộc đời quá khứ, hiện tại tiếp diễn và sự kiện về

bé gái cắt ngang Từ sự kiện về bé gái cắt ngang thì cuộc đời “tôi” cũng bớcsang trang mới Do đó ta thấy sự trần thuật về cuộc đời trong quá khứ, hiện tạicũng làm nhấn mạnh vai trò của sự tác động của mối tình đầu do bé gái sayngủ mang lại

Trang 26

Tóm lại, nhân vật trần thuật trong Ngời đẹp say ngủ là nhân vật ngôi ba

hàm ẩn, ẩn đi và trao điểm nhìn trần thuật cho nhân vật chính Êguchi Nhờvậy ngời trần thuật ở đây vừa tạo đợc sự tin cậy của cái nhìn sâu sát của ngờitrong cuộc vừa tạo đợc khoảng cách khách quan và sự dẫn dắt ngời trong cuộctrần thuật cuốn hút của ngời đứng ngoài các sự kiện trần thuật Nhân vật trần

thuật trong Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi lại là nhân vật trần thuật

ngôi thứ nhất xng “tôi” trần thuật về cuộc đời mình, mang tính chất tự thuậtnên tạo đợc sự chính xác tin cậy cao về những sự kiện đợc trần thuật và mang

ý chủ quan của ngời trần thuật “tôi” “Tôi” muốn trần thuật cho độc giả biết

và những gì toát lên sau sự trần thuật là những gì “tôi” muốn nói

1.2 Điểm nhìn trần thuật

1.2.1 Điểm nhìn và vai trò của điểm nhìn trần thuật trong tác phẩm tự sự

1.2.1.1 Khái niệm điểm nhìn trần thuật

Điểm nhìn trần thuật là một trong những yếu tố hàng đầu của nghệ thuật

tự sự gắn với t tởng nghệ thuật của nhà văn Căn cứ vào ý đồ sáng tạo nghệthuật nhà văn lựa chọn điểm nhìn trần thuật sao cho thể hiện công hiệu nhất ý

đồ, quan điểm của mình Điểm nhìn trần thuật mở ra khả năng để nhà vănnhìn sâu, nhìn xa vào cốt lõi vấn đề, đồng thời đa đến cho ngời đọc một cáchcảm thụ tác phẩm sâu sắc nhất Để thực hiện đợc các chức năng đó thì vấn đềxác định đợc điểm nhìn trần thuật ở các nhà văn trong quá trình sáng tạo có ýnghĩa hết sức quan trọng

Từ điển văn học thế giới khẳng định điểm nhìn là “mối tơng quan trong

đó chỉ vị trí đứng của ngời kể câu chuyện […] Nó có thể chi phối hoặc là từbên trong hoặc là từ bên ngoài ở điểm nhìn từ bên trong, ngời kể chuyển làmột trong các nhân vật; do đó câu chuyện đợc kể từ ngôi thứ nhất, điểm nhìn

từ bên ngoài đợc mang lại từ một ý nghĩa từ bên ngoài, của ngời không phải làmột phần của câu chuyện; trong trờng hợp này, câu chuyện thờng đợc kể ởngôi thứ ba” [dẫn theo Đào Thị Thu Hằng]

Pospelov trong Dẫn luận nghiên cứu văn học cũng đề cao vai trò của

điểm nhìn: “Trong tác phẩm tự sự, điều quan trọng là tơng quan giữa các nhânvật với chủ thể trần thuật đối với những gì mà anh ta miêu tả” [22;90]

Trang 27

Trong Lý luận văn học các tác giả đã xem điểm nhìn là một trong những

yếu tố hàng đầu của sáng tạo nghệ thuật bởi “nghệ sỹ không thể miêu tả, trầnthuật các sự kiện về đời sống đợc nếu không xác định cho mình một điểmnhìn đối với sự vật hiện tợng, nhìn từ góc độ nào, xa hoặc gần, cao hoặc thấp,

từ bên trong hay bên ngoài, hay từ bên ngoài vào” [16;310]

Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử trong Dẫn luận thi pháp học đa ra khái

niệm điểm nhìn nh sau: “Điểm nhìn văn bản là phơng thức phát ngôn, trìnhbày, miêu tả phù hợp với cách nhìn cách cảm thụ thế giới của tác giả Điểmnhìn mang tính ẩn dụ, bao gồm mọi nhận thức, đánh giá, quan sát, cảm thụcủa chủ thể đối với thế giới Nó là các vị trí dùng để quan sát cảm nhận, đánhgiá bao gồm cả khoảng cách giữa chủ thể và khách thể cả phơng diện vật lý,tâm lý, văn hoá” [23;149]

Điểm qua một số quan niệm, ý kiến trên chúng tôi nhận thấy: Tuy cóchỗ khác nhau nhng hầu hết các ý kiến đều thống nhất coi điểm nhìn và mộttrong những yếu tố then chốt của tác phẩm văn học và chỉ ra những phơngdiện cơ bản của điểm nhìn trần thuật nh vị trí của chủ thể quan sát, quan điểmcủa họ khi miêu tả thế giới và đôi khi là cả vấn đề thời gian lịch sử của điểmnhìn

Những ý kiến trên là cơ sở khoa học để cho chúng tôi làm điểm tựa khitìm hiểu điểm nhìn trần thuật trong tác phẩm tự sự, đó là những ý kiến baoquát mang tính khái lợc về điểm nhìn trong tác phẩm tự sự Tuy nhiên khinghiên cứu điểm nhìn, chúng ta phải soi xét vào từng yếu tố cụ thể trong tácphẩm nên việc đi vào các điểm nhìn cụ thể trong đoạn, hồi, chơng là rất cầnthiết Trên cơ sở điểm nhìn khái quát, điểm nhìn đợc thể hiện trong các hồi,các chơng một cách cụ thể Điểm nhìn nghệ thuật trong truyện là điểm xuấtphát của một cấu trúc nghệ thật chứ không phải bản thân cấu trúc đó ở cấp độthấp hơn văn bản (đoạn, hồi, cảnh….) điểm nhìn nghệ thuật thể hiện ở từngcâu hay phát ngôn hay từng diễn ngôn Lời kể, lời thoại của nhân vật Cáchxác định điểm nhìn nghệ thuật này phải đợc suy ra từ ba tham số: tiêu điểm (ýnghĩa nghệ thuật của câu hay đoạn văn đối với toàn truyện), khoảng cách(nhân tố định vị điểm nhìn khoảng cách giữa ngời kể với nhân vật, nhân vậtvới nhân vật, lời kể với lời nhân vật, bối cảnh với cận cảnh dấu hiệu qua cáchdùng từ chỉ thời gian và không gian), phơng vị (lời kể và lời tả xác định phơng

vị, thuận chiều hay nghịch chiều, song song hay xen kẽ, trùng điệp hay không

Trang 28

trung điệp) Ba tham tố tiêu điểm, điểm nhìn, phơng vị cung cấp dữ liệu đểcho ta một điểm nhìn nghệ thuật mà khi phân tích ta không thể bỏ qua đợc

Nh vậy, để nghiên cứu điểm nhìn trần thuật của ngời kể chuyện trong

hai tác phẩm Ngời đẹp say ngủ (Y.Kawabata) và Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi (G.Marquez), chúng tôi xem xét khái niệm này với t cách vị trí

và quan điểm của ngời kể chuyện từ đó hiểu hình tợng tác giả và giá trị nghệthuật đặc biệt là nghệ thuật trần thuật trong hai tác phẩm

1.2.1.2 Vai trò của điểm nhìn

Điểm nhìn trần thuật có vai trò rất quan trọng trong nghệ thuật trần thuậtcủa mỗi nhà văn Khi kiến tạo tác phẩm, một trong những điều khó khăn nhất

đối với nhà văn là phải lựa chọn cho mình một chỗ đứng, vị trí thích hợp để kểcâu chuyện Việc tìm đợc chỗ đứng, vị trí thích hợp là để xác lập cho ngời kểchuyện một điểm nhìn trần thuật để từ đó câu chuyện đợc bắt đầu Nh vậy,việc xác định đợc điểm nhìn là một trong những yếu tố không thể thiếu để bắt

đầu kiến tạo tác phẩm

Trong tác phẩm văn học, cho dù mỗi nhà văn có sự lựa chọn riêng nhngviệc tổ chức điểm nhìn nhằm để tái hiện lại cuộc sống trong tính đa dạng vàphong phú của nó (Lôzơbai) Bởi vậy điểm nhìn nghệ thuật là yếu tố vô cùngquan trọng trong tác phẩm, nó quy định và chi phối các thành tố khác củanghệ thuật trần thuật nhằm phục vụ cho mục đích tái hiện đời sống đó nh:nhịp điệu trần thuật, thời gian trần thuật, đối tợng trần thuật, giọng điệu vàngôn ngữ trần thuật… Sự quy định và chi phối này giúp chúng ta có thể nắm

đợc phần nào các thành tố khác của nghệ thuật trần thuật thông qua điểm nhìntrần thuật

Đồng thời, điểm nhìn trần thuật mang tính cá nhân và trong thực tế córất nhiều trờng hợp giá trị của tác phẩm bắt đầu từ việc nhà văn cung cấp chongời đọc một cái nhìn mới về thế giới và con ngời Do đó, ngời đọc có thểthông qua điểm nhìn mà khám phá đợc giá trị của tác phẩm Mặt khác, thôngqua điểm nhìn trần thuật ngời đọc có dịp đi sâu tìm hiểu cấu trúc tác phẩm vànhận ra đặc điểm phong cách, cá tính sáng tạo của nhà văn

Nhờ vậy, điểm nhìn có vai trò rất quan trọng trong tác phẩm văn học

Nó là điểm tựa cho tác phẩm ra đời, là cơ sở kiến tạo những nhân tố nghệthuật khác, là nơi để nhà văn bộc lộc đợc quan điểm, phong cách của mình Từ

điểm nhìn nghệ thuật, ngời đọc có đợc đờng ray định hớng tiếp cận tác phẩm,nhận ra đợc giá trị của nó và tài năng của nhà văn Nó đòi hỏi ngời đọc phải

Trang 29

nhận ra đợc điểm nhìn và sự đặc sắc của nó mà nhà văn sử dụng để từ đó đivào khám phá các thành tố, giá trị khác trong tác phẩm

1.2.2 Điểm nhìn bên trong

Nhân vật trần thuật quy định chủ yếu điểm nhìn trần thuật của truyện

Do có những điểm khác nhau rất cơ bản về nhân vật trần thuật: một bên là

ng-ời trần thuật ngôi thứ ba hàm ẩn, một bên là ngng-ời trần thuật ngôi thứ nhất xng

“tôi” song có sự gặp gỡ ở mô típ có nhân vật trần thuật về cuộc đời mình của

hai tác phẩm Ngời đẹp say ngủ và Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi

nên điểm nhìn trần thuật trong hai tác phẩm này cũng có sự tơng đồng và khácbiệt

Nh chúng tôi đã xác định ngay từ đầu, điểm nhìn là vị trí và quan điểmcủa ngời kể chuyện Do vậy, chúng ta sẽ tìm hiểu về điểm nhìn của hai tác

phẩm theo vị trí và quan điểm để thấy những giá trị nghệ thuật và t tởng của

hai tác phẩm cũng nh sự tơng đồng và khác biệt giữa chúng

Xét theo vị trí, điểm nhìn thờng đợc chia thành, điểm nhìn chủ quan và

điểm nhìn khách quan hay điểm nhìn bên trong và điểm nhìn bên ngoài Từ

điển văn học thế giới cũng có sự phân biệt này: điểm nhìn bên trong, ngời kể

chuyện là một trong các nhân vật, do đó câu chuyện đợc kể ở ngôi thứ nhất

Điểm nhìn từ bên ngoài đợc mang lại từ một ý nghĩa bên ngoài, của ngờikhông phải là một phần của câu chuyện, trong trờng hợp này câu chuyện đợc

kể ở ngôi thứ ba Theo Trần Đình Sử cái bên trong và cái bên ngoài là: “cáibên trong ở đây không phải là cái bên trong của khách thể nào đó mà chính làcái hoạt động tự cảm thấy tức là tính chủ quan đời sống tâm lý Tuy vậy sựphân biệt bên trong và bên ngoài mang tính bản thể này có ý nghĩa đặc thù đốivới nghệ thuật Cái bên trong là cái tự cảm thấy, không thể quan sát từ bênngoài đợc Hai mặt này không phải bao giờ cũng nhất trí với nhau Do đó phải

có một điểm nhìn bên trong thì con ngời mới đợc thể hiện hoàn chỉnh điểmnhìn” [23;193] Sự phân biệt về cái bên trong và cái bên ngoài này là cơ sở đểphân biệt giữa điểm nhìn bên trong và điểm nhìn bên ngoài

Về điểm nhìn bên trong thờng có hai dạng biểu hiện cơ bản: thứ nhất:ngời kể chuyện xng “tôi”, tự thú nhận, tự bộc bạch chuyện của mình, kể vềnhững tâm trạng, cảm giác mà mình đã nếm trải; thứ hai, ngời kể chuyện theo

điểm nhìn bên trong là ngời kể chuyện ở ngôi thứ ba, từ bên ngoài nhng lại tựavào điểm nhìn nhân vật để kể

1.2.2.1 Điểm nhìn trong Ngời đẹp say ngủ (Y Kawabata)

Trang 30

Cốt truyện của tác phẩm Kawabata ta nói chung và Ngời đẹp say ngủ

nói riêng không tuân theo cốt truyện truyền thống, không kể về các sự kiện,tình tiết mà chủ yếu là cốt truyện đợc triển khai theo tâm trạng, tâm lý củanhân vật Do đó, trong tác phẩm của ông, ta thờng thấy tâm trạng nổi lên trêntruyện Khi kể về các sự kiện ngời trần thuật thờng đứng ở ngôi thứ ba để kểvới giọng điệu trầm tĩnh, khách quan Nhng khi muốn ngời đọc nhìn sâu vàothế giới nhân vật thì ngời kể chuyện chuyển dịch điểm nhìn vào nhân vật Lúcnày “khoảng cách giữa ngời trần thuật và nhân vật trên thực tế bị thủ tiêu,

điểm nhìn hai phía đều hoà nhập làm một”

Ngời kể chuyện trong Ngời đẹp say ngủ là ngời kể chuyện ở ngôi ba

hàm ẩn Vì vậy ở nhân vật kể chuyện (trần thuật) này cho ta thấy điểm nhìnbên ngoài, trần thuật một cách khách quan các tình tiết sự kiện mà không can

dự vào câu chuyện Song khi kể về đời sống nội tâm, cái hoạt động tự cảmthấy, cái chủ quan của đời sống tâm lý của Êguchi, nhân vật trong tác phẩmthì ngời trần thuật hàm ẩn đã chuyển điểm nhìn sang cho Êguchi tạo nên điểm

nhìn bên trong Nh vậy ở Ngời đẹp say ngủ có sự kết hợp hài hoà giữa điểm

nhìn trần thuật bên trong và bên ngoài tạo nên tính khách quan, chân thực và

độ tin cậy cao cho độc giả về những gì đợc kể trong tác phẩm Nhng khác với

những tác phẩm trớc nh Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc điểm nhìn đợc dịch chuyển

sang nhân vật nhng u thế vẫn giành cho điểm nhìn ngời trần thuật ngôi ba hàm

ẩn thì ở Ngời đẹp say ngủ điểm nhìn trần thuật trong tác phẩm đợc dịch

chuyển phần lớn qua nhân vật Êguchi tạo thành điểm nhìn chủ yếu trongtruyện Do đó, điểm nhìn bên trong trội hơn và điểm nhìn bên ngoài đã hoàvào điểm nhìn bên trong dờng nh không còn khoảng cách Nh vậy, ta có thể

nói rằng điểm nhìn của Ngời đẹp say ngủ là điểm nhìn bên trong thuộc dạng

biểu hiện thứ hai - ngời kể chuyện ở ngôi thứ ba từ bên ngoài tựa vào điểmnhìn nhân vật để kể Theo cách nói của Đào Thị Thu Hằng thì đây là điểmnhìn “nội tâm” Toàn bộ câu chuyện đợc kể miên man theo dòng suy nghĩ,những hồi tởng, ký ức của ông già Êguchi, tức là những gì diễn ra trong đầucủa nhân vật Lúc đầu ông đến ngôi nhà chứa ngời đẹp say ngủ vì hiếu kỳ qualời giới thiệu của ông bạn Kiga và khi đặt chân đến ngôi nhà chứa đặc biệt,biết cô gái đang ở trong phòng bên ông thì ngạc nhiên, thoáng sững sốt: “thậtà? Êguchi thoáng sững sốt ông tởng nh chuyện không hề có” [14;14] Chínhcái cảm giác này đã là nguyên nhân cho sự diễn biến câu chuyện tiếp sau đó

Êguchi cầm chìa khoá trong tay nhng vẫn chần chừ không bớc sang phòng

Trang 31

bên và lại xuất hiện một cảm giác khó chịu trống rỗng “xâm chiếm ông và từcái cảm giác này ông lại nhớ tới hai câu thơ khủng khiếp để rồi suy nghĩ côgái phòng bên biết đâu cũng nh thứ “chết trôi” trong bài thơ Những cảm giác,suy nghĩ đó của Êguchi đợc tái hiện rõ nét là nhờ điểm nhìn trần thuật tự thâncủa ông.

Tất cả sự trần thuật đều men theo cảm giác, suy nghĩ của Êguchi, bắt

đầu từ cảm giác xuất hiện sự kiện qua hồi ức, cứ nh thế tiếp diễn tạo nên mộtcái nhìn hoàn chỉnh về cuộc đời Êguchi từ hiện tại về quá khứ đến tơng lai Từcảm giác của lần đầu tiên ngủ tại “ngôi nhà bí mật”, Êguchi “không thích gìnhững núm vú màu sẫm và nở to, và mới lật thử mép chăn phủ trên vai cô gáinày ông đã thấy hai núm vú còn nhỏ và màu trái đào” [14;28] Cảm giác vàhình ảnh đó đập vào mắt đã làm cho Êguchi nghĩ ngay đến những ngày ôngcùng cô ngời yêu có núm vú rớm máu trốn nhà lên Kyôtô, cuộc dạo chơi củahai ngời trong rừng trúc và về sau gặp lại ở hồ Shimobasu khi nàng đã có con

đội mũ len trắng một cách tình cờ Trong Ngời đẹp say ngủ hơn 10 lần Êguchi

chìm đắm trong suy t hồi tởng thì 9 lần suy t hồi tởng là gợi nhắc của hiện tại

Điểm nhìn bên trong hay nhìn nhận các sự kiện tình huống theo tâmtrạng và từ tâm trạng đó lại cho ta cái nhìn về thời quá khứ, những kỉ niệmhiện lên Tất cả những yếu tố đó đã rất khéo léo hoà quyện vào nhau dới sựdẫn dắt của ngời kể chuyện hàm ẩn làm nổi lên điểm nhìn của câu chuyện là

điểm nhìn tâm trạng

Điểm nhìn bên trong còn thể hiện rất rõ khi ngời kể chuyên xem xét vấn

đề bằng con mắt bình giá của nhân vật Đó chính là điểm nhấn mang tính chấtlỡng phân, vẫn là lời của ngời kể chuyện hàm ẩn nhng lại nh là tâm sự, tiếnglòng của nhân vật thốt lên: “chuyện ban ngày dáng đi đứng của cô ấy dùng cóthô kệch bao nhiêu đi nữa thì có gì quan trọng? Chân cô ấy có đẹp hay khôngcũng còn chẳng quan trọng nữa là! với một ông già sáu mơi bảy mơi tuổi chỉnằm một đêm bên cạnh thì cần gì biết cô ấy thông minh hay đần độn Đ ợc h-ởng một nền giáo dục chu đáo hay bị bỏ mặc và nhiễm những thói h tật xấu?Lúc này còn thứ gì quan trọng khác ngoài việc đặt tay lên thân thể cô ta” [14].Lời kể lỡng phân kiến cho câu chuyện trở nên chân thực hơn

Cùng với việc chuyển điểm nhìn và nhân vật trần thuật câu chuyện theo

cảm giác tâm trạng nhân vật đã khiến cho tác phẩm Ngời đẹp say ngủ và nhiều

tác phẩm khác của Kawabata giảm bớt tính chất áp đặt chuyên chế của “thợng

đế toàn thông” đứng ở vị trí thứ ba Tất cả những sự bình luận, định giá đợc

Trang 32

ngời kể chuyện giành cho độc giả Đây chính là một truyền thống đợcKawabata vận dụng từ “tinh thần thiền tự nhiên không dụng công trong thơHaku của ngời Nhật Bản Đồng thời lối kể chuyện trao điểm nhìn cho nhân vật

Êguchi của ngời kể chuyện ngôi ba hàm ẩn đã tạo đợc sự tin cậy nơi độc giảmặc dù ngời kể chuyện không đứng ở ngôi thứ nhất thờng thấy trong tiểuthuyết hiện đại

1.2.2.2 Điểm nhìn trong Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi (G Marquez)

Điểm nhìn bên trong hay còn gọi là điểm nìn “nội tâm” cũng đợc

Marquez sử dụng trong Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi khi xây

dựng nhân vật là “tôi” ở ngôi thứ nhất trong một cốt truyện đợc phát triển theo

tâm lý nhân vật Nhng khác với điểm nhìn bên trong của Ngời đẹp say ngủ là biểu hiện thứ hai thì Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi ở dạng biểu

hiện thứ nhất Ngời trần thuật ở ngôi thứ nhất xng tôi tự thú nhận, tự bộc bạchchuyện chủa mình, kể về những tâm trạng cảm giác mà mình đã nếm trải Toàn bộ câu chuyện về cuộc đời mình đợc “tôi” trần thuật lại bằng lờithự thuật Bắt đầu là thời điểm sinh nhạt lần thứ 90 tuổi muốn có một đêm tìnhnồng say với một thiếu nữa còn trinh nguyên Và cái ý muốn kì lạ đó đã thôithúc tôi liên hệ với ngời mối lái là bạn thời trẻ, bất chấp sự xấu hổ Từ đó dẫn

đến sự trần thuật về những lần đến với cô bé gái còn trinh nguyên Nhng trớckhi trần thuật về điều đó, ông thấy cần thiết kể về cuộc đời mình, tự giới thiệu

về mình cho độc giả biết và tiện theo dõi Thế là những trang về bản thântrong quá khứ “tôi” đợc hiện lên khá rõ nét từ ngoại hình đến xuất thân, cuộcsống, quan hệ: là một ngời xấu trai, sinh ra trong một gia đình trung lu nhngsớm mồ côi cha mẹ, sống trong căn nhà cũ kĩ với chiếc đàn là của hồi môn mẹ

để lại, với chồng sách đồ sộ bằng cả th viện hoàng gia, “tôi” đã sống một cuộcsống không chó, không chim, không vợ con, bạn bè, không ngời giúp việcmột cách cô đơn Sự trần thuật theo điểm nhìn bên trong đợc khắc họa rõ nétnhất là những trang về tôi sau khi gặp bé gái say ngủ, “tôi” đã nảy sinh tìnhcảm, tình yêu với bé gái Chính cái tình yêu ấy mà “tôi” đã mang đầy cảmxúc, tâm trạng của một trái tim yêu thổn thức ở tuổi 90 Đây là những trangtrần thuật đầy xúc cảm, cảm giác của những ngời đang yêu Từ suy nghĩ tìm

đến bé gái say ngủ vì muốn “giải toả những dòng nội tâm xấu hổ, tức giận đớn

đau trong cuộc sống, tức giận không xoa dịu đợc” [19;52], “tôi” đã đến bên bégái say ngủ và trần thuật lại tất cả những gì xảy ra cho độc giả biết và “tôi”d-ờng nh không nghĩ rằng mình sẽ lại lần hai Vậy mà sau khi nghe tiếng

Trang 33

chuông nhà thờ lớn, trên bầu trời chỉ có một ánh sao duy nhất, còi tàu thuỷ húbuồn bả “tôi cảm thấy trong họng nghèn nghẹn tất cả những mối tình có thể

đã từng có hoặc không hề có.Tôi không chịu đợc nữa” [19;60] và “tôi”đã gọi

đến cho RoSa để gặp lại bé gái say ngủ Từ cảm giác đó sự trần thuật về lầngặp với bé gái trong đêm thứ hai làm cho câu chuyện đợc tiếp diễn Để rồi từlần gặp gỡ này về nhà “tôi”đã gặp ngay cảm giác mình không cô độc trầnthuật cho độc giả biết mình không cô độc nh thế nào Bé gái thực sự đã tác

động đến “tôi” Những cảm xúc, cảm giác bé gái mang lại đã đợc “tôi” tựbạch cho chúng ta biết: mặc dù tuổi già, lại đang hắt xì hơi liên tục, đầu đaunhức và sốt cao, nhng “tôi lại thấy mạnh mẽ hơn bao giờ hết và cũng chẳnghiểu vì sao” [19;64], tôi đã chống chọi lại với cơn ma mà nh cảm thấy có cảhình bóng bé gái đồng hành với mình Rồi “cứ mỗi lần nhớ đến trận ma rào làtôi tự thấy không đơn độc trong nhà mà luôn luôn có mặt Delgadina (tên “tôi”

đặt cho bé gái) Tôi cảm thấy nàng rất gần gũi vào ban đêm thậm chí còn ngửithấy hơi thở của nàng trong phòng ngủ và tiếng đập kẻ khàng nơi má của nàngtrên chiếc ghế của tôi” [19;65] Từ những cảm xúc của nhớ nhung, yêu thơngtràn ngập cõi lòng này “tôi” đã sở hữu nàng trong tâm trí Thay đổi trangphục, màu mắt….tuỳ theo tâm lý từng lúc của mình, mang tranh, hoa, quạt

điện, cả đồ trang sức đến để trang hoàng cho căn phòng mà với “tôi” là thiên

đờng của mình và bé gái Lòng rối bời vì tình yêu, “tôi” đã làm cho căn nhà

đổ nát do cơn ma bão hồi sinh từ tro tàn và “tôi” đang bơi trong mối tình củaDelgadina với niền tin háo hức và hạnh phúc nh cha từng có trong cuộc đời tr-

ớc đây của mình Do có nàng mà lần đầu tiên “tôi” đơng đầu với chính sự tồntại tự nhiên của mình trong khi tuổi 90 cứ lặng lẽ trôi qua” [19;70 – 71] Vìmất hồn bởi cô bé Delgadina say ngủ, “tôi” đã vô tình thay đổi dần tinh thầncác bài báo của mình Đó nh là những bức th tình mà tôi đã viết choDelgadina, “cời khóc trong các bài báo cũng vì cô và trong từng câu chữ điều

có giọt đời tôi trôi chảy” Rồi từ niềm hạnh phúc yêu đơng đó “tôi” đã tặngDelgadina chiếc xe đạp trong ngày sinh nhật nhớ lại kỉ niệm hạnh phúc nhất

đời tôi, đó là cảm giác xao xuyến trong lòng vào một sáng sớm

Yêu và hạnh phúc trong tình yêu đầy những cảm xúc, cảm giác đạt đến

độ “tôi” và bé gái hoà hợp nh hai ngời sống chung bởi họ đã tìm đợc cùng âm

độ chung Quả thật, đó là tình yêu nồng nàn của “tôi” nhng cũng chính vì thế

mà khi bé gái mất hút bởi vụ chết ngời ở ngôi nhà có bé gái say ngủ thì “tôi”

Trang 34

lại tụt dốc, sống một cuộc sống chết dần chết mòn vì tình yêu tràn đầy cảmgiác, suy nghĩ, buồn đau Suốt cả tuần lễ tôi không thay quần lót, không tắmgội, không cạo râu, không đánh răng vì tình yêu đến với tôi quá muộn để làm

đẹp và ai đợc nữa Tiều tuỵ vì tình “tôi” hiểu rằng: “chết vì tình chẳng qua chỉ

nh tấm giấy phép bằng thơ ca mà thôi” [19; 92] và “tôi” đã nghiệm ra “mìnhkhông chỉ có thể chết mà thực ra đang chết dần, chết mòn vì tình Nhng tôicũng nhận thấy một sự thật ngợc hẳn lại, niềm vui trong đau khổ của tôi vẫnkhông hề thay đổi” [19; 92] Tôi đã đi khắp nơi để tìm bé gái say ngủ, đến cảbệnh viện tìm với sự xúc động mạnh khi thấy một bé gái bị cán xe, cán đichiếc xe giống chiếc xe ông tặng Delgadina, đến nhà máy đơm cúc áo để tìmbất chấp sự xấu hổ mà khi xa khỏi đó “tôi” “chỉ có một tình cảm duy nhất trên

đời là muốn khóc” [19; 97] Sau tất cả những tìm kiếm “tôi” thực sự “chẳngbiết làm gì với nổi đau tâm hồn và bắt đầu nhận ra mình đã già, bất lực trớctình yêu” [19;94] Nổi đau, sự bất lực và nhận thấy mình đã già minh chứngcho tình yêu tôi giành cho bé gái đậm sâu, sự ra đi của cô đã đảo lộn cuộcsống, tình cảm, cảm xúc của “tôi” để rồi khi gặp lại nó cũng làm tơi mới tâmhồn, tình cảm của “tôi” Khi gặp lại cô bé “tôi” đã mua sô cô la, bánh hạnhnhân, hoa hồng cháy đỏ để trải lên giờng; “tôi” nhận ta sự thay đổi của cơ thể

mà nhờ nó “tôi” đã say sa bao nhiêu thì “tôi” lại càng hốt hoảng và nổi giậnbấy nhiêu bởi sự giả tạo, mớ tài sản cô bé đeo mà theo “tôi” là hiện thân của

sự không trong trắng, của nghề “bán hoa” Và “tôi” đã thét lên: “đồ con

điếm!” rồi là lời nói trong lòng rực rực lửa tức giận “đồ gái điếm” Không chỉ

có tức giận đợc biểu hiện bằng ngôn ngữ mà sự mù quáng vì tức giận quái dịtôi đã đập phá văn phòng

Tất cả những hành động đó đã thể hiện sự ghen tuông của một trái timyêu mà Rôsa đã nói rất đúng bản chất “ghen tuông biết nhiều hơn sự thật”[19;102] Có yêu đến độ sâu sắc, mãnh liệt thì con ngời ta mới ghen tuông nổigiận đến vậy Tình yêu của “tôi” giành cho bé gái đã kiến Rôsa phải thốt lên

“trời ơi, sao tôi không có đợc một tình yêu nh kiểu này” [19;100]

Rõ ràng tình yêu đó ta cảm thấy thật sâu sắc, vợt tuổi tác và trong tìnhyêu thì dù ở tuổi 90 cũng mới mẻ, sâu sắc đầy xúc cảm với những trạng tháicung bậc khác nhau và đầy mãnh liệt nh tuổi mới lớn Tình yêu đó ta cảmnhận đợc nh vậy là nhờ vào sự soi rọi từ điểm nhìn trần thuật bên trong, mổ xẻtất cả những cảm giác, cảm xúc, suy nghĩ của yêu thơng, hờn giận, ghen tuôngcủa chính nhân vật “tôi” đã tự thú nhận những trạng thái cung bậc tình cảm,

Trang 35

tâm trạng cho chúng ta hay Từ những tâm trạng cảm xúc của điểm nhìn bêntrong đó dẫn đến “tôi” nhớ về những kỉ niệm trong quá khứ hay hành động vàmen theo những nỗi nhớ, hành động đó câu chuyện, những dòng trần thuật đ-

ợc tiếp diễn

Toàn bộ câu chuyện đợc trần thuật dới con mắt trần thuật của “tôi” tạonên cái nhìn bên trong soi xét mổ xẻ những tâm trạng cảm xúc của chínhmình đa đến cho độc giả cái nhìn cận cảnh, chính xác toàn diện về câu chuyện

đợc kể

Nh vậy, xét về vị trí để nhìn và trần thuật Ngời đẹp say ngủ và Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi có điểm nhìn xuất phát từ hai ngôi kể khác nhau Ngời đẹp say ngủ, đợc trần thuật ở điểm nhìn ngôi thứ ba, ngời kể

chuyện giấu mặt tựa vào điểm nhìn nhân vật tạo nên sự kết hợp nhuần nhuỵ

mang đậm tính truyền thống mà không kém phần hiện đại Ngợc lại, Hồi ức

về những cô gái điếm buồn của tôi đợc trần thuật trực tiếp bằng ngôi thứ nhất,

ngời kể chuyện xng “tôi” thờng gặp ở tác phẩm hiện đại Dù có điểm nhìnxuất phát trần thuật khác nhau nhng điểm cốt yếu trong cách kể của hai câuchuyện vẫn là vấn đề điểm nhìn luôn phụ thuộc, bám sát vào thế giới nội tâmcủa nhân vật, đó là điểm nhìn nội tâm hay điểm nhìn bên trong

Điểm nhìn không chỉ có là vị trí mà còn bao hàm cả thái độ lập trờng t ởng Do đó điểm nhìn thay đổi về cách nhìn

1.2.3.1 Sự vận động điểm nhìn trong Ngời đẹp say ngủ (Y Kawabata)

Ông già Êguchi đã chủ động tìm đến ngôi nhà bí mật vì sự tò mò qua lờigiới thiệu của ông bạn Kiga lúc nhìn thấy thứ gì màu đỏ rơi trên đám cỏ mùathu úa vàng Phải chăng do nhìn thấy kiếp đời ngắn ngủi và thứ gì màu đỏ rơi,lá úa vàng ông nghĩ ngay tới tuổi già Bởi vậy tìm đến với những ngời đẹp say

Trang 36

ngủ của họ là để tìm thấy đợc những cảm xúc thời trai trẻ, kéo dài tuổi xuânnhng nhìn thấy sự bất lực, kết thúc của con ngời

Có lẽ vì lí do đó mà Êguchi đã tìm đến đây để khám phá về “ngôi nhà bímật” với những ngời đẹp say ngủ và cũng là để chạy trốn tuổi già, sự cô đơn,

ông đã nghi ngại khi lần đầu đến đây áp lực về tuổi già đã đè lên Êguchi mặc

dù với ông bản thân cha mất đi khả năng của ngời đàn ông nh những ông già

đến đây Vì già nên ông nghi ngại và “Êguchi” tìm đến đây phải chăng đểkiếm một vài tiếng đồng hồ quên đi nổi sợ hãi cái chết?” [14;16] Tuổi già nhbắt đầu bớc vào đời ông và nỗi khổ tâm của những ngời khác đến đây giờkhông còn xa lạ với ông nữa Nghĩa là Êguchi cũng đã là ngời “cùng hội, cùngthuyền” với những ngời đến đây Vì thế nếu lúc đầu vì thói tò mò mà ông đến

đây thì thói tò mò, hiếu kỳ đã yếu đi nhiều trong đầu óc Êguchi và đó lại làmột dấu hiệu của tuổi già

Nh vậy, từ tò mò Êguchi đã đến ngôi nhà bí mật từ đó ý thức đợc tuổigià để rồi sợ hãi nỗi cô đơn tìm cách lay cô gái say ngủ dậy bởi sợ rằng sốphận, con ngời ông hoàn toàn vô nghĩa đối với cô gái Là một ngời cha mấthết sức hấp dẫn của ngời đàn ông, Êguchi đã bị dục vọng lòng ham muốn chếngự khiến ông cảm thấy muốn làm những việc thô bạo đối với ngời đẹp sayngủ nhng cuối cùng ông đã dùng nghị lực chế ngự đợc một phần vì nếu ônglàm điều thô bạo thì ngôi nhà sẽ mất đi sự linh thiêng bí ẩn, những quy tắckhông thành văn của “ngôi nhà bí mật” đặt ra, một phần ông không muốn làmtổn thơng cô gái say ngủ vì khi ở bên cô ông thấy “mùi của lòng xót thơng đốivới cô gái đang say ngủ kia” [14;24]

Tất cả những trải nghiệm ấy đã đem đến cho Êguchi cũng nh các ônggià đến đây cảm giác “đến đây ngủ giống nh ngủ với Đức Phật nấp kín đâu

đây vậy” Đến đây Êguchi đã biết thơng xót, trân trọng đối với những ngời

đẹp say ngủ và thực sự tìm thấy sự thoải mái, đợc “nghỉ ngơi hoàn toàn” bênnhững ngời đẹp say ngủ mà không có mặt của dục vọng Đồng thời cho ta cáinhìn về cái đẹp của ngời phụ nữ cái đẹp nằm ở sự tự nhiên Vì thế không phảichủ động tìm đến ngôi nhà bí mật với sự tò mò hiếu kì nh lúc đầu nữa mà đã

bị các cô gái làm cho phải trở lại nhiều lần để tìm đợc phút giây nghỉ ngơi, đểtìm lại thời trai trẻ với những mối tình để chiêm nghiệm suy t… Sự trở lại căn Sự trở lại cănnhà mà sau lần thứ nhất, không đọng lại trong ông mấy ấn tợng và có cảmgiác căn nhà này cũng không có gì thú vị đã khiến cho chính bản thân ôngcũng không ngờ không hiểu vì sao lại quay trở lại Lúc này ông thích cái kiểungủ bên một cô gái mà không bị một cảm giác khó chịu nào, ông còn hài lòng

Trang 37

với mình: “Suốt 60 năm sống trên đời, cha bao giờ nằm chung với một cô gáisuốt đêm trong căn phòng mà ông vẫn trong sạch” [14-38] Và xem việc các

ông già ngủ với các cô gái còn trinh nguyên là “việc giúp đỡ những ngời già

đáng thơng và những giấc mơ phong phú của họ” Nhng mặt khác, Êguchicũng bảy tỏ lòng thơng, trân trọng những cô gái trẻ say ngủ và phê phán lốichơi của những ông già xem các cô gái là tặng phẩm, là búp bê sống thoả sứcvày vò của bàn tay già nua đối lập với thân thể trẻ trung, trinh nguyên của cáccô gái Nếu những ngời “bán hoa” còn biết rằng mình có thể bán cho ai nhngcác ngời đẹp say ngủ ở đây mất đi cả cái quyền tối thiểu của con ngời là nhậnbiết Họ không biết đợc đêm qua cơ thể họ đã bị gã già nào vày vò Vì thế màcác bà, các mẹ đừng tởng rằng con mình còn trinh mà nghĩ rằng nó còn trinhnguyên Thân thể họ bị những bàn tay già nua không còn sinh khí đàn ông dày

vò trong khi không còn có một chút ý thức bị biến thành búp bê, đồ chơi chonhững ông già thậm chí họ còn bị mất đi cả mạng sống vì cái trò chơi ấy Đó

là những điều ta cảm nhận đợc qua dòng suy nghĩ cảm giác và sự trần thuậtcủa Êguchi Những quan điểm, cách nhìn dờng nh mâu thuẩn này chứng tỏluôn có sự vận động trong cách nhìn của Êguchi Êguchi đã là một ngời trongcuộc dấn thân, do đó những thái độ, lập trờng, t tởng của ông cũng vận độngtheo sự dấn thân ấy Đó là sự vận động từ chỗ tò mò, hiếu kỳ đến chỗ là ng ờitrong cuộc đến để đợc nghỉ ngơi hoàn toàn, để chạy trốn tuổi già, sự cô đơn,

sự thơng xót Từ sự dấn thân của ngời trong cuộc đó Êguchi chiêm nghiệm vềcuộc đời qua những hồi tởng, lầm nhớ để rồi nhận ra và phê phán sự tàn bạocủa lối giải trí bằng việc biến các cô gái còn trinh thành trò chơi cho những

ông già, trân trọng các cô gái say ngủ đến không nỡ làm điều gì thô bạo với

họ và bày tỏ quan niệm đối với chữ “trinh” Điểm nhìn ở đây của Êguchikhông đứng yên bất biến từ đầu đến cuối trong truyện mà đã có sự vận động,thay đổi Điểm nhìn này cũng mang dáng nét của tác giả bởi sự dụng công đểcho nhân vật tự nhìn nhận suy nghĩ và nói ra cho độc giả biết thay lời tác giảmuốn nói tạo nên điểm nhìn khách quan mà đáng tin cậy

Nhờ sự vận động của điểm nhìn này mà sau khi đọc xong tác phẩm độcgiả thấy đợc nhiều tầng ý nghĩa của cuốn tiểu thuyết và trở thành tác phẩm bất

hủ khi thế hệ nào cũng nảy ra đợc gì cho mình từ nó

1.2.3.2 Sự vận động điểm nhìn trong Hồi ức về những cô gái điếm

Con mắt vận động của ngời đang yêu Đó là cách nói mà ở đây chúngtôi muốn dùng để nói đến sự vận động điểm nhìn trong tác phẩm này Lấy cái

Trang 38

mốc gặp gỡ bé gái say ngủ để nhận định, chúng tôi thấy sự vận động điểmnhìn trong tác phẩm là rất rõ nét Lúc đầu “tôi” đến với bé gái và muốn có

đêm tình nồng say vì thế cũng nh Êguchi, “tôi” không định quay trở lại saulần thứ nhất Dù đêm thứ nhất cô bé đã tạo nên trong “tôi một dòng nớc ấmchảy trong huyết mạch và đánh thức con thú hu trí trong ngời tôi từ từ bừngtỉnh dậy sau giấc ngủ dài” [19;34] nhng cũng làm “tôi cảm thấy nhục nhã,buồn bã và nhất là quá lạnh lẽo” [49;35] Có lẽ vì cảm thấy nh vậy nên “tôi”

đã không dụng đến bé gái suốt đêm và cũng chỉ xem đó là một đêm thoángqua trong cuộc đời nh những cuộc tình của ông, những cuộc tình một đêm saukhi báo đã lên khuôn ấy Thế nhng, ông đã quay lại đó lần thứ hai và nhữnglần sau đó nữa Từ lúc tiếp xúc với bé gái “tôi” đã thay đổi nhiều và thay đổicả thái độ, t tởng, quan điểm sống của mình

Sự thay đổi đầu tiên đó là lần đầu tiên trong đời “tôi thấy trong lòng trànngập một thứ tình cảm mà cả cuộc đời cha đợc hởng đó là đợc giải thoát khỏitình trạng nô lệ áp đặt từ lúc tôi mới mời ba tuổi” [19; 52] khi “tôi” dám báo

bỏ lời áp đặt của bà Rôsa giải thích vì sao “tôi” không đụng đến bé gái Sau

đêm thứ hai thì “tôi” không cảm thấy mình không đơn độc trong căn nhà lâunay chỉ có mình “tôi” bởi cứ mỗi lần nhớ đến trận ma rào là “tôi” laị cứ thấykhông đơn độc mà trong nhà luôn có Delgadina “Tôi” đã nhớ và giành tìnhcảm cho bé gái đã ở trong tâm trí khiến lúc nào “tôi” cũng nhìn thấy Tôi đãrất nâng niu bé gái, mang bao đồ đạc, trang sức đến trang trí căn phòng tìnhyêu và cả hoa tai là của hồi môn của mẹ để lại đến trang điểm cho bé gái.Sống trong hạnh phúc tình yêu “tôi” đã có sức lực để sửa sang lại căn nhà saucơn bão và lần đầu tiên dám nhìn thẳng vào sự thật Với niền háo hức và hạnhphúc lần đầu tiên tôi dám dơng đầu với chính mình

“Do có nàng mà lần đầu tiên tôi đơng đầu với chính sự tồn tại tự nhiêncủa mình trong khi tuổi chín mơi cứ lặng lẽ trôi qua Tôi phát hiện ra rằngchính nổi ám ảnh muốn đặt mỗi vật nào đúng chỗ của chúng mỗi chuyện vào

đúng thời điểm, mỗi lời nói đúng với phong cách của nó chẳng phải là phầnthởng xứng đáng cho đầu óc ngắn nắp thứ tự, mà ngợc lại nó chỉ là một hệthống vờ vịt do tôi tự nghĩ ra để che dấu tính cách lộn xộn của chính mình màthôi Tôi cũng phát hiện ra rằng về bản chất mình không có ý thức kỷ luật màchẳng qua chỉ là cách phản ứng lại tính lời nhác của chính bản thân, rằng tôi

tỏ ra rộng lợng chỉ che dấu cá tính tầm thờng, rằng tôi đợc tiếng cẩn trọngchẳng qua vì chậm nghĩ, rằng tôi là kẻ dĩ hoà vi quý vì cố kìm nén nổi tứcgiận, rằng tôi chỉ làm việc đúng giờ vì sợ ngời ta biết mình ít quan tâm tới thời

Trang 39

gian của kẻ khác Sau cùng tôi phát hiện ra rằng tình yêu không phải là mộttrạng thái của tâm hồn mà là dấu hiệu của duyên số” [19; 71].

Chính nhờ cái dấu hiệu của duyên số mà ở tuổi 90 ông đã bắt đầu yêu,thậm chí yêu điên cuồng Tình yêu đã làm ông bỗng trở thành một ngời khác:

đọc những quyển sách lãng mạn mà trớc đây ghét dù bị mẹ bắt đọc và có thểquy hàng cái vòng xoáy cộc sống do mình gây ra và làm mình sợ hãi thay đổitinh thần các bài báo, đạp phóng xe trên đờng của sở thích học trò ở tuổi 90,

đau khổ ghen tuông và yêu Con ngời trớc đây và con ngời sau khi gặp bé gái

có tình yêu nảy nở hoàn toàn khác nhau ở cách sống thái độ và t tởng, quan

điểm sống

Sự thay đổi đó và tình yêu thơng chân thành đến điên cuồng, lo lắngnâng niu bé gái say ngủ đã chứng tỏ rằng cách nhìn của “tôi” đối xử giữanhững cô gái làm nghề “mua vui” mà ông thờng tìm đến bằng cổng sau khibáo đã lên khuôn với bé gái mà ông gọi bằng cái tên thân thơng Delgadina làhoàn toàn khác nhau Ta thấy một sự trân trọng nâng niu, giành hết tình yêuthơng, chăm sóc lo lắng cho bé gái, sự cầu mong chúa giữ hộ trinh triết vàmuốn mang lại hạnh phúc cho Delgadina bằng việc quyết định mua của Rosatoàn bộ khu nhà gồm cửa hàng và vờn tợc khi ông vợt qua tuổi 90 an toàn Vàcuối cùng nhận lời thách cợc của Rosa để sau khi họ chết Degadina sẽ đợc h-ởng tài sản của cả hai ngời Khi làm đợc điều đó “tôi” đã cảm thấy “lần đầutiên tôi nhận ra chính mình ở chân trời xa của thế kỷ thứ nhất của cuộc đời”[19; 122] ánh sáng mới đã soi vào cuộc đời mới bắt đầu

Sự vận động của điểm nhìn của “tôi” trong Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi bằng cách nhìn thẳng vào cuộc sống của chính mình, thoát ra đợc

sự nô lệ từ trớc đã đè nặng lên cuộc sống, biết sống thoải mái vô t hơn màkhông sợ ánh mắt dõi theo của ngời xung quanh; có thái độ trân trọng nângniu, yêu thơng đối với bé gái, muốn đợc gặp chứ không phải là sự thờ ơ, lạnhnhạt không muốn gặp lại dù đợc Rosa giải thích trớc kia đã cho thấy sự thay

đổi, khác biệt giữa cách nhìn, thể hiện quan điểm t tởng của “tôi” trớc và saukhi gặp bé gái say ngủ

Nhờ sự vận động điểm nhìn này mà ta nhận thấy tác động của bé gái sayngủ đối với “tôi” vô cùng to lớn Bằng sự vận động điểm nhìn, đa ra hai hiệnthực đối lập nhau càng chứng tỏ mặt tác động tích cực của bé gái say ngủ

“Tôi” đã thay đổi hoàn toàn dới sự tác động đó Đồng thời sự vận động của

điểm nhìn cũng cho thấy sức mạnh của tình yêu và tình yêu không lứa tuổi ởtuổi nào thì tình yêu cũng rất đẹp và sức mạnh của nó vô cùng to lớn

Trang 40

Nh vậy, điểm nhìn ở hai tác phẩm về cơ bản đều có điểm nhìn bên trong

và sự vận động điểm nhìn Nhng từ sự tơng đồng này ta cũng nhận thấy sựkhác biệt của chúng Sự khác biệt đó chính là ở dạng biểu hiện của điểm nhìnbên trong, ở sự vận động điểm nhìn dù có sự gặp gỡ nhng cũng thể hiện quan

điểm t tởng trong chiếm lĩnh đời sống có chỗ khác nhau ở cùng đề tài Từ đó,cho ta thấy những quan điểm về những vấn đề trong cuộc sống của hai phongcách Đây chính là sự tơng đồng trong khác biệt và sự khác biệt trong tơng

đồng Nhng dù gặp gỡ và tơng đồng nh thế nào thì điểm nhìn ở hai tác phẩmcũng thể hiện sự chân thành, khách quan, đáng tin cậy

Ngày đăng: 21/12/2013, 12:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 2004
2. M. Bkhtin (2003), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết , Vĩnh C dịch, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bkhtin
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2003
3. Lu Văn Bổng (2004), Những bình diện chủ yếu của văn học so sánh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bình diện chủ yếu của văn học so sánh
Tác giả: Lu Văn Bổng
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004
4. Nguyễn Văn Dân (1998), Lý luận văn học so sánh, Nxb khoa học xã hội, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học so sánh
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb khoa học xã hội
Năm: 1998
5. Nguyễn Văn Dân (2006), Phơng pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phơng pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb khoa học xã hội
Năm: 2006
6. Phan Thị Hồng Diệu (2008), Nghệ thuật trần thuật trong văn xuôi Khuất Quang Thuỵ, luận văn Thạc sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật trần thuật trong văn xuôi Khuất Quang Thuỵ
Tác giả: Phan Thị Hồng Diệu
Năm: 2008
7. Đặng Anh Đào (1996), Đổi mới nghệ thuật phơng Tây hiện đại, Nxb giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nghệ thuật phơng Tây hiện "đại
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 1996
8. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2007), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 2007
9. Chu Sĩ Hạnh (2007), Yasunari Kawabata dới nhãn quan Tây phơng, số báo đặc biệt về Yasunari Kawabata, tạp chí văn Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yasunari Kawabata dới nhãn quan Tây phơng
Tác giả: Chu Sĩ Hạnh
Năm: 2007
10. Nguyễn Văn Hạnh (2007), Rabindrranath Tagore với thời kỳ Phục hng ấn Độ , Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rabindrranath Tagore với thời kỳ Phục hng ấn Độ
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
11. Đào Thị Thu Hằng (2007), Văn hoá Nhật Bản và Yasunari Kawabata, Nxb giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá Nhật Bản và Yasunari Kawabata
Tác giả: Đào Thị Thu Hằng
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 2007
12. Nguyễn Thái Hoà (2000), Những vấn đề thi pháp của truyện, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp của truyện
Tác giả: Nguyễn Thái Hoà
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
13. Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi (2005), Thanh Huyền dịch, Trang Web: evan .Vnexdress.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi
Tác giả: Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi
Năm: 2005
14. Yasunari Kawabata (1991), Ngời đẹp say ngủ, Nxb văn học Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngời đẹp say ngủ
Tác giả: Yasunari Kawabata
Nhà XB: Nxb văn học Hà Néi
Năm: 1991
15. Yasunari Kawabata, Tuyển tập tác phẩm, Nxb Lao động – Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập tác phẩm
Nhà XB: Nxb Lao động – Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây
16. Phợng Lu, chủ biên (2006), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Phợng Lu, chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
17. Phợng Lu (2005), Phơng pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb Đại học s phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phơng pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Phợng Lu
Nhà XB: Nxb Đại học s phạm Hà Nội
Năm: 2005
18. Nguyễn Khánh Ly (2007), Tiểu thuyết "Ngời đẹp say ngủ" của Yasunari Kawabata từ góc nhìn lý thuyết hiện sinh. Khoá luận tốt nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngời đẹp say ngủ
Tác giả: Nguyễn Khánh Ly
Năm: 2007
19. G.Garicia Marquez (2005), Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi, Nxb tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: 5), Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi
Tác giả: G.Garicia Marquez
Nhà XB: Nxb tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2005
20. Nguyễn Thị Tuyết Nga, Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi, Thuvienoline – Sachhay.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w