1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghệ thuật thể hiện hình tượng người phụ nữ trong thơ nôm truyền tụng của hồ xuân hương

53 2,9K 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghệ Thuật Thể Hiện Hình Tượng Người Phụ Nữ Trong Thơ Nôm Truyền Tụng Của Hồ Xuân Hương
Người hướng dẫn PTS. Trương Xuân Tiếu
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 279 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về vấn đề hình tợng ngời phụ nữ trong thơ Nôm Hồ Xuân Hơng, đã đợc các tác giả đề cập đến ở nhiều khía cạnh, nhng ít ai quan tâm đến “Nghệ thuật thể hiện hình tợng ngời phụ nữ trong thơ

Trang 1

Lời nói đầu

Từ trớc tới nay, thơ Nôm Đờng luật của Hồ Xuân Hơng đã đợc nhiềungời nghiên cứu trên những phơng diện khác nhau, và ở mỗi lĩnh vựcnghiên cứu đều có những quan điểm, những cách nhình nhận, đánh giá rấtphong phú và đa dạng

Tuy nhiên không ai phủ nhận đợc Hồ Xuân Hơng là “nhà thơ của phụnữ ”(Nguyễn Lộc), bởi vì trong hầu hết các bài thơ của bà hình tợng ngờiphụ nữ luôn luôn đợc nói tới, có khi đợc nói một cách trực tiếp, có khi lại đ-

ợc nói một cách gián tiếp

Về vấn đề hình tợng ngời phụ nữ trong thơ Nôm Hồ Xuân Hơng, đã

đợc các tác giả đề cập đến ở nhiều khía cạnh, nhng ít ai quan tâm đến

“Nghệ thuật thể hiện hình tợng ngời phụ nữ trong thơ Nôm của Hồ Xuân

H-ơng”

Đi vào nghiên cứu đề tài này, chúng tôi mong muốn góp thêm tiếngnói riêng của mình vào tiếng nói chung của những ngời quan tâm, yêu thíchthơ Nôm Hồ Xuân Hơng

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã nhận đợc sự quan tâm,hớng dẫn hết sức tận tình chu đáo của thầy giáo Trơng Xuân Tiếu và cácthầy cô giáo khác trong khoa Ngữ Văn Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơnchân thành, sâu sắc của mình đối với tất cả các thầy cô giáo đã giúp tôihoàn thành khoá luận này

A Phần mở đầu.

1 Lý do mục đích chọn đề tài:

Hồ Xuân Hơng là một nhà thơ nổi tiếng của dân tộc ta Nhng cuộc

đời và thơ văn của bà còn nhiều điều cha sáng tỏ, từ trớc đến nay những

ng-ời su tầm nghiên cứu giảng dạy về Hồ Xuân Hơng vẫn không ngớt tranhluận nhiều điều rất cơ bản về cuộc đời và thơ văn của bà

Trang 2

Mặc dù cuộc đời và thơ văn của Hồ Xuân Hơng cho đến nay vẫn cònnhiều điều bí ẩn, nhng trong tâm thức của ngời Việt Nam, Hồ Xuân Hơngvẫn là một nhà thơ vô cùng độc đáo, độc đáo về nội dung, độc đáo về thủpháp nghệ thuật, xứng danh là “bà chúa thơ nôm” (chữ dùng của XuânDiệu), từ đề tài đến hình ảnh, màu sắc…thơ Hồ Xuân Hthơ Hồ Xuân Hơng không bao giờtĩnh lặng, bằng phẳng, mà ngợc lại chúng luôn luôn sống động, gai góc, gồghề…thơ Hồ Xuân Hxa lạ với sự chừng mực hài hoà của không khí văn chơng đơng thời,không đài các nh Bà Huyện Thanh Quan, không bác học trữ tình một cách

đằm thắm và đau đáu nỗi đọan trờng cùng “thập loại chúng sinh” nhNguyễn Du, cũng chẳng quý phái vàng son, sang trọng tới từng câu, từngchữ mà độ gọt rũa đến tinh xảo nh chạm, khắc của Nguyễn Gia Thiều…thơ Hồ Xuân HThơNôm Hồ Xuân Hơng chỉ có thể sánh với lời ăn tiếng nói của dân gian

Cùng với thời gian thơ Hồ Xuân Hơng đã đợc bạn đọc từ lớn nhỏ, gáitrai, từ bậc “ hiền nhân quân tử” đến những “con ngời chân đất”, từ trong n-

ớc đến ngoài nớc đón nhận một cách nồng nhiệt, say mê

Vì vậy việc khẳng định lại giá trị thơ Hồ Xuân Hơng là một việc làmmang tính tất yếu khách quan, và cũng là mong muốn, khát vọng của nhiềungời yêu thích thơ Hồ Xuân Hơng, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi màviệc nhìn nhận đánh giá lại thơ Hồ Xuân Hơng có chiều hớng phát triểnmạnh mẽ, khi mà tiếng tăm và tài năng của Hồ Xuân Hơng đã vang tậnnhiều nớc trên thế giới Đó là cơ hội tốt nhất để ta xem xét lại giá trị thơNôm của Hồ Xuân Hơng

Vấn đề thơ Nôm của Hồ Xuân Hơng đã đợc nhiều ngời quan tâm,nghiên cứu, tìm hiểu, ngời ta tìm hiểu nội dung, hình thức, phân tích từngbài thơ cụ thể…thơ Hồ Xuân Hvà họ cũng đã đề cập rất nhiều đến vấn đề hình tợng ngờiphụ nữ trong thơ Nôm của Hồ Xuân Hơng Nhng “Nghệ thuật thể hiện hìnhtợng ngời phụ nữ trong thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hơng” vẫn làmột đề tài nghiên cứu còn mới mẻ, cha đợc quan tâm thích đáng Chính lý

do này, cùng với sự yêu thích thơ Nôm Hồ Xuân Hơng, mong muốn tìmhiểu về “cách” xây dựng hình tợng ngời phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hơngkhiến chúng tôi đã chọn vấn đề “Nghệ thuật thể hiện hình tợng ngời phụ nữtrong thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hơng” làm đề tài nghiên cứu,mong muốn hiểu biết hơn về thơ văn của Hồ Xuân Hơng cũng nh con ngờicủa bà; đặc biệt là về hình tợng ngời phụ nữ trong thơ bà

Với khoá luận này, chúng tôi mong muốn góp một phần nhỏ bé vàoviệc giải quyết những vấn đề trọng tâm, nâng cao kiến thức và nghiệp vụchuyên môn, phục vụ cho công tác sau này của bản thân

2 Nhiệm vụ của đề tài:

Do mục đích của đề tài nên ở khoá luận này, chúng tôi sẽ trình bàymột cách toàn diện, sâu sắc có hệ thống và cụ thể về “Nghệ thuật thể hiệnhình tợng ngời phụ nữ trong thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hơng” theotừng bài thơ cụ thể, để từ đó thấy đợc cách nhìn nhận và cách thể hiện hình

Trang 3

tợng ngời phụ nữ của nữ sĩ họ Hồ, thấy đợc cách thể hiện đó khác với cácnhà thơ cùng thời và trớc đó nh thế nào, và thấy đợc phong cách riêng độc

đáo của Hồ Xuân Hơng

3 Ph ơng pháp thực hiện đề tài:

Để thực hiện đề tài này chúng tôi vận dụng các phơng pháp sau đây:

- Phơng pháp thống kê, phân loại

- Phơng pháp phân tích, tổng hợp, khái quát, so sánh, đối chiếu

Đồng thời khi thực hiện đề tài chúng tôi luôn luôn tuân thủ hai quan điểmkhoa học:

+ Quan điểm duy vật lịch sử (tính lịch đại, tính đồng đại)

+ Quan điểm duy vật biện chứng (hình thức trong mối quan hệ với nộidung)

4 Phạm vi giới hạn đề tài:

Việc tìm hiểu vấn đề “ Nghệ thuật thể hiện hình tợng ngời phụ nữtrong thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hơng ” nhất thiết đòi hỏi ngờinghiên cứu phải đi từ tác phẩm Khoá luận này sẽ tìm hiểu những bài thơNôm truyền tụng của Hồ Xuân Hơng vì đây là mảng thơ đợc rất nhiều nhànghiên cứu trong và ngoài nớc đón nhận một cách nhiệt tình và khám phá

đợc nhiều điều thú vị ở đây Tài liệu chúng tôi sử dụng phục vụ cho khoáluận này là tập “thơ Hồ Xuân Hơng” do Đào Thái Tôn (giới thiệu và tuyểnchọn), NXB Hà Nội 2001

5 Lịch sử vấn đề:

Thơ Nôm Đờng luật của Hồ Xuân Hơng là một hiện tợng độc đáo,mới lạ đã đợc nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học các tác giả trong vàngoài nớc đề cập đến trên nhiều phơng diện cả về mặt nội dung xã hội cũng

nh hình thức nghệ thuật…thơ Hồ Xuân Hvà mỗi ngời đều có những cách nhìn nhận, đánhgiá khác nhau

Do phạm vi giới hạn là một khoá luận nên chúng tôi chỉ giới thiệumột số bài viết có liên quan đến vấn đề mà đề tài đặt ra

Trong bài viết “Hồ Xuân Hơng” ở cuốn (“Hồ Xuân Hơng về tác gia

và tác phẩm”, NXB GD 2003) Nguyễn Lộc đã nêu: “Hồ Xuân Hơng thờng

đợc coi là một trong những nhà thơ tiêu biểu cho trào lu nhân đạo chủ nghĩacủa văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷXIX, trớc hết là vì sáng tác của bà đã nêu bật đợc những vấn đề riêng t,những nỗi bất công mà ngời phụ nữ trong xã hội phong kiến phải chịu đựng

và tin tởng đấu tranh để bênh vực quyền lợi của phụ nữ Nhà thơ cha nêu

đ-ợc tất cả những nỗi khổ của phụ nữ mà chỉ thờng nêu lên những nỗi khổriêng có tính cách giới tính của họ…thơ Hồ Xuân HBà ý thức đợc rất rõ giá trị và vai tròcủa ngời phụ nữ: Họ đẹp ở đạo đức, đẹp ở con ngời và về tài năng thì khôngkém gì đàn ông, chỉ vì xã hội phong kiến không chấp nhận nên họ khôngphát huy lên đợc…thơ Hồ Xuân H”[8, 27]

Trang 4

Hay trong bài viết “ Hồ Xuân Hơng – Thiên tài huê nguyệt” TrơngTửu có viết: “Thơ Hồ Xuân Hơng, về ý thức cũng nh nghệ thuật là tiếng nóiphản phong của đa số phụ nữ các tầng lớp bình dân nghèo trong xã hội ViệtNam xa” [8, 84]

Tác giả Phạm Thế Ngũ với bài viết “Đặc sắc thơ Hồ Xuân Hơng” lạinói về việc đòi quyền bình đẳng cho ngời phụ nữ của Hồ Xuân Hơng: “Bàlớn tiếng đòi hỏi dân quyền, nhất là nữ quyền: quyền cho ngời đàn bà đợcvơn lên ngang hàng với đàn ông, quyền cho ngời đàn bà đợc chủ động trongviệc tìm khoái lạc sinh lý nh đàn ông” [8, 115]

Còn tác giả Nguyễn Hồng Phong trong bài viết “ Nữ sĩ bình dân HồXuân Hơng” lại đề cập đến vấn đề ngời phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hơng lànhững ngời phụ nữ rất bình thờng, là những ngời lao động: “Trong thơ của

Hồ Xuân Hơng ngời phụ nữ đợc nói tới, đợc đề cao không phải là các nàngcông chúa, các tiểu th con quan nh trong các truyện Nôm, mà trớc hết là ng-

ời phụ nữ bình thờng, những ngời phụ nữ lao động và đặc biệt là những ngờiphụ nữ cùng khổ, nhng tấm lòng của họ vẫn trong trắng, thanh cao…thơ Hồ Xuân H” [8,172]

Qua các bài viết trên đây ta thấy các tác giả đề cập đến các vấn đề:Chủ nghĩa nhân đạo của Hồ Xuân Hơng khi viết về ngời phụ nữ thể hiệnqua sự cảm thông, bênh vực, đề cao, khẳng định ngời phụ nữ, đòi quyềnbình đẳng cho ngời phụ nữ thời bấy giờ, và trong các bài viết đó ta thấy ẩnhiện các cách nhìn nhận, cách hiểu của tác giả về nghệ thuật thể hiện hìnhtợng ngời phụ nữ trong thơ Nôm của Hồ Xuân Hơng

Ngoài ra trong một số bài viết khác các tác giả có nói về vấn đề nghệthuật thơ Hồ Xuân Hơng và trong đó có đan xen vào cách đánh giá về nghệthuật thể hiện hình tợng ngời phụ nữ của nhà thơ

Hà Nh Chi trong bài “ Luận về Hồ Xuân Hơng” đã viết: “ Thơ HồXuân Hơng là một lối thơ rất thật và rất tự nhiên: Bà chỉ tả hoặc vịnh nhữngcái gì có liên quan tới thân thể bà hoặc bà đã nghe thấy Lời thơ lại mau lẹkhông cầu kỳ óng chuốt, chứng tỏ rằng thơ của bà đã trực tiếp bộc lộ tìnhcảm của bà”.[8, 149]

Hay Nguyễn Sĩ Tế trong bài “ Khảo và luận thơ Hồ Xuân Hơng” lạinói về nghệ thuật tả cảnh của Hồ Xuân Hơng: “ Nghệ thuật tả cảnh của HồXuân Hơng không phải đến đó rồi ngng, nghĩa là chỉ có tả thực biểu tợng Cái tài tình của nữ sĩ chính ở chỗ đã làm cho cảnh trí của mình có hồn, cósức sống” [8, 99]

Phải chăng cái hồn, cái sức sống mà tác giả muốn nói đến trong thơtả cảnh của Hồ Xuân Hơng ở đây là cái hồn, là sức sống của ngời phụ nữ, vìtrong thơ tả cảnh của Hồ Xuân Hơng nét đẹp của ngời phụ nữ luôn đợc lồngghép trong đó Nh tác giả Đỗ Lai Thuý đã nói trong bài viết “Hồ Xuân H-

ơng hoài niệm phồn thực”: “ Cách miêu tả của bà vào loại độc đáo nhất thời

đại Bà chú ý đến những bộ phận thân thể thờng đợc dấu kín của con ngời:

Trang 5

bộ phận sinh dục Bộ phận đó văn học thờng né tránh nhng riêng bà lạinhận thấy chính là một trong những biểu hiện của vẻ đẹp thân thể con ngời.Cách miêu tả của bà rất cụ thể, rất sinh động chứ không chung chung, mờnhạt” [8, 331].

Ngoài ra trong cuốn “ Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hơng”, NXB GD 2002,

giáo s Lê Trí Viễn – Lê Xuân Lít – Nguyễn Đức Quyền, đi vào phân tíchtừng bài thơ cụ thể của Hồ Xuân Hơng và cũng có đan xen vào vấn đề nghệthuật thể hiện hình tợng ngời phụ nữ trong mỗi bài

Hay trong cuốn “Lạm bàn về thơ Hồ Xuân Hơng hay băm sáu cái nõn nờng Xuân Hơng”, NXB Văn hoá dân tộc, 2002 của Trần Khải Thanh

Thuỷ Tác giả cũng đi vào việc luận bàn phân tích từng bài thơ với ý nghĩakhẳng định giá trị thơ Nôm của Hồ Xuân Hơng, trong đó tác giả cũng có đềcập đến vấn đề ngời phụ nữ và cách thể hiện hình tợng ngời phụ nữ trongthơ Nôm Hồ Xuân Hơng

Còn trong cuốn giáo trình “Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII hết thế kỷ XIX ”, NXBGD – 1999, Nguyễn Lộc có khẳng định

“Hồ Xuân Hơng là nhà thơ của phụ nữ”, “ viết về đề tài phụ nữ, nhà thơ th ờng xoáy sâu vào các ngóc ngách éo le của cuộc đời để nêu lên những bikịch không kém phần chua chát, song bình thờng nó bị xoá nhoà trong mộtcuộc sống vốn dĩ đã rập khuôn theo những chế ớc nặng nề của lễ giáo…thơ Hồ Xuân HNhng đối với phụ nữ, Xuân Hơng không phải chỉ có thông cảm và bênhvực Đặc biệt hơn nữa là nhà thơ còn hết sức đề cao và ca ngợi họ Xuân H -

-ơng tìm thấy vẻ đẹp chân chính ở họ”.[5, 276-279]

Trên đây là những ý kiến của các tác giả đề cập đến thơ Nôm HồXuân Hơng ở vấn đề ngời phụ nữ và nghệ thuật xây dựng hình tợng ngờiphụ nữ, nhng nhìn chung vấn đề “Nghệ thuật thể hiện hình tợng ngời phụnữ trong thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hơng” thì cha đợc các tác giảnghiên cứu một cách độc lập, có hệ thống, cụ thể Nêu lên nhận xét trên,chúng tôi không hề nghĩ rằng các tác giả không làm đợc việc đó, cái chính

là các tác giả không đặt ra yêu cầu “Nghệ thuật thể hiện hình tợng ngời phụnữ trong thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hơng” một cách chuyên biệt– nhiệm vụ mà chúng tôi theo đuổi ở khoá luận này Từ những gợi ý hếtsức quý báu của các bài viết, chúng tôi sẽ tiếp thu, học hỏi, và trong khoáluận này chúng tôi xin trình bày một cách có hệ thống, trực tiếp, toàn diện,

cụ thể vấn đề “Nghệ thuật thể hiện hình tợng ngời phụ nữ trong thơ Nômtruyền tụng của Hồ Xuân Hơng” Tuy nhiên đây không phải là một vấn đề

đơn giản, hơn nữa sự hiểu biết của bản thân còn ít ỏi, nên khoá luận nàychắc chắn sẽ có những thiếu sót Chúng tôi mong nhận đợc sự góp ý của cácthầy cô giáo, cũng nh các bạn để chúng tôi có thể hiểu sâu hơn về Hồ XuânHơng và thơ của bà

Trang 6

1.1 Nghệ thuật thể hiện hình t ợng ng ời phụ nữ trong thơ Nôm Hồ

Xuân H ơng ở bình diện miêu tả vẻ đẹp ngoại hình.

mở đầu kế tiếp nhau “Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi, “Hồng Đức quốc

âm thi tập ” của vua Lê Thánh Tông và các tác giả thời Hồng Đức, “Bạchvăn Quốc ngữ thi” của Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhng các tác giả này khôngtuân theo thể thất ngôn bát cú, có rất nhiều bài theo thể thất ngôn xen lụcngôn, thậm chí có bài chỉ có 6 câu, mỗi câu 6 chữ Phải chăng đây là thấtngôn bát cú Đờng luật biến thể? Bớc thể nghiệm kéo dài từ Nguyễn Trãi

đến Nguyễn Bỉnh Khiêm, trong thời gian độ 150 năm Từ thế kỷ XVIII trở

đi (nhất là nửa thế kỷ XVIII về sau), thơ Nôm nói chung đều viết theo thể

Đờng luật hoàn chỉnh Với những thành tựu rực rỡ của bà Huyện ThanhQuan, nhất là thơ Hồ Xuân Hơng thì thể thơ nôm Đờng luật ổn định, đạt

đến đỉnh cao nghệ thuật Thơ Nôm Đờng luật Hồ Xuân Hơng rực rỡ nhất vìhình thức thơ dân tộc hơn và đại chúng hơn cả Xuân Diệu đã nêu nhận xétrất đúng và rất hay “ Xuân Hơng chỉ chuyên dùng thể thơ thất ngôn đờngluật thế mà không phút nào ta nghĩ rằng đó là một điệu thơ nhập nội, thơ

Hồ Xuân Hơng cứ nôm na, bình dân, tự nhiên, lời cứ trong veo không gợi,

đọc cứ thoải mái dễ thuộc, những câu đối nhau thì cân chỉnh già dặn đến aicũng phải sợ mà vẫn nh lời nói thờng” (Hồ Xuân Hơng bà chúa thơ Nôm –Xuân Diệu)

Dĩ nhiên thơ Hồ Xuân Hơng cha phải là tập đại thành của nền vănhọc Việt Nam đơng thời Cũng nh các tác giả khác, nữ sĩ họ Hồ cũng chỉgóp một tiếng nói tạo nên một nền văn học cổ điển rực rỡ, có điều là bà cótiếng nói riêng của mình, tiếng nói của ngời phụ nữ đã ý thức đợc vị trí vàvai trò của giới mình trong cuộc sống, trong xã hội Thơ bà không chỉ là

Trang 7

tiếng than, tiếng thét mà còn là lời ca về quyền sống, hạnh phúc và vẻ đẹpcủa con ngời, là niềm tin vào trí tuệ và tài năng của ngời phụ nữ, là lời cangợi vẻ đẹp của ngời phụ nữ Hơn nữa tiếng nói ấy lại đợc diễn đạt bằngmột phong cách riêng, bằng cái vốn từ ngữ vô cùng giản dị mà vô cùng dạtdào sức sống

Trong thơ Nôm Đờng luật của Hồ Xuân Hơng, ngời phụ nữ luôn luôn

đợc ca ngợi một cách hài hoà và nhuần nhuyễn giữa hai vẻ đẹp: vẻ đẹp tâmhồn và vẻ đẹp thân thể, hay nói cách khác giữa cái nội dung bên trong vàhình thức bên ngoài ở con ngời họ

Trong nền văn học trung đại Việt Nam, các tác giả trung đại đã viếtrất nhiều về vẻ đẹp của ngời phụ nữ, nhng mỗi ngời dới ngòi bút đầy tàinăng của mình đã thể hiện vẻ đẹp của ngời phụ nữ theo những kiểu cáchkhác nhau

Chẳng hạn cái đẹp của ngời cung nữ trong “Cung oán ngâm khúc”

của Nguyễn Gia Thiều là cái đẹp kênh kiệu “Tây Thi mất vía, Hằng Nga

giật mình” Hay cô Kiều của Nguyễn Du, mặc dù đợc nhà thơ giới thiệu:

“Gia t nghĩ cũng thờng thờng bậc trung” và cuộc đời: “Thanh lâu hai lợt

thanh y hai lần”, nhng vẫn mang cốt cách, phong độ, vẻ đẹp của ngời phụ

nữ quý phái, khuê các, cao sang

Trong thơ Nôm Đờng luật của Hồ Xuân Hơng, vẻ đẹp của ngời phụnữ là mục đích, là đối tợng để miêu tả, để khắc hoạ, để nói tới

“Thiếu nữ ngủ ngày” là một bài thơ tiêu biểu, ca ngợi về vẻ đẹp trinhnguyên của ngời thiếu nữ Vẻ đẹp đó đợc thể hiện một cách trực tiếp, vớinhững biện pháp nghệ thuật vô cùng độc đáo

Miêu tả trực tiếp tức là miêu tả một cách trực diện, cụ thể cái mà mọingời có thể nhìn thấy đợc, nghĩa là miêu tả sự vật nh nó vốn có

“ Mùa hè hây hẩy gió nồm đông

Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng Lợc trúc biếng cài trên mái tóc Yếm đào trễ xuống dới nơng long

Đôi gò Bồng Đảo sơng còn ngậm Một lạch Đào Nguyên suối chửa thông Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt

Đi thì cũng dở ở không xong”

( Thiếu nữ ngủ ngày )

Đây là một bài thơ có cấu trúc hình tợng đặc sắc, chính cấu trúc hìnhtợng làm cho bài thơ có giá trị nghệ thuật cao

Là một bài thơ thất ngôn bát cú Đờng luật, thể hiện hai hình tợng đó

là hình tợng ngời thiếu nữ và hình tợng ngời quân tử Bằng nghệ thuật cấutrúc chính - phụ (nhân vật chính là ngời thiếu nữ, nhân vật phụ là chàngquân tử) nhà thơ đã làm nổi bật lên vẻ đẹp toàn mỹ, tuyệt vời của một thiếunữ thanh tân

Trang 8

Đọc bài thơ trớc mắt ta hiện lên một hình ảnh đẹp đẽ, một bức tranhtoàn cảnh đồng hiện lên những nét đẹp trẻ trung, mơn mởn trên thân thể ng-

ời con gái Bằng nét bút và ngôn từ nghệ thuật Hồ Xuân Hơng đã thànhcông trong nghệ thuật điêu khắc

ở đây ta thấy tác giả dùng nghệ thuật cấu trúc chính – phụ là để tậptrung miêu tả nhân vật chính, mợn nhân vật phụ để tô đậm thêm cho nhânvật chính

Hình tợng nhân vật chính – ngời thiếu nữ đợc tác giả thể hiện bằngbút pháp miêu tả, mà cụ thể ở đây là gợi tả Nếu nh trong ca dao khi miêu tảcác nét đẹp của ngời con gái thờng miêu tả một cách cụ thể, chẳng hạn nh:

Một th

ơng tóc bỏ đuôi gà Hai thơng ăn nói mặn mà có duyên

“ ợc trúc biếng cài trên mái tóc

Yếm đào trễ xuống dới nơng long”

Nhà thơ đã tả lợc để nói tóc, tả yếm để nói ngực của ngời thiếu nữ.Ngoài ra ở hai câu thơ này tác giả còn vận dụng câu tục ngữ:

bồ kết dài mợt, buông xoã, cởi mở “lợc trúc biếng cài” Cái yếm đào, yếmthắm các dải thắt buộc thế nào mà trễ tận dới xa, bày ra cái nơng long, dathịt trắng trong

Chữ nghĩa ở đây thực hồn nhiên, thể hiện cái đẹp cơ thể trẻ trung,tròn đầy, thơm mát sức sống của thiếu nữ, đó là cái đẹp quý giá, đáng ngắmthởng

Trong hai câu luận nghệ thuật gợi tả càng đợc thể hiện rõ hơn:

Đôi gò Bồng Đảo s

ơng còn ngậm Một lạch Đào Nguyên suối chửa thông”

Tác giả đã dùng hình ảnh tợng trng ớc lệ để miêu tả vẻ đẹp còn e ấp,phong nhị của cô gái cha chồng

Gò Bồng Đảo: là núi trên đảo Bồng Lai, nơi tiên ở, ý nói cảnh đẹp,cảnh tiên

Trang 9

Lạch Đào Nguyên: là suối Hoa Đào, có ngời đi men theo suối tới mộtnơi có cảnh sông vui tơi, êm ấm của một xã hội lý tởng, về sau hiểu rộng ra

đó là cảnh tiên

Vậy Bồng Đảo, Đào Nguyên là cảnh tiên, cái đẹp lý tởng Bằng nghệthuật ẩn dụ tác giả đã mợn cái đẹp đó để gợi tả về bộ phận kín đáo phongnhị, e ấp của ngời thiếu nữ, và một bức tranh, một pho tợng đã hiện lên trớcmắt chúng ta Đôi gò tròn căng trên nơng long ấy là “Đôi gò Bồng Đảo”,cái lạch bên dới là “Một lạch Đào Nguyên”, cả hai đều là cảnh tiên, ở đó sựsống tràn xuân, căng nhựa Gò ấy “sơng còn ngậm” , lạch ấy “suối chửathông” Tất cả hãy còn phong kín, còn e ấp trinh nguyên, cha chút gì vẩnbợn

Cùng thời với Hồ Xuân Hơng ta thấy một số nhà thơ cũng ca ngợithân thể ngời phụ nữ, nh trong “Truyện Kiều” Nguyễn Du đã tả cơ thể ThuýKiều khi nàng tắm:

Rõ ràng trong ngọc trắng ngà

Dày dày sẵn đúc một toà thiên nhiên”

Nhng vẻ đẹp mà Nguyễn Du miêu tả ở đây còn ớc lệ, chung chung,cha có một chi tiết nào cụ thể, sinh động

Còn ở những câu thơ trên đây của Hồ Xuân Hơng thì khác hẳn, cáchmiêu tả của bà rất độc đáo, bà chú ý đến những bộ phận cơ thể thờng đợcdấu kín của con ngời Điều đó văn học đơng thời thờng né tránh, cho là tụctĩu, nhng riêng Hồ Xuân Hơng lại nhận thấy đó là một vẻ đẹp của con ngời.Cho nên ta thấy cách miêu tả của bà rất cụ thể, rất sinh động chứ khôngchung chung, mờ nhạt

“Thiếu nữ ngủ ngày” có thể xem là một bức tranh khoả thân nghệ

thuật Trớc vẻ đẹp tuyệt trần ấy của tạo hoá thì bất cứ một ngời nào, dẫu làvô tình bắt gặp thôi cũng mê mẩn, ngẩn ngơ, chứ không riêng gì các bậchiền nhân quân tử:

“ Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt

Đi thì cũng dở ở không xong ”Thấy cái đẹp ai mà chẳng muốn nhìn, muốn ngắm thật lâu, ở đâychàng quân tử đang “dùng dằng đi chẳng dứt”, bởi đi thì tiếc rẻ, còn ở lạithì sợ điều tiếng thị phi Cái “dùng dằng” của chàng “quân tử” thể hiện thái

độ vừa ham muốn vừa ngại ngần, vừa thích thú vừa e sợ - đó là cái “dùngdằng nghệ thuật”

Nh trên đã nói, trong bài thơ này tác giả đã sử dụng nghệ thuật cấutrúc chính – phụ, và nghệ thuật cấu trúc chính – phụ đã chi phối toàn bàithơ

Trong cả bài thơ chỉ có 8 câu thơ mà ta thấy tả thiếu nữ đến 6 câu, vàtả về ngời quân tử chỉ có 2 câu Sự miêu tả về hai hình tợng này cũng khácnhau, khi tả về ngời thiếu nữ tác giả chủ yếu miêu tả về ngoại hình, về vẻ

đẹp hình thức, còn khi tả ngời quân tử tác giả lại tả về nội tâm, với một thái

Trang 10

độ rất đặc biệt, nó biểu hiện ra trạng thái bên ngoài, biểu hiện qua sự “dùngdằng”, qua động tác, qua thái độ đã bộc lộ nội tâm của chàng quân tử: Mộtngời biết yêu cái đẹp, và muốn thởng ngắm, chiêm ngỡng cái đẹp, biết trântrọng cái đẹp Sự xuất hiện hình ảnh chàng quân tử với thái độ dùng dằngcàng tôn thêm vẻ đẹp và sự quyến rũ của thân thể ngời thiếu nữ

ở đây tác giả đã lấy phụ để tả chính, lấy sự “dùng dằng” của quân tử

để làm cho vẻ đẹp của ngời thiếu nữ sinh động hơn, có giá trị hơn

Tóm lại, viết bài thơ “ Thiếu nữ ngủ ngày” Hồ Xuân Hơng đã dùng

những biện pháp nghệ thuật đặc sắc để ca ngợi, làm nổi bật vẻ đẹp của ngờithiếu nữ Bà không chỉ dùng nhiều từ thuần Việt, mà còn dùng cả từ HánViệt, không chỉ sử dụng điển cố văn học Trung Quốc (Bồng Đảo, ĐàoNguyên), mà còn vận dụng cả tục ngữ Tiếng Việt để khắc hoạ vẻ đẹp thểchất của một nàng thiếu nữ trẻ trung, đầy sức sống

Bằng nghệ thuật tơng phản chiếu ứng, Hồ Xuân Hơng đã miêu tả vẻ

đẹp tâm hồn nhân vật “quân tử” làm điểm tựa nghệ thuật để đề cao, tô sức,nêu bật, khẳng định sự toàn bích, hoàn hảo của vẻ đẹp thân thể nhân vật

“thiếu nữ”, và để miêu tả thật tinh tế vẻ đẹp thể chất của con ngời Từ sự vôtình của cô thiếu nữ, đã tạo nên một bức tranh đầy sức sống thật quyến rũ,

đầy ý vị khi vô tình xuất hiện một chàng quân tử từ đâu tới Bức tranh đãthêm một nét chấm phá cuối cùng để tạo nên sự trọn vẹn ở một tuyệt tác

đầy sức xuân, tình xuân

Bài thơ là cả một sự chiêm ngỡng vẻ đẹp của con ngời đầy chất nhânvăn, giàu ý nghĩa nhân bản

Nhiệm vụ và mục tiêu quan trọng của bài thơ này là tả ngời thiếu nữ,việc miêu tả ngời quân tử cũng là một biện pháp nghệ thuật, tác giả mợnquân tử để tả thiếu nữ theo lối đòn bẩy, vậy ta thấy ở đây là nghệ thuật cấutrúc hình tợng, theo lối cấu trúc chính - phụ

Xét về toàn bộ bài thơ thì “Thiếu nữ ngủ ngày” là bài thơ tả ngoạihình phụ nữ hay nhất trong những bài thơ Nôm truyền tụng của Hồ XuânHơng

Ngoài ra ở một bài thơ khác, nhà thơ đã lấy cảm hứng từ một bứctranh Tố Nữ mà vẽ lại một vị thần âm nhạc, không phải bằng bút lông, bộtmàu mà là bằng từ ngữ Chúng ta hãy tìm hiểu xem, trong thơ ca, có lời thơnào ca ngợi sự thanh tân của cô gái đẹp hơn “bức tranh Tố Nữ” của HồXuân Hơng:

Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình

Chị cũng xinh mà em cũng xinh

Đôi lứa nh in tờ giấy trắng Ngàn năm còn mãi cái xuân xanh Xiếu mai chi dám tình trăng gió Phận liễu thôi đành phận mỏng manh Còn thú vui kia sao chẳng vẽ

Trang 11

Trách ngời thợ vẽ khéo vô tình”

( Đề tranh Tố Nữ)

Tuổi trẻ là bất diệt Tuổi trẻ- mùa xuân thắm tơi là nét đẹp thẩm mỹtồn tại mãi mãi

Ngời phụ nữ- dới con mắt ngời xa là phái yếu, đã hiện lên trong thơ

Hồ Xuân Hơng mạnh mẽ, đẹp đẽ, lộng lẫy, một vẻ đẹp phơi phới của nhữngthiếu nữ “hồng hồng má phấn”, của tuổi dậy thì “ mời bảy hay mời tám”, đó

là vẻ đẹp rất trần thế và hiện thực của con ngời

ở bài thơ này tác giả đã sử dụng hàng loạt các tính từ: Xinh, xinh,trắng, xuân xanh, để nói lên cái đẹp hình thức của ngời con gái Ngoài racòn sử dụng một phần của thành ngữ “giống nh in” để đặc tả vẻ đẹp của ng-

ời Tố Nữ trong tranh Không những thế tác giả còn dùng đến các điển cố: “xiếu mai”, “ bồ liễu” để nói lên cái đẹp và sự yếu đuối mỏng manh của ngời

thiếu nữ Cùng với việc dùng từ có tính chất hằng số “nghìn năm” (Nghìn

năm còn mãi cái xuân xanh) tác giả đã vĩnh viễn hoá cái đẹp của ngời con

gái, cái đẹp đó sẽ tồn tại mãi mãi

Chỉ bằng mấy câu thơ nữ sĩ họ Hồ đã bắt đợc thần thái, lột tả đợc cáihồn của bức tranh đóng trên bức tờng kia, nàng xinh đẹp trong trắng đếntuyệt trần “nh in tờ giấy trắng” Song ngời thiếu nữ cứ ôm đàn đánh trongvô thức, làm vui mắt vui tai ngời đời chứ nào ý thức đợc bản thân mình đãtrụ đợc bao lâu trên cõi đời này – việc đó cũng làm Hồ Xuân Hơng bậntâm, phân vân một cách chân tình Bà trò chuyện với ngời đẹp trong tranhbằng giọng điệu thật thân mật, tình cảm:

“ Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình?”

Hồ Xuân Hơng lại hỏi tuổi tác, bà đã đánh trúng vào điểm yếu nhấttrong đời sống tâm lý của nàng Tố Nữ nói riêng, của ngời phụ nữ nói chung,

để đánh động tâm hồn nàng mà vui với đời

Bằng việc sử dụng linh hoạt các loại từ ngữ Hồ Xuân Hơng đã vẽ lênmột bức tranh kỳ diệu về vẻ đẹp của ngời thiếu nữ Vẻ đẹp của ngời thiếunữ trong “Đề tranh Tố Nữ” thế là hết lời khen, với Xuân Hơng vẻ đẹp đíchthực, chân chính của con ngời là vẻ đẹp tự nhiên Vẻ đẹp trong tranh chỉ là

vẻ đẹp thiếu sức sống, cái đẹp đích thực phải đi đôi với sự sinh sôi nên bàtrách:

“ Còn thú vui kia sao chẳng vẽ

Ta thấy ở bài “Đề tranh Tố Nữ” bằng nghệ thuật sử dụng các từ ngữ

một cách đặc sắc Hồ Xuân Hơng đã ca ngợi ngời phụ nữ về tuổi trẻ tơi mát,

Trang 12

trắng trong của các cô gái đang xoan Từ bức tranh dân gian Tố Nữ XuânHơng đã họa lại một bức tranh Tố Nữ bằng thơ, và bức tranh Tố Nữ bằngngôn ngữ lại còn kỳ tuyệt hơn là bức tranh Tố Nữ bằng màu sắc.

Tóm lại bằng bút pháp miêu tả trực tiếp Hồ Xuân Hơng đã cho tathấy đợc vẻ đẹp ngoại hình của ngời phụ nữ - một vẻ đẹp trinh nguyên, tơitrẻ, đáng yêu

1.1.2 Miêu tả một cách gián tiếp:

Nh ta đã biết, trong thơ Nôm Hồ Xuân Hơng hình tợng ngời phụ nữluôn luôn đợc nói tới nh một đối tợng trung tâm Khi nói về vẻ đẹp ngoạihình của ngời phụ nữ Hồ Xuân Hơng không chỉ miêu tả một cách trực tiếp

nh ở bài “Thiếu nữ ngủ ngày” và “Đề tranh Tố Nữ”, mà thi sĩ còn miêu tảmột cách gián tiếp, đó là thông qua sự vật, cảnh vật mà Hồ Xuân Hơngngầm miêu tả vẻ đẹp ngời phụ nữ, chủ yếu là vẻ đẹp hình thức

Theo quy luật nghệ thuật tác giả đã sử dụng biện pháp “song hànhhình tợng” trong việc miêu tả gián tiếp vẻ đẹp ngời phụ nữ Hay nh NguyễnLộc đã nói: có “nghĩa công khai và nghĩa ngầm” Hoặc nh Đỗ Văn Khangtrong cuốn “Nghệ thuật học” đã nói đến sự liên quan giữa “cái mình thấy”

ở bài “Vịnh cái quạt”( I ) tác giả viết:

“ Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa

Duyên em dính dáng tự bao giờ Chành ra ba góc da còn thiếu Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa Mát mặt anh hùng khi tắt gió Che đầu quân tử lúc sa ma Nâng niu ớm hỏi ngời trong trớng Phì phạch trong lòng đã sớng cha?”

Trớc hết ta thấy ở bài thơ này rõ ràng là tác giả tả chiếc quạt giấy vớicác đặc điểm cấu tạo hình thức của quạt, đúng là cái quạt thật: Mỗi nanquạt có một lỗ, chỉ cần xỏ vào đấy một cái ghim, muốn xâu bao nhiêu nancũng đợc, cho một ít chất dính giấy và nan sẽ bền chặt Với hình dáng: xoèquạt ra thành hình có ba góc, xếp quạt lại nan quạt hai bên vẫn thừa Và tiếptheo là nhà thơ miêu tả công dụng của quạt giấy, tác dụng của quạt đối với

đời sống sinh hoạt của con ngời: khi trời ma có thể dùng quạt che đầu, khinóng bức dùng quạt thì mát, trong buồng the nóng nực có quạt để phì phạchthì cũng sớng

Trang 13

Bút pháp của Xuân Hơng thật sinh động khi miêu tả cái quạt, nghĩatrên đây chính là nghĩa đen của bài thơ, là cái biểu hiện rõ trên câu chữ,chính là “ cái mình thấy”.

Nhng tài hơn nữa là ngoài việc tả chiếc quạt giấy thực ra, Hồ XuânHơng còn muốn nói đến một đối tợng khác, tác giả đã qua vịnh vật để tả vềcon ngời Cái tài tình của bà là cũng chừng ấy câu chữ mà cùng một lúc tảhai đối tợng, đối tợng nào ra đối tơợng ấy, chả sai, chả thêm bớt một chútnào, đủ các nét tiêu biểu

Cái mà Hồ Xuân Hơng muốn cho ngời đọc cảm nhận đợc ở đây đó lànét đẹp của ngời phụ nữ

Trong bài thơ tác giả đã sử dụng biểu tợng “lỗ” ( Một lỗ xâu xâu mấycũng vừa), với một giọng điệu ỡm ờ quen thuộc, Hồ Xuân Hơng tả lỗ xâucủa quạt để xâu các nan quạt vào với nhau mà nh tả cái lỗ kín đáo trên cơthể ngời phụ nữ Đây là một thủ pháp quen thuộc của Hồ Xuân Hơng mà ta

đã gặp ở bài “Dệt cửi”:

Rộng hẹp nhỏ to vừa vặn cả

Ngắn dài khuôn khổ cũng nh nhau”

Ngoài biểu tợng “ lỗ” việc miêu tả hình tợng chiếc quạt cũng rất đặcbiệt:

Chành ra ba góc da còn thiếu

Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa”

Bằng việc miêu tả đặc biệt và việc dùng từ độc đáo (chành ra ba góc,khép lại đôi bên, da, thịt) làm cho ngời đọc không hiểu đơn thuần đây là cáiquạt bình thòng nữa, mà ngời ta liên tởng đến cái khác, đó chính là đặc

điểm cấu tạo bộ phận kín đáo của ngời phụ nữ ở đây tác giả đã sử dụngnghệ thuật miêu tả với phép liên tởng đặc sắc khiến ngời đọc từ việc “thấy

đợc” cái quạt thực còn “cảm đợc” cái đẹp kín đáo của ngời phụ nữ Và từcông dụng của cái quạt mà tác giả càng nâng cao giá trị cái đẹp ở ng ời phụnữ

Theo quan niệm Nho giáo, cho bộ phận kín đáo của ngời phụ nữ làtục nhng quan niệm của Hồ Xuân Hơng cho là đẹp, là quý, là đáng trântrọng

Cái đẹp đó rất hấp dẫn, đặc biệt đối với ngời khác giới, nó đa lạikhoái cảm, niềm vui, niềm hạnh phúc cho ngời khác giới Cũng nh cái quạthay đợc dùng nơi phòng ngủ, ngời phụ nữ cũng thờng xuất hiện và đem lạihạnh phúc ở nơi buồng khuê, buồng ngủ:

Trang 14

Cùng một lúc Hồ Xuân Hơng đã tả đợc hai đối tợng thật đặc sắc vàcũng thật giống, không ai có thể tài tình hơn, và để làm đợc điều đó, tác giả

đã vận dụng triệt để biện pháp nghệ thuật liên tởng, với việc dùng từ ngữ

độc đáo

Một loạt từ ngữ gợi tả, ám chỉ tài tình đặc sắc đợc Hồ Xuân Hơng vậndụng, nh là: Một lỗ, duyên em, dính dáng, chành ra ba góc, khép lại đôibên, rồi những là: ớm hỏi, nâng niu, phì phạch, đã sớng cha nhằm đạt tới

sự hình tợng hoá cao độ, khiến ngời đọc không ai là không hiểu dụng ý của

Hồ Xuân Hơng, và không ai có thể quên nổi một chiếc quạt giấy thực vàmột “chiếc quạt đặc biệt” của ngời phụ nữ, đợc Hồ Xuân Hơng miêu tả vớithủ pháp vận dụng đặc biệt của bà

Qua bài thơ tác giả đã cho ta thấy đợc vẻ đẹp hình thức của ngời phụnữ, mà trong văn học ít ngời giám nói tới, cũng nh ít ngời nói đợc nh vậy,

đồng thời qua đó nhà thơ thể hiện quan niệm khẳng định, ca ngợi vẻ đẹphình thức của ngời phụ nữ

Hay ở bài “Vịnh cái quạt” (II) cũng vậy, bằng bút pháp quen thuộc,

lấy sự vật này để nói sự vật kia, Hồ Xuân Hơng đã gián tiếp ca ngợi cái đẹpkín đáo ở ngời phụ nữ

Trong bài thơ tác giả tả cái quạt rất cụ thể, trớc hết là nói nan quạt:

“ Mời bảy hay là mời tám đây”

Cái quạt có mời bảy hay mời tám cái nan Sau đó là tác giả nói vềhình thức, cấu tạo của quạt:

Mỏng dày chừng ấy chành ba góc

Rộng hẹp dờng nào cắm một cay”

Và tác giả còn nói về màu giấy của quạt, đó là màu hồng:

Hồng hồng má phấn duyên vì cậy

“ Càng nóng bao nhiêu thời càng mát

Yêu đêm cha phỉ lại yêu ngày”

Trong mùa hè nóng nực chiếc quạt là “vật bất ly thân” của mọi ngời,

nó là ngời bạn của mọi đối tợng từ kẻ bình dân đến ngời quân tử, hay đấngquân vơng chốn cung cấm – là những con ngời ở đẳng cấp cao nhất trongxã hội, cũng rất yêu quý chiếc quạt:

“ Chúa dấu vua yêu một cái này”

Từ đó nhà thơ khẳng định tầm quan trọng của chiếc quạt

Nhng Hồ Xuân Hơng “vịnh cái quạt” không đơn thuần chỉ là tả màsâu xa hơn tác giả còn muốn nói đến một đối tợng khác Cũng là một thủ

pháp tơng tự bài “Vịnh cái quạt” (I), dòng t tởng ngầm của Xuân Hơng đã

Trang 15

xuất hiện từ khi bút chạm vào giấy – ngoài việc tả quạt Xuân Hơng cònnói đến hình tợng ngời con gái cùng “ cái này” (bộ phận sinh dục) củanàng.

Ta cảm nhận đợc điều đó qua nghệ thuật vịnh vật độc đáo của HồXuân Hơng

Trớc hết tác giả sử dụng nghệ thuật chơi chữ, qua việc dùng số từ (17,

18): M “ ời bảy hay là mời tám đây”

Những số từ ấy vừa chỉ số nan quạt, vừa chỉ độ tuổi của ngời con gái,

đó là lứa tuổi dậy thì, xuân sắc – tuổi thể hiện hết mọi nét đẹp hình thể củangời phụ nữ

Đồng thời bằng nghệ thuật đặc tả thi sĩ nói lên vẻ đẹp của ngời congái, nét đẹp đó là ở đôi má hồng:

Hồng hồng má phấn duyên vì cậy

Không những tác giả gián tiếp tả tuổi xuân thì, đôi má hồng của nàngthiếu nữ mà tác giả còn nói đến đặc điểm bộ phận kín đáo của nàng, HồXuân Hơng quan niệm đó là cái đẹp, cái đáng yêu:

“ Mỏng dày chừng ấy chành ba góc

Rộng hẹp dờng nào cắm một cay”

Bằng nghệ thuật sử dụng các tính từ ( mỏng, dày, rộng, hẹp) HồXuân Hơng đã cho ta thấy đợc ý đồ nghệ thuật của mình

Ngời con gái ở độ tuổi 17, 18 là giai đoạn đẹp nhất của cuộc đời, làmùa xuân căng tràn sức sống, với đôi má hồng, và toàn bộ cơ thể đã pháttriển nở nang, đầy đặn, mọi nét đẹp đã biểu hiện, vì vậy đợc chiều chuộngyêu dấu chẳng rời tay:

“ Cho ta yêu dấu chẳng rời tay”

“ Yêu đêm cha phỉ lại yêu ngày

Trong câu thơ cuối với việc vận dụng thành ngữ: “Con vua vua dấu,

con chúa chúa yêu” tác giả viết:

Chúa dấu vua yêu một cái này

“Cái này” là cái gì? có phải chăng đó là cái quạt – rất có thể, nhng có thể

nó còn là bộ phận quý giá của ngời phụ nữ

Hồ Xuân Hơng thật bản lĩnh khi viết lên câu thơ này, dám nói “ vua,chúa” yêu mỗi “ một cái này” Đồng thời qua đó cũng khẳng định t tởngnhân đạo, nhân bản cao đẹp của Hồ Xuân Hơng, bà ca ngợi về cái đẹp củangời phụ nữ

Đây là bài thơ gián tiếp miêu tả vẻ đẹp ngoại hình ngời thiếu nữ xuânthì, trong đó Hồ Xuân Hơng đã sử dụng các biện pháp nghệ thuật: Chơi chữ(dùng số từ), sử dụng các tính từ, nghệ thuật đặc tả và vận dụng thành ngữTiếng Việt

Với biện pháp nghệ thuật cực tả ở một bài khác Hồ Xuân Hơng viết:

Bác mẹ sinh ra phận ốc nhồi

Trang 16

Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi Quân tử có thơng thì bóc yếm Xin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi”

( ốc nhồi)

Là một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, bằng nghệ thuật tự sự hai câu đầutác giả tả ốc nhồi: nói sự sinh ra, thân phận và cuộc sống của ốc nhồi Đó làcách tả một con vật Thông qua tả vật tác giả muốn tả về ngời phụ nữ, muốnnói lên thân phận của ngời phụ nữ trong xã hội cũ Tác giả cho ta liên tởngngay tới ngời phụ nữ qua hai câu thơ:

“ Quân tử có thơng thì bóc yếm

Xin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi”

“Yếm” ở đây vừa nói về “cửa” miệng của con ốc vừa là yếm thắm, yếm đàocủa ngời con gái Hai câu thơ trên có tính chất nh một lời nhắn gửi tớichàng quân tử có thơng thì hãy mạnh dạn

Nhng đặc biệt trong câu thơ cuối, bằng nghệ thuật cực tả tác giả đãnói lên cái hấp dẫn nhất ở con ốc và cũng là cái hấp dẫn nhất ở ngời phụ nữ

đó chính là “ lỗ trôn”, nói nh dân gian đó là cái đẹp kết tinh của con ngời.Theo lối cực tả tác giả đã tả cái tiêu biểu nhất trên con ốc và trên cơ thể ng-

ời phụ nữ

Hay trong các bài thơ: “Vịnh cái giếng”, “Hỏi trăng” (II), “Kẽm trống” bằng các biện pháp nghệ thuật phong phú, độc đáo, thông qua vịnh

vật tác giả lại nói đến bộ phân kín đáo của ngời phụ nữ

“ Ngõ ngay thăm thẳm tới nhà ông Giếng tốt thanh thơi giếng lạ lùng Cầu trắng phau phau đôi ván ghép Nớc trong leo lẻo một dòng thông

Cỏ gà lún phún leo quanh mép Cá diếc le te lách giữa dòng Giếng ấy th anh tân ai chẳng biết

Trang 17

tân”, đó là hai từ chỉ dùng để nói về con ngời “Giếng ấy thanh tân” tức là

“cái giếng” trên cơ thể của ngời con gái đang còn trinh nguyên, trong trắng,vì vậy:

Đố ai dám thả nạ dòng dòng

“ Nạ dòng dòng” là một hình tợng làm sinh động thêm cho bài thơ, (nạ: mẹ(tiếng cổ), dòng dòng: là thứ cá con rất nhỏ) Mặc dù nghĩa của “nạ dòngdòng” là nh vậy, nhng ở đây nhà thơ không dùng với nghĩa đó, mà tác giảthể hiện một cách nói rất hình tợng, nh là một lời thách đố những ai đang

“tò mò” về “ cái giếng đặc biệt” đó

Một trái trăng thu chín mõm mòm

Nảy vừng quế đỏ đỏ lòm lom Giữa in chiếc bích khuôn còn méo Ngoài khép đôi cung cánh vẫn khòm Ghét mặt kẻ trần đua xói móc

Ngứa gan thằng Cuội đứng lom khom Hỏi ngời bẻ quế rằng ai đó?

Đó có Hằng Nga ghé mắt dòm

( Hỏi trăng II)

Bốn câu đầu tác giả tả trăng, qua đó tả bộ phận kín đáo của ngời phụnữ Qua các từ láy “mõm mòm”, đỏ “lòm lom”, và việc dùng các từ ngữ sắcsảo: “Giữa in, khuôn còn méo, đôi cung " cho ta liên tởng đến bộ phận

“đặc biệt” của ngời phụ nữ

Những câu sau tác giả dùng các danh từ riêng chỉ ngời nh: “Kẻ trần,thằng Cuội, Hằng Nga”, và đại từ chỉ ngời “ai đó”, tất cả những con ngời đó

đều quan tâm đến “ vật” vừa tả trên: kẻ trần thì “đua xói móc”, thằng Cuộithì “đứng lom khom” nhìn xuống cõi trần xem sự “đua xói móc” của ngời

đời, Hằng Nga thì “ghé mắt dòm”

Vậy biện pháp nghệ thuật nổi bật của bài này là sử dụng từ ngữ độc

đáo, sử dụng danh từ và đại từ chỉ ngời, qua đó nói lên bộ phận kín đáo củangời phụ nữ

“ Hai bên thì núi giữa thì sông

Có phải đây là Kẽm Trống không?

Gió giật sờn non khua lắc cắc Sóng dồn mặt nớc vỗ long bong

ở trong hang núi còn hơi hẹp

Ra khỏi đầu non đã rộng thùng Qua cửa, mình ơi nên ngắm lại Nào ai có biết nỗi bng bồng”

(Kẽm Trống)

Bằng việc sử dụng các hình tợng đặc sắc và các từ ngữ tài tình HồXuân Hơng lại cho ta thấy một bộ phận kín đáo của ngời phụ nữ nh các bàithơ trớc

Trang 18

Hay ở bài “Đèo Ba Dội” cũng thế, tác giả cũng vịnh đèo để nói về bộ

phận kín của ngời phụ nữ, và ở bài này nhà thơ nhấn mạnh về sức hấp dẫncủa đèo và cả bộ phận kín đáo đó:

Một đèo, một đèo, lại một đèo

Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo Cửa son đỏ loét tùm hum nóc Hòn đá xanh rì lún phún rêu Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc

Đầm đìa lá liễu giọt sơng gieo Hiền nhân quân tử ai là chẳng Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo ”Với nghệ thuật sử dụng các từ chỉ tính chất: “cheo leo, đỏ loét, xanhrì ” và các từ láy: “cheo leo, lún phún, đầm đìa”, tác giả đã tả rất cụ thểsinh động về đèo Ba Dội, và với các hình tợng, các tính chất của đèo ta thấyrất giống với bộ phận kín đáo ở ngời phụ nữ, mà từ bậc hiền nhân quân tử

đến ngời bình dân chân đất ai cũng “ muốn trèo” Qua đó tác giả khẳng

định sự hấp dẫn của bộ phân kín đáo trên cơ thể ngời phụ nữ là cái đẹpkhám phá mãi không vơi cạn

Đặc biệt trong bài “Hỏi trăng” (I) Hồ Xuân Hơng lại sử dụng biện

pháp tu từ nghi vấn – tám câu thơ mà có tới bảy câu là câu hỏi, làm chohình tợng nghệ thuật càng thêm nổi bật, hỏi là hỏi trăng, nhng thực chất làtả vẻ đẹp của ngời phụ nữ:

“ Mấy vạn năm nay hãy vẫn còn

Cớ sao khi khuyết lại khi tròn?

Hỏi con Ngọc thỏ đà bao tuổi?

Chớ chị Hằng Nga đã mấy con?

Đêm vắng cớ chi phô tuyết trắng?

Ngày xanh sao nỡ tạnh lòng son?

Năm canh lơ lửng chờ ai đó?

Hay có tình riêng với nớc non?”

Trớc hết nhà thơ quan tâm đến trăng, đến vũ trụ “Cớ sao khi khuyết

lại khi tròn ?”, dần dần quan tâm đến những chuyện tuổi tác, chuyện riêng

t, những chuyện của con ngời: “Chớ chị Hằng Nga đã mấy con?” Ta thấy

câu thơ này mang tính chất thần thoại hoá, nhà thơ hỏi chị Hằng Nga đãmấy con, vì bà xem chị Hằng Nga cũng là một ngời phụ nữ - một phụ nữ

đẹp, và chị cũng sinh đẻ nh các phụ nữ khác, đó là quan niệm đầy tính chấtnhân văn của Hồ Xuân Hơng

ở đây vẻ đẹp ngoại hình ngời phụ nữ đợc gián tiếp miêu tả qua chịHằng Nga

ở bài “Bánh trôi nớc” bằng việc tả chiếc bánh tác giả tả về cái đẹpcủa ngời phụ nữ, mặc dù chỉ có một câu là gián tiếp nói về ngoại hình củangời phụ nữ nhng ta vẫn thấy ngoại hình đó thật là đẹp:

Trang 19

“ Thân em vừa trắng lại vừa tròn”

Về câu thơ này có ý kiến cho rằng phải là:“Thân em thì trắng phận

em tròn” ý muốn nói lên thân phận ngời phụ nữ

Nhng đúng ra khi nói về thân phận ngời phụ nữ không cần dùng cả hai từ “thân”, “ phận”, mà chỉ cần dùng một từ, chẳng hạn trong ca dao viết:

- “Thân em nh hạt ma sa”

-“Thân em nh tấm lụa đào

Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”

- “Thân em nh giếng giữa đàng

Ngời khôn rửa mặt ngời phàm rửa chân”

Chỉ dùng một chữ “thân” mà nói lên đợc thân phận của ngời con gái

Vì vậy ở câu thơ này nên hiểu là: “Thân em vừa trắng lại vừa tròn” Nghĩa

là hoàn toàn tả về ngoại hình còn cha nói lên “phận” may, rủi của ngời phụnữ “Thân” ở đây là rất cụ thể, nói lên cái đẹp toàn thân thể của ngời congái, nó thật hoàn hảo không khiếm khuyết gì cả, sự phát triển đã đầy đủ tốt

đẹp, gần nghĩa với câu thành ngữ “Mẹ tròn con vuông” “Màu trắng” của

thân thể, da thịt ngời phụ nữ ở đây không đơn thuần chỉ là màu trắng ta ờng thấy, mà nó còn cao hơn màu trắng, nó nói lên sự trinh nguyên, sự tinhkhiết, thánh thiện của ngời phụ nữ Nó không chỉ là vẻ đẹp ngoại hình mà

th-ẩn trong đó còn nói lên vẻ đẹp phẩm chất Đến câu cuối thì vẻ đẹp phẩm

chất đó đã đợc khẳng định “Mà em vẫn giữ tấm lòng son”.

Cả bài thơ chỉ có một câu duy nhất nói về vẻ đẹp ngoại hình ngời phụnữ, nhng vẻ đẹp đó còn hàm chứa cả vẻ đẹp nội tâm Vì tác giả đã dùngnghệ thuật lấy cái cụ thể để tả cái trừu tợng, chỉ ở một câu thơ tả ngoại hìnhngời phụ nữ làm cho ta hiểu đợc vẻ đẹp trừu tợng – vẻ đẹp phẩm chất

Nhìn chung trong các bài thơ gián tiếp miêu tả vẻ đẹp ngoại hình

ng-ời phụ nữ Hồ Xuân Hơng đã lấy các sự vật để miêu tả vẻ đẹp ngng-ời phụ nữ.Hầu hết trong tất cả các bài thơ vịnh vật của Hồ Xuân Hơng ngoài nghĩacông khai là thể hiện những sự vật trong thiên nhiên, nó còn có nghĩa ngầmgợi liên tởng đến vẻ đẹp kín đáo (bộ phận sinh dục) trên cơ thể ngời phụ nữ

Tóm lại về nghệ thuật thể hiện hình tợng ngời phụ nữ trong thơ Nôm

Hồ Xuân Hơng ở bình diện miêu tả vẻ đẹp ngoại hình, đợc nhà thơ miêu tảmột cách trực tiếp và gián tiếp, đa số các bài là miêu tả gián tiếp, chỉ có haibài là miêu tả trực tiếp, nhng đó lại là hai bài thơ rất đặc sắc, nổi tiếng, nónói lên đợc đầy đủ vẻ đẹp ngoại hình của cô gái tuổi xuân thì, một vẻ đẹpcăng tràn nhựa sống Bằng các biện pháp nghệ thuật độc đáo: Nghệ thuật sửdụng các hình ảnh ớc lệ tợng trng, các hình ảnh sống động trong thiênnhiên, và việc dùng từ ngữ độc đáo, với việc vận dụng linh hoạt các thànhngữ, tục ngữ, Hồ Xuân Hơng đã cho ta thấy đợc vẻ đẹp toàn diện của thânthể ngời phụ nữ qua các bài thơ

Nếu nh ở các bài thơ tả trực tiếp ta thấy đợc vẻ đẹp hình thể của cáccô gái đang xoan một cách toàn diện với nhiều các nét đẹp nh: thân thể, mái

Trang 20

tóc, bộ ngực căng tròn, đôi má hồng thì hầu nh ở các bài tả gián tiếp lại

đặc tả bộ phận kín đáo của ngời phụ nữ

1.2 Nghệ thuật thể hiện hình t ợng ng ời phụ nữ trong thơ Nôm Hồ

Xuân H ơng ở bình diện miêu tả vẻ đẹp nội tâm:

Nh chúng ta đã biết không phải chỉ đến giai đoạn lịch sử nửa cuối thế

kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX trong văn học mới xuất hiện đề tài ngờiphụ nữ, và vẻ đẹp nội tâm của ngời phụ nữ Trớc đó hình tợng ngời phụ nữvới nét đẹp nội tâm cũng đã xuất hiện rải rác trong văn học Đó là cô Tấm

“ở hiền gặp lành” trong truyện cổ tích “Tấm Cám”, đó là những ngời hi sinh

vì gia đình, suốt đời thờ chồng, hi sinh để giữ trinh tiết trong truyện cổ tích

“Hòn vọng phu”, trong truyện “Ngời con gái Nam Xơng” và trong cả một

số bài thơ của Lê Thánh Tông

Nh vậy là khi nói về tâm hồn ngời phụ nữ trong một số tác phẩm vănhọc giai đoạn trớc các tác giả ca ngợi họ theo những chuẩn mực đạo đứccủa Nho giáo: Tứ đức “công, dung, ngôn, hạnh”, tam tòng “tại gia tòng phụ,xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” Họ sống mà không hề nghĩ đến mình,hết lòng vì ngời khác, sẵn sàng chịu đựng hoàn cảnh oái oăm mà không hề

oán trách ai Ngời vợ trong “Hòn vọng phu” đã ôm con thờ chồng cho đến

khi hoá đá đứng sừng sững giữa trời theo năm tháng, ngời đàn bà Vũ Thị

Thiết trong truyện “Ngời con gái Nam Xơng” (Nguyễn Dữ) đã tìm đến con

đờng tự vẫn vì bị chồng nghi ngờ có thói trăng hoa, trai gái bất chính khianh ta vắng nhà, Những hình tợng ngời phụ nữ đó là con ngời chức năng,nét đẹp về tâm hồn của họ là do xã hội đặt vào họ, họ có chức năng là ng ời

vợ chung thuỷ trong gia đình, ngời phụ nữ trung thành, nhún nhờng ngoàixã hội Họ xuất hiện trong văn học với vai trò đợc ngời đời ca ngợi, hay nóichính xác hơn họ đợc đa vào văn học với vai trò làm gơng cho những ngờiphụ nữ trong đời sống thực tế noi theo, và để lại tiếng thơm trên đời

Đến giai đoạn văn học nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIXcác tác phẩm liên tiếp phản ánh về nội tâm của ngời phụ nữ ở khía cạnhhoàn toàn mới mẻ và khác biệt so với trớc Nội tâm của ngời phụ nữ trongthơ ca lúc này là khát vọng hạnh phúc lứa đôi và nỗi đau đớn xót xa trongcô đơn của kiếp “ hồng nhan bạc mệnh”, đó là tâm trạng ngời phụ nữ cóchồng đi chinh chiến, phải chịu một thân phận hẩm hiu, buồn đau, cô đơn lẻ

bóng khi đang ở độ tuổi hoa niên trong “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần

Vì ai gây dựng cho nên nỗi này”

Ngời phụ nữ ấy đã than thở thống thiết thê lơng về khát khao hạnhphúc ái ân, hạnh phúc gia đình:

Chàng chẳng thấy chim uyên ngoài nội

Trang 21

Cũng dập dìu chẳng vội phân trơng Chẳng xem cái yếu trên rờng

Bạc đầu không nỡ đôi đờng rẽ nhau

Đành muôn kiếp chữ tình là vậy Theo kiếp này hơn thấy kiếp sau Thiếp xin chàng chớ bạc đầu Thiếp thì giữ mãi lấy màu trẻ trung”

Đó là ngời cung nữ trong “Cung oán ngâm khúc” (Nguyễn Gia

Thiều) ca thán về hoàn cảnh bi thơng, là trò mua vui của bậc tu mi nam tử

“Chơi hoa cho rữa nhị dần lại thôi” Dần dần ngời cung nữ nhận thấy đợc bản chất tàn bạo của cuộc sống cung cấm: “Miếng cao lơng phong lu nhng

lợm” nàng mơ ớc một cuộc sống bình thờng, giản dị: một gia đình nhỏ bé

ấm cúng mà nàng không bao giờ có thể trở lại đợc vì đã trót rơi vào lầu songác tía

Hay nàng Kiều trong “Truyện Kiều” – một con ngời tài sắc vẹn

toàn nhng phải chịu thân phận bất hạnh Tuy vậy tâm hồn nàng vẫn đợcNguyễn Du miêu tả rất đẹp: Đó là một con ngời có hiếu, một ngời chungtình, và là một con ngời luôn khát khao vơn lên đấu tranh cho quyền tự dohạnh phúc của mình, đấu tranh chống lại hoàn cảnh, lễ giáo phong kiến

Hoà vào tiếng nói chung với các tác giả khi nói về tâm hồn ngời phụnữ, giãi bày ớc mơ, khát vọng, sự đau đớn Hồ Xuân Hơng cũng nói về vẻ

đẹp tâm hồn ngời phụ nữ, họ là con ngời có giác quan, có dục vọng, có trítuệ và đặc biệt là có khát vọng tình yêu, khát vọng hạnh phúc một cáchmãnh liệt Nhng khác với các nhà thơ cùng thời, khi nói về vẻ đẹp tâm hồnngời phụ nữ Hồ Xuân Hơng có sự thể hiện mới lạ hơn

Thực chất, tâm sự của ngời “Chinh phụ” xa chồng đó là sự gián tiếpbộc lộ cảm xúc ngời phụ nữ của Đặng Trần Côn, ngời cung nữ với nhữngphẩm chất, với những suy nghĩ, nghiền ngẫm cuộc đời đó là sự ý thức thểhiện của Nguyễn Gia Thiều, hay vẻ đẹp tâm hồn của nàng Kiều đó là doNguyễn Du gửi gắm nỗi đau đớn của mình về kiếp “hồng nhan bạc mệnh”

Thơ Nôm Hồ Xuân Hơng đã táo bạo, đi trớc thời đại Tâm hồn ngờiphụ nữ trong thơ của bà đã xuất hiện phơng diện tự ý thức và tự biểu hiện;

nó phản ánh rất rõ cá tính của Hồ Xuân Hơng, một ngời phụ nữ luôn luônkhát khao hạnh phúc lứa đôi, và là ngời luôn ca ngợi khẳng định, bênh vực

đấu tranh cho ngời phụ nữ

Bằng nghệ thuật trữ tình và thông qua vịnh vật Hồ Xuân Hơng đã làmnổi bật lên vẻ đẹp nội tâm của ngời phụ nữ

1.2.1 Miêu tả vẻ đẹp nội tâm thông qua nghệ thuật trữ tình:

“ Trữ tình là một trong ba phơng thức thể hiện đời sống (bên cạnh tự sự vàkịch) làm cơ sở cho loại tác phẩm văn học Trữ tình phản ánh đời sốngbằng cách bộc lộ trực tiếp ý thức của con ngời, cảm xúc chủ quan của conngời đối với thế giới và nhân sinh” [3; 316]

Trang 22

Tác phẩm trữ tình là tác phẩm bộc lộ trực tiếp thế giới chủ quan, cảmxúc, tâm trạng, ý nghĩ của con ngời.

Từ đặc trng trên ta có thể hiểu nghệ thuật trữ tình tức là cách thức bộc

lộ tâm t, tình cảm của tác giả một cách trực tiếp trong tác phẩm

Bằng nghệ thuật trữ tình Hồ Xuân Hơng đã miêu tả vẻ đẹp nội tâm

của ngời phụ nữ qua chùm thơ “ Tự tình”, bài thơ “Mời trầu”.

Trong bài thơ “Tự tình” (I) tác giả viết:

“ Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom

Oán hận trông ra khắp mọi chòm

Mõ thảm không khua mà cũng cốc Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om?

Trớc nghe những tiếng thêm rầu rĩ, Sau giận vì duyên để mõm mòm

Tài tử văn nhân ai đó tá?

Thân này đâu đã chịu già tom.”

Tự tình tức là bày tỏ lòng mình Bản thân là một ngời phụ nữ, HồXuân Hơng đã đại diện cho chị em phụ nữ nói lên nỗi buồn về tình duyên

và qua đó thể hiện một tâm hồn yêu cuộc sống, khao khát hạnh phúc lứa

đôi

Bằng việc tạo ra không gian thời gian nghệ thuật vào ban đêm HồXuân Hơng đã nói lên nỗi buồn của ngời phụ nữ, thờng thì vào đêm khuyanếu không ngủ đợc con ngời ta hay nghĩ đến thân phận, cuộc đời của mình

đó là nét đặc điểm của con ngời nói chung và ngời phụ nữ nói riêng

Với nghệ thuật sử dụng hàng loạt các động từ: “oán hận, sầu, rầu rĩ,giận” Hồ Xuân Hơng càng nhấn mạnh hơn nỗi đau, nỗi cô đơn của ngờiphụ nữ trong đêm khuya, nàng buồn vì thân phận hẩm hiu tình duyên trắctrở - đó cũng chính là nỗi buồn của chính Xuân Hơng

Trớc sự thật đó, Hồ Xuân Hơng muốn thoát ra khỏi cảnh ấy, nàngkhông chấp nhận sự đa đẩy của số phận, của xã hội, muốn vơn lên khẳng

định bản thân mình, đó cũng là khát vọng là mong muốn của những ngờiphụ nữ mà Hồ Xuân Hơng đã nói lên giúp họ, đại diện cho họ Ta thấy hiệnlên một bản lĩnh Hồ Xuân Hơng thật cứng cỏi, đầy ý thức về phẩm giá củamình Dẫu duyên đã chín “mõm mòm” thì Hồ Xuân Hơng vẫn không buôngxuôi, không bi quan mà luôn luôn vơn lên, vợt lên bám vào cuộc đời, vẫnkhông thôi hy vọng ở đối tợng mà bấy lâu nay nàng vẫn chờ đợi, đó phải làmột bậc xứng danh với Hồ Xuân Hơng, bậc tài tử văn nhân:

Tài tử văn nhân ai đó tá

Thân này đâu đã chịu già tom”

Tác giả đặt câu hỏi với đối tợng mà mình có thể chọn để khẳng địnhchính mình; không thất vọng trong mọi hoàn cảnh Đó là nét đẹp tâm hồncủa Hồ Xuân Hơng và cũng là của ngời phụ nữ nói chung

Trang 23

Cũng theo mạch cảm xúc ở bài “Tự tình” (I) bài “Tự tình” (II) nỗi

buồn tình duyên lại càng đợc dâng lên trong lòng nhà thơ, chứng tỏ khátvọng sống, khát vọng yêu đơng của Hồ Xuân Hơng thật mãnh liệt Càngyêu cuộc sống bao nhiêu thì Hồ Xuân Hơng càng buồn bấy nhiêu vì cuộcsống của bà không đợc nh ý (hai lần làm lẽ, hai lần chết chồng)

Tuy cảm xúc bao trùm bài thơ này là một tâm trạng buồn đau, chánchờng nhng ta vẫn thấy ẩn hiện trong đó vẻ đẹp nội tâm của một ngời phụnữ luôn khát khao một cuộc sống có ý nghĩa

Canh khuya văng vẳng trống canh dồn

Trơ cái hồng nhan với nớc non Chén rợu hơng đa say lại tỉnh Vầng trăng bóng xế khuyết cha tròn!

Xiên ngang mặt đất rêu từng đám

Đâm toạc chân mây đá mấy hòn ngán nỗi xuân đi xuân lại lại Mảnh tình san sẻ tí con con ”Biện pháp nghệ thuật nổi bật mà tác giả sử dụng trong bài thơ này lànghệ thuật đối lập: Đó là sự đối lập giữa cái bất biến với cái khả biến “Cáihồng nhan” cứ trơ ra đó đối lập với “ nớc non”

Qua đó nói lên cái đẹp “hồng nhan” của ngời phụ nữ - nhng cái đẹp

đó không ai thởng thức nên nó trơ ra trớc sự trôi chảy của cuộc đời

“Say” (cái khả biến) đối lập với “tỉnh” (cái bất biến) Hay là sự đốilập giữa “vầng trăng khuyết” (cái không hoàn hảo) với vầng trăng tròn (cáihoàn hảo) trong suy nghĩ mong muốn của Hồ Xuân Hơng

Với biện pháp nghệ thuật đối lập, tác giả đã lấy cái khả biến đối lạivới cái bất biến để nhấn mạnh thêm cái bất biến đó là nỗi buồn đau tronglòng tác giả Mà cái khả biến ở đây là sự trôi chảy của thời gian của cuộc

đời

Qua đó cũng bộc lộ khát vọng sống của nhà thơ - cái tôi của nhà thơ,cái tôi đó buồn vì duyên phận cũng là đang muốn đi tìm hạnh phúc, tìm mộtvầng trăng cho riêng mình, đó phải là vầng trăng tròn, là đỉnh cao của hạnhphúc, chứ không phải là vầng trăng khuyết

Thật thiếu sót nếu ta không nhắc đến hai câu thơ:

“ Xiên ngang mặt đất rêu từng đám

Đâm toạc chân mây đá mấy hòn”

ở đây tác giả đã sử dụng nghệ thuật miêu tả cận – viễn ở câu trênthì điểm nhìn là không gian rất gần, và câu dới là cái nhìn rất xa nh nhìn ranhững ngọn núi, bầu trời, núi cao đâm lên tận trời mây

Điều quan trọng là qua các hình tợng “rêu” xiên ngang mặt đất, “đá”

đâm toạc chân mây, với việc dùng từ ngữ thật mạnh và sắc cạnh “xiênngang”, “đâm toạc” ta thấy phần nào biểu hiện đợc cá tính mạnh mẽ, tự tincủa tác giả Đối với Hồ Xuân Hơng nhìn vào đâu cũng thấy sức sống, nhìn

Trang 24

đến đâu sự vật cũng sống dậy, sống mạnh lên tới đó, cái nhìn ấy quý trọng,yêu mến sự sống sâu xa biết chừng nào! thấy đợc, nghe đợc trong từng đámrêu sức mạnh xiên qua mặt đất để lên với ánh trời, núi cao, mạnh đến mức

đâm toạc trời mây Đó là tấm lòng yêu thơng sự sống, luôn vơn lên trongcuộc sống của Hồ Xuân Hơng Điều đó là nét đẹp tiêu biểu và đáng quý ởngời phụ nữ

Lại một lần nữa nói về tình duyên long đong lận đận, trong bài “Tự tình” (III) Hồ Xuân Hơng đã dùng hình tợng chiếc bách (chiếc thuyền) trôi

nổi trên mặt nớc để nói lên thân phận lênh đênh không bờ bến của mình

Trong bài nói lên nét đẹp nội tâm của ngời phụ nữ đó là một ngờisống rất tình nghĩa:

L

“ ng khoang tình nghĩa dờng lai láng”

Nhà thơ còn sử dụng thành ngữ “thăm ván bán thuyền” trong câu thơ:

“ấy ai thăm ván cam lòng vậy

Ngán nỗi ôm đàn những tấp tênh”

“Thăm ván bán thuyền” là một thành ngữ chỉ kẻ mới đi thăm ván để đóng

thuyền mà đã bán thuyền cũ, ý nói cha có mới đã vội nới cũ “Ôm đàn” tức

ôm cầm: chỉ việc lấy chồng Hai câu thơ này nói lên nỗi buồn về duyênphận, về hôn nhân của Hồ Xuân Hơng Qua đó cũng nói lên khao khát mộtcuộc nhân duyên tốt đẹp của bà

Tóm lại có thể nói, chùm thơ “Tự tình” cuả Hồ Xuân Hơng là một

tiếng thở dài của bà về duyên phận Đó là sự bộc lộ rất chân tình, rất thậtcủa nhà thơ Nhng với cái tôi mạnh mẽ, cá tính của mình Hồ Xuân Hơng đãkhông tuyệt vọng trớc khó khăn mà luôn vơn lên khẳng định chính mình, tựtin ở mình Đó là nét đẹp nội tâm rất đáng quý ở ngời phụ nữ

Bằng nghệ thuật trữ tình Hồ Xuân Hơng đã nói đợc nỗi buồn phổbiến của ngời phụ nữ trong xã hội phong kiến lúc bấy giờ Qua đó cũng nóilên nét đẹp tâm hồn ở họ - đó là niềm khát khao hạnh phúc tình yêu, hônnhân gia đình

Cũng vẫn niềm khát khao tình duyên đôi lứa, ở bài “Mời trầu” Hồ

Xuân Hơng lại mợn miếng trầu để nói lên quan niệm nhân duyên của mình,

và cũng là một lời mời gọi của Xuân Hơng:

Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi

Này của Xuân Hơng mới quệt rồi

Có phải duyên nhau thì thắm lại

Đừng xanh nh lá bạc nh vôi”

Bằng biện pháp nghệ thuật sử dụng các tính từ (xanh, bạc, thắm) nóilên tính chất của miếng trầu khi cha ăn và khi đã ăn Hồ Xuân Hơng muốnnói lên quan niệm của mình về tình yêu, có thể hiểu đã yêu thì yêu thắmthiết Miếng trầu khi cha ăn thì: lá nó xanh, vôi trắng, vì hai thứ cha đợc hoàquyện vào nhau Nhng khi đã ăn thì đỏ thắm

Trang 25

Hồ Xuân Hơng đã có dụng ý khi đa miếng trầu vào thơ, theo quan

niệm của ngời Việt Nam “miếng trầu là đầu câu chuyện”, “miếng trầu nên

dâu nhà ngời” Miếng trầu luôn gắn với tình duyên, vì vậy ở bài thơ này Hồ

Xuân Hơng muốn mời ngời ăn trầu, cũng là lời mời gọi về một cuộc tìnhduyên Tác giả dùng h từ “có phải” nó nh một câu hỏi, một sự chờ đợi vềcái duyên sắp đến với mình

Đây là một bài thơ mời ngời ăn trầu, nhng qua miếng trầu đó XuânHơng bộc lộ niềm khát khao giao cảm của mình - điều cơ bản trong thơ HồXuân Hơng, đó cũng là cái đẹp rất nhân bản của con ngời

Nhìn chung qua các bài thơ vừa nêu trên ta thấy bằng nghệ thuật trữtình Hồ Xuân Hơng đã nói lên nét đẹp tâm hồn của ngời phụ nữ ở khía cạnhkhao khát hạnh phúc tình yêu lứa đôi, thể hiện niềm yêu cuộc sống đến thathiết, mong muốn sống có ý nghĩa

1.2.2 Miêu tả vẻ đẹp nội tâm thông qua vịnh vật:

Miêu tả gián tiếp thông qua vịnh vật là biện pháp nghệ thuật luônluôn đợc Hồ Xuân Hơng sử dụng trong các bài thơ Hồ Xuân Hơng khôngchỉ thông qua vịnh vật để phản ánh vẻ đẹp ngoại hình của ngời phụ nữ, nh

ta đã nói ở phần trớc, mà bà còn thông qua vịnh vật để phản ánh vẻ đẹp nội

tâm của ngời phụ nữ, “Bánh trôi nớc” là một bài thơ nh thế Bằng nghệ

thuật vịnh vật (vịnh chiếc bánh trôi) Hồ Xuân Hơng đã cho ta thấy đợc vẻ

đẹp trọn vẹn của ngời phụ nữ Nàng không chỉ đẹp về ngoại hình vừa trắng

vừa tròn đầy, căng tràn sức sống “Thân em vừa trắng lại vừa tròn”, mà đẹp

Mà em vẫn giữ tấm lòng son”

Trong xã hội phong kiến ngời phụ nữ luôn luôn phải sống phụ thuộc,không có quyền gì, họ là những thân phận bé nhỏ, hẩm hiu, bị cuộc đời xô

đẩy vùi dập, bị xã hội coi thờng, họ không làm chủ đợc cuộc đời mình,không có khả năng để tự bảo vệ mình, nên họ phải chấp nhận số phận bấthạnh, mặc cho ngời đời xoay vần Tuy vậy họ vẫn ý thức đợc về cái tốt –xấu, cao đẹp – thấp hèn, trong sáng – nhơ bẩn Vì vậy ngời phụ nữ ở bàithơ này vẫn giữ đợc phẩm chất tốt đẹp của mình đó là “ tấm lòng son”, lànhân cách làm ngời, là sự son sắt thuỷ chung

Một lần nữa Hồ Xuân Hơng khẳng định thay cho ngời phụ nữ nóichung: Dù hoàn cảnh có khắc nghiệt, phận em có long đong, nhng tâm hồn

em vẫn trong trắng vẫn đẹp

Thông qua bài thơ vịnh vật này Xuân Hơng đã có dịp bộc lộ bản lĩnh,phẩm chất của ngời phụ nữ, đó là nét đẹp tâm hồn bất biến

Trang 26

Hay bài “ốc nhồi” Hồ Xuân Hơng cũng thông qua vịnh con vật để

nói lên nét đẹp nội tâm nhân vật ngời phụ nữ, thể hiện ở hai câu cuối bàithơ:

“ Quân tử có thơng thì bóc yếm

Xin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi”

Với việc sử dụng từ “quân tử” Hồ Xuân Hơng đã thể hiện đợc mốithiện cảm cuả ngời con gái đối với chàng trai, đó là một lời nói rất nhẹnhàng, tình cảm Hai câu thơ trên là lời nhắc khéo của ngời con gái với bạntình là không nên đi quá đà trong tình cảm, lời nhắc nhở đó không nhữngkhông thể hiện sự phật ý mà còn thể hiện đợc sự tôn trọng bạn tình

Bằng nghệ thuật sử dụng các từ ngữ một cách độc đáo Hồ Xuân Hơng đãnói lên vẻ đẹp nội tâm của ngời phụ nữ về quan hệ ứng xử trong tình yêu

Tóm lại về vấn đề miêu tả nội tâm nhân vật ngời phụ nữ của Hồ XuânHơng, ta thấy ở đây cách miêu tả của bà rất đặc biệt, nổi rõ cá tính của tácgiả

Trong hoàn cảnh xã hội phong kiến thân phận ngời phụ nữ chẳngkhác gì thân phận tôi đòi, bị coi khinh rẻ rúng ,ngời phụ nữ không có quyền

đợc lựa chọn, nghĩa vụ của họ là phải biết tuyệt đối chấp nhận hoàn cảnh

Và điều đặc biệt ,ngời phụ nữ không có quyền đợc biểu lộ tình cảm, khátvọng sống, khát vọng yêu của mình Họ phải phục tùng, nén chịu trong câmlặng Với suy nghĩ, tâm trạng là chấp nhận ,chịu đựng những bất công màxã hội, cuộc đời gây ra cho mình Họ tuy có ý thức đợc nỗi khổ đau củamình nhng không thể làm gì khác ngoài sự chịu đựng

Nhng Hồ Xuân Hơng thì không nh thế! Bằng một số bài thơ bà đãkhẳng định nét đẹp tự vơn lên của ngời phụ nữ.Và đặc biệt điều bà dám nóithay cho ngời phụ nữ đó là khát vọng tình yêu, khát vọng hạnh phúc trầnthế của ngời phụ nữ- điều mà ít ngời phụ nữ lúc bấy giờ dám nói ra, và cũngkhông ai dám bày tỏ một cách thẳng thắn nh Hồ Xuân Hơng

Qua việc phản ánh đó ta thấy đợc nét đẹp nội tâm của ngời phụ nữ vàthấy đợc t tởng nhân đạo sâu sắc của Xuân Hơng

Ch

ơng 2: Nghệ thuật thể hiện hình tợng ngời phụ nữ ở khía cạnh gi i bày nỗi đau, bộc lộ thân phận bất hạnh.ãi bày nỗi đau, bộc lộ thân phận bất hạnh.

Khi đi vào chơng này, chúng tôi sẽ đi vào ba khía cạnh nhỏ để thấy

đợc nỗi đau và thân phận bất hạnh của ngời phụ nữ trong thơ Nôm của HồXuân Hơng, đó là:

- Nghệ thuật miêu tả về thân phận hẩm hiu, tình duyên trắc trở của ngời phụnữ

- Nghệ thuật miêu tả về thân phận ngời vợ trong gia đình

Ngày đăng: 21/12/2013, 12:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Hạnh Cẩn, Hồ Xuân Hơng thơ chữ Hán chữ Nôm và giai thoại, NXB Văn hóa-Thông tin, 1995 Khác
2. Xuân Diệu, Các nhà thơ cổ điển Việt Nam – Hà Nội, 1981 Khác
3. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Từ điển thuật ngữ Văn học, NXBĐHQGHN, 1999 Khác
4. Đỗ Văn Khang, Nghệ thuật học, NXBĐHQGHN, 2001 Khác
5. Nguyễn Lộc, Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII Hết thế kỷ – XIX, NXBGD, 1999 Khác
6. Phơng Lựu, Trần Đình Sử..., Lý luận văn học, NXBGD, 1997 Khác
7. Lữ Huy Nguyên, Hồ Xuân Hơng thơ và đời, NXBGD, 1997 Khác
8. Nguyễn Hữu Sơn – Vũ Thanh (Tuyển chọn và giới thiệu), Hồ Xuân H-ơng về tác gia và tác phẩm, NXBGD, 2003 Khác
9. Đào Thái Tôn (giới thiệu và tuyển chọn), Thơ Hồ Xuân Hơng, NXBHN, 2001 Khác
10.Đào Thái Tôn, Hồ Xuân Hơng từ cội nguồn đến thế tục, NXBGD, 1992 Khác
11.Trần Khải Thanh Thuỷ, Lạm bàn về thơ Hồ Xuân Hơng hay băm sáu cái nõn nờng Xuân Hơng, NXB văn hoá dân tộc, 2002 Khác
12.Lê Trí Viễn, Lê Xuân Lít, Nguyễn Đức Quyền, Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hng, NXBGD, 2002 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w