Với gần 1 triệu km2 lãnh hải [32], Việt Nam có khả năng phát triển nghề nuôi biển với nhiều đối tợng cá đã và đang đợc đầu t sản xuất giống cung ứng cho nuôi thơng phẩm.Cá Giò Rachycentr
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh
-
-Đánh giá mức độ nhiễm ký sinh trùng
ngoại ký sinh trên cá Giò (Rachycentron canadum)
ơng nuôi tại Phân viện nghiên cứu
nuôi trồng thuỷ sản Bắc Trung Bộ
tóm tắt Khoá luận tốt nghiệp
Kỹ s nuôi trồng thuỷ sản
Ngời thực hiện: Nguyễn Thành Trung
Ngời hớng dẫn khoa học:
Thạc sĩ Nguyễn Thị Thanh Thạc sĩ Phạm Thị Yến
Vinh- 01/ 2009
Trang 2Phụ lục i Tình hình cơ bản của cơ sở nghiên cứu
1 Điều kiện tự nhiên
Phân viện nghiên cứu NTTS Bắc Trung Bộ trực thuộc viện nghiên cứu NTTS
1, đóng trên địa bàn phờng Nghi Hải_thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An Trại nghiên cứu giống hải sản thuộc phân viện có tổng diện tích gần 3ha, nằm ở khu vực ven biển thị xã Cửa Lò Đây là khu vực chịu ảnh hởng của khí hậu Bắc Trung Bộ, trong năm phân thành hai mùa rõ rệt, mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10 với nhiệt độ trung bình 32,50C, mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau với nhiệt độ trung bình 20,30C Nhiệt độ trung bình trong năm là 23,80C, biên độ biến đổi nhiệt độ trung bình xấp xỉ là 120C Nh vậy nhiệt độ ở đây tơng đối cao về mùa hè và thấp vào mùa đông
2 Tình hình kinh tế , xã hội
Theo qutết định số 16/2005 của bộ trởng bộ thuỷ sản về việc thành lập phân viện nghiên cứu NTTS Bắc Trung Bộ Phân viện là đơn vị sự nghiệp khoa học thuộc viện nghiên cứu NTTS 1, có chức năng nghiên cứu, thực nghiệm, chuyển giao khoa học, công nghệ về giống và NTTS tại các tỉnh Bắc Trung Bộ (từ tỉnh Thanh Hoá đến tỉnh Thừa Thiên Huế)
Cơ cấu tổ chức của phân viện gồm
Trang 3Trại nghiên cứu giống hải sản Cửa Hội là cơ sở nghiên cứu về giống hải sản của phân viện nghiên cứu NTTS Bắc Trung Bộ
3 Tình hình sản xuất kinh doanh
Hoạt động sản xuất giống đợc thực hiện chính thức vào năm 2002 với 2 đối ợng sản xuất giống chủ yếu là cá Giò và cá Song Các công đoạn sản xuất từ cá bột lên hơng và lên giống đang gần đợc hoàn thiện dần nhằm nâng cao tỷ lệ sống Mùa
t-vụ sản xuất giống thờng bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 8 dơng lịch Thị trờng cá giống tơng đối ổn định, cá giống đợc bán cho các hộ nông dân, công ty t nhân ở tỉnh Nghệ An, Khánh Hoà
Hiện nay một số đối tợng cá bố mẹ (cá Giò, cá Song) đang đợc lu giữ bằng lồng ở đảo Ng phục vụ cho quá trình sinh sản thì một số đối tợng cá bố mẹ khác cũng đang đợc xây dựng nhằm phục vụ cho sinh sản nh: cá Chim trắng, cá Hồng
Mỹ, cá Dìa
Năm 2008 là năm thứ 5 trại thực hiện hợp phần NORAD để tiếp tục hoàn thiện quy trình nuôi cá Giò và cá Song, đây là 2 đối tợng sản xuất chính của trại, mùa vụ sản xuất giống từ rháng 4 đến tháng 7 dơng lịch, kết quả cung cấp cho thị trờng một lợng lớn cá giống Đây cũng là năm thứ 3 trại triển khai dự án CARD với nội dung cho sinh sản Nghêu Bến Tre Ngoài các đối tợng trên trại còn nuôi th-
ơng phẩm ốc hơng, cho sinh sản Cua…
4 Những thuận lợi và khó khăn
Thuận lợi:
- Phân viện có địa hình thuận lợi về giao thông và nguồn nớc biển phục vụ sản xuất, cơ sở vật chất đầy đủ, hiện đại đáp ứng thực hiện thành công các công trình nghiên cứu khoa học
- Đội ngũ cán bộ có trình độ và tay nghề cao, tận tình với công việc
- Xây dựng nhiều công trình sản xuất và nghiên cứu khoa học với sự hỗ trợ của các dự án
Khó khăn:
- Đối tợng sản xuất ngày càng mở rộng về giống loài trong khi đó khu vực sản xuất còn hạn chế Các công trình, hệ thống bể ơng nuôi chủ yếu phục
Trang 4vụ cho nghiên cứu đối tợng cá biển Vì thế, việc sản xuất nhiều đối tợng khác đồng thời khó có điều kiện thực hiện, cho nên vào mùa vụ sản xuất chính không sản xuất
đợc nhiều đối tợng mà chỉ tập trung chủ yếu cho một số loài chính
- ảnh hởng lớn của khí hậu do nằm trong vùng địa lý Bắc Trung
Bộ, mùa đông lạnh kéo dài, mùa hè nóng ảnh hởng lớn đến sản xuất
Cá giống (số mẫu nhiễm)
Tổng (mẫu nhiễm)
Trang 6Giai ®o¹n C¸ h¬ng C¸ gièng
Trang 7Việt Nam là nớc có tiềm năng lớn về thuỷ sản nhng trên thực tế cả quy mô phát triển lẫn quy hoạch cha thực sự đáp ứng lợi thế đó Trong chiến lợc phát triển của ngành nuôi trồng thuỷ sản (NTTS), nuôi biển đợc đánh giá là chiến lợc có tầm quan trọng trong thế kỷ XXI này Với gần 1 triệu km2 lãnh hải [32], Việt Nam có khả năng phát triển nghề nuôi biển với nhiều đối tợng cá đã và đang đợc đầu t sản xuất giống cung ứng cho nuôi thơng phẩm.
Cá Giò (Rachycentron canadum) là loài ăn nổi và có tập tính di c Chúng
phân bố rộng, từ vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới đến các vùng nớc ấm của biển ôn
đới Vùng sinh thái sống của cá tơng đối đa dạng: ở ven biển, các rạn san hô đến vùng biển khơi [3], vì thế, cá có thể nuôi nhiều nơi Cá Giò có các u điểm nh: sinh trởng nhanh, từ cỡ cá giống 30g (70-75 ngày) có thể đạt 6-8 kg sau 1 năm nuôi [3], khả năng chống chịu tốt đối với các điều kiện bất lợi của môi trờng, vì vậy cá có khả năng nuôi xa bờ ở các vùng biển mở Thịt cá Giò trắng ngon, hàm lợng các axit béo không no EPA và DHA cao hơn so với nhiều đối tợng nuôi khác [3], do đó
đây là đối tợng nuôi có nhiều triển vọng cho giá trị thơng phẩm cao
Cá Giò hiện đợc nuôi nhiều nhất ở Đài Loan Những dự án lớn về sản xuất giống và nuôi đối tợng này cũng đang đợc triển khai tại các nớc Mỹ và Australia Cá Giò cũng đang chiếm vị trí quan trọng trong nghề nuôi biển tại các nớc nh Trung Quốc, Việt Nam, Philippine [4]
Nhu cầu về con giống trong sản xuất nhân tạo là yếu tố quan trọng để phát triển nghề nuôi biển nói chung và cá Giò nói riêng Những yếu tố dinh dỡng, môi trờng và dịch bệnh liên quan trực tiếp đến sự thành công của sản xuất Trong đó tỷ
lệ sống của cá trong quá trình ơng nuôi mang ý nghĩa quyết định
Tuy nhiên cho đến nay quy trình sản xuất giống cá Giò ở Việt Nam nói chung và phân viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản Bắc Trung Bộ nói riêng đang hoàn thiện Trong quá trình sản xuất giống phục vụ cho nuôi thơng phẩm ngày càng nảy sinh nhiều vấn đề về môi trờng và dịch bệnh, hàng loạt bệnh xuất hiện trên ấu trùng cá nh trùng loa kèn Epistylis, Vorticella, Apiosoma, trùng Amylodinium ocellatum, tảo bám Nitzchia sp, một số loại virut, vi khuẩn nhng
nguyên nhân gây chết đầu tiên và có số lợng nhiều là ký sinh trùng ở mức độ
Trang 8nặng, ký sinh trùng gây chết hàng loạt đặc biệt ở giai đoạn cá hơng, cá giống; mức
độ nhiễm nhẹ hơn, nó làm cho cá chậm sinh trởng, giảm chất lợng thịt cá, tạo cơ hội cho vikhuẩn, virut tấn công Sự hao hụt rất lớn về số lợng trong quá trình sản xuất (96-98%) [5],[15], đòi hỏi không chỉ đáp ứng về mặt dinh dõng mà còn là vấn
đề kiểm soát dịch bệnh Vì thế, việc tìm hiểu và kiểm soát dịch bệnh xảy ra trong quá trình ơng nuôi mang ý nghĩa quan trọng nhằm nâng cao tỷ lệ sống và chất lợng con giống, làm tăng hiệu quả sản xuất Xuất phát từ thực tiễn đó chúng tôi thực hiện đề tài:
‘‘ Đánh giá mức độ nhiễm ký sinh trùng ngoại ký sinh trên cá Giò
(Rachycentron canadum) ơng nuôi tại Phân viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ
sản Bắc Trung Bộ”.
Mục tiêu của đề tài :
- Đánh giá mức độ nhiễm ký sinh trùng ngoại ký sinh trên cá Giò
- Đề xuất các giải pháp kỹ thuật nhằm hạn chế nhiễm bệnh ký sinh trùng ngoại ký sinh trên cá
Trang 9CHƯƠNG 1 TổNG QUAN tài liệu
1.1 Tình hình nghiên cứu bệnh ký sinh trùng ở cá trên thế giới và Việt Nam 1.1.1 Tình hình nghiên cứu bệnh ký sinh trùng ở cá trên thế giới.
Trên thế giới việc nghiên cứu về bệnh ký sinh trùng (KST) nói chung và KST ngoại ký sinh trên cá nói riêng bắt đầu từ thế kỷ XVIII với những nghiên cứu sơ khai của Linne [2]
Tuy nhiên ngời ta mới bắt đầu quan tâm tới bệnh ở cá từ cuối thế kỷ XIX,
nh-ng chủ yếu là nhữnh-ng mô tả dấu hiệu bệnh lý, cha có nhữnh-ng nh-nghiên cứu tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh
Sang đầu thế kỷ XX, các nhà khoa học bắt đầu nghiên cứu và viết sách về bệnh cá Cuốn sách có nhan đề ‘‘Tác nhân gây bệnh ở cá” (Father of Fish
Patholohy) đợc xuất bản năm 1904 do tác giả ngời Đức là Bruno Hofer
Tại Liên Xô cũ vào năm 1929, Viện sỹ V.A.Dolgiel (1882- 1955) thuộc viện hàn lâm khoa học Liên Xô cũ đã đa ra “Phơng pháp nghiên cứu KST trên cá”,
đã mở ra hớng nghiên cứu mới về các khu hệ KST trên cá và các loại bệnh cá do KST gây ra, cho đến nay nhiều nhà khoa học nghiên cứu KST cá vẫn còn áp dụng [2]
Năm 1929- 1970, hàng loạt các công trình nghiên cứu về KST ký sinh ở cá
n-ớc ngọt và nn-ớc mặn đợc công bố ở nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới, tiêu biểu nhất là công trình nghiên cứu về khu hệ KST cá nớc ngọt ở Liên Xô do Bychowsky biên tập từ các kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả Công trình này đã phát hiện
và phân loại đợc khoảng 2000 loài KST khác nhau và đợc công bố năm 1968
Từ năm 1957 - 1973, nhà ký sinh trùng học Parukin (Nga) [26], đã khảo sát nghiên cứu về ký sinh trùng ký sinh trên một số loài cá biển ở vùng Đông Nam á Trong công trình nghiên cứu này, ông đã hệ thống đợc thành phần giun, sán ký sinh ở 4 loài cá Song sống trong tự nhiên: E.areolatus, E.ascolatus, E.fasciatus, E.orientalis
Trang 10Trung Quốc là nớc thứ hai bắt tay vào việc nghiên cứu KST trên cá Năm
1973, Chenchinleu và cộng tác viên (ctv) đã xuất bản cuốn “KST cá nớc ngọt tỉnh
Hồ Bắc”, trong đó phân loại đợc 375 loài KST trên 50 loài cá nớc ngọt [19]
Tại Trung Quốc, theo một điều tra bệnh KST trên cá Song nuôi tại tỉnh Quảng
Đông phát hiện thấy sự nhiễm nặng một vài loài KST trong đó Neobenedenia sp là
một trong số những loài bị nhiễm với cờng độ cao và đã gây chết từ 10- 50% (Zhang H, 2001) [31]
Trong khi đó Wong và Leong (1990) [1], khi nghiên cứu bệnh ký sinh trùng trên cá Song (E Malabaticus) các tác giả đã tìm thấy 16 loài ký sinh trùng ở Song
nuôi và 11 loài ký sinh trùng ở cá Song tự nhiên Kết quả nghiên cứu còn cho thấy mức độ nhiễm ký sinh trùng ở cá Song nuôi gấp 3 lần ở cá tự nhiên, trong đó loài
Pseudohabdosynochus epinepheli là phổ biến nhất Tỷ lệ cá Song nuôi nhiễm KST
là 97,2%, cá Song tự nhiên nhiễm 77% trong khi đó tỷ lệ nhiễm do Trematoda loài Prosorhynchus Patificus ở cá nuôi là 81%, cá tự nhiên là 72%
Trên đối tợng là cá nuôi, Leong Tak Seng (2001) cho rằng bệnh ký sinh trùng
là bệnh rất khó phòng trị vì các loài cá đợc nuôi trong lồng, trong môi trờng rộng lớn rất khó có thể trị bệnh tốt cũng nh không thể triệt đợc tận gốc các loài ký sinh trùng Do vậy cá nuôi lồng thờng bị nhiễm ký sinh trùng với tỷ lệ cao [24] Tỷ lệ nhiễm cao nhất là các loài thuộc lớp sán lá đơn chủ Monogeneae: Pseudohabdosynochus epinepheli, P pacificus, benedenia monticelli [24].
ở Indonesia, nhà khoa học đầu tiên nghiên cứu về KST cá là Ma Sachlan Năm 1952 ông cho xuất bản cuốn sách “Notes on the parasites of freshwater fishes in Indonesia ” Đây là cuốn tài liệu có ý nghĩa giá trị lớn đánh dấu bớc
ngoặt trong ngành KST học ở Indonesia nói riêng và khu vực Đông Nam á nói chung [22]
Từ năm 1970 đến những năm cuối thế kỷ XX, ngành nuôi trồng thuỷ sản của thế giới đã phát triển mạnh, không chỉ đối tợng cá mà nhiều loài giáp xác, động vật thân mềm có giá trị kinh tế đã đợc đa vào nuôi Hình thức nuôi công nghiệp (thâm canh và siêu thâm canh) đã thay thế cho hình thức nuôi quảng canh truyền thống,
Trang 11làm bệnh tật phát sinh nhiều, gây tác hại rất lớn Vì thế thời kỳ này có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh động vật thuỷ sản, đặc biệt là bệnh KST.
Theo Akhmad Rukyani (1993) [22], vấn đề dịch bệnh là một trong những nguyên nhân quan trọng gây thiệt hại cho nghề nuôi trồng thuỷ sản ở Indonesia Trong đó KST là bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng cho các loài cá nuôi trong đó có các bệnh do giun sán Khi cá bị bệnh việc sử dụng thuốc hoá học để điều trị thờng không đem lại hiệu quả vì cá thờng bị chết hàng loạt trớc khi thuốc có hiệu lực.Tại Indonesia bệnh ký sinh trùng đợc xem là rất nguy hiểm cho cá biển, trong
đó bệnh do sán lá đơn chủ là phổ biến nhất ở cá Song Khi kiểm tra một đàn cá Song nuôi, đã phát hiện ra tới 15 loài giun sán ký sinh, trong đó 2 loài nhiễm với c-ờng độ cao là: Neobenedenia, Benedenia epiepheli Mức độ nguy hại của Neonedenia girellae là ở chỗ chúng ký sinh hình thành tổ chức nằm bên trong mắt
gây mù mắt cá, làm cho cá không bắt mồi đợc [20] Loài sán lá đơn chủ Benedenia spp là loài đặc biệt nguy hiểm đối với hệ thống nuôi lồng vì trứng của chúng có thể
dính vào các mắt lới đồng thời tồn tại trên đó trong một thời gian dài và có thể dễ dàng lây nhiễm lại trên cá (Ogawa, 1996 [28]) Cùng với sán lá đơn chủ, thì rận cá
Caligus cũng là tác nhân gây bệnh phổ biến, có tới hơn 2000 loài Caligus đợc tìm
thấy đã ký sinh, gây bệnh trên cá biển [28]
Không chỉ riêng Indonesia mà ở Singapo ở cá Song nuôi lồng cũng bị nhiễm sán lá đơn chủ Diplectanum [31].
ở ấn Độ, theo A.V Gussev (1976) đã nghiên cứu phát hiện khu hệ sán lá đơn chủ ký sinh ở 37 loài cá nớc ngọt tại ấn Độ, trong đó đã phân loại đợc 57 loài sán lá đơn chủ [27]
Tại Banglades, năm 1997 A.T.A.Ahoned và M.t.Ezaz, đã nghiên cứu KST của
17 loài cá da trơn, phát hiện 69 loài giun sán ký sinh [31]
1.1.2 Tình hình nghiên cứu bệnh ký sinh trùng trên cá tại Việt Nam.
Trớc những năm 1960, lĩnh vực bệnh học thuỷ sản ở Việt Nam hầu nh cha
đ-ợc quan tâm Từ năm 1960- 1990 các công trình nghiên cứu về bệnh động vật thuỷ
Trang 12sản ở Việt Nam tập trung chủ yếu vào nghiên cứu các khu hệ KST và các bệnh do KST ký sinh gây ra ở cá.
Công trình nghiên cứu đầu tiên của Hà Ký ‘‘Nghiên cứu khu hệ KST và bệnh của cá nớc ngọt miền Bắc Việt Nam” Nghiên cứu này đợc thực hiện trong 15 năm (1960- 1975) Qua đó tác giả đã mô tả 120 loài KST ký sinh trên cá nớc ngọt ở miền Bắc Việt Nam, trong đó có 42 loài KST mới, một giống và một họ phụ mới
đối với khoa học [2]
Công trình nghiên cứu:‘‘Thành phần KST ký sinh trên một số loài cá biển có giá trị kinh tế tại Phú Khánh (Khánh Hoà)” của Nguyễn Thị Muội và Đỗ Thị Hoà (1978- 1980) Công trình này đã phát hiện đợc 80 loài KST ký sinh trên cá biển [2]
Tại Miền Trung và Tây Nguyên, Nguyễn Thị Muội và Đỗ Thị Hoà (1980- 1985) nghiên cứu ‘‘Khu hệ KST ký sinh ở 20 loài cá nớc ngọt ở miền Trung và Tây Nguyên” Công trình này đã phát hiện đợc 57 loài KST [2]
Công trình nghiên cứu ‘‘Khu hệ KST ký sinh trên 41 loài cá nớc ngọt Đồng Bằng sông Cửu Long” của Bùi Quang Tề và ctv (1984- 1990) Công trình này đã phát hiện đợc 157 loài KST và một số loài mới đối với khoa học [11]
Trong những năm gần đây, nghề nuôi cá biển ở Việt Nam đã bắt đầu phát triển tại Hải Phòng, Quảng Ninh, Khánh Hoà và Vũng Tàu với các đối tợng nuôi chính nh cá Song, cá Giò, cá Hồng, từ đó nảy sinh nhiều vấn đề về dịch bệnh rất khó để kiểm soát
Khi điều tra KST trên 3 loài cá Song nuôi lồng tại vịnh Hạ Long, Bùi Quang
Tề đã xác định đợc 13 loài KST trong đó Benedenia thuộc lớp sán lá đơn chủ có tỷ
lệ nhiễm cao 95% [10]
Kết quả nghiên cứu của Bùi Quang Tề và ctv (1998) cho thấy cá Song đa vào nuôi lồng khoảng 1 - 2 tuần đã có biểu hiện nh: cá mù mắt, cá có mủ mắt ở 1 bên mắt, da đầu, thân, đuôi bị ăn mòn, viêm loét các gốc vây Hàng năm từ tháng 6 đến tháng 8 khi có ma nhiều, độ mặn giảm, cá Song nuôi lồng xuất hiện bệnh lở loét, xuất huyết làm cá chết rải rác Theo báo cáo của các chủ bè nuôi cá cho biết tỷ lệ hao hụt của cá Song giống khi đa vào nuôi khá cao (trên 50%) Những nguyên
Trang 13nhân gây ra sự hao hụt này là do chất lợng cá giống không đảm bảo, đa vào môi ờng nuôi chật hẹp, mật độ dày, không khống chế đợc môi trờng nuôi làm cho cá bị sốc dễ gây thành dịch bệnh [10].
tr-Theo Bùi Quang Tề và ctv (1998), trên 3 loài cá Song mỡ, cá Song sáu sọc, cá Song chuối nuôi lồng trên vịnh Hạ Long đã xác định đợc 13 loài ký sinh trùng thuộc 12 giống, 11 họ, 7 bộ, 4 lớp, 3 ngành Cá Song mỡ gặp 12 loài ký sinh trùng, cá Song sáu sọc gặp 10 loài ký sinh trùng, cá Song chuối gặp 9 loài ký sinh trùng Trong đó nhóm sán lá đơn chủ và nhóm ký sinh đơn bào có tỷ lệ và cờng độ nhiễm cao Lớp sán lá đơn chủ, đáng chú ý nhất là Pseudohabdosynochus epinepheli, Lycloplectanum, Diplectanum hargisi, Haliotrma sp, ký sinh ở mang tỷ lệ nhiễm rất
cao từ 71,4% - 95,8%, tiếp đến sán lá song chủ Brosorhynchus epinepheli, Helicometra fasciata, Magnacetabulum selari tỷ lệ nhiễm từ 26 - 46%; sán lá đơn
chủ Benedinia epinepheli và ấu trùng của chúng, tỷ lệ nhiễm ở da tơng đối cao từ
25 - 35%; còn lại ký sinh đơn bào và giáp xác có tỷ lệ nhiễm thấp nhất [10] ngoài ra còn có những nghiên cứu khác của Bùi Quang Tề trên cá Song nuôi lồng tại Vân Đồn (Quảng Ninh), Cát Bà (Hải Phòng) Tuy tác giả không đa ra con
số cụ thể về tỷ lệ cá chết và mức độ thiệt hại kinh tế do KST gây ra nh ng đã cho biết cá nuôi lồng bị nhiễm KST với cờng độ và tỷ lệ cao [1]
Phơng (2002), trong báo cáo của mình cho rằng cá Song nuôi tại Cát bà, cỡ từ
200 - 500g bị bệnh chiếm tỷ lệ cao nhất, ở giai đoạn này cá hay bị bệnh lở loét và
bị bệnh ‘‘chết đẹp” Cỡ cá nhỏ hơn 200g tỷ lệ bị bệnh chiếm 32,06%, ở giai đoạn này cá bị chết chủ yếu do bệnh lở loét, xuất huyết, tỷ lệ chết rất cao do cá còn nhỏ, sức đề kháng yếu Cỡ cá lớn hơn 500g bị bệnh chiếm tỷ lệ 25,29% Đây là giai
đoạn cá chủ yếu bị bệnh "chết đẹp", khi cá bị bệnh này tỷ lệ chết có thể lên tới 100% [31]
Nguyễn Thị Hằng (2003), qua điều tra bệnh trên cá nuôi cho biết cá chết do tác nhân là KST cao, trung bình chiếm 10,6- 20% trong tổng số cá nuôi Tỷ lệ cá chết ở Cát Bà cao hơn so với cá nuôi ở Quảng Ninh, tỷ lệ này thấp hơn so với cá Song nuôi tại Quảng Đông (Trung Quốc) đợc tác giả Zhang Haifa thông báo (13,1- 30%), cao hơn nhiều so với cá Song nuôi ở Thái Lan (6,4%) [1]
Trang 141.2 Tình hình nghiên cứu bệnh ký sinh trùng ở cá Giò trên thế giới và Việt Nam.
1.2.1 Tình hình nghiên cứu bệnh ký sinh trùng ở cá Giò trên thế giới.
Theo Hargis (1955) cá Giò đã bị nhiễm 2 loài sán đơn chủ: Dionchus rachycentris nhiễm trên mang của cá Giò ở Florida, U.S.A và Neobenedenia girellae nhiễm trên bề mặt cơ thể cá Giò nuôi lồng tại Taiwan (Lopez et al,2002
[20]), đây là lần đầu tiên xác định đợc sự nhiễm Neobenedenia girellae trên cá biển
tập chung ở mép vây lng (57%), đặc biệt ký sinh ở mắt (23,7%), tuy nhiên tần số xuất hiện của chúng là ít hơn trên mép bụng Neobenedenia girellae làm mất chất
đệm ở giác mạc của mắt cá, gây viêm nhiễm và mù mắt Sự nhiễm ký sinh trùng này là nguyên nhân gây nên cái chết hàng loạt cá Giò nuôi từ tháng 10/2002 đến tháng 2/2003 ở Lui – Chiu Hsu Island, Taiwan [22]
Lopez và ctv (2002), Ogawa và ctv (2006) đã báo cáo rằng Neobenedenia girellae là nguyên nhân cơ bản gây ra vết loét lớn của mép vây lng cá Giò con nuôi
lồng [23]
Bruce và Cannon (1989) đã tìm thấy Iheringascaris inquires từ dạ dày của cá
Giò ở Australia, giống với Contracaecum megacephalum (Oschmarin, 1963), phân
lập đợc từ dạ dày cá Giò ở vùng biển phía Nam Trung Quốc, Mabiarama prevesiculata đã tìm thấy trong dạ dày cá Giò ở Braril, trái lại Goezi pelagia đợc phân lập từ cá ở Vịnh Mexico (Bunkley – Wiliams và Williams, 2006 [27])
Cryptocaryon irritans, là loại KST thuộc ngành trùng lông đợc mô tả đầu tiên
bởi Si_Kama (1973), Cryptocaryon xuất hiện ở giai đoạn cá con (Bunkley-
williams, 2006 [26]), nó là nguyên nhân gây nên bệnh đốm trắng Cryptocaryon
nhiễm trên cá có thể làm ảnh hởng và gây nguy hiểm cho cá, nếu cá bị nhiễm
Cryptocaryon ở mức độ nghiêm trọng thì phần lớn là chết
Bệnh đốm nhầy Brooklynella hostilis Lom và Nigrilli (1970), (Dysteriida: Hartmannulidae) thuộc ký sinh trùng đơn bào Bệnh Brooklynella hostilis đã từng
Trang 15xuất hiện ở biển Caribbean và đợc du nhập vào từ Florida Đây là một loại bệnh ký sinh trùng mới ở cá Giò đã gây chết hàng loạt cá ở phía Đông vùng biển Caribbean
và phía Nam Florida vào năm 1980 (Williams và Bunkley- Williams 2000 [26]) Mang và da cá Giò bị nhiễm nặng Brooklynella hostilis và 30.000 con cá Giò
giống ở trại Sneper đã bị chết (Williams và Bunkley - Williams 1996 [30])
Ngoài ra còn nhiều tác giả: Madhavi, Rasheed, Hargis , nghiên cứu ký sinh trùng cá Giò ở ấn Độ, Mexico, Đài Loan, Nhật Bản, Philippines các tác giả này cho biết, ký sinh trên cá Giò bao gồm các giống, loài thuộc lớp sán lá đơn chủ, sán lá song chủ, sán dây, giun tròn, giun đầu gai, giáp xác Trong đó gây nguy hiểm cho cá là các giống loài thuộc lớp sán lá song chủ, sán dây, giun tròn, chúng ký sinh trong dạ dày và trong ruột, phá huỷ thành ruột, nếu cá bị nhiễm nặng một trong các loài kể trên với cờng độ cao sẽ chậm lớn, gầy yếu có khi dẫn tới tử vong [27],[20] Madhavi (1976) thông báo rằng khi kiểm tra ký sinh trùng trong ruột cá Giò thì thấy có sự nhiễm nặng sán lá song chủ Stephanostomum pseudoditrematis
(30sán/mẫu kiểm tra), và với cờng độ nhiễm cao nh vậy loài sán này đã gây tổn
th-ơng thành ruột [27] Raheed (1965) thì cho biết bất cứ khi nào khi kiểm tra dạ dày cá Giò cũng thấy sự nhiễm nặng loài giun tròn Iheringascaris inquies, ở giai đoạn
trởng thành ký sinh nhiều trong ruột cá [18]
Nhiều loài ký sinh trùng có tính chọn lọc ký chủ rất cao, chúng chỉ ký sinh ở loài cá này mà không ký sinh ở loài cá khác, Hargis (1957) cho biết loài sán lá đơn chủ Dionchus rachicentris chỉ ký sinh trên cá Giò Ngoài ra cá Giò còn bị ký sinh
nhiều bởi các loài nhuyễn thể, giáp xác [20] Dawson (1969) khi nghiên cứu ký sinh trùng trên cá Giò thuộc sông Mississipi thì thấy bị loài hà conchoderma virgatum và lernaeolophus sultamus bám trên vây đuôi [18].
Trên cá Giò đã phân loại đợc các loài ký sinh trùng gây bệnh sau:
Trichodiniasis, Cryptocarryonasis, Psettaroides sp và rận cá (Chen Bi- Sheng và
ctv, 2002; Stephen và ctv, 2001 [19],[29]) Có nhiều loài KST gây bệnh trên cá biển trong đó có cá Giò nuôi thuộc các nhóm chính sau: Myxozoan,
Trang 16Microsporidian, Monogeneas, trematodes, Crustaceans, Nematodes, Cestodes, Acanthocephalans và Hirudineans bao gồm nội và ngoại ký sinh [19]
Myxosporidian là vấn đề cần phải quan tâm đối với cá Giò trong suốt quá
trình nuôi Theo báo cáo của Chen và ctv (2001) hàng loạt cá Giò cỡ 45 – 80 g đã
bị chết bởi Sphaerospora Khi cá đã bị nhiễm Sphaerospora, màu sắc của cá bị
biến đổi, thiếu máu và thận sng to, các bớu nhỏ hình cầu xuất hiện [30] Blaylocka
và ctv (2004) đã báo cáo rằng các loài của Myxidium, Ceratomyxa, Myxobolus và Kudoa có khả năng làm giảm sinh trởng và gây chết cá Giò nuôi [27]
Theo Kaiser và Holt (2005) các giống loài của ngành trùng lông đã gây ảnh hởng lớn cho sinh trởng và phát triển của cá Giò Amyloodinium ocellatum là tác
nhân của bệnh màng nhung [22], các vị trí bị nhiễm KST này sẽ bị viêm, hoại tử và
sự trao đổi khí ở mang cá bị phá vỡ Tỷ lệ chết của cá sẽ tăng khi cá bị nhiễm nặng
Amyloodinium.
Giống Ichthyobodo sp thờng nhiễm ở da và mang của cá Giò nuôi, nó gây
ảnh hởng nghiêm trọng cho hoạt động nuôi cá biển, đặc biệt đối với giai đoạn cá con [26] Bunkley- williams và Williams (2006) đã phân lập đợc loài ký sinh này ở cá Giò trong một hoạt động nuôi thơng mại ở Puerto Rico [26] Cũng theo báo cáo của FAO, 2007 đã phát hiện đợc Epistylis ở mang và miệng ấu trùng cá Giò [33].
Theo báo cáo của FAO (2007), Trichodina đã phân lập đợc từ da và mang của
cá Giò giai đoạn cá con, ký sinh trùng này làm cho cá bị hôn mê, bỏ ăn lặp đi lặp lại nhiều lần, nhng gây tử vong ở mức độ thấp [33] Bệnh Trùng cầu cũng tìm thấy
ở cá Giò, bệnh này làm cho cá bị lồi mắt, chớng bụng [33]
1.2.2 Tình hình nghiên cứu bệnh ký sinh trùng ở cá Giò tại Việt Nam
Lần đầu tiên, nhà khoa học Parukin (1957- 1973) đã tìm thấy một số loài ký sinh trùng trên mang, mắt và ruột ở cá Giò tại vịnh Bắc Bộ: Serracentis sagitifer
(ruột), contracaecum magacephalum (ruột), Nematobothrium rachicentri (Mang,
mắt), phyllodistomump parukhini (ruột) [26].
Tuy nhiên đến năm 2002, trại sản xuất cá biển ở Cửa Hội mới sản xuất giống nhân tạo cá Giò thành công song ở những lần cho đẻ đầu tiên trong năm, toàn bộ
Trang 17cá bột đều bị chết [14] Theo Phan Thị Vân (2006) thì nguyên nhân cá chết là do bị nhiễm Cryptocaryon iritans Đây là tác nhân gây bệnh khá phổ biến đối với cá
lồng nuôi biển đặc biệt giai đoạn cá hơng và cá giống Tỷ lệ chết do loài ký sinh trùng này gây ra có thể lên đến 100% trong vòng 2-3 ngày nếu không có biện pháp phòng trị thích hợp [14]
Năm 2003, các loài Pseudohabdosynochus epinepheli, ấu trùng Monogenea, Trichodina sp đợc tìm thấy trên mang của cá Song và cá Giò tại Quảng Ninh và
Hải Phòng với tỷ lệ nhiễm từ 10,77- 69,23% [1]
Theo Phan Thị Vân (2003) thu mẫu tại Quảng Ninh và Hải Phòng, các mẫu cá Song và cá Giò kiểm tra tìm thấy loài Pseudohabdosynochus epinepheli ký sinh
trên mang Năm 2004 cá Song, cá Giò có thêm loài Trichodina sp bắt gặp tại Cát
Bà và Cửa Hội, tỷ lệ cờng độ nhiễm thấp [14]
Bảng 1.1 Ký sinh trùng ký sinh trên cá Giò tại Việt Nam [14].
STT Tên KST gây bệnh Giai đoạn nhiễm Địa điểm phân
lập
thịt
Cát Bà, Nghệ An, Quảng Ninh, Vũng Tàu
thịt
Cát Bà, Nghệ An, Quảng Ninh, Vũng Tàu
Trang 18Stephanostomum imparispine, Tormopsolus filiformis và Tubulovesicula angusticauda [17].
Theo Phan Thị Vân (2006) thì mùa vụ xuất hiện bệnh cá Giò khá rõ ràng, các tháng 11, 12 trong năm cá Giò bị bệnh cao nhất, tỷ lệ chết khá cao có thể từ 50- 60% Hiện tợng chết của cá Giò thờng gắn với thời tiết lạnh, các tháng cuối năm cá thờng chết vào thời gian gần về sáng [14]
Cá chết ở kích thớc cỡ nhỏ hơn 0,6kg chiếm tới trên 65% (30,9% cỡ cá nhỏ hơn 0,4kg và 35,95% cỡ cá từ 0,4- 0,6kg) Tỷ lệ cá chết giảm dần theo kích cỡ cá từ nhỏ đến lớn, điều này càng khẳng định rằng cá nhỏ thờng có sự nhạy cảm với tác nhân gây bệnh hơn [14]
Hình 1.1 Mùa vụ xuất hiện bệnh cá Giò tại Hải Phòng và Quảng Ninh
[14]
Trang 19CHƯƠNG 2 Đối tợng, vật liệu, địa điểm, nội dung
và phơng pháp nghiên cứu
2.1 Đối tợng và vật liệu nghiên cứu.
2.1.1 Đối tợng nghiên cứu.
KST ngoại ký sinh trên cá Giò (Rachycentron canadum) giai đoạn cá con
-ơng nuôi tại Phân viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản Bắc Trung Bộ
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu.
Cá Giò (Rachycentron canadum) giai đoạn cá con ơng nuôi tại Phân viện
nghiên cứu NTTS Bắc Trung Bộ
Số lợng mẫu: Cá bột: 160 con (không có biểu hiện dấu hiệu bệnh lý, kiểm tra 4 đợt trại cho sinh sản làm cơ sở xác định giai đoạn nhiễm bệnh của cá)
Cá hơng: 540 con Cá giống: 90 con (cá giống đa về từ Quý Kim- Hải Phòng, đ-
ợc nuôi trong ao đất sau đó đa lên nuôi trong bể composide)
2.1.3 Dụng cụ và hóa chất để nghiên cứu ký sinh trùng trên cá
* Dụng cụ :
- Kính lúp; kính giải phẫu (kính soi nổi), kính hiển vi
- Bộ đồ giải phẫu gồm các dụng cụ sau: dao cạo nhớt, Pinxet các loại, dùi nhọn giải phẫu, kéo các loại
- ống hút các loại (để hút KST kích thớc nhỏ nh sán lá)
- Cân, thớc đo chiều dài cá
- Dụng cụ khác: khay men, đĩa petri, cốc thuỷ tinh nhỏ, ống thuỷ tinh nhỏ, đĩa mặt
đồng hồ, chén thuỷ tinh nhỏ
* Hoá chất: Cồn 500, 700, 900 , 960, 1000, xylen, nhựa Canada, formol 4%, 10%, hematocylin, fericsulfat amonium 3%, Gelatin - glycerin, ferric sulfat amonium 1,5%, pepsin, HCl, NaCl, NH4OH
Trang 202.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu.
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu.
Thu mẫu nghiên cứu mức độ nhiễm KST ngoại ký sinh trên cá Giò tại Phân viện nghiên cứu NTTS Bắc Trung Bộ- Thị xã Cửa Lò- Nghệ An
Mẫu cá đợc phân tích tại phòng Bệnh và Môi trờng, Phân viện nghiên cứu NTTS Bắc Trung Bộ
2.2.2 Thời gian nghiên cứu.
Đề tài đợc thực hiện từ ngày 5 tháng 5 đến ngày 10 tháng 8 năm 2008
2.3 Nội dung nghiên cứu.
- Nghiên cứu thành phần loài KST ngoại ký sinh trên cá Giò
2.4.1 Phơng pháp thu mẫu cá.
Nguyên tắc trong thu mẫu cá:
- Cá sử dụng để nghiên cứu là cá sống hoặc mới chết còn tơi
- Trớc khi nghiên cứu cần xác định rõ loài cá, cỡ cá, tuổi cá
- Mẫu cá thu ngẫu nhiên từ các bể ơng
Số lợng mẫu thu từ 30- 50 mẫu
Trang 21- Mẫu cá bệnh đợc thu khi có các dấu hiệu cá yếu, nổi thành đàn trên mặt, bơi lờ
đờ, cá chuyển màu
- Mẫu cá chết: khi siphon, kiểm tra cá chết hàng loạt
2.4.2 Phơng pháp thu mẫu ký sinh trùng ngoại ký sinh.
Tiến hành quan sát bên ngoài cá, nên để cá trong khay có ít nớc, cần xem xét kỹ vẩy, da có thể phát hiện các loại ký sinh trùng bám Sau đó cắt các vây cho lên kính, thêm ít nớc rồi quan sát dới kính giải phẫu
Cạo nhớt ở các phần khác nhau trên thân, mắt, vây, hốc mũi cá Quan sát
d-ới kính hiển vi có thể phát hiện Monogenea và trùng đơn bào, những ký sinh trùng
thờng gây nguy hiểm cho cá
Nghiên cứu ký sinh trùng ở mang cá: dùng kéo cắt nắp mang, cắt các cung mang và lấy các lá mang Dùng dùi giải phẫu xem xét kỹ các tơ mang dới kính giải phẫu sau khi đã cho thêm mấy giọt nớc
2.4.3 Phơng pháp cố định, bảo quản và làm tiêu bản ký sinh trùng
2.4.3.1 Cố định và bảo quản mẫu
Đối với ký sinh trùng đơn bào cố định mẫu bằng cách phết kính: Dùng lamen đặt lên trên lam kính ở vị trí có mẫu, kéo ngợc lamen về phía sau sao cho nhớt có thể dàn đều một lớp mỏng để khô tự nhiên trong không khí, xếp mẫu trong các hộp có lót lớp giấy để bảo quản Với những mẫu cố định bằng cách này cần nhuộm càng sớm càng tốt Có thể để khô các phết kính trong không khí sau đó nhúng vào dung dịch shaudin ấm từ 10-15 phút, tiếp tục rửa qua cồn 700 cho qua dung dịch iốt loãng trong vòng 15 đến 20 phút, rửa lại bằng cồn iốt, cuối cùng bảo quản trong cồn 700
Ký sinh trùng thuộc lớp sán lá: cố định bằng cách đè ép giữa hai phiến kính, cho cồn 700 vào giữa hai phiến kính, giữ sán ở trạng thái đó trong thời gian từ 5-10 phút tuỳ theo kích thớc và độ dày của sán, có thể sử dụng nớc nóng để làm cho sán không hoạt động, sau đó dùng cồn để cố định Ngoài ra có thể dùng formol 4%
Trang 22hoặc 10% để cố định Bảo quản trong cồn hoặc formol Đối với sán lá đơn chủ có thể dùng amoniac 1% để cố định và làm rõ các móc bám.
Sau khi cố định mẫu, tiến hành nhuộm màu và làm tiêu bản ký sinh trùng Tuỳ theo từng loại ký sinh trùng khác nhau mà có các phơng pháp nhuộm khác nhau
2.4.3.2 Nhuộm màu và làm tiêu bản
- Ký sinh trùng đơn bào nh trùng lông, trùng bào tử sợi, trùng amíp, cầu trùng, vi bào tử có thể nhuộm theo 2 cách: nhuộm bạc nitrat 2% hoặc nhuộm bằng hematoxylin
+ Dùng bạc nitrat 2%: Các lamen có mẫu đã giữ khô, xếp vào đĩa peptri mặt
có trùng ngửa lên trên Dùng pipet nhỏ dung dịch AgNO3 2% lên chỗ phết mẫu,
đậy nắp đĩa peptri để tất cả vào buồng tối trong thời gian từ 10-15 phút, lấy ra rửa qua nớc cất 3-4 lần, tất cả các kính sau khi rửa chuyển sang đĩa nớc cất khác để mặt có trùng hớng lên trên, đem phơi dới ánh sáng mạnh của mặt trời trong thời gian từ 1-1,5 giờ, sau đó phơi tiếp trong ánh sáng đèn thạch anh thuỷ ngân trong vòng 20-30 phút Trong quá trình phơi cần kiểm tra các mẫu phết kính trong 1/2 thời gian quy định, nếu quan sát thấy rõ các cơ quan của trùng thì ngừng phơi Rửa lại mẫu trong nớc cất, để khô tự nhiên trong không khí, gắn tiêu bản bằng nhựa Canada và ghi etyket
+ Nhuộm mẫu bằng Hematoxylin: Lấy những mẫu đã cố định trong cồn 700
ra rửa qua nớc cất từ 2 - 3 phút, sau đó cho mẫu vào dung dịch fericsulfat amonium 3% từ 12 - 24 giờ cho mẫu gắn chặt vào kính Tiếp tục rửa qua nớc cất 3 - 5 phút rồi cho vào thuốc nhuộm hematoxylin trong khoảng 12 giờ để nhuộm màu, sau đó rửa qua vòi nớc chảy Kính phết nhuộm màu tốt sẽ có màu xanh lơ thẫm hoặc màu gần nh đen, cho phết kính nhuộm màu vào phân biệt trong dung dịch fericsulfat amonium 1,5% Kiểm tra dới kính hiển vi cho đến khi thấy rõ các cơ quan của trùng, rửa trong nớc cất 1 - 2 lần Lần lợt cho qua các nồng độ cồn 500, 700, 900 ,
960, 1000, xylen trong thời gian từ 3 - 5 phút Gắn tiêu bản bằng nhựa Canada
Trang 23- Sán lá đơn chủ: Có thể làm tiêu bản tơi bằng cách để trùng lên lam, nhỏ dung dịch amoniac 1% để cố định mẫu, rút nớc bằng giấy thấm, gắn tiêu bản bằng Gelatin - glycerin hoặc nhựa Canada Với những sán có kích thớc lớn nhuộm màu giống nh với sán lá song chủ.
- Đối với sán lá song chủ: Sán đợc lấy ra khỏi chất cố định, rửa trong nớc cất
cho đến khi hết chất cố định, để trong nớc từ 30 phút đến 2 giờ, sau đó cho sán đã rửa vào dung dịch Carmin, thời gian nhuộm từ 10 - 60 phút tuỳ thuộc vào kích thớc của sán và độ dày của lớp vỏ Sán đã nhuộm tốt sẽ đợc rửa nớc và cho cồn, axit HCl vào, kiểm tra mức độ phân ly rõ của các cơ quan dới kính hiển vi Làm sạch cồn và lần lợt cho các mẫu đã nhuộm qua các nồng độ 700, 800 ,900 và 960 Để làm trong mẫu dùng xylen, gắn tiêu bản bằng nhựa Canada
Tổng số trùng trên các phiến mang kiểm traCờng độ nhiễm trung bình =
Tổng số phiến mang kiểm tra+ Đối với ký sinh trùng lớn: giun sán, giáp xác đếm toàn bộ số trùng trên cá