1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao kỹ năng dạy học hợp tác nhóm cho đội ngũ giáo viên giáo dục công dân trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh quảng bình luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

121 1,1K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng Cao Kỹ Năng Dạy Học Hợp Tác Nhóm Cho Đội Ngũ Giáo Viên Giáo Dục Công Dân Trung Học Phổ Thông Trên Địa Bàn Tỉnh Quảng Bình
Tác giả Hoàng Thanh Hiến
Người hướng dẫn TS. Trần Viết Quang
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Khoa Học Giáo Dục
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xét một cách tổng quát, kỹ năng được hiểu là quá trình thực hiện cáchoạt động ở mỗi người một cách thành thạo, linh hoạt, phù hợp với các mụctiêu trong những điều kiện nhất định.. Khả nă

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạoTRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

HOÀNG THANH HIẾN

NÂNG CAO KỸ NĂNG DẠY HỌC HỢP TÁC NHểM CHO ĐỘI NGŨ GIÁO VIấN GIÁO DỤC CễNG DÂN TRUNG HỌC PHỔ THễNG TRấN ĐỊA BÀN TỈNH

QUẢNG BèNH

Luận văn thạc sĩ KHOA HọC giáo dục

Chuyên ngành: LL &PPDH BỘ MễN GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

Mã số: 60.14.10

Ngời hớng dẫn khoa học : TS TRẦN VIẾT QUANG

NGH Ệ AN, 2012

LỜI CẢM ƠN

Trang 2

Với tình cảm chân thành và lòng kính trọng, tác giả xin bày tỏ lòng biết

Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù đã rất cố gắng song Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý của Quý Thầy Cô giáo và đồng nghiệp để Luận văn hoàn thiện hơn.

Nghệ An, tháng 9 năm

2012 Tác giả

Hoàng Thanh Hiến

Trang 3

1.1 Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 9

1.2 Cơ sở khoa học và vai trò của kỹ năng dạy học hợp tác nhóm trong dạy học môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông21

1.3 Nội dung nâng cao kỹ năng dạy học hợp tác nhóm cho giáo viên Giáo dục công dân trung học phổ thông 35

Kết luận chương 1 39

Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ KỸ NĂNG DẠY HỌC HỢP TÁC NHÓM CỦA GIÁO VIÊN BỘ MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH 41

2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và giáo dục tỉnh Quảng Bình

Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO KỸ NĂNG DẠY HỌC HỢP TÁC

NHÓM CHO ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN GIÁO DỤC CÔNG DÂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH 71

3.1 Nâng cao nhận thức cho đội ngũ giáo viên Giáo dục công dân về tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học theo hình thức hợp tác nhóm

71

Trang 4

3.2 Bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên GDCD kỹ năng thiết kế bài dạy và kỹ năng tổ chức dạy học theo phương pháp hợp tác

D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

E CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN TÁC GIẢ

ĐÃ CÔNG BỐ 110

Trang 5

GD - ĐT Giáo dục – đào tạo

THCS Trung học cơ sở

THPT Trung học phổ thông

Trang 6

A MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đổi mới phương pháp dạy học là một trong những yêu cầu cấp thiết củagiáo dục hiện nay nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong thời

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Với định hướng chiếnlược mà Đảng và nhà nước ta đã nêu ra, sự nghiệp giáo dục cần thiết phải có sựhoàn thiện, đổi mới ở tất cả mọi phương diện, từ mục tiêu đến nội dung, chươngtrình, cơ sở vật chất và một yếu tố không thể thiếu đó chính là chất lượng độingũ giáo viên

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: “Chấtlượng giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là đào tạonguồn nhân lực trình độ cao vẫn còn hạn chế; chưa chuyển mạnh sang đào tạotheo nhu cầu xã hội Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng về số lượng,quy mô với nâng cao chất lượng, giữa dạy chữ và dạy người Chương trình,nội dung, phương pháp dạy và học lạc hậu, đổi mới chậm; cơ cấu giáo dụckhông hợp lý giữa các lĩnh vực, ngành nghề đào tạo; chất lượng giáo dục toàndiện giảm sút, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiệnđại hóa” [12; 167]

Có nhiều yếu tố tác động đến việc nâng cao chất lượng giáo dục nhưngchất lượng đội ngũ giáo viên (GV) là yếu tố rất quan trọng cần được quan tâmhàng đầu Yêu cầu về chất lượng GV ngày nay bao gồm cả đạo đức nghề nghiệp,

tư tưởng chính trị, năng lực sư phạm và năng lực chuyên môn Trong đó năng lực

sư phạm và năng lực chuyên môn là yếu tố được GV thường xuyên quan tâm

và bổ sung cho phù hợp với mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học(PPDH) Để đáp ứng được yêu cầu của đổi mới PPDH, GV không ngừng bổsung và hoàn thiện những kỹ năng dạy học của mình cho phù hợp với nhữngquan điểm và phương pháp dạy học tích cực

Để đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng dạyhọc nói chung và dạy học bộ môn Giáo dục công dân nói riêng ở bậc Trung

Trang 7

học phổ thông, cả GV và học sinh (HS) đều phải đổi mới cách dạy và cáchhọc Dạy học hợp tác nhóm (DHHTN) là một trong những hướng tiếp cậnquan trọng trong việc đổi mới PPDH ở nước ta hiện nay DHHTN hướng tíchcực đến kết quả học tập cũng như phát triển khả năng làm chủ kiến thức vànăng lực xã hội cho người học Đồng thời, nó tác động mạnh mẽ tới sự pháttriển nghề nghiệp của chính mỗi người GV Muốn thực hiện DHHTN thànhcông, cả GV và HS cần có những kỹ năng dạy và học nhất định.

Trong những năm qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thực thi nhiều giảipháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học nói chung và đối với bộ môn GDCDnói riêng như: cải tiến nội dung chương trình, sách giáo khoa; đào tạo bồidưỡng giáo viên để nâng cao chất lượng đội ngũ; khuyến khích giáo viên bộmôn tích cực đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học theo hướng pháthuy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học Tuy nhiên, đó là nhữngphương hướng, những cách tiếp cận chung trong lĩnh vực đổi mới PPDH,trong khi đó cốt lõi của đổi mới PPDH chính là kỹ năng dạy học của GV

Thực tế cho thấy, vấn đề kỹ năng dạy học của GV, nhất là kỹ năng dạyhọc nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của người học chưa được quantâm đúng mức GV lên lớp chủ yếu là phương pháp truyền thống, việc sửdụng phương pháp dạy học tích cực còn nhiều lúng túng, thiếu sự nhuầnnhuyễn và linh động Đặc biệt, kỹ năng DHHTN của đội ngũ GV GDCD ởcác trường THPT nói chung và các trường trên địa bàn tỉnh Quảng Bình nóiriêng đang còn nhiều bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của việcđổi mới PPDH hiện nay

Với những lý do trên, chúng tôi chọn vấn đề: “Nâng cao kỹ năng dạy

học hợp tác nhóm cho đội ngũ giáo viên Giáo dục công dân trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Quảng Bình” làm đề tài nghiên cứu

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Vấn đề dạy học hợp tác nói chung, kỹ năng DHHTN nói riêng đã có

nhiều tác giả, nhiều nhà sư phạm trong và ngoài nước quan tâm và nghiên cứu,

Trang 8

có nhiều công trình được công bố ở những góc độ tiếp cận khác nhau Tuynhiên, mãi tới những năm cuối thế kỷ XX, định hướng này mới thực sự cóchuyển biến, có nhiều tài liệu, bài viết đề cập tới việc chuyển từ dạy học lấy

GV làm trung tâm sang dạy học lấy HS làm trung tâm Một trong nhữngPPDH tích cực, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học đó là phươngpháp DHHTN, kết quả nghiên cứu có thể tổng hợp lại qua các nhóm côngtrình tiêu biểu sau:

Nhóm tác giả đi sâu nghiên cứu vấn đề đổi mới PPDH theo hướng pháthuy tính tích cực của HS bao gồm:

Tác giả Thái Duy Tuyên đi sâu nghiên cứu vấn đề về PPDH, trong cuốn

sách “Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới”(1998), NXB Giáo dục,

Hà Nội Trên cơ sở khái quát về bản chất, đặc điểm, ý nghĩa của DHHT, tác giả

đã đề xuất quy trình tổ chức dạy học theo phương pháp DHHT

Trong cuốn sách “Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình

dạy học” (2004), NXB Giáo dục, Hà Nội, tác giả Nguyễn Hữu Châu đã đề cậpđến DHHT như là một quan điểm dạy học mới Theo tác giả, DHHT là việc sửdụng các nhóm nhỏ để HS làm việc cùng nhau nhằm tối đa hoá kết quả họctập của bản thân cũng như của người khác

PGS.TS Vũ Hồng Tiến: Một số phương pháp dạy học tích cực - Tài liệu

bồi dưỡng giáo viên dạy chương trình môn giáo dục công dân (Chuyên đề 2),

2007 Tác giả đã chỉ rõ phương pháp truyền thống chỉ diễn giảng, truyền thụkiến thức một chiều, còn phương pháp dạy học tích cực buộc người học phảinghiên cứu tìm tòi, phát hiện và giải quyết vấn đề, tạo nên sự tác động qua lạigiữa thầy và trò, giữa trò và trò

Phạm Văn Đồng: Phương pháp dạy học tích cực một phương pháp vô

cùng quý báu, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 271/1994 Tác giả đã chỉ ra

phương pháp dạy học tích cực là phương pháp người dạy phải đưa ra các câuhỏi có tính khêu gợi đòi hỏi người nghe phải suy nghĩ, tìm tòi để người học tựhọc và ham học

Trang 9

Tác giả Nguyễn Kỳ: Phương pháp dạy học tích cực lấy người học làm

trung tâm, NXB Giáo dục, Hà Nội (1995) Ở công trình của mình, tác giả đã

đưa ra các đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực như: trò tự tìm ra kiếnthức bằng hoạt động của chính mình, tự đánh giá, tự sửa sai, tự điều chỉnh;

Trong bài viết Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học, Tạp chí nghiên

cứu giáo dục, số 3/1996, tác giả đã nêu lên thực chất của giảng dạy tích cựclấy người học làm trung tâm quá trình dạy tự học và quy trình dạy tự học

Tác giả Trần Bá Hoành, trong cuốn sách “Đổi mới phương pháp dạy

học, chương trình và sách giáo khoa”(2007) gồm tập hợp 26 bài viết đề cập

đến những vấn đề phục vụ công cuộc đổi mới PPDH đang diễn ra sôi nỗi tạicác trường học đó là dạy học lấy HS làm trung tâm, phát triển các phươngpháp dạy học tích cực, tăng cường phương pháp học tập, tự học Ngoài ra còn

có nhiều công trình nghiên cứu khác nhằm hướng đến đổi mới PPDH

Nhóm tác giả khai thác về nội dung DHHT:

Tác giả Lê Văn Tạc với bài viết “Một số vấn đề cơ sở lý luận học hợp tác

nhóm” trên Tạp chí Giáo dục (TCGD) số 81 (3/2004), đã đề cập đến khái niệm

DHHT, cơ sở lý luận của DHHT, cũng như các bước thực hiện DHHT trong quá

trình dạy học Tác giả Trần Thị Bích Hà với bài viết“Một số trao đổi về HHT

ở trường phổ thông” trên TCGD số 146 (9/2006) Tác giả Ngô Thị Thu Dung

với bài viết “Một số vấn đề lý luận về kỹ năng học theo nhóm của HS” trên TCGD số 46 (2002); bài viết“Tổ chức hoạt động hợp tác trong học tập theo

hình thức thảo luận nhóm” của tác giả Nguyễn Thị Hồng Nam trên TCGD số 26

(3/2002); Tác giả Trần Ngọc Lan với bài viết “Kỹ thuật chia nhóm và điều

khiển nhóm HTHT trong dạy học toán ở tiểu học” trên TCGD số 157 (3/2007).

Tác giả Nguyễn Thành Kỉnh, “Phát triển kỹ năng dạy học hợp tác cho giáo viên

trung học cơ sở”, trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả cũng đã đi sâu

phân tích một số kỹ năng cơ bản của giáo viên trung học cơ sở trong quá trình dạyhọc

Trang 10

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu khoa học mà chúng tôi đã nêu trênđều có một điểm chung đó là xác định quá trình đổi mới PPDH và sử dụngphương pháp DHHT như là con đường cơ bản nhằm tích cực hoá hoạt động củangười học, vận dụng mô hình DHHT ở các bậc học, môn học khác nhau là phùhợp với xu thế dạy học hiện đại, mang lại hiệu quả cao trong xu thế đổi mới nềngiáo dục ở nước ta hiện nay Tuy nhiên, những công trình đó mới đề cập đếnnhững vấn đề lý luận chung mà chưa đi sâu nghiên cứu vấn đề nâng cao kỹ năngDHHTN, cũng như chưa có những giải pháp cụ thể để nâng cao kỹ năngDHHTN cho GV Đặc biệt, vấn đề nâng cao kỹ năng DHHTN cho GV Giáodục công dân THPT nói chung và trên địa bàn tỉnh Quảng Bình nói riêng thìchưa có một công trình nào nghiên cứu

Chúng tôi nhận thấy, việc nâng cao kỹ năng DHHTN cho GV GDCDbậc THPT là một trong những vấn đề đang được quan tâm hiện nay Chính vìthế, quá trình nghiên cứu, tìm hiểu các công trình khoa học của các tác giả cóvai trò quan trọng, giúp chúng tôi tiếp tục phát triển và hoàn thiện hơn về cơ

sở lý luận DHHTN để từ đó xác định được hệ thống kỹ năng DHHTN cho giáoviên GDCD THPT nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn GDCD ởcác trường THPT nói chung và trên địa bàn tỉnh Quảng Bình nói riêng

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ lý luận và thực trạng vận dụng kỹ năng DHHTN củagiáo viên GDCD THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, luận văn đề xuất cácgiải pháp nâng cao kỹ năng DHHTN cho giáo viên, góp phần đổi mới dạy họcmôn GDCD ở trường THPT

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt mục đích trên, luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau:

- Phân tích cơ sở lý luận của việc vận dụng kỹ năng DHHTN cho giáoviên GDCD THPT

Trang 11

- Khảo sát, đánh giá thực trạng kỹ năng DHHTN của giáo viên GDCDTHPT trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.

- Đề xuất một số giải pháp nâng cao kỹ năng DHHTN cho đội ngũ giáoviên GDCD THPT nói chung và GV trên địa bàn tỉnh Quảng Bình nói riêng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu quá trình vận dụng và nâng cao kỹ năng DHHTNcho GV GDCD ở bậc THPT

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận của PPDH tích cực và kỹnăng DHHTN của GV, luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng và đề ra cácgiải pháp nhằm nâng cao kỹ năng DHHTN cho GV GDCD trên địa bàn tỉnhQuảng Bình

5 Cở sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, lịch sử, lôgic nhằm xác lập những quan điểm lý luận cơ bản của vấn đề nghiên cứu

Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Sử dụng phương pháp điều tra, phỏng vấn, quan sát, tổng kết kinhnghiệm, phương pháp chuyên gia nhằm khảo sát, đánh giá thực trạng vận dụng

kỹ năng DHHTN của GV GDCD

Trang 12

Các phương pháp thống kê toán học

Nhằm xử lý các kết quả điều tra, khảo sát trong quá trình nghiên cứu

6 Giả thuyết khoa học

Thực trạng vận dụng kỹ năng dạy học hợp tác nhóm của đội ngũ GVGDCD nói chung và GV trên địa bàn tỉnh Quảng Bình nói riêng đang cònnhiều vấn đề bấp cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của việc đổi mới phươngpháp dạy học Các giải pháp mà luận văn đưa ra nếu được nhận thức và vậndụng vào thực tiễn dạy học một cách phù hợp sẽ nâng cao chất lượng dạy họcmôn GDCD ở trường THPT hiện nay

7 Đóng góp về mặt khoa học của luận văn

Đề tài góp phần làm rõ lý luận về kỹ năng DHHTN trong quá trình tổchức dạy học ở trường THPT, từ đó xây dựng quy trình, kỹ thuật và thao tácvận dụng kỹ năng DHHTN cho giáo viên GDCD ở trường THPT

Thông qua khảo sát thực trạng đổi mới PPDH và kỹ năng DHHTN của

GV GDCD ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, phát hiện những

ưu điểm và những vấn đề tồn tại, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao kỹnăng DHHTN cho GV

Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho đội ngũ GV dạyhọc môn GDCD nói chung và GV trên địa bàn tỉnh Quảng Bình nói riêng

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận vănđược kết cấu thành 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của việc nâng cao kỹ năng dạy học hợp tác

nhóm cho giáo viên Giáo dục công dân trung học phổ thông

Chương 2: Thực trạng kỹ năng dạy học hợp tác nhóm của giáo viên

Giáo dục công dân trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

Trang 13

Chương 3: Giải pháp nâng cao kỹ năng dạy học hợp tác nhóm cho đội ngũ

giáo viên Giáo dục công dân trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

Trang 14

B NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NÂNG CAO KỸ NĂNG DẠY HỌC HỢP TÁC NHÓM CHO GIÁO VIÊN GIÁO DỤC CÔNG DÂN TRUNG HỌC PHỔ

THÔNG 1.1 Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài

1.1.1 Khái niệm kỹ năng và kỹ năng dạy học

1.1.1.1 Khái niệm kỹ năng

Trong lịch sử nghiên cứu khoa học giáo dục, có nhiều tác giả đưa ranhững quan điểm khác nhau về kỹ năng Có thể nêu ra một số quan điểm nổibật sau:

Theo từ điển Tiếng Việt: “Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức

đã thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó áp dụng vào thực tế” [26; 667] Theo quan điểm của tác giả Lưu Xuân Mới thì cho rằng: “Kỹ năng là khảnăng thực hiện có kết quả những hành động trên cơ sở những tri thức có đượcđối với việc giải quyết những nhiệm vụ đặt ra cho phù hợp với điều kiện chophép” hay “kỹ năng là tri thức trong hành động” [25; 125]

Theo tác giả Đặng Thành Hưng, kỹ năng là những dạng chuyên biệt củanăng lực nhằm thực hiện hành động cá nhân Năng lực luôn được xem xét trongmối quan hệ với một dạng hoạt động nhất định Năng lực phải được cấu thànhbởi ba thành tố căn bản: Tri thức về lĩnh vực hoạt động và cách tiến hành; Kỹnăng tiến hành hoạt động; Những điều kiện tâm lý để tổ chức thực hiện tri thức

và kỹ năng trong một cơ cấu thống nhất và có định hướng cụ thể [19; 7]

PGS.TS Lê Văn Hồng cho rằng: “Kỹ năng là khả năng vận dụng kiếnthức (khái niệm, cách thức, phương pháp ) để giải quyết một nhiệm vụ mới”[17; 109]

Trên cơ sở những quan điểm đã trình bày chúng ta thấy rằng, kỹ năng đượcxem xét chủ yếu thiên về kỹ thuật hành động phù hợp của chủ thể với mục đích

và điều kiện hoạt động mà con người đã nắm vững Người có kỹ năng để tiến

Trang 15

hành thực hiện một hoạt động nào đó là người nắm được các tri thức về hoạtđộng và thực hiện hành động theo đúng yêu cầu của nó Đồng thời, xem xét kỹnăng nghiêng về mặt năng lực con người, khẳng định kỹ năng như là một thành tốquan trọng trong mỗi cá nhân để thực hiện một công việc nào đó có hiệu quả Nhưvậy, kỹ năng không chỉ thể hiện ở mặt kỹ thuật mà còn thể hiện ở mặt năng lựccủa mỗi người Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay mộthoạt động phức tạp bằng cách áp dụng hay lựa chọn những cách thức đúng đắntrên cơ sở những điều kiện nhất định, một người có kỹ năng hành động là phảinắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức của hành động và thực hiện hànhđộng có kết quả

Xét một cách tổng quát, kỹ năng được hiểu là quá trình thực hiện cáchoạt động ở mỗi người một cách thành thạo, linh hoạt, phù hợp với các mụctiêu trong những điều kiện nhất định Hoạt động của con người chỉ thực sự cóhiệu quả khi biết vận dụng chúng một cách linh hoạt, sáng tạo Kỹ năng baogiờ cũng gắn với một hành động hay một hoạt động cụ thể nào đó, thể hiện sựlựa chọn và vận dụng tri thức cho phù hợp với mục tiêu và các điều kiện cụ thể

Từ đó, có thể khẳng định rằng: Kỹ năng chính là năng lực sử dụng cáctri thức hay những khái niệm đã có, năng lực vận dụng chúng để phát hiệnnhững thuộc tính bản chất của các sự vật và giải quyết thành công nhữngnhiệm vụ lí luận hay thực tiễn xác định nhằm đạt được mục tiêu đề ra

* Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kỹ năng.

Sự dễ dàng hay khó khăn trong quá trình vận dụng kiến thức là tuỳthuộc ở khả năng nhận dạng kiểu nhiệm vụ, bài tập, tức là tìm kiếm, phát hiệnnhững thuộc tính và quan hệ vốn có trong nhiệm vụ hay bài tập của nội dungbài học để thực hiện cho mục đích nhất định Chính vì thế, sự hình thành kỹnăng chịu ảnh hưởng của các yếu tố sau:

Thứ nhất: nội dung của bài học, bởi vì nhiệm vụ đặt ra được cụ thể hoá

chính từ nội dung bài học Do đó, nội dung quá khó, trừu tượng, hay nội dung

Trang 16

bị che phủ bởi những yếu tố phụ làm lệch hướng tiếp nhận của tư duy nên nó

sẽ ảnh hưởng tới sự hình thành kỹ năng

Thứ hai: tâm thế và thói quen, tâm thế và thói quen cũng là một trongnhững yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kỹ năng Vì thế, tạo tâm thế thuậnlợi trong việc dạy và học sẽ giúp cho cả người dạy lẫn người học dễ dàngtrong việc hình thành và phát triển kỹ năng

Thứ ba: có khả năng khái quát, nhìn đối tượng một cách toàn thể; trongtâm lý học, khái quát hóa được xác định là một quá tình tư duy mà ở đó conngười dùng trí óc để liên kết nhiều đối tượng khác nhau nhưng có chungnhững thuộc tính, mối quan hệ… nhất định vào một nhóm Khả năng kháiquát và nhìn đối tượng một cách tổng thể sẽ có vai trò to lớn trong việc hìnhthành và phát triển kỹ năng dạy học cho mỗi GV, bởi vì nếu người nào có khảnăng khái quát tốt, nắm và hiểu được đối tượng thì việc hình thành và pháttriển kỹ năng dạy học của mình sẽ thuận lợi so với những người khác

Như vậy, thực chất của sự hình thành kỹ năng là hình thành cho cảngười dạy và người học nắm vững một hệ thống phức tạp các thao tác nhằmlàm biến đổi và sáng tỏ những thông tin chứa đựng trong nội dung bài học,trong nhiệm vụ và đối chiếu chúng với một hành động cụ thể

1.1.1.1 Khái niệm kỹ năng dạy học

Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, việc cung cấp những tri thứcmới (nội dung dạy học là rất cần thiết), nhưng việc tổ chức dạy học sau đó(phương pháp và kỹ năng) để con người khai thác và thể hiện thông tin, từ trítuệ mình đến hành vi sáng tạo của cá nhân là việc không kém phần quan trọng

đó chính là việc tổ chức dạy học Dạy học là khái niệm để chỉ hoạt độngchung của người dạy và người học, hai hoạt động này tồn tại song song vớinhau, cùng phát triển trong một quá trình thống nhất Quá trình này là một bộphận hữu cơ của giáo dục tổng thể, trong đó, vai trò của nhà sư phạm là địnhhướng tổ chức, thực hiện việc truyền thụ tri thức, kỹ năng và kỹ xảo đến ngườihọc một cách hợp lý, khoa học, luôn có vai trò chủ đạo Người học tiếp thu một

Trang 17

cách có ý thức độc lập và sáng tạo hệ thống kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo, hìnhthành năng lực và thái độ đúng đắn Người học là chủ thể sáng tạo của việc học.Theo quan điểm tiếp cận hệ thống thì vai trò chủ đạo của GV được thểhiện qua việc định hướng, tổ chức, điều khiển các hoạt động, luôn có ý nghĩađặc biệt đối với việc đảm bảo chất lượng của HS trong học tập

Quá trình dạy học diễn ra có kết quả hay không phụ thuộc rất lớn vào kỹnăng dạy học của GV Đó là một trong những khâu quan trọng nhất của quátrình học tập Trong mỗi khâu đã giải quyết những vấn đề chung cũng nhưnhững vấn đề riêng của dạy học, việc kết hợp những chức năng chung và chứcnăng đặc thù trong mỗi một khâu trong quá trình dạy học là điều kiện quyếtđịnh đối với sự thành công của dạy học Chính vì thế, kỹ năng dạy học là khảnăng thực hiện, tổ chức, điều khiển các hoạt động dạy học của GV một cáchthành thạo, linh hoạt, trong những điều kiện nhất định nhằm đạt được mục tiêu

- Kỹ năng luôn được biểu hiện qua các nội dung cụ thể, vì nó là kiếnthức trong hành động dựa trên cơ sở tri thức Mỗi một nội dung cụ thể sẽ cónhững kỹ năng tương ứng

- Kỹ năng được hình thành bằng con đường luyện tập, và chỉ có thôngqua con đường luyện tập thì con người mới hình thành được kỹ năng Do vậy,muốn hình thành và thực hiện tốt kỹ năng dạy học, đòi hỏi người GV cần phảinắm vững một hệ thống phức tạp các thao tác nhằm làm biến đổi và sáng tỏcác thông tin chứa đựng trong bài tập, trong nhiệm vụ

Trang 18

Muốn vậy, khi hình thành kỹ năng dạy học đòi hỏi người GV cần xácđịnh được yếu tố đã có, yếu tố cần thực hiện và mối quan hệ biện chứng giữacác yếu tố này Đồng thời, phải hình thành một mô hình khái quát để giảiquyết tốt các nội dung của bài học và xác lập được mối liên hệ giữa các câuhỏi, bài tập tương ứng với kiến thức bài học.

Như vậy, hoạt động dạy và hoạt động học, cũng như mục đích mà haihoạt động đó nhằm hướng tới là những tri thức cần cho cả thầy và trò Để thựchiện được yêu cầu đó, cần phải có tay nghề tinh thông, tay nghề đó chính là kỹnăng dạy học của mỗi GV, đây là yêu cầu hết sức quan trọng

1.1.2 Khái niệm hợp tác và dạy học hợp tác

1.1.1.2 Khái niệm hợp tác

Trong cuộc sống, con người cần phải biết HT với nhau, HT biểu hiện ở việcmọi người cùng bàn bạc trong công việc chung, phối hợp nhịp nhàng, biết vềnhiệm vụ của mỗi người và sẵn sàng hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau khi cần thiết

Theo từ điển Tiếng Việt: “Hợp tác là cùng chung sức giúp đỡ nhau trongmột công việc, một lĩnh vực nào đó, nhằm một mục đích chung” [26; 600].Mỗi người đều có những điểm mạnh và hạn chế riêng Sự HT trong côngviệc giúp mọi người hỗ trợ, bổ sung cho nhau, tạo nên sức mạnh trí tuệ, tinhthần và thể chất, vượt qua khó khăn, đem lại hiệu quả và chất lượng hơn chocông việc chung Mặt khác, trong xã hội hiện đại, lợi ích của mỗi cá nhân vàcộng đồng phụ thuộc vào nhau, ràng buộc lẫn nhau, mỗi người như một chitiết của một cổ máy lớn, phải vận hành đồng bộ, nhịp nhàng, không thể hànhđộng riêng lẽ Vì vậy, biết HT trong công việc chung là một phẩm chất quantrọng của người lao động mới, là yêu cầu đối với người công dân trong một xãhội hiện đại Trong hoạt động dạy học, HT sẽ mang lại hiệu quả cao trong quátrình lĩnh hội tri thức mới, tạo sức mạnh tổng hợp nhằm đạt được mục đíchchung HT phải dựa trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, các bên cùng có lợi vàkhông làm phương hại đến lợi ích của người khác

Trang 19

Trong luận văn này, khái niệm hợp tác được hiểu là sự tự nguyện củacác cá nhân cùng làm việc, bàn bạc, xây dựng kế hoạch hoạt động và phâncông nhiệm vụ cụ thể cho phù hợp với khả năng của từng người Các thànhviên biết phối hợp nhịp nhàng với nhau trong công việc; sẵn sàng chia sẽ ýkiến, kinh nghiệm, sáng kiến; sẵn sàng hỗ trợ, giúp đỡ nhau trong quá trìnhhoạt động nhằm đạt mục đích chung cũng như mục đích riêng của mỗi thànhviên trên cơ sở nổ lực chung Các thành viên trong nhóm biết đánh giá, rútkinh nghiệm sau mỗi hoạt động để có thể cùng nhau HT tốt hơn trong các hoạtđộng tiếp theo.

1.1.1.3 Khái niệm dạy học hợp tác

Đổi mới PPDH yêu cầu HS phải suy nghĩ nhiều hơn, làm việc và thảoluận nhiều hơn Điều đó có nghĩa là HS phải có sự cố giắng trí tuệ và nghị lựccao trong quá trình tự học và tiếp cận kiến thức mới, phải thực sự suy nghĩ vàlàm việc một cách tích cực, độc lập Đồng thời, phải có mối quan hệ HT giữacác cá nhân trên con đường tìm tòi và phát hiện tri thức mới Lớp học là môitrường giao tiếp giữa Thầy - Trò ; Trò -Trò, do đó cần phát huy tác dụng tíchcực của các mối quan hệ này bằng các hoạt động HT theo nhóm, tạo điều kiệncho mỗi HS nâng cao trình độ của mình qua việc vận dụng vốn hiểu biết vàkinh nghiệm của từng cá nhân và của tập thể

Trong phương pháp dạy học tích cực, mục tiêu là chung nhưng mỗingười có nhiệm vụ riêng, các hoạt động của mỗi cá nhân được tổ chức, phốihợp để đạt được mục tiêu chung Trong DHHT điều đặc biệt là luôn luôn phải

có sự HT giữa người dạy và người học, giữa người học với người học Theokiểu DHHT, người học sẽ được chia thành các nhóm nhỏ để thực hiện cáchoạt động học tập như thảo luận, đóng vai, giải quyết vấn đề, là chủ thể tíchcực trong việc lĩnh hội tri thức thông qua HT giữa GV và HS và giữa HS với

HS, góp phần tạo ra sự thành công của nhóm Hoạt động trong nhóm sẽ giúptừng thành viên quen dần với sự phân công HT, nhất là lúc giải quyết nhữngvấn đề phức tạp, lúc xuất hiện những nhu cầu HT để hoàn thành công việc

Trang 20

Như vậy, trong HTN, mỗi thành viên không chỉ có trách nhiệm thực hiệnnhững công việc mà nhóm phân công mà còn phải có trách nhiệm giúp đỡ cácthành viên khác trong nhóm để cùng hoàn thành nhiệm vụ của GV đề ra, tạonên sự thành công của nhóm

Dạy học hợp tác

Như vậy, theo chúng tôi, DHHT là cách dạy mà trong đó GV tổ chứccho HS cùng tham gia học tập với nhau Mục đích, nội dung học tập, cáchthức tổ chức dạy học được tiến hành dựa trên những nguyên tắc, đặc điểm,yêu cầu của học tập hợp tác DHHT một mặt tạo ra môi trường thuận lợi, thânthiện cho HS tiếp thu, lĩnh hội kiến thức, mặt khác rèn luyện cho họ kỹ năng

HT với nhau trong hoạt động học tập Do đó, để DHHT thành công, trong quátrình tổ chức dạy học, GV cần đảm bảo các yêu cầu sau: xây dựng hệ thốngcâu hỏi, bài tập bắt buộc HS phải tư duy; tạo ra môi trường hoạt động gần gủi,tin tưởng lẫn nhau, đoàn kết các thành viên trong nhóm; đảm bảo cho cácthành viên trong nhóm đều phải làm việc; khuyến khích tính năng động, sángtạo và tạo ra hứng thú cho người học; rèn luyện cho người học cách nhận xét,đánh giá và tiếp thu ý kiến của người khác nhằm mang lại hiệu quả trong quátrình dạy học

1.1.2 Khái niệm nhóm và kỹ năng dạy học hợp tác nhóm

1.1.2.1 Khái niệm nhóm

Khái niệm khoa học

HOẠT ĐỘNG HỌC Tiếp thu kiến thức

HOẠT ĐỘNG DẠY

Truyền đạt kiến thức

Khái niệm khoa học

Trang 21

Trong hoạt động lao động sản xuất, con người luôn có nhu cầu hìnhthành những mối liên hệ gần gũi để trao đổi kinh nghiệm, tâm tư tình cảm vớinhau, để tạo ra sức mạnh tập thể nhằm chống lại kẻ thù bảo vệ cuộc sống củachính mình Từ những mục đích chung, con người tập hợp lại với nhau, cómối quan hệ chặt chẽ hình thành nên nhóm người Dưới góc độ của tâm lý học

- xã hội, “nhóm” là một cộng đồng người có mối quan hệ gắn bó, thống nhấtvới nhau trên cơ sở một số dấu hiệu chung có quan hệ đến việc thực hiện hoạtđộng trực tiếp hay gián tiếp nào đó

Theo từ điển Tiếng Việt: “Nhóm là tập hợp gồm một số cá thể đượchình thành theo những nguyên tắc nhất định” [26; 929]

Dựa vào số lượng, người ta chia nhóm thành nhóm lớn và nhóm nhỏ

“nhóm nhỏ” được hiểu là một tập hợp người nhất định, có ít nhất là từ 2 ngườitrở lên gắn bó với nhau bởi một hệ thống các quan hệ đã được thể hiện hóa, cónhững giá trị, đặc điểm chung nhất định

Với đặc điểm “nhóm nhỏ” được trình bày ở trên, chúng ta cần phân biệt

sự khác nhau giữa nhóm nhỏ học tập và nhóm nhỏ trong xã hội Nguyên nhândẫn đến sự khác biệt là do có hoạt động chung khác nhau

Trong luận văn thạc sĩ của mình, tác giả Đào Thị Thuý cho rằng:

“Nhóm trong dạy học là tập hợp các cá nhân nhằm hợp tác với nhau trong quátrình học tập, giữa họ có sự tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau trong quá trìnhthực hiện hoạt động chung” [33; 11]

Như vậy, với những đặc điểm của nhóm trong DH, chúng tôi cho rằng:nhóm nhỏ học tập là một đơn vị nhỏ nhất cấu thành nên tập thể lớp học, nóbao gồm một tập hợp những cá nhân HS được liên kết với nhau trong một hoạtđộng chung nhằm thực hiện những nhiệm vụ học tập Đồng thời, trong quátrình liên kết đó sẽ hình thành và tích hợp các quan hệ tư tưởng tình cảm, đạođức Như vậy, đặc trưng của nhóm nhỏ học tập trong nhà trường chính là hoạtđộng học tập và nó luôn có sự tham gia đầy đủ của các nhân tố: sự tương tácchia sẻ mục tiêu, cùng giúp đỡ nhau để hoàn thành nhiệm vụ học tập

Trang 22

1.1.2.2 Khái niệm kỹ năng dạy học hợp tác nhóm

DHHTN là một PPDH cụ thể trong nhóm các PPDH tích cực, đó là hìnhthức tổ chức dạy học đề cao vai trò của sự HT và hoạt động tập thể, đề caotrách nhiệm của mỗi cá nhân đối với tập thể, định hướng tăng cường sự tươngtác trong học tập của HS Trong DHHTN, HS được rèn rất nhiều kỹ năng quantrọng và thiết thực như: lắng nghe, thu thập và xử lý thông tin, trình bày vấn

đề, điều khiển, tranh luận, hoà nhập, hợp tác DHHTN được hiểu là cách dạytrong đó HS trong lớp được tổ chức thành các nhóm một cách thích hợp, đượcgiao nhiệm vụ và khuyến khích thảo luận, hướng dẫn HT làm việc với nhau đểcùng đạt được kết quả chung là hoàn thành nhiệm vụ cá nhân

Để tiến hành DHHTN có hiệu quả, GV cần có những kỹ năng nhất địnhtrong cách thức, quy trình thực hiện như: chú trọng đan xen giữa các thànhviên tích cực và thụ động trong mỗi nhóm; dự kiến các tình huống có thể nảysinh; nhiệm vụ hợp tác nhóm phải rõ ràng, hấp dẫn; quan tâm đến việc giúp

đỡ, hướng dẫn khi các nhóm gặp khó khăn; tạo ra không khí thi đua giữa cácnhóm với nhau để kích thích hứng thú học tập của HS

Như vậy, kỹ năng DHHTN được hiểu là năng lực tổ chức, điều hànhcủa GV đối với các nhóm nhỏ HS trong việc lĩnh hội các tri thức hay nhữngkhái niệm đã có và vận dụng chúng để phát hiện những thuộc tính bản chấtcủa các sự vật và giải quyết thành công những nhiệm vụ lí luận hay thực tiễn

đã xác định nhằm đạt được mục tiêu đề ra

Trang 23

* Các bước của quá trình DHHTN

Bước 1: Làm việc chung cả lớp:

a) Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức

b) Tổ chức các nhóm, giao nhiệm vụ cho nhóm

c) Hướng dẫn cách làm việc theo nhóm

Bước 2: Làm việc theo nhóm:

a) Trao đổi ý kiến thảo luận trong nhóm hoặc phân công trong nhómtừng cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi;

b) Cử đại diện trình bày kết quả làm việc của nhóm

Bước 3: Thảo luận, tổng kết trước toàn lớp

a) Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả

b) Các nhóm bổ sung những nội dung còn thiếu

c) Thảo luận chung

d) GV tổng kết đặt vấn đề cho bài tiếp theo hoặc vấn đề tiếp theo

* Các hình thức chia nhóm trong dạy học

Việc chia nhóm tuỳ vào số lượng HS trong lớp, thường trong một nhóm

có khoảng từ 2 đến 8 (con số này có thể tăng hoặc giảm tuỳ theo nhiệm vụ củanhóm, cơ sở vật chất hiện có, trình độ của người học, thời gian dành chonhiệm vụ, ) Thực tế thì mục tiêu của học tập theo hình thức nhóm là giúpngười học thảo luận, trao đổi, chất vấn ý kiến của người khác, từ đó sản sinh ra

23

Nhóm 1 Nhóm 3

Nhóm 4

Nhóm HS3

Trang 24

nhiều ý kiến đa dạng hơn, cho phép từng thành viên được trình bày quan điểmcủa mình trước tập thể nhằm mang lại hiệu quả cao cho quá trình học tập

Từ cách hiểu như vậy trong dạy học, căn cứ vào mục tiêu, nội dung củacác nhiệm vụ học tập, trình độ của HS, có thể phân ra các hình thức chia nhómkhác nhau như:

- Hình thức chia nhóm đồng nhất: Việc chia nhóm đồng nhất là tập hợp

HS có cùng mức độ trình độ về nhận thức và một số điều kiện, đặc điểm khác.Việc chia nhóm cùng một trình độ được áp dụng khi cần có sự phân hoá vềtrình độ: giỏi, khá, trung bình, yếu và tuỳ vào mức độ khó, dễ của nội dung bàihọc để chia thành các nhóm tương ứng Với cách chia này GV có thể đưa ranhững yêu cầu cụ thể khác nhau đối với từng nhóm trong việc giải quyết cùngmột nhiệm vụ học tập

- Hình thức chia nhóm hỗn hợp: Được tạo bởi một tập hợp các HS có

sự khác biệt nhau về trình độ, về nhận thức và một số điều kiện, đặc điểmkhác Cách chia nhóm theo hình thức này thường được sử dụng khi nội dungbài học cần có sự hỗ trợ lẫn nhau của cả hoạt động dạy và học Trong trườnghợp này cần phải xác định được vai trò của nhóm trưởng, nhóm trưởng làngười có năng lực hơn các thành viên khác trong nhóm

Tùy theo tính chất phân hóa về nhận thức ở cấp độ lớp hay nhóm mà

GV chọn lựa kiểu nhóm phù hợp Khi quyết định bố trí số lượng HS trongnhóm hợp tác, GV cần chú ý:

+ Số lượng HS trong nhóm HTHT được bố trí nhiều thì nhóm hợp tác

sẽ có nhiều cơ hội tham gia thực hiện nhiệm vụ, đồng thời năng lực, kỹ nănghoạt động trí tuệ để lĩnh hội kiến thức có nhiều khả năng phát triển Tuy nhiênđiều này có thể dẫn đến khó khăn hơn trong quản lý về tổ chức và thời gian đểhọc tập và rèn luyện các kỹ năng hợp tác trong quá trình DHHT Do vậy việcxác định số lượng thành viên trong nhóm HTHT phải được xem xét trên cơ

sở mục tiêu bài học, kỹ năng hợp tác, nội dung bài học, phương tiện đồ dùngdạy học và thời gian duy trì nhóm HTHT

Trang 25

Thông thường, trong dạy học hợp tác nhóm, để thuận tiện và mang lạihiệu quả cao trong quá trình dạy học, lớp học thường được chia thành cácnhóm nhỏ từ 2 đến 8 HS (2 bàn), tùy mục đích yêu cầu của tiết học các nhómđược phân chia ngẫu nhiên hoặc có chỉ định Các nhóm được chia ổn địnhtrong cả tiết học hoặc thay đổi trong từng phần học của tiết học, các nhómđược giao cùng một nhiệm vụ hoặc những nhiệm vụ khác nhau Trong nhóm

có thể phân công mỗi thành viên hoàn thành một phần việc

Trong nhóm nhỏ, mỗi thành viên đều phải làm việc tích cực, không ỷ lạivào một vài người có hiểu biết và năng động hơn Các thành viên trong nhómgiúp đỡ nhau tìm hiểu vấn đề trong không khí thi đua với các nhóm khác, kếtquả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của cả lớp.Đến khâu trình bày kết quả làm việc của nhóm trước toàn lớp, nhóm có thể cửmột vài đại diện hoặc phân công một thành viên trình bày

1.2 Cơ sở khoa học và vai trò của kỹ năng dạy học hợp tác nhóm trong dạy học môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông

1.2.1 Cơ sở khoa học của dạy học hợp tác nhóm

1.2.1.1 Cơ sở triết học

Theo quan điểm triết học, nguồn gốc của mọi sự vận động, phát triển làmâu thuẫn, là sự đấu tranh giữa các mặt đối lập Nguyên nhân vận động củaquá trình dạy học cũng là sự nảy sinh và giải quyết những mâu thuẫn cơ bảnbên trong Học là quá trình nảy sinh và giải quyết các mâu thuẩn bên trong vàbên ngoài, để từ đó tạo ra nội lực và ngoại lực thúc đẩy sự phát triển năng lựccủa bản thân người học Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng thìmọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan đều vận động và phát triểnkhông ngừng Nguyên nhân của sự vận động và phát triển này là do quá trìnhgiải quyết liên tục các mâu thuẩn bên trong và bên ngoài của sự vật, hiệntượng, mà mâu thuẩn bên trong là cơ bản Sự phát triển sẽ đạt đến trình độ caonhất khi quá trình giải quyết mâu thuẩn bên trong và bên ngoài cộng hưởngvới nhau tạo thành một hợp lực

Trang 26

Chính vì thế, hoạt động dạy – học là quá trình giải quyết mâu thuẫngiữa yêu cầu nhiệm vụ học tập ngày càng cao với trình độ hiện còn thấp của

HS Từ đây, phương pháp tổ chức quá trình dạy học của người thầy nhất thiếtphải tập trung vào sự phát hiện và giải quyết mâu thuẫn cơ bản này Tuynhiên, mâu thuẫn này phải do chính HS giải quyết dưới sự chỉ đạo hướng dẫncủa GV mới đạt hiệu quả cao nhất Sở dĩ như vậy bởi vì theo quy luật pháttriển, trong quá trình đấu tranh giải quyết mâu thuẫn, nội lực là yếu tố quyếtđịnh cho sự phát triển, còn ngoại lực mặc dù rất quan trọng và cần thiết nhưngchỉ đóng vai trò tác động bên ngoài, là yếu tố thúc đẩy Từ cơ sở lý luận nàycho thấy, trong quá trình dạy học, sự nỗ lực, quyết tâm của chính HS là nhân

tố quyết định kết qủa học tập của các em, điều này đòi hỏi người học phải biết

tự học, người GV dù tài giỏi đến đâu cũng chỉ là sự tác động bên ngoài mà thôi

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, năng lực tự học sẽ khó có thể phát triểnđược nếu thiếu đi vai trò tổ chức và hướng dẫn của GV và sự hợp tác của cácbạn cùng học trong lớp Quá trình tự nghiên cứu, cá nhân hoá việc học phảibiết kết hợp với việc HT với các bạn trong nhóm, trong lớp và quá trình tổchức hoạt động dạy của GV tức là quá trình xã hội hoá hoạt động học, điềunày đòi hỏi người học cần phải có những kĩ năng học tập nhất định phù hợpvới quá trình DHHTN

Như vậy, PPDH nói chung, PPDH môn GDCD nói riêng cần phải đượcđổi mới theo hướng giải quyết những mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình dạyhọc và giáo dục phải do chính HS tự lực giải quyết dưới sự giúp đỡ của GV.Người thầy giáo không phải truyền đạt chân lý đến cho trò mà dạy cho HScon đường đi tìm chân lý

1.2.1.2 Cơ sở tâm lý học

Để tổ chức quá trình dạy học – giáo dục trong nhà trường một cáchđúng đắn và khoa học cần phải hiểu rõ các quy luật tâm lý của chính quá trìnhhọc tập – quá trình lĩnh hộ tri thức, hình thành kỹ năng và kỹ xảo, tư duy tíchcực, độc lập và sáng tạo Chính vì thế, trong giáo dục cần có sự hiểu biết về

Trang 27

tâm lý học, không thể giáo dục đúng, nếu không biết những quy luật tâm lýcủa quá trình hình thành nhân cách, đặc biệt là những quy luật hình thànhniềm tin và thói quen đạo đức Nếu không hiểu biết các đặc điểm tâm lý củatrẻ ở những lứa tuổi nhất định thì không thể có sự giảng dạy và giáo dục mộtcách phù hợp đúng mục đích được Do đó, chính GV, người làm công tác giáodục và giảng dạy không thể tiếp xúc một cách đơn giản với HS ở một lứa tuổinhất định mà là với những HS cụ thể với một cá tính cụ thể ở một lứa tuổi cụthể Những khác biệt cá nhân trong phạm vi một lứa tuổi mà GV cần biết mộtcách hoàn chỉnh là hết sức quan trọng

Tâm lý học khẳng định rằng, con người bao giờ cũng có xu hướng vươnlên khẳng định cá nhân độc đáo của mình Trong mối quan hệ tự nhiên, conngười có xu hướng muốn tách khỏi tự nhiên để khẳng định bản chất của mình;trong mối quan hệ với xã hội, con người lại muốn tách mình ra khỏi cộngđồng để khẳng định tính độc đáo cá nhân Đối với HS ở lứa tuổi THPT, tính tựlập và ước muốn khẳng định mình là nguyện vọng rất mạnh mẽ Trong quátrình tham gia học tập, các em thích đưa ra những câu hỏi về nguyên nhân củacác hiện tượng, thích đề xuất và tranh luận về các quan điểm khác nhau và tựmình rút ra kết luận vấn đề Tuy nhiên, mong ước thể hiện mình đã khôngđược thoả mãn, đặc biệt gay gắt khi các GV sử dụng các PPDH truyền thốngvới những đặc trưng đã từng nêu Điều đó làm nên không khí tâm lý giao tiếpđơn điệu, giờ học tẻ nhạt, đem lại hiệu quả không cao trong quá trình pháttriển nhân cách HS Từ đây, PPDH cần phải được đổi mới theo hướng tạo cơhội cho HS tham gia vào quá trình học tập của bản thân Đó là cách tốt nhất đểgiúp các em thoả mãn nhu cầu khẳng định bản sắc cá nhân độc đáo, phát huytất cả những tiềm năng sẵn có, bồi dưỡng ý thức tự khẳng định mình ở mỗi

HS Bởi vì ngay cả trường hợp nếu HS hiểu được ý mà GV giải thích cho họ,thì ý này cũng không bao giờ trở thành vốn riêng hoàn chỉnh của HS như khi

họ tìm ra

Trang 28

Theo các nhà tâm lý học, yếu tố đầu tiên và cơ bản nhất ảnh hưởng đến

sự hình thành và phát triển nhân cách HS là sự hình thành và phát triển mạnh

mẽ tính tích cực xã hội của chính bản thân các em Nhờ các yếu tố này mà các

em lĩnh hội được các giá trị về chuẩn mực đạo đức của xã hội, xây dựng đượcnhững quan hệ thoả đáng với người lớn, với bạn bè và cuối cùng là hướng vàobản thân, hình thành nhân cách của mình

Nắm được đặc điểm tâm lý lứa tuổi của HS THPT, đồng thời nắm vữngbản chất và vận dụng nó có hiệu quả trên cơ sở các nguyên tắc, đặc điểm củaphương pháp DHHTN sẽ phát huy được tính tích cực học tập của HS, là mụctiêu cần đạt của đổi mới PPDH hiện nay

1.2.1.3 Cơ sở xã hội học

Lịch sử loài người vận động và phát triển theo các hình thái kinh tế - xãhội nối tiếp nhau Căn cứ vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, củakhoa học - công nghệ, người ta chia các hình thái ấy thành những nền vănminh khác nhau Hiện nay, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đã đưa loàingười bước vào nền văn minh mới Cuộc cách mạng này đã tạo ra những dòngthác thông tin mới với nội dung và chất lượng có tính chất biến đổi vô cùngnhanh chóng Trong bối cảnh ấy, những PPDH truyền thống tỏ ra bất cậptrong quá trình cung cấp thông tin Trước sự phát triển của đa phương tiệntruyền thông, tri thức của người thầy giáo không còn là kênh thông tin duynhất, HS không chỉ học ở trường mà còn học từ cuộc sống thông qua hệ thốngphương tiện thông tin hiện đại Từ đây, nhiệm vụ của người thầy giáo khôngchỉ “dạy học” mà quan trọng là “dạy cách học ”, tức là dạy cách tiếp cận và xử

lý thông tin để tự biến đổi bản thân mình

Thế giới ngày nay là thế giới đầy năng động, không ngừng biến đổi trênkhắp các mặt của đời sống xã hội Lao động của con người trong thời đại này làlao động sáng tạo Do đó, con người ở thời đại này phải hình thành cho mìnhkhả năng chuyển đổi nghề nghiệp nhanh chóng, sẵn sàng tiếp thu tri thức mới

Trang 29

Mỗi người đều có những điểm mạnh và hạn chế riêng Sự hợp tác trongcông việc giúp mọi người hỗ trợ, bổ sung cho nhau, tạo nên sức mạnh trí tuệ,tinh thần và thể chất, vượt qua khó khăn, đem lại hiệu quả và chất lượng hơncho công việc chung Vì vậy, biết hợp tác trong công việc chung là một phẩmchất quan trọng của người lao động mới, là yêu cầu đối với người công dântrong một xã hội hiện đại Trong hoạt động dạy học, HT sẽ mang lại hiệu quảcao trong quá trình lĩnh hội tri thức mới, tạo sức mạnh tổng hợp nhằm đạt đượcmục đích chung Do đó, HT là một yếu tố không thể thiếu trong cuộc sống Vềmặt xã hội, HT luôn diễn ra trong cuộc sống của mỗi cá nhân, gia đình và toànthể cộng đồng

Theo tác giả Thái Duy Tuyên, “hợp tác đóng vai trò quan trọng trongcuộc sống con người, nó quyết định sự thành bại của mỗi cá nhân trong xã hội

và Ông cho rằng cần rèn luyện cho học sinh các kỹ năng hợp tác từ khi cònngồi trên ghế nhà trường, cần chú ý coi trọng việc dạy kỹ năng hợp tác nhưviệc dạy kiến thức và kỹ năng cơ bản khác [29; 95]

Quá trình học tập của mỗi người không chỉ là việc thu nhận kiến thứccho cá nhân mà thể hiện tính chủ thể của bản thân người học trong mối quan

hệ với các chủ thể khác Chính vì thế, những kiến thức mà cá nhân thu đượckhông chỉ là kết quả hoạt động riêng biệt của mỗi người, mà đó là kết quả củaquá trình cùng làm việc, chia sẽ, hợp tác Nếu không có mối quan hệ, không có

sự thúc đẩy hoàn cảnh sống của xã hội, của bạn học thì không có động lực học

1.2.1.4 Cơ sở lý luận dạy học

Trong quá trình DH, việc tổ chức phương pháp như thế nào có vai tròhết sức quan trọng Từ đó, người học có nhu cầu tìm kiếm thông tin mới, cókhả năng khai thác và thể hiện thông tin, từ trí tuệ của mình đến hành vi sángtạo của cá nhân Đó là những tiêu chí để xác định giá trị của việc đào tạo nhântài Nói cách khác, DH theo phương pháp mới có tác dụng hai chiều:

- Hội nhập tri thức của từng người vào tri thức của nhân loại

- Giải phóng tối đa tiềm năng của cá nhân từ nhu cầu tự giải phóng

Trang 30

“ Đừng bắt người ta uống phải làm cho người ta khát”, câu ngạn ngữnày có ý nghĩa sâu sắc trong cuộc sống và chính cả trong lĩnh vực DH tiến bộhiện nay Do đó, dạy học theo phương pháp tích cực mang tính chất nhân văncao đẹp: Đừng ép nhận thức, hãy cởi mở nhận thức, để trí tuệ được thăng hoa,tài năng được khai phóng Đó là mục tiêu lâu dài của dạy học.

Trong quá trình tìm kiếm con đường đổi mới PPDH cho nhà trườngViệt Nam hiện nay, tư tưởng DH hướng về người học, phát huy dân chủ, HTtrong DH là một trong những tư tưởng quan trọng nhất trong việc đổi mớiPPDH hiện nay Đó là điều kiện cơ bản để giúp cho người học thực sự trởthành chủ thể của quá trình học tập, phát huy được tinh thần làm chủ tri thứccủa mình

Khi bàn về vấn đề dân chủ, HT trong dạy học, trong thư gửi cho ngànhgiáo dục, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “ Trong nhà trường cần có dân chủ.Đối với mọi vấn đề, thầy và trò cùng nhau thảo luận, ai có ý kiến gì đều thậtthà phát biểu Điều gì chưa thống nhất thì phải hỏi, bàn cho thông suốt Dânchủ nhưng trò phải kính thầy, thầy phải quý trọng trò, chứ không phải là cáđối bằng đầu…” [32; 68]

“Khái niệm khoa học là điểm xuất phát của học, đồng thời là điểm kếtthúc của học Xuất phát từ lôgic của khái niệm khoa học và lôgic của của sựlĩnh hội khái niệm đó, người thầy phải tổ chức tối ưu hoá hoạt động dạy họccộng tác và cuối cùng làm cho học sinh tự giác, tích cực chiếm lĩnh được kháiniệm khoa học, phát triển được năng lực và hình thành thái độ” [14; 32]

Do dó, dạy là quá trình điều khiển HS chiếm lĩnh khái niệm khoa họccủa người dạy, còn học là quá trình tự điều khiển, tự giác chiếm lĩnh kháiniệm khoa học của người học dưới sự điều khiển của người thầy Hai hoạtđộng này luôn thống nhất với nhau thông qua HT trong quá trình dạy học

1.2.2 Vai trò của dạy học hợp tác nhóm trong dạy học môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông

Trang 31

1.2.2.1 Tạo ra sự đồng thuận, nhất trí, phát huy tư duy tích cực của học sinh

Tư duy là một quá trình nhận thức lí tính phản ánh những thuộc tính bêntrong, bản chất những mối liên hệ có tính chất quy luật của sự vật, hiện tượng

mà trước đó chúng ta chưa biết Tư duy có khả năng giúp con người nhận thức

về thế giới quan một cách chính xác và sâu sắc Chính vì vậy, phát triển nănglực nhận thức và tư duy cho HS là một việc làm cần thiết, nó trở thành mộttrong những mục đích quan trọng của qúa trình dạy học

Các nhà tâm lý học đã cho rằng, quá trình phát triển tư duy của HS gắnliền với yếu tố ngôn ngữ (ngôn ngữ là vỏ vật chất của tư duy) và kỹ năng giảiquyết các tình huống có vấn đề Đặc biệt, tình huống có vấn đề là yếu tố quantrọng đối với sự phát triển tư duy

Có nhiều PPDH giúp phát triển kỹ năng này nhưng dạy học theo hìnhthức HTN có nhiều điều kiện để kích thích HS phát triển tư duy, tạo ra sựđồng thuận và nhất trí đối với người học Thông qua việc thường xuyên HTN,những kỹ năng như sử dụng ngôn ngữ, phân tích tổng hợp suy luận, tranh luận

có căn cứ khoa học được phát triển nhờ quá trình hợp tác, bày tỏ chính kiếncủa mình với các bạn trong nhóm, sự tác động qua lại giữa các ý kiến, quanđiểm khác nhau

Cách dạy học cũ có thể cung cấp tri thức nhưng không dạy cho HS tìm

ra tri thức Đó chỉ là những tri thức “ngoại nhập” chứ không phải là những trithức “nội sinh” Nó không những làm cho trí tuệ con người chậm phát triển,

mà còn có thể làm bào mòn năng lực sáng tạo của người học Dạy học theophương pháp tổ chức HTN là tạo ra môi trường đánh thức tiềm năng trí tuệcủa con người Bằng cách đặt họ vào các tình huống cụ thể, sinh động, ngườihọc thông qua HT với người xung quanh để phát triển năng lực giải quyết tìnhhuống, chuyển những tri thức phiến diện chủ quan của bản thân thành tri thứckhách quan khoa học Chỉ có những kiến thức được hình thành như thế mớithật sự là tiền đề tốt để có một phẩm chất trí tuệ cao

Trang 32

DHHTN đặt ra cho mỗi HS sự kiên trì của lý trí, duy trì sự tham gia tíchcực của bản thân, luôn có ý thức và mong muốn được tham gia, được thể hiệnkinh nghiệm sống và vốn sống của mình trước tập thể, trước người dạy Điều

đó cũng có nghĩa là trong DHHTN, người học luôn ý thức được và nổ lực tựgiải quyết nhiệm vụ học tập Trong môi trường DHHTN người học phát huynăng lực tự chủ, khả năng sáng tạo, chống lại thói quen bảo thủ, dựa dẫm vàongười khác, tạo nên ý thức dám nghĩ, dám làm Hay nói cách khác, DHHTN sẽtạo ra môi trường, cơ hội thuận lợi cho việc hình thành nhân cách của conngười Tạo ra sự đồng thuận, nhất trí cao trong quá trình dạy học, nâng cao tính

tự giác, chủ dộng của HS trong quá trình tham gia vào hoạt động học tập với tưcách là chủ thể của hoạt động học và trung tâm của hoạt động dạy – học

Đặc trưng của môn học GDCD là nội dung kiến thức khá phong phú, đadạng, trừu tượng Tính đa dạng, trừu tượng, tổng hợp của tri thức môn GDCD

ở trường THPT được thể hiện nó là sự tổng hợp của tri thức triết học, kinh tếchính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học, pháp luật, những chủ trương, đườnglối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Chính vì thế, để nắm vững

và hiểu rõ bản chất vấn đề và vận dụng kiến thức vào cuộc sống, đòi hỏi cảngười dạy lẫn người học phải không ngừng học hỏi để nâng cao trình độ, phải

am tường kiến thức của nhiều lĩnh vực khác trong tự nhiên và xã hội, nắmvững và biết vận dụng kiến thức của các lĩnh vực, các bộ môn khoa học khácnhau vào dạy và học GDCD Do đó, trong quá trình dạy học môn GDCD đòihỏi cần có sự hợp tác lẫn nhau nhằm tạo ra tính tích cực, chủ động của mỗingười trong việc tiếp thu kiến thức

Tính tích cực, chủ động của mỗi người được biểu hiện trong hoạt động,đặc biệt là trong những hoạt động đặc trưng như: học tập, lao động, thể dụcthể thao, vui chơi giải trí, và các hoạt động xã hội khác Ở mỗi dạng hoạt độngnói trên, tính tích cực bộc lộ với những đặc điểm riêng Học tập là hoạt độngchủ đạo, là hoạt động đặc trưng của HS Vì vậy, tính tích cực học tập thực chất

là tính tích cực nhận thức, quá trình nhận thức trong học tập là nhằm lĩnh hội

Trang 33

những tri thức loài người đã tích luỹ được, nhưng phải khám phá ra nhữnghiểu biết mới đối với bản thân Muốn vậy, người học phải tích cực, chủ động

nỗ lực trong việc lĩnh hội, tìm kiếm tri thức mới

Để đảm bảo tính tích cực, chủ động, tự giác của HS trong việc lĩnh hộitri thức, đặc biệt là tri thức môn GDCD thì trong quá trình DH, hoạt động của

HS phải được thực hiện trong môi trường tập thể, trong các nhóm học tập vớinhau Các nhóm này phải được hình thành một cách tự giác, phù hợp và đápứng được với từng yêu cầu cụ thể của từng bài học Mặt khác, tính tự giác,tích cực, chủ động của HS trong việc thực hiện các hình thức tổ chức, cácnhiệm vụ của dạy – học luôn gắn liền với các hoạt động thảo luận, tranh luận,trao đổi ý kiến với bạn bè trong nhóm học tập, trong lớp, với GV Chính vìthế, DHHTN có vai trò rất lớn trong việc tạo ra sự đồng thuận, nhất trí, pháthuy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học trong quá trình tổ chứchoạt động dạy học

1.2.2.2 Tăng cường tính tương tác, giúp đỡ nhau trong quá trình dạy và học

Hoạt động dạy học là quá trình diễn ra bao gồm hoạt động dạy của GV

và hoạt động học của HS, hai hoạt động này diễn ra song song, tồn tại và pháttriển trong cùng một quá trình thống nhất Do đó, DHHTN giúp GV có thể xử

lý, tổ chức, điều hành một lớp học có nhiều HS với những nhu cầu khác nhau

HS được học tập trong một môi trường có sự tương tác với nhau, có thể giúp

đỡ nhau, hình thành và củng cố các mối quan hệ xã hội Mặt khác, trong quátrình hoạt động nhóm sẽ giúp cho từng thành viên quen dần với sự phân cônghợp tác, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực

sự nhu cầu hợp tác để hoàn thành công việc

DHHTN là nơi cụ thể hoá những yêu cầu chung, những chuẩn mực tổngquát của người dạy cho phù hợp với yêu cầu cá nhân để người học dễ hiểu, dễnhớ, dễ định hướng hành vi hằng ngày mà vẫn giữ được cái chung, cái tổngquát Tham gia HTN, người hoạt động một mặt vừa lĩnh hội tri thức, chuẩn

Trang 34

mực, mặt khác góp phần tự hoàn thiện giá trị nhân cách Như vậy, thảo luận,trao đổi, HT chính là môi trường hình thành và phát triển nhân cách cho ngườitham gia hoạt động

Môn GDCD ở trường THPT có vị trí hàng đầu trong việc định hướngphát triển nhân cách của HS thông qua việc cung cấp hệ thống tri thức cơ bản

về giá trị đạo đức - nhân văn, giúp các em biết được những chủ trương, đườnglối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước và kế thừa các truyền thốngđạo đức, bản sắc dân tộc Việt Nam; trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc

và chủ nghĩa xã hội; tiếp thu những giá trị tốt đẹp của nhân loại và thời đại để

từ đó hoàn thiện nhân cách cá nhân Do đó, khi tham gia HTN sẽ tạo điều kiệncho người học biết so sánh, đối chiếu với người khác để tự điều chỉnh hành vicủa mình cho phù hợp với yêu cầu nhận thức và yêu cầu xã hội Đó cũng làmột cách tốt nhất để hợp tác, hiểu biết lẫn nhau, kích thích tư duy của ngườihọc; giải phóng năng lực cá nhân và tự do hoạt động Suy nghĩ của người nàylại là liệu pháp kích thích tư duy của người khác, do vậy dạy học theo phươngpháp HTN có thể xuất hiện những ý hay, những biện pháp, giải pháp thôngminh, sáng tạo của người học, có thể huy động trí tuệ tập thể và trí tuệ cộngđồng nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học

Phương pháp DHHTN trong dạy học môn GDCD là một phương pháptạo cơ hội tối đa cho HS bộc lộ sự hiểu biết cũng như quan điểm của mình vềnội dung, phương pháp học tập, rèn luyện khả năng diễn đạt, cách thức tư duy

và ý tưởng Thông qua hợp tác nhóm, HS có điều kiện học hỏi lẫn nhau vớitinh thần đề cao sự hợp tác, qua đó giúp cho GV dễ dàng nắm được thông tinngược từ phía người học

Đồng thời, nhờ việc hợp tác nhóm mà kiến thức trở nên sâu sắc, bềnvững, dễ nhớ hơn do được giao lưu học hỏi giữa các thành viên trong nhóm.Không khí thảo luận cởi mở nên HS thoải mái hơn, tự tin hơn trong việc trìnhbày ý kiến của mình và biết lắng nghe, phê phán ý kiến của các thành viên khác

Trang 35

Đặc trưng môn GDCD là môn học có kiến thức mang tính lý luận cao, do

đó học tập bằng phương pháp HTN sẽ tạo ra sự hứng thú, lòng say mê tronghọc tập cũng như nghiên cứu khoa học của HS Đồng thời, giúp các em biếtcách thiết lập các mối quan hệ cộng đồng, biết sống cùng nhau trong thế giớicủa sự hợp tác

Mặt khác, thông qua môi trường học hợp tác nhóm ở môn GDCD, HS

có thể giúp đỡ lẫn nhau, tạo lập, củng cố các mối quan hệ xã hội Thực hiện tốtqui trình DHHT nói chung và ở môn GDCD nói riêng sẽ mang lại hiệu quảhọc tập cao hơn không chỉ riêng cho mỗi cá nhân HS mà còn mang lại hiệuquả chung cho cả tập thể

1.2.2.3 Nâng cao kỹ năng giao tiếp, ứng xử của giáo viên và học sinh trong các mối quan hệ xã hội

Theo cách hiểu chung nhất, giao tiếp chính là mối quan hệ tác động qualại giữa người với người, thông qua đó mà con người trao đổi với nhau vềthông tin, về cảm xúc, tình cảm, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau Nóicách khác, giao tiếp là việc xác lập và vận hành các quan hệ người - người,hiện thực hoá các quan hệ xã hội giữa các chủ thể với nhau Từ cách hiểu đó,

có thể thấy rằng giao tiếp có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành và pháttriển nhân cách của mỗi người, vì nếu không có giao tiếp con người sẽ không tồntại và phát triển theo đúng nghĩa C.Mác viết: “Trong tính hiện thực của nó, bảnchất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội”[ 24, tr11]

Để tồn tại và phát triển, con người phải có những mối quan hệ xã hộinhất định, khi đó con người cần phải có sự giao tiếp,có sự tiếp xúc, tác độnglẫn nhau, chính quá trình đó làm cho tư duy của con người ngày càng hoànthiện Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta đang sống trong một thế giới hộinhập quốc tế và khu vực ngày càng sâu rộng, chính môi trường đó đòi hỏi conngười ngày càng phải mở rộng giao tiếp và giao tiếp nhiều hơn

Trong quá trình dạy học, môn GDCD có vai trò trực tiếp trong việc giáodục đạo đức, lối sống, hình thành nhân cách cho học sinh thông qua việc cung

Trang 36

cấp hệ thống tri thức cơ bản có giá trị về thế giới quan và nhân sinh quan Trithức tự nó chưa phải là thế giới quan, tri thức phải kết hợp với niềm tin mớitrở thành một thành tố của thế giới quan Chỉ khi biến thành niềm tin, tri thứcmới trở nên sâu sắc và bền vững, mới trở thành cơ sở cho hành động

Như vậy, vấn đề giao tiếp dù tiếp cận ở phương diện nào thì trước hếtchủ thể giao tiếp phải là người có tri thức, có đạo đức và khả năng tự điềuchỉnh mối quan hệ giữa con người với con người và con người với thế giớixung quanh Do đó, việc hình thành thế giới quan là yêu cầu quan trọng, bởi vìchính thế giới quan sẽ giúp con người xem xét, nhìn nhận thế giới một cáchđúng đắn Từ đó, tạo chuẩn mực sống và định hướng cuộc sống, chi phối nhậnthức và hoạt động thực tiễn của con người Chính vì thế, thực chất của quá trìnhdạy học nói chung và dạy học môn GDCD nói riêng là kết hợp giữa “dạy chữ”

và “dạy nhân cách” để hình thành đạo đức của mỗi người Do đó, môn GDCD

có vai trò hết sức quan trọng, nó không chỉ dừng lại ở việc cung cấp kiến thức

mà còn định hướng cho HS trong quá trình giao tiếp và hình thành niềm tin,tình cảm tốt đẹp

Nhân cách con người được hình thành và phát triển thông qua hoạt động

và giao tiếp Mục đích của việc tổ chức dạy học theo hình thức HTN là nhằmgiúp HS có điều kiện giao lưu, giao tiếp với bạn bè, để trao đổi những tâm tư,tình cảm, kinh nghiệm, thái độ ứng xử giữa con người - con người Trong quátrình tranh luận thường diễn ra tình huống đấu tranh giữa cái đúng - cái sai, cái

cũ - cái mới, giữa cá nhân - tập thể Đó là điều kiện để các em “so sánh”, “đốichiếu” giữa mình với người khác về các định hướng giá trị Từ đây, nhờ giaotiếp mà quá trình HS khám phá tri thức mới cũng là quá trình HS hoàn thiệnnhân cách bản thân mình

Hơn nữa, môi trường giao tiếp xã hội ở HTN trong dạy học ở nhàtrường còn giúp cho những HS nhút nhát sẽ có cơ hội được khẳng định mình,cũng cố khả năng và niềm tin ở các em Qua học tập theo nhóm, nhiều đức tínhtốt đẹp được hình thành như lòng nhân ái, tinh thần giúp đỡ lẫn nhau, tính trung

Trang 37

thực, niềm tin vào sự đúng đắn của các chân lý khoa học Đây chính là nhữngphẩm chất nhân cách rất cần thiết cho một con người trong thời đại mới.

Đối với HS ở trường phổ thông, kỹ năng giao tiếp của các em là khảnăng mà mỗi HS thể hiện sự trao đổi cảm xúc, thông tin… hằng ngày với thầy

cô, bạn bè và những người thân của mình lúc ở trường cũng như khi ở nhà chủyếu bằng ngôn ngữ Đặc biệt tâm sinh lý các em đang trong thời điểm chậpchững giữa trẻ con và người lớn, các em đang cố gắng, phấn đấu để tự khẳngđịnh mình trước mọi người Do đó, giao tiếp có vai trò hết sức quan trọng đếnviệc hình thành nhân cách của các em Khoa học cũng đã chứng minh, những

HS thiếu mức giao tiếp cần thiết thường dễ sinh ra các bệnh như: trầm cảm, tự

ti, nhút nhát và khó hòa đồng, từ đó dẫn đến sự khuyết thiếu trong việc hìnhthành nhân cách Ngược lại những em HS giao tiếp tốt sẽ giúp các em hiểuđược mọi người và hiểu được chính bản thân mình, từ đó hoàn thiện bản thânđược tốt hơn

Nét đặc trưng cơ bản trong giao tiếp của HS phổ thông đó là sự trongsáng và thái độ chân thành của các em với người đối diện Ở lứa tuổi này việcxây dựng lí tưởng sống và những quan điểm riêng cho mình là nét đặc thù, chiphối quá trình giao tiếp của các em Các em luôn hướng tới một tình bạn, tìnhcảm trong sáng, chân thành với mọi người, nên hầu hết những suy nghĩ đềuđược thể hiện khi giao tiếp, giúp người đối diện cảm nhận rất rõ điều này

Tùy theo năng lực của mỗi người mà hiệu quả giao tiếp, năng lực ứng

xử của các em cũng không giống nhau, có những em giao tiếp tốt, ứng xử phùhợp với những chuẩn mực nhất định, nhưng có những em quá trình giao tiếp

và năng lực ứng xử còn nhiều hạn chế Điểm yếu nhất của HS khi giao tiếpkhả năng diễn đạt ý tưởng của mình còn hạn chế, phần lớn các em biết và nghĩđược nhiều hơn những gì các em có thể nói ra Do vốn từ ít, nhất là phần lớncác em không biết dùng từ đồng nghĩa để thay thế, vì vậy thường dẫn đến sựnhàm chán và hiệu quả giao tiếp không cao

Trang 38

Những hạn chế trong giao tiếp đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sốngthường ngày của HS Chính vì thế, dạy học HTN sẽ giúp cho người dạy lẫnngười học chủ động hơn trong quá trình tiếp thu, lĩnh hội tri thức Thông quaHTN người học sẽ hình thành được thói quen làm việc có kế hoạch, nghiêmtúc, nâng cao tính trung thực khiêm tốn, dũng cảm bảo vệ quan điểm củamình, độc lập trong sáng tạo và nghiên cứu Đặc biệt, thông qua DHHTN sẽgiúp cho người học nhận thức và thuyết trình một vấn đề khoa học của bộ môntrước tập thể, khắc phục được những nhược điểm của bản thân như rụt rè tronggiao tiếp, tuỳ tiện phát biểu, nói năng không có luận cứ, thiếu suy nghĩ Mặtkhác, DHHTN giúp cho GV có những những phản hồi nhanh về tình trạngnắm tri thức bộ môn của HS, phát hiện những sai sót để uốn nắn, điều chỉnhhoạt động học tập của họ Đồng thời, GV cũng thu được những thông tinngược về phía mình để tự đánh giá, tự điều chỉnh hoạt động DH của mình

1.2.2.4 Tạo môi trường học tập thân thiện trong quá trình lĩnh hội tri thức

Trong xã hội hiện đại với sự bùng nổ thông tin, sự phát triển như vũ bãocủa khoa học kỹ thuật, công nghệ, thời gian trên lớp không đủ để trang bị chongười học mọi tri thức và không thể nhồi nhét vào đầu óc người học nhiềukiến thức Vì vậy, cần phải có phương pháp dạy và học phù hợp và lớp học làmôi trường giao tiếp giữa thầy và trò, giữa trò và trò, tạo nên mối quan hệ hợptác giữa các cá nhân trong quá trình chiếm lĩnh kiến thức Thông qua hợp tác,thảo luận, tranh luận trong nhóm, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ và được chia

sẻ Qua đó, HS không chỉ có điều kiện học tập với nhau mà còn học tập lẫn nhau,kiến thức mà mỗi người thu được là sự đóng góp của nhiều người Đồng thời,qua học tập hợp tác, các kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thuyết phục, kỹ năng lắngnghe tích cực, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ được rèn luyện và phát triển

Bản chất của phương pháp dạy học tích cực là dạy học hướng vào ngườihọc, phát huy cao độ tính tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo của người họcnhằm tạo ra một nguồn lực người lao động trẻ khi ra trường có khả năng thích

Trang 39

ứng nhanh với môi trường xã hội, đáp ứng yêu cầu về nhân cách con ngườiViệt Nam trong thời đại mới

Giảng dạy và học tập bằng phương pháp HTN sẽ mang lại hiệu quả tíchcực, vì thông qua HTN đã tạo nên mối quan hệ tương tác giữa thầy và trò,giữa trò và trò, tạo nên sự bình đẳng giữa các thành viên trong lớp và tạo nênmôi trường học tập an toàn, thân thiện Trong môi trường đó mỗi cá nhânđược phép thể hiện tối đa khả năng nhận thức và kinh nghiệm của mình mộtcách tự tin và thoải mái Học tập bằng phương pháp thảo luận nhóm còn giúp

HS phát triển kỹ năng tổ chức, kỹ năng điều khiển và lãnh đạo, thông qua đóhình thành ở các em những phẩm chất của người lao động mới

DHHTN đặt ra cho mỗi HS sự kiên định của lý trí, duy trì sự tham giatích cực của bản thân, luôn có ý thức và mong muốn được tham gia, được thểhiện kinh nghiệm và vốn sống của mình trước tập thể, trước người dạy vàchính điều đó làm cho người học luôn ý thức được và nỗ lực tự giải quyếtnhiệm vụ học tập Trong môi trường HTHT người học phát huy năng lực, khảnăng tự chủ, độc lập, sáng tạo, chống lại thói chây lười, dựa dẫm, tạo nên ýchí “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm” Một khi các em đã có sựphát triển của cá nhân trong môi trường tốt đẹp thì điều đó sẽ là cơ hội thuậnlợi cho quá trình hình thành nhân cách của con người Sự đồng thuận trongviệc xây dựng mối quan hệ thân thiện giữa đào tạo con người của nhà trườngvới đời sống xã hội chính là sự thấu hiểu những gì vốn có của đời sống xã hội

để vận dụng những nhân tố tốt đẹp giúp ích cho quá trình đào tạo của nhàtrường nhằm tạo ra những sản phẩm, những nhân cách biết làm chủ xã hội,làm chủ bản thân, biết mình, biết người để hòa nhập Đồng thời, DHHTN baogồm cả sự chỉ đạo, hướng dẫn của GV và sự tham gia của mỗi HS, mỗi tậpthể người học vào việc lĩnh hội tri thức

Do đó, sự khuyến khích, động viên, tổ chức tạo dựng môi trường chongười học của GV là rất cần thiết và phải được thực hiện rộng rãi trong quátrình dạy học ở các trường phổ thông Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, khi

Trang 40

các cơ sở giáo dục đang tiếp tục thực hiện phong trào “Xây dựng trường họcthân thiện, học sinh tích cực” do Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động thì việcvận dụng phương pháp DHHTN trong dạy học sẽ tạo cơ hội thuận lợi cho việcthực hiện chủ trương này bởi sự phù hợp của phương pháp này về cả mặt lýluận lẫn thực tiễn

1.3 Nội dung nâng cao kỹ năng dạy học hợp tác nhóm cho giáo viên Giáo dục công dân trung học phổ thông

Tư duy là một qúa trình nhận thức lí tính phản ánh những thuộc tính bêntrong, bản chất những mối liên hệ có tính chất quy luật của sự vật, hiện tượng

mà trước đó chúng ta chưa biết.Tư duy có khả năng giúp con người nhận thức

về thế giới quan một cách chính xác và sâu sắc Chính vì vậy, phát triển nănglực nhận thức là một việc làm cần thiết, nó trở thành một trong những mụcđích quan trọng của quá trình dạy học

Có nhiều PPDH giúp phát triển kỹ năng này nhưng dạy học theo hìnhthức hợp tác nhóm tại lớp có nhiều điều kiện để kích thích HS phát triển tưduy Trong quá trình thường xuyên thảo luận theo nhóm, những kĩ năng sửdụng ngôn ngữ như phân tích, tổng hợp, suy luận, tranh lụân có căn cứ khoahọc được phát triển nhờ quá trình hợp tác, bày tỏ chính kiến của mình với cácbạn trong nhóm, sự tác đông qua lại giữa các ý kiến, quan điểm khác nhau

Nghiên cứu về kỹ năng cho thấy bản chất của sự tập luyện kỹ năng làhướng đến việc hình thành kỹ năng, hoàn thiện, củng cố phát triển kỹ năngđạt đến mức độ mới hơn về “chất” Hình thành, rèn luyện kỹ năng trong họctập là một hoạt động có định hướng được luyện tập nhiều lần với mục đíchhoàn thiện các kỹ năng giúp con người lao động hiệu quả hơn Muốn pháttriển kỹ năng, con người phải luyện tập theo một qui trình nhất định và phảitrải qua nhiều giai đoạn khác nhau

Từ những quan điểm lý luận và các khái niệm đã trình bày ở trên, chúngtôi cho rằng: Kỹ năng DHHTN là sự thực hiện có kết quả các thao tác của

Ngày đăng: 21/12/2013, 12:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Đình Bảy (Chủ biên) (2010), Phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân ở Trường Trung học phổ thông, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học môn Giáo dục côngdân ở Trường Trung học phổ thông
Tác giả: Vũ Đình Bảy (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
2. Mai Văn Bính (chủ biên) (2006), Giáo dục công dân 11(SGV), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục công dân 11(SGV
Tác giả: Mai Văn Bính (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
3. Mai Văn Bính (chủ biên) (2006), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên môn giáo dục công dân, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên môn giáodục công dân
Tác giả: Mai Văn Bính (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
4. Nguyễn Hữu Châu ( 2004), Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học, NXB Giáo dục – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về chương trình và quátrình dạy học
Nhà XB: NXB Giáo dục – Hà Nội
5. Phùng Văn Bộ (chủ biên) (2001), Một số vấn đề về phương pháp giảng dạy và nghiên cứu triết học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về phương pháp giảngdạy và nghiên cứu triết học
Tác giả: Phùng Văn Bộ (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
6. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2001), Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lượcphát triển giáo dục 2001 – 2010
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2001
8. Nguyễn Nghĩa Dân (1998) Đổi mới phương pháp dạy học môn đạo đức và giáo dục công dân, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học môn đạo đức vàgiáo dục công dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
9. PGS.TS. Đoàn Minh Duệ - PGS.TS. Trần Xuân Sinh (2008), Giáo trình phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trìnhphương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: PGS.TS. Đoàn Minh Duệ - PGS.TS. Trần Xuân Sinh
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2008
10. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ IX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2001
11. Đảng cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ X
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2006
12. Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ XI
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
14. Đỗ Ngọc Đạt (2000), Bài giảng Lý luận dạy học hiện đại. NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Lý luận dạy học hiện đại
Tác giả: Đỗ Ngọc Đạt
Nhà XB: NXB Đại họcquốc gia Hà Nội
Năm: 2000
15. Đặng Vũ Hoạt (2004) Lý luận dạy học Đại học, NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học Đại học
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
16. Trần Bá Hoành (2007), Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình vàsách giáo khoa
Tác giả: Trần Bá Hoành
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2007
17. Lê Văn Hồng (1985), Tâm lý học lứa và Tâm lý học sư phạm, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa và Tâm lý học sư phạm
Tác giả: Lê Văn Hồng
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 1985
18. Lê Văn Hồng (1988), Tâm lý học sư phạm, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học sư phạm
Tác giả: Lê Văn Hồng
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 1988
19. Đặng Thành Hưng (2004), "Hệ thống kỹ năng học tập hiện đại", Tạp chí Giáo dục,số 2/78, tr. 7-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống kỹ năng học tập hiện đại
Tác giả: Đặng Thành Hưng
Năm: 2004
20. Nguyễn Thành Kỉnh (2010), “Phát triển kỹ năng dạy học hợp tác cho giáo viên trung học cơ sở”, luận án tiến sĩ- Trường Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phát triển kỹ năng dạy học hợp tác cho giáoviên trung học cơ sở”
Tác giả: Nguyễn Thành Kỉnh
Năm: 2010
21. Kỷ yếu hội thảo khoa học (2007),“ Nâng cao chất lượng dạy học môn giáo dục công dân ở trường phổ thông”, Khoa GDCT – Trường ĐHSP Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Nâng cao chất lượng dạy học môn giáodục công dân ở trường phổ thông”
Tác giả: Kỷ yếu hội thảo khoa học
Năm: 2007
22. Kỷ yếu Hội thảo khoa học (2011),“ Nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên giáo dục công dân trong giai đoạn hiện nay”, Khoa GDCT- Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên giáodục công dân trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Kỷ yếu Hội thảo khoa học
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Các đơn vị hành chính tỉnh Quảng Bình Các - Nâng cao kỹ năng dạy học hợp tác nhóm cho đội ngũ giáo viên giáo dục công dân trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh quảng bình luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 1.1 Các đơn vị hành chính tỉnh Quảng Bình Các (Trang 44)
Bảng 1.2: Tình hình phát triển mạng lưới Trường, lớp, học sinh năm học 2011 - Nâng cao kỹ năng dạy học hợp tác nhóm cho đội ngũ giáo viên giáo dục công dân trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh quảng bình luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 1.2 Tình hình phát triển mạng lưới Trường, lớp, học sinh năm học 2011 (Trang 46)
Bảng 1.3: Kết quả xếp loại học lực, hạnh kiểm Năm học Cấp học - Nâng cao kỹ năng dạy học hợp tác nhóm cho đội ngũ giáo viên giáo dục công dân trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh quảng bình luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 1.3 Kết quả xếp loại học lực, hạnh kiểm Năm học Cấp học (Trang 48)
Bảng 2.1. Mức độ sử dụng các phương pháp dạy học - Nâng cao kỹ năng dạy học hợp tác nhóm cho đội ngũ giáo viên giáo dục công dân trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh quảng bình luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 2.1. Mức độ sử dụng các phương pháp dạy học (Trang 54)
Bảng 2.3. Nhận thức của GV về dạy học hợp tác nhóm - Nâng cao kỹ năng dạy học hợp tác nhóm cho đội ngũ giáo viên giáo dục công dân trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh quảng bình luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 2.3. Nhận thức của GV về dạy học hợp tác nhóm (Trang 56)
Bảng 2.7. Kết quả khảo sát về nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng dạy học theo hướng HTN - Nâng cao kỹ năng dạy học hợp tác nhóm cho đội ngũ giáo viên giáo dục công dân trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh quảng bình luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 2.7. Kết quả khảo sát về nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng dạy học theo hướng HTN (Trang 61)
Bảng 2.9. Kết quả khảo sát của HS về việc tiếp cận các PP mà GV đã thực hiện trong quá trình dạy học - Nâng cao kỹ năng dạy học hợp tác nhóm cho đội ngũ giáo viên giáo dục công dân trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh quảng bình luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 2.9. Kết quả khảo sát của HS về việc tiếp cận các PP mà GV đã thực hiện trong quá trình dạy học (Trang 63)
Bảng  2.10. Kết quả khảo sát về tác  dụng của  việc sử  dụng  phương pháp DHHTN đối với học sinh - Nâng cao kỹ năng dạy học hợp tác nhóm cho đội ngũ giáo viên giáo dục công dân trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh quảng bình luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
ng 2.10. Kết quả khảo sát về tác dụng của việc sử dụng phương pháp DHHTN đối với học sinh (Trang 64)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w