THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI 1.1 Tên đề tài: Khảo sát thành phần loài và xây dựng bộ mẫu vật ba lớp thân mềm vùng biển Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.. Tính thích ứng thể hiện qua số lượng loài
Trang 1THUYẾT MINH ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ
Lĩnh vực Tự nhiên – Kỹ thuật
I THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI
1.1 Tên đề tài: Khảo sát thành phần loài và xây dựng bộ mẫu vật ba lớp thân mềm vùng biển Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
1.2 Thời gian thực hiện: từ tháng 9/ 2017 đến tháng 8/ 2018
1.3 Kinh phí thực hiện: 41,051 triệu đồng
Tổng kinh phí: 41,051 (triệu đồng), trong đó:
- Nguồn sự nghiệp khoa học: 29,980 triệu đồng
- Nguồn khác: 11,071 triệu đồng
1.4 Chủ nhiệm đề tài:
Học hàm, học vị: Thạc sĩ Chức vụ: Nghiên cứu viên
Cơ quan, đơn vị công tác:
Địa chỉ cơ quan: Số 320A, Quốc lộ 61, Châu Thành, Kiên Giang
1.5 Thư ký đề tài:
Họ và tên: Năm sinh: 1991 Nam/ Nữ: Nữ
Học hàm, học vị: Thạc sĩ Chức vụ: Giảng viên
Cơ quan, đơn vị công tác: Khoa Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn – Trường Đại học Kiên Giang
Địa chỉ cơ quan: Số 320A, Quốc lộ 61, Châu Thành, Kiên Giang
1.6 Tổ chức chủ trì, phối hợp thực hiện đề tài:
Tên tổ chức chủ trì (Đơn vị, khoa, phòng, bộ phận,…): Viện Khoa học và Bảo
tồn sinh vật học biển-đảo
Địa chỉ: 186 đường 30/4, KP.1, TT Dương Đông, Phú Quốc, Kiên Giang
Trang 2Điện thoại: Fax:
Họ và tên thủ trưởng đơn vị (Đơn vị, khoa, phòng, bộ phận,…): Trương Quốc Anh
Điện thoại: E-mail:
1.7 Cơ quan quản lý đề tài
Đơn vị quản lý cấp cơ sở (trực tiếp đề tài): Trường Đại học Kiên Giang
Địa chỉ: Số 320A, Quốc lộ 61, Châu Thành, Kiên Giang
Họ và tên thủ trưởng cơ quan:
Cơ quan quản lý cấp tỉnh: Sở Khoa học và Công nghệ KG
Địa chỉ tổ chức: Số 320, Ngô Quyền, P.Vĩnh Lạc, Tp.Rạch Giá, Kiên Giang
Nội dung công việc tham gia
Thời gian làm việc cho đề tài
(ngày)1
Trang 32.1.2 Mục tiêu cụ thể:
Thu thập mẫu các loài thân mềm đặc trưng cho vùng biển Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang
Lập danh lục ba lớp thân mềm thu được ở vùng biển Phú Quốc
Lưu giữ và bảo quản các mẫu vật thu được
2.2 Tình trạng đề tài:
Mới Kế tiếp hướng nghiên cứu của chính nhóm tác giả
Kế tiếp nghiên cứu của người khác
2.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu, luận giải về mục tiêu và những nội dung nghiên cứu của đề tài:
2.3.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài
Tổng quan về đối tượng nghiên cứu
Năm 1798 nhà động vật học người Pháp Cuvier sử dụng tên Mollusca (tiếng
Latinh là Molis có nghĩa là mềm) lần đầu tiên để mô tả Mực ống (Squid) và Mựcnang (Cuttlefish), loài động vật vỏ thoái hóa và có vỏ trong hoặc không có vỏ Sau đócác nhà khoa học mới phát hiện sự liên quan thực sự giữa nhóm này với các nhómthân mềm khác như ốc, hai mảnh vỏ
Thân mềm có tính thích ứng rất cao Tính thích ứng thể hiện qua số lượng loài
và sự đa dạng về môi trường sống thân mềm là một trong ba nhóm có tính thích ứngcao nhất trong giới động vật Đã có hơn 160.000 loài được mô tả, trong đó 128.000còn sống đến nay và 35.000 loài ở dạng hóa thạch (Huỳnh Thu Hòa, 2008)
Thân mềm phân bố ở hầu như tất cả các môi trường sống Ở biển chúng phân
bố từ vực sâu của đại dương đến vùng triều Chúng có thể sống trong nước ngọt cũngnhư trên cạn Vì vậy, trong suốt quá trình tiến hóa chúng trở nên thích ứng và sốngtrong mọi sinh cảnh
Ngành thân mềm được chia là 8 lớp, mức độ quan trọng khác nhau Lớp quan
trọng nhất trong các loài Động vật thân mềm là Gastropoda, bao gồm hơn 80% loài Động vật thân mềm còn sống đến nay Lớp Cephalopoda hiện nay vẫn còn nhiều loài
sống sót, nhưng bằng chứng hóa thạch cho thấy trước đây chúng phong phú hơn hiệnnay và có lẽ chúng là nhóm động vật chiếm ưu thế ở biển kỳ Ordovic
Đặc điểm chung của các lớp thuộc ngành Thân mềm
- Cơ thể đối xứng hai bên (trừ Gastropoda), không phân đốt và thường có đầu
phát triển
- Mặt lưng của cơ thể có cơ chân chủ yếu dùng để điều khiển chân khi di chuyển
- Mặt bụng của cơ thể có màng áo khép kín tạo thành xoang màng áo, biến đổithành mang hoặc phổi và tiết ra vỏ (trừ một số loài không có vỏ)
- Trên bề mặt của biểu mô có tiêm mao, tuyến tiết chất nhầy và cơ quan cảm giác.x
Trang 4- Xoang cơ thể rất nhỏ là vùng bao quanh tim (xoang bao tim).
- Hệ thống tiêu hóa phức tạp, thường có cơ quan nghiền thức ăn là lưỡi sừng
ngoại trừ Bivalvia (không có lưỡi sừng).
- Hệ thống tuần hoàn hở, gồm tim, mạch máu và xoang máu
- Trao đổi khí xảy ra ở mang, phổi, màng áo hoặc bề mặt cơ thể
- Các cơ quan cảm giác gồm: xúc giác, khứu giác, vị giác, thăng bằng và thị giác
(một số loài) Mắt của Cephalopoda phát triển.
Những đặc trưng về cấu trúc cơ thể
Một trong những nét đặc trưng nhất của thân mềmlà đa số loài có vỏ vôi cứng
Vỏ được phát hiện dưới dạng hóa thạch bao gồm những mẫu vật thuộc kỷ Cambriacho thấy rằng thân mềm rất phong phú trong thời gian này và chúng phải phát sinh từ
kỷ Tiền Cambria (Pre-Cambria), hơn 500 triệu năm trước Các hiểu biết về tiến hóacủa thân mềm chủ yếu được suy luận từ vỏ hóa thạch mặc dù không tồn tại bộ phậnthân mềm (cơ thể) bên trong của hầu hết hóa thạch (Huỳnh Thu Hòa, 2008)
Hầu hết thân mềm có vỏ cấu tạo bằng các phiến đá vôi (calcium carbonate) gắnkết với nhau với chất nền là protein Vật chất hữu cơ (protein) chiếm đến 35% trọng
lượng khô của vỏ ở một số loài Gastropoda và có thể chiếm đến 70% trọng lượng khô của vỏ Bivalvia Vỏ của thân mềm gồm một lớp chất sừng mỏng bên ngoài
(Periostracum), một lớp mỏng xà cừ ở bên trong (Necreous) và một lớp phiến đá vôihình lăng trụ dày (Prismatic) Cả hai thành phần hữu cơ và vô cơ của vỏ do mô đặcbiệt của màng áo tiết ra Khi một hạt cát, ký sinh trùng hay một dị vật rơi vào giữamàng áo và mặt trong của vỏ, ngọc trai sẽ hình thành sau môt thời gian Tần suất tạothành ngọc tự nhiên rất thấp, khoảng một phần ngàn Con người có thể sản xuất rangọc trai bằng cách cấy vào giữa vỏ và màng áo của trai dị vật hình cầu làm bằng
nhựa hay vỏ Bivalvia nước ngọt sau đó nuôi trong 5-7 năm Vai trò của màng áo ở
thân mềm có một số thay đổi về căn bản tùy vào từng nhóm với các chức năng khácnhau (Huỳnh Thu Hòa, 2008)
Đa số thân mềm có một khoang trống nằm giữa màng áo và nội tạng gọi làxoang màng áo Xoang màng áo thường chứa mang hình lược gọi là ctenidia (cteniditiếng la-tinh có nghĩa là lược) và nơi thoát ra của hệ bài tiết, hệ tiêu hóa và hệ sinhdục (xoang màng áo có chứa lỗ hậu môn, lỗ niệu, lỗ sinh dục) Màng lược làm nhiệm
vụ hô hấp và chọn lọc thức ăn dạng hạt Cơ quan khứu giác/xúc giác được gọi làosphradium (osphra theo tiếng la-tinh có nghĩa là khứu giác hay cơ quan cảm nhậnhóa học) thường nằm kề với mang lược
Thân mềm là những động vật có xoang cơ thể rất nhỏ, là vùng xung quanh tim
và tuyến sinh dục Một số nhà động vật học cho rằng xoang của thân mềm thực sựkhông giống với xoang cơ thể của giun đốt, cầu gai và một số loài động vật có xoangkhác và thân mềm tiến hóa trực tiếp từ tổ tiên là giun dẹp (flatworm) Với lý do nàythân mềm được xem là thực sự không có xoang cơ thể Tuy nhiên, những bằng chứng
về sinh học phân tử gần đây cho thấy thân mềm có tổ tiên là loài có xoang cơ thể và
Trang 5xoang cơ thể phát triển theo xu hướng giảm kích thước trong quá trình tiến hóa,hướng tiến hóa giảm kích thước xoang cơ thể và ít vận động Mặt khác, xoang máu(hemocoel=blood cavity) rất phát triển, xoang này có vai trò cân bằng thủy tĩnh trongkhi vận dộng của một số thân mềm (Huỳnh Thu Hòa, 2008).
Thân mềm có cơ quan bắt mồi là lưỡi sừng (radula) Lưỡi sừng bao gồm mộtphiến rắn chắc cấu tạo bằng chất chitin và protein dọc theo phiến lưỡi sừng có haihàng răng sắc bén Phiến lưỡi sừng hình thành từ túi lưỡi sừng (radula sac), đượcnâng đỡ bởi một cấu trúc dạng sụn gọi là odontophore (có nghĩa nâng đỡ lưỡi sừng).Sụn nâng đỡ lưỡi sừng gắn kết với một hệ thống cơ phức tạp như khối cơ miệng(buccal mass) Khi bắt mồi hệ thống cơ miệng giãn ra vì thế sụn nâng đỡ lưỡi sừngcũng duỗi về phía miệng Lưỡi sừng chuyển động theo sụn nâng đỡ, kế đến lưỡi sừngrút lại, răng sừng tự động vươn đứng thẳng và cạp lấy thức ăn mang vào trong miệngcùng với lưỡi sừng Các răng sừng ở phía trước phiến lưỡi sừng bị gãy và các răngmới hình thành từ phía sau trong túi lưỡi sừng
Hiện nay thân mềm được chia thành 8 lớp Sáu trong 8 lớp được mô tả qua cácmẫu hóa thạch đã hình thành khoảng 450 triệu năm trước, cùng với một lớp có hìnhdạng giống trai, sò đã tuyệt chủng 225 triệu năm trước Có khoảng 35.000 loài đượcbiết đến chỉ qua mẫu hóa thạch Chỉ có 2 lớp là không có mẫu hóa thạch đó là
Caudofoveata và Solengstre (Huỳnh Thu Hòa, 2008).
Đặc điểm sinh thái
Thân mềm sống ở hầu hết các môi trường sống trên Trái Đất Chúng phần lớnđược tìm thấy trong môi trường biển, kéo dài từ bãi triều đến đại dương, một số loàisống chủ yếu ở nước ngọt hoặc môi trường sống trên cạn Đáng chú ý, một nghiêncứu cho thấy khoảng 3.000 loài phân bố duy nhất tại một rạn san hô ở NewCaledonia Trên cạn, chân bụng là loài có sự đa dạng tương đối cao và phong phú:khoảng 60-70 loài có thể cùng tồn tại trong một môi trường sống duy nhất và phongphú Nhiều động vật thân mềm biển sống trôi nổi như ấu trùng phù du
Động vật thân mềm biển phân bố chủ yếu ở bờ đá, rạn san hô, bãi bùn, và
những bãi biển đầy cát trắng Chân bụng và chitons là loài đặc trưng của các chất nền
cứng, hai mảnh vỏ thường sống ở nơi chất nền mềm mại hơn, nơi chúng có thể chuisâu vào các lớp trầm tích Tuy nhiên, có rất nhiều trường hợp ngoại lệ: các loài hai
mảnh vỏ lớn như Gigas Tridacna sống trên các rạn san hô và nhiều loài hai mảnh vỏ
(ví dụ trai và hàu) bám vào các chất nền cứng Một số loài chân bụng sống giữa cáchạt cát Một phần lớn của chân bụng và hai mảnh vỏ được tìm thấy ở các miệng phunthủy nhiệt ở vùng biển sâu (Huỳnh Thu Hòa, 2008)
Đặc điểm sinh học
Trang 6 Sinh sản và phát triển
Hầu hết các loài thuộc thân mềm là đơn tính (con đực và con cái khác nhau),nhưng một số loài thì lưỡng tính (vừa là đực vừa là cái) Vài loài thuộc lớp phụ
Prosobranchia, lớp phụ Opisthobanchia và lớp phụ Lamellibranchia có giới tính
lưỡng tính nhưng tuyến sinh dục đực thành thục trước (protandric hermaphrodite).Giới tính của một cá thể thay đổi từ đực sang cái theo tuổi của chúng Trên một cá thể
cả trứng và tinh trùng được sản sinh ra cùng một lúc, tuyến sinh dục của cá thể nàyđược gọi là tuyến sinh dục lưỡng tính (ovotestis) Các loài lưỡng tính đồng thời
thường bắt cặp trao đổi tinh trùng lẫn nhau Chưa tìm thấy loài Cephalopoda nào là
lưỡng tính
Thông thường ống dẫn sinh dục của thân mềm hợp nhất với một phần của hệ
bài tiết Sự thụ tinh ngoài thường xảy ra đối với Scaphopoda và có lẽ cũng xảy ra ở Monoplacophora Sự thụ tinh ngoài phổ biến nhất là Bivalvia, Chiton, Caudofoveata, Solengastres và một số ít Gastropoda Thụ tinh ngoài không xảy ra ở Celphalopoda Một số thân mềm trên cạn và thân mềm nước ngọt (Gastropoda và Bivalvia) chỉ thụ tinh trong để thích ứng với điều kiện bất lợi của môi trường Celphapoda thể hiện sự
thích ứng đặc biệt với sự thụ tinh trong Một xúc tay của con đực biến đổi thành cơquan giao phối Trong một số trường hợp, xúc tay có sự biến đổi lớn, dẫn đến sự hìnhthành cái gọi là Hectocotylus (hecto có nghĩa là 100 và cotylus có nghĩa là giác bám)
công cụ chuyển túi tinh sang con cái Nautilus đực (ốc Anh vũ) thò hectocotylus vào
phía sau xoang màng áo của con cái đến khi tinh trùng được chuyển hoàn toàn
Giai đoạn ấu trùng phù du thì có liên quan đến quá trình phát sinh của loài thụtinh trong môi trường nước (thụ tinh ngoài) Phôi trải qua giai đoạn ấu trùng
Trochophore, tương tự như giun nhiều tơ thuộc ngành giun đốt (Polychaeta, Annelida) Chưa có bằng chứng rõ ràng về sự tiến hóa trực tiếp từ Giun đốt lên Thân
mềm; sự tương đồng của ấu trùng Trochophore giữa Annelida và thân mềm có thể là
do mối quan hệ gần gũi trong quá trình tiến hóa hoặc có thể đây chỉ là sự hội tụ của
quá trình phát sinh độc lập của hai ngành Vành tiêm mao trước của Gastropoda, Bivalvia và Scaphopoda gấp nếp thành vòm miệng được gọi là veliger Vòm miệng được dùng cho việc di chuyển, bắt mồi (phytoplankton) và trao đổi khí, vòm miệng
mất đi, biến thái thành dạng trưởng thành Veliger trải qua nhiều giờ, nhiều ngày,nhiều tuần hoặc nhiều tháng bơi lội trong nước trước khi biến thái thành con trưởngthành Đối với thân mềm có vỏ, quá trình biến thái thường có sự thay đổi đột ngột vềhình thái của vỏ Sự chuyển đổi từ giai đoạn ấu trùng sang ấu niên của nhiều loài thểhiện rõ ràng trên vỏ Những loài không vỏ thuộc lớp phụ mang sau
(Opisthobranchia), ấu trùng bị mất vỏ khi biến thái thành ấu niên (Huỳnh Thu Hòa,
2008)
Trang 7Hầu hết các loài thân mềm nước ngọt thụ tinh trong và giai đoạn ấu trùng pháttriển bên trong cơ thể mẹ Tuy nhiên, đối với các loài này thỉnh thoảng vẫn thấy một
số ít ấu trùng xuất hiện trong nước ở vài thời điểm trong quá trình phát triển Đặc
biệt, một số ít Bivalvia nước ngọt có ấu trùng veliger sống tự do mặc dù áp suất thẩm
thấu trong môi trường nước ngọt là một sự trở ngại đối với chúng
Sự phát triển của ấu trùng veliger sống tự do như thế ở Vẹm Dreissena polymorpha giúp chúng nhanh chóng mở rộng vùng phân bố trong các hệ sinh thái nước ngọt ở Mỹ Nhưng ở hầu hết Bivalvia nước ngọt, ấu trùng veliger có những biến
đổi lớn để hình dạng ấu trùng bám, Glochidium, kích thước nhỏ, không bơi lội Ấutrùng có vỏ phát triển vài tuần giống như vật ký sinh bên ngoài (thường là trên cá)trước khi rời ký chủ chìm xuống trở thành ấu niên sống đáy Trước khi rời cơ thể mẹ
ấu trùng Glochidium phát triển trong xoang mang của con mẹ, ngay sau khi rời khỏi
cơ thể mẹ, chúng có thể hoàn thành vòng đời của con mình nếu chúng bám được trênvật chủ Điều này phụ thuộc rất lớn vào vật chủ và đây cũng chính là nguyên nhân
tuyệt chủng của nhiều loài Bivalvia nước ngọt Một số thủy vực nước ngọt không có
sự hiện diện của vật chủ do bị nhiễm bẩn hay do sông bị đắp đập… Trong trường hợpnày ấu trùng Glochidium không tìm được vật chủ và thành thế hệ cuối cùng của loài(Huỳnh Thu Hòa, 2008)
Ở hầu hết các loài thân mềm tiến hóa, đặc biệt là Gastropoda, thường không có
giai đoạn ấu trùng sống tự do Quá trình phát triển thành ấu niên xảy ra bên trong vỏ
trứng hoặc trong xoang đặc biệt trong cơ thể con mẹ Hầu hết ốc phổi (Pulmonata)
phát triển ốc con bên trong vỏ bằng chất vôi Mặc dù một số loài thuộc lớp
Pulmonata có giai đoạn veliger sống tự do, nhưng không có loài Gastropoda sống
trên cạn nào có phát triển qua giai đoạn veliger sống tự do Chỉ có nhóm
Cephalopoda, tất cả các loài đều sống tự do trong suốt vòng đời của chúng Trứng của Celphalopoda phát triển trong túi trứng, thường được bảo vệ và cung cấp oxy
bằng cách tạo dòng nước chảy qua túi trứng cho đến khi trứng nở, con non mới nở cóhình dạng hoàn toàn giống con trưởng thành (Huỳnh Thu Hòa, 2008)
Hệ tuần hoàn, sắc tố máu và trao đổi khí
Tất cả thân mềm có hệ thống tuần hoàn máu Ở Celphalopoda, hệ tuần hoàn
hoàn toàn kín, máu chảy qua động mạch, tĩnh mạch và mao quản Các loài thân mềmcòn lại có hệ tuần hoàn hở, máu chảy qua một loạt các xoang máu gọi là hemocoel Ở
Gastropoda, sức trương phồng của xúc tu và chân phụ thuộc vào lượng máu trong xoang máu của mô đó Ở hầu hết thân mềm bao gồm cả Monolacophora nguyên thủy, máu được bơm bởi tim Tuy nhiên, ở Scaphopoda thì không có tim, cơ co rút
làm nhiệm vụ vận chuyển máu qua các xoang máu
Máu của nhiều loài thân mềm không có sắc tố vận chuyển oxy chuyên biệt Một
số loài Bivalvia và Pulmonata có sắc tố hemoglobin Hầu hết Pulmonata, tất cả các
Trang 8loài thuộc Prosobranchia và Cephalopoda có sắc tố hemocyanin Hemocyanin là một
protein trong cấu trúc phân tử có chứa đồng thay vì sắt ở hemoglobin Khả năng liênkết với oxy của hemocyanin thấp hơn hemoglobin Quá trình trao đổi khí xảy ra ở
mang nằm trong xoang màng áo (Cephalopoda, Bivalvia, Chiton và Prosobanchia), ở mang nằm bên ngoài (Opisthobanchia), ở các mô có phân bố nhiều mạch máu (Opisthobanchia) hoặc hô hấp bằng phổi hay mô trong của mặt trong xoang màng áo (Pulmonata và Scaphopoda) (Pechenik, 2000).
Hoạt động của hệ thần kinh
Mức độ phát triển của hệ thống thần kinh ở thân mềm tương ứng với mức độ
hoạt động của chúng Nhiều loài Chiton không có hạch thần kinh trong khi hệ thần kinh của Cephalopoda rất phát triển Ở Cephalopoda hạch thần kinh phát triển thành
não thật sự Các loài thân mềm khác, các hạch thần kinh tồn tại từng cặp và được nốivới nhau bằng các dây thần kinh, hình thành vòng thần kinh hầu Các dây thần kinhchính chạy tới chân, mang, cơ quan khứu giác, nội tạng và lưỡi sừng Về chi tiết, hệthần kinh rất khác nhau theo từng nhóm của thân mềm
Một số loài thân mềm, có dây thần kinh chuyên biệt làm nhiệm vụ di chuyển
nhanh Dây thần kinh đó thường to, đặc biệt dễ thấy ở Cephalopoda, nối hạch não và
cơ màng áo Dây thần kinh này vô cùng quan trọng trong việc kích thích co cơ màng
áo một cách đồng bộ tạo lực đẩy phản lực giúp con vật lẫn tránh kẻ thù Dây thầnkinh này cũng rất quan trọng đối với con người, những hiểu biết về sự kích thích dây
thần kinh được rút ra từ những nghiên cứu về hệ thần kinh của Cephalopoda
(Pechenik, 2000)
Hoạt động của hệ tiêu hóa
Hầu hết thân mềm có hệ thống tiêu hóa hoàn chỉnh, miệng và hậu môn riêngbiệt Tiếp theo miệng là thực quản ngắn, kế đến là dạ dày Thông với dạ dày có từ 1đến 2 tuyến tiêu hóa Enzyme tiêu hóa được tiết vào dạ dày, quá trình tiêu hóa ngoại
bào xảy ra trong dạ dày Ở Cephalopoda sự tiêu hóa hoàn toàn ngoại bào Ở các loài
thân mềm khác, giai đoạn cuối cùng của tiêu hóa là tiêu hóa nội bào, xảy ra bên trongtuyến tiêu hóa Chất dinh dưỡng được hấp thụ vào trong máu để cung cấp cho cơ thểhoặc dự trữ trong tuyến tiêu hóa Những thức ăn không tiêu hóa thì trôi xuống ruột và
ra ngoài qua hậu môn (Pechenik, 2000)
Hoạt động của hệ bài tiết
Nước tiểu của thân mềm hình thành xoang bao tim đi qua một hoặc nhiều đôihậu thận (metanephridia) Giống như giun đốt, dịch xoang bao tim đi vào thân quaống dẫn thận – xoang bao tim Xoang bao tim là một xoang nhỏ còn được gọi làpericardium (peri có nghĩa là bao quanh, cardio có nghĩa là tim)
Trang 9Vì vậy, dịch xoang bao tim là chất từ máu thấm qua vách của tim chứa các phân
tử chất thải như ammonia Trên vách tim có một lớp tế bào mỏng được gọi làpodocyte thực hiện chức năng siêu lọc làm gia tăng áp lực của dịch bài tiết đi quavách của tim Hơn nữa, chất thải được tiết vào xoang bao tim bởi tuyến xung quanhbao tim Tương tự như giun đốt, nước tiểu cũng được tái hấp thu khi đi qua thận, sau
đó bị thải ra xoang màng áo qua lỗ niệu rồi theo dòng nước ra ngoài môi trường(Pechenik, 2000)
Hệ thống phân loại của thân mềm (nhuyễn thể)
Một số nhà phân loại học dựa vào cấu tạo của vỏ đã chia ngành thân mềm thành
(Mollusca) thành 7 hoặc 8 lớp khác nhau Tiêu biểu là hệ thống phân loại của Ruppert and Barnes (1994) và Barnes et al (2000) Theo hệ thống phân loại của Ruppert and Barnes (1994) thì lớp Amphineura được tách thành 3 lớp mới đó là Aplacophora, Monoplacophora và Polyplacophora Các lớp Gastropoda, Bivalvia, Scaphopoda và Cephapoda không có gì thay đổi so với các hệ thống phân loại trước đây Do đó, theo cách phân chia này ngành thân mềm (Mollusca) gồm 7 lớp Theo Barnes et al (2000) thì lớp Aplacophora được tách thành 2 lớp mới đó là Chatoderrmomorpha và Neomeniomorpha Các lớp còn lại cũng tương tự như cách phân chia của Ruppert and Barnes (1994) Như vậy, theo Barnes et al (2000) thì
ngành thân mềm được chia thành 8 lớp (Hình 1)
Trang 10Hình 1 Hệ thống phân loại ngành thân mềm (Mollusca) theo Barnes et al (2000)
Tổng quan về Phú Quốc
Đặc điểm khí hậu
Phú Quốc nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa mang tính chất xích đạo, nhưng
bị chi phối mạnh bởi các quy luật cửa biển nên ôn hòa hơn so với cá huyện trong đấtliền Địa hình thiên nhiên Phú Quốc thoai thoải chạy từ Nam đến Bắc với 99 ngọnnúi đồi Phần lớn các vùng biển quanh đảo nông, có độ sâu chưa đến 10m Riêng cụmđảo nhỏ của cảng An Thới bị ngăn cách hẳn với phần mũi phía Nam của đảo PhúQuốc bởi một eo biển có độ sâu tới hơn 60m
Do nằm ở vĩ độ thấp, trong vịnh Thái Lan, xung quanh biển bao bọc nên Phú Quốc
Trang 11có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mát mẻ quanh năm Một năm có 2 mùa: mùa khô bắtđầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, tínhtheo âm lịch Lượng mưa trung bình cả năm là 3000mm/năm, phân bố không đều,khu vực Bắc đảo có thể đạt 4000mm/năm Vào mùa khô, đảo Phú Quốc chịu ảnhhưởng gió mùa Đông Bắc có cường độ tương đối mạnh, tốc độ gió trung bình 4m/s,mạnh nhất có thể đạt từ 20 đến 24m/s; độ ẩm trung bình 78%; nhiệt độ cao nhất là
350C vào tháng 4 và tháng 5 Vào mùa mưa, thịnh hành gió mùa Tây - Tây Nam, tốc
độ gió trung bình 4,5m/s; độ ẩm từ 85 đến 90%; lượng mưa trung bình là414mm/tháng Phú Quốc bốn bề là biển nhưng nhờ có rừng nên đảo có sông, suối, vàcác tầng nước ngầm (http://mobile.coviet.vn)
Các hệ sinh thái và nguồn lợi thủy sản
Điều kiện tự nhiên của Phú Quốc khá phong phú, vừa có rừng, vừa có biển nên sảnvật thiên nhiên của Phú Quốc cũng rất đa dạng và phong phú Vùng biển Phú Quốcnằm trong vịnh Thái Lan, biển ấm, là môi trường thuận lợi cho các loài hải sản sinhsôi, phát triển, nên sản vật biển của Phú Quốc rất phong phú, nhiều chủng loại Hệđộng vật hoang dã với 150 loài, HST san hô với 252 loài, thảm cỏ biển khoảng 10loài, diện tích 100km2 được xem là đa dạng sinh học lớn nhất so với các thảm cỏ biểntrong cả nước, trong thảm cỏ biển có nhiều loài thú biển quý hiếm như Dugong, cáHeo… (Lê Đức An, 2008)
Thảm cỏ biển
Các tư liệu nghiên cứu gần đây bằng phương pháp giải đoán ảnh và khảo sát ngầmcho thấy, thảm cỏ biển thường thấy phân bố ở những vùng nước nông, ven bờ, nơi cónền đáy thoai thoải ở phía bắc, đông bắc, vùng phía đông và nam của đảo tổng diệntích ước tính 11.750ha (Lê Thị Nhứt và cộng sự, 2005) Nhìn chung các thảm cỏ biển
ở Phú Quốc thường phân bố ở những vùng nước nông, dọc theo vùng triều ven đảonhưng không liên tục mà đứt đoạn ở một số nơi có các gành đá, núi ăn ra biển Vùngven bờ phía tây đảo lớn Phú Quốc và các đảo ở phía nam thuộc quần đảo An Thớihầu như không thấy cỏ biển phân bố, ngoại trừ thảm cỏ biển diện tích nhỏ ở DươngĐông, bãi Bầu và Hòn Dăm
Vùng xung quanh Phú Quốc có thành phần loài cỏ biển khá đa dạng với 9 trong dố
10 loài cỏ biển đã được ghi nhận gồm: cỏ lá dừa (Enhalus acoroides), cỏ xoan nhỏ (Halophila minor), cỏ xoan (Halophila ovalis), cỏ bò biển (Thalassia hemprichii), cỏ kiệu tròn (Cymodocea rotundata), cỏ kiệu răng cưa (Cymodae serrulata), cỏ kim biển (Halodule pinifolia), cỏ hẹ ba răng (Halodule uninervis) và cỏ lăng biển (Syringodium isoetifolium) (Thái Thành Lượm và ctv., 2012).
Rạn san hô
Rạn san hô là một trong những quần cư quan trọng ở vùng nước nông ven bờ củaquần đảo Phú Quốc Kết quả khảo sát của WWF (1994), Nguyễn Văn Long và cộng
Trang 12sự (2006) cho thấy các rạn san hô phân bố chủ yếu xung quanh các đảo thuộc cụmđảo phía nam quần đảo An Thới, các đảo phía tây bắc bao gồm hòn Bàng, hòn ThầyBói, hòn Đồi Mồi, hòn Móng Tay và với diện tích nhỏ ở một số khu vực phía tây bắc(Gành Dầu, Ông Quới, Cửa Cạn) và đông bắc xung quanh đảo lớn Phú Quốc.
Thảm cỏ biển và rạn san hô là môi trường sinh sản, ương nuôi và sinh sống của cácloài thủy sản Điều kiện môi trường, chất lượng nước của khu vực này khá tốt, nênđây là nơi nuôi dưỡng con non của rất nhiều loài cá rạn san hô lên tới 135 loài vànhững thảm cỏ biển Trong khu vực sinh sống của những bãi cỏ biển, có rất nhiềuthức ăn và đồng thời cũng là nơi ẩn náu, cư trú thuận lợi nên tập trung nhiều loài cáven bờ, trong đó có nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế cao như: cá Ngựa, Ghẹ… Đặcbiệt, Phú Quốc có 3 loài động vật biển quý hiếm là: Dugong (bò biển), Rùa biển và
Cá heo, đây là 3 loài đã được các tổ chức bảo vệ động vật trên thế giới và Chính phủViệt Nam đưa vào sách đỏ cần được bảo vệ nghiêm nghặt Một vài năm trở lại đây,
sự xuất hiện của những loài này có xu hướng tăng, càng khẳng định cho chất lượngmôi trường nơi đây còn rất tốt Ngoài ra Phú Quốc cũng nơi tập trung nguồn giống,bãi ương nuôi ấu trùng và con non của các loài hải sản Phần lớn người dân PhúQuốc sống bằng nghề khai thác thủy sản, đóng góp 25% sản lượng khai thác thủy sảncủa toàn tỉnh Các loại hải sản được tập trung đánh bắt là: cá mú, cá hồng, cá kẽm, cá
bè, cá mó, cá da bò… đây là những hải sản có giá trị thương mại cao do nhu cầu lớncủa thị trường Các cá thể hai mảnh như hầu ngọc, bào ngư, điệp … thường đượckhai thác làm thực phẩm và đồ trang sức (Ma Lăng Văn, 2014) Nhóm thân mềm cógiá trị kinh tế có mật độ trung bình đạt 4 con/100m2, cao nhất là Hòn Thơm, đôngnam Hòn Mây Rút Trong, đông nam Hòn Kim Quy và Hòn Thầy Bói mật độ trungbình 7 cá thể/100m2 và thấp nhất là Hòn Móng Tay, Hòn Dừa, Hòn Mây Rút Trongđạt 1 cá thể/100m2 (Thái Thành Lượm và ctv., 2012).
và Nhật Bản, vỏ khăn xếp (Turbo) ở Thái Bình Dương và họ ốc đất Helicidea đó đã
được ăn từ thời tiền sử Ngoài ra một số loài còn cung cấp con người thịt và trứng(Bunje, 2003; Kozloff, 1990)
Vỏ của nhiều loại thân mềm đã được phổ biến để sử dụng trong trang trí củacon người Chúng có thể được sử dụng toàn bộ hoặc cắt thành miếng Chúng được sửdụng cho tất cả các loại mặt dây chuyền, hạt, các nút, trâm cài, nhẫn, và lược tóc.Mảnh nhỏ của vỏ có màu và óng ánh Hơn nữa, chúng đã được sử dụng để tạo ra
khảm và khảm dùng để trang trí các mặt hàng lớn như hộp và đồ nội thất (Gemma et al., 2007).
Trang 13Trong nước
Việt Nam là nước nằm trong vùng nhiệt đới Phía Đông và Nam đều giáp biển,
có nhiều vũng, vịnh, cửa sông đổ ra biển, nền đáy đa dạng… tạo nên khu hệ động vậtphong phú về thành phần loài Thân mềm là một trong các loài đem lại lợi ích kinh tếcao Do đó việc nghiên cứu động vật thân mềm được tiến hành sâu rộng từ thế kỉ XX,nhất là sau khi viện Hải Dương học Nha Trang được thành lập năm 1922
Năm 1996, đã tổng kết và giới thiệu 88 loài thân mềm có giá trị kinh tế ở biển
Việt Nam, trong đó Bivalvia có 24 loài Mỗi loài tác giả đều mô tả đặc điểm hình
thái, địa lý phân bố và giá trị kinh tế Và xác định khu hệ động vật thân mềm ở vùngbiển Nam Việt Nam (từ Quy Nhơn trở vào) ở độ sâu từ vùng triều đến 50 mét nước
có 731 loài trong đó Bivalvia có 217 loài (Nguyễn Chính, 1996) Cũng trong năm
này, Trung tâm nghiên cứu Thủy Sản III khi nghiên cứu về đã xác định nghêu Bến
Tre (Meretrix lyrata) chỉ gặp ở vùng biển Nam Bộ: ven biển Cần Giờ (Thành phố Hồ
Chí Minh), Gò Công Đông (Tiền Giang), Bình Đại, Ba tri, Thạnh Phú (Bến Tre), CầuNgang, Duyên Hải (Trà Vinh), Vĩnh Châu (Sóc trăng), thị xã Bạc liêu, Vĩnh lợi (BạcLiêu), Ngọc Hiển (Cà Mau) (Nguyễn Hữu Phụng, 1996)
Các nhà khoa học Việt Nam kết hợp với các nhà khoa học trên thế giới nghiêncứu về việc quản lí, bảo tồn động vật đáy ở Việt Nam và tổ chức hội thảo đã công bố
ở rừng ngập mặn Việt Nam có 77 loài Bivalvia (20 họ); 75 loài Gastropoda (25 họ)
(Đỗ Văn Nhượng 1998)
Năm 1999, đã xác định có một loài Hàu phân bố tại vùng biển Kiên Giang, đó
là loài Crassostrea sp (Trần Quang Minh và Nguyễn Đinh Hùng, 1999).
Nguyễn Xuân Dục (2001) đưa ra danh mục 352 loài động vật thân mềm Hai
mảnh vỏ thuộc 143 giống, 43 họ, 8 bộ, 3 lớp phụ: Protobranchia, Pteriomorphia, Heterodonta Với mỗi loài đều có dẫn liệu về địa điểm, thời gian thu mẫu, độ sâu và
chất đáy nơi thu mẫu
Theo báo cáo khoa học Sở thủy sản Kiên Giang-2001-xác định có 147 loài
nhuyễn thể, trong đó Bivalvia có 41 loài (chiếm 23,56%) Nghiên cứu của Nguyễn
Văn Chung (2001), cũng đã thống kê được khoảng 120 loài động vật thân mềm,trong đó lớp Hai mảnh vỏ có khoảng trên 30 loài
Năm 2001, Đinh Văn Hải và Đặng Công Phi đã xác định được thành phần cácloài động vật thân mềm tại các khu vực thăm dò và khai thác dầu khí biển Việt Nam,thu được 500 giống loài thân mềm, định tên được 291 loài thuộc 3 lớp Trong đó lớpHai mảnh vỏ có số loài lớn nhất (187 loài)
Năm 2002, Trần Kim Hằng đã thực hiện đề tài và đã xác định: nghề nuôi nghêu
ở Tiền Giang và Bến Tre phụ thuộc rất nhiều vào nghêu giống và các điều kiện tựnhiên ở vùng nuôi
Trang 14Động vật thần mềm hai mảnh vỏ là một trong những nhóm loài có tính đa dạngthành phần loài cao trong hệ sinh thái rừng ngập mặn Việt Nam Trong khu hệ độngvật rừng ngập mặn ven biển Bắc Bộ, chúng chiếm khoảng 80 loài trong tổng số 389
loài động vật đáy (Phạm Đình Trọng và ctv., 2004)
Năm 2005 Bộ Thủy sản đã tập hợp được 170 loài thuộc 58 họ trong 3 lớp (Haimảnh vỏ, Chân bụng và lớp Chân đầu) Đây là những loài thân mềm thường gặp ởViệt Nam và có giá trị kinh tế cao (Thái Thanh Dương, 2005)
Trong hai năm 2010 - 2011, đã tiến hành nghiên cứu, đánh giá hiện trạng thànhphần loài, phân bố, sinh khối động vật thân mềm trong vùng rạn san hô tại 19 đảokhảo sát Bằng phương pháp hình thái so sánh, nhóm tác giả đã xác định được 227loài thuộc 44 họ, 13 bộ của 3 lớp động vật thân mềm, trong đó lớp chân bụng
(Gastropoda) 163 loài, lớp hai mảnh vỏ (Bivalvia) 57 loài, lớp chân đầu (Cephalopoda) 7 loài Phân bố theo vùng địa lý: Phú Quý (146 loài), Cát Bà và Thổ
Chu (cùng 144 loài), Cù Lao Chàm và Hải Vân - Sơn Chà (cùng 137 loài), Nam Yết(135 loài)… (Đỗ Thanh An, 2014)
2.3.2 Luận giải về sự cần thiết, tính cấp bách, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Đảo Phú Quốc là một huyện đảo có tiềm năng lớn phát triển kinh tế và du lịch.Điều này giúp nâng cao cuộc sống cho người dân địa phương Tuy nhiên, chínhnhững sản phẩm từ dịch vụ du lịch đã ảnh hưởng đến môi trường và tác động mạnh
mẽ đến nguồn lợi thủy sinh của vùng biển Phú Quốc nói riêng, vùng biển Tây Namnói chung Nó làm giảm sự đa dạng và phong phú về thành phần và số lượng loàisinh vật biển của vùng này Chính vì đó, chúng tôi muốn xây dựng bộ mẫu vật vềthân mềm để lưu giữ tiêu bản về các loài thân mềm phân bố ở vùng biển đảo PhúQuốc Đây cũng là tiền đề để phát triển du lịch sinh thái kết hợp với bảo tồn thiênnhiên và nghiên cứu khoa học
Bên cạnh đó, Viện khoa học và bảo tồn biển-đảo của trường Đại học KiênGiang đã thành lập từ tháng 10 năm 2015 Tuy nhiên, số lượng mẫu vật về các ngành
còn hạn chế Chính vì thế, đề tài “Khảo sát thành phần loài và xây dựng bộ mẫu vật ba lớp thân mềm vùng biển Phú Quốc, Kiên Giang” được đề xuất thực hiện.
Đề tài này sẽ là nguồn tài liệu hữu ích để phục vụ cho việc giảng dạy thực hành,nghiên cứu khoa học biển được tốt hơn
2.4 Liệt kê danh mục các công trình nghiên cứu, tài liệu trong nước và ngoài nước có liên quan đến đề tài đã trích dẫn khi đánh giá tổng quan:
Abbott, R.T & Dance, S P 1986 Compedium of Seashells American Malacologists
Inc., Florida 411 pp
Báo cáo khoa học 2001 Điều tra sự phân bố một số loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ có giá trị kinh tế tại vùng biển Kiên Giang Sở thủy sản Kiên Giang- 2001.