1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ giải quyết những vấn đề về quyền sử dụng đất cho phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện tiên lữ tỉnh hưng yên

125 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 920,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI (11)
  • 1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI (13)
  • 1.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU (13)
    • 1.3.2. PHẠM VI NGHIÊN CỨU (13)
  • 2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN (15)
    • 2.1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ TRANG TRẠI (15)
      • 2.1.1.1 KHÁI NIỆM TRANG TRẠI VÀ KINH TẾ TRANG TRẠI (15)
      • 2.1.1.2. ĐẶC TRƯNG CHỦ YẾU CỦA KINH TẾ TRANG TRẠI (17)
      • 2.1.1.3. TIÊU CHÍ XÁC ĐỊNH TRANG TRẠI (18)
      • 2.1.1.4. VAI TRÒ CỦA KINH TẾ TRANG TRẠI TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP (19)
      • 2.1.1.5. XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA KINH TẾ TRANG TRẠI (20)
    • 2.1.2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT (21)
      • 2.1.2.1. QUYỀN SỞ HỮU (21)
      • 2.1.2.2. QUYỀN SỞ HỮU TOàN DÂN VỀ ĐẤT ĐAI (22)
      • 2.1.2.3. QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT (24)
  • 2.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN (29)
    • 2.2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ VIỆC THỰC HIỆN CÁC QSDĐ Ở VIỆT NAM (31)
      • 2.2.2.1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở VIỆT NAM (31)
      • 2.2.2.2 THỰC TIỄN VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở VIỆT NAM (35)
  • PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (40)
    • 3.1. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU (40)
      • 3.1.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN (40)
        • 3.1.1.1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ ĐỊA HÌNH (40)
        • 3.1.1.2. THỜI TIẾT KHÍ HẬU - THUỶ VĂN (41)
        • 3.1.1.3. TÌNH HÌNH ĐẤT ĐAI CỦA HUYỆN (42)
      • 3.1.2. ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI (44)
        • 3.1.2.1. DÂN SỐ VÀ LAO ĐỘNG CỦA HUYỆN (44)
        • 3.1.2.2. CƠ SỞ VẬT CHẤT KỸ THUẬT CỦA HUYỆN (47)
      • 3.1.3. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA HUYỆN TIÊN LỮ (49)
    • 3.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (50)
      • 3.2.1. PHƯƠNG PHÁP THU NHẬP SỐ LIỆU (50)
        • 3.2.1.1. SỐ LIỆU THỨ CẤP (50)
        • 3.2.1.2. SỐ LIỆU SƠ CẤP (50)
      • 3.2.2. KỸ THUẬT XỬ LÝ SỐ LIỆU (53)
      • 3.2.3. PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH (54)
        • 3.2.3.1. PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH THỐNG KÊ (54)
        • 3.2.3.2. PHƯƠNG PHÁP SO SÁNH (54)
        • 3.2.3.3. PHƯƠNG PHÁP CHUYÊN GIA, CHUYÊN KHẢO (54)
  • PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (55)
    • 4.1. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI HUYỆN TIÊN LỮ (55)
      • 4.1.1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC TRANG TRẠI HUYỆN TIÊN LỮ (55)
      • 4.1.2. ĐIỀU KIỆN SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÁC TRANG TRẠI (59)
        • 4.1.2.1. ĐIỀU KIỆN ĐẤT ĐAI (59)
        • 4.1.2.2. NHÂN KHẨU VÀ LAO ĐỘNG (63)
        • 4.1.2.3. MỘT SỐ ĐIỀU KIỆN KHÁC (67)
    • 4.2. ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CÁC QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT (68)
      • 4.2.1. TÌNH HÌNH CHUYỂN ĐỔI RUỘNG ĐẤT (68)
      • 4.2.2. TÌNH HÌNH CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA NHÓMTRANG TRẠI ĐIỀU TRA (73)
      • 4.2.3. TÌNH HÌNH THUÊ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT (81)
        • 4.2.3.1 THUÊ TỪ QUỸ ĐẤT CỦA ĐỊA PHƯƠNG (81)
        • 4.2.3.2. TÌNH HÌNH THUÊ ĐẤT CỦA TRANG TRẠI TỪ CÁC HỘ NÔNG DÂN (82)
      • 4.2.4. CHUYỂN QUYỀN THỪA KẾ RUỘNG ĐẤT (87)
      • 4.2.5. THẾ CHẤP BẰNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT (90)
      • 4.2.7. TÌNH HÌNH CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT (93)
    • 4.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC QSDĐ (94)
      • 4.3.2. MỘT SỐ TỒN TẠI, KHÓ KHĂN CẦN ĐƯỢC KHẮC PHỤC (96)
    • 4.4. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT NHỮNG VƯỚNG MẮC VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CHO PHÁT TRIỂN (98)
      • 4.4.1. PHƯƠNG HƯỚNG (98)
      • 4.4.2. CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ GIẢI QUYẾT NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CHO PHÁT TRIÊN KINH TẾ (99)
        • 4.4.2.1. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VĨ MÔ (99)
        • 4.4.2.2. CÁC GIẢI PHÁP CỤ THỂ (103)
  • PHẦN IV: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (111)
    • 4.1. KẾT LUẬN (111)
    • 4.2. KIẾN NGHỊ (0)
      • 4.2.1. KIẾN NGHỊ VỚI NHÀ NƯỚC (113)
      • 4.2.3. ĐỐI VỚI CHỦ TRANG TRẠI, CÁC HỘ NÔNG DÂN (114)
    • Biểu 4.6 Lý do chuyển nhượng và ý kiến của chủ trang trại (0)

Nội dung

Vào những năm đầu của thời kỳ đổi mới, Nhà nước ta đã đặt điểm đột phá của đổi mới vào chính sách giao đất sản xuất nông nghiệp của hợp tác xã cho hộ gia đình, cá nhân để sử dụng ổn định

TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Đất đai là tư liệu sản xuất đặc thù và là nguồn lực quan trọng của sản xuất nông nghiệp Hơn nữa, đất đai không chỉ liên quan đến kinh tế thuần túy mà con quan hệ chặt chẽ đến các vấn đề chính trị-xã hội Chính sách đất đai có vị trí quan trọng nhất, là trung tâm trong hệ thống chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn và là cơ sở thực hiện các chính sách khác

Từ ngày đầu cách mạng, khẩu hiệu người cày có ruộng đã tập hợp được đông đảo nông dân để giành được chính quyền Sau đó, cải cách ruộng đất rồi hợp tác hoá nông nghiệp đều là những bước ngoặt cách mạng quan trọng mà động lực cũng là nông dân Vào những năm đầu của thời kỳ đổi mới, Nhà nước ta đã đặt điểm đột phá của đổi mới vào chính sách giao đất sản xuất nông nghiệp của hợp tác xã cho hộ gia đình, cá nhân để sử dụng ổn định lâu dài, được thể chế hoá trong Luật Đất đai năm 1987 Điểm đột phá này đã tạo nên động lực để kinh tế nông nghiệp phát triển vượt bậc, đưa nước ta từ tình trạng thiếu lương thực trở thành một trong 3 nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới

Một thời gian sau, động lực này đã không giúp cho sản xuất nông nghiệp tăng thêm hơn nữa về năng suất và sản lượng, một sức ì mới lại phát sinh Về mặt lý luận, có thể thấy rõ là khi điều chỉnh quan hệ sản xuất cho phù hợp với lực lượng sản xuất thì sản xuất sẽ phát triển đến một mức độ nhất định; để sản xuất tiếp tục phát triển thì phải đổi mới về tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất Chủ trương phát triển sản xuất hàng hoá trong kinh tế nông nghiệp được đặt ra như một bước đi tất yếu để giải quyết vấn đề tam nông Một trong những biện pháp quan trọng nhất để phát triển sản xuất hàng hoá nông nghiệp là giải pháp tập trung ruộng đất để tổ chức sản xuất ở quy mô lớn hơn Chìa khoá pháp lý để thực hiện giải pháp này là việc Nhà nước trao cho hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp 5 quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp cho thuê đối với đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và đất ở Đây chính là nội dung đổi mới của Luật Đất đai năm 1993 Dựa vào cơ sở pháp lý này, Nhà nước có thể khuyến khích khu vực nông thôn thực hiện phong trào dồn điền, đổi thửa để tránh sản xuất manh mún, có điều kiện quy hoạch lại đồng ruộng, sử dụng được các dịch vụ giao thông, điện, thuỷ lợi, phân bón, thuốc trừ sâu bệnh và áp dụng được các tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp Từng người nông dân, hộ gia đình nông dân hay một nhóm hộ gia đình có năng lực làm nông nghiệp có thể tập trung ruộng đất thành các trang trại để có một địa bàn hoạt động rộng hơn, đa dạng hơn và công nghiệp hơn

Hưởng ứng phong trào chung của cả nước, của tỉnh Hưng Yên, xuất phát từ thực tế là một huyện thuần nông có diện tích đất nông nghiệp bình quân trên người thấp, hơn nữa lại manh mún chủ yếu là độc canh cây lúa, việc sử dụng các nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế thấp đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, huyện Tiên Lữ đã tiến hành dồn điền đổi thửa khuyến khích phát triển các mô hình kinh tế trang trại nhằm khai thác tốt các tiềm năng của địa phương mang lại hiệu quả kinh tế cao góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, tạo thêm việc làm giải quyết lao động dư thừa ở nông thôn, tăng thêm thu nhập cho một bộ phận dân cư

Hiện nay hình thức kinh tế trang trại trên địa bàn huyện đang tăng nhanh cả về số lượng lẫn quy mô sản xuất, đầu tư trong trang trại Tuy nhiên quá trình phát triển kinh tế trang trại đang đặt ra nhiều vấn đề tồn tại cần được giải quyết kịp thời trong đó nổi cộm nhất là những vấn đề xung quanh việc thực hiện quyền sử dụng đất đai như việc chuyển đổi, chuyển nhượng, thuê đất…tích tụ, tập trung ruộng đất để làm kinh tế trang trại Những vấn đề này nếu chậm được giải quyết sẽ kìm hãm, hạn chế sự phát triển kinh tế trang trại Xuất phát từ yêu cầu thực tế đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Gi ả i quy ế t nh ữ ng v ấ n đ ề v ề quy ề n s ử d ụ ng đ ấ t cho phát tri ể n kinh t ế trang tr ạ i trên đ ị a bàn huy ệ n Tiên L ữ - t ỉ nh H ư ng Yên”.

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về quyền sử dụng đất và các vấn đề liên quan đến phát triển trang trại ở Việt Nam

- Đánh giá thực trạng thực hiện các quyền của trang trại trong sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Tiên Lữ

- Đề xuất một số giải pháp giải quyết những vấn đề về quyền sử dụng đất để thúc đẩy phát triển kinh tế trang trại tại địa phương.

CƠ SỞ LÝ LUẬN

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ TRANG TRẠI

2.1.1.1 Khái niệm trang trại và kinh tế trang trại a) Khái niệm trang trại

Theo tác giả Phạm Minh Đức: “Trang trại là loại hình sản xuất nông nghiệp hàng hoá của hộ, do một người chủ hộ có khả năng đón nhận những có hội thuận lợi, từ đó huy động thêm vốn và lao động, trang bị tư liệu sản xuất, lựa chọn công nghệ sản xuất thích hợp, tiến hành tổ chức sản xuất và dịch vụ những sản phẩm theo yêu cầu thị trường nhằm thu lợi nhuận cao” [24].

Tác giả Nguyễn Đức Thịnh thì cho rằng: “Trang trại là hình thức sản xuất nông nghiệp dựa trên cơ sở lao động và đất đai của hộ gia đình là chủ yếu, có tư cách pháp nhân, tự chủ sản xuất nông sản hàng hoá, tạo ra nguồn thu nhập chính cho gia đình và đáp ứng nhu cầu cho xã hội”

Từ những quan điểm trên chúng ta thấy rằng trang trại là:

- Kinh tế hộ nông dân sản xuất ra hàng hoá

- Các hộ nông dân phải đạt mức độ tương đối lớn về quy mô sản xuất hàng hoá và đa dạng hoá sản xuất để có thể tái sản xuất mở rộng được sau khi các nhu cầu thiết yếu của đời sống sinh hoạt được bảo đảm

- Phương thức sản xuất của gia đình gắn trực tiếp giữa người lao động với đất đai, tư liệu sản xuất, gắn thu nhập của người lao động với hiệu quả sản xuất b) Khái niệm kinh tế trang trại

Cho đến nay đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về KTTT

Theo tác giả Lê Trọng (1993) cho rằng: “Kinh tế trang trại (hay kinh tế nông trại, lâm trại, ngư trại ) là một hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội, dựa trên cơ sở hợp tác và phân công lao động xã hội, bao gồm một số người lao động nhất định để tiến hành hoạt động kinh doanh phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường và được Nhà nước bảo hộ” [22]

Theo quyết định của Chính phủ số 03/2000/NQ – CP ngày 02 tháng

02 năm 2000 về KTTT: “ Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thủy sản”

Qua những ý kiến, quan điểm về TT và KTTT có thể rút ra khái niệm chung về TT và KTTT như sau:

- TT: là một đơn vị sản xuất nông nghiệp có quy mô lớn cả về diện tích cũng như giá trị sản xuất, đòi hỏi đầu tư cao và hoạt động theo cơ chế thị trường

- KTTT: là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông nghiệp

( lâm nghiệp, nông nghiệp) trong đó tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của người chủ độc lập ( thường là chủ hộ) hoạt động sản xuất kinh doanh tự chủ trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất tập trung đủ lớn với cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao nhằm mục đích chủ yếu là sản xuất nông sản hàng hoá, gắn liền với thị trường dưới sự bảo hộ của pháp luật

- Tuy nhiên, chúng tôi cần khẳng định rằng hai khái niệm “ Trang trại” và “ Kinh tế trang trại” là hai khái niệm không đồng nhất KTTT là tổng thể các yếu tố vật chất của các quan hệ kinh tế nẩy sinh trong quá trình tồn tại và hoạt động của TT Còn TT là nơi kết hợp các yếu tố vật chất của sản xuất, là chủ yếu của các quan hệ đó Như vậy, nói KTTT là xem xét TT ngoài mặt kinh tế còn có thể nhìn nhận xem xét từ mặt xã hội, môi trường

- Về mặt xã hội: TT là một tổ chức cơ sở xã hội, trong đó các quan hệ xã hội đan xen nhau: Quan hệ giữa các thành viên của hộ TT, quan hệ giữa chủ TT và người lao động làm thuê, quan hệ giữa làm thuê với nhau

- Về mặt môi trường: TT là một không gian sinh thái, trong đó diễn ra các quan hệ sinh thái đa dạng Không gian sinh thái TT có quan hệ chặt chẽ và ảnh hưởng qua lại trực tiếp với quan hệ sinh thái trong vùng

- Qua phân tích ở trên chúng ta nhận thấy khái niệm TT rộng hơn khái niệm KTTT, song giữa các mặt kinh tế, xã hội và môi trường của

TT thì mặt kinh tế vẫn là cơ bản chứa đựng những nội dung cốt lõi của

TT Vì thế khi đề cấp đến KTTT tức là nói tới mặt kinh tế của TT, người ta thường gọi tắt là TT

2.1.1.2 Đặc trưng chủ yếu của kinh tế trang trại

* Mục đích sản xuất của TT là sản xuất nông, lâm, thuỷ sản xuất hàng hoá với quy mô lớn

* Mức độ tập trung và chuyên môn hoá các điều kiện và yếu tố sản xuất cao hơn hẳn ( vượt trội) so với sản xuất của nông hộ, thể hiện ở quy mô sản xuất như: Đất đai, đầu con gia súc, lao động, giá trị nông lâm thuỷ sản hàng hoá

* Chủ TT có kiến thức và kinh nghiệm trực tiếp điều hành sản xuất, biết áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới vào sản xuất; sử dụng lao động gia đình và thuê lao động bên ngoài sản xuất hiệu quả cao, có thu nhập vượt trội so với kinh tế hộ[9]

2.1.1.3 Tiêu chí xác định trang trại

Một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản được xác định là TT phải đạt một trong hai tiêu chí về giá trị sản lượng hàng hóa dịch vụ bình quân 1 năm đạt từ 150 triệu đồng trở lên (áp dụng đối với năm 2006) hoặc về quy mô sản xuất của trang trại Theo thông tư số 62/2003/TTLT/BNN-TCTK a) Đối với TT trồng trọt:

+ TT trồng cây hàng năm: Từ 2 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung; từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên

MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Theo điều 164 của Bộ Luật dân sự 2005: "Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật" [3] Sở hữu là việc tài sản, tư liệu sản xuất, thành quả lao động thuộc về một chủ thể nào đó, nó thể hiện quan hệ giữa người với người trong quá trình tạo ra và phân phối các thành quả vật chất Đối tượng của quyền sở hữu là một tài sản cụ thể, chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác (hộ gia đình, cộng đồng)

Quyền sở hữu bao gồm 3 quyền năng:

- Quyền chiếm hữu là quyền của chủ sở hữu nắm giữ, quản lý tài sản thuộc sở hữu của mình Trong một số trường hợp theo quy định của pháp luật thì người không phải là chủ sở hữu tài sản có quyền sở hữu tài sản (nhà vắng chủ) [5]

- Quyền sở hữu là quyền của chủ sở hữu khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản Chủ sở hữu có quyền khai thác giá trị tài sản theo ý chí của mình bằng cách thức khác nhau Người không phải là chủ sở hữu cũng có quyền sử dụng tài sản trong trường hợp được chủ sở hữu giao quyền sử dụng, điều này thấy rõ trong việc Nhà nước giao QSDĐ cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân [5]

-Quyền định đoạt là quyền của chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu tài sản của mình cho người khác hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó Chủ sở hữu thực hiện quyền định đoạt tài sản của mình theo hai phương thức:

+ Định đoạt số phận pháp lý của tài sản, tức là chuyển quyền sở hữu tài sản của mình cho người khác thông qua hình thức giao dịch dân sự như bán, đổi, tặng cho, để thừa kế

+ Định đoạt số phận thực tế của tài sản, tức là làm cho tài sản không còn trong thực tế Ví dụ: tiêu dùng hết, tiêu huỷ, từ bỏ quyền sở hữu [5]

2.1.2.2 Quyền sở hữu toàn dân về đất đai

Sở hữu đất đai có thể được biểu hiện ở nhiều hình thức khác nhau, nhưng suy cho cùng trong mọi xã hội, mọi hình thái kinh tế - xã hội có nhà nước, sở hữu đất đai cũng chỉ tồn tại ở hai chế độ sở hữu cơ bản là sở hữu tư và sở hữu công Cũng có thể trong một chế độ xã hội, một quốc gia chỉ tồn tại một chế độ sở hữu hoặc là chế độ sở hữu công cộng hoặc là chế độ sở hữu tư nhân về đất đai, cũng có thể là sự đan xen của cả hai chế độ sở hữu đó, trong đó có những hình thức phổ biến của một chế độ sở hữu nhất định [15] Ở Việt nam, chế độ sở hữu về đất đai cũng được hình thành và phát triển theo những tiến trình lịch sử nhất định, mang dấu ấn và chiệu sự chi phối của những hình thái kinh tế - xã hội nhất định trong lịch sử

Nghiên cứu quá trình hình thành chế độ và các hình thức sở hữu đất đai ở Việt Nam cho thấy, chế độ sở hữu công về đất đai ở Việt Nam đất đã được xác lập từ thời phong kiến ở các hình thức và mức độ khác nhau Tuy nhiên, quyền sở hữu toàn bộ dân về đất đai chỉ hình thành theo hiến pháp 1959 và được khẳng định một cách tuyệt đối và duy nhất từ hiến pháp 1980 và sau đó được tiếp tục khẳng định và củng cố trong hiến pháp 1992 [15] Điều 17 Hiến pháp 1992 khẳng định: "đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân", Nhà nước thống nhất quản lý đât đai theo quy hoạch và pháp luật (Điều 18, Hiến pháp 1992) [8] Luật đất đai 1993 (luật đất đai sửa đổi 1998, 2001) cũng đã thể chế hoá chính sách đất đai của Đảng và cụ thể hoá các quy định về đất đai của Hiến pháp Luật Đất đai (1993, 1998, 2001) quy định các nguyên tắc quản lý và sử dụng đất đai: đất đai thuộc sở hữu toàn dân Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch, pháp luật, sử dụng đất đai hợp lý hiệu quả và tiết kiệm, bảo vệ cải tạo bồi dưỡng đất, bảo vệ môi trường để phát triển biền vững [8]

Luật đất dai 2003 đã quy định cụ thể hơn về chế độ "Sở hữu đất đai" (Điều 5), "Quản lý Nhà nước đất đai " (Điều 6), "Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và hệ thống quản lý Nhà nước về đất đai" (Điều 7).Với tư cách là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai, Nhà nước thực hiện việc thống nhất quản lý về đất đai trong phạm vi cả nước nhằm đảm bảo cho đất đai được sử dụng theo đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đảm bảo lợi ích của Nhà nước cũng như của người sử dụng Nhà nước thực hiện đầy đủ các quyền chủ sở hữu, đó là: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt

Về quyền chiếm hữu về đất đai: Nhà nước các cấp chíêm hữu đất dai thuộc phạm vi lãnh thổ của mình tuyệt đối và không điều kiện, không giới hạn Nhà nước cho phép người sử dụng được quyền chiếm hữu trên những khu đất, thửa đất cụ thể với thời gian có hạn chế, có thể lâu dài nhưng không phải là vĩnh viễn, sự chiếm hữu này chỉ là sử dụng rất đúng mục đích, dưới các hình thức giao đất không thu tiền, giao đất có thu tiền và cho thuê đất; trong những trường hợp cụ thể này, QSDĐ của Nhà nước được trao cho người sử dụng (tổ chức, hộ gia đình, cá nhân) trên những thửa đất cụ thể QSDĐ đai của Nhà nước và QSDĐ cụ thể của người sử dụng tuy có ý nghĩa khác nhau về cấp độ nhưng đều thống nhất trên từng thửa đất về mục đích sử dụng và mức độ hưởng lợi Về nguyên tắc, Nhà nước điều tiết các nguồn thu từ đất theo quy định của pháp luật để phục vụ cho nhiệm vụ ổn định và phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng, đồng thời đảm bảo cho người trực tiếp sử dụng đát được hưởng lợi ích từ đất do chính mình đầu tư mang lại [5]

Về quyền sử dụng đất đai: Nhà nước khai thác công dụng, hưởng hoa lợi từ tài sản, tài nguyên đất đai; đây là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để Nhà nước thực hiện quyền sở hữu đất đai về mặt kinh tế Trong nền kinh tế có nhiều thành phần, Nhà nước không thể tự mình trực tiếp sử dụng toàn bộ đất đai mà phải tổ chức cho toàn xã hội - trong đó có cả tổ chức của Nhà nước - sử dụng đất vào mọi mục đích Như vậy, QSDĐ lại được trích ra để giao về cho mọi người sử dụng (tổ chức, hộ gia đình, cá nhân,) trên những thửa đất cụ thể; quyền sử dụng đất đai của Nhà nước trong trường hợp này được thể hiện trong quy hoạch sử dụng đât, trong việc hưởng hoa lợi, lợi tức của đất do đầu tư của Nhà nước mang lại [5]

Về quyền định đoạt đất đai: Quyền định đoạt của Nhà nước là cơ bản và tuyệt đối, gắn liền với quyền quản lý về đất đai với các quyền năng: Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đât, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) Việc định đoạt số phận pháp lý của từng thửa đất cụ thể liên quan đến QSDĐ, thể hiện qua việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp, góp vốn, QSDĐ; những quyền này là hạn chế theo từng mục đích sử dụng, phương thức nhận đất và đối tượng nhận đất theo quy định cụ thể của pháp luật [5]

Như vậy, Nhà nước là người đại diện cho nhân dân thực hiện quyền sử hữu toàn dân về đât đai Nhà nước có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt về đất đai theo quy hoạch, kế hoạch và trên cơ sở quy định của pháp luật Tuy nhiên, với các quyền năng đó, cũng không được hiểu rằng Nhà nước quyền sở hữu về đất đai mà chỉ là đại diện cho toàn dân thực hiện quyền sở hữu đó trên thực tế Vậy chủ sở hữu của đất đai là toàn dân thực hiện quyền sở hữu đó trên thực tế Nhà nước là người đại diện, còn mỗi người dân thực hiện quyền của mình như thế nào ? Như đã nói, quyền sở hữu toàn dân về đất đai là quyền tối cao, thiêng liêng và không thể chia cắt, chủ sở hữu chỉ có thể là một, đó là toàn dân, nhưng mỗi người dân không phải là một chủ sở hữu chỉ có thể là một, đó là toàn dân, nhưng mỗi người dân không phải là một chủ sở hữu của khố tài sản chung đó, không phải là các đồng chủ sở hữu đối với đất đai Nhưng người dân (tổ chức và cá nhân, hộ gia đình) có QSDĐ Thông qua Nhà nước - cơ quan đại diện thực hiện quyền sở hữu, người dân được nhà nước giao đất, cho thuê đất sử dụng Điều này đã được hiến pháp cũng như Luật Đất đai hiện hành ghi nhận Và vì vậy, trong Luật Đất đai năm 1993 đã xuất hiện khái niệm " quyền sử dụng đất'' và "người sử dụng đất", hay nói cách khác là QSDĐ của người sử dụng [11]

Theo điều 1 Luật Đất đai 1993: "Nhà nước giao đất cho các tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội (gọi chung là tổ chức), hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài Nhà nước còn cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê đất

Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được nhà nước giao đất, cho thuê đất trong luật này gọi chung là người sử dụng đất "[11]

"Quyền sử dụng đất" là một khái niệm có tính sáng tạo đặc biệt của các nhà lập pháp Việt Nam Trong điều kiện đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân và không thể phân chia thì làm thế nào để thực hiện được quyền của mình ? Để người dân có thể khai thác, sử dụng đất đai có hiệu làm mất đi ý nghĩa tối cao của tính toàn dân, không mất đi vai trò quản lý với tư cách đại diện chủ sở hữu của nhà nước ? Khái niệm "Quyền sử dụng đất" của "người sử dụng đất " chính là sự sáng tạo pháp luật, giải quyết được mâu thuẫn nói trên và làm hài hoà được các lợi ích của quốc gia, Nhà nước và mỗi người dân [15]

CƠ SỞ THỰC TIỄN

CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ VIỆC THỰC HIỆN CÁC QSDĐ Ở VIỆT NAM

2.2.2.1 Quá trình hình thành, phát triển quyền sử dụng đất ở Việt Nam:

Pháp luật quy định về đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Việt Nam được đánh dấu bằng Luật cải cách ruộng đất năm 1953 Ngày 29/12/1987 Quốc hội đã thông qua Luật đấi đai đầu tiên nhằm điều chỉnh các quan hệ về quản lý, sử dụng đất Luật đất đai đã thể chế hoá đường lối, chính sách của Đại hội lần thứ VI của Đảng và Hiến pháp

1980 (Điều 19 - 20) khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý Luật đất đai được ban hành đúng vào thời kỳ đất nước ta bước đầu vào giai đoạn đổi mới kinh tế, đặc biệt thời kỳ nay có nhiều chính sách mở cửa Nội dung về QSDĐ của luật đất đai1988 là:

- Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với mọi loại đất, người được giao đất chỉ được chỉ được hưởng những kết quả đầu tư trên đất

- Họ không có quyền chuyển quyền sử dụng đất đai dưới mọi hình thức khác nhau

- Luật quy định: "Nghiêm c ấ m mua, bán, l ấ n chi ế m đ ấ t đai, phát canh thu tô d ướ i m ọ i hình th ứ c, nh ậ n đ ấ t đ ượ c giao mà không s ử d ụ ng, s ử d ụ ng không đúng m ụ c đích, t ự ti ệ n s ử d ụ ng đ ấ t nông nghi ệ p, đ ấ t có r ừ ng vào m ụ c đích khác, làm hu ỷ ho ạ i đ ấ t đai" [10]

Sau 4 năm thi hành đất đai năm 1988 cho thấy thực tế đã nảy sinh những bất cập, đó là người sử dụng đất thực sự không có quyền đổi đối với mảnh đất mình được giao, kể cả quyền thừa kế, chuyển nhượng, họ chỉ được chuyển QSDĐ trong các trường hợp: khi hộ nông dân vào hoặc ra HTX, tập đoàn sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp; khi HTX, tập đoàn sản xuất nông nghiệp và cá thể thoả thuận đổi đất cho nhau để tổ chức lại sản xuất; khi người được giao đất chuyển đi nơi khác hoặc đã chết mà thành viên trong hộ của người đó vẫn tiếp tục sử dụng đất đó Luật chỉ cho phép được thừa kế nhà ở hoặc mua nhà ở đồng thời được QSDĐ ở có ngôi nhà đó, sau khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận quyền sở hữu đối với nhà ở [13]

Ngoài những lý do bất cập về mặt pháp luật nêu trên, trong thời gian này Nhà nước đã ban hanh nhiều chính sách mở cửa nhăm thu hút vốn đầu tư không chỉ đối với đầu tư trong nước mà cả đối với nước ngoài Đặc biệt, quốc hội thông qua luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; nghị quyết số 05 - NQ/HNTW ngày 10/06/1993 của BCH TW khoá VII:

"Ti ế p t ụ c đ ổ i m ớ i và phát tri ể n kinh t ế - xã h ộ i nông thôn đã kh ẳ ng đ ị nh cho ng ườ i s ử d ụ ng đ ấ t đ ượ c th ự c hi ệ n các quy ề n chuy ể n đ ổ i, chuy ể n nh ượ ng, cho thuê, th ừ a k ế , th ế ch ấ p QSDĐ" Hiến pháp 1992 còn quy định: "T ổ ch ứ c, h ộ gia đình, cá nhân s ử d ụ ng đ ấ t có quy ề n chuy ể n QSDĐ theo quy đ ị nh c ủ a pháp lu ậ t" [8] Do đó, quốc hội đã đưa việc sửa đổi luật đất đai vào chương trình xây dựng pháp luật năm 1993 Luật đất đai năm 1993 được quốc hội thông qua ngày 14/07/1993 và có hiệu lực ngày 15/10/1993 về cơ bản kế thừa luật đất đai năm 1998 và bổ sung mội nội dung mới như một số quyền của người sử dụng đất Cụ thể luật cho phép người sử dụng đất được thực hiện 5 quyền: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp QSDĐ Như vậy, luật đưa ra những quy định theo xu hướng ngày càng mở rộng quyền của người sử dụng, cho họ định đoạt hạn chế QSDĐ của mình Nghĩa là chuyển QSDĐ phải tuân theo điều kiện, nội dung, hình thức do bộ luật dân sự và pháp luật về đất đai quy định

Tuy nhiên, do sự phát triển nhanh chóng của tình hình kinh tế, xã hội, qua thực tế cuộc sống với tác động của cơ chế kinh tế thị trường làm cho quan hệ đất đai càng trở lên phức tạp, nhiều vấn đề lịch sử còn chưa được xử lý thì các vấn đề mới nảy sinh mà luật đất đai 1993 chưa có quy định Vì vậy, năm 1998 luật đất đai được sửa đổi, bổ sung Luật bổ sung thêm một số quyền của người sử dụng đất như quyền góp vốn bằng giá trị QSDĐ, quyền cho thuê lại QSDĐ Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước cho thuê đất đã trả tiền sử dụng đất cho cả thời gian đầu tư hoặc tiền thuê đất đã trả trước còn lại là 05 năm cũng được thực hiện các QSDĐ như chuyển nhượng, thế chấp, góp vốn cho thuê lại QSDĐ Riêng tổ chức, hộ gia đình, cá nhân mới trả tiền thuê đất hàng năm thì chỉ được chuyển nhượng, thế chấp tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với QSDĐ [11] Để triển khai thực hiện nghị quyết của quốc hội về cải cách hành chính và để đồng bộ một số luật mà quốc hội mới thông qua trong thời gian qua như luật khuyến khích đầu tư trong nước, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, thì luật đất đai cũng cần được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp Trong chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của quốc hội, uỷ ban thườngvụ quốc hội năm 2000 luật đất đai lại được đưa vào chương trình sửa đổi, bổ sung Ngày 29/6/2001 quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 9 đã thông qua luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật đất đai Luật này đã sửa đổi, bổ sung một số vấn đề về quyền QSDĐ như sau:

- Cho phép người sử dụng đất được chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp sang mục đích khác; được chuyển đổi cơ cấu cây trồng đối với đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất làm muối, nuôi trồng thuỷ sản, nhưng cũng phải căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

- Cho phép tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có quyền thế chấp giá trị QSDĐ theo quy định của pháp luật cũng được bảo lãnh bằng giá trị QSDĐ, tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất đó tại các tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam Nghĩa là người sử dụng đất cũng được thế chấp, bảo lãnh bằng giá trị QSDĐ tại các tổ chức tín dụng có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, tổ chức tín dụng 100% vốn nước ngoài

Tuy nhiên, trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá, tình hình quản lý và sử dụng đất sau 3 năm thực hiện luật đất đai sửa đổi năm 2001 đã cho thấy còn bộc lộ những thiếu sót, yếu kém Vì vậy, việc tiếp tục sửa đổi luật đất đai năm 1993 (Luật sửa đổi bổ sung 1998, 2001) là cần thiết và tất yếu nhằm mục đích tháo gỡ những vướng mắc trong công tác quản lý, sử dụng đất, bảo đảm tính ổn định của pháp luật, đồng thời, thể chế hoá kịp thời đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng về đất đai trong thời kỳ mới Luật đất đai năm 2003 đã được quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ IV thông qua ngày 26/11/2003 và có hiệu lực từ ngày 01/07/2004

* V ề QSDĐ c ủ a h ộ gia đình, cá nhân:

Luật đất đai năm 2003 dã kế thừa quy định của luật đất đai năm

1993 đồng thời bổ sung quyền tặng, cho QSDĐ của hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không phải là đất thuê; không quy định các điều kiện hạn chế khi thực hiện quyền chuyển nhượng và bổ sung quyền thừa kế QSDĐ đất nông nghiệp trồng cây hàng năm nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong thực hiên các quyền của người sử dụng đất, thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển và tích tụ đất đai theo định hướng của Nhà nước Cụ thể nội dung của QSDĐ như sau: "Quy ề n chuy ể n đ ổ i, chuy ể n nh ượ ng, cho thuê, cho thuê l ạ i, th ừ a k ế t ặ ng cho QSDĐ; quy ề n th ế ch ấ p, b ả o lãnh, góp v ố n, b ằ ng QSDĐ quy ề n đu ợ c b ồ i th ườ ng khi Nhà n ướ c thu h ồ i đ ấ t" (Điều 106) [12]

* V ề quy ề n và ngh ĩ a v ụ c ủ a t ổ ch ứ c, cá nhân n ướ c ngoài s ử d ụ ng đ ấ t đai Vi ệ t Nam:

Luật đất đai 2003 quy định tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê đất có các quyền tương ứng với hình thức trả tiền thuê đất hàng năm hay trả tiền một lần cho cả thời gian thuê Bổ sung quyền được đầu tư xây dựng kinh doanh nhà ở tại Việt Nam

Qua các quy định của luật đất đai qua từng thời kỳ cho thấy, luật đất đai đang dần dần đưa ra những quy định phù hợp với cuộc sống hơn và chấp nhận những thực tế của cuộc sống, đòi hỏi mở rộng dần quyền của người sử dụng đất nhưng vẫn đảm bảo được nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân

2.2.2.2 Thực tiễn việc thực hiện quyền sử dụng đất ở Việt Nam:

Nhà nước giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng Trong giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2000 Nhà nước đã trao quyền sử dụng bằng hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê có thu tiền sử dụng đất cho thuê đất cho khoảng 13 triệu hộ gia đình, cá nhân (trong đó có 60.000 hộ làm kinh tế trang trại), khoảng 20.000 HTX, 5.000 doanh nghiệp Nhà nước; 70.000 công ty và doanh nghiệp tư nhân; 4.000 tổ chức, cá nhân nước ngoài Nhu cầu sử dụng đất cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội được đáp ứng, Nhà nước đã phân bố quỹ đất cho các mục đích sử dụng và giảm diện tích đất chưa sử dụng Tổng diện tích đất đã được Nhà nước giao và cho thuê đến tháng 12/2003 là 25.160.119 ha; 70,40% tổng diện tích tự nhiên cả nước (4), (6)

ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

Tiên Lữ là huyện ở phía Tây Nam tỉnh Hưng Yên, diện tích tự nhiên 9242,5 ha, dân số ( 01/4/2007) là 105.554 người, chiếm 12,51% về diện tích và 11% về dân số của cả tỉnh Huyện có tổng số 18 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm một Thị trấn và 17 xã, là một trong những huyện giàu tiềm năng và kinh tế khá phát triển của tỉnh

3.1.1.1 Vị trí địa lý và địa hình a) Vị trí địa lý:

Là một huyện của tỉnh Hưng Yên, phía Đông giáp huyện Phù Cừ, phía Tây Nam giáp huyện Kim Động và thị xã Hưng Yên, phía Bắc giáp với huyện Ân Thi, phía Nam giáp với Tỉnh Hà Nam và Thái Bình , có tuyến đê sông Hồng và sông Hồng chảy dọc huyện từ Bắc xuống Nam tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông thuỷ bộ giao lưu với các tỉnh có sông Hồng và sông Luộc chảy qua

Tiên Lữ có quốc lộ 39A và 39B chạy qua, liền kề với trung tâm tỉnh lỵ thị xã Hưng Yên Đây là một trong những điều kiện thuận lợi, dễ dàng trong việc giao lưu kinh tế, văn hoá, khoa học và liên kết kinh tế trên các lĩnh vực với các lãnh thổ liền kề bằng những lợi thế riêng của huyện b) Đặc điểm địa hình

Là huyện thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, địa hình của huyện không đồng đều cao ở phía Tây bắc, thấp dần xuống phía Đông nam, độ cao trung bình từ 1,5 - 2 m so với mặt nước biển Đất đai được chia thành hai vùng rõ rệt:

+ Vùng đất trong đê: Diện tích tự nhiên 8876,16 ha, thuộc 10 xã

+ Vùng đất ven đê: Gồm 8 xã, địa hình phức tạp hơn, ảnh hưởng đến khả năng khai thác, sử dụng đất, diện tích chưa sử dụng còn nhiều Toàn vùng chưa có hệ thống thuỷ lợi hoàn chỉnh, nước phục vụ sản xuất nông nghiệp còn phụ thuộc vào thiên nhiên

Từ địa hình tương đối phức tạp như vậy, cho nên công tác dồn thửa đổi ruộng để tập trung tích tụ ruộng đất cho sản xuất hàng hoá còn gặp nhiều khó khăn bởi người dân vẫn mang nặng tâm lý có tốt có xấu, có xa có gần

3.1.1.2 Thời tiết khí hậu - thuỷ văn

Cũng như các huyện ở đồng bằng sông Hồng, huyện Tiên Lữ mang đăc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh, tương đối khô, nửa cuối thì ẩm ướt, mùa hạ nóng ẩm, nhiều mưa

Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,20C Mùa hè nhiệt độ trung bình

30 - 320C, cao nhất vào tháng 6 tháng 7, nhiệt độ lên tới 380C Mùa đông nhiệt độ trung bình từ 17 - 220C, thấp nhất vào tháng 1 và tháng 2, nhiệt độ 8 - 100C Tổng tích ôn trung bình hàng năm là 85030C Độ ẩm không khí trung bình hàng năm xấp xỉ 85%; cao nhất 90,6%,

Tổng lượng mưa trung bình hàng năm 1700 mm; năm cao nhất lượng mưa có thể lên đến 2400mm, năm có lượng mưa thấp nhất là 1050mm Lượng mưa trung bình tháng trong năm là 175mm Mưa tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 9, mưa thường xẩy ra trùng với nước lũ sông Hồng lên cao, gây úng lụt ảnh hưởng xấu đến sản xuất và sinh hoạt của người dân Vì vậy, nguồn nước sông Hồng là nguồn nước chủ yếu cung cấp tưới tiêu qua dòng Bắc - Hưng - Hải và bồi đắp một phần phù xa cho đồng ruộng của huyện

Khí hậu thủy văn như vậy là điều kiện thuận lợi cho quá trình sinh trưởng của nhiều loại cây trồng, vật nuôi, tạo thuận lợi cho phát triển nền nông nghiệp đa dạng, phong phú Song cũng phải có nhiều biện pháp phòng chống hạn, úng, đồng thời phải xác định cơ cấu mùa vụ cây trồng hợp lý nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế

3.1.1.3 Tình hình đất đai của huyện

Qua bảng 3.1 ta thấy huyện Tiên Lữ có diện tích đất tự nhiên là 9.242,5 ha trong đó có 8.876,16 ha đất trong đê và 366,34 ha ở ngoài đê Vào mùa mưa bão diện tích đất trong đê thường bị ảnh hưởng của lũ sông Hồng Các loại đất có sự biến động khác nhau qua các năm, trong 3 năm (

2005 - 2007) đất nông nghiệp có thay đổi nhẹ, bình quân mỗi năm giảm 0,19% Trong những năm qua huyện Tiên Lữ đã khai thác triệt để diện tích đất chưa sử dụng, đó là diện tích mặt bằng chưa sử dụng 3 năm bình quân giảm 17,68% để chuyển sang đất trồng cây lâu năm, đất NTTS và đất chuyên dùng

Bảng 3.1: Tình hình sử dụng đất đai của huyện Tiên Lữ trong 3 năm ( 2005 - 2007)

Mục tiêu Diện tích ( ha)

Tổng diện tích tự nhiên 9.242,5 100,00 9.242,5 100,00 9.242,5 100,00 100,00 100,00 100,00

1 Đất trồng cây hàng năm 5704,07 86,70 5579,89 85,36 5321 82,90 97,82 95,36 96,59

2 Đất trồng cây lâu năm 309,87 4,71 384,97 5,89 513,80 8,00 124,24 133,46 128,85

II Đất chuyên dùng 1139,02 12,30 1132,41 13,30 1225,86 13,26 94,42 108,30 101,36 III Đất thổ cư 803,46 8,70 851,95 9,22 881,76 9,54 106,03 103,50 104,76

IV Đất chưa sử dụng 721,08 7,80 721,08 7,80 716,08 7,75 100,00 99,30 99,65

1 Mặt bằng chưa sử dụng 98,3 13,63 98,30 13,63 95,00 13,30 100,00 96,30 82,32

2 Măt nước chưa sử dụng 108,91 15,10 108,91 15,10 108,91 15,20 100,00 96,64 100,00

Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường - Phòng NN&PTNT - UBND huyện Tiên Lữ

Do đó,đất trồng cây lâu năm tăng nhanh qua các năm, bình quân mỗi năm tăng 28,85% Diện tích NTTS tăng bình quân mỗi năm 1,68% Đất canh tác có chiều hướng giảm bình quân mỗi năm 3,41%, do chuyển sang đất chuyên dùng và làm đất ở.Việc khai thác, tận dụng được đất bỏ hoang chưa sử dụng vào sản xuất nông nghiệp, trồng cây lâu năm và NTTS mang lại giá trị kinh tế khá cao Tính đến 31/12/2007 diện tích đất nông nghiệp còn 6.418,8 ha chiếm 69,45% diện tích đất tự nhiện và sẽ tiếp tục giảm trong những năm tới nhưng không nhiều; Vẫn còn khá nhiều diện tích đất chưa sử dụng, trong đó có 621,08 ha mặt nước sông ngòi Đây là một tiềm năng rất lớn để có thể phát triển NTTS mang lại nguồn lợi không nhỏ

3.1.2.1 Dân số và lao động của huyện

Tiên Lữ là huyện có mật độ dân số thấp của tỉnh Hưng Yên, mật độ dân số năm 2005 là 1.134 người/km 2 , bình quân đất canh tác trên khẩu nông nghiệp là 1,6 sào Những năm qua, dân số của Tiên Lữ tương đối ổn định, tỷ lệ tăng dân số bình quân mỗi năm là 0,36% Tổng số là 105.554 người, trong đó nhân khẩu nông nghiệp chiếm 90,89% tổng dân số của huyện Lao động Tiên Lữ rất dồi dào nhưng chủ yếu là lao động nông nghiệp, chưa qua đào tạo nghề Năm 2007 toàn huyện có 58.750 lao động thì có tới 47.352 lao động nông nghiệp chiếm 80,6% lao động toàn huyện Hiện nay lao động bình quân mỗi năm của huyện tăng 2,21 % trong khi lao động nông nghiệp bình quân mỗi năm giảm 2,05%, điều đó chứng tỏ Tiên

Lữ đã có nhiều biện pháp chuyển từ lao động nông nghiệp sang các ngành nghề dịch vụ khác Do vậy, bình quân đất nông nghiệp/lao động nông nghiệp tăng trong 3 năm là 1,14% Lao động dồi dào là yếu tố rất thuận lợi cho việc thâm canh tăng năng suất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phát triển ngành nghề dịch vụ Việc đẩy mạnh phát triển KTTT là một trong những hướng phát huy lợi thế của huyện để giải quyết công ăn việc làm cho người lao động

Bảng 3.2: Tình hình dân số và lao động của huyện Tiên Lữ trong 3 năm 2005 – 2007

Tốc độ phát triển (%) Chỉ tiêu Đơn vị tính Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007

Trong đó: Khẩu nông nghiệp Người 96.421 96.413 95.948 99,99 99,51 99,75

2 Mật độ dân số Người/ km 2 1.134 1.146 1.142 101,05 96,65 98,85

3 Tổng số lao động Người 56.230 57.770 58.750 102,73 101,70 102,21

Trong đó hộ NN Hộ 24.177 23.608 23.476 97,64 99,44 98,54

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.2.1 Ph ươ ng pháp thu nh ậ p s ố li ệ u

Số liệu thứ cấp được lấy từ luật đất đai, các nghị định, thông tư hướng dẫn… sách báo, tạp chí, giáo trình, bài giảng và các công trình nghiên cứu đã được công bố, các số liệu thống kê phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh, các số liệu về tình hình cơ bản của địa bàn nghiên cứu, điều kiện tự nhiên kinh tế

- xã hội của huyện Tiên Lữ từ năm 2005 đến năm 2007 Ngoài ra chúng tôi còn tham khảo các kết quả nghiên cứu đã được công bố của các cơ quan, các nhà khoa học trong và ngoài nước

Số liệu sơ cấp được điều tra thực tế từ các TT trong huyện Những số liệu này được dùng để phân tích tình hình phát triển TT, phân tích việc đầu tư sản xuất, tiêu thụ, kết quả, hiệu quả kinh tế, những khó khăn và thuận lợi trong việc phát triển TT của huyện - Phương pháp điều tra như sau:

Bảng 3.4: Tình hình phát tri ể n kinh t ế c ủ a huy ệ n Tiên L ữ trong 3 năm ( 2005 - 2007)

I Giá trị sản xuất Tỷ 647.072 100,00 715.591 100,00 805.184 100,00 110,58 112,52 111,55

1 Giá trị sản xuất nông nghiệp Tỷ 350.907 54,23 369.173 51,59 393.171 48,83 105,20 106,50 105,85 Trồng trọt Tỷ 240.441 68,52 247.345 67,00 259.532 66,01 102,87 104,92 103,89 Chăn nuôi Tỷ 110.466 31,48 121.828 33,00 133.639 33,99 110,28 109,69 109,98

2 Công nghiệp - xây dựng Tỷ 130.449 20,16 150.775 21,07 179.636 22,31 115,58 119,14 117,36

3 Dịch vụ - thương mại Tỷ 165.715 25,61 195.643 27,34 232.377 28,86 118,05 118,77 118,41

II Một số chỉ tiêu khối lượng SP

1 Tổng sản lượng lương thực Tấn 59.119 - 58.296 - 59.836 - 98,60 102,64 100,62

2 Tổng SL thịt hơi xuất chuồng Tấn 6488 - 6070 - 6523 - 93,56 107,66 100,51

3 Tổng sản lượng cá thịt Tấn 1.962 - 2529 - 2636 - 128,89 104,23 116,56 III Một số chỉ tiêu phân tích

1 Lương thực BQ Kg/ng/ năm 562 550 550 97,86 100,00 98,93

2 Thu nhập BQ đầu người Trđ/ ng/ năm 4,6 6,3 7,2 136,90 114,30 125,60

Nguồn: Phòng Thống kê, Phòng NN&PTNT - UBND huyện Tiên Lữ a) Phương pháp điều tra chọn mẫu: Chúng tôi chọn mẫu điều tra theo phương pháp ngẫu nhiên trong từng loại hình trang trại đã được phòng nông nghiệp luyện lập danh sách Để thu thập các số liệu và thông tin cần thiết chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn và điều tra 63 trang trại trên địa bàn huyện

Tiên Lữ theo mẫu phiếu điều tra Bao gồm 3 trang trại trồng trọt, 39 trang trại chăn nuôi, 3 trang trại nuôi trồng thủy sản và 18 trang trại tổng hợp b) Phương pháp thu nhập số liệu: Dùng phiếu điều tra gồm các câu hỏi phục vụ cho việc thu thập thông tin theo các nhóm sau:

- Nhóm thông tin cụ thể về TT: Loại hình TT, nghành nghề sản xuất kinh doanh chính

- Nhóm thống tin về đặc điểm chung của hộ: Số nhân khẩu, lao động, tuổi, giới tính, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thu nhập, kinh nghiệm sản xuất của người được phỏng vấn

- Nhóm thông tin về điều kiện đất đai phục vụ sản xuất và tình hình thực hiện quyền sử dụng đất trong các TT điều tra: diện tích, cơ cấu, nguồn hình thành đất đai của trang trại, tình thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, chuyển quyền thừa kế, góp vốn, thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất

- Nhóm thông tin về những thuận lợi, những tồn tại trong việc giải quyết những vấn đề về quyền sử dụng đất cho phát triển kinh tế trang trại

- Những nguyện vọng tâm tư của chủ trang trại, chính sách của nhà nước đặc biệt là chính sách đất đai

Các tài liệu thu nhập đựơc chúng tôi dùng phần mềm EXCEL để tổng hợp, tính toán các chỉ tiêu cần thiết như số tương đối, số tuỵêt đối và trung bình

3.2.3 Ph ươ ng pháp phân tích

3.2.3.1 Phương pháp phân tích thống kê

Phương pháp này dùng để phân tích mức độ, biến động đất đai và các vấn đề liên quan đến tình hình thực hiện các quyền sử dụng đất trong các TT điều tra, nêu được thuận lợi, những tồn tại cần giải quyết từ đó có căn cứ để đề xuất một số giải pháp

Trên cơ sở các chỉ tiêu đã được tính toán chúng tôi tiến hành so sánh giữa các chỉ tiêu phân tích, các loại hình trang trại…để từ đó rút ra đựơc những kết luận, những đánh giá

3.2.3.3 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo

Phỏng vấn linh hoạt các chủ trang trang trại, hộ nông dân qua đó nắm bắt tình hình thực tế, những khó khăn và nguyện vọng của chủ trang trại Tham khảo ý kiến của các nhà khoa học, nhà quản lý, lãnh đạo địa phương.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Ngày đăng: 22/07/2021, 11:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm