1.3.2 Phạm vi nghiên cứu - Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng công tác quản lý nhà nước về thị trường vật tư nông nghiệp chủ yếu đối với thị trường phân bón, thức ăn c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
-
NGUYỄN VĂN AN
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THỊ TRƯỜNG VẬT TƯ NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN TRỰC NINH TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60 31 10
Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM BẢO DƯƠNG
Hµ néi - 2012
Trang 2Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, chưa từng được sử dụng trong bất cứ công trình nghiên cứu nào
Tôi xin cam đoan, mọi việc giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, tháng 12 năm 2011
TÁC GIẢ
Nguyễn Văn An
Trang 3Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… ii
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các phòng ban của huyện Trực Ninh - tỉnh Nam Định, đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thu thập tài liệu phục vụ cho luận văn
Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tác giả luận văn
NGUYỄN VĂN AN
Trang 4Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… iii
2.1 Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về thị trường vật tư nông nghiệp 4
2.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý nhà nước về thị trường vật tư nông nghiệp
4.1 Một số nét khái quát quản lý nhà nước về thị trường vật tư nông
4.1.1 Các chính sách về quản lý thị trường vật tư nông nghiệp 53
4.1.2 Quy trình thực hiện trong công tác quản lý thị trường vật tư nông
4.2 Thực trạng quản lý nhà nước về thị trường vật tư nông nghiệp huyện
Trang 5Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… iv
4.2.2 Quản lý nhà nước về số lượng, chủng loại, cơ cấu vật tư nông nghiệp 60
4.2.3 Quản lý nhà nước về chất lượng vật tư nông nghiệp 66
4.2.4 Quản lý nhà nước về giá cả vật tư nông nghiệp huyện Trực Ninh 71
4.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về thị trường vật
4.3.2 Trình độ, năng lực của các chủ thể, đối tượng trong quản lý 82
4.4 Định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý nhà nước
4.4.1 Định hướng quản lý nhà nước về thị trường vật tư nông nghiệp 85
4.4.2 Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về thị trường vật tư nông
Trang 6Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… v
SXKD Sản xuất kinh doanh
SXNN Sản xuất nông nghiệp
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TW Trung ương
UBND Ủy ban nhân dân
VTNN Vật tư nông nghiệp
Trang 7Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
3.1 Tình hình đất đai huyện Trực Ninh qua 3 năm 2009 - 2011 43
3.2 Tình hình dân số và lao động của huyện Trực Ninh qua 3 năm 2009
3.3 Tình hình cơ sở hạ tầng nông thôn huyện Trực Ninh năm 2011 46
3.4 Kết quả sản xuất nông nghiệp của huyện giai đoạn 2009 - 2011 48
4.3 Sản lượng phân bón của Công ty cổ phần vật tư kỹ thuật Trực Ninh
phân theo chủng loại tiêu thụ trên thị trường tỉnh Nam Định giai đoạn
4.4 Số lượng hội nghị khách hàng được tiến hành trên địa bàn huyện Trực
4.5 Nguồn mua và hình thức thanh toán vật tư nông nghiệpcủa hộ điều tra
4.6 Kết quả thanh tra, kiểm tra chất lượng vật tư nông nghiệp huyện Trực
4.7 Đánh giá của người dân về chất lượng vật tư nông nghiệp 69
4.8 Sự tham gia của người dân quản lý giá cả vật tư nông nghiệp ở huyện
4.9 Kết quả quản lý nhà nước về giá cả vật tư nông nghiệp huyện Trực
4.10 Giá bán một số sản phẩm loại vật tư nông nghiệpThời điểm tháng 12
4.11 Đánh giá của người dân về những vướng mắc trong quản lý nhà nước
Trang 8Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… vii
4.12 Đánh giá về giá cả vật tư nông nghiệp của người dân năm 2011 so với
4.13 Kết quả và hiệu quả sản xuất nông nghiệp của các hộ điều tra năm
4.14 Lý do hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về thị trường vật tư
Trang 9Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… viii
DANH MỤC HỘP
4.1 Quản lý về số lượng, chủng loại, cơ cấu vật tư nông nghiệp thì
4.2 Nhận định của hộ gia đình khi mua vật tư nông nghiệp 64
Trang 10Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 1
1 MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn hai mươi năm thực hiện công cuộc “Đổi mới”, Việt Nam từ một nước tự cung tự cấp đã tiến lên sản xuất hàng hóa Ngành nông nghiệp luôn giữ một
vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Chính vì vậy cần có sự quan tâm và đầu tư thích đáng tới ngành sản xuất vật chất này
Quá trình chuyển đổi từ cơ chế quản lý bao cấp sang cơ chế thị trường đã từng bước khẳng định xu thế phát triển kinh tế hiện nay ở nước ta Cơ chế kinh tế thị trường đã và đang chi phối phần lớn các quan hệ kinh tế trong nền kinh tế quốc dân Nghị quyết đại hội, đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã chỉ rõ: "Vận dụng cơ chế thị trường đòi hỏi phải nâng cao năng lực quản lý vĩ mô Nhà nước, đồng thời xác lập đầy đủ chế độ tự chủ của các đơn vị kinh doanh, nhằm phát huy những tác động tích cực to lớn đi đôi với ngăn ngừa, hạn chế và khắc phục những mặt tiêu cực của cơ chế thị trường"
Với ngành nông nghiệp, để tạo ra ngày càng nhiều các nông sản có giá trị, nâng cao hiệu quả kinh tế và tạo thu nhập cho người dân, đảm bảo chỗ đứng cho nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế, việc đảm bảo chất lượng đầu vào trong sản xuất là việc quan trọng hàng đầu, đặc biệt là trong bối cảnh đất nước đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Từ năm 2008, chính phủ đã có chỉ thị về việc tăng cường công tác quản lý chất lượng nông, lâm sản, vật tư nông nghiệp và đảm bảo vệ sinh, an toàn nông sản thực phẩm Hiện nay vấn đề này vẫn tiếp tục được triển khai và được cụ thể hóa qua thông tư số 14/2011/TT-BNNPTNT về Quy định việc kiểm tra, đánh giá cơ sở sản xuất kinh doanh vật tư nông nghiệp và sản phẩm nông lâm thủy sản
Cơ chế thị trường với nhiều thành phần kinh tế, tình trạng buôn lậu, buôn bán hàng cấm, sản xuất và buôn bán hàng giả, kinh doanh trái phép hoạt động tinh vi bằng nhiều thủ đoạn Vấn đề giá cả biến động mạnh gây không ít khó khăn cho nông dân trong sản xuất nông nghiệp Trách nhiệm quản lý thị trường vật tư nông
Trang 11Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 2
nghiệp trước hết thuộc về cán bộ ngành quản lý thị trường, ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn cũng như sở kế hoạch và đầu tư các tỉnh cùng các ban ngành liên quan, tuy nhiên vẫn còn sự chồng chéo Các điều kiện về phương tiện, số lượng cán bộ biên chế ít, chế độ của cán bộ phục vụ cho công tác còn hạn chế, cơ sở vật chất còn thiếu thốn khiến cho công tác này cũng gặp nhiều khó khăn
Cũng như nhiều địa bàn khác trên cả nước, tỉnh Nam Định cũng quán triệt tinh thần đó và bước đầu đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên, hiệu quả trong quản lý nhà nước về thị trường vật tư nông nghiệp chưa cao, nảy sinh nhiều vấn đề như công tác quản lý chưa sâu sát, chất lượng vật tư nông nghiệp – đặc biệt
là phân bón và thức ăn chăn nuôi - chỉ được đánh giá thông qua mẫu mã xuất xứ bao bì, số lượng và chủng loại mặt hàng vật tư chưa được quản lý
Để giúp các địa phương giải quyết tình trạng nêu trên, nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu, đưa ra giải pháp áp dụng vào thực tiễn và đạt được một số thành công Riêng đối với huyện Trực Ninh - một huyện có truyền thống sản xuất nông nghiệp lâu đời, điều kiện tự nhiên phù hợp với việc tạo ra nhiều nông sản có giá trị kinh tế - thì chưa có một nghiên cứu nào đề cập tới vấn đề này
Xuất phát từ các lý do nêu trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về thị trường vật tư nông nghiệp trên địa bàn huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định”
1.2 Mục tiêu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước về thị trường vật tư nông nghiệp, đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về thị trường vật tư nông nghiệp huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, từ đó đề xuất giải pháp tăng cường hiệu quả quản lý thị trường vật tư nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu
Trang 12Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 3
tới quản lý nhà nước về thị trường vật tư nông nghiệp huyện Trực Ninh - tỉnh Nam Định;
- Đề xuất giải pháp tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về thị trường vật
tư nông nghiệp huyện Trực Ninh - tỉnh Nam Định
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu giải pháp quản lý nhà nước về thị trường vật tư nông nghiệp trên địa bàn huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định
Đối tượng điều tra bao gồm các chủ thể có liên quan tới công tác quản lý nhà nước về thị trường vật tư nông nghiệp tại địa bàn nghiên cứu Cụ thể là nhà nông, các cơ sở sản xuất - kinh doanh vật tư nông nghiệp, đội quản lý thị trường, chính quyền địa phương
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng công tác quản lý nhà
nước về thị trường vật tư nông nghiệp chủ yếu đối với thị trường phân bón, thức ăn chăn nuôi, trên cơ sở quan hệ giữa các chủ thể và đối tượng trong việc mua, bán, quản lý, đánh giá về chất lượng, giá cả, chính sách liên quan tới đảm bảo chất lượng của vật tư nông nghiệp Chú trọng tới việc đảm bảo về chất lượng, giá cả phù hợp phục vụ sản xuất nông nghiệp của người dân tại huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định
- Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn huyện Trực Ninh - tỉnh Nam Định
- Về thời gian: Các tư liệu tổng quan thu thập từ các tài liệu đã công bố trong
5 năm 2007 đến năm 2011 Số liệu điều tra hiện trạng chủ yếu thu thập năm 2011
Trang 13Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 4
2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về thị trường vật tư nông nghiệp
2.1.1 Khái niệm thị trường, nông nghiệp, vật tư nông nghiệp, thị trường vật tư
nông nghiệp
2.1.1.1 Khái niệm thị trường
Có rất nhiều khái niệm về thị trường, tuy nhiên luận văn chú ý đến một số khái niệm sau đây:
Thị trường là phạm trù kinh tế tổng hợp gắn liền với quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá Thừa nhận sản xuất hàng hoá không thể phủ định sự tồn tại khách quan của thị trường
Khái niệm cổ điển cho rằng: thị trường là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán hàng hoá Theo khái niệm này người ta đã đồng nhất thị trường với chợ và những địa điểm mua bán hàng hoá cụ thể Trong kinh tế hiện đại ít dùng khái niệm này
Bên cạnh đó, cũng có nhiều quan điểm hiện đại về thị trường
Theo sự tương tác của các chủ thể trên thị trường người ta cho rằng: thị trường là quá trình người mua và người bán tác động qua lại lẫn nhau để giải quyết giá cả và số lượng hàng hoá mua bán Theo quan niệm này tác động và hình thành thị trường là một quá trình không thể chỉ là thời điểm hay thời gian cụ thể
Theo nội dung, chúng ta có thể quan niệm: thị trường là tổng thể các quan hệ
về lưu thông hàng hoá và lưu thông tiền tệ, tổng thể các giao dịch mua bán và các dịch vụ Như vậy, thị trường vừa có yếu tố ảo, vừa có yếu tố thực
Theo Paul A.Samuelson - nhà kinh tế học theo trường phái kinh tế học hiện đại thế kỷ 18 “Thị trường là một quá trình trong đó người mua và người bán một thứ hàng hóa tác động qua lại với nhau để xác định giá cả và số lượng hàng”
A Smith đã phân tích các nhân tố của thị trường như người mua, người bán, cung cầu, giá cả… và mối quan hệ giữa các nhân tố đó Lần đầu tiên có một kinh tế gia đã phân chia thị trường thành nhiều dạng khác nhau để nghiên cứu như thị
Trang 14Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 5
trường hàng hoá, thị trường lao động, thị trường đất đai, thị trường tư bản…
C.Mác đã chỉ rõ: thị trường là lĩnh vực của trao đổi và cao hơn là lưu thông hàng hoá
Theo Lênin: Khái niệm thị trường không thể tách rời khái niệm phân công xã hội được Hễ ở đâu và khi nào có phân công xã hội và sản xuất hàng hoá thì ở đó và khi ấy có thị trường Quy mô của thị trường gắn chặt với trình độ chuyên môn hoá của lao động xã hội Phân công lao động xã hội sẽ phát triển vô cùng tận bởi vậy phát triển của thị trường cũng là vô cùng tận
Theo Philip Kotler, tác giả nổi tiếng về Marketing, định nghĩa: “Thị trường bao gồm tất cả những khách hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thoả mãn nhu cầu hay mong muốn đó” Ở khái niệm này Philip Kotler phân chia người bán thành ngành sản xuất còn người mua thì họp thành thị trường
Theo quan điểm chung hiện nay, thị trường được coi là tổng hòa các mối quan hệ giữa người mua và người bán, là tổng hợp số cung và cầu về một họặc một số loại hàng hóa nào đó Nó được biểu hiện ra bên ngoài bằng các hành vi mua bán hàng hóa thông qua giá cả và các phương thức thanh toán nhằm giải quyết các mâu thuẫn về mặt lợi ích giữa các thành viên tham gia thị trường Thị trường là một dạng “tổ chức kinh tế vô định hình” được tạo ra bởi các mối quan hệ chằng chịt giữa bên bán và bên mua, từ đó xác định giá cả hàng hóa (dịch vụ), số lượng hàng cần cung ứng và phương thức thanh toán giữa các bên
Với quan điểm hiện đại, giới hạn về không gian và thời gian của thị trường bị xóa nhòa, thị trường không bị giới hạn về mặt không gian và thời gian nhưng để tồn tại thị trường vẫn phải hội tụ đủ các điều kiện sau:
- Một là, phải có khách hàng (người mua hàng) nhưng không nhất thiết phải gắn với một địa điểm xác định
- Hai là, khách hàng phải có nhu cầu chưa được thỏa mãn Đây chính là yếu
tố thúc đẩy khách hàng mua hàng hóa và dịch vụ
- Ba là, khách hàng phải có khả năng thanh toán, tức là khách hàng phải có khả năng trả tiền để mua hàng nghĩa là nhu cầu được thực hiện
Trang 15Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 6
Như vậy, có thể tổng hợp lại rằng, người bán và người mua là hai lực lượng
cơ bản trên thị trường Đó cũng là hình ảnh cụ thể nhất của 2 yếu tố cung - cầu của thị trường Trong hệ thống thị trường, mọi thứ đều có giá cả, đó là giá trị của hàng hoá và dịch vụ được tính bằng tiền, đã là hàng hóa thì yếu tố chất lượng luôn được chú trọng
2.1.1.2 Khái niệm về nông nghiệp, vật tư nông nghiệp, thị trường vật tư nông nghiệp
a Khái niệm nông nghiệp
Nông nghiệp nếu hiểu theo nghĩa hẹp chỉ có ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi và ngành dịch vụ Còn nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả ngành lâm nghiệp và ngành thuỷ sản
Theo Đỗ Kim Chung (2009), nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, cung cấp sản phẩm cho con người và là nguyên liệu cho công nghiệp, lực lượng lao động cho các ngành kinh tế khác và là thị trường tiêu thụ của các sản phẩm được sản xuất ra ở các ngành phi nông nghiệp Nông nghiệp liên quan đến nhiều ngành khoa học kỹ thuật sinh học như: sinh học, công nghệ sinh học, đất,
nông hóa thổ nhưỡng, giống, sinh lý và di truyền, công nghệ sau thu hoạch
b Khái niệm vật tư nông nghiệp
Theo thông tư số 14/2011/TT-BNNPTNT về Quy định việc kiểm tra, đánh giá cơ sở sản xuất kinh doanh vật tư nông nghiệp và sản phẩm nông lâm thủy sản,
vật tư nông nghiệp: bao gồm giống cây trồng, giống vật nuôi, phân bón, thức ăn
chăn nuôi, thức ăn thủy sản, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, hóa chất, chế phẩm sinh học, máy móc, nguyên vật liệu, thiết bị sử dụng trong sản xuất kinh doanh nông lâm thủy sản, thủy lợi và muối thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Cơ sở sản xuất vật tư nông nghiệp: nơi thực hiện một, một số hoặc tất
cả các hoạt động sản xuất, sơ chế, chế biến, bao gói, bảo quản, vận chuyển vật
tư nông nghiệp
Cơ sở kinh doanh vật tư nông nghiệp: nơi thực hiện các hoạt động buôn
Trang 16Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 7
bán vật tư nông nghiệp
c Khái niệm thị trường vật tư nông nghiệp
Thị trường vật tư nông nghiệp là nơi diễn ra mối quan hệ giữa người mua
và người bán, là tổng hợp số cung và cầu về vật tư nông nghiệp Nó được biểu hiện ra bên ngoài bằng các hành vi mua bán hàng hóa thông qua giá cả và các phương thức thanh toán nhằm giải quyết các mâu thuẫn về mặt lợi ích giữa các thành viên tham gia thị trường
2.1.2 Khái niệm quản lý, quản lý nhà nước, quản lý thị trường, quản lý nhà nước
về thị trường vật tư nông nghiệp
2.1.2.1 Khái niệm quản lý
Quản lý là tất yếu khách quan do lịch sử quy định, là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật đạt tới mục đích đề ra và đúng ý chí của người quản lý
* Các loại hình quản lý: đều có một xuất phát điểm giống nhau là do con người điều khiển, nhưng khác nhau về đối tượng:
- Loại hình thứ nhất là quá trình quản lý sinh học, thiên nhiên, môi trường
- Loại hình thứ hai là quản lý trong kỹ thuật (việc điều khiển máy tính, người máy, thông tin viễn thông )
- Loại hình thứ ba là quản lý xã hội Đây là loại hình quản lý quan trọng nhất, phương thức điều khiển trong lịch sử xã hội loài người
Lực lượng xã hội chính là Nhà nước Quyền lực Nhà nước được thực hiện bởi 3 nhóm quyền lực cơ bản: Quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp
* Những yếu tố cơ bản của quản lý
Yếu tố xã hội tức là yếu tố con người: Con người vừa là mục đích, vừa là động lực và lực lượng của quá trình phát triển xã hội; cũng tức là mục đích của hoạt
Bên mua
Nông hộ, trang trại
Trang 17Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 8
động quản lý
Yếu tố chính trị: Chính trị là định hướng của quản lý Ý chí của giai cấp thống trị được thể hiện tập trung ở các đảng chính trị Ở Việt Nam, điều 4 của Hiến pháp năm 1992 đã ghi “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội”
Yếu tố tổ chức: Tổ chức là một khoa học về sự thiết lập các mối quan hệ giữa các con người để thực hiện một công việc quản lý Đảng và Nhà nước ta đã chỉ
rõ rằng một tổ chức được sinh ra và tồn tại do nhu cầu quản lý xã hội, nhu cầu công việc, nhất thiết không được xuất phát từ tình cảm riêng tư của một nhóm hoặc một
cá nhân lãnh đạo nào Một tổ chức đã hình thành thì phải có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn rõ ràng, có một đội ngũ viên chức đủ mạnh để thực thi công vụ, đồng thời phải hoạt động và hoạt động có hiệu quả mang lai lợi ích cho xã hội Quyền uy
là thể thống nhất của quyền lực và uy tín Quyền lực là công cụ quản lý bao gồm một hệ thống pháp luật, điều lệ, quy chế, nội quy, kỷ luật, kỷ cương được tổ chức
và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, phân công, phân cấp rành mạch trên cơ sở ứng dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật quản lý
Yếu tố thông tin: Thông tin là một trong những điều kiện quản lý, là căn cứ
để ra các quyết định quản lý
2.1.2.2 Khái niệm quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước là một dạng quản lý đặc biệt, được sử dụng các quyền lực
nhà nước để quản lý mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Quản lý nhà nước xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước, là quản lý công việc của Nhà nước Quản lý nhà nước xét về mặt chức năng bao gồm hoạt động lập pháp của cơ quan lập pháp (Quốc hội), hoạt động hành pháp (chấp hành và điều hành) của Chính phủ và hoạt động tư pháp của hệ thống tư pháp (Tòa án, Viện Kiểm soát)
Chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan trong bộ máy Nhà nước thực hiện
Trang 18Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 9
Như vậy, trong hệ thống xã hội, tồn tại rất nhiều chủ thể tham gia quản lý xã hội, như: Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể nhân dân, các hiệp hội… Trong sự quản lý đó thì sự quản lý nhà nước giữ vị trí quan trọng và có những điểm khác biệt
Theo đó, khái niệm chung về quản lý nhà nước là: “Quản lý nhà nước là sự
tác động của các chủ thể mang tính quyền lực Nhà nước, bằng nhiều biện pháp tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại của Nhà nước
trên cơ sở pháp luật”
Quản lý nhà nước ở Việt Nam có các đặc điểm cơ bản sau đây: QLNN mang tính quyền lực đặc biệt là tính tổ chức rất cao; có mục tiêu chiến lược, chương trình
kế hoạch để thực hiện mục tiêu QLNN theo nguyên tắc tập trung dân chủ; QLNN không có sự tách biệt tuyệt đối giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý
2.1.2.3 Khái niệm quản lý thị trường
Quản lý thị trường là lực lượng chuyên trách được tổ chức từ Trung ương đến địa phương, có chức năng kiểm tra, kiểm soát thị trường, đấu tranh chống các
hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại ở thị trường trong nước
Hệ thống Quản lý thị trường gồm:
a Ở Trung ương: Thành lập Cục Quản lý thị trường trực thuộc Bộ Thương mại trên cơ sở sát nhập bộ máy chuyên trách của Ban Quản lý thị trường Trung ương chuyển giao về Bộ Thương mại và Vụ Quản lý thị trường thuộc Bộ Thương mại (được thành lập theo Nghị định số 95/CP ngày 04/12/1993 của Chính phủ) nay thuộc bộ Công thương
Trang 19Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 10
b Ở tỉnh, thành phố: Thành lập Chi cục Quản lý thị trường trực thuộc Sở Công thương trên cơ sở tổ chức lại bộ máy chuyên trách của Ban chỉ đạo Quản lý thị trường tỉnh, thành phố hiện có
c Ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là huyện): Theo yêu cầu cụ thể trên từng địa bàn, chủ tịch UBND tỉnh quyết định việc thành lập các Đội Quản lý thị trường trực thuộc Chi cục hoạt động trên địa bàn huyện hoặc liên huyện, trên cơ sở tổ chức lại các Đội kiểm tra thị trường hiện có ở địa phương
2.1.2.4 Khái niệm quản lý nhà nước về thị trường vật tư nông nghiệp
Từ các khái niệm trên, ta có thể hiểu, quản lý nhà nước về thị trường vật tư nông nghiệp là sự tác động của các chủ thể mang tính quyền lực Nhà nước mà
trước hết là của quản lý thị trường, dùng nhiều biện pháp nhằm tác động tới mối quan hệ giữa người bán và người mua chủ yếu là về tổng hợp số cung, cầu cũng như chất lượng, giá cả, chủng loại, cơ cấu của vật tư nông nghiệp trên cơ sở pháp luật để giải quyết các mâu thuẫn về mặt lợi ích giữa các thành viên tham gia thị trường vật tư nông nghiệp
2.1.3 Vị trí, vai trò của quản lý nhà nước về thị trường vật tư nông nghiệp
Phát triển nền kinh tế thị trường, mở rộng hội nhập với thế giới bên ngoài, bên cạnh mặt được - thị trường VTNN phong phú, sống động, mua - bán thuận tiện, sức mua tăng,… chúng ta phải đương đầu với hàng loạt các vấn đề thuộc về mặt trái của nền kinh tế thị trường: đó là tình trạng buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái
phép, gian lận thương mại về VTNN
Quản lý nhà nước về thị trường VTNN là một trong những nội dung của Quản lý nhà nước, trong đó tổ chức quản lý thị trường là một bộ phận trong hệ thống tổ chức nhà nước, là công cụ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về thị trường hàng hóa nói chung và thị trường VTNN nói riêng
Thông qua vai trò kiểm tra, kiểm soát thị trường, ngăn chặn và hạn chế mặt trái của nền kinh tế thị trường, quản lý thị trường góp phần cùng các cơ quan chức năng của bộ máy nhà nước đấu tranh chống các hành vi: đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh VTNN trái phép; bảo vệ nền sản xuất VTNN trong nước, quyền lợi
Trang 20Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 11
chính đáng của người sản xuất - kinh doanh VTNN hợp pháp và của người nông dân; góp phần chống thất thu cho ngân sách nhà nước
2.1.4 Đặc điểm của quản lý nhà nước về thị trường vật tư nông nghiệp
Quản lý nhà nước về thị trường vật tư nông nghiệp có đặc điểm sau:
Thứ nhất, quản lý nhà nước về cung vật tư nông nghiệp: là quản lý số lượng
vật tư nông nghiệp, dịch vụ mà cơ sở sản xuất kinh doanh VTNN có khả năng bán
và sẵn sàng bán ở các mức giá khác nhau Tổng hợp các nguồn cung ứng VTNN trên thị trường tạo nên cung VTNN
Cung VTNN vĩ mô gồm sản xuất trong nước, nguồn nhập khẩu, nguồn VTNN đại lý cho nước ngoài, tồn kho đầu kỳ trong lưu thông Cung VTNN vi mô ở các doanh nghiệp gồm tồn kho đầu kỳ, nguồn tự huy động, nguồn tiết kiệm và nguồn VTNN từ ngoài
Cung VTNN vận động theo xu hướng tỉ lệ thuận với giá cả hàng hóa, giá cao lượng - cung ứng cao, giá thấp - lượng cung ứng thấp Ngoài sự tác động của giá cả cung VTNN còn chịu sự tác động của các nhân tố: chi phí sản xuất, cầu hàng hóa, yếu tố chính trị xã hội, trình độ công nghệ, tài nguyên thiên nhiên, kỳ vọng của người cung ứng
Thứ hai, quản lý nhà nước về cầu VTNN: là quản lý số lượng VTNN, dịch
vụ mà người mua có khả năng mua và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau Tổng hợp các nhu cầu của người dân hàng tạo nên cầu VTNN
Cầu VTNN vận động theo xu hướng tỉ lệ nghịch với giá VTNN, giá cao - lượng cầu thấp, giá thấp - lượng cầu cao Ngoài sự tác động của giá cả, cầu hàng hóa còn chịu sự tác động của cá nhân tố sau: quy mô thị trường, cung hàng hóa, thu nhập của dân cư, thị yếu hay sở thích, giá cả của những hàng hóa có liên quan (hàng hóa bổ sung, hàng hóa thay thế), kỳ vọng của người tiêu dùng
Thứ ba, đối tượng chịu sự quản lý nhà nước về thị trường VTNN bao gồm:
những người sản xuất - kinh doanh vật tư nông nghiệp (các công ty, doanh nghiệp, nhà máy sản xuất vật tư nông nghiệp; các công ty, doanh nghiệp, cơ sở, đại lý kinh doanh vật tư nông nghiệp; và những người trung gian tham gia trong quá trình vận chuyển và tiêu thụ vật tư nông nghiệp Trình độ của các đối tượng này cũng không
Trang 21Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 12
đồng đều, gây khó khăn trong công tác quản lý
Thứ tư, người phản hồi ý kiến về chất lượng VTNN là người sử dụng vật tư
nông nghiệp, trực tiếp nhất là người dân (các nông hộ, trang trại)
Thứ năm, quản lý nhà nước về thị trường VTNN mang những tính chất đặc
thù riêng:
a Thường xuyên đụng chạm đến lợi ích kinh tế của thương nhân và mọi tầng lớp dân cư, kể cả dân nghèo được bọn “đầu nậu” thuê mướn để mang thuê, vác mướn; có những trường hợp đã va chạm đến lợi ích của bạn bè, người thân… Cuộc đấu tranh này không giống như cuộc đấu tranh vệ quốc (ranh giới địch – ta không rõ ràng), do vậy không dễ dàng nhận được sự đồng tình ủng hộ của mọi người, kể cả của chính quyền ở một số địa phương (vì lợi ích cục bộ của mình) đã làm ngơ hoặc không tạo điều kiện cho quản lý thị trường hoạt động
b Phải đương đầu với bọn buôn lậu, làm hàng giả có tổ chức, có phương tiện hiện đại, nhiều khi có vũ khí Tính chất của cuộc đấu tranh khá quyết liệt “một mất - một còn”; vì rắp tâm bảo vệ cho được lợi ích kinh tế của mình, bọn làm ăn phi pháp chống đối quyết liệt, không từ một thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt nào
c Hoạt động của quản lý thị trường không theo thời gian hành chính: vì bọn buôn lậu hoạt động không theo một quy luật nào, chúng thường tận dụng mọi kẽ hở
về không gian, thời gian, theo dõi chặt chẽ, nắm bắt quy luật hoạt động của các lực lượng kiểm tra, kiểm soát để vận chuyển hàng lậu; và để đối phó lại với hoạt động của bọn buôn lậu, anh em quản lý thị trường phải luân phiên thay nhau kiểm tra, kiểm soát, hoạt động không kể giờ giấc, ngày đêm, các ngày chủ nhật, lễ, tết cũng không được nghỉ; công việc khá vất vả và ít có thời gian để chăm sóc gia đình
d Vì mục lợi nhuận, người sản xuất - kinh doanh tìm mọi cách để khai thác các kẽ hở của luật pháp nhằm mang lại lợi ích cho bản thân, đồng thời trong quá trình hội nhập, trên thị trường nước ta không chỉ có các thương nhân, doanh nghiệp trong nước mà còn có cả thương nhân và doanh nghiệp nước ngoài, do đó yêu cầu công tác quản lý thị trường đòi hỏi anh em kiểm soát viên không chỉ am hiểu sâu sắc về luật pháp, tinh thông về nghiệp vụ mà còn phải hiểu biết các kiến thức về kinh tế, xã hội, kể cả thông lệ quốc tế để thích ứng với công tác Quản lý thị trường
Trang 22Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 13
trong điều kiện nước ta mở cửa, hội nhập với thế giới bên ngoài
2.1.5 Nội dung của quản lý nhà nước về thị trường vật tư nông nghiệp
Thứ nhất, quản lý về số lượng, chủng loại, cơ cấu vật tư nông nghiệp Là
quản lý vĩ mô trên cơ sở quan hệ cung cầu về VTNN của thị trường Đồng thời là quản lý số lượng các cơ sở sản xuất kinh doanh VTNN đảm bảo tiêu chuẩn của nhà nước về sản xuất kinh doanh VTNN cũng như đảm bảo các yêu cầu liên quan về VTNN như bao bì, nhãn hiệu…
Cầu VTNN chịu ảnh hưởng của quy mô thị trường tiêu dùng VTNN, cung VTNN, thu nhập của người dân, thói quen sử dụng VTNN, giá cả so sánh của các VTNN cùng công dụng và kỳ vọng của người nông dân trong sử dụng VTNN
Cung về VTNN chịu ảnh hưởng của các yếu tố sau: chi phí sản xuất VTNN, cầu về VTNN, yếu tố chính trị, trình độ công nghệ, tài nguyên thiên nhiên (về nguyên liệu), kỳ vọng của người cung ứng VTNN
Việc đảm bảo về nguồn cung đáp ứng đủ cầu tiêu dùng về VTNN là một yếu
tố sống còn cho nông nghiệp phát triển Nhiều mặt hàng VTNN nhất là phân bón nước ta còn phụ thuộc nhập khẩu, nguyên liệu sản xuất cũng từ xuất khẩu Vì vậy việc đảm bảo số lượng VTNN là bài toán cho các nhà hoạch định chiến lược về thị trường VTNN
Thông tư 14/2011/TT-BNNPTNT ban hành ngày 29/3/2011 quy định việc kiểm tra, đánh giá cơ sở sản xuất kinh doanh vật tư nông nghiệp và sản phẩm nông, lâm, thủy sản là căn cứ cho việc quản lý về số lượng cơ sản sản xuất kinh doanh VTNN đảm bảo cho quá trình vận hành của VTNN trong thị trường được diễn ra suôn sẻ
Chủng loại cơ cấu VTNN càng đa dạng thì người nông dân càng có nhiều cơ hội lựa chọn và sử dụng Điều này kích thích các nhà sản xuất VTNN nâng cao tính cạnh tranh và đảm bảo yêu cầu của thị trường để tồn tại Việc quản lý nhãn hiệu hàng VTNN theo quy chuẩn của nhà nước là cơ sở để giúp người dân có được hàng hóa thật, đảm bảo để phục vụ SXNN
Thứ hai, quản lý về chất lượng vật tư nông nghiệp Đây việc đảm bảo hàng
VTNN là hàng đúng, đảm bảo yêu cầu về nhãn mác, các tiêu chuẩn về kỹ thuật khi
Trang 23Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 14
được lưu hành trên thị trường
Theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 132/2008/NĐ-CP ngày 31-12-2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa (NĐ 132), việc kiểm tra nhà nước về chất lượng sản phẩm trong sản xuất
do cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa tiến hành Cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa tiến hành kiểm tra chất lượng sản phẩm trong sản xuất dựa trên các căn cứ sau: a) Hàng hóa xuất khẩu không phù hợp với các điều kiện quy định tại Điều 32 của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa (LCLSPHH) gây ảnh hưởng đến lợi ích và uy tín quốc gia; b) Hàng hóa lưu thông trên thị trường không phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng Sự không phù hợp này có tính hệ thống, lặp lại
Cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm hàng hóa kiểm tra các nội dung sau: a) Việc thực hiện các yêu cầu quy định trong quy chuẩn kỹ thuật tương ứng liên quan đến điều kiện của quá trình sản xuất và các biện pháp quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm trong sản xuất; b) Việc thực hiện và kết quả đánh giá sự phù hợp, ghi nhãn, thể hiện dấu hợp chuẩn, dấu hợp quy và các tài liệu đi kèm sản phẩm cần kiểm tra; c) Thử nghiệm mẫu để kiểm tra sự phù hợp của sản phẩm với tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng
Trong quá trình kiểm tra, nếu phát hiện sai phạm, đoàn kiểm tra sẽ xử lý theo quy định tại Điều 6 NĐ 132 như sau: Trường hợp người sản xuất không thực hiện các yêu cầu quy định tại Điều 28 của LCLSPHH, đoàn kiểm tra xử lý theo quy định tại Điều 30 của LCLSPHH, đồng thời thông báo cho người sản xuất về nội dung không phù hợp và quy định rõ thời gian khắc phục Người sản xuất có trách nhiệm khắc phục nội dung không phù hợp theo yêu cầu của đoàn kiểm tra và chỉ được phép đưa ra thị trường khi nội dung không phù hợp đã được khắc phục Trước khi đưa sản phẩm đã được khắc phục này ra thị trường, người sản xuất phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan kiểm tra Trong trường hợp phải thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định tại điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 30 của LCLSPHH thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, mức độ và quy mô ảnh hưởng, cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa quyết định thông báo
Trang 24Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 15
trên đài phát thanh hoặc truyền hình địa phương hoặc trung ương, phương tiện thông tin đại chúng khác
Khi phát hiện vi phạm cần xử lý vi phạm hành chính, cơ quan kiểm tra chuyển hồ sơ và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành các thủ tục xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính Cơ quan
có thẩm quyền tiến hành xử lý vi phạm hành chính có trách nhiệm thông báo cho cơ quan kiểm tra biết việc xử lý và kết quả xử lý để theo dõi
- Lực lượng Hải quan, lực lượng Bộ đội Biên phòng: có trách nhiệm tổ chức việc chống hàng giả xuất khẩu, nhập khẩu qua các cửa khẩu, trên biên giới đất liền
và trên biển theo nhiệm vụ của từng ngành
- Lực lượng Quản lý thị trường có trách nhiệm: + Thanh tra, kiểm tra chống sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng ở thị trường nội địa
+ Chủ trì tổ chức phối hợp với các lực lượng Thanh tra chuyên ngành, các lực lượng có chức năng chống hàng giả, hàng kém chất lượng khác trên địa bàn
- Lực lượng Công an có trách nhiệm:
+ Điều tra, khám phá các đường dây, ổ nhóm sản xuất, buôn bán hàng giả đặc biệt là giấy tờ, hoá đơn, tem
+ Phối hợp với các lực lượng chức năng thanh tra, kiểm tra ở các ngành các cấp chống hàng giả khi có yêu cầu
- Các lực lượng thanh tra, kiểm tra chuyên ngành: có trách nhiệm tổ chức thanh tra, kiểm tra chống hàng giả đối với hàng hóa, thuộc phạm vi quản lý nhà nước chuyên ngành, đồng thời phối hợp với các lực lượng có chức năng chống hàng giả để tiến hành thanh tra, kiểm tra khi có yêu cầu
* Nội dung phối hợp:
- Phối hợp trong việc trao đổi, cung cấp thông tin về:
+ Diễn biến tình hình hàng giả, quy luật, thủ đoạn hoạt động của các đối tượng sản xuất, buôn bán hàng giả
+ Chủ trương, chính sách, kế hoạch có liên quan đến công tác chống hàng giả của ngành, địa phương
- Phối hợp trong công tác thanh tra, kiểm tra phát hiện, ngăn chặn và xử
Trang 25Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 16
lý vi phạm:
+ Xây dựng phương án, kế hoạch phối hợp thanh tra, kiểm tra
+ Cử cán bộ tham gia việc thanh tra, kiểm tra
+ Hỗ trợ phương tiện kinh phí và tạo điều kiện thuận lợi trong việc thanh tra, kiểm tra
+ Tiến hành thẩm tra, xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ, giám định, thẩm định hàng giả
+ Tổ chức thực hiện quyết định xử phạt vi phạm hoặc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt
- Phối hợp trong việc xử lý vi phạm về hàng giả đối với những vụ việc phức tạp Trường hợp không thống nhất được biện pháp xử lý thì báo cáo Ban chỉ đạo 31
ở địa phương hoặc Trung ương quyết định
- Phối hợp trong việc khen thưởng đối với tổ chức, cá nhân có đóng góp trong việc phát hiện, đấu tranh, xử lý vi phạm về hàng giả
- Phối hợp với cơ sở sản xuất kinh doanh hợp pháp, các chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp để xác định hàng giả
* Giám định, thẩm định hàng giả, hàng kém chất lượng:
- Khi kiểm tra phát hiện hàng giả, hàng kém chất lượng các lực lượng có chức năng phải lập biên bản và xử lý vi phạm theo đúng quy định Trường hợp chưa
đủ căn cứ khẳng định là hàng giả, hàng kém chất lượng thì phải lấy mẫu theo đúng quy định gửi đến cơ quan nhà nước có chức năng để giám định, thẩm định
- Các cơ quan chức năng có trách nhiệm giám định, thẩm định các mẫu hàng hoá, ấn phẩm khi các cơ quan kiểm tra, kiểm soát yêu cầu
* Xử lý hàng giả:
- Tái xuất khỏi lãnh thổ Việt Nam đối với hàng VTNN giả, hàng kém chất lượng nhập khẩu đang làm thủ tục Hải quan theo các quyết định của các cơ quan có thẩm quyền
- Tổ chức tiêu huỷ theo quy định hiện hành của Nhà nước:
+ VTNN không đảm bảo mức chất lượng tối thiểu gây hại đối với sản xuất hoặc tính mạng, sức khoẻ người, động vật, thực vật và môi sinh, môi trường
Trang 26Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 17
+ Hàng hoá, vật phẩm không có giá trị sử dụng
+ Các loại đề can, tem, nhãn hàng hoá mẫu nhãn hiệu, bao bì VTNN, hoá đơn, chứng từ được xác định là giả
- Được lưu thông phải tuân thủ các điều kiện sau:
+ Là hàng hoá VTNN có giá trị sử dụng nhưng phải loại bỏ các yếu tố vi phạm trên hàng hoá (nhãn mác, bao bì vi phạm ) và thông báo rộng rãi cho người tiêu dùng biết
+ Gia công, chế biến lại để hàng hoá đảm bảo tính hợp pháp khi lưu thông hoặc tận dụng làm nguyên liệu
Thứ ba, quản lý nhà nước về giá cả: Giá cả VTNN là sự biểu hiện bằng tiền
của giá trị VTNN trên thị trường Giá cả VTNN lên xuống xoay quanh giá trị và chịu tác động của các quy luật của nền kinh tế thị trường như quy luật cung cầu, quy luật tiền tệ Giá cả VTNN là một đại lượng biến động do sự tương tác giữa cung và cầu trên thị trường của VTNN Người mua đại diện cho cầu VTNN Người bán đại diện cho cung VTNN Người mua luôn muốn mua với giá thấp, còn người bán muốn bán với giá cao Giá cả VTNN được hình thành trên thị trường là mức giá mà
người mua và người bán chấp nhận, gọi là mức giá cân bằng
Giá cả VTNN chịu tác động của những nhân tố: chi phí sản xuất kinh
doanh, sức mua của đồng tiền, tâm lý thị yếu của người tiêu dùng, quan hệ cung cầu hàng hóa, canh tranh
Cạnh tranh: là sự tranh giành giữa các nhà sản xuất và kinh doanh trên thị
trường nhằm có được nguồn cung ứng các dịch vụ và nguyên liệu đầu vào để sản xuất hoặc lôi kéo được khách hàng về phía mình Cạnh tranh được xem xét dưới nhiều hình thức khác nhau: cạnh tranh tự do, cạnh tranh thuần túy, cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh phi giá cả, cạnh tranh mang tính độc quyền, cạnh tranh lành mạnh, cạnh tranh không lành mạnh
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là yếu tố tất yếu thực hiện các chức năng sau: Cạnh tranh làm cho giá cả VTNN dịch vụ giảm xuống; buộc các doanh nghiệp phải tối ưu hóa các yếu tố đầu vào của sản xuất kinh doanh; cạnh tranh buộc các doanh nghiệp không ngừng áp dụng kĩ thuật mới và công nghệ tiến bộ; cạnh
Trang 27Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 18
tranh là công cụ tước quyền thống trị về mặt kinh tế trong lịch sử
Quản lý nhà nước về giá cả thị trường trên vĩ mô là việc định hướng để đảm bảo mức giá VTNN ở mức có thể chấp nhận được ở thị trường VTNN trong nước trên cơ sở tuân theo quy luật thị trường Nhà nước có một số chính sách can thiệp để bình ổn giá VTNN khi cần thiết Ngoài ra còn đảm bảo thông tin giá cả VTNN đến người dân để người dân được biết, tránh mua hàng với giá cao, gây thiệt hại cho người dân Đồng thời, kiểm tra giá bán tại các đại lý VTNN có theo quy định của nhà nước hay không?
Theo Hiệp hội Phân bón Việt Nam, nguyên nhân là do hệ thống phân phối chưa có mối liên kết chặt chẽ từ nhà sản xuất và nhập khẩu đến nông dân, khả năng kiểm soát giá cả của doanh nghiệp đối với đại lý yếu, làm giảm khả năng can thiệp của Nhà nước vào các thời điểm nhạy cảm, khiến thị trường dễ bị tổn thương khi thị trường thế giới biến động Hiện nay, các nhà nhập khẩu và sản xuất không bán trực tiếp phân bón đến tay nông dân mà thông qua đại lý cấp 1 với phạm vi quản lý là vùng hoặc tỉnh Từ đại lý cấp 1, qua đại lý cấp 2, 3 và hệ thống cửa hàng, phân bón mới đến được tay khách hàng, giá bị đẩy lên từ 10-20 đồng/kg qua mỗi cấp Thực trạng này cho thấy, ta chưa có doanh nghiệp và hệ thống phân phối phân bón đủ mạnh để kiểm soát và chi phối thị trường Hơn thế, thị trường kinh doanh phân bón đang bị thả nổi, nhất là ở các khâu trung gian phân phối
2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý nhà nước về thị trường vật tư nông
nghiệp
2.1.6.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đóng vai trò định hướng cho phát triển kinh tế nói chung, sự phát triển nền nông nghiệp và đảm bảo cho công tác quản lý nhà nước về thị trường VTNN Yếu tố này càng được quan tâm đúng đắn, kịp thời thì hiệu quả càng cao Có thể kể đến một số chính sách sau đây:
- Chính sách đầu tư và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào nông nghiệp Đầu tư trước hết vào việc xây dựng và cải tạo cơ sở hạ tầng như hệ thống điện, đường giao thông và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thực hiện đầu tư cho việc sản
Trang 28Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 19
xuất vật tư nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa Theo đó, đầu vào có giá thành thấp thì giá cả VTNN cũng được duy trì ở mức ổn định
- Chính sách giá cả, hỗ trợ sản xuất nông nghiệp: khi cần thiết Nhà nước có những chính sách tác động đến giá cả, đảm bảo quyền lợi của các chủ thể và hỗ trợ cho các chủ thể một phần khi gặp khó khăn trong quá trình sản xuất kinh doanh VTNN
2.1.6.2 Trình độ nhận thức, năng lực của các chủ thể và đối tượng trong quản
lý nhà nước về thị trường vật tư nông nghiệp
Trình độ nhận thức, năng lực của các chủ thể và đối tượng trong quản lý nhà nước về thị trường vật tư nông nghiệp là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của công tác này
Chủ thể của quản lý Nhà nước về thị trường VTNN là tổ chức quản lý thị trường, Bộ Nông nghiệp và PTNT và sở, phòng, ban NN&PTNT, các tổ chức đoàn thể như hội nông dân, HTX, các Hiệp hội về VTNN Các cán bộ chuyên trách không có năng lực chuyên môn sẽ không đảm nhiệm được vai trò của mình
Đối tượng của quản lý nhà nước về thị trường VTNN là các cơ sở sản xuất - kinh doanh VTNN Các cơ sở sản xuất kinh doanh không đủ kiến thức và chuyên môn sẽ gây khó khăn trong quá trình sản xuất cũng như kinh doanh; nhiều khi không phân biệt được vật tư giả, vật tư không đảm bảo quy chuẩn Quốc gia
Đối tượng phản hồi về chất lượng và việc sử dụng VTVV là người dân Người dân với trình độ nhận thức kém sẽ khó khăn trong việc lựa chọn các vật tư nông nghiệp phù hợp và đảm bảo chất lượng, nhiều khi gây khó khăn trong công tác quản lý nhà nước về thị trường này Khi đó công tác quản lý càng gặp nhiều khó khăn
2.1.6.3 Trình độ của nền sản xuất, quy mô sản xuất
Sản xuất hàng hóa càng cao thì nhu vật tư nông nghiệp càng lớn, vật tư càng
đa chủng loại, sức cạnh tranh giữa các loại vật tư cùng dòng sản phẩm càng cao, chính vì thế công tác quản lý nhà nước càng trở nên cần thiết Trên thực tế, bất cứ nền sản xuất của nước nào mang tính tự cấp, tự túc thị trường vật tư nông nghiệp
Trang 29Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 20
diễn ra cũng không sôi động Ở mỗi vùng, mỗi địa bàn có những điều kiện khác nhau Thông qua thị trường để thực hiện giá trị sản xuất của mình, điều đó quyết định có nên sản xuất sản phẩm hay không và bán được giá cao hay thấp Nơi nào thị trường hàng hóa phát triển thấp thì giá bán càng bất lợi cho nhà sản xuất; ngược lại thị trường sôi động, hàng hóa giao dịch nhiều thì nơi ấy tạo lập được giá đúng với bản chất của thị trường Ở Việt Nam, trình độ sản xuất nông nghiệp ở các vùng khác nhau thì mức độ hợp tác, liên kết cũng khác nhau Rõ nhất là vùng núi Bắc bộ điều kiện sản xuất khó khăn, manh mún và chủ yếu là sản xuất tự túc, tự cấp và thị trường vật tư nông nghiệp phát triển cũng không mạnh mẽ Trong khi đó, vùng Đồng bằng sông Cửu Long là vùng sản xuất hàng hóa lớn của cả nước về nông nghiệp, luôn có nhu cầu cao về vật tư nông nghiệp, chủng loại đa dạng, công tác quản lý cũng phức tạp hơn
2.1.6.4 Yếu tố tổ chức quản lý và tổ chức thị trường
Việc tổ chức quản lý như thế nào và quy định có vai trò quyết định sự thành công hay thất bại trong cả quá trình quản lý Quy định càng cụ thể, càng chi tiết về các yêu cầu, chế tài xử lý nếu vi phạm và được tuyên truyền, phổ biến càng sâu rộng tới các đối tượng thì công tác quản lý nhà nước càng trở nên thuận lợi hơn
Việc quy định tổ chức thị trường (mua và bán) vật tư nông nghiệp một cách khoa học, quy củ, đúng pháp luật sẽ hạn chế được nhiều vụ việc sai trái trong sản xuất, kinh doanh và sử dụng vật tư nông nghiệp Dễ truy vấn ra sai sót ở khâu nào Việc quản lý và quy định trách nhiệm cho từng đối tượng tham gia trong thị trường vật tư nông nghiệp tốt sẽ tác động tích cực trong sản xuất nông nghiệp nói chung và quản lý nhà nước về lĩnh vực này nói riêng
2.1.7 Lịch sử và các quy định về công tác quản lý thị trường của nhà nước ở Việt
Trang 30Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 21
thống thương nghiệp xã hội chủ nghĩa, tiến hành đăng ký kinh doanh, đấu tranh chống đầu cơ, tích trữ, kinh doanh trái phép
Vì vậy, sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc luật số 001-SL ngày 19/4/1957
và Thủ tướng Chính phủ ký Nghị định số 163/TTg ngày 19/4/1957 về việc cấm chỉ hành động đầu cơ về kinh tế; ngày 03/7/1957 Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 290/TTg thành lập Ban Quản lý thị trường ở các thành phố, tỉnh, khu tự trị
Đây là tổ chức Quản lý thị trường đầu tiên ở nước ta chưa có chức năng trực tiếp kiểm tra, kiểm soát, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về kinh doanh thương mại trên thị trường
* Thời kỳ 1982 - 1990
Nhiệm vụ công tác Quản lý thị trường thời kỳ này là phải khẩn trương, kiên quyết khắc phục tình trạng buông lỏng quản lý đối với thị trường tự do; buông lỏng quản lý xuất nhập khẩu, buông lỏng đối với quản lý vật tư hàng hóa Nhà nước (diễn
ra từ đầu những năm 1980), thiết lập lại trật tự mới, xã hội chủ nghĩa trên thị trường, tập trung truy quét và đấu tranh kiên quyết đối với hoạt động đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép, bọn ăn cắp vật tư, hàng hóa nhà nước
Ngày 23/02/1982 Hội đồng Bộ trưởng bàn về tăng cường thương nghiệp xã hội chủ nghĩa và quản lý thị trường, ngày 23/11/1982 đã ban hành Nghị quyết số 188/HĐBT; trong đó giao Bộ Nội thương chức năng thống nhất quản lý thị trường nội địa Thành lập Vụ Quản lý và cải tạo thương nghiệp thuộc Bộ Nội thương để giúp Bộ thực hiện chức năng trên, đồng thời chủ trương thành lập Ban chỉ đạo Quản
lý thị trường Trung ương
Ngày 16/7/1982, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 190/CT thành lập Ban chỉ đạo Quản lý thị trường Trung ương trực thuộc Hội đồng
Bộ trưởng để hướng dẫn, chỉ đạo các ngành, các cấp tổ chức thực hiện công tác Quản lý thị trường
Ngày 02/10/1985, Hội đồng Bộ trưởng ra Nghị quyết số 249/HĐBT bổ sung Nghị quyết số 188 ngày 23/11/1982 của Hội đồng Bộ trưởng: Thành lập Đội Quản
lý thị trường trực thuộc Ban Quản lý thị trường các tỉnh, thành phố, đặc khu và cấp huyện, quận, thị xã
Trang 31Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 22
Ngày 11/11/1989, Trưởng Ban Quản lý thị trường Trung ương ban hành Quyết định số 23/QLTT-TW thành lập Đội kiểm tra đặc biệt liên ngành trực thuộc Ban chỉ đạo Quản lý thị trường Trung ương để trực tiếp kiểm tra và hỗ trợ Ban Quản lý thị trường Địa phương kiểm tra việc chấp hành pháp luật Nhà nước về kinh doanh thương nghiệp, ăn uống công cộng và dịch vụ trên thị trường; kiểm tra việc chấp hành pháp luật Nhà nước của các cơ quan, các lực lượng có chức năng kiểm
kê, kiểm soát thị trường
Trong thời kỳ này, tổ chức Quản lý thị trường đã trở thành một hệ thống từ trung ương (Ban Chỉ đạo Quản lý thị trường Trung ương và các đội kiểm tra đặc biệt liên ngành) đến địa phương (Ban Chỉ đạo Quản lý thị trường ở các tỉnh, thành phố, đặc khu, ở quận, huyện và Đội Quản lý thị trường thuộc Ban Quản lý thị trường các tỉnh, thành phố…) Tổ chức này dần dần được chuyên trách hóa, được giao thêm chức năng, nhiệm vụ trực tiếp tổ chức kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi phạm pháp luật về kinh doanh thương mại và dịch vụ trên thị trường và kiểm tra việc chấp hành pháp luật Nhà nước của các cơ quan, các lực lượng có chức năng kiểm tra, kiểm soát trên thị trường
* Thời lỳ 1990 - 1991
Ngày 04/8/1990, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định số 279/CT thành lập Ban Công tác đặc nhiệm làm nhiệm vụ chống buôn lậu và Quản lý thị trường ở các tỉnh phía Nam dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Ban công tác đặc nhiệm cũng không thay thế Ban chỉ đạo Quản lý thị trường Trung ương, mà có sự quan hệ chặt chẽ với Ban chỉ đạo Quản lý thị trường Trung ương
Trang 32Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 23
các tỉnh phía Bắc, Ban công tác đặc nhiệm chống buôn lậu ở các tỉnh phía Nam và Ban chỉ đạo Quản lý thị trường Trung ương
Ban Quản lý thị trường Trung ương đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, có trách nhiệm giúp Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng thống nhất chỉ đạo công tác Quản lý thị trường, chống đầu cơ buôn lậu, sản xuất và buôn bán hàng giả và các hành vi kinh doanh trái phép khác
Ở các quận, huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh, Chủ tịch UBND trực tiếp chỉ đạo công tác Quản lý thị trường, chống đầu cơ, buôn lậu, sản xuất, buôn bán hàng giả và kinh doanh trái phép khác, không tổ chức Ban hoặc Đội chuyên trách
Quản lý thị trường trở thành lực lượng chuyên trách được tổ chức thành hệ thống từ Trưởng ương đến tỉnh
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo chức năng quản lý Nhà nước của mình có trách nhiệm chỉ đạo công tác Quản lý thị trường, chống đầu cơ, buôn lậu, sản xuất, buôn bán hàng giả và các hành vi kinh doanh trái phép khác trong phạm vi ngành, lĩnh vực, địa phương mình phụ trách
Ngày 23/01/1995 Chính phủ ban hành Nghị định số 10/CP về tổ chức, nhiệm
vụ và quyền hạn của Quản lý thị trường
Trang 33Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 24
2.1.7.2 Một số quy định về nghĩa vụ và quyền hạn của lực lượng quản lý thị trường
* Cục quản lý thị trường
Thường trực giúp Bộ trưởng Bộ công thương và Ban chỉ đạo 127 TW về công tác quản lý thị trường đấu tranh cống buôn lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng
và gian lận thương mại trong phạm vi cả nước
Xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến công tác quản lý thị trường (chính sách, chế độ, quy chế, xây dựng kế hoạch, chương trình, phương án…)
Tổ chức chỉ đạo thực hiện công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường; ra lệnh kiểm tra; hướng dẫn nghiệp vụ kiểm tra – xử lý đối với lực lượng quản lý thị trường trong cả nước
Trực tiếp kiểm tra và/hoặc xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại theo thẩm quyền hoặc chủ trì phối hợp với các cơ quan hữu quan thanh tra, kiểm tra những vụ vi phạm pháp luật thương mại có liên quan đến nhiều ngành, nhiều địa phương
* Chi cục quản lý thị trường
Giúp Giám đốc sở Công thương và thường trực giúp Ban chỉ đạo 127 ĐP về công tác quản lý thị trường đấu tranh chống buôn lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng và gian lận thường mại tại địa phương mình quản lý
Tham gia xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến công tác quản lý thị trường thuộc thẩm quyền ban hành của Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Tổ chức chỉ đạo thực hiện công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường (xây dựng
kế hoạch, chương trình, phương án…) và lệnh kiểm tra; hướng dẫn nghiệp vụ kiểm tra – xử lý đối với lực lượng quản lý thị trường do mình phụ trách
Trực tiếp kiểm tra và xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại theo thẩm quyền
Chủ trì và phối hợp với các cơ quan hữu quan thanh tra, kiểm tra những vụ vi
Trang 34Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 25
phạm theo yêu cầu của Chủ tịch UBND cấp tỉnh
Tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo những vi phạm của lực lượng quản
lý thị trường tại địa phương
Tổng hợp tình hình báo cáo theo quy định
Quản lý và tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách, quy chế đối với lực lượng quản lý thị trường tại địa phương
* Đội quản lý thị trường
Thực hiện kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại theo quy định của pháp luật
Phối hợp các lực lượng liên quan trên địa bàn được phân công để kiểm tra -
xử lý các vi phạm hành chính liên quan đến nhiều lĩnh vực hoặc phức tạp
Đề xuất các ý kiến và tổng hợp báo cáo công tác quản lý thị trường trên địa bàn được phân công
Tổ chức và quản lý hoạt động của Đội theo quy định
* Những quy định chung
Công chức quản lý thị trường có đủ điều kiện theo quy định thì được cấp thẻ kiểm tra thị trường (thẻ này nhằm công nhận quyền năng của công chức quản lý thị trường khi kiểm tra và xử lý những hành vi vi phạm trong lĩnh vực thương mại theo quy định của pháp luật)
Công chức quản lý thị trường có nghĩa vụ thực hiện các quy định của công chức nhà nước; đồng thời nắm vững các chủ trương, chính sách, pháp luật của nhà nước về thương mại, nắm vững nghiệp vụ kiểm tra, kiểm soát thị trường, thực hiện đúng các quy định của pháp luật, quy chế công tác ngành, bí mật kế hoạch công tác,
hồ sơ các vụ việc Nêu cao ý thức tổ chức kỷ luật, có trách nhiệm trong công tác, chấp hành sự phân công, điều đồng của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
2.1.8 Quan điểm chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước trong quản lý
nhà nước về thị trường vật tư nông nghiệp
Trong văn kiện Đại hội X có chỉ rõ cần: “Nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước Nhà nước tập trung làm tốt các chức năng: Định hướng sự phát triển bằng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách trên cơ sở tôn trọng và tuân
Trang 35Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 26
thủ các nguyên tắc của thị trường Tạo môi trường pháp lý thuận lợi để phát huy các nguồn lực của xã hội cho phát triển Bảo đảm tính bền vững và tích cực của các cân đối kinh tế vĩ mô, hạn chế các rủi ro và tác động tiêu cực của kinh tế thị trường Thực hiện quản lý nhà nước bằng hệ thống pháp luật, giảm tối đa sự can thiệp hành chính vào hoạt động của thị trường và doanh nghiệp ”.“Phát triển đồng bộ và quản
lý có hiệu quả sự vận hành các loại thị trường cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh … phát triển mạnh thị trường hàng hoá, dịch vụ…”
Nghị quyết 26/NQ-TW về nông nghiệp, nông thôn, nông dân chủ trương:
“Tạo môi trường thuận lợi để hình thành và phát triển mạnh các loại hình doanh nghiệp nông thôn, nhất là các doanh nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản, sử dụng nguyên liệu và thu hút nhiều lao động nông nghiệp tại chỗ, doanh nghiệp dịch vụ vật tư, tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản cho nông dân Phát triển mạnh doanh nghiệp công nghiệp chế tạo máy móc, thiết bị, vật tư, nguyên liệu phục vụ nông nghiệp”
Quản lý nhà nước về thị trường vật tư nông nghiệp được cụ thể hóa qua Nghị định của Chính phủ số 27/2008/NĐ-CP, ban hành ngày 13 tháng 3 năm 2008, về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 10/CP ngày 23 tháng 1 năm 1005, của Chính phủ về tổ chức, quyền hạn của quản lý thị trường và thông tư số 14/2011/TT-BNNPTNT ban hành ngày 29/03/2011 quy định việc kiểm tra, đánh giá
cơ sở sản xuất kinh doanh vật tư nông nghiệp và sản phẩm nông, lâm, thủy sản
Cơ sở pháp lý của quản lý nhà nước về thị trường vật tư nông nghiệp được dựa trên các văn bản sau:
Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 68/2006/QH11 ngày 29/06/2006 Luật này quy định về hoạt động xây dựng, công bố và áp dụng tiêu chuẩn; xây dựng, ban hành và áp dụng quy chuẩn kỹ thuật; đánh giá sự phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật
Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa của Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ hai,
số 05/2007/QH12 ngày 21/11/2007 Luật này quy định quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh sản phẩm, hàng hoá và tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến chất lượng sản phẩm, hàng hoá; quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa
Trang 36Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 27
Nghị quyết số 26NQ/TW ngày 05/08/2008 hội nghị lần thứ 7, Ban chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Nghị định số 97/2011/NĐ-CP quy định về thanh tra viên và cộng tác viên thanh tra
Pháp lệnh Thú y, Pháp lệnh bảo vệ thực vật, Pháp lệnh Giống cây trồng; Pháp lệnh giống vật nuôi; Luật thủy sản và các Nghị định hướng dẫn thi hành
Và một loạt các văn bản pháp luật được điều chỉnh gần đây nhất bao gồm: Thông tư số 51/2009/TT-BNNPTNT ngày 20/08/2009 về Hướng dẫn thủ tục kiểm tra điều kiện vệ sinh thú y cơ sở sản xuất kinh doanh thuốc thú y (bao gồm thuốc thú y thủy sản)
Thông tư số 77/2009/TT-BNNPTNT ngày 10/12/2009 quy định về kiểm tra nhà nước về chất lượng thuốc bảo vệ thực vật nhập khẩu
Thông tư số 36/2010/TT-BNNPTNT ngày 24/06/2010 về việc ban hành quy định sản xuất kinh doanh và sử dụng phân bón
Thông tư số 38/2010/TT-BNNPTNT ngày 28/06/2010 quy định về quản lý thuốc bảo vệ thực vật
Thông tư số 18/2011/TT-BNNPTNT ngày 06/04/2011 về Sửa đổi, bãi bỏ một số quy định về thủ tục hành chính trong lĩnh vực Bảo vệ thực vật và kiểm dịch thực vật theo Nghị quyết số 57/NQ-CP ngày 15/02/2010
Thông tư số 36/2011/TT-BNNPTNT ngày 20/05/2011 về việc ban hành danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sản xuất kinh doanh và sử dụng tại Việt Nam
Thông tư số 59/2011/TT-BNNPTNT ngày 20/08/2011 quy định về chứng nhận và công bố chất lượng giống cây trồng phù hợp tiêu chuẩn về kỹ thuật
Thông tư số 61/2011/TT-BNNPTNT ngày 12/09/2011 ban hành quy chuẩn
kỹ thuật quốc gia trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi
Thông tư số 66/2011/TT-BNNPTNT ngày 10/10/2011 về Quy định chi tiết một số điều Nghị định số 08/2010/NĐ-CP ngày 05/02/2010 của chính phủ về quản
lý thức ăn chăn nuôi
Thông tư số 67/2011/TT-BNNPTNT ngày 17/10/2011 ban hành quy chuẩn quốc gia về kiểm nghiệm giống cây trồng
Trang 37Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 28
Thông tư số 72/2011/TT-BNNPTNT ngày 25/10/2011 Ban hành quy chuẩn Quốc gia về khảo nghiệm, kiểm định giống vật nuôi
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng Đảng và Nhà nước luôn đóng vai trò định
hướng quan trọng cho các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và sự phát triển của nông nghiệp nói riêng Các chủ trương, chính sách về quản lý nhà nước về thị trường vật tư nông nghiệp được ban hành, sửa đổi, bổ sung, thay thế khá kịp thời, phù hợp với bối cảnh phát triển của đất nước Đó chính là một trong những căn cứ để định hướng giải pháp cho vấn đề này trong thời gian tới
2.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý nhà nước về thị trường vật tư nông nghiệp ở một
số nước trên thế giới và ở Việt Nam
2.2.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về thị trường vật tư nông nghiệp ở một số
nước trên thế giới
2.2.1.1 Vài nét về thị trường vật tư nông nghiệp của một số nước trên thế giới
Nhìn chung cung - cầu phân bón trên thế giới trong những năm qua đang mất cân bằng Tốc độ tiêu thụ tăng mạnh hơn khả năng cung cấp nên tạo lợi thế cho bên cung
Nhu cầu sử dụng phân bón của các nước nhiều hay ít phụ thuộc vào diện tích nông nghiệp nhưng nhìn chung thì tất cả các quốc gia trên thế giới đều có nhu cầu
sử dụng phân bón Khu vực Đông Á là nơi có nhu cầu sử dụng cao nhất và cũng là khu vực có tốc độ tăng nhu cầu nhanh nhất chiếm đến 2/3 lượng sử dụng phân bón tăng thêm trong niên vụ 2006 - 2007 đến 2007 - 2008 Tuy nhiên, số lượng các quốc gia có thể sản xuất phân bón lại khá ít do phải lệ thuộc vào một số lợi thế về nguồn nguyên liệu chủ yếu sản xuất phân bón như khí thiên nhiên, than đá, mỏ kali hay mỏ quặng phosphate, mà những tài nguyên này không phải nước nào cũng có Hiện nay chỉ có 5 nước như Trung Quốc, Hoa Kỳ, Ấn Độ, Canada và Nga có khả năng cung cấp trên 10 triệu tấn đơn vị dinh dưỡng hằng năm, còn các quốc gia còn lại chỉ có thể cung cấp từ 5 triệu đơn vị dinh dưỡng trở xuống (Báo cáo ngành nguyên liệu cơ bản - Phân bón nông nghiệp)
Một số thị trường phân bón đang phát triển nhanh nhất có nhu cầu cao nhất
Trang 38Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 29
hiện nay là: Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil Trong năm 2008 nhu cầu phân Đạm tăng 2,5-3%, phân Lân tăng 3-4%, và Kali tăng 4-5,5% Trong năm 2007, giá phân bón
đã tăng 66% và chỉ riêng Brazil đã tiêu thụ 24,5 triệu tấn Trong đó sản xuất trong nước có 9 triệu tấn Dự kiến đến 2016 nhu cầu của Brazil sẽ đạt 30,6 triệu tấn/năm
và phải nhập khẩu 21,3 triệu tấn/năm Cung - cầu phân bón đang mất cân đối trầm trọng, ở mức chưa từng có trong lịch sử Giá phân bón ngày một tăng còn do giá nguyên liệu để sản xuất phân bón ngày càng tăng trong khi nguồn nguyên liệu này ngày một cạn kiệt Nhưng nhìn toàn cảnh, những diễn biến của ngành công nghiệp phân bón đang là niềm cổ vũ và khuyến khích cho nhà sản xuất (http://greendelta.com.vn ngày 17/5/2010)
Như vậy, thị trường phân bón đang có xu hướng phát triển mạnh mẽ nhằm đáp ứng cho nhu cầu tiêu thụ của ngành nông nghiệp Ngay cả những nước có khả năng cung ứng phân bón tốt nhất cũng vẫn bị thiếu hụt do bị hạn chế về nguyên liệu sản xuất phân bón Đây chính là cơ hội cho Việt Nam, với nguồn nguyên liệu sản xuất phân bón dồi dào chúng ta cần phát huy lợi thế để tranh thủ phát triển trong thời gian tới
2.2.1.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về thị trường vật tư nông nghiệp của một số nước trên thế giới
a Một số quốc gia thuộc nhóm nước phát triển
Các quốc gia này quản lý sản xuất và kinh doanh vật tư nông nghiệp theo danh mục loại trừ Mỹ hay Canada là ví dụ về các quốc gia áp dụng quản lý theo danh mục loại trừ, hay danh mục các loại vật tư nông nghiệp không được phép sản xuất, kinh doanh và sử dụng Có thể hiểu đây là lối tư duy quản lí khác với cách quản lí theo danh mục cho phép ở trên Nếu ở trên cách tư duy được hiểu là doanh nghiệp và người dân chỉ được phép sản xuất, kinh doanh và sử dụng các loại vật tư nông nghiệp mà Nhà nước cho phép, thì quản lí theo danh mục loại trừ được hiểu là doanh nghiệp và người dân được phép sản xuất, kinh doanh và sử dụng tất cả các sản phẩm mà pháp luật không cấm Câu hỏi đặt ra là tại sao lại cấm sử dụng một số sản phẩm trong trường hợp này? Cách quản lí theo danh mục loại trừ cơ bản dựa
Trang 39Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 30
trên khái niệm an toàn đối với sản phẩm vật tư nông nghiệp và chất bổ sung trong nông nghiệp
Quản lí theo danh mục loại trừ có ưu điểm là giảm bớt được chi phí quản lí, chi phí tác nghiệp sau này đối với các cơ quan chuyên môn thực thi nhiệm vụ QLTT
về vật tư nông nghiệp, nâng cao vai trò trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân tham gia sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp, hạn chế sự nhiễu loạn thông tin về vật
tư nông nghiệp
Để có thể xây dựng được danh sách sản phẩm loại trừ, việc đầu tiên người
ta phải hoàn tất bộ tiêu chuẩn và quy chuẩn chất lượng đối với các loại sản phẩm vật tư nông nghiệp khác nhau Hệ thống, tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia cho phép vật tư nông nghiệp biệt một cách rõ ràng cái gì, sản phẩm nào không được phép sản xuất, kinh doanh và sử dụng Trong quản lí theo danh mục loại trừ, người ta phân biệt vật tư nông nghiệp rõ ràng theo 2 khái niệm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng khác nhau về bản chất trong lĩnh vực quản lí nhà nước:
Tiêu chuẩn chất lượng1: đó là các thuộc tính, đặc điểm của hàng hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu người tiêu dùng, mang tính tự nguyện Tiêu chuẩn chất lượng có tiêu chuẩn “cao” có tiêu chuẩn “không cao” Tiêu chuẩn chất lượng áp dụng càng cao càng mang lại uy tín, chất lượng cho hàng hóa của tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm đó
Ngược lại với tiêu chuẩn chất lượng, các yêu cầu về giới hạn của các chất độc hại, vi sinh vật gây hại trong sản phẩm hàng hóa qui định trong Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia2 mang tính bắt buộc Ví dụ trong vật tư nông nghiệp Urê, bắt buộc thành phần chất biuret phải nhỏ hơn 1,5% Tính chất bắt buộc này bảo đảm sự an toàn của sản phẩm vật tư nông nghiệp trong sản xuất lưu thông và sử dụng Quy chuẩn quốc gia do các Bộ chuyên ngành xây dựng và áp
1 Theo định nghĩa của tổ chức Tiêu chuẩn hoá quốc tế (ISO) thì "Tiêu chuẩn là một tài liệu kỹ thuật, được thiết lập bằng cách thoả thuận trong đó nêu ra các quy tắc, hướng dẫn hoặc là các đặc tính của các hoạt động hay kết quả của các hoạt động, do một cơ quan được công nhận phê duyệt, để sử dụng lặp lại nhằm đạt được mức độ tối ưu, trong một hoàn cảnh nhất định"
2 Quy chuẩn là văn bản pháp quy kỹ thuật quy định các yêu cầu tối thiểu, các ngưỡng, các mức bắt buộc phải được tuân thủ trong mọi hoạt động xây dựng trên phạm vi toàn quốc Có 2 loại quy chuẩn: quy chuẩn mục tiêu và quy chuẩn cụ thể
Trang 40Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 31
dụng trên phạm vi toàn quốc
Căn cứ xây dựng các quy chuẩn kỹ thuật vật tư nông nghiệp là kết quả của nghiên cứu khoa học trong thực hành sản xuất nông nghiệp Để thiết lập các quy chuẩn này, các cơ quan chuyên môn cần phải huy động lực lượng chuyên gia nghiên cứu tốt, có chuyên môn cao nhằm tránh tình trạng “bỏ sót” gây hậu quả khó lường đối với sản xuất nông nghiệp và môi trường sau này Đây cũng chính là hạn chế của phương thức quản lí này Có thể hiểu rằng tiêu chuẩn kỹ thuật là văn bản kỹ thuật định hướng và hướng dẫn cách thức để có thể đạt quy chuẩn kỹ thuật
Khi quản lí theo danh mục loại trừ, cơ quan quản lí sẽ ủy thác trách nhiệm cao hơn đối với nhà sản xuất và kinh doanh vật tư nông nghiệp Các sản phẩm mới
sẽ không bắt buộc phải khảo nghiệm trước khi đưa vào danh mục công bố Tuy nhiên, người ta vẫn tiến hành các thủ tục đăng kí và công bố sản phẩm (không qua khảo nghiệm) Việc đăng kí là bắt buộc đối với tất cả các sản phẩm vật tư nông nghiệp muốn tham gia thị trường Để được đăng kí và công bố, các cơ quan được giao quản lí nhà nước về vật tư nông nghiệp sẽ đề nghị tổ chức cá nhân sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp có những cam kết khá chặt chẽ về sự an toàn của sản phẩm này trong sản xuất lưu thông và sử dụng Trong trường hợp có nghi ngờ, cơ quan quản lí chuyên môn có thể từ chối đăng kí và yêu cầu tiến hành khảo, kiểm nghiệm đối với loại vật tư nông nghiệp, chất bổ sung đó Nhưng để tránh tạo cơ chế
“xin - cho” gây phiền nhiễu đối với các nhà sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp, các lí do từ chối đăng kí và công bố phải dựa trên các lập luận khoa học
b Một số quốc thuộc nhóm nước đang phát triển
Những quốc gia này (đại diện là Thái Lan và Ấn Độ) thực hiện việc quản lí vật tư nông nghiệp theo các danh mục được phép sản xuất
Danh mục các sản phẩm vật tư nông nghiệp được phép sản xuất, kinh doanh
và sử dụng là một danh sách các loại vật tư nông nghiệp được nhà nước cho phép sản xuất, lưu hành và sử dụng trong sản xuất nông nghiệp trong thời đoạn nhất định (gọi tắt là danh mục được phép) Để một loại vật tư nông nghiệp mới vào được danh sách kể trên, các tổ chức, cá nhân phải đăng kí với cơ quan được giao thực hiện việc