1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Bài giảng Cây công nghiệp - Trường CĐ Cộng đồng Lào Cai

94 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài giảng Cây công nghiệp gồm 4 chương, cung cấp cho người học những kiến thức như: Cây lạc; Cây chè; Cây cao su; Cây thuốc lá. Mời các bạn cùng tham khảo để nắm chi tiết nội dung bài giảng!

Trang 1

TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG LÀO CAI

KHOA NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ LAN ANH

TẬP BÀI GIẢNG

CÂY CÔNG NGHIỆP

LÀO CAI, 2012

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Cây công nghiệp là môn học chuyên ngành được dạy ở các Trường có đào tạo Lâm nghiệp.

Nông-Bài giảng cây công nghiệp được viết cho học sinh hệ Cao đẳng và Trung cấp ngành Nông Lâm Trường Cao đẳng Cộng đồng Lào Cai Nội dung cuốn bài giảng cung cấp cho học sinh một số kiến thức cơ bản về đặc điểm thực vật học, kỹ thuật trồng và chăm sóc, thu hoạch và bảo quản của một số cây công nghiệp phổ biến.

Bài giảng gồm các cây được trồng chủ yếu tại tỉnh Lào Cai

Chương 1: Cây lạc

Chương 2: Cây chè

Chương 3: Cây cao su

Chương 4: Cây thuốc lá

Trong đó, hệ Trung học sẽ học các chương 1, 2, 3 Hệ Cao đẳng học cả 4 chương và học chuyên sâu hơn một số nội dung về cây Cao su.

Trong quá trình biên soạn khó tránh khỏi thiếu sót Tôi mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc, đồng nghiệp để lần xuất bản kế tiếp sẽ hoàn chỉnh hơn.

Tác giả

Nguyễn Thị Lan Anh

Trang 3

BÀI MỞ ĐẦU

Nước ta nằm ở vùng nhiệt đới nóng ẩm, lại có nhiều loại đất thích hợp với nhiều loạicây công nghiệp, trong đó có những sản phẩm có giá trị xuất khẩu cao Việc phát triển câycông nghiệp có ý nghĩa to lớn trong việc sử dụng hợp lý tài nguyên, sử dụng lao động nôngthôn, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và nguồn hàng cho xuất khẩu, nâng cao đờisống của nhân dân Nước ta có nhiều cây công nghiệp lâu năm như chè, cà phê, cao su, hồtiêu, dừa, hồi, sơn, quế, mía, bông, đậu tương, lạc

Chè là loại cây công nghiệp quan trọng có giá trị xuất khẩu cao Bên cạnh đó chè còn

là cây trồng nông nghiệp có tác dụng bảo vệ đất, chống xói mòn rửa trôi Cây chè khỏe,không kén đất nên có thể trồng ở khắp nơi, từ đồng bằng đến miền núi, từ miền Bắc tớimiền Nam Các vùng chuyên canh chè tâp trung ở các tỉnh Yên Bái, Sơn La, Hà Giang,Tuyên Quang, Thái Nguyên, Phú Thọ, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Gia Lai, Kon Tum,Đắc Lắc, Lâm Đồng Đối với tỉnh Lào Cai, tình hình sản xuất, kinh doanh chè không ngừngtăng cả về diện tích, năng suất, sản lượng mà còn có những chuyển biến tích cực về giống,

kỹ thuật canh tác, thu mua, chế biến và tiêu thụ sản phẩm

Tính đến đầu năm 2010, diện tích chè của toàn tỉnh này là 4.067 ha, trong đó có3.603 ha chè kinh doanh Diện tích chè của tỉnh Lào Cai phân bổ chủ yếu ở các huyện: BảoThắng, Mường Khương, Bát Xát, Bảo Yên, Bắc Hà và thành phố Lào Cai Cơ cấu giống chè

đã có nhiều thay đổi, từng bước đáp ứng với nhu cầu của thị trường như: Chè Shan chiếm42% diện tích, chè lai chiếm 32,3%, chè chất lượng cao 1,9% và chè trung du chiếm 23,2%

Năng suất bình quân chè kinh doanh đạt 42 tạ/ha/năm Toàn tỉnh Lào Cai hiện có 7 cơ sở

chế biến chè với tổng công suất đạt 100 tấn chè búp tươi/ngày

Cao su là cây ưa trồng ở vùng đất đỏ ba-dan, là cây cho nhựa có giá trị kinh tế cao.Theo các chuyên gia ở Tập đoàn cao su Việt Nam, vào năm 2010, diện tích cao su có thể đạtmức 700.000 ha; trong đó diện tích khai thác từ 420.000 đến 450.000 ha và cho sản lượngtrên 600.000 tấn; kim ngạch xuất khẩu vẫn giữ được ở mức trên 1 tỷ USD Đến năm 2015,diện tích khai thác đạt 520.000 đến 530.000 ha và sản lượng ước đạt 750.000 - 800.000 tấn,đạt kim ngạch xuất khẩu 1,5 - 1,6 tỷ USD vị thế của ngành cao su Việt Nam trên thế giớingày càng được khẳng định Trước năm 2005, Việt Nam là nước sản xuất cao su thiên nhiênđứng thứ 6 trên thế giới (sau các nước Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Ấn Độ, và TrungQuốc) Một số tỉnh miền Nam là nơi có điều kiện thuận lợi cho việc trồng cao su, đặc biệt làvùng Đông Nam Bộ với diện tích trồng cao su chiếm 80% diện tích toàn quốc Ngày naycây cao su đã được đưa vào trồng tại tỉnh Lào Cai với quy mô 15.000 ha cao su trong giaiđoạn 2010-2020 Phát triển cây cao su nhằm mục đích chuyển đổi cơ cấu cây trồng tạo sảnphẩm hàng hoá ổn định, lâu dài, góp phần xây dựng nông thôn mới bền vững

Cây công nghiệp hàng năm (chủ yếu là đay, cói, dâu tằm, bông, mía, lạc, đậu tương,thuốc lá ), thường được trồng ở vùng đồng bằng, một số cây trồng xen trên đất lúa Đậutương, lạc, thuốc lá được trồng nhiều trên đất bạc màu Đậu tương được trồng nhiều nhất ởmiền núi, vùng trung du phía Bắc (Cao Bằng, Sơn La, Bắc Giang), chiếm hơn 40% diện tíchđậu tương cả nước, ngoài ra còn được trồng nhiều ở các tỉnh Hà Tây, Đồng Nai, Đắc Lắc vàĐồng Tháp Cây lạc phù hợp trên đất phù sa cổ ở các tỉnh Tây Ninh, Bình Dương, trên đấtcát pha các đồng bằng duyên hải miền Trung, nhất là ở Bắc Trung Bộ và ở trung du Bắc Bộ.Cây thuốc lá được trồng nhiều nhất ở vùng Đông Nam Bộ, duyên hải miền Trung và miềnnúi, vùng trung du phía Bắc

Trang 4

Theo quyết định số 2495 /QĐ-UBND ngày 26 tháng 9 năm 2012 của UBND tỉnh LàoCai Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển nông nghiệp tỉnh Lào Cai đến năm 2020 vàđịnh hướng đến năm 2030:

- Cây thuốc lá: Đến năm 2015, diện tích vùng trồng thuốc đạt 1.500 ha, năng suất đạt

trên 1,7 tấn/ha, phẩm cấp loại cao là chủ yếu Đến 2020 mở rộng diện tích trồng thuốc lánguyên liệu đạt trên 2.000 ha

- Cây chè: Đến năm 2015 trồng mới 1.500 ha bằng các giống có chất lượng cao, năng

suất chè kinh doanh đạt 8-10 tấn/ha, áp dụng sản xuất chè theo tiêu chuẩn VIETGAP để nângcao chất lượng các vùng chè Giai đoạn 2016 - 2020 mở rộng vùng nguyên liệu thêm khoảng1.000 ha để ổn định vùng chè của tỉnh đạt khoảng 6.000 ha, năng suất đạt trên 10 tấn/ha

- Các loại cây công nghiệp ngắn ngày khác: Đến năm 2015 tăng diện tích đậu tương

lên khoảng 6.100 ha; tăng diện tích trồng lạc trên đất ruộng 1 vụ vùng cao đạt 2.200 ha Đếnnăm 2020, diện tích đậu tương đạt 8.000 ha, sản lượng: 12.000 tấn; diện tích lạc đạt 2.350

ha, sản lượng đạt 4.000 tấn

Do vậy đự 4 loại cây trồng nối trên vào giảng dạy nhằm phù hợp với quy hoạch, thựctrạng phát triển cây công nghiệp tại Lào Cai

Trang 5

Chương 1: CÂY LẠC

1.1 NGUỒN GỐC VÀ PHÂN LOẠI

1.1.1 Nguồn gốc

Lạc Arachis hypogaea - còn gọi là đậu phộng và có nguồn gốc ở Nam Mỹ Nhờ khảo cổ

học và địa thực vật học người ta có thể xác định nguồn gốc cây lạc Năm 1977, Skiê(E.O.Squler) tìm thấy những quả lạc được chôn trong các ngôi mộ cổ Ancon gần Lima, thủ

đô Pê ru Lạc được đựng trong các vật cùng với một số thực phẩm khác Niên đại của các

ngôi mộ cổ này có từ năm 1200 - 1500 trước công nguyên Theo Engen thì lạc được trồng

cách đây khoảng 3800 năm, thuộc thời kỳ tiền đồ gồm ở Las Haldas

Theo các nhà sử học, người Inca - thổ dân Nam Mỹ đã trồng lạc như một loại cây thựcphẩm ở dọc vùng duyên hải Pêru với tên “Ynchis” Krapovikat (1968) cho rằng, vùngBolovian (Nam Bolovia - Tây Bắc Achentina) là vùng nguyên sản của loài lạc trồng

Tóm lại, từ vùng nguyên sản ở Nam Mỹ, bằng nhiều con đường - lạc đã được đưa đikhắp nơi trên thế giới và nó nhanh chóng thích ứng với các vùng nhiệt đới, á nhiệt đới vàvùng có khí hậu ẩm Đặc biệt lạc đã tìm được mảnh đất phát triển thuận lợi ở châu Phi vàvùng nhiệt đới châu Á Lạc được trồng rộng rãi ở châu Phi rồi từ đây, theo các thuyền buôn

nô lệ, lạc lại được đưa trở lại châu Mỹ (cả Bắc Mỹ và Nam Mỹ) và châu Âu Chính sự giao

lưu chéo rộng rãi này đã hình thành nhiều vùng gen thứ cấp và làm phong phú thêm hệ gencủa lạc

1.1.2 Phân loại

Lần đầu tiên loài lạc trồng Arachis hypogaea được mô tả như một loài thực vật là do

Linnaeus công bố năm 1753 và trong một thời gian dài người ta chưa biết một loại trongchi Arachis, tức là loại lạc trồng

Waldron dựa vào dạng cây, chia lạc làm 2 loài phụ: loài phụ Fastigrata có thân dạngđứng và loài phụ Procombens có thần dạng bò Gregory (1951) dựa trên cơ sở đặc điểm

phân cành: Thứ tự ra cành dinh dinh dưỡng và cành sinh thực, chia lạc trồng làm 2 nhóm:

Nhóm phân cành xen kẽ và nhón phân cành liên tục với 3 dạng: Dạng Virginia thuộc nhómphân cành xen kẽ; dạng Valencin và Spanish thuộc nhóm phân cành liên tục

Gần đây kết hợp các phương pháp phân loại trên, các tác giả Krapovikat (1958) vàGregory (1980) đã mô tả 4 dạng thực vật của loài lạc trồng và xếp thành 2 loài phụ với 4thứ như sau:

Loài lạc trồng Arachis hypogaea gồm 2 loài phụ:

+ Thứ Vulgarls: Dạng Spanith (Guaranian, Goiaa và Minas Gerais: Tây Bắc Braxin)

Hệ thống phân loại dựa trên cơ sở tập phân cành của Gregory (1951) được phổ biếnrộng rãi hơn cả Theo hệ thống phân loại này thì loại phụ Hypogaea có thứ Hypogae thuộcdạng Virginia - phân nhánh xen kẽ Loài phụ Fastigiata có đặc điểm phân nhánh liền hoavới 2 dạng: Valencia và Spanish

Trang 6

1.2 GIÁ TRỊ KINH TẾ

Bộ phận sử dụng chủ yếu của cây lạc là hạt Hạt lạc từ lâu đã được sử dụng làm thựcphẩm cho người Với hàm lượng dầu cao, hạt lạc là loại hạt có dầu quan trọng Thành phầnsinh hóa của hạt lạc như sau: Nước 8 - 10%, Dầu thô 40 - 60%, Protein thô 26 - 34%, Gluxit

6 - 22%, Xenlulo 2 - 4,5%

Như vậy, giá trị dinh dưỡng chủ yếu của hạt lạc là lipit và protein Trong công nghiệp

ép dầu, người ta thu được hai sản phẩm chính là dầu thô và khô dầu - toàn bộ protein củahạt nằm ở khô dầu

Do giá trị dinh dưỡng của lạc, từ lâu loài người đã sử dụng lạc như một nguồn thựcphẩm quan trọng: sử dụng trực tiếp, ép dầu làm dầu ăn, khô dầu để chế biến nước chấm vàcác mặt hàng thực phẩm khác Gần đây, nhờ công nghiệp thực phẩm phát triển, người ta đãchế biến nhiều mặt hàng thực phẩm có giá trị từ lạc như bơ lạc, pho mát lạc, sữa lạc

1.2.3 Giá trị trong chăn nuôi

Giá trị làm thức ăn gia súc của lạc được đánh giá trên các mặt: Khô dầu lạc, thân lálàm thức ăn xanh và việc tận dụng phế liệu lạc để làm thức ăn gia súc

Khô dầu lạc: Trong thành phần thức ăn khô dầu lạc chiếm 25 - 30% Như vậy, khô dầulạc là nguồn thức ăn dầu protein dùng trong chăn nuôi Hiện nay sản lượng khô dầu lạc trênthế gới đứng hàng thứ 3 trong các khô dầu thực vật dùng trong chăn nuôi và đóng vai tròphát triển ngành chăn nuôi

Thân lá xanh của lạc: với năng suất 5 - 15tấn/ha chất xanh (sau thu hoạch quả) có thểdùng chăn nuôi đại gia súc

Cám vỏ quả lạc: vỏ quả lạc chiếm 25 - 35% trọng lượng quả Trong chế biến thựcphẩm người ta thường tách khỏi vỏ quả, vỏ quả trở thành sản phẩm phụ, dùng để nghiềnthành cám cho chăn nuôi Cám của vỏ quả lạc có thành phần dinh dưỡng tương đương cámgạo dùng để nuôi lợn, gà, vịt rất tốt

Bảng 1.1: Thành phần dinh dưỡng của cám gạo và vỏ quả lạc (% trọng lượng khô)

Trang 7

1.2.4 Giá trị trồng trọt

Lạc là loại cây trồng có nhiều ý nghĩa nhất đối với các nước nghèo vùng nhiệt đới.Ngoài giá trị kinh tế của lạc đối với công nghiệp ép dầu, công nghiệp thực phẩm và chănnuôi, lạc còn có ý nghĩa to lớn đối với việc cải tạo đất do khả năng cố định đạm của cây.Cũng như các cây họ đậu khác, rễ lạc có thể tạo nốt sần do vi sinh vật cộng sinh cố địnhđạm hình thành Theo nhiều tác giả, lượng nitơ cố định của lạc có thể đạt 70 - 110kgN/ha/vụ.Chính nhờ khả năng cố định này mà hàm lượng protein ở hạt và các bộ phận khác của cây caohơn nhiều loại cây trồng khác Cũng nhờ khả năng cố định này, sau khi thu hoạch lạc thì thànhphần hóa tính đất được cải thiện rõ rệt, lượng đạm trong đất tăng và khu hệ vi sinh vật hảo khítrong đất được tăng cường có lợi đối với các cây trồng sau, nhất là đối với các loại cây trồng sửdụng nhiều đạm

1.3 ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN

1.3.1.1 Sự hút nước của hạt

Muốn hoạt hóa các men, trước hết phải hút đủ nước, lượng nước hạt cần hút để nảymầm rất lớn Theo Bouffil, hạt phải hút lượng được ít nhất bằng 35 - 40% trọng lượng hạtthì mới có thể nảy mầm bình thường được Trong điều kiện thuận lợi (môi trường bão hòathiệt độ 300C) hạt có thể hút lượng nước bằng 60 - 65% trọng lượng hạt, đó là lượng nướctối thích cho sự nảy mầm Thời gian hạt hút nước chủ yếu trong 24 giờ đầu tiên sau khigieo Trong điều kiện thuận lợi, trong 8 giờ đầu hạt đã hút 70 - 90% lượng nước cần(Bouffil) Sức hút nước, lượng hút và thời gian hút nước phụ thuộc nhiều vào sức sống hạtgiống, độ ẩm hạt, độ ấm và nhiệt độ môi trường

Hạt hút nước theo cả 2 phương thức bị động và chủ động Ở hạt chết (mất sức nảy

mầm) chỉ còn khả năng hút nước bị động nên ở những hạt này nước được hút vào hạt quánhiều gây thối hạt nhanh chóng

(A) Hạt hút nước, rễ phôi xuất hiện; (B,C) Trục phôi hạ diệp phát triển đưa rễ cắm sâu vào đất, (D, E, F) Trục phôi hạ diệp phát triển đưa lá mầm lộ khỏi mặt đất, phôi thượng diệp phát triển thành thân, lá đầu tiên xuất hiện.

Hình 1.1 Sự nảy mầm của lạc

Trang 8

- Các điều kiện ảnh hưởng đến quá trình nẩy mầm của hạt:

+ Điều kiện ngoại cảnh: Điều kiện môi trường ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình nẩymầm là nhiệt độ, độ ẩm đất và không khí

+ Điều kiện chất lượng hạt: Phẩm chất hạt có ảnh hưởng lớn đến sự nẩy mầm Hạt có

chứa lượng pipit và protein lớn, những chất này rất dễ bị biến chất trong quá trình bảo quảnhạt làm mất sức nẩy mầm của hạt Hiện tượng ngủ nghỉ có ảnh hưởng tới tỷ lệ nẩy mầm vàsức sống của hạt, do đó cũng liên quan tới vấn đề bảo quản giống và kỹ thuật gieo trồng Những giống thuộc loài phụ Hypogae, dạng Virginia thường có thời gian ngủ nghỉ củahạt dài (l00 - 150 ngày), vì vậy những giống này dễ bảo quản hơn và thời gian gian bảo

quản giống cũng dài hơn.

Những giống thuộc loại phụ Fastigiata có thời gian ngủ nghỉ ngắn (9 - 50 ngày) hoặckhông có thời gian (nhất là ở loại hình Spanish), hạt có thể nảy mầm tại ruộng, vấn đề bảoquản giống khó khăn hơn nhiều

1.3.1.2 Sự phát triển thân cành

a Sự phát triển chiều cao thân

Thân lạc tương đối cao và phụ thuộc chủ yếu vào đặc điểm di truyền giống Những quan

sát ở nước ta cho thấy những giống có dạng bụi thường có chiều cao đạt khoảng 70 - 150cm Dạng đứng có chiều cao 40 - 80cm, riêng bò 15 - 30cm Trường hợp lạc bị vống lốp, lạc đứng

có thể cao 100 - 150cm, trong trường hợp này cây lạc thường bị đổ

Tốc độ sinh trưởng chiều cao thân tăng dần trong thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng (thời

kỳ cây con) và đạt cao nhất trong thời kỳ hoa rộ (khoảng 10 - 15 ngày) Tốc độ tăng trưởng

chiều cao thân trong thời kỳ đầu sinh trưởng (2 - 5 lá) đạt 0,1 - 0,3cm/ngày Thời kỳ trước ra

hoa (5 - 8 lá) đạt 0,3 - 0,6cm/ngày Tốc độ này tăng nhanh trong thời kỳ ra hoa và cuối thời

kỳ ra hoa rộ, đạt tốc độ cao nhất, khoảng 0,7 - 1,5cm/ngày Ngay sau đó, khi cây chuyển sanggiai đoạn đâm tia, hình thành quả rộ, tốc độ tăng chiều cao thân giảm rõ rệt chỉ còn khoảng0,2 - 0,5cm/ngày Trong thời kỳ chín, nếu gặp điều kiện thuận lợi tốc độ tăng chiều cao thânlại tăng, có thể đạt 0,3 - 0,7cm/ngày trong thời kỳ thu hoạch

Ở các tỉnh phí Bắc, vụ lạc xuân cây tăng trưởng chiều cao cho tới khi thu hoạch, nhưngtrong vụ thu, cây gần như không tăng trưởng chiều cao trong thời kỳ chín

Với tốc độ tăng tưởng như vậy, khi lạc ra hoa, chiều cao cây chỉ đạt bằng khoảng 40% chiều cao cuối cùng Khoảng 2/3 chiều cao cây là tăng trưởng trong thời kỳ sinhtrưởng sinh thực

30-b Sự phát triển cành

Khả năng đâm cành của lạc rất lớn, nhất là những giống thuộc loài phụ Hypogaea.Những giống này có thể có tới 4 - 7 cấp cành với tống số cành có thể đạt 20 - 30 cành.Loại phụ Fastigiata có số cành ít hơn thường chỉ có 2 - 3 cấp cành (chủ yếu chi có 2cấp cành n + 1 và n + 2) với tổng số cành 6 - 12

Ở nước ta, lạc chủ yếu thuộc nhóm Spanish, thân đứng, có 2 cấp cành với tổng số cành

6 - 10 cành (thường là 4 - 6 cành cấp I và 2 - 4 cành cấp II)

- Quy luật phân cành của lạc như sau (loại phụ Fastigiata)

+ Cành cấp I: Thường có 4 - 6 cành Mọc từ nách lá thân chính Hai cành đầu tiên mọc

từ nách lá mầm Vì 2 lá mầm gần như mọc đối nên 2 cành này cũng ở vị trí gần như đốinhau qua thân chính và thời gian xuất hiện gần đồng thời Trong thực tế, rất khó phân biệtcành số 1 và số 2 cho nên có thể coi chúng như cặp cành đầu tiên Cặp cành này xuất hiệnkhi lạc có 2 - 3 lá thật Cành số 3, số 4 mọc từ nách lá thật 1, 2 Lá lạc mọc cách, nhưng đốtthứ 2 thường ngắn hơn đốt 1 và 3 cho nên cành 3,4 gần nhau hơn và tạo thành cặp cành thứ

Trang 9

2 và cành 5, 6 cũng tương đối gần nhau hơn, tạo nên cặp cành thứ 3.

+ Cành cấp II: Thường chỉ xuất hiện ở cặp cành cấp 1 đầu tiên Vị trí cành cấp II thường ở 2 đốt đầu tiên của cành cấp I Như vậy, thường chỉ có 4 cành cấp II Cành cấp II

xuất hiện là khi lạc được 5, 6 lá trên thân chính

Số cành của lạc liên quan trực tiếp đến số quả Các cành mô tả trên đều là cành quả Sốhoa và số quả ở tầng cành thứ nhất (gồm cành 1,2 và các cành cấp II của nó) chiếm khoảng

50 - 70% tổng số hoa, quả của cây, tầng cành thứ 2 chỉ chiếm 20 - 80% và tầng cành 3thường dưới 10% số hoa, quả

1.3.1.3 Sự phát triển của bộ lá

Trên thân chính số lá có thể đạt 20 - 25 lá Khi thu hoạch tổng số lá trên cây có thể đạt

50 - 60 lá Tuy nhiên, do những lá già rụng sớm nên số lá trên cây cao nhất vào thời kỳ hìnhthành quả và hạt, thường đạt 40 - 60 lá

Diễn biến tăng trưởng diện tích lá lạc từ khi mọc đến thời kỳ hình thành quả và hạttương ứng sự tăng trưởng chiều cao thân Thời kỳ sau ra hoa đến hình thành quả, hạt là thời

kỳ thân cành phát triển mạnh, đồng thời cũng là thời kỳ diện tích lá phát triển nhanh nhất.Diện tích lá đạt cao nhất thường vào thời kỳ hình thành quả - hạt (30 - 50 ngày sau khi cóhoa), sau đó giảm dần do sự rụng của lá già

Tốc độ tăng diện tích lá thường đạt 0,1 - 0,2dm2 lá/ngày ở thời kỳ trước ra hoa Trongthời kỳ ra hoa hình thành quả và hạt, diện tích lá tăng nhanh và có thể đạt 0,6 - 0,8dm2

lá/ngày/cây, sau đó tốc độ này giảm nhanh và có thể đạt trị số âm vào thời kỳ chín (diện tích

Trong thực tiễn sản xuất, trên ruộng lạc thường đạt chỉ số điện tích lá thấp hơn nhiều

so với trị số tối ưu Đó là nguyên nhân quan trọng hạn chế năng suất lạc trên đồng ruộng

Các biện pháp kỹ thuật, nhằm tăng cường sinh trưởng sinh dưỡng, trồng dày hợp lý,

để đạt chỉ số diện tích lá cao, đều là biện pháp tăng năng suất lạc

1.3.1.4 Sự phát triển bộ rễ

Rễ lạc là rễ cọc, gồm rễ chính ăn sâu và một hệ rễ bên phát triển Rễ chính của lạcphát triển từ phôi rễ Rễ nối với thân hạ diệp ở phần cổ rễ Thực ra, sự phân biệt thân hạdiệp và rễ chính chỉ rõ ở thời kỳ đầu sinh trưởng Khi lạc ra hoa đến khi thu hoạch, sự phânbiệt này gần như không còn

Trang 10

Rễ chính của lạc phát triển nhanh trong thời kỳ đầu sinh trưởng Quan sát trong vụxuân ở nước ta, sau khi gieo 10 ngày rễ chính ăn sâu 5cm Sau gieo 20 ngày, rễ chính có thể

ăn sâu 10cm và hệ rễ con phát triển

Hình 1.2 Sự phát triển bộ rễ lạc

Khi lạc được 5 lá bộ rễ lạc đã tương đối hoàn chỉnh với bộ rẽ sâu 15 - 20cm, hệ rễ conphát triển với rễ cấp II, III và nốt sần đã có khả năng cố định đạm Bộ rễ lạc có các rễ conrất phát triển Thời kỳ sinh trưởng đầu, rễ con chủ yếu là rễ cấp I, phát triển vuông góc với

rễ chính, sau đó các rễ cấp II, III phát triển dần xuống dưới, theo chiều đứng tạo nên một hệ

rễ ăn sâu và rộng

Sau khi đạt trị số cao nhất vào thời kỳ hình thành quả và hạt, trọng lượng rễ giảm dầntrong thời kỳ chín do các rễ già bị đứt, chết mà sự hình thành rễ mới gần như không còn nữa.Trong điều kiện thuận lợi, rễ chính có thể ăn sâu tới 1m Tuy nhiên, đại bộ phận rễ conphân bố ở tầng đất mặt 0 - 30 cm (60 - 80% trọng lượng) Trọng lượng rễ thay đổi tùy thuộcđiều kiện canh tác, tính chất đất đai, chế độ nước trong đất Bộ rễ phát triển sớm và khỏe là

cơ sở quan trọng để tăng năng suất lạc

1.3.1.5 Sự hình thành nốt sần và cố định N (đạm) của vi khuẩn nốt sần

So với một số cây họ đậu ngắn ngày khác (đậu tương, đậu xanh) thì nốt sần ở lạc hìnhthành muộn hơn Những nốt sần đầu tiên xuất hiện khi lạc có 4-5 lá thật (15- 30 ngày sau

gieo) Nốt sần ở lạc do vi khuẩn cộng sinh cố định N - Rhizobium vigna tạo nên khi xâm

nhập vào rễ lạc Vi khuẩn xâm nhập vào rễ lạc ở miền lông hút, sau đó di chuyển lên trênnhờ “dây xâm nhập”

Sự hình thành nốt sần do phản ứng của rễ bị vi khuẩn xâm nhập Các tế bào gần gốc rễ

bị vi khuẩn xâm nhập đã phân chia nhanh để khu trú vi khuẩn tại một khu vực, nơi đó rễ bịphình to thành nốt sần Tại đây, vi khuẩn bị mất tiên mao, không còn khả năng di chuyển vàtạo thành các giả thể khuẩn Quá trình cố định N diễn ra ở nốt sần Nốt sần hoạt động có dịchmàu hồng, đó là màu của Nitrogenaza - một hợp chất cơ kim có tác dụng khử N2 Lượng nốtsần tăng dần trong quá trình sinh trưởng của lạc và đạt cực đại vào thời kỳ hình thành quả vàhạt lạc Trong thời kỳ chín tới khi thu hoạch, phần lớn nốt sần già bị vỡ và bị rụng

Cùng với sự phát triển về kích thước và số lượng nốt sần Lượng NH3 cố định tăng dần

và đạt cực đại vào thời kỳ ra hoa, hình thành quả và hạt Cũng trong thời kỳ này, 90% lượng

N cố định được cung cấp cho cây Nốt sần tập trung phần lớn ở vùng gốc rễ Vì vi sinh vật

Trang 11

nốt sần là loại vi sinh vật hảo khí, 40-50% lượng nốt sần hữu hiệu nằm ở lớp đất 0-25cm.Lượng nốt sần giảm rõ rệt ở độ sâu trên 25cm.

Kích thước, vị trí, mầu sắc dịch nốt sần có liên quan tới khả năng cố định N Nốt sần ở

rễ chính và gần rễ chính có kích thước lớn, dịch hồng đỏ là những nốt sần có hoạt động cốđịnh N mạnh

1.3.2 Sinh trưởng sinh thực của lạc

1.3.2.1 Sự phân hóa mầm hoa

Lạc bắt đầu phân hóa mầm hoa rất sớm, ngay từ khi có 2, 3 lá thật Các bước phân hóamầm hoa như sau:

- Bắt đầu phân hóa: Lúc ở nách lá có 2 lá bắc nổi lên

- Thời kỳ hình thành đài hoa: Sau khi mầm hoa phân hóa, đài hoa hình thành trước.

Khi đó ở giữa vị trí hoa nổi lên một chấm tròn

- Thời kỳ hình thành chỉ nhị, nhụy và cánh hoa: Sau khi bắt đầu phân hóa 10 - 15 ngày.

- Hình thành bao phấn, phấn hoa và đài hoa: Ngày thứ 15-25.

- Thời kỳ nụ hoa: Sự tung phấn tiến hành trước khi hoa nở 4 - 6 giờ Lúc này bao phấn

chín tách ra giải phóng các hạt phấn Bầu nhụy cũng đủ điều kiện để tiếp nhận hạt phấn.Quá trình thụ phấn xảy ra khi các cánh hoa còn ôm kín đầu nhụy và nhị đực

Quá trình phân hóa mầm hoa kéo dài nên quá trình nở hoa của lạc cũng kéo dài Cáchoa ở đỉnh thân chính, các đốt gần gốc của cành 1, 2 và cành cấp II phân hóa sớm nên nởhoa sớm Ở các vị trí cao trên thân hoa phân hóa muộn và những hoa này nở cuối đợt tỷ lệhoa hữu hiệu thấp

1.3.2.2 Quá trình nở hoa

Khi lạc bước vào thời kỳ nở hoa tức là lạc bước vào thời kỳ sinh trưởng sinh thực.

Thời gian từ mọc đến ra hoa của lạc khoảng 25 - 40 ngày trong điều kiện vụ xuân ở miềnBắc nước ta với giống lạc thuộc loại phụ Fastigiata

Lạc là cây có phản ứng gần trung tính với quang chu kỳ, nên thời kỳ trước nở hoa(thời kỳ cây con) phụ thuộc chủ yếu vào nhiệt độ trung bình trong ngày Theo các nghiêncứu, ở vùng nhiệt đới nhiệt độ trung bình ngày 25 - 300C thời kỳ cây con của lạc là 30 ngày

Vụ xuân ở miền Bắc, nhiệt độ thấp, thời gian cây con kéo dài 35 - 40 ngày, nhiệt độ trungbình cao (> 300C), thời kỳ này chỉ 20 - 22 ngày

Do đặc điểm thời gian phân hóa mầm hoa kéo dài nên thời gian ra hoa của lạc cùngkéo dài Thời gian này thường khoảng 25 - 40 ngày tùy đặc điểm của giống và điều kiệnmôi trường, số lượng hoa biến động khoảng 50 - 200 hoa Theo một số tác giả, lạc có thể cótới 800 - 1000 hoa (Minkevic 1968)

Có thể chia thời gian ra hoa của lạc làm 3 thời kỳ:

+ Thời kỳ chớm hoa: Chỉ kéo dài 2 - 3 ngày, thời kỳ này mỗi ngày ra trung bình 1 - 3 hoa + Thời kỳ hoa rộ: Thời kỳ này kéo dài trung bình l5 - 20 ngày Đây là thời kỳ ra hoa

liên tục của lạc, bình quân có thể đạt 5-10 hoa/ngày, trong điều kiện thuận lợi có thể đạt 20

- 25 hoa/ngày trong 1 - 2 ngày Trong đợt hoa rộ, hoa nở liên tục, ngày ít nhất cũng đạt 3 - 5hoa/cây Có tài liệu chia thời kỳ rộ làm 2 - 3 đợt hoa rộ khác nhau Thực ra đó chỉ là một đợt

rộ kéo dài, sau 1 - 2 ngày nở hoa nhiều thì số hoa có giảm ở ngày hôm sau, nhưng cả đợtvẫn là liên tục Số hoa nở trong thời kỳ hoa rộ có thể chiếm 70 - 90% tổng số hoa của cây

và hầu hết hoa có ích nằm trong đợt hoa này (90 - 100% hoa có ích)

+ Thời kỳ hết hoa: Sau đợt rộ, số hoa giảm hẳn, nhiều ngày không có hoa, nhất là ởcuối thời kỳ Số hoa nở nhiều nhất chỉ đạt 3 - 5 hoa/ngày Nói chung số hoa trong thời kỳnày có thể đạt 0 - 5 hoa/ngày Đây là các hoa nở cuối thời kỳ sinh trưởng, nên hầu hết là

Trang 12

hoa vô hiệu Hoặc rụng hoa, hoặc tia quả quá dài, không đâm được vào đất.

Thời kỳ này thường chỉ kéo dài 10 - 15 ngày, tiếp theo thời kỳ ra hoa rộ Nhưng nếugặp điều kiện thuận lợi (nhiệt độ cao, mưa nhiều, dinh dưỡng đầy đủ) thời kỳ này có thểkéo dài tới khi thu hoạch

Trong kỹ thuật trồng trọt phải tạo điều kiện cho lạc ra hoa tập trung, thời kỳ hoa rộ chỉngắn 10 - 15 ngày nhưng số hoa nhiều Sau đợt rộ hoa chi ra ít, không đáng kể và cũng kếtthúc sớm

1.3.3 Sự thụ phấn, thụ tinh và đâm tia lạc

1.3.3.1 Sự thụ phấn và thụ tinh

Khi lạc nở vào khoảng 6 - 8 giờ sáng Ngày mưa hoặc không nắng, giờ nở hoa có thểchậm hơn (khoảng 9 - 10 giờ sáng) Nhưng quá trình thụ phấn thường được tiến hành trước khihoa nở 5 - 10 giờ Nghĩa là quá trình này thường được tiến hành vào khoảng 1 - 3 giờ sáng.Sau thụ phấn, tế bào mẹ hạt phấn nảy mầm ở bầu nhụy và đem 2 tinh tử tiến sâu vào nhụyvới tốc độ 4mm/giờ Như vậy, quá trình thụ tinh sẽ tiến hành khoảng 10 giờ sau thụ phấn

Điều kiện đầu tiên và chủ yếu để tia hình thành quả là bóng tối và độ ẩm Ngoài 2 điềukiện chủ yếu trên, tia muốn thành quả phải có đầy đủ oxy để hô hấp và các chất dinh dưỡng.Tia quả có thể hấp thu trực tiếp một số nguyên tố dinh dưỡng, nhất là canxi

Chiều dài trung bình tia phụ thuộc vào vị trí của đốt và giống Theo Chacôp (l951) chiềudài tối đa của tia có thể đạt 16cm Chiều dài tia tốt nhất để quả phát triển là 4 - 6cm Tia quảdài, quá trình hình thành quả bị cản trở, quả nhỏ và dễ bị lép

1.3.4 Quá trình hình thành quả và hạt

Sự hình thành quả và hạt chia làm 2 giai đoạn: Hình thành vỏ quả và hình thành hạt

Ở giai đoạn đầu của sự phát triển quả, vỏ quả được hình thành trước Trong 20 ngàyđầu từ khi tia đâm xuống là giai đoạn phát triển của vỏ quả Trong giai đoạn này, các tế bàonhu mô của vỏ quả giữa chiếm hầu hết khoang quả Hạt lớn rất chậm và chỉ chiếm một khốilượng rất nhỏ Quả định hình 20 ngày sau đâm tia, sau khi quả định hình (quả đạt kíchthước tối đa) hạt mới tăng nhanh về thể tích Hạt định hình sau khi quả định hình 10 ngày

Bảng 1.3: Tiến trình hình thành quả - hạt và sự chín của hạt Thời điểm

5 - 6 ngày Đầu mút tia phình ngang

9 ngày Quả lớn nhanh, thấy rõ hạt ở gần cuống

12 ngày Kích thước quả tăng nhanh gấp 2 lần khi 9 ngày

30 ngày Hạt định hình, hạt chiếm hầu hết khoang quả vỏ quảngoài cứng săn lại.

45 ngày Vỏ quả khô, có gân rõ, vỏ quả bị thu hẹp rõ rệt vỏ quảmỏng dần và bắt đầu mang mầu sắc vỏ hạt theo qui định.

60 ngày Hạt chín hoàn toàn có thể thu hoạch được

Trang 13

Như vậy trong điều kiện bình thường, thời gian từ khi hoa nở đến khi hạt chín khoảng 60-70ngày Thời gian này có thể rút ngắn đối với các hoa ra muộn (cuối và sau đợt rộ)

Gặp điều kiện ngoại cảnh bất thuận (nhiệt độ quá cao, hạn vào thời kỳ làm hạt hoặcthiếu dinh dưỡng) cũng rút ngắn thời gian của quá trình trên, làm giảm trọng lượng quả vàhạt, tăng quả 1 hạt

Trong cùng 1 quả, hạt ở gần cuống tia hình thành và phát dục sớm hơn các hạt khácnên thường lớn hơn Trường hợp quả 1 hạt thì hạt được phát triển chính là hạt này, các hạtkhác teo đi và không để lại dấu vết khi chín

Khi hạt chín, hạt chiếm hầu hết khoang quả, vỏ quả bị ép ra phía ngoài và ép sát vàolớp vỏ quả giữa đã bị xenlulô hóa hoàn toàn, tạo thành lớp vỏ cứng, bảo vệ hạt Vỏ hạtmỏng và mang màu sắc điển hình

1.3.5 Sự tích lũy chất khô và quá trình chín của hạt

Quá trình tích luỹ chất khô ở hạt trong thời kỳ chín thực chất là quá trình nghịch vớiquá trình nảy mầm của hạt

Chất khô dự trữ ở hạt chủ yếu là lipid và protein Các chất dự trữ này được tổng hợpngay ở hạt từ nguyên liệu là các gluxit có mạch cacbon ngắn (các đường C5, C6) Các loạiđường khử này được vận chuyển từ các cơ quan dinh dưỡng (thân, cành) tới và một phầnđáng kể là sản phẩm quang hợp được hình thành ở lá trong giai đoạn này được vận chuyểnthẳng về hạt

Khi lạc bắt đầu ra hoa là thời điểm cây chuyển từ thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng sangthời kỳ sinh trưởng sinh thực Nhưng tới thời điểm này các bộ phận dinh dưỡng (thân, cành,

lá, rễ) chỉ mới đạt 20 - 25% trọng lượng cao nhất (vào thời kỳ hình thành quả và hạt) Nhưvậy, 70 - 80% trọng lượng các cơ quan dinh dưỡng được tích lũy trong thời kỳ sinh trưởngsinh thực, thời kỳ nở hoa hình thành hạt

Thời ra hoa làm quả là thời kỳ diễn ra hai hoạt động sinh lý mạnh: cây vừa tiến hànhhình thành và phát triển các cơ quan sinh thực đồng thời các bộ phận dinh dưỡng tăng nhanh

về khối lượng Cả 2 quá trình này đều đòi hỏi tiêu hao nhiều dinh dưỡng Quan hệ giữa sinhtrưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của lạc là mối tương quan vừa tương hỗ vừacạnh tranh nhau Các cơ quan dinh dưỡng của lạc nếu sinh trưởng khỏe, đạt trọng lượng khôcao, diện tích lá lớn là cơ sở để cây có số quả nhiều và trọng lượng quả lớn Nhưng ở thời

kỳ chín, các bộ phận dinh dưỡng phải giảm trọng lượng dể tích lũy chất khô vào hạt

Nếu sinh trưởng sinh dưỡng quá lớn, nhất là ở thời kỳ chín của hạt, sinh trưởng sinhdưỡng còn giữ tốc độ tăng trưởng lớn, sản phẩm quang hợp và nguồn N hấp thu không đượcvận chuyển về hạt mà được vận chuyển về cơ quan dinh dưỡng (đầu thân, cành chúng tiếptục tăng kích thước và ra lá) sẽ dẫn đến lốp đổ, làm giảm năng suất

Trong kỹ thuật trồng trọt, phải tạo điều kiện cân đối thời gian sinh trưởng sinh dưỡng

và sinh trưởng sinh thực trên cơ sở tạo điều kiện cho sinh trưởng sinh dưỡng thuận lợi trongcác giai đoạn sinh trưởng đầu, đó là cơ sở tăng năng suất lạc

1.4 YÊU CẦU SINH THÁI CỦA CÂY LẠC

1.4.1 Nhiệt độ

Nhiệt độ là yếu tố ngoại cảnh chủ yếu có tương quan đến thời gian sinh trưởng của lạc.Nhiệt độ trung bình thích hợp cho suốt đời sống lạc là khoảng 25 - 300C Tích ôn hữu íchcủa lạc 2.600 - 4.8000C thay đổi tùy theo giống

- Thời kỳ nảy mầm cần tích ôn 250 - 3200C, nhiệt độ trung bình thích hợp 25 - 300C.Tốc độ nẩy mầm nhanh nhất ở nhiệt độ 32 - 340C Nhiệt độ cao hơn, sức sống của hạt giảm

và hạt bị mất sức nẩy mầm ở nhiệt độ 540C Nhiệt độ thấp kéo dài thời gian nẩy mầm của

Trang 14

hạt Nhiệt độ tối thấp sinh học cho thời kỳ nẩy mầm là 120C Hạt có thể chết ở nhiệt độ 50Cmặc dù trong thời gian ngắn.

Bảng 1.4: Ảnh hưởng của nhiệt độ thấp tới thời gian và tỷ lệ mọc của lạc

Nhiệt độ xử lý

( 0 C)

Tỷ lệ nảy mầm (%)

Trong điều kiện đồng ruộng, nhiệt độ 28 - 300C là thích hợp nhất đối với quá trình nẩy

mầm Với nhiệt độ trên, lạc có thể mọc sau gieo 5 - 6 ngày là thích hợp Thời gian mọc quá

ngắn do nhiệt độ cao có thể dẫn tới làm yếu cây con, vì cường độ hô hấp của hạt quá lớndưới ảnh hưởng của nhiệt độ cao, làm tiêu hao dinh dưỡng của hạt trong thời kỳ nảy mầm

- Trong thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng, tích ôn tổng số yêu cầu 700 - 10000C Nhiệt

độ trung bình 20 - 300C, nhiệt độ trung bình tối thích trong thời kỳ này là 250C Ở nhiệt độnày các quá trình sinh trưởng sinh dưỡng được tiến hành thuận lợi, nhất là sự phân cành vàphát triển bộ rễ Thời gian trước ra hoa của lạc được kéo dài thích hợp (30 - 35 ngày) ởnhiệt độ trung bình 25 - 280C Khi đó khả năng tích lũy chất khô ở các bộ phận được tiến

hành thuận lợi, thời kỳ phân hóa mầm hoa cũng được kéo dài thích đáng tạo cơ sở tăng số

hoa, quả và trọng lượng hạt của lạc

Nhiệt độ không khí quá cao (30 - 350C) rút ngắn thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng làm giảmchất khô tích lũy và giảm số hoa/cây, do đó làm giảm số quả và trọng lượng hạt của lạc

Khả năng chịu rét của lạc cao nhất là ở thời kỳ trước ra hoa Tuy nhiên nhiệt độ thấp(dưới 18 - 200C) làm ức chế sinh trưởng, phát triển của lạc, cản trở sự phân hoá mầm hoa vàgiảm trọng lượng khô của cây Nhiệt độ 00C trong thời gian ngắn cũng có thể làm chết cây.Trong thời kỳ này, lạc có thể chịu được nhiệt độ 5 - 100C trong thời gian ngắn

- Quá trình ra hoa của lạc đòi hỏi nhiệt độ tương đối cao Thời gian ra hoa, tổng sốhoa, tỷ lệ thụ tinh phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ của thời kỳ này Theo Gillier (1968) nhiệt

độ thuận lợi cho sự ra hoa của lạc là 24 - 330C, và hệ số hoa có ích cao nhất (21%) đạt được

ở nhiệt độ ban ngày 290C, ban đêm 230C

Thời kỳ ra hoa, kết quả là thời kỳ yêu cầu nhiệt độ cao nhất, thời kỳ này chỉ chiếm 1/3 chu

kỳ sinh trưởng của lạc nhưng đòi hỏi tích ôn bằng 2/3 tổng tích ôn của cả đời sống cây lạc Nhiệt

độ tối thấp sinh học cho sự hình thành các cơ quan sinh thực của lạc là 15 - 200C

- Quá trình chín đòi hỏi nhiệt độ giảm hơn so với thời kỳ trước Trong thời kỳ chín,nhiệt độ trung bình 25 - 280C là thích hợp Theo ý kiến nhiều tác giả, trong điều kiện nhưnhiệt độ ban đêm 190C, ban ngày 280C có lợi cho quá trình tích lũy chất khô vào hạt Trong

thời kỳ này, sự chênh lệch nhiệt độ ngày đêm lớn khoảng 8 - 100C có lợi cho quá trình vậnchuyển chất vào hạt Nhiệt độ thấp trong thời kỳ chín (dưới 200C) làm cản trở quá trình vậnchuyển vào hạt và khi nhiệt độ xuống thấp dưới 15 - 160C thì quá trình này bị đình chỉ, hạtkhông chín được Biểu hiện bên ngoài của hiện tượng này là bộ lá xanh kéo dài nhưng hạtkhông phát triển được, hàm lượng nước trong hạt cao, vỏ quả không cứng và gân không nổi

rõ Lạc thu trồng muộn dễ gặp hiệu tượng này làm thời gian sinh trưởng của lạc bị kéo dài ởthời kỳ sinh trưởng cuối

1.4.2 Ánh sáng

Lạc là cây ngày ngắn song phản ứng với quang chu kỳ của lạc là rất yếu và đối với

nhiều trường hợp là phản ứng trung tính với quang chu kỳ Các nghiên cứu của Bùi Huy

Trang 15

Đáp, Nguyễn Danh Đông đều cho thấy: thời gian sinh trưởng của cây lạc hầu như chỉ phụthuộc vào nhiệt độ không khí mà không phụ thuộc vào quang chu kỳ.

Số giờ nắng trong ngày có ảnh hưởng rõ rệt tới sinh trưởng và phát dục của lạc

Quá trình nở hoa thuận lợi khi số giờ nắng đạt khoảng 200giờ/tháng Ở các tỉnh phíaBắc trong điều kiện vụ xuân, nên bố trí thời vụ để lạc có thể ra hoa vào tháng 4 Nếu ra hoavào tháng 3 số giờ nắng thấp làm giảm số hoa nở/ngày và kéo dài thời gian ra hoa, làm giảmtổng số hoa

Trong thời kỳ nở hoa, những ngày nắng hoa nở sớm (6-8 giờ sáng), nở tập trung vàquá trình thụ phấn, thụ tinh cũng thuận lợi so với những ngày không có nắng

Nói chung trong các yếu tố khí hậu, thì ánh sáng là yếu tố ít ảnh hưởng đến sinhtrưởng và khả năng cho năng suất của lạc hơn so với các yếu tố khí hậu khác

1.5 KỸ THUẬT TRỒNG LẠC

1.5.1 Chế độ luân canh, xen canh

a Chế độ luân canh: Cũng như các cây trồng ngắn ngày khác, chọn một chế độ luân

canh thích hợp cho vùng sản xuất lạc là rất quan trọng Một chế độ luân canh hợp lý phảiđạt được các yêu cầu sau:

- Tạo điều kiện cho lạc được trồng trong điều kiện thuận lợi; các cây trồng luân canh cũngđược trồng trong thời vụ tốt để tất cả các cây trồng trong hệ thống đều cho năng suất cao

- Hạn chế được sự phát triển của sâu, bệnh hại

- Tốt nhất chọn cây luân canh có một số yêu cầu và đặc điểm khác với lạc như: Bộ rễcủa các cây trong hệ thống sinh trưởng ở các tầng đất khác nhau, có yêu cầu dinh dưỡngkhác nhau và chịu các loại sâu bệnh hại khác nhau

Trồng liên canh lạc nhiều năm sẽ dẫn đến giảm năng suất lạc nghiêm trọng Tất cả cácnghiên cứu cứu Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ đều cho thấy trồng lạc liên tục 4 - 5 năm, năng suấtlạc có thể giảm 12 - 60% Ở nước ta liên canh lạc liên tục 4 năm năng suất lạc giảm 20 - 38%.Tuy nhiên lạc là cây ngắn ngày, thời gian sinh trưởng 100 - 140 ngày nên có thể ápdụng chế độ luân canh ngắn (luân canh trong năm) kết hợp với luân canh dài (luân canhnhiều năm)

Các cây trồng luân canh phổ biến ở vùng sản xuất lạc là: Lúa nước, mía, ngô, bông Tùy điều kiện địa hình, khí hậu và tập quán canh tác địa phương để bố trí chế độ luân canhthích hợp

Luân canh lạc với lúa có nhiều ưu điểm do luân canh giữa cây trồng cạn và cây trồngnước Vùng không cấy được lúa thường luân canh lạc với ngô, mía, bông Với những chế

độ luân canh này, cần bố trí để lạc và các cây trồng khác trong hệ thống luân canh đều cóđiều kiện sinh trưởng thuận lợi, cho năng suất cao

b Trồng xen

- Trồng xen cây trồng khác trên ruộng lạc: Lạc là cây trồng chính, cây trồng xen chủyếu là ngô Ngô cao cây, tán thưa, rễ ăn sâu Nhiều vùng trồng lạc việc trồng xen ngô vớilạc đã cho hiệu quả kinh tế bằng 130-180% so với trồng thuần Kỹ thuật chủ yếu trong trồngxen: mật độ ngô 0,6-1cây/m2 năng suất lạc bị ảnh hưởng ít (đạt 70-90%) so với trồng thuần

và thu hoạch ngô cũng đạt 50-80% so với trồng thuần

- Trồng xen lạc với các cây trồng khác: Ở đây lạc là cây trồng xen (cây phụ) Ở nước

ta lạc được trồng xen với mía Do mía có thời gian sinh trưởng dài (11-13 tháng), thời kỳđầu mía chưa khép tán (3-4 tháng), mía là cây hàng rộng vì vậy trồng xen lạc ở ruộng míatrong thời kỳ này rất thích hợp

Trang 16

Những vùng trồng cây lâu năm (chè, cà phê, vườn cây ăn quả) trong thời kỳ kiến thiết

cơ bản hoặc sau khi đốn, có thể trồng xen lạc để sử dụng quang năng cho thêm thu hoạch,đồng thời lạc có thể đóng vai trò cây phủ đất, giữ ẩm, chống cỏ dại và chống xói mòn, cảitạo đất ở vùng cây lâu năm

1.5.2 Kỹ thuật làm đất

Trong suốt thời gian sinh trưởng lạc đòi hỏi đất phải tơi, xốp, vì trên các loại đất nàymới đáp ứng các yêu cầu quan trọng của lạc:

- Đất tơi xốp, nốt sần hình thành sớm và nhiều, rất quan trọng đối với dinh dưỡng của lạc

- Tia quả đâm xuống đất dễ dàng - quá trình hình thành quả thuận lợi

- Thu hoạch dễ dàng, giảm tỷ lệ đứt tia, sót quả khi thu hoạch

Ngoài ra, làm đất trồng lạc còn phải đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật khác như:

- Đạt độ đồng đều đồng ruộng cao (ruộng phẳng, không gây úng cục bộ)

- Tạo điều kiện tưới nước và thoát nước tốt

- Hạt đất đủ nhỏ: hạt có đường kính dưới 1cm chiếm 75-80% Hạt có đường kính 5cm chỉ chiếm 20-25%

1-Lên luống nhằm:

- Tạo điều kiện tướí nước và tiêu nước tốt (tưới theo rãnh)

- Tạo điều kiện chăm sóc tốt (xới xáo, phun thuốc, bón phân )

- Tạo điều kiện cho bộ rễ phát triển trên tầng đất mặt sâu, đối với vùng đất bạc mầu,tàng đất cày mỏng

Luống rộng 1 - 1,5m hoạc trồng thành băng 2 - 2,5m tùy điều kiện đồng ruộng, mùa vụquy định Nói chung không lên luống nhỏ hơn 1m, hệ số sử dụng đất sẽ thấp, làm giảmnăng suất trên toàn ruộng

1.5.3 Thời vụ trồng lạc

1.5.3.1 Cơ sở xác định thời vụ trồng lạc

- Xác định điều kiện khí hậu và thời tiết phù hợp với yêu cầu phát sinh phát triển câylạc: Chế độ nhiệt và chế độ mưa là hai điều kiện có ảnh hưởng lớn nhất đến sinh trưởng vànăng suất lạc

Ở một số nơi mùa mưa kéo dài 6 - 8 tháng thường trồng 2 vụ/năm: vụ 1 gieo đầu mùamưa, thu hoạch giữa mùa mưa và vụ 2 gieo giữa mùa, thu hoạch cuối mùa mưa Ở các tỉnhTây Nguyên và miền Đông Nam bộ thường theo thời vụ này

- Thời vụ trồng lạc các tỉnh phía bắc: Gồm vùng đồng bằng trung du Bắc bộ và vùngkhu 4 cũ (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh) chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc Có mùamưa nóng ẩm (tháng 5 - 10) và mùa khô lạnh (tháng 11 - 4 năm sau) nên yếu tố khí hậu chiphối thời vụ trồng lạc bao gồm cả chế độ nhiệt và chế độ mưa

Ngoài ra, phần lớn diện tích lạc ở miền Bắc nằm trong vùng sản xuất lúa với chế độluân canh chủ yếu: lạc xuân - lúa mùa Vì vậy, bố trí thời vụ trồng lạc còn phải quan tâm tớithời vụ cấy lúa mùa - cây trồng sau của lạc

- Đặc điểm thời tiết khí hậu chủ yếu của vụ lạc xuân ở các tỉnh phía Bắc

+ Hạn và rét ở thời kỳ đầu sinh trưởng, nhưng nhiệt độ không khí tăng dần Số giờnắng thấp ở giai đoạn đầu

+ Khi ra hoa: có khả năng bị hạn, nhất là với thời vụ trồng sớm và trong các năm mưa muộn.+ Thời kỳ ra hoa - chín: Nhiệt độ, số giờ nắng, lượng mưa tăng dần, thuận lợi cho sinhtrưởng sinh dưỡng và cho cả quá trình ra hoa - làm hạt

Trang 17

+ Vùng Khu 4 cũ (Thanh Hóa - Hà Tĩnh) còn bị ảnh hưởng gió tây (gió Lào) xuất hiệntừng đợt vào các tháng 5, 6, 7 Gió Lào khô và nóng làm cây dễ bị hạn do mất nước, vùnghạn càng bị tác hại nghiêm trọng nhiệt độ quá cao trong những ngày có gió Lào làm giảm

tỷ lệ hoa có ích, ảnh hưởng sấu tới quá trình sinh trưởng và chín của hạt

Thời vụ trồng lạc tốt nhất của các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh trở ra Bắc là trong tháng 2dương lịch Ở thời vụ này khi gieo gặp nhiệt độ tương đối ổn định (> 200C), lạc ra hoa vàotháng 4 bắt đầu mùa mưa, nhiệt độ cao và nắng nhiều, thu hoạch vào cuối tháng 6, trước khibước sang tháng 7 (tháng bắt đầu có mưa lớn)

- Điều kiện thời tiết khí hậu của mùa vụ gieo trồng

- Điều kiện canh tác cụ thể

1.5.4.2 Mật độ khoảng cách gieo trồng

Các giống lạc đang gieo trồng ở nước ta chủ yếu thuộc kiểu hình Spanish và một sốValencia, thời gian sinh trưởng tương đối ngắn, khối lượng chất khô tích lũy thấp cho nênthường phải gieo với mật độ tương đối cao

Tổng kết các kết quả nghiên cứu ở phía Bắc cho thấy: Muốn đạt được năng suất caovới các giống hiện đang sử dụng, phải đảm bảo mật độ thực thu ít nhất 25 cây/m2 Trongđiều kiện sản xuất, muốn đạt mật độ thực thu như trên, thường phải gieo với mật độ 30 - 35cây/m2 mặt luống

Với mật độ trên, trong điều kiện canh tác thủ công ở nước ta, phương thức gieo có thểtheo hàng hoặc theo hốc (2 cây/hốc)

Khoảng cách hàng thích hợp cho các vùng trồng lạc là 30 - 40cm Với khoảng cáchcây tương ứng 7 - 15cm hoặc khoảng cách hốc 15 - 20cm Bố trí khoảng cách căn cứ vàomật độ gieo, bề rộng mặt luống và kỹ thuật canh tác truyền thống của địa phương

1.5.5 Bón phân

Nước ta nằm hoàn toàn trong vùng nhiệt đới nóng và ẩm, tốc độ phong hóa nhanh.Hơn nữa, phương pháp thu hoạch với hầu hết các loại cây trồng (lúa, ngô ) là tận dụngtoàn bộ sản phẩm hữu cơ, vì vậy hàm lượng mùn ở hầu hết các loại đất của ta rất thấp Kỹthuật canh tác đối với lạc hầu hết là canh tác thủ công, do đó phân hữu cơ được sử dụng phổbiến và là loại phân bón chủ yếu cung cấp cân đối các nguyên tố dinh dưỡng cho lạc

Việc sử dụng các loại phân bón cho lạc được tiêu chuẩn hóa như sau:

+ Phân hữu cơ: Gồm phân chuồng và phân xanh Lượng phân hữu cơ sử dụng cho lạckhoảng 8 - 12 tấn/ha Phân hữu cơ phải được ủ mục trước khi gieo lạc 1 tháng Phân hữu cơđược sử dụng để bón lót trước khi gieo hạt ở cả vụ xuân và vụ thu

+ Phân đạm vô cơ: Dạng đạm vô cơ được sử dụng bón cho lạc tốt nhất là dạng amônhoạc ure với lượng bón 15 - 20kgN/ha

Đạm vô cơ có thể được sử dụng để bón lót hoặc bón thúc Có hai thời điểm bón thúccho lạc:

- Lần 1: Bón khi lạc mới có 2 - 3 lá kép (sau gieo 15 ngày)

- Lần 2: Khi lạc ra hoa

Trang 18

Việc sử dụng N vô cơ bón cho lạc đòi hỏi kỹ thuật bón thận trọng Bón không đúnglúc, không đúng kỹ thuật sẽ dẫn đến giảm năng suất do gây hiện tượng lốp đổ.

Chỉ sử dụng N vô cơ trong các trường hợp sau:

- Lượng phân hữu cơ bón lót không đủ, đất xấu, đất thiếu đạm

- Cây sinh trưởng kém, khả năng tạo nốt sần kém

- Cần bổ sung đạm để đạt năng suất cao

- Bón đạm vô cơ trên cơ sở lượng P, K, Ca đầy đủ

+ Phân lân: Lượng P2O5 bón cho lạc có thể từ 40 80kg/ha, thông thường bón 40 60kg P2O5/ha Nên dùng lân supe để bón lót cho lạc Nếu bón thúc thì thời kỳ bón thúc củalân như sau: Bón thúc lân khi cây được 2 - 3 lá và khi lạc ra hoa Bón lót 50% lượng lân vàbón thúc 50% khi ra hoa có hiệu quả tăng năng suất lạc cao hơn cả

-+ Phân kali: Kali có hiệu quả cao trên đất bạc mầu, các loại đất nghèo dinh dưỡng và

có hiệu quả kém hơn trên đất phù sa, đất thịt pha hoặc cát pha

Dạng kali: dạng K2SO4 hoặc dạng HCl đều có hiệu quả như nhau đối với lạc

Kali tốt nhất dùng bón lót với lượng 40-60kg K2O/ha Tuy nhiên, bón lót kali khi gieo

dễ ảnh hưởng đến tỷ lệ mọc của lạc trên đồng ruộng Vì vậy, tốt nhất nên ủ kali với phânhữu cơ trong quá trình chế biến phân để bón lót Nhiều nơi dùng tro bếp (tro rơm rạ) thaythế kali bón cho lạc vì hàm lượng K2O trong tro tương đối cao

+ Bón vôi: Bón vôi cho lạc nhằm 2 mục đính: Nâng cao độ pH cho đất và cung cấpcanxi cho lạc Ở nước ta bón vôi đem lại hiệu quả tăng sản lượng trên tất cả các loại đất.Vôi được bón trực tiếp cho lạc với lượng bón 500-800kg/ha Có thể bón vôi làm 2 lần: bónlót 50% lượng vôi và lượng còn lại được bón thúc khi lạc ra hoa rộ Việc bón thúc sớm khilạc có 2-3 lá chỉ tiến hành khi lượng bón lót không đầy đủ

1.6 PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH

1.6.1 Sâu hại

Sâu hại lạc có rất nhiều loại Vì sâu hại lạc thường có đặc điểm là ăn tạp nên ký chủrất nhiều trên đồng ruộng Cây lạc khi theo đến thu hoạch, lúc nào cũng có có thể bị sâu hạiphá hoại Có tới gần 100 loài sâu hại lạc Các loại sâu hại lạc chính 1à:

- Sâu hại hạt giống: Dế, kiến, mọt đất, mối

- Sâu hại cây con: Sâu xám

- Sâu hại lá: Nhóm này nhiều nhất, gồm cả các loại chích hút (rầy, rệp, nhện đỏ) vàcác loài miệng nhai (sâu khoang, sâu xanh, sâu đo, sâu róm, bọ nẹt, châu chấu ), chúng

phá hại lá và cả thân cây, cuống lá từ khi lạc mọc đến khi thu hoạch.

- Sâu hại quả và rễ: Sâu thép, sâu trắng, bọ hung

1.6.2 Bệnh hại

- Bệnh chết ẻo: Còn gọi là héo xanh, héo vi khuẩn

Bệnh do nhiều nguyên nhân, chủ yếu do vi khuẩn Pseudomonas solanacearum E.F Smith Bệnh phá hại ở tất cả các thời kỳ sinh trưởng của lạc, chủ yếu thời kỳ ra hoa, làm quả.

Cây bị bệnh héo xanh có thể héo cả cây hoặc từng cành, gây mất khoảng nghiêm trọng

- Bệnh phấn trắng và bệnh nấm đen:

Bệnh phấn trắng do nấm Selerotium rolfsil Saccardo và bệnh nấm đen do nấm Aspergillus niger Van Tiegh.

Bệnh hại ở vùng gốc thân và cổ rễ, nấm bệnh xâm nhập và phá hại mạch dẫn khiến cây

bị chết Bệnh hại chủ yếu cây con, từ khi mọc đến khi cây có 3, 4 lá

Trang 19

- Bệnh đốm lá: Có 2 loại: Đốm nâu (đốm lá sớm) do nấm Cercospora achidicola Hori

và đốm đen (đốm lá muộn) do nấm Phaeoisariopsis Personata và CertoapoTodium personatum gây nên Cả 2 loại đều gây các vết đốm trên lá và thân, phá hại mạch dẫn trên

lá, khiến lá sớm bị vàng chết, làm giảm diện tích bộ lá lạc

- Bệnh gỉ sắt: Do nấm Puccinla arachidis.

Bệnh gây các vết đốm trên lá, màu vàng đỏ như gỉ sắt Bệnh cũng hại lá như bệnh đốm

lá Đó là những bệnh thường thấy nhất trên các vùng sản xuất lạc ở nước ta Ngoài ra cácbệnh khác như thối tia, thối quả, tuyến trùng, các bệnh do virut gây ra (khảm lá, đậu lùn )cũng thường gây hại trên ruộng lạc

1.6.3 Phòng trừ tổng hợp

Phòng trừ sâu bệnh phải dùng tổng hợp các biện pháp, trong đó phải chú ý đến cácbiện pháp phòng bệnh, phát hiện sâu bệnh kịp thời, trừ kịp thời và đúng phương pháp.Phương pháp phòng trừ sinh học:

+ Luân canh: Chọn cây luân canh thích hợp để các tác nhân gây bệnh và sâu hại không

gặp được ký chủ lây lan trên ruộng lạc Luân canh với lúa nước còn tiêu diệt được sâu làmnhộng trong đất và diệt một số nguồn lây bệnh Có thể áp dụng luân canh dài để diệt nguồnbệnh từ đất

+ Biện pháp canh tác: Các biện pháp cày bừa, xới xáo có thể hạn chế sự phát triển sâubệnh hại

+ Dùng giống chống bệnh: Trong kỹ thuật gen, người ta đã tạo được những giốngmang gen chống bệnh và có thể chống được cả sâu hại

+ Dùng hóa chất: Xử lý đất và hạt giống bằng hóa chất nhằm tiêu diệt nguồn lây lancủa sâu bệnh

+ Dùng hóa chất trừ sâu bệnh: Phun thuốc đặc hiệu trừ sâu bệnh, cần phun kịp thời,đúng loại thuốc, đúng liều lượng

Công tác bảo quản cần tiến hành ngay sau khi thu hoạch, gồm 2 công đoạn:

- Xử lý lạc sau thu hoạch

- Bảo quản trong kho

1.7.1 Xử lý lạc sau thu hoạch

Khi thu hoạch độ ẩm lạc rất cao, cần nhanh chóng đưa độ ẩm xuống thấp để khống chếhoạt động của các men Độ ẩm thích hợp để bảo quản là 9 - 11%, đối với lạc giống độ ẩmhạt không vượt quá 10% trong quá trình bảo quản

Phương pháp giảm độ ẩm hạt trong công nghiệp là dùng biện pháp sấy khô Vớiphương pháp sấy, thời gian xử lý sẽ ngắn và quy trình làm khô lạc không bị ảnh hưởng bởiđiều kiện ngoại cảnh Độ ẩm hạt sau khi sấy còn 8 - 9%

Ở nước ta, nông dân thường phơi nắng làm giảm độ ẩm của hạt Cần phơi cả quả đểtránh nhiệt độ quá cao làm hạt chảy dầu Phơi 3 - 5 ngày liên tục, độ ẩm hạt có thể giảmxuống 9 - 10%, có thể bảo quản được

Trang 20

1.7.2 Bảo quản lạc

Yêu cầu:

- Lạc không bị thay đổi chất lượng sau thời gian bảo quản

- Lạc không bị độc hại để có thể sử dụng ép dầu hoặc làm thực phẩm cho người

Nguyên tắc bảo quản:

- Xử lý kho: Diệt mối, mọt, sâu kho trước khi cho lạc vào bảo quản

- Bảo quản lạc kín tránh để hạt tiếp xúc với không khí (ức chế hô hấp của hạt)

- Kho bảo quản phải có nhiệt độ thấp, ẩm độ thấp, thông gió

Có thể bảo quản thủ công bằng chum vại hoặc túi PE

Đối với lạc giống cần phải đảm bảo tỷ lệ nảy mầm và độ ẩm hạt Tuy nhiên, việc bảoquản lạc gặp nhiều khó khăn nên người ta trồng lạc thu để rút ngắn thời gian bảo quản

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Trình bày quá trình sinh trưởng, phát triển của cây lạc?

2 Trình bày yêu cầu sinh thái của cây lạc?

3 Trình bày kỹ thuật trồng và chăm sóc cây lạc?

4 Nêu các biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại lạc?

Trang 21

Loài: Camellia (thea) sinensis

Dựa vào đặc điểm thực vật học, đặc điểm sinh hóa, nguồn gốc phát sinh của cây chè,người ta chia làm 4 thứ như sau:

- Chè Trung Quốc lá nhỏ

Đặc điểm: Cây bụi thấp, phân cành nhiều, lá nhỏ dày, nhiều gợn sóng, màu xanh đậm,

lá dài 3,5-6,5cm có 6-7 đôi gân lá không rõ, răng cưa nhỏ không đều, búp nhỏ, hoa nhiều,năng suất thấp, phẩm chất tốt, khả năng chịu rét tốt, có nguồn gốc ở Vân Nam, Tứ Xuyên,Trung Quốc Được trồng nhiều ở miền đông nam Trung Quốc, Nhật Bản, Liên Xô

- Chè Trung Quốc lá to

Đặc điểm: Thân gốc vừa, cao 5m, lá to trung bình dài 12-15cm, rộng 5-7cm, màu xanhnhạt bóng răng cưa sâu không đều, có 8-9 đôi gân lá rõ, năng suất phẩm chất khá Nguyênsản ở Vân Nam, được trồng nhiều ở Trung Quốc, Việt nam, Malaixia, Inđonesia

- Chè Shan

Đặc điểm: Thân gỗ cao 6-10m, phân cành cao, lá to dài 15-18cm, răng nhỏ và dày, búp to

có nhiều lông tơ trắng và mịn, có 10 đôi gân lá, có năng suất cao, phẩm chất tốt, được trồngnhiều ở miền Nam Trung Quốc, vùng núi Bắc Việt Nam

- Chè Ấn Độ

Đặc điểm: Thân gốc cao 17m, phân cành thưa, lá to dài 20-30cm, mỏng mềm có mầuxanh đậm, phát triển gợn sóng có 12-15 đôi gân lá, rất ít hoa quả, chịu rét và hạn kém, chonăng suất cao và chất lượng tốt Nguyên sản ở Ấn Độ, Miến Điện, Việt Nam

Trang 22

bắp trong cơ thể, nâng cao năng lực làm việc, giảm bớt mệt mỏi sau khi làm việc căngthẳng Mặt khác các loại cafein có trong lá chè không gây kích thích quá mạnh làm suynhược thần kinh như cafein ở trong cafe và các loại thức uống khác.

- Hỗn hợp tanin chè có khả năng giải khát và chữa nhiều loại bệnh như tả, lỵ, thươnghàn, sỏi thận, sỏi bàng quang và chảy máu dạ dày Đặc biệt nước chè có khả năng chốngphóng xạ, do vậy có thể coi chè là nước uống của thời đại nguyên tử khi trên trái đất sựnhiễm xạ ngày càng tăng lên

- Trong chè có chứa rất nhiều loại vitamin như: Vitamin A, B1, B2, B6, K, PP Đặcbiệt có nhiều vitamin C trong lá chè tươi, đây là nguồn dinh dưỡng vô cùng quý báu với cơthể con người

- Ngoài giá trị dinh dưỡng và dược liệu, nước chè còn dùng làm chất nhuộm màu thựcphẩm, vừa thay thế cho các chất nhuộm nhân tạo, vừa có giá trị dinh dưỡng đối với cơ thểcon người Các sản phẩm phụ trên cây chè như dầu hạt chè có thể sử dụng trong côngnghiệp hay làm dầu ăn, lá chè có thể làm thức ăn cho chăn nuôi Ngoài ra chè còn có ýnghĩa lớn về việc phân bố sản xuất và lao động Với nước ta việc phát triển trồng chè ở vùngtrung du và miền núi vừa làm thay đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp vừa tận dụng đựơc đấtđai vừa là biện pháp có hiệu quả để phân bổ lại lực lượng lao động giữa các vùng cho nềnkinh tế nước ta phát triển toàn diện, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa cho nhân dân

2.3 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CHÈ Ở VIỆT NAM

2.3.1 Giai đoạn 1954 - 1990

Ở giai đoạn này các kế hoạch phát triển nông nghiệp được hoạch định Cây chè đượcxác định là cây trồng có giá trị kinh tế cao, có tầm quan trọng trong chiến lược phát triểnkinh tế xã hội vùng trung du và miền núi

Trong những năm 1958 - 1960, hàng loạt các nông trường chè được thành lập dưới sựquản lý của các đơn vị quân đội Từ những năm 1960-1970 chè được phát triển mạnh ở cả 3khu vực: quốc doanh, hợp tác xã chuyên canh chè và hộ gia đình

Các cơ sở nghiên cứu chè ở Phú Hộ (Phú Thọ), Bảo Lộc (Lâm Đồng) được củng cố vàphát triển Hàng loạt các vấn đề như giống, kỹ thuật canh tác, chế biến được đầu tư nghiêncứu Nhiều tiến bộ kỹ thuật được áp dụng rộng rãi vào sản xuất góp phần tăng nhanh diệntích, sản lượng chè ở Việt Nam

Ở giai đoạn này, công nghiệp chế biến được phát triển mạnh, nhiều nhà máy chè xanh,chè đen được xây dựng ở Nghĩa Lộ, Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Thái Nguyên, PhúThọ Với sự giúp đỡ về kỹ thuật, vật chất của Liên Xô, Trung Quốc phần lớn chè đượcxuất khẩu sang các nước Liên Xô cũ và các nước Đông Âu, một số khác được xuất khẩusang các nước Tây Á

2.3.2 Giai đoạn 1990 đến nay

Từ năm 1990-1997 diện tích chè tăng từ 60.000ha lên 81.700ha (tăng 36,2%), sảnlượng chè khô tăng từ 32,2 nghìn tấn lên 53,3 nghìn tấn (tăng 62,1%)

Tuy nhiên, từ năm 1990 đến nay có sự biến động lớn về thị trường tiêu thụ nên sảnxuất chè gặp nhiều khó khăn, công nghệ chế biến chưa đáp ứng được nhu cầu về chất lượng,chủng loại chè của thị trường mới

Sự chồng chéo về quản lý ngành chè giữa các cơ quan nhà nước và các địa phương đãphần nào làm ngành chè chững lại Diện tích chè vẫn tăng nhưng năng suất chè giảm, đờisống người làm chè gặp nhiều khó khăn

Trang 23

Bảng 2.1 Tình hình sản xuất chè ở Việt Nam trong những năm gần đây

(1000 ha)

Năng suất (tạ khô/ha)

Sản lượng (1000 tấn/ha)

2.4 ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC

2.4.1 Rễ chè

Hệ rễ chè gồm rễ trụ (rễ cọc), rễ bên và rễ hấp thu Rễ trụ có thể dài tới 2m nhưngthường chỉ dài 1m Rễ trụ dài hay ngắn phụ thuộc vào tính chất đất, chế độ làm đất, bónphân, tuổi chè và giống Đất tốt, thoát nước thì bộ rễ ăn sâu rộng hơn Giống chè thuộc dạngthân gỗ có rễ trụ ăn sâu hơn dạng thân bụi

Rễ bên và rễ hấp thu phân bố ở tầng canh tác, ở lớp đất từ 5-50cm phân bố theo chiềungang thường gấp từ 1,2 - 2 lần tán chè Trong điều kiện sản xuất rễ hấp thu tập trung chủyếu ở khoảng cách giữa hai hàng chè

Hình 2.1 Rễ chè 2.4.2 Thân chè

Cây chè sinh trưởng trong điều kiện tự nhiên là cây đơn trục, thân thẳng, phân nhánhliên tục tạo hệ thống cành chồi trên cây và hình thành nên tán cây Tùy theo chiều cao phâncành, kích thước thân chính và các cành chè mà người ta chia làm 3 loại: thân bụi, thân gỗnhỏ và thân gỗ

Trang 24

- Thân bụi: Cây chè không có thân chính rõ rệt, vị trí phân cành thấp, sát với cổ rễ.Cành nhỏ, tán chè có dạng bụi, điển hình là các thứ chè Trung Quốc lá nhỏ, chè Nhật Bản,chè Gruzia.

- Thân gỗ nhỏ (thân bán gỗ): Là loại hình trung gian có thân chính tương đối rõ, vị tríphân cành thường cách mặt đất từ 20-30cm Điển hình là chè Trung Quốc lá to, ở Việt Nam

+ Dạng hình suốt chỉ, cây cao nhưng hẹp tán

+ Dạng hình cầu, nửa cầu: là loại hình trung gian thấp hơn dạng suốt chỉ, tán to hơn.+ Dạng hình mâm xôi: to ngang, mặt tán to, rộng

Tiêu chuẩn chọn giống chè là chọn cây có tán cây càng to càng tốt

Hình 2.2 Các dạng tán chè 2.4.3 Cành chè

Cành chè do mầm dinh dưỡng phát triển thành Trên cành chia ra nhiều đốt, chiều dàiđốt cành biến đổi từ 1-10cm tùy theo giống, điều kiện sinh trưởng Đốt cành chè dài là mộttrong những biểu hiện của giống chè có khả năng cho năng suất cao Tùy theo tuổi của cànhchè mà mầu sắc cành chè biến đổi từ mầu xanh thẫm, xanh nhạt, màu đỏ, màu nâu khi cànhgià có màu xám

Tùy theo vị trí tương đối của cành chè với thân chính mà người ta chia các cấp cành:cành cấp I, cấp II, cấp III Cũng như đối với các cây lâu năm khác, cành cấp I được mọc ra

từ thân chính, cành cấp II được mọc ra từ cành cấp I, tương tự cành cấp III mọc ra từ cànhcấp II

Hoạt động sinh trưởng của các cấp cành trên tán rất khác nhau Theo lý luận phát triểngiai đoạn thì những mầm chè nằm càng sát phía gốc của cây càng có tuổi phát dục giai đoạnnon, sức sinh trưởng mạnh Những cành chè càng ở phía trên ngọn thì càng có tuổi phát dụcgiai đoạn già, sức sinh trưởng yếu, khả năng ra hoa kết quả mạnh hơn Những cành chè ởgiữa tán thì có sức sinh trưởng mạnh hơn những cành ở rìa tán

Thân và cành chè tạo nên bộ khung tán của cây chè Với lượng cành chè thích hợp và

Trang 25

cân đối trên tán chè, cây chè sẽ cho sản lượng cao, vượt qua giới hạn đó sản lượng chèkhông tăng mà phẩm chất búp giảm do có nhiều búp mù xòe.

Trong sản xuất cần nắm vững đặc điểm sinh trưởng của cành chè để áp dụng các biệnpháp kỹ thuật đốn, hái chè hợp lý, tạo cho cây chè có bọ khung tán to, khỏe, nhiều búp, cókhả năng cho năng suất búp cao

* Mầm đỉnh

Mầm đỉnh là mầm dinh dưỡng nằm ở vị trí tận cùng của cành chè Mầm đỉnh thườngsinh trưởng mạnh (gọi là ưu thế sinh trưởng đỉnh) thường lấn át sinh trưởng của các mầmkhác phía dưới

Mầm đỉnh không phát sinh liên tục quanh năm, do đặc tính di truyền hay khi gặp điềukiện không thuận lợi như rét, hạn, dinh dưỡng kém thì mầm đỉnh cũng ngừng sinh trưởngchuyển sang trạng thái ngủ nghỉ gọi là búp mù xòe

* Mầm bất định

Là mầm dinh dưỡng nằm ở phía gốc, cổ rễ của chè Nó chỉ được phát triển thành cáccành mới khi cây chè được đốn trẻ lại Trong trường hợp đốn trẻ lại cành chè như mọc từdưới đất lên, có sức sinh trưởng mạnh (do tuổi phát dục giai đoạn non)

2.4.4.2 Mầm sinh thực

Mầm sinh thực là mầm từ đó phát triển thành hoa, quả chè Mầm sinh thực nằm ở nách

lá chè Bình thường mỗi nách lá có hai mầm sinh thực nhưng cũng có trường hợp nhiều hơn,tạo thành chùm nụ hoa ở nách lá

Mầm sinh thực và mầm dinh dưỡng cùng nằm ở nách lá chè Mầm sinh thực ở hai bên,mầm dinh dưỡng ở giữa vì thế quá trình sinh trưởng của hai loại lá mầm này thường mâuthuẫn nhau Khi mầm dinh dưỡng phát triển mạnh thì mầm sinh thực phát triển yếu đi vàngược lại

Đối với chè thu hoạch búp người ta thường áp dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm hạnchế sự phát triển của các mầm sinh thực Trong khi tiến hành giâm cành chè, người ta tiến

Trang 26

hành loại bỏ hai nụ chè ở nách lá chè của hom chè giâm tạo điều kiện cho mầm dinh dưỡngphát triển thành cầy chè mới.

2.4.5 Búp chè

Búp chè là một đoạn non của cành chè được hình thành từ các mầm dinh dưỡng Búpchè trong quá trình sinh trưởng chịu sự chi phối của nhiều yếu tố ngoại cảnh và nội tại Kíchthước búp chè thay đổi theo giống, chế độ bón phân, các biện pháp canh tác và điều kiện tựnhiên (đất đai, khí hậu)

Búp chè là nguyên liệu chế biến ra các loại chè do vậy búp chè có quan hệ chặt chẽđến năng suất và chất lượng chè

Búp chè được chia làm hai loại: búp mù xòe và búp bình thường

- Búp bình thường là búp gồm 1 tôm hai hay 3 lá thật non Búp bình thường có khốilượng biến động từ 0,8 - 1,2g đối với chè Shan và từ 0,5 - 0,6g đối với chè Trung du Búpchè càng non phẩm chất chè càng tốt

- Búp mù xòe là búp phát triển không bình thường, không có tôm mà chỉ có 2 - 3 lánon Khối lượng búp mù xòe chỉ bàng 1/2 búp bình thường, tỷ lệ búp mù xòe càng cao chấtlượng chè càng kém Có nhiều nguyên nhân làm cho búp mù xòe: do đặc tính sinh vật họccây chè, do thời tiết không thích hợp (nắng, hạn, rét), do đất đai (đất xấu), do canh táckhông hợp lý

Trên cành chè có các loại lá sau:

* Lá vảy ốc: Lá vẩy ốc là những lá hình vẩy rất nhỏ, có mầu nâu cứng Lá vẩy ốc là bộ

phận bảo vệ điểm sinh trưởng của mầm chè khi nó ở trạng thái ngủ nghỉ Số lượng lá vẩy ốcthường 3 - 4 lá trên một điểm sinh trưởng ở vụ đông và 1-2 lá ở vụ hè

* Lá cá: Lá cá là lá thứ nhất nhưng phát triển không hoàn toàn, thường dị hình hay có

dạng hơi tròn, không có hoặc có rất ít răng cưa ở mép lá.Về cấu tạo giải phẫu, lá cá có lớp

mô dậu và mô khuyết ít hơn lá thật, số diệp lục ít hơn, hàm lượng tanin ít hơn từ 1 - 2%

Trang 27

* Lá thật: Lá thật là lá phát triển bình thường gồm cả đầu lá, gân lá và răng cưa

thường là lá thứ 2, thứ 3 trở đi

Hình 2.5 Cấu tạo giải phẫu lá chè

Cấu tạo giải phẫu lá thật gồm có:

- Lớp biểu bì: gồm những tế bào nhỏ, dày, cứng xếp thành một lớp có tác dụng bảo vệ lá

- Lớp mô dậu: gồm từ 1 - 3 lớp tế bào sắp xếp đều nhau chứa nhiều diệp lục

- Lớp tế bào mô khuyết: gồm các tế bào sắp xếp không đều nhau, ở trong đó có nhiều

tế bào đá các tinh thể oxalat canxi

Lá chè có tỷ lệ giữa mô khuyết và mô dậu càng lớn thì cây chè có khả năng chống chịucàng tốt với điều kiện ngoại cảnh

Lá chè mọc trên cành chè theo các thế lá khác nhau: thế lá rủ, thế lá ngang, thế lá xiên

và thế lá úp Thế lá ngang và thế lá rủ là đặc trưng của giống chè năng suất cao Lá chè cótuổi thọ trung bình là một năm

2.4.7 Hoa, quả chè

Cây chè 2, 3 tuổi đã có thể ra hoa, kết quả lần đầu, hoa chè mọc ra từng mầm sinh thực

ở nách lá chè

Hình 2.6 Hoa và quả chè

Trang 28

Hoa chè là hoa lưỡng tính, trong hoa có 5 - 9 cánh màu trắng, có khi phớt hồng Bộ nhịđực gồm 100 - 400 cái, thường thì 200 - 300 cái Chỉ nhị ở phía gốc dính với nhau từ 3 - 5cái Bao phấn có hai nửa gồm 4 túi phấn Hạt phấn hình tam giác, khi chín có màu vànghoặc vàng kim Bầu nhụy có 3 - 4 ô trong đó chứa 3 - 4 noãn, phía ngoài có lông tơ, númnhụy chẽ ba Ở gốc bầu nhụy có tuyến mật làm thành một vòng tròn gọi là đĩa Khi hoa nởtiết ra mật ngọt và mùi thơm dễ dẫn dụ côn trùng.

Quả chè thuộc loại quả nang có từ 1 - 4 hạt Quả chè có dạng hình tròn, tam giác,vuông tùy theo số hạt Khi còn non quả chè có màu xanh, khi chín chuyển sang mầu xanhthẫm hoặc nâu Khi vỏ chín vỏ quả nứt ra

Hạt chè có vỏ sàng bên ngoài màu nâu cứng Kích thước hạt chè to, nhỏ phụ thuộc vàogiống và kỹ thuật chăm sóc Hạt chè có khối lượng từ 0,6 - 2g, thường là từ 1 - 1,6g Vỏ hạtchè gồm 6 - 7 lớp tế bào đá tạo thành lớp vỏ cứng, phía trong là lớp vỏ lụa mỏng, có màunâu, có nhiều gân, có tác dụng vận chuyển nước và dinh dưỡng Nhân chè có 2 lá mầm vàphôi (mầm) chè

Lá mầm chiếm 3/4 khối lượng hạt chè, là nơi dự trữ dinh dưỡng gồm 10% protein,32% lipit, 31% gluxit Dưới tác dụng của ánh sáng lá mầm hình thành diệp lục Hạt chè cóhiện tượng đa phôi

2.4.8 Tổng chu kỳ phát dục của cây chè

Cây chè thuộc loại cây lâu năm, kể từ khi thụ phấn thụ tinh trên cây mẹ cho đến khi câygià cỗi và tự chết có thể kéo dài tới hàng trăm năm Cả quá trình đó bao gồm 5 giai đoạn:

* Giai đoạn phôi thai: Kể từ lúc thụ phấn đến khi hạt chín trên cây mẹ hoặc từ khi

mầm được phân hóa đến lúc tạo thành một cành giâm Đây là giai đoạn đầu tiên của cây chèchủ yếu nằm ở vườn chè giống lấy hạt hoặc lấy cành

* Giai đoạn chè con: Kể từ khi gieo hạt, giâm cành đến khi cây ra hoa đầu tiên Đối

với chè hạt khoảng từ 1-2 năm, chè giâm khoảng 3-6 tháng Giai đoạn này cần chăm sóc tốt

* Giai đoạn chè non: Kể từ năm thứ 2 đến năm thứ 4 sau trồng, từ lúc cây có hoa lần

đầu đến khi cây thành thục các chức năng sinh lý có bộ khung tán ổn định Cây có sự sinhtrưởng dinh dưỡng chiếm ưu thế đạt cân bằng giữa bộ phận trên mặt đất và dưới mặt đất.Giai đoạn này yêu cầu chăm sóc tốt, đặc biệt khâu đốn hái, tạo hình nhằm cho cây sau này

có bộ tán rộng

* Giai đoạn trưởng thành: Từ khi cây có bộ khung tán ổn định đến lúc chè già, trong

cả một thời kỳ kinh doanh dài từ 20 - 30 năm Cây chè có khả năng sinh trưởng và phát dụcmạnh, khả năng cho năng suất cao, phẩm chất tốt nhất Do vậy cần lưu ý các khâu kỹ thuậtquan trọng như: chăm sóc, bón phân, đốn hái, phòng trừ sâu bệnh

* Giai đoạn già cỗi: Kể từ lúc cây bắt đầu thay tán chè đến khi cây tự chết Trong giai

đoạn này hoạt động sinh trưởng của cây yếu dần, cành nhỏ, búp ít, ra hoa quả nhiều, cây cóbiểu hiện tàn lụi tự nhiên rồi chết dần Gai đoạn này có thể dùng biện pháp đốn trẻ lại để cảitạo cây chè già cũng có hiệu quả tốt

2.5 YÊU CẦU SINH THÁI CỦA CÂY CHÈ

Những cây chè hoang dại đầu tiên được tìm thấy ở các vùng thuộc Ấn Độ, Trung Quốc,miền Bắc Việt Nam, nói chung là những vùng cận nhiệt đới có khí hậu đặc trưng là nóng và

ẩm Cây chè rất thích hợp ở các vùng này Những điều kiện ngoại cảnh chủ yếu bao gồm:

2.5.1 Đất đai và địa hình

Về đất đai cây chè không yêu cầu nghiêm ngặt lắm Song đất trồng chè thích hợp nhấtphải là đất tốt nhiều mùn, chua, tơi xốp có tầng canh tác dày, mực nước ngầm sâu Nói chungchè sinh trưởng phát triển tốt cho năng suất cao thường các loại đất tốt có hàm lượng mùn trên

Trang 29

2%, N tổng số trên 0,2%, kali dễ tiêu 10-15mm/100g đất và có đủ các nguyên tố vi lượng.

Ở Việt Nam chè được trồng trên nhiều loại đất, nhất là ở vùng Tây Nguyên có đất đỏbazan Theo tài liệu của Trung Quốc cho biết cây chè ưa đất chua có độ pH 4,5 - 5,5 và kỵ

Ca++, nếu nồng độ Ca++ trong đất lớn hơn 0,2% thì cây chè có thể bị ngộ độc và chết Tómlại tính chất đất ảnh hưởng rất nhiều đến sinh trưởng, năng suất và phẩm chất của chè

Về địa hình cũng ảnh hưởng rất lớn đến cây chè Cây chè thường thích hợp vớinhững sườn đất dốc có độ dốc từ 8-100, tối đa không quá 250 Theo Donadze (Liên Xô)những cây chè ở sườn dốc phía Nam được tích lũy hàm lượng tanin và chất hòa tan nhiềuhơn ở hướng Bắc, Đông, Tây Về độ cao của mặt đất trồng chè so với mặt biển cũng ảnhhưởng lớn đến phẩm chất chè Độ cao đất trồng chè càng tăng thì phẩm chất chè càng tốt Ởnước ta vùng trồng chè Mộc Châu, Lâm Đồng có độ cao trên 800m đều cho sản phẩm chè

có chất lượng tốt, hàm lượng tanin và dầu thơm cao Ngoài ra còn ảnh hưởng của vĩ độ địa

lý đến chất lượng và sản lượng chè, chẳng hạn ở những vùng có vĩ độ cao thì lượng mưa,nhiệt độ, ánh sáng thiếu làm cho hàm lượng tanin thấp, thời gian thu hoạch chè ngắn, năngsuất thấp

2.5.2 Nhiệt độ

Do cây chè có nguồn gốc ở những vùng cận nhiệt đới, nên giới hạn nhiệt độ thích hợp

là từ 15 - 280C với tổng tích ôn hàng năm đạt trên 40000C Theo kết quả nghiên cứu ở Liên

Xô, Trung Quốc cho biết: nhiệt độ giới hạn cho sinh trưởng của cây chè là 100C, dưới 100Ccây chè tạm ngừng sinh trưởng, nhiệt độ 15 - 180C búp chè sinh trưởng chậm, trên 200C búpchè sinh trưởng mạnh, trên 300C búp sinh trưởng chậm lại và nếu cao quá có thể bị hại.Nhiệt độ còn là yếu tố chính quyết định thời gian thu hoạch búp trong năm Ở nhữngvùng từ 16 vĩ độ Nam đến 19 vĩ độ Bắc không có nhiệt độ thấp, nên thu hoạch chè quanhnăm, nhưng ở miền Bắc Việt Nam thu hoạch chè vào tháng 10

Theo kết quả nghiên cứu của Trung Quốc còn cho biết: Giới hạn nhiệt độ từ 20 - 300C

sẽ làm tăng hàm lượng tanin, cho sản phẩm chè tốt Nhưng nếu nhiệt độ cao quá 350C thìchất lượng chè lại bị xấu, tỷ lệ búp mù cao

2.5.3 Lượng mưa và độ ẩm

Trong búp chè có chứa một hàm lượng nước rất lớn từ 75 - 80% trọng lượng búp Búpchè non được thu hoạch liên tục trong năm, do vậy cây chè đã lấy đi một lượng nước lớntrong đất Vì vậy, nhu cầu về nước của cây chè rất cao, cần lượng mưa hàng năm lớn 1000 -4000mm trung bình cũng từ 1.500 - 2.000mm Ngoài ra cây chè còn yêu cầu lượng mưahàng năm phải được phân bố đều qua các tháng, trung bình trên dưới 100mm/tháng Vấn đềnày có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và sản lượng chè

Độ ẩm không khí thích hợp với chè từ 75 - 80% Độ ẩm của đất cũng từ 80 - 85% Vìvậy biện pháp tưới nước cho chè có hiệu quả cao Chè có tưới ở Trung Quốc đã tăng sảnlượng 56,1%, Việt Nam 41,5% Do vậy cần có những biện pháp giữ ẩm cho chè nhất làtrong mùa khô hạn

Kết quả nghiên cứu ở Ấn Độ cho thấy rằng, cường độ ánh sáng có ảnh hưởng lớn đếnsản lượng chè Với giống chè Ấn Độ khi giảm cường độ chiếu sáng 30% thì sản lượng chètăng 34% so với không che bóng Nếu tiếp tục giảm cường độ chiếu sáng 50% thì sản lượng

Trang 30

búp chè vẫn tăng nhưng ít Vì vậy cần phải xem xét các điều kiện thực tế về ánh sáng ở từngnơi để có giải pháp thích hợp.

2.6 CHỌN GIỐNG VÀ NHÂN GIỐNG CHÈ

2.6.1 Tiêu chuẩn giống chè tốt

Để đánh giá một giống chè tốt cần phải dựa vào các tiêu chuẩn dưới đây:

- Tiêu chuẩn về sinh trưởng: Giống chè tốt phải có khả năng phân cành mạnh, vị tríphân cành thấp, cây sinh trưởng khỏe, thích nghi với điều kiện ngoại cảnh Về hình thái; lá

to mềm, phiến lá gồ ghề, màu xanh sáng, mật độ búp trên tán cao và trọng lượng búp lớn.Thời gian sinh trưởng trong năm dài

- Tiêu chuẩn về sản lượng: Giống chè tốt phải có sản lượng cao và ổn định Năng suấtphải cao hơn giống đối chứng từ 15% trở lên

- Tiêu chuẩn về chất lượng: Giống mới được công nhận là giống chè tốt phải có hàmlượng tanin cao hơn giống chè đối chứng 1-3% và hàm lượng chất hòa tan cao hơn 2-3%

- Tiêu chuẩn về tính chống chịu: Giống là biện pháp cơ bản nhất và kinh tế nhất vớichỉ tiêu về tính chống chịu, do vậy giống tốt phải có khả năng thích nghi cao với điều kiệnngoại cảnh, phải có khả năng chống chịu tốt với sâu bệnh, giống tốt phải là giống chịu hạn,chịu rét tốt

2.6.2 Một số giống chè mới có triển vọng

2.6.2.1 Giống chè PH1: Chè nhập nội từ Ấn Độ vào Phú Hộ năm 1920.

- Hình thái: Cây gỗ vừa (10m) tán to, góc độ phân cành rộng, vị trí phân cành thấp, nhiềucành cấp I, phiến lá to 23cm2, xanh đậm, dày 308 micromet, phiến lá nhẵn phẳng, búp to

- Năng suất bình quân 12 năm (1973 - 1984) đạt 20,3tấn/ha, cao hơn giống Trung duđối chứng 66% Năng suất đại trà đạt 8-10tấn/ha, có nơi đạt 15-20tấn/ha

- Chất lượng: Búp chè 1 tôm 2 lá có hàm lượng tanin 33,2%, hàm lượng chất hòa tan46,6%, thích hợp cho việc chế biến chè đen, có hương thơm, vị đậm

- Chống chịu: chống chịu trung bình, chống hạn tốt, hay bị bệnh thối búp và sâu đục thân.Hiện nay PH1 đang được phát triển rộng rãi trong sản xuất Đặc biệt ở các vùng chècung cấp nguyên liệu cho nhà máy chế biến chè đen xuất khẩu

2.6.2.2 Giống TRI 777

- Hình thái: Thuộc thứ chè Shan, cây gỗ vừa (10-15m), tán rộng 0,70m, điểm phâncành thấp, góc độ phân cành rộng, số cành cấp I nhiều, diện tích lá to, hình hơi thuôn dài, lámàu xanh đậm, ít lông tơ, phiến lá nhẵn, góc lá hơi hẹp, búp nhỏ, cuống lá nhỏ, ngắn

- Năng suất: năng suất bình quân 7 năm theo dõi tại Viện nghiên cứu chè Phú Hộ đạt7,82 tấn/ha (chè 2-8 tuổi) cao hơn giống chè Trung du đối chứng 13 -18%

- Chất lượng: Chè 1 tôm 2 lá có hàm lượng nước 75%, tanin 30,5%, chất hòa tan42,5% Thích hợp cho việc chế biến chè xanh, chè đen

- Chống chịu với các loại sâu ở mức trung bình, chịu khô hạn tốt

2.6.2.3 Giống chè 1A

- Hình thái: Loại cây gỗ vừa, lá to mềm, màu xanh vàng, phiến lá hơi tròn, gợn sóng, ítlông tơ, thế lá ngay, vị trí phân cành thấp, tán rộng, mật độ búp trên tán cao

- Năng suất bình quân: 5 năm đạt 10,8 tấn/ha

- Chất lượng: Búp chè 1 tôm 2 lá hàm lượng tanin 34,8%, chất hòa tan 45,0%, thíchhợp cho chế biến chè xanh và chè đen

- Chống chịu khá với sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh không thuận lợi

Trang 31

2.6.2.4 Các giống chè nhập nội

Trong những năm qua, song song với công tác chọn tạo giống chè mới ở trong nước,chúng ta đã đẩy mạnh công tác nhập nội giống chè tốt từ những nước có kỹ thuật sản xuất chètiên tiến Như giống TRI 2023, TRI 2025, DT-1, đại Bạch Trà, Kỳ Môn Qua theo dõi cácgiống chè Đại Bạch Trà và Kỳ Môn tỏ ra thích nghi cao và chất lượng tốt Đặc biệt dùng đểchế biến chè xanh, chè Ô long chất lượng cao Tuy nhiên, các giống chè này là năng suất thấp

2.6.3 Một số biện pháp nhân giống chè

- Sản xuất ở vườn chuyên giống: Yêu cầu phải đầu tư chăm sóc tốt để cho năng suấthạt cao trên dưới 3000kg/ha

- Tiêu chuẩn hạt giống chè tốt: Hạt phải thuần chủng có tỷ lệ nảy mầm trên 75%, hạt to cóđường kính trên 13mm, hàm lượng nước 28 - 30% trọng lượng hạt, có tử diệp màu trắng sữa

2.6.3.2 Nhân giống chè bằng giâm cành

Đây là tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất được áp dụng nhiều ở các nơi có trình độ kỹthuật tiên tiến đã cho năng suất và phẩm chất chè tốt, có nhiều ưu điểm so với trồng chèbằng hạt như giữ được đặc tính di truyền của cây mẹ, hệ số nhân giống cao hơn nhiều lần,tốc độ sinh trưởng nhanh, chóng thu hoạch, năng suất sản lượng hơn trồng bằng hạt đồngthời có chất lượng chè tốt

Tuy vậy, phương pháp này đòi hỏi có trình độ kỹ thuật và đầu tư, nên giá thành câycon cao

- Cách làm:

+ Chọn đất: Đất đồi ở tầng dưới màu nâu đỏ, tơi xốp, có pH 5 - 6, thuộc đất xấu

+ Chọn hom: Chọn cành bánh tẻ có độ phát dục non, mọc sau khi đốn có đường kính4-5mm Sau đó cắt thành từng đoạn hom dài 4cm có một lá và một mầm nhú, cắt vát rồicắm vào đất, có thể dùng bầu bằng túi PE, rồi xếp thành từng luống, làm giàn che cao 1,5 -1,8m lúc đầu che kín sau dỡ dần Trong quá trình chăm sóc lưu ý cần đảm bảo độ ẩm đấttrên dưới 80%, từ tháng thứ 4 định kỳ 2 tháng/1 lần tưới phân hóa học (14g sunfat đạm + 6gsupe lân + 10g sunfat kali/1m2 vườn ươm Thời vụ giâm cành tốt nhất vào tháng 12, có thể ở

vụ thu tháng 7 - 8, sau 8 tháng đủ tiêu chuẩn cây con xuất vườn đem trồng đại trà

2.7 KỸ THUẬT TRỒNG CHÈ

2.7.1 Chọn đất, làm đất và thiết kế đồi chè

- Chọn đất: Chọn loại đất thích hợp với cây chè có độ dốc 8-100, tối đa 250, có tầngcanh tác dày, mực nước ngầm sâu, giầu mùn và chất dinh dưỡng, có độ pH 4,5-6 Sau đótiến hành khai hoang dọn sạch, san phẳng, rồi cày sâu 30-40cm, nếu chưa trồng kịp có thểgieo trồng phân xanh để cải tạo và phủ đất

- Thiết kế đồi chè cần chú ý nguyên tắc bảo vệ chống xói mòn, đồng thời có tỷ lệ sửdụng đất trồng trọt cao

- Nội dung thiết kế bao gồm:

+ Xây dựng các hệ thống đường sá đi lại vận chuyển phù hợp

+ Xây dựng các hệ thống thủy lợi ở khu vực trồng chè: Mương rãnh, bể, hố chứa nước

Trang 32

+ Xây dựng hàng chè theo đường đồng mức, có mật độ khoảng cách thích hợp, rồi đàorãnh sâu 40cm để trồng chè Trước đó bón phân lót vào rãnh với lượng đủ: 30 tấn phânchuồng được ủ với 500kg phân supe lân cho một ha Có thể giữa các hàng chè gieo xen mộthàng cây phân xanh, muồng, cốt khí, các loại cây đỗ lạc.

2.7.2 Kỹ thuật trồng chè bằng hạt

Hiện nay có nhiều phương pháp trồng chè song trồng chè bằng hạt là phương pháp phổbiến và đơn giản hơn cả Trồng chè bằng hạt có thể được tiến hành những hình thức sau:

- Gieo hạt trong vườn ươm, sau đó bứng cây con trồng ra ngoài nương

+ Ưu điểm: tiết kiệm được giống, tiện cho việc chăm sóc, quản lý cây con, có điềukiện để sản xuất được cây con to, khỏe, đồng đều

+ Nhược điểm: Yêu cầu kỹ thuật cao (giai đoạn vườn ươm), công vận chuyển cây conlớn, giá thành 1ha trồng mới cao

Hình thức gieo hạt trong vườn ươm sau đó bứng cây con ra vườn trồng, thường chỉ ápdụng ở những nơi thời vụ trồng chè không trùng với thời vụ thu hoạch quả chè hoặc đối vớiviệc trồng giặm

- Gieo hạt thẳng ra nương

+ Ưu điểm: Đơn giản, dễ làm, đỡ tốn công, giá thành hạ

+ Nhược điểm: Không áp dụng được với những nơi có thời vụ trồng chè khác xa vớithời vụ thu hoạch quả

* Chuẩn bị hạt giống và kỹ thật gieo hạt chè

6 - 12 giờ rồi loại bỏ hạt nổi, lấy hạt chìm đem gieo

- Thời vụ gieo hạt chè

Thời vụ gieo hạt chè phụ thuộc vào thời kỳ thu hoạch quả chè và điều kiện khí hậu.Miền Bắc thời vụ thích hợp là tháng 10 và tháng 11 Vùng Tây Nguyên tháng 5, tháng 6 đểkhi chè mọc không bị chết qua vụ đông rét, hạn (do hạt chè chín và thời vụ gieo hạt khôngtrùng nhau, cần phải bảo quản hạt chè)

- Mật độ gieo và kỹ thuật gieo hạt chè

Mật độ gieo hạt chè phụ thuộc vào độ dốc, tính chất đất và phương thức canh tác Đấtdốc, xấu, trình độ canh tác thấp thì gieo dày, đất bằng, tốt và trình độ canh tác cao thì gieo thưa Một số khoảng cách thường được áp dụng là:

+ 1,75m x 0,4 -0,5m đối với đất bằng, trình độ canh tác cao hay đối với nương chè giống.+ 1,50 x 0,4 - 0,5m đối với đất có độ dốc ≥ 200

Trang 33

Sau khi gieo hạt xong cần làm lý lịch đồi chè, nội dung lý lịch gồm:

2.7.3.1 Ưu nhược điểm của việc trồng chè bằng hình thức giâm cành

- Trồng chè bằng hình thức giâm cành có hệ số nhân giống cao đáp ứng được nhu cầu

về giống trong sản xuất

- Cây chè con được trồng bằng hình thức giâm cành giữ nguyên được những đặc tính tốtcủa cây mẹ, nương chè đồng đều về hình thái tiện lợi cho canh tác, thu hoạch và chế biến

Ở những nương chè trồng bằng hạt, nương chè có sự phân ly rất lớn về hình thái, vềđặc tính sinh trưởng và khả năng cho thu hoạch búp Nương chè trồng bằng hạt thườngkhông giữ được đặc tính tốt của giống Nguyên nhân của sự phân ly đó là do hoa chè tự thụphấn thấp, quả chè được hình thành chủ yếu là do kết quả của sự thụ phấn khác hoa

Giống chè dùng để giâm cành thường là giống đã qua chọn lọc, có khả năng cho năngsuất cao, phẩm chất tốt Do vậy, nương chè trồng bằng cành chè giâm cũng có khả năng chonăng suất cao và phẩm chất tốt giống mẹ

- Chè trồng bằng phương pháp giâm cành, có khả năng phân cành thấp, nương chèmau khép tán, mau cho thu hoạch và năng suất cao hơn chè trồng bằng hạt

Tuy nhiên việc trồng chè bằng phương pháp giâm cành cũng có những nhược điểm sau:Trồng chè bằng phương pháp giâm cành yêu cầu kỹ thuật cao, tốn công vận chuyển,chi phí lớn dẫn đến giá thành/1ha trồng mới cao Đây là nguyên nhân cơ bản làm cho tốc độ

mở rộng diện tích chè bằng phương pháp giâm cành còn chậm

2.7.3.2 Kỹ thuật sản xuất chè con bằng phương pháp giâm cành

* Vườn sản xuất hom giống

Là vườn chè mà từ đó người ta thu hoạch chè đem giâm cành

- Địa điểm: Nơi đặt vườn sản xuất hom giống phải thỏa mãn các yêu cầu về đất đai,khí hậu đối với cây chè Nên đặt vườn sản xuất hom giống ở khu trung tâm khu vực trồngchè và gần đầu mối giao thông, tránh nơi đầu gió bão

- Vườn sản xuất hom giống phải được trồng bằng giống đã chọn lọc, có khả năng chonăng suất cao, phẩm chất tốt

- Mật độ trồng: 1,75 x 0,6 x 1 cây (có thể trồng 2 cây một hốc)

- Phân bốn: Bón lót 30-40 tấn phân hữu cơ/ha, những năm sau cứ 2 năm bón một lần20-30 tấn phân hữu cơ/ha

Trang 34

Phân vô cơ khác: 200kg đạm sunfat + 200kg supe lân + 200kg kali clorua/ha Chèdưới 2 tuổi bón một năm 2 lần vào tháng 2 và tháng 8, chè trên 3 tuổi bón một năm 4 lầnvào tháng 2, tháng 5, tháng 8, tháng 10.

Ngoài ra quản lý vườn sản xuất hom giống còn chú ý các biện pháp sau:

+ Đốn tạo hình: Cuối năm thứ nhất cắt tỉa một số hom không đốn để nuôi cây Cuốinăm thứ hai (không kể thời gian ở vườn ươm) đốn cao 25cm Cuối năm thứ 3 đốn cao 30-35cm Các năm sau mỗi năm đốn cao hơn năm trước 5cm Đốn sau khi cắt hom vụ đôngxuân

+ Tỉa cành bấm ngọn

Vụ đông xuân: Sau đợt cắt hom tháng 11 đến tháng 1 tiến hành đốn bằng, khi đợt mầm

đầu tiên mọc lên, hái tỉa một hai lần những búp to, còn giữa tán chè để lại một hai lá chừa,búp rìa tán không hái, tiến hành thu hoạch hom tháng 7-8

Vụ hè thu: Sau đợt cắt hom tháng 7 thì đốn bằng vào tháng 8, khi đợt mầm đầu tiên

mọc lên cũng bấm tỉa từ một đến hai lần búp một tôm hai lá, chừa 2 lá thật Hom có thể thuvào tháng 11 -1

Trước khi cắt hom 15 - 20 ngày tiến hành bấm ngọn một tôm hai lá để tập trung dinhdưỡng vào các lá còn lại trên cành

+ Phòng trừ sâu bệnh hại khác với chè sản xuất, vườn chè sản xuất hom giống có quầnthể rậm rạp, có điều kiện cho sâu hại phát triển, hơn nữa đối với chè giâm cành, lá là cơquan quang hợp, nên hom chè không có lá hoặc lá bị sâu hại nặng sẽ không thể phát triểnthành cây chè con khi giâm cành Do vậy việc phòng trừ sâu hại có ý nghĩa rất lớn

Cũng như đối với chè sản xuất, nương chè sản xuất hom giống có các loại sâu như: Bọxít muỗi, nhện đỏ, rầy xanh, bộ cánh tơ Cần được phát hiện sớm và sử dụng thuốc như đốivới chè sản xuất Về bệnh nương chè sản xuất hom giống thường có bệnh thối búp

* Vườn giâm cành

Hom chè có thể giâm trực tiếp xuống đất, phương pháp này tỷ lệ sống và xuất vườncao, tuy vậy chỉ nên dùng với những nơi không có và nương chè cần trồng gần với vườnươm Hoặc có thể giâm vào túi PE, phương pháp này có ưu điểm là có thể vận chuyển câycon đi xa nhưng yêu cầu kỹ thuật cao hơn, giá thành cao hơn Khi xây dựng vườn ươm cầnchú ý một số vấn đề sau:

+ Địa điểm

- Có những điều kiện khí hậu, đất đai phù hợp với yêu cầu của cây chè

- Nằm ở trung tâm khu vực trồng chè, gần nguồn nước tưới, gần đường giao thông,thuận tiện cho vận chuyển

- Tránh nơi đầu gió bão

+ Thời vụ

- Vụ đông xuân (để hom từ tháng 8) tiến hành giâm cành từ 15/11 – 15/12 Vụ này ít

có những trận mưa to, bão lớn, nhiệt độ thấp, ít nắng to, tỷ lệ sống cao

- Vụ hè thu (để hom tháng 2) giâm cành 15/6-30/7, vụ này tỷ lệ sống thấp vì gặp mưa

to, bão lớn, nắng to

+ Làm đất - thiết kế hệ thống tưới tiêu

Vườn ươm cần chia lô để quản lý chăm sóc, xung quanh thiết kế hệ thống mương dẫnnước (tưới, tiêu) Trung bình cứ 2-3 vạn hom nên bố trí một hố dự trữ nước

- Nếu cắm trực tiếp thì tiến hành làm đất theo quy trình sau:

Cày bừa sâu 20-25cm, làm đất nhỏ, sạch rễ cây, đá sỏi, san bằng, lên luống cao

Trang 35

15-20cm, chiều rộng luống 1,1 - 1,2m, luống dài từ 15-20m, rãnh luống hình thang rộng 45cm

30-Luống thiết kế theo sườn đông tây để tránh nắng hai sườn luống, phủ lên trên mặtluống một lớp đất cái dày 5cm dùng cào san phẳng mặt luống, sau đó dùng con lăn hoặc cây

để nén (đất cái thường là đất đỏ vàng có pH (KCL) 4,5-5,5 lấy ở tầng đất dưới 10cm không

có cỏ dại, không có tuyến trùng)

- Nếu sử dụng bầu PE thì làm theo quy trình sau: Dùng túi PE có đường kính 8cm,đóng 2/3 phía dưới là đất mặt và 1/3 phí trên là đất cái (có thể đóng bầu hoàn toàn bằng đấtcái) Sau đó xếp thành luống với chiều rộng từ 1,1 - 1,2m Xếp hàng ngang xen kẽ, thẳngđứng, trước khi xếp cần đóng cọc be định hình luống Sau khi xếp luống xong vun đất caobằng 2/3 chiều cao bầu chè và có thể bỏ cọc định hình luống Việc vun đất xung quanhluống không những có ý nghĩa giữ cho bầu khỏi đổ mà còn có tác dụng giữ ẩm, giữ nhiệtcho bầu chè

+ Làm giàn: Giàn có tác dụng che mưa, nắng và chắn gió, giữ ẩm, giữ nhiệt cho vườnươm Giàn làm một năm có thể sử dụng được vài năm Những năm sau chỉ cần sửa chữa vàlợp lại

Ở nước ta giàn thông dụng là giàn cao 1,6 - 1,7m khung giàn làm bằng che, vật liệulợp giàn bằng cỏ tế guột, phên nứa là tốt nhất Ngoài ra có thể lợp giàn bằng các loại cỏgianh, lá cọ Các loại vật liệu lợp nên cặp thành phên, có 3 loại phên sau:

- Phên che luống dài 2m, rộng 1,1 - 1,2m

- Phên che rãnh dài 2m, rộng 0,3 - 0,4m

- Phên che xung quanh 2m x 1,8m

+ Chọn cành cắt hom

- Chọn cành: Chọn cành khỏe, không sâu bệnh, đường kính 0,4 - 0,6cm, lá màu xanh,phía gốc đỏ nâu Giâm cành ngày nào cắt ngày đó là tốt nhất, dùng dao hoặc kéo sắc để cắtcành, không làm giập nát cành, bó thành bó nhỏ chuyển về chỗ giâm mát để cắt thành hom,không làm giập lá, không để cành dưới ánh nắng Trên nương chè chọn cành tốt cắt trước

- Cắt hom; Dùng kéo cắt hom, hom dài 3 - 4cm, có một mầm nách và một lá nguyên,vết cắt hình thang, không làm dập thân hom, lá và mầm chè Hom màu xanh có tỷ lệ sốngcao hơn hom gốc có màu nâu, xám Hom gốc thường ra rẽ nảy mầm kém

Mầm nách có thể bằng hạt gạo hoặc dài hơn, nếu mầm nách dài 5cm thì dùng kéo cắt

bỏ phần ngọn Lá chè yêu cầu không dập nát, nếu lá to quá có thể cắt bỏ 1/3 lá

Trong quá trình cắt cần phân loại hom đem cắm riêng từng loại để tiện cho việc chămsóc sau này, có thể chia làm 3 loại hom như sau:

- Hom loại A: hom bánh tẻ, 1 lá, 1 mầm dài 5cm

Trang 36

- Hom loại B: hom bánh tẻ 1 lá 1 mầm dài 5cm

- Hom loại C: hom chớm nâu, 1 lá, 1 mầm

+ Bảo quản hom, vận chuyển hom: Hom chè cắt xong đem cắt ngay là tốt nhất, nếu sốlượng hom lớn cần bảo quản tốt: Đựng hom chè trong túi PE, kích thước 80 x 100cm, mỗitúi chứa 2000-3000 hom để nơi râm mát Thời gian bảo quản không quá 5 ngày, nếu vậnchuyển đi xa cần che nắng và gió

- Xử lý: Nói chung hom chè không xử lý nếu chăm sóc tốt có thể đạt tỷ lệ sống 90%, xongnếu điều kiện cho phép có thể xử lý các hóa chất sau đây làm tăng tỷ lệ sống và tỷ lệ xuất vườn.Humat amôn 75ppm xử lý vào đất 10mm dung dịch/bầu, xử lý trước khi cắm Ngoài ra có thể

xử lý 2,4 D, NAA, NOA, xử lý làm rút ngắn thời gian ra rễ và thời gian nảy mầm

+ Cắm hom: Trước khi cắm hom cần tưới toàn bộ vườn ươm trước 4 giờ Cắm ở luốngđất theo khoảng cách 10x 6cm (mật độ 160 hom/1m2) Cắm xuôi theo chiều gió, cắm đứnghom, cắm xong mỗi luống cần tưới nhẹ ngay Cắm hom vào túi PE tương tự như trên Trongđiều kiện sắn hom có thể cắm 2 hom vào một bầu

+ Quản lý và chăm sóc vườn ươm: Thời gian hom chè mọc trong vừơn ươm từ 8-12tháng Yêu cầu tỷ lệ sống trên 80% Tỷ lệ cây xuất vườn 60%, việc quản lý và chăm sócvườn ươm cần chú ý các biện pháp sau đây:

- Tưới nước: Đảm bảo ẩm độ đất thường xuyên 75 - 80%, ẩm độ không khí 80 - 85%

- Thời gian đầu sau cắm hom từ 1 - 15 ngày, mỗi ngày tưới 2 lần bằng bình phun vàbằng thùng tưới ô doa

Thời gian sau: Khi hom bắt đầu ra mô sẹo có thể tưới mỗi ngày một lần hoặc hai ngàymột lần, tùy theo điều kiện thời tiết sao cho ẩm độ đất thường xuyên 75 - 85%

Khi hom chè đã có rễ số lần tưới giảm hơn Trong suốt thời gian từ khi cắt hom đếnkhi xuất vườn trung bình cứ 7-10 ngày tưới rãnh một lần

Thời gian 60 ngày đầu che cả luống rãnh và xung quanh Chỉ mở vào buổi sáng sớm

và chiều tối lúc trời râm Những ngày sau đó mở giàn che từ ít đến nhiều tạo điều kiện đủánh sáng cho chè quang hợp và quen dần với ánh sáng trực xạ Cần chú ý rằng khi chè chưa

ra rễ và khi rễ chưa phát triển cần rất thận trọng trong lúc điều chỉnh ánh sáng, chỉ mở lúcrâm mát, nhất thiết phải che giàn khi trời nắng gắt Khi chè con đã được 5 - 6 tháng có thể

mở 1/2 giàn và dần dần mở hoàn toàn khi chè con 6 - 7 tháng tuổi

- Bón phân: Nếu tưới nước và điều chỉnh ánh sáng là 2 biện pháp quyết định đến tỷ lệsống và tỷ lệ nảy mầm của hom chè trong giai đoạn vườn ươm thì bón phân là biện phápquyết định đến tỷ lệ xuất vườn và chất lượng cành xuất vườn

+ Nguyên tắc bón phân từ ít đến nhiều cụ thể theo quy trình sau:

Bảng 2.1: Quy trình bón phân cho chè giâm cành (cho 1m 2)

Trang 37

+ Phương pháp bón: Hòa phân vào thùng tưới để tưới, sau đó dùng nước lã để rửa lá.Ngoài bón trực tiếp có thể phun phân ure 2% kết hợp với phun thuốc trừ sâu.

- Phòng trừ sâu hại: Cũng như đối với chè kinh doanh sản xuất trong vườn ươmthường có các loại sâu như bọ nẹt, sâu cuốn lá, rầy xanh, bọ cánh tơ, bọ xít muỗi Các loạisâu này có thể phun thuốc diệt trừ

Về bệnh: Bệnh thường gặp là bệnh thối búp Đề phòng bệnh này cần làm vườn thoángsạch, vườn không bị đọng nước Nếu bệnh xuất hiện ngắt bỏ hết búp bị bệnh, phun thuốc trừcục bộ và toàn bộ vườn ươm (thường phun Boocđo 1%)

- Phòng trừ cỏ dại: phòng trừ cỏ dại bằng cách không dùng đất có lẫn cỏ, thân cỏ đểđóng bầu, diệt trừ cỏ dại thường xuyên bằng tay và xới đất ở mặt luống hoặc bầu chè

- Giặm hom và vê nụ, bấm ngọn Việc giặm hom có thể tiến hành 10 - 15 ngày đầu saucắm, ngoài ra có thể dự trữ hom bằng cách cắm nhiều hom ngoài luống đất sau đó giặm vào bầu.Hom chè gồm 1 lá, 1 đoạn cành Mầm nụ và mầm dinh dưỡng cùng mọc ở nách lá,mầm nụ phát triển sẽ lấn át mầm dinh dưỡng do vậy khi giâm cành cần chú ý cắt bỏ mầm nụtạo điều kiện cho mầm dinh dưỡng phát triển

Khi xuất vườn 15 - 20 ngày bấm ngọn ở độ cao trên 20cm nhằm làm cho cây con cứngcáp, phân cành mạnh và phân cành thấp

* Kỹ thuật trồng cành chè ra nương

+ Tiêu chuẩn xuất vườn:

- Cây từ 8 - 12 tháng tuổi, nếu cây non quá trồng ra nương sẽ bị chết, ngược lại nếucây già quá sẽ bị đứt nhiều rễ khi đánh cây ra trồng

- Cây có 6 lá thật, lá to dày, láng bóng

- Cao 20cm

- Đường kính gốc 4 - 5mm, phía gốc có màu đỏ nâu phía ngọn xanh thẫm

+ Đánh cây: Nếu giâm cành trong bầu thì có thể vận chuyển trực tiếp ra trồng, tránh vỡbầu Nếu giâm cành trực tiếp vào luống đất thì cần đánh bầu với kích thước bầu đất khoảng

4 x 8 x 10cm Tốt nhất là đánh xong đem trồng ngay

+ Thời vụ trồng: Có thể trồng tháng 2 - 3 với vụ xuân hoặc tháng 8 - 9 với vụ thu.+ Trồng cây con

Đất được chuẩn bị sẵn như trồng chè hạt, rạch hàng sâu 20 - 25cm hoặc bổ hố rộng20cm sâu 25cm, bón lót 20-30 tấn phân chuồng + 100 P2O5/ha

Cây chè con được đặt theo một hướng, xuôi theo chiều gió, dọc theo hàng chè, lấp đấtđến ngang vết cắt của hom, nén chặt đất Nếu trồng bầu PE thì nhất thiết phải xé bỏ túi PEtrước khi trồng Sau khi trồng cần tủ gốc ngay, vật liệu tủ gốc thường là rơm rạ, cỏ tranh, tễ,guột và các cây họ đậu

Sau khi trồng xong phải tưới mỗi ngày 1 - 2 lít nước và tiến hành kiểm tra đầu hàng đầu

lô, bổ sung những cây đầu hàng đầu lô bị khuyết thiếu để các đầu hàng đầu lô thẳng hàng

2.8 KỸ THUẬT CHĂM SÓC CHÈ KIẾN THIẾT CƠ BẢN

Thời kỳ chè con gọi là thời kỳ chè kiến thiết cơ bản là thời kỳ chè được trồng xongqua chăm sóc, đốn tạo hình bắt đầu bước vào thu hoạch Thời kỳ này kéo dài 4 năm với chètrồng bằng hạt và 3 năm với chè trồng bằng cành

Chè là cây công nghiệp lâu năm, sản phẩm thu hoạch là búp và lá non, sản lượng chè

có tỷ lệ thuận với diện tích tán, với mật độ nương chè Do vậy, mọi biện pháp chăm sóctrong thời kỳ kiến thiết cơ bản đều có ảnh hưởng quyết định tới khả năng cho năng suất vàtuổi thọ của nương chè

Trang 38

Quy trình kỹ thuật chăm sóc chè kiến thiết cơ bản gồm 5 biện pháp liên hoàn chủ yếu sau:

2.8.1 Giặm chè

2.8.1.1 Ý nghĩa

Mật độ nương chè là cơ sở để nương chè đạt năng suất cao, là biện pháp chống xói mòn

lý tưởng, là biện pháp hữu hiệu để nương chè có nhiệm kỳ kinh tế dài, là biện pháp có ý nghĩagiảm công đầu tư, diệt trừ cỏ dại sau này, hạn chế sự xâm nhập của trâu bò lên đồi chè

Do vậy, đồi chè đồng đều là mục tiêu phấn đấu của người trồng chè Nếu để nươngchè mất khoảng thì hậu quả sâu của nó người trồng chè phải gánh chịu suốt cả 20-30 năm.Nguyên nhân nương chè bị mất khoảng là:

- Do hạt chè xấu, tỷ lệ nảy mầm thấp

- Do cây con không đủ tiêu chuẩn, sức sống kém khi trồng ra nương

- Gieo trồng vao thời vụ không thích hợp, hạn, úng

- Sau khi trồng bị trâu bò giẫm đạp hoặc bị cỏ dại lấn át

về sinh trưởng, dễ bị cỏ dại lấn át Vì thế trong quá trình gieo hạt ra nương có thể chọn một

vị trí thuận lợi ở nương chè gieo dự trữ cùng với lúc trồng chè để có cây chè con cùng tuổiđem giặm

- Với chè trồng bằng cành: Khi chuẩn bị giống nên dành 105 cây con để giặm Nhữngnăm sau dùng cây con ở vườn ươm đem giặm

+ Thời vụ: Giặm khi có mưa, đất ẩm, thường giặm vào thời vụ trồng chè

+ Kỹ thuật giặm: Chọn ngày râm mát mưa phùn, đất ẩm đánh cây con đem trồng Hốđào 30 x 30 x 25cm, bỏ phân chuồng mục trộn đều với đất, đặt cây ngay ngắn, nén chặt đấtquanh gốc chè Nếu cây chè con có búp non nên bấm bỏ búp non đó để giảm bớt sự thoáthơi nước, tủ gốc bằng cỏ rác

+ Chăm sóc sau giặm: cần tiến hành chu đáo hơn, đặc biệt là làm cỏ và bón phân chocây giặm Việc giặm chè cần tiến hành ngay trong một, hai năm đầu và cố gắng kết thúc vàonăm thứ 3 Một nương chè đạt yêu cầu là một nương chè khi đưa vào kinh doanh đảm bảo95% mật độ

Chú ý: những năm sau nếu nương chè vẫn không đạt yêu cầu mật độ vẫn có thể dùngcây con để giặm Tuy nhiên cần phải có cây lớn khỏe, có biện pháp kỹ thuật chăm sóc đặcbiệt mới đạt hiệu quả cao

2.8.2 Phòng trừ cỏ dại

2.8.2.1 Tác hại của cỏ dại

Nước ta là nước có khí hậu ấm và ẩm, cỏ dại phát triển nhanh mạnh và có nhiều chủngloại khác nhau, gây nhiều tác hại đối với cây chè như:

- Tranh chấp dinh dưỡng, nước và ánh sáng đối với chè con thậm chí cả chè lớn, gây

ra nạn “cỏ chụp”

- Là nơi trú ngụ của nhiều loại sâu bệnh hại chè

- Tạo điều kiện cho trâu, bò, các động vật ăn cỏ khác vào phá hại nương chè

- Gây trở ngại cho các thao tác canh tác như: đốn, hái, bón phân, phòng trừ sâu bệnh hại

Trang 39

2.8.2.2 Biện pháp phòng trừ

- Phòng: Làm đất kỹ, đảm bảo yêu cầu kỹ thuật trược khi trồng chè, dùng giống chèsạch, trồng đúng mật độ, giặm kịp thời những cây khuyết để đảm bảo mật độ

- Bón phân chuồng đã ủ, không có hạt cỏ dại và thân cỏ còn sống

- Ngoài ra còn có thể trồng cây phân xanh, cây họ đậu kết hợp che bóng và trừ cỏ dạicho chè, phương pháp che tủ gốc cho chè con cũng là biện pháp hữu hiệu để hạn chế sinhtrưởng phát triển cỏ dại của nương chè

- Trừ: Với nương chè non làm cỏ 3 - 4 lần/năm Dùng cuốc để xới cỏ và dùng tay đểnhổ cỏ trong gốc chè, có thể làm cỏ vào các tháng 2,5,8 và 12

Có thể sử dụng các loại thuốc trừ cỏ như 2,4D, simajin, dalapon để trừ cỏ, lượng dùng

từ 6-8kg hòa trong 600 - 800 lít nước phun cho 1ha

2.8.3 Bón phân

2.8.3.1 Ý nghĩa

Bón phân là biện pháp có ý nghĩa lớn đối với cây chè kiến thiết cơ bản, nó quyết định đếnkhả năng được nương chè từ giai đoạn kiến thiết cơ bản vào giai đoạn kinh doanh sản xuất.Bón phân làm tăng nhanh lượng sinh trưởng của cây, làm cơ sở cho việc hình thành bộkhu tán, tạo điều kiện cho bộ rễ phát triển tốt, tăng khả năng chống chịu với các điều kiệnngoại cảnh và sâu bệnh

2.8.3.2 Lượng bón và kỹ thuật bón

Bảng 2.2: Quy trình bón phân cho chè kiến thiết cơ bản

(Điều 17 - QT Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm)

Loại chè phân Loại Lượng phân Thời gian bón bón/năm Số lần Phương pháp bón

Hữu cơN

K2O

20tấn60kg50kg

Tháng 3 - 4tháng 8 - 9

121

Bón sâu 20-30cmtrộn đều bón nhưchè 1 tuổi Bón kalilần đầuChè hạt 3 tuổi N

K2O

70kg70kg

Tháng 3 - 4tháng 8 - 9

21

Trộn đều bón Kalilần đầuChè cành 1 tuổi N

K2O

60kg40kg

Tháng 3

và tháng 7

21

Trộn đều bón Kalilần đầuChè cành 2 tuổi

N

K2OHữu cơ

70kg75kg

20 tấn

Tháng 3 - 4

và tháng 8 - 9

211

Trộn đều bón Kalilần đầu, bón sâu20-30cm

- Các năm sau bón như chè kinh doanh

Quy trình trên là cơ sở để tính toán lượng phân bón và thời gian bón, tuy nhiên cần căn

cứ vào yếu tố sau để bón phân cho chè nhằm đạt hiệu quả cao

+ Chỉ bón phân khi nương chè sạch cỏ

+ Phải căn cứ vào thời tiết để ấn định thời gian bón, ví dụ bón khi đất ẩm, sau mưa.+ Bón phối hợp nhằm tiết kiệm công

+ Bón mỗi đợt một lô trong thời gian 1 ngày

Trang 40

2.8.4 Trồng xen cây họ đậu, cây che bóng

2.8.4.1 Tác dụng của việc trồng xen

Trong những năm đầu khi chè chưa giao tán, việc trồng xen cây họ đậu vào giữa haihàng chè có tác dụng sau đây:

* Lạc

Lạc vừa có tác dụng che phủ, cung cấp chất xanh cho chè và cung cấp củ cho người,đáp ứng được yêu cầu lấy ngắn nuôi dài Giữa hai hàng chè có thể gieo 2 hàng lạc song songvới hàng chè Có thể gieo cả hai vụ, vụ xuân tháng 2-3 và vụ thu tháng 7 Khi gieo bón 60-100kg P2O5

* Cỏ Stilo

Là loại cây có khả năng sinh trưởng trên đất đồi, là cây thân bò nên có tác dụng chephủ lớn, hạn chế được cỏ dại, chịu giẫm đạp Stilo có nhược điểm là chịu rét kém nên phảichăm sóc cẩn thận khi mới gieo hạt Thời vụ trồng: có thể trồng tháng 2-3, có thể trồng hạthoặc đoạn thân

2.8.5 Kỹ thuật đốn

2.8.5.1 Ý nghĩa

Là biện pháp kỹ thuật quan trọng trong thời kỳ quản lý, chăm sóc nương chè kiếnthiết cơ bản nhằm tạo cho cây chè có bộ khung tán vững chắc, rộng, nhiều cành, hình thùcân đối, nương chè mau khép tán có khả năng cho năng suất cao và nhiệm kỳ kinh tế dài

Căn cứ vào tiêu chuẩn sau đây để đốn chè:

- Căn cứ vào sự sinh trưởng của cây như; cao cây, độ lớn thân, cành

- Căn cứ vào tuổi cây

Ngày đăng: 22/07/2021, 08:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w