Giáo trình Phong tục tập quán và lễ hội Việt Nam gồm 4 chương nhằm cung cấp các kiến thức cơ bản về phong tục tập quán Việt Nam, tín ngưỡng dân gian Việt Nam trong đời sống tâm linh của người Việt. Mời các bạn cùng tham khảo!
PHONG TỤC TẬP QUÁN VIỆT NAM
KHÁI QUÁT VỀ PHONG TỤC TẬP QUÁN
Là toàn bộ những hoạt động sống của con người đã được hình thành trong quá trình lịch sử và ổn định thành nền nếp, được cộng đồng thừa nhận và tự giác thực hiện, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo nên tính tương đối thống nhất của cộng đồng
Phong tục là tập hợp các nghi lễ và thói quen hình thành trong đời sống con người qua nhiều thế hệ, được xem như một phần quan trọng của nếp sống cộng đồng Chúng được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và không mang tính bắt buộc, đồng thời có thể thay đổi tùy theo từng quần thể, dân tộc và tôn giáo khác nhau.
Ví dụ một số phong tục: phong tục cưới hỏi, phong tục ma chay, đặc biệt là việc xây dựng nhà cửa, xây mộ phần cho người thân,…
Là phương thức ứng xử và hành động đã định hình quen thuộc và đã thành nếp trong lối sống, trong lao động ở một cá nhân, một cộng đồng
Tập quán được hiểu là lối sống của một tập thể, tổ chức hoặc quần thể sinh vật lớn được hình thành như một thói quen trong đời sống, sản xuất, sinh hoạt được công
9 nhận và coi như một quy ước chung của tất cả mọi cá nhân sống trong tổ chức, quần thế đó
Ví dụ điển hình: tập quán di trú của các loài chim, tập quán ngủ đông của loài gấu khi mùa đông về Hoặc ở một số dân tộc có tập quán di canh di cư để tìm vùng đất mới thích hợp hơn cho việc chăn thả gia súc
Như vậy, phong tục tập quán là toàn bộ thói quen thuộc về đời sống của con người được công nhận bởi một cộng đồng, quần thể và coi đó như một nếp sống truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Tùy theo mỗi địa phương và tín ngưỡng khác nhau, phong tục tập quán ở mỗi quần thể sẽ có những sự khác biệt với nhau
Phong tục tập quán của người Việt là một nét đẹp văn hóa cần được bảo tồn và phát huy Đó không chỉ mang ý nghĩa bảo tồn những giá trị truyền thống mà còn là cách để ghi nhớ cội nguồn của dân tộc Con người Việt Nam vô cùng hãnh diện và tự hào với bạn bè quốc tế bởi những phong tục đặc biệt chỉ người Việt mới có
1.1.3 Một số phong tục điển hình của người Việt a Thờ cúng tổ tiên
Tục thờ cúng tổ tiên của người Việt ra đời từ lâu Bàn thờ tổ tiên thường đặt trang trọng trên cao hoặc giữa nhà, bao gồm di ảnh người đã mất, bình hoa tươi, đĩa trái cây Hằng năm, vào ngày tổ tiên mất, người thân sẽ tiến hành cúng, tức chuẩn bị nhiều món ăn đặt lên bàn thờ, thắp nhang
Người Việt Nam coi thờ phụng tổ tiên là một nguyên tắc đạo đức căn bản và là một phần quan trọng của đời sống tâm linh, đặc biệt ở các làng quê Việc thờ cúng thể hiện tấm lòng thành kính và đạo lý uống nước nhớ nguồn, đồng thời thể hiện sự biết ơn đối với tổ tiên, ông bà và cha mẹ đã sinh thành và dựng nên cuộc sống cho các thế hệ về sau Những nghi lễ thờ phụng tổ tiên gắn liền với các dịp như đón Tết âm lịch, nhắc nhở mỗi người về nguồn cội và trách nhiệm trân trọng gia đình tổ tiên.
Người Việt cũng chào mừng Tết dương lịch, song quan trọng nhất vẫn là Tết âm lịch Tết âm lịch hay Tết Nguyên Đán, còn gọi Tết ta, Tết Cổ truyền,… là dịp lễ quan trọng nhất trong văn hoá của người Việt Nam
Tết Nguyên Đán muộn hơn Tết Dương lịch hay Tết Tây, thường rơi vào khoảng cuối tháng 1 đến giữa tháng 2 Dương lịch và nói chung kéo dài khoảng 5- 6 ngày, tạo điều kiện cho những thành viên gia đình sinh sống làm ăn ở nơi xa có thể về quê vui cảnh đoàn viên ít ngày Ý nghĩa thiêng liêng nhất của Tết ở chỗ nó không chỉ là dịp để người Việt nhớ về cội nguồn, ông bà tổ tiên mà là dịp đoàn tụ gia đình để nghỉ ngơi, vui chơi, ăn uống chào đón năm mới, chào đón sự khởi đầu mới, rũ bỏ những gì không hay đẹp của năm qua nên mọi người đều cố gắng vui vẻ độ lượng với nhau, bỏ qua hiềm khích cũ Lòng người nào cũng tràn đầy hoài bão về hạnh phúc và thịnh vượng cho năm mới
Người Việt có rất nhiều phong tục trong dịp Tết âm lịch như tặng quà tết cho người thân quen, quét dọn nhà cửa thật sạch, trang trí nhà cửa thật đẹp, mừng tuổi trẻ em - người già, chúc Tết, đi chùa để cầu nguyện những điều may mắn… Ảnh: Phong tục gói bánh trưng và luộc bánh trưng ngày Tết c Kính già, yêu trẻ, trọng khách
Kính già, yêu trẻ, trọng khách là điểm người nước ngoài ghi nhận tại Việt Nam từ hàng trăm năm trước
Việc kính trọng người cao tuổi là một phần quan trọng của bản sắc văn hóa Việt Nam, vừa mang ý nghĩa thiêng liêng vừa sâu sắc trong đời sống cộng đồng Người Việt coi trọng người cao tuổi dựa trên niềm tin rằng họ có nhiều kinh nghiệm sống quý báu và đóng góp đáng kể cho gia đình cũng như xã hội Cụm từ "kính lão đắc thọ" gắn liền với quan niệm rằng sự tôn trọng đối với người cao tuổi sẽ đồng hành cùng sức khỏe và tuổi thọ lâu dài Vì vậy, truyền thống kính trọng người cao tuổi không chỉ là nét đẹp văn hóa mà còn là yếu tố gắn kết các thế hệ, nuôi dưỡng lòng hiếu kính và sự trách nhiệm với gia đình và xã hội.
Việc kính trọng người già trước hết phải bắt đầu ngay trong gia đình: Phải kính trọng cha mẹ - người đã sinh thành dưỡng dục con cái nên người
11 Ảnh: Phong tục Tết xưa
Có nguồn gốc từ lâu đời, được hình thành từ những thói quen lâu đời của nhân dân, dần được đa số nhân dân công nhận và lưu truyền từ đời này sang đời khác
Phong tục bao gồm cả tập tục tốt đẹp và hủ tục
Là cơ chế bên trong, nó điều khiển, điều chỉnh hành vi, lối sống của một nhóm người hay một xã hội Phong tục tập quán bị ảnh hưởng bởi các lễ giáo và tục lệ địa phương
Luôn mang tính ổn định, bền vững, nó có tính bảo thủ, nhưng có tác động tâm lý mạnh mẽ tới các thế hệ sau và tinh thần con người.
PHONG TỤC TẬP QUÁN CỔ TRUYỀN 1 Tục ăn trầu
Với người Việt Nam, trầu cau là biểu hiện của phong cách, vừa là thể hiện tình cảm dân tộc độc đáo Miếng trầu là đầu câu chuyện: với người dân Việt Nam, miếng trầu thắm têm vôi nồng cùng cau bổ tám bổ tư, vỏ chay rể quạch luôn là sự bắt đầu, sự khơi mở tình cảm
Trong đời sống hàng ngày, “miếng trầu là đầu câu chuyện”, biểu hiện mối giao cảm tâm tình của con người Trầu được dùng mời khách đến chơi nhà, làm quen với nhau nơi hội hè, đình đám Trầu cau gắn bó với người Việt đến mức nó đã trở thành lễ vật không thể thiếu trong các nghi thức tâm linh như: lễ tế trời đất, lễ Phật, lễ thánh, thần, lễ gia tiên, lễ cưới…
Miếng trầu làm người gần gũi và cởi mở với nhau hơn; đối với thanh niên xưa, nó là cội nguồn để bắt đầu tình yêu, để vào hội làng, hội nước Đồng thời, miếng trầu còn là biểu tượng cho tình yêu đôi lứa: miếng trầu đi đầu, tác hợp cho lứa đôi và là sợi dây kết chặt mối lương duyên trai gái thành vợ thành chồng Sự tích trầu cau là truyện cổ tích Việt Nam kể về tục ăn trầu của người Việt, ca ngợi tình nghĩa thủy chung, tình cảm anh em thuận hòa, và vợ chồng tiết nghĩa qua hàng ngàn năm.
12 Ảnh: Trầu cau trong văn hoá người Việt
Trầu cau là lễ vật không thể thiếu trong các nghi lễ cúng lễ và ngày giỗ, giúp tăng thêm sự trang trọng khi tưởng nhớ tổ tiên Dân gian có câu “Sửa cơi trầu, đĩa hoa dâng cụ” để nhắc nhở lớp trẻ biết ghi nhớ công ơn nuôi nấng sinh thành của bậc tiền nhân Vào dịp Tết, trầu cau không chỉ là lễ vật mà còn là món quà tặng ý nghĩa, thể hiện sự tri ân và gắn kết giữa các thế hệ trong gia đình và cộng đồng.
Miếng trầu tuy giản dị nhưng chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu sắc trong đời sống văn hóa Việt Nam, trở thành biểu tượng của sự hiếu khách và giao tiếp xã hội Để làm ra một miếng trầu ngon, bộ dụng cụ ăn trầu đóng vai trò thiết yếu, và sự cầu kỳ trong cách chọn lá trầu, quả cau, vôi cùng cách sắp xếp thể hiện sự tỉ mỉ và tinh tế của người Việt Quy trình chuẩn bị và trình bày miếng trầu còn làm phong phú thêm các nghi lễ truyền thống, gắn kết các thế hệ và tồn tại lâu dài trong văn hóa ăn uống Việt Nam.
Các dụng cụ ăn trầu gồm cơi trầu, dao bổ cau, âu trầu, bình vôi, chìa vôi, ống vôi, khăn và túi đựng trầu; người giàu còn có tráp trầu và khay trầu sơn màu khảm trai rất đẹp Những vật dụng này giờ đây được xem như di sản của một phong tục tập quán tốt đẹp và được lưu giữ mãi trong mỗi người Việt Trầu cau gắn liền với sinh hoạt nông thôn lâu đời và được dùng để tiếp khách hàng ngày, bên cạnh bát chè xanh và như điếu thuốc lào.
Cho tới ngày nay, tuy tục ăn trầu và mời trầu ít phổ biến như xưa nhưng lá trầu vẫn mang một ý nghĩa sâu xa, mang một ý nghĩa nhất định trên nhiều lĩnh vực như y học, tâm lý xã hội, bản sắc truyền thống dân tộc Tục ăn trầu còn gắn với phong tục nhuộm răng đen để có những má hồng - răng đen tiêu biểu của cái đẹp con gái thuở nào
Lấy chồng cho đáng tấm chồng,
Bỏ công trang điểm má hồng răng đen…
Một thương tóc bỏ đuôi gà Hai thương ăn nói mặn mà có duyên
Ba thương má lúm đồng tiền
Bốn thương răng nhánh hột huyền kém thua… Ảnh: Thiếu nữ răng đen trước năm 1930 và phụ nữ dân tộc Lự nhuôm răng đen
Tục nhuộm răng là tục cổ xưa của dân tộc Việt, có từ thời các vua Hùng với tục ăn trầu Sứ thần của nước Văn Lang (Giao Chỉ) trả lời vua nhà Chu (Trung Quốc) về tục ăn trầu: “Chúng tôi có tục ăn trầu để khử mùi ô uế và nhuộm cho răng đen”
Nhuộm răng là một trong những phong tục xưa của nhiều dân tộc ở Đông Á, như Việt Nam, Nhật Bản, Malaysia và miền Nam Trung Quốc
Ở Việt Nam, ngoài người Kinh, các dân tộc Thái, Si La, Tày và Dao vẫn duy trì tục nhuộm răng; mỗi vùng miền và từng dân tộc đều có cách nhuộm răng riêng về ý nghĩa, thẩm mỹ, sức khỏe và vật liệu được sử dụng trong quá trình nhuộm.
Cho đến giữa thế kỷ XX, nam nữ người Việt còn nhuộm răng đen bằng bột nhựa cánh kiến Người Thái, Kháng, Lào, Lự đốt cành cây may cu, may tửu hay may me cho nhựa chảy xuống một mảnh kim loại hoặc ống tre, thêm một ít nước rồi mài đều tạo độ dính để nhuộm răng Buổi tối trước khi đi ngủ, người ta làm sạch răng, rồi dùng tay quệt nhựa bôi vào răng 3-4 lần Cách 2 - 3 ngày họ nhuộm lại cho răng đen bóng Trước kia, răng đen là một tiêu chuẩn về vẻ đẹp của phụ nữ; các cô gái 12-13 tuổi đã bắt đầu nhuộm răng Ngày nay, chỉ những người cao tuổi mới còn có răng đen
Tục cưới hỏi là một tập quán lâu đời, được gọi bằng nhiều tên như đám cưới, giá thú, lễ thọ mai, vu quy hay hôn lễ Đây không chỉ là hoạt động hai bên gia đình kết thông gia mà còn là ngày vui của cả gia đình và họ hàng Việc tổ chức cưới hỏi thể hiện sự gắn kết giữa hai thế hệ và phản ánh tình cảm giữa cô dâu và chú rể, đồng thời làm nền tảng cho sự liên kết và tồn tại của gia đình Tục cưới hỏi mang ý nghĩa duy trì nòi giống và sự bền vững của gia đình, đồng thời bảo tồn và lan tỏa các giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng.
- Lễ vật: đối với từng lễ của tục cưới hỏi thì số lượng và thành phần lễ vật khác nhau Tuy nhiên lễ vật chủ yếu là: trầu cau, xôi thịt, gà, rượu, chè thuốc và tiền
- Thời điểm: vào những ngày lành tháng tốt, hợp tuổi với đôi trẻ mà gia đình hai bên đã chọn, chủ yếu là mùa xuân
- Thành phần: Gia đình hai bên họ hàng, cô dâu - chú rể, quan khách, chủ hôn, có thể có người mai mối
- Các nghi lễ: Tục cưới hỏi truyền thống gồm có 8 lễ: lễ dạm ngõ, lễ vấn danh, lễ ăn hỏi, lễ rước dâu, lễ xin dâu, lễ đón dâu, lễ hợp cẩn, lễ lại mặt Tuy nhiên, ngày nay tục cưới hỏi được rút gọn thành 3 lễ chính: Lễ dạm ngõ, lễ ăn hỏi và lễ cưới Một số nơi vẫn còn thực hiện lễ lại mặt
Lễ dạm ngõ (chạm ngõ) là phong tục mà nhà trai mang lễ vật sang nhà gái để hỏi ý và thỏa thuận với nhà gái về việc kết tóc se duyên cho đôi trẻ Đây là bước đầu của quá trình hôn nhân, thể hiện sự kính trọng và hợp tác giữa hai gia đình, đồng thời xác lập những điều kiện, nghi thức và thời gian tổ chức lễ cưới Qua lễ dạm ngõ, hai bên cùng thống nhất hướng đi cho cuộc sống chung của đôi trẻ và mở đường cho các bước tiến gần hơn tới hôn nhân.
Lễ ăn hỏi là nghi thức diễn ra sau lễ dạm ngỏ, có tính chất chính thức nhằm thông báo với hàng xóm và toàn thể cộng đồng rằng cô gái đã có nơi có chốn, hai bên gia đình đã thống nhất chọn ngày lành tháng tốt để tiến hành hôn lễ.
TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN VIỆT NAM
KHÁI QUÁT VỀ TÍN NGƯỠNG
Nói về tín ngưỡng, từ điển tiếng Việt định nghĩa tín ngưỡng là lòng tin và sự tôn thờ một tôn giáo (Nguyễn Như Ý, chủ biên, 2004: 1646) Điều này cho thấy tín ngưỡng chỉ tồn tại và thể hiện trong khuôn khổ của một tôn giáo duy nhất.
Theo giải thích của Đào Duy Anh, tín ngưỡng là: “lòng ngưỡng mộ, mê tín đối với một tôn giáo hoặc một chủ nghĩa” [Đào Duy Anh 1957: 283] ;
Ngô Đức Thịnh: “Tín ngưỡng được hiểu là niềm tin của con người vào cái gì đó thiêng liêng, cao cả, siêu nhiên, hay nói gọn lại là niềm tin, ngưỡng vọng vào “cái thiêng”, đối lập với cái trần tục, hiện hữu mà ta có thể sờ mó, quan sát được Có nhiều loại niềm tin, nhưng ở đây là niềm tin của tín ngưỡng là niềm tin vào “cái thiêng” Do vậy, niềm tin vào cái thiêng thuộc về bản chất của con người, nó là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con người, cũng như giống đời sống vật chất, đời sống xã hội tinh thần, tư tưởng, đời sống tình cảm ” [Ngô Đức Thịnh 2001: 16 ]
Trần Ngọc Thêm cho rằng, tín ngưỡng được đặt trong văn hóa tổ chức đời sống cá nhân: “Tổ chức đời sống cá nhân là bộ phận thứ hai trong văn hóa tổ chức cộng đồng Đời sống mỗi cá nhân trong cộng đồng được tổ chức theo những tập tục được lan truyền từ đời này sang đời khác (phong tục)
Trong xã hội có trình độ hiểu biết còn thấp, người dân tin tưởng và ngưỡng mộ các thần thánh do chính họ tưởng tượng ra, tức là tín ngưỡng Tín ngưỡng là một hình thức tổ chức đời sống cá nhân rất quan trọng, vừa là niềm tin vừa là khuôn khổ xã hội Từ sự tự phát đến sự tự giác, tín ngưỡng được quy phạm hóa thành giáo lý, có giáo chủ, thánh đường, và từ đó tín ngưỡng có thể tiến hóa thành tôn giáo Ở xã hội Việt Nam cổ truyền, các tín ngưỡng dân gian vẫn chưa chuyển hóa hoàn chỉnh thành tôn giáo theo đúng nghĩa, chỉ còn lại những mầm mống của các tôn giáo như vậy.
- đó là Ông Bà, đạo Mẫu Phải đợi khi các tôn giáo thế giới như Phật, Đạo, Kitô giáo… đã được du nhập và đến thời điểm giao lưu với phương Tây, các tôn giáo dân tộc như: Cao Đài, Hòa Hảo mới xuất hiện” [Trần Ngọc Thêm 1997: 262]
Tín ngưỡng: là hệ thống những niềm tin và cách thức biểu lộ đức tin của con người đối với những hiện tượng tự nhiên hay xã hội; nhân vật lịch sử hay huyền thoại có liên quan đến cuộc sống của họ nhằm cầu mong sự che chở, giúp đỡ từ những đối tượng siêu hình mà người ta thờ phụng
Do Việt Nam nằm ở trung tâm khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa, thiên nhiên tương đối phong phú, đa dạng, người Việt sống chủ yếu dựa vào việc khai thác tự nhiên Vì vậy, việc thờ cúng các vị thần tự nhiên (nhiên thần) đã sớm gần gũi với họ Địa hình Việt Nam là ngã ba đường nơi giao lưu của nhiều tộc người, của nhiều luồng văn minh nên Việt Nam trở thành một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng Tính đa thần ấy không chỉ biểu hiện ở số lượng lớn các vị thần mà điều đáng nói là, các vị thần ấy cùng đồng hành trong tâm thức một người Việt Điều đó dẫn đến một đặc điểm của đời sống tín ngưỡng - tôn giáo của người Việt đó là tính hỗn dung tôn giáo
Trước sự du nhập của các tôn giáo ngoại lai, người Việt không tiếp nhận một cách thụ động mà luôn có sự cải biến cho gần gũi với tư tưởng, tôn giáo bản địa Tôn giáo là để phục vụ nhu cầu cần thiết, trực tiếp của con người trong cuộc sống
Ở nước ta, các tôn giáo vẫn tiếp tục phát triển song song với tín ngưỡng dân gian, và tín ngưỡng dân gian giữ vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân Sự cân bằng này góp phần hình thành bản sắc văn hóa Việt Nam và bảo tồn các giá trị truyền thống của cộng đồng.
Chia thành 4 nhóm tín ngưỡng dân gian chính:
Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên
Tín ngưỡng thờ cúng con người
Tín ngưỡng thờ cúng thần linh
MỘT SỐ TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN VIỆT NAM
2.1.1.Ý nghĩa, nguồn gốc, tên gọi
Tín ngưỡng phồn thực ở Việt Nam nhằm duy trì và phát triển sự sống thông qua hai hình thức thể hiện chính: thờ cơ quan sinh dục của cả nam lẫn nữ (như linga và yoni) và thờ hành vi giao phối Khác với một số nền văn hóa như Ấn Độ, ở Việt Nam các nghi lễ phồn thực biểu lộ sự đa dạng, không chỉ tập trung vào một loại sinh dục mà còn nhấn mạnh vai trò của hành vi giao phối trong nghi lễ Những hình thức thờ cúng này phản ánh mối liên hệ giữa sinh sản và đời sống tôn giáo, đồng thời cho thấy cách thức người xưa Việt Nam nhìn nhận sự sống, sinh tồn và tái sinh thông qua các biểu tượng sinh dục và hành vi.
Nguồn gốc và tên gọi: Tín ngưỡng phồn thực dựa trên quy luật khoa học để lý giải hiện thực và xây dựng triết lý âm dương, còn những trí tuệ bình dân thì xây dựng tín ngưỡng phồn thực (phồn nghĩa là nhiều, thực nghĩa là nảy nở)
2.1.2.Biểu tượng thờ cúng a.Thờ cơ quan sinh thực khí
Thờ sinh thực khí là hình thức đơn giản của tín ngưỡng phồn thực, thể hiện qua việc tôn vinh các biểu tượng sinh đẻ và nảy nở như công cụ sinh sản Nó phổ biến ở hầu hết các nền văn hóa nông nghiệp trên thế giới Trong khi nhiều nền văn hóa khác chỉ thờ sinh thực khí nam, tín ngưỡng phồn thực tại Việt Nam được đặc trưng bởi sự thờ phụng cả sinh thực khí của nam lẫn nữ.
Việc thờ sinh thực khí được tìm thấy ở trên các cột đá có niên đại hàng ngàn năm trước công nguyên Ngoài ra, nó còn được đưa vào các lễ hội, lễ hội ở làng Đồng
Kỵ (Bắc Ninh) có tục rước cặp sinh thực khí bằng gỗ vào ngày mùng 6 tháng giêng, sau đó chúng được đốt đi, lấy tro than chia cho mọi người để lấy may b Thờ hành vi giao phối
Là một đặc điểm thể hiện việc chú trọng đến các mối quan hệ của văn hóa nông nghiệp, nó đặc biệt phổ biến ở vùng Đông Nam Á
Ví dụ như các hình nam nữ đang giao hòa được khắc trên mặt trống đồng tìm được ở làng Đào Thịnh (Yên Bái), có niên đại 500 trước công nguyên
Ngoài hình tượng người, cả các loài động vật như cá sấu, gà, cóc, cũng được khắc trên mặt trống đồng Hoàng Hạ (Hòa Bình)
Trong dịp hội đền Hùng, vùng đất tổ lưu truyền điệu múa cổ xưa mang tên 'tùng dí' Nghi lễ nổi bật với hình ảnh thanh niên nam nữ cầm trên tay các vật biểu trưng cho sinh thực khí nam và nữ, thể hiện sự giao hòa giữa hai giới và bản sắc văn hóa độc đáo của vùng đất thiêng, đồng thời tạo nên một điểm nhấn đặc sắc cho lễ hội đền Hùng mỗi năm.
Phong tục "giã cối đón dâu" cũng là một biểu hiện cho tín ngưỡng phồn thực, chày và cối là biểu tượng cho sinh thực khí nam và nữ
Ngoài ra một số nơi còn vừa giã cối (rỗng) vừa hát giao duyên
* Trống đồng - biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực
Vai trò của tín ngưỡng phồn thực lớn tới mức ngay cả chiếc trống đồng, một biểu tượng sức mạnh của quyền lực, cũng là biểu tượng toàn diện của tín ngưỡng phồn thực: Hình dáng của trống đồng phát triển từ cối giã gạo; cách đánh trống theo lối cầm chày dài mà đâm lên mặt trống mô phỏng động tác giã gạo; tâm mặt trống là hình Mặt Trời biểu trưng cho sinh thực khí nam, xung quanh là hình lá có khe rãnh ở giữa biểu trưng cho sinh thực khí nữ; xung quanh mặt trống đồng có gắn tượng cóc, một biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực
2.2 Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên
Do là một đất nước nông nghiệp, điều đặc biệt của tín ngưỡng Việt Nam là một tín ngưỡng đa thần và âm tính (trọng tình cảm, trọng nữ giới) Có giả thuyết cho rằng: đó là do ảnh hưởng của chế độ mẫu hệ thời xưa tại Việt Nam Các vị thần ở Việt Nam chủ yếu là nữ giới, do ảnh hưởng của tín ngưỡng phồn thực như đã nói ở trên nên các vị thần đó không phải là các cô gái trẻ đẹp như trong một số tôn giáo, tín ngưỡng khác mà là các bà mẹ, các Mẫu
2.3.2 Biểu tượng thờ cúng a Thờ Tam phủ, Tứ phủ
Tam phủ là danh từ để chỉ ba vị thánh thần: Bà Trời (hay Mẫu Thượng Thiên), Bà Chúa Thượng (hay Mẫu Thượng Ngàn), Bà Nước (hay Mẫu Thoải)
Tứ phủ gồm ba vị Mẫu trên cộng thêm Mẫu Địa phủ Các Mẫu cai quản những lĩnh vực quan trọng nhất của một xã hội nông nghiệp
Về sau do ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa nên có thêm Ngọc Hoàng,Thổ Công và Hà Bá
Thần Mặt Trời là vị thần quan trọng nhất, có mặt trên tất cả các trống đồng b Tứ pháp
Tứ pháp là danh từ để chỉ các bà thần Mây – Mưa - Sấm - Chớp, đại diện cho các hiện tượng tự nhiên có vai trò quan trọng trong xã hội nông nghiệp
Sau này khi Phật giáo vào Việt Nam, nhóm các nữ thần này được biến thành Tứ pháp theo truyền thuyết về Phật Mẫu Man Nương Tứ pháp gồm bốn hình tượng hộ pháp mang ý nghĩa bảo trợ tâm linh và sự giao thoa giữa tín ngưỡng dân gian với giáo lý Phật giáo, thể hiện vai trò của Phật Mẫu trong đời sống tín ngưỡng của người Việt.
- Pháp Vân (thần mây) thờ ở chùa Bà Dâu
- Pháp Vũ (thần mưa) thờ ở chùa Bà Đậu
- Pháp Lôi (thần sấm) thờ ở chùa Bà Tướng
- Pháp Điện (thần chớp) thờ ở chùa Bà Dàn Ảnh hưởng của Tứ Pháp ở Việt Nam rất lớn, nhiều lần triều đình nhà Lý phải rước tượng Pháp Vân về Thăng Long để cầu mưa… c Thờ động vật và thực vật
Các con vật đó gần gũi với cuộc sống của người dân của một xã hội nông nghiệp như: Cóc, rùa, trâu, bò…Người dân còn đẩy các con vật lên thành mức biểu trưng như Tiên, Rồng…
Theo truyền thuyết, thì tổ tiên người Việt thuộc "họ Hồng Bàng" (có nghĩa là một loài chim nước lớn), thuộc giống "Rồng Tiên" Con rồng lần đầu tiên xuất hiện ở vùng Nam Á, sau đó mới được phổ biến ở Trung Quốc rồi đến các nước phương Tây Có rất nhiều địa danh Việt Nam có tên liên quan đến rồng như Thăng Long, Hàm Rồng,
Thực vật được tôn sùng nhất là cây lúa, có thần Lúa, hồn Lúa, mẹ Lúa, Đôi khi ta thấy còn thờ thần cây Đa, cây Cau,
2.3 Tín ngưỡng sùng bái con người
Tỏ lòng biết ơn, ghi nhớ, nhắc nhở công lao của người có công với đất nước, làng xã, nghề nghiệp
2.3.2.Biểu tượng thờ cúng a Hồn và vía
Người Việt cho rằng người có ba hồn, nam có bảy vía và nữ có chín vía
Ba hồn gồm: Tinh (sự tinh anh trong nhận thức), Khí (năng lượng làm cho cơ thể hoạt động) và Thần (thần thái của sự sống)
Bảy vía ở đàn ông cai quản hai tai, hai mắt, hai lỗ mũi và miệng
Chín vía ở nữ giới được cho là cai quản bảy thứ như ở nam giới và thêm hai vía nữa, một quan niệm phổ biến trong y học cổ truyền Việt Nam Hai vía này có nhiều cách giải thích khác nhau, trong đó một cách cho rằng chúng có liên quan tới núm vú và vai trò của nó trong nuôi con Tuy nhiên, vẫn có những cách giải thích khác, và người Việt thường diễn đạt quan niệm này bằng những câu nói dân gian quen thuộc để truyền đạt sự khác biệt giữa giới và chức năng của cơ thể.
28 nam có "ba hồn bảy vía" còn nữ có "ba hồn chín vía", cũng là từ các quan niệm trên mà ra
Hồn và vía dùng thể xác làm nơi trú ngụ, trường hợp hôn mê ở các mức độ khác nhau được giải thích là vía và hồn rời bỏ thể xác ở các mức độ khác nhau
LỄ HỘI VIỆT NAM
KHÁI QUÁT VỀ LỄ HỘI Khái niệm lễ hội
Lễ hội là một bộ phận của phong tục và tập quán, phản ánh hệ thống các nghi lễ và thói quen sinh hoạt của cộng đồng được hình thành và ăn sâu vào đời sống xã hội, được mọi người công nhận và thực hành Phong tục tập quán gắn với đạo lý uống nước nhớ nguồn là nguồn gốc hình thành và phát triển của Lễ hội.
Trong các lễ hội, con người tham gia say mê và nhiệt tình vào các hoạt động như trò chơi và văn nghệ, thể hiện tinh thần cộng đồng mạnh mẽ Các trò chơi ở phần Hội phản ánh hiện thực và khát vọng của cư dân nông nghiệp lúa nước, được thể hiện qua tài năng, trí tuệ và tâm hồn tinh tế, nhạy cảm của họ, tạo thành một kho tàng trò chơi dân gian phong phú hình thành từ chính truyền thống địa phương Lễ hội mang ý nghĩa cộng đồng và sự đồng cảm sâu sắc, kết nối mọi người với nhau và với những giá trị văn hóa quý báu của nơi sinh sống.
Như vậy, Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng; diễn ra trên một địa bàn dân cư; trong một giới hạn không gian và thời gian nhất định, nhằm nhắc lại một sự kiện nhân vật lịch sử hay huyền thoại, đồng thời để biểu hiện cách ứng xử văn hóa của con người với thiên nhiên, với thần thánh và với con người trong xã hội…
Lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hóa tập thể của nhân dân diễn ra vào những thời điểm cố định trong năm để kỉ niệm một sự kiện lịch sử - chính trị, văn hóa, tôn giáo của cộng đồng
1.2 Mục đích, ý nghĩa của lễ hội
Lễ hội có nhiều tình chất: như tính thời gian, tính địa phương, tính hình thức (đóng mở chặt chẽ, diễn xướng dân gian)
Về nội dung lễ hội mang tính chất tưởng niệm, tính cộng đồng (quần thể), tính tập trung triệt để và phổ quát rộng rãi, tính hoành tráng
Bản thân giữa Lễ và Hội trong một Lễ hội cũng có tính đối ứng (thiêng - thực, động -tĩnh, đạo - đời…)
Ngoài các nghi thức chặt chẽ thì Lễ hội cũng còn mang tính đặc biệt ở chỗ hệ thống trò chơi dân gian đặc sắc, đa dạng (gắn với trí tuệ, sức mạnh, giải trí, tài ăn nói, nghề nghiệp), các trò diễn dân gian…
Lễ hội là một kho lịch sử phong phú và đa dạng, nơi tích tụ các yếu tố văn hóa về phong tục, tín ngưỡng, nghệ thuật và các sự kiện lịch sử Với sức sống mạnh mẽ, lễ hội thuyết phục và hun đúc lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc, mở ra hiểu biết sâu sắc về bản sắc và truyền thống địa phương Khi bóc tách lễ hội, ta nhận thấy lớp văn hóa sống động được trầm tích và lưu giữ xuyên suốt chiều dài lịch sử.
- Dân chủ: Lễ hội xuất hiện từ khi xã hội chưa có giai cấp và tiếp tục tồn tại trong xã hội văn minh Trong lễ hội, tất cả mọi người đều được tham gia không phân biệt giai cấp, đẳng cấp, mà bản chất lễ hội vốn dĩ là vậy Tất cả được vui chơi, ăn uống, làm chủ, những khát vọng ngày thường bị hạn chế trong lễ hội được thực hiện
Nhân bản là động lực cốt lõi của lễ hội, nơi không khí trang nghiêm và hồ hởi kích thích mọi tài năng và năng khiếu, đồng thời thắp lên ý chí vươn lên sự hoàn thiện và sự hài hòa của vẻ đẹp toàn mỹ Lễ hội lan tỏa niềm phấn khởi, khơi dậy niềm tin vào khả năng của mỗi người và thúc đẩy sáng tạo, rèn luyện không ngừng Nhờ đó, cộng đồng được gắn kết và động lực tiến bộ được lan tỏa rộng rãi, biến những khoảnh khắc lễ hội thành nguồn cảm hứng cho sự phát triển cá nhân và xã hội.
“vui như hội” là ước mơ, khát vọng tốt đẹp của nhân dân, ý chí cá nhân
Thẩm mỹ trong nghệ thuật Việt Nam thể hiện qua các loại hình phong phú như tạo hình dân gian và nghệ thuật biểu diễn dân gian, trong đó rối nước là hình thức đặc sắc góp phần làm giàu di sản văn hóa Sự sáng tạo nghệ thuật đã cho ra đời những giá trị mới đầy chất thẩm mỹ, mang tính đột phá và đa chiều Lễ hội truyền thống đóng vai trò then chốt trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa địa phương, đồng thời chống sự đồng hóa về mặt văn hóa, đặc biệt là thời kỳ Bắc thuộc, từ đó góp phần tăng cường sức mạnh của dân tộc và bảo vệ độc lập.
Lễ hội cuốn hút tất cả mọi người tham gia và gắn kết họ lại với nhau trong niềm cộng cảm, tự hào về thôn quê, làng xóm, đất nước; chia sẻ cho nhau những câu chuyện thường ngày… Con người đến với lễ hội sống trong một không gian và thời gian khác hơn so với bình thường - có gì đó huyền ảo… Khi cầu nguyện họ dường như ở bên nhau cùng cầu mong cho mọi sự tốt đẹp, bỏ qua những vặt vãnh thường ngày Lễ hội có ý nghĩa dân chủ, nhân bản và đề cao giá trị thẩm mỹ sâu sắc
1.3 Cấu trúc của Lễ hội
Là loại hình văn hóa tổng hợp, là kiểu sinh hoạt của nhân dân sau một thời gian lao động mệt nhọc cũng là dịp để con người cùng hướng về một sự kiện trọng đại, ngưỡng mộ tổ tiên, ôn lại truyền thống hay để giải quyết những lo âu, khát khao, ước vọng mà thực tại chưa đạt được
Lễ hội gồm hai phần: phần lễ và phần hội
Lễ là những nghi thức được tiến hành nhằm đánh dấu hoặc kỷ niệm một sự kiện có ý nghĩa nào đó Hội là dịp để vui chơi tổ chức cho đông đảo người dân tham gia, theo phong tục hoặc dịp đặc biệt
Phần lễ trong lễ hội thể hiện sự cầu xin và ước vọng về mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cuộc sống yên bình và hạnh phúc Trong lễ hội, đời sống văn hóa được nâng lên trình độ cao
Quy mô lễ hội khác nhau (thời gian và không gian)
Có tính tập thể cao, ít phân biệt tuổi tác, ngành nghề, giới tính, tôn giáo…
Lễ hội ở Việt Nam tồn tại đa dạng, phong phú dưới nhiều hình thức, nghi thức khắp ba miền đất nước Ước tính ở Việt Nam có đến gần 8000 lễ hội được tổ chức hằng năm
* Đối với Lễ hội truyền thống của Việt Nam
Thời điểm diễn ra lễ hội tập trung chủ yếu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau
Mỗi địa phương tổ chức theo một phong cách, sắc thái riêng
2.CÁC LOẠI HÌNH LỄ HỘI
Lễ hội là một tổ hợp vật chất, tinh thần, tái hiện quá khứ, mô tả hiện tại và thể hiện khát vọng tương lai Nó chính là bảo tàng sống về các mặt sinh hoạt và các giá trị tinh thần dân tộc Có nhiều tiêu chí để phân loại lễ hội Việt: như phân theo mùa, phân theo lãnh thổ, phân theo tôn giáo, tín ngưỡng, hoặc tính chất (nghề nghiệp, nhân vật trung tâm, cuộc sống trong quan hệ với tự nhiên, cuộc sống trong quan hệ với xã hội)
Hiện nay, cả nước có 7.966 lễ hội, trong đó 7.039 lễ hội dân gian chiếm 88,36%,
332 lễ hội lịch sử chiếm 4,16 %, 554 lễ hội tôn giáo chiếm 6,28 %, 10 lễ hội du nhập từ bên ngoài vào đất nước chiếm 0,12%, còn lại là các lễ hội khác chiếm 0,5%