Các tộc người thiểu số và hoạt động giao thương xuôi ngược miền trung.
Trang 1CÁC TỘC NGƯỜI THIỂU SỐ VÀ HOẠT ĐỘNG GIAO THƯƠNG XUÔI - NGƯỢC Ở MIỀN TRUNG (Kết quả khảo sát ở Quảng Trị, Thừa Thiên và Quảng Nam)
- Lê Anh Tuấn
1 Đặt vấn đề
1.1 Quan hệ xuôi ngược ở miền Trung đã có từ lâu trong lịch sử, đã đi vào đời sống, được tổng kết thành các cặp đối ứng đặc trưng giữa miền ngược và miền
xuôi: lâm sản/hải sản, măng le/cá chuồn, muối biển/mật ong v.v , được phản ánh
trong câu ca dao phổ biến trên địa bàn các tỉnh miền Trung:
"Ai về nhắn với nậu nguồn Măng le gùi xuống, cá chuồn gửi lên"
1.2 Những yếu tố tự nhiên và lịch sử tạo nên mối quan hệ đặc trưng:
Núi cao phía tây và biển rộng phía đông không có sự gián cách về địa hình vốn rất hẹp ở miền Trung Nếu đồng bằng chỉ là những dải đất hẹp sát chân núi, thì vùng thượng ngàn lại được sự ưu đãi của thiên nhiên với nguồn sản vật quý giá và phong phú
Địa hình bị cắt xẻ mạnh, tạo nên hệ thống sông ngòi chằng chịt, theo hướng tây - đông, ra biển, là điều kiện thuận lợi về giao thông thuỷ lộ
Điều kiện tự nhiên cùng với cái nhìn cố hữu về nông nghiệp lúa nước đã chi phối mạnh mẽ đến các hoạt động kinh tế của người Việt so với các cộng đồng cư dân tiền trú, vốn có hoạt động nội thương dọc tuyến đông - tây hay các thương vụ xuất nhập khẩu ở các cảng biển phát triển Trong lịch sử, sự hùng cứ của các tiểu quốc thời Champa (Mandala), với sự hiện hữu của các công trình kiến trúc tôn giáo quy mô; sự hoạt động sầm uất của cảng thị Thị Nại (Bình Định), Hội An (Quảng
Trang 2Nam), Thanh Hà, Tư Hiền (Huế), Cửa Tùng, Cửa Việt1, Mai Xá (Quảng Trị), Cửa Roòn, Gianh, Lý Hoà, Nhật Lệ (Quảng Bình)v.v (Trần Quốc Vượng, 1999: 329), cho phép chúng ta nghĩ về một thời kỳ giao thương nhộn nhịp giữa các thương lái
ven duyên với vùng thượng nguồn, trong và ngoài nước thông qua các "hệ thống
trao đổi ven sông", với những thăng trầm qua các thời kỳ
1.3 Hoạt động kinh tế là một nhân tố dựng nên bức tranh tộc người nơi đây
Học giả Marcel Mauss, trong tác phẩm “The Gilf, The Form and Reason for
Exchange in Archaic Societies” cho rằng, trao đổi hàng hoá giữa các tộc người có
vai trò rất quan trọng, không chỉ vì mục đích kinh tế, góp phần ổn định xã hội mà còn tạo nên những mối giao lưu về văn hoá (Marcel Mauss, 1990) Một nghiên cứu về người Katu cho rằng:
"Những trao đổi của người Katu và người Kinh, ngoài mối quan hệ về mặt kinh tế, còn tạo ra một loạt các hệ quả tất yếu về mặt xã hội, văn hoá, mà trên một địa hình hẹp, đã tạo nên nhiều biểu hiện sinh động trong mối quan hệ tộc người, cũng như hình thành những dữ liệu quan trọng làm nên những đặc trưng văn hoá của miền Trung Việt Nam trên nhiều khía cạnh" (Trần Đức Sáng, 2004: 287)
1.4 Bài viết này nhằm làm rõ hơn mối quan hệ xuôi ngược trong lịch sử từ hoạt động giao thương, tạo nên bộ mặt của vùng đất, đồng thời khẳng định một chỉnh thể không tách rời Đông - Tây/Xuôi - Ngược/Kinh - Thượng, ở dải đất này trong lịch sử hình thành và phát triển
2 Những gợi ý từ điều kiện tự nhiên
2.1 Có thể nói, đặc điểm tự nhiên nổi trội, đặc trưng nhất ở đây là sự trải dài
của các dãy núi từ vùng cực tây ra tận biển Đông, "đổ theo hướng tây bắc - đông
nam", tạo thành bức tường - những ranh giới có tính rào chắn tự nhiên, đồng thời
tạo nên vô số dòng chảy Do vậy, sự hiểm trở của núi non, một hệ thống sông, suối, khe chằng chịt luôn được nhấn mạnh khi nhắc đến vùng đất này
1 Cảng Cửa Việt dưới thời chúa Nguyễn trở nên phồn thịnh, nhộn nhịp Có năm đón 42 thương tàu thuyền đến từ Champa, Cambodia, Philippine, Malaysia, Trung Quốc, Nhật Bản, Bồ Đào Nha (Thành Thế Vỹ, 1961: 43)
Trang 3Tuy nhiên:
"Nếu thượng nguồn, dòng chảy của các con sông rất hung hãn thì ở vùng hạ lưu đột nhiên dịu đi, lòng sông như rộng ra, sỏi và cát uể oải trườn thành những bãi dài ven bờ sông như mệt nhọc vì cuộc đi đầy những biến cố Mặc dù, đồi trước núi chưa cho phép chúng ta nghĩ rằng đấy đã là đồng bằng nhưng cảnh quan đã thay đổi, làng mạc đã xuất hiện" (Lê Bá Thảo, 2002: 156)
Ở đó, dọc theo các con sông, nơi giao với đường bộ, đã hình thành nên các điểm tập trung/bến sông/chợ phiên/chợ, nơi những bè gỗ từ trên ngược trôi về 2.2 Đặc điểm tự nhiên này đã tạo nên sự thoáng mở theo trục đông - tây, tiền đề
cho một mối quan hệ, giao lưu xuôi - ngược mạnh mẽ, mà "hoạt động kinh tế là một
trong những nhân tố dựng nên bức tranh tộc người nơi đây với nhiều đặc trưng đáng lưu ý" (Nguyễn Hữu Thông [cb], 2004: 29)
Quan sát trên bản đồ địa hình, điều dễ nhận thấy ở đây chính là hệ thống sông ngòi chằng chịt, nhưng, lại như được sắp xếp một cách có dụng ý của tạo hoá cho con người Sự vội vã của các dòng chảy trên địa hình hẹp và dốc đã tạo ra hệ thống thuỷ lộ liên hoàn: sông Hương, sông Bồ, Ô Lâu (Thừa Thiên); sông Đakrông, sông Hiếu, Thạch Hãn (Quảng Trị); đặc biệt, hệ thống sông Thu Bồn, Vu Gia, sông Tranh, sông Côn, Đắc Mi, sông Bung, sông Lăng, A vương v.v , với các phụ lưu, tạo thành một hệ thương lộ dàn trải, kết nối nhiều nhánh ở vùng tây Quảng Nam Dòng chảy cắt xẻ địa hình miền Trung là phổ biến, nhưng hiện tượng mọi dòng sông gần như tập trung về một đầu mối để đổ ra biển như ở Quảng Nam thì không phải nơi đâu cũng có Hệ thống sông ngòi và thác nguồn ở đây như những dạng thuỷ lộ hay mở ra cho con người những định vị, làm nên hệ thống đường mòn, nối kết núi và biển, sơn lâm và đồng bằng, Kinh và Thượng, Trường Sơn và Tây Nguyên, miền Trung và khu vực, Việt Nam và các quốc gia lân cận
2.3 Đặc điểm tự nhiên vùng đất cũng được phản ánh qua sự khu trú và tương đối tập trung của từng nhóm tộc người hay tộc người trên Trường Sơn, phân định theo trục bắc - nam: các nhóm Chứt ở tây bắc Quảng Bình; các nhóm Bru ở vùng tiếp giáp giữa tây nam Quảng Bình và tây bắc Quảng Trị; các nhóm Pacoh - Tà Ôi
Trang 4ở vùng tiếp giáp giữa tây nam Quảng Trị và tây bắc Thừa Thiên; nhóm Katu vùng tây nam Thừa Thiên và tây bắc Quảng Nam Trên mặt bằng đối sánh chung của cả nước, các tộc người này từ giã khá muộn đời sống nguyên thuỷ, bảo lưu khá rõ dấu vết nền nông nghiệp hoả canh
Mặt khác, sinh cảnh, môi trường và địa mạo cũng như thảm thực vật:
"trong điều kiện hẹp của địa hình với một sơn hệ tầng tầng lớp lớp kề cận biển, không thể không khiến ta hình dung nơi đây vốn là một phức hệ núi rừng, gò đồi, lắm suối nhiều dốc, phù hợp với điều kiện sống của những cư dân tồn tại theo phương thức kinh tế hoả canh và hái lượm" (Nguyễn Hữu Thông [cb], 2004: 25)
Trước sự khai phá của những lớp cư dân ruộng nước, sự thu hẹp dần của thảm thực vật rừng về phía tây, đồng nghĩa với sự co lại vùng cư trú của cư dân nương rẫy Thực tế này, được phản ánh trong ký ức các tộc người qua hệ thống truyền thuyết, thần thoại, ngôn ngữ v.v về dấu ấn của một vùng cư trú kéo dài từ ven
biển đến thượng nguồn, và "chính hiện tượng này đã tạo nên những đặc điểm đáng
lưu ý khi nghiên cứu văn hoá các tộc người ở bắc miền Trung" (Nguyễn Hữu
Thông [cb], 2004: 25)
2.4 Trên lát cắt địa hình, ngoài sự nhận diện dễ dàng phức hệ Trường Sơn ở phía tây, có thể thấy vị trí cửa ngõ chiến lược của các tỉnh miền Trung trong vai trò kết nối xuôi - ngược, đông - tây: Quảng Nam nối bắc Tây Nguyên với duyên hải; Bình Trị Thiên nối vùng thượng Lào với biển v.v Mặt khác, đây còn là điểm nhấn chiến lược được nhìn nhận từ thời trung đại đến nay, đặc biệt là trong việc quản lý và làm chủ con đường huyết mạch của khu vực2 Người Pháp đã thừa nhận rằng, việc thực hiện chiến lược ở Đông Dương phụ thuộc rất lớn vào vấn đề xây dựng mạng lưới
2 Năm 1935 với kế hoạch xây dựng con đường thuộc địa 14 nối tây Kontum với Quảng Nam qua
Đắc Nhe, Bến Giằng, là "con đường xuyên qua đất Katu", nối với quốc lộ I bởi 2 tỉnh lộ 100 và
101 Để bảo đảm an toàn cho công nhân, Pháp đã quyết định mở một đồn binh ở bến Giằng, nơi có con đường 14 đi xuyên qua thung lũng trong vùng của hai con sông Cái và sông Giằng chảy qua Quyết định này đã biến bến Giằng thành một điểm kết nối trung chuyển quan trọng trong mạng lưới giao thương đông - tây ở Quảng Nam nói riêng và miền Trung nói chung
Trang 5giao thông đông - tây giữa ba vùng; thời Paul Doumer, Trường Sơn - Tây Nguyên
được xem là "chìa khoá của mạng lưới đó" (C.J Christie, 2000: 159)
Quảng Nam được xem là cửa ngõ phía bắc của vùng Tây Nguyên với miền duyên hải, qua mạng lưới giao thông hình thành từ khá sớm (Lê Bá Thảo, 2002; Nguyễn Q Thắng, 1996) Đại uý Debay được xem là người đã khởi đầu công việc trắc địa lộ trình nối kết này vào năm 1890, với việc xây dựng tuyến đường 14 (Le Pichon, 1938) Trong thực tế, tuyến giao lưu này đã hiện hữu phổ biến bằng hệ thống các lối mòn nối kết nhau, nơi sớm diễn ra hoạt động trao đổi hàng hoá
Tuyến đường từ Quảng Trị qua ải Ai Lao (nay là Đường 9) có vị trí chiến lược của xứ Đàng Trong, nối kết miền biển qua thương cảng Cửa Việt, sang vùng thượng Lào, Thái Lan, Mianmar, Cambodia v.v 3, mà gắn liền với nó là hệ thống tuần ty, đồn luỹ, dinh trấn để thu thuế, kiểm lâm, kiểm soát an ninh như dinh Ai Lao, Ngưu Cước, Ba Trăng (Hiếu Giang), Cây Lúa v.v ; đặc biệt, để quản lý vùng
cửu châu ky my
3 Nhận diện hoạt động giao thương xuôi - ngược trong lịch sử
Có thể nói, hoạt động có tính chất thương nghiệp đã xuất hiện khá sớm, được nhận diện qua sự có mặt của (1) các tầng lớp thương nhân, (2) cơ cấu sản vật hàng hoá trong hệ thống (3) các điểm trao đổi, chợ phiên, thiết lập dọc theo các giao thương thuỷ bộ, như các địa danh chợ phiên Cam Lộ, cảng Cửa Việt (Quảng Trị), chợ Tuần, La Sơn, cảng Thanh Hà (Huế), bến Giằng - Hiên, chợ Trung Phước, Tuý
Loan, ái Nghĩa, cảng Hội An (Quảng Nam) v.v "Các trung tâm buôn bán mới
xuất hiện để đáp ứng nhu cầu trao đổi ngày một trở nên thường xuyên hơn" (Li
Tana, 1999: 175), tạo nên một bức tranh kinh tế sinh động ở miền Trung
3.1 Sự góp mặt của các tầng lớp thương lái
3 Ở vùng cư trú của người Bru có một con đường xuyên qua đèo Ai Lao và chính quân đội Mông Cổ đã mượn đường của Champa để đánh Đại Việt từ phía nam, vào năm 1282 Người Việt cũng thường sử dụng con đường này để đi vào Kh’mer và Lào (Toàn Thư; 1998: II: 55) Đó chính là tiền thân của Đường 9 hiện nay
Trang 6Đối tượng tham gia vào hoạt động trao đổi khá đa dạng, có sự thay đổi theo các cấp độ khác nhau, hình thành nên mạng lưới cung cầu rộng lớn, từ những thương lái chuyên nghiệp đến những nhóm không chuyên hay tầng lớp trung gian v.v
Trong thương lộ đông tây, ở mạng lưới trao đổi vùng cao không xuất hiện các
"thương lái chuyên nghiệp" người thiểu số Bản thân các nghề phụ chưa đáp ứng được
yêu cầu hàng tiêu dùng, cho nên, việc trao đổi hàng hoá là một vấn đề bức thiết của hầu hết các tộc người thiểu số Tuy nhiên, chưa có ai thoát ly sản xuất để buôn bán, nhưng hoạt động trao đổi đã xẩy ra Người thiểu số tham gia trao đổi thường rất đa dạng về hình thức, nhu cầu và sản phẩm bởi tính không chuyên nghiệp và phi thương mại, có thể là đàn ông, thanh niên hay phụ nữ, trẻ em, người già v.v 4 Họ tham gia vào mạng lưới một cách không chính thức và không thường xuyên, có thể trước vụ rẫy, sau mùa săn bắn hay vào mùa đông v.v ; sản phẩm trao đổi vì thế cũng rất đa dạng Sự tham gia của họ đã ảnh hưởng đến tính chất của hoạt động trao đổi ở vùng cao với sự chênh lệch lớn về giá trị hàng hoá
Ở "trung độ" của mạng lưới, sự có mặt của tầng lớp trung gian đã làm cho hoạt
động trao đổi trở nên nhộn nhịp, và hiệu quả hơn với hạt nhân vẫn là những người Kinh giỏi tiếng dân tộc, giàu kinh nghiệm, làm liên lạc cho các thương lái người
Kinh và người thiểu số có nhu cầu trao đổi Thời Pháp thuộc, “một quan chức có
mệnh danh là Thủ Ngữ (Thủ ngự - tg.) làm trung gian giữa người Mọi và các Cá lái với chính quyền Ông ta cai quản hai vùng sông Cái và sông Bung ở tại Na Nha" (Le Pichon, 1938: 366) Tất nhiên, vai trò của người thiểu số không phải là
nhỏ, nhờ vào sự thông thạo địa hình, ngôn ngữ và sự hiểu biết về phong tục tập
quán Người Katu gọi họ là "lướt báo" (lướt: đi; báo: thông tin, báo cáo)
Khu vực tiếp giáp Giằng (Nam Giang) với Kontum là nơi trao đổi khá nhộn nhịp giữa các tộc người Giẻ, Triêng, Katu, Bhêê, Co, Xơ Đăng, Kinh v.v Rất
4 Trong những cuộc trao đổi ở vùng cao, vị chủ làng thường đứng ra làm vai trò trung gian nhờ vào uy tín và tiếng nói của ông có giá trị gấp nhiều lần so với giá trị của hàng hoá Đây là những điều kiện thuận lợi mà các thương lái hay tận dụng để cuộc trao đổi được nhanh chóng, thuận lợi hơn
Trang 7nhiều người Katu đứng ra làm trung gian trao đổi, và với họ, "người Katu lanh lợi
và buôn bán thạo hơn, hiểu biết nhiều mánh khoé gian lận của thương nhân"
(Quách Xân, 2000: 94), nên thường được các tộc người khác nhờ giúp đỡ để khỏi
Mặt khác, nguồn lợi từ buôn bán lâm thổ sản đã khiến cho những lớp người thiếu đất cày, nghèo khó, uất ức sưu thuế v.v từ miền xuôi gia nhập đội ngũ thương lái ngày càng đông Mặc dù bị quan lại triều đình, sau này là thực dân Pháp kiểm soát gắt gao, nhưng việc buôn bán vẫn ngày càng được mở rộng Nhiều tư thương không chờ đồng bào mang hàng xuống mà trao đổi tận nơi; ngược lại, có một số thương nhân người dân tộc cũng mạnh dạn gùi hàng ra bán tại chợ, hoặc giao và nhận hàng tại nhà các tư thương6
3.2 Cơ cấu nguồn hàng và hình thức trao đổi
3.2.1 Cơ cấu nguồn hàng trao đổi
"Trầu vàng góp bến sông Bung
5 Cá lái là thuật ngữ được đề cập sớm ở vùng tây Quảng Nam (Le Pichon, 1938), dùng để gọi những tư thương người Kinh mang hàm ý miệt thị (buôn gian bán lận); về sau, được hiểu rộng ra và chỉ tất cả những thương nhân miền xuôi Điều này cho thấy, tính chất gian lận trong trao đổi là
khá phổ biến Người Katu gọi họ là Ađhuộc Cá lái (Ađhuộc: người ngoại tộc)
6 Ngày tết đồng bào kéo nhau ra các nhà tư thương vui chơi ăn uống một vài ngày Điều này cho thấy mối quan hệ buôn bán đã trở nên rất phổ biến và thường xuyên giữa người thiểu số và người Kinh, cũng như sự cần thiết phải tạo các mối quan hệ khác để công việc buôn bán được thuận lợi như kết nghĩa, thông gia, đổi họ v.v Trong ký ức của những già làng Katu một thời ngược xuôi vẫn còn nhắc đến những thương lái như cha Lâm, cha Lạc, cha Tượng, cha Nga, cha Kha, cha Sung vùng An Điềm, Đại Sơn, Sông Kôn; bà Cải, bà Chuối, ông Pria Hơn, Quanh Noọc, Quanh Mét v.v vùng Nam Đông (Quách Xân, 2000; Trần Đức Sáng, 2004)
Trang 8Chợ cau Đại Mỹ đặng cùng về xuôi"
(Sở VHTT Quảng Nam, 2001: 68) Có thể nói, yếu tố làm nên sự nhộn nhịp trên thương lộ đông - tây chính là hệ sản vật - hàng hoá của núi rừng Trường Sơn Đặc biệt, núi rừng phía tây đại ngàn luôn được xem là hậu phương rộng lớn với nguồn lâm thổ sản quý hiếm cho các
thương cảng phía đông Ở vùng tiếp giáp núi - đồng bằng, "không phải chỉ vì sắc
phục lạ mắt của nhiều dân tộc mà còn vì người ta có thể, trong phạm vi của một khoảng đất nhỏ thấy bày ra trước mắt những của cải quý của Trường Sơn: tre và luồng, mai và vầu, gỗ quý, trầm hương, mộc nhĩ, mật ong, da gấu, da báo, ngà voi và hàng loạt những sản vật khác " (Lê Bá Thảo, 2002: 157); trong đó, "xứ Quảng Nam là đất phì nhiêu nhất thiên hạ", nơi cư trú chủ yếu của người Katu7 Điều đáng lưu ý là họ cư trú ngay đầu nguồn các con sông, chiếm cứ cửa ngõ sản vật từ Lào qua, từ Tây Nguyên về
Các sản phẩm trao đổi có nguồn gốc từ núi rừng phía tây rất đa dạng và phong phú: từ những thứ phổ biến như lúa, ngô, quả, củ, mây, cau, đót, trầu, lá nón8 v.v đến những sản vật quý hiếm có giá trị xuất khẩu như hồ tiêu, quế, nhựa
thông, trầm hương - "gỗ của các vị thần", tốc hương, bạch mộc hương, tô nhũ
hương, biện hương, mật ong, sừng tê, ngà voi, da trâu, sừng trâu, nhung nai, da hươu cái, lông công, lông trĩ, thổ cẩm trắng, thổ cẩm xanh v.v (Lê Quý Đôn, 1977; QSQ triều Nguyễn, 1992: II; QSQ triều Nguyễn, 1997: III)
Trong quan hệ ngoại thương, "phần lớn các mặt hàng nội địa được đem ra
trao đổi lại không phải là sản phẩm của nông thôn người Việt tại đồng bằng mà là những sản phẩm từ miền núi" (Li Tana, 1999: 171), trở thành đặc sản xuất khẩu
của cư dân đồng bằng qua trao đổi với các tộc người miền núi Các loại sản vật này
7 Xuất phát từ luận điểm này, có tác giả đã cho rằng, tục săn máu của người Katu có thể bắt nguồn từ việc xác định quyền sở hữu đối với vùng khai thác sản vật núi rừng cũng như sự tạo dựng hay khẳng định tiếng tăm trong hoạt động trao đổi xuôi ngược (Trần Kỳ Phương, 2004)
8 Từ lá nón đến nón lá hay sự ra đời của chiếc nón lá là sự di chuyển của những người buôn bán từ vùng đồng bằng đến vùng cao để thu hoạch sản phẩm rừng, một cuộc hành trình mà con người và hàng hóa đã diễn ra hàng nhiều thế kỷ (Parmela Mc Elwee, hội thảo, Yale Uni, 2003)
Trang 9sau khi "ngưng tụ" tại các điểm trao đổi, theo dòng Thu Bồn và các chi lưu lớn
nhỏ, tập trung về các trung tâm cảng thị Có thể nói, đó là cơ sở để cư dân đồng bằng, ven duyên, thiết lập nên hệ thống buôn bán ngoại thương vào thời kỳ thịnh đạt với sự góp mặt của các thương nhân Ấn Độ, Hoa, Nhật Bản, Ả Rập, Tây phương v.v ở khắp cảng thị miền Trung, đặc biệt là Hội An9
Có thể hình dung con đường xuôi - ngược của các chủng loại hàng hoá như sau:
Những hàng hoá ngược lên vùng cao, ngoài cá, mắm khô10, muối, đường mía, vải, chiêng, ché, sản phẩm đúc - rèn11 v.v còn được bổ sung một số mặt hàng nhập
hợp với nhau: "Mâm cá đãi sui, không bằng cái mui cá chuồn"
11 Hầu hết, những sản phẩm kim loại (dao, rựa, kiềng, nồi, chiêng v.v ) trong trao đổi xuôi ngược đều có nguồn gốc từ các làng đúc - rèn nổi tiếng ở miền Trung như làng Phước Kiều (Điện Phương, Điện Bàn), Gia Cát (Quế Phong, Quế Sơn) ở Quảng Nam; Phường Đúc (Tp Huế), Hiền Lương (Phong Hiền, Phong Điền) ở Thừa Thiên Huế; Phước Tuyền (Cam Lộ, Quảng Trị) v.v
Chú thích: Hàng hoá nhập khẩu
Hàng hoá của đồng bằng Sản vật miền núi
Phố thị Phố thị
§Þa bµn ho¹t ®ĩng chñ yÕu cña c¸c tĩc ng−íi thiÓu sỉ
Trang 10khẩu như vải sợi, gốm, mã não, thuỷ tinh, đồ đồng, bạc v.v Trong đó, mắm, cá khô được xem là mặt hàng chiến lược của thương nhân ven duyên, mang tính chất sống còn đối với địa bàn này, đặc biệt là muối Muối có vai trò quan trọng đối với đồng bào, với rất nhiều công năng như gia vị, chữa bệnh, bảo quản thực phẩm dự trữ, hàng
hoá trao đổi, tín ngưỡng " Đồng bào thường đem các đặc sản của núi rừng để đổi
lấy vải vóc, soong nồi, chiêng ché, đặc biệt là muối ăn " (Nguyễn Quốc Lộc, 1984:
189) Nó phổ biến và quan trọng đến mức được sử dụng như vật trao đổi trung gian
Hơn nữa, tính chất sống còn của "con đường muối" đối với hầu hết các tộc người thiểu
số, cho thấy hoạt động trao đổi ở đây xuất hiện từ lâu và rất chiến lược12
Ngoài ra, trâu là mặt hàng trao đổi quý giá mà người thiểu số ước ao Đầu thế kỷ XX, người Katu có chăn nuôi trâu nhưng không phục vụ đủ nhu cầu đời sống tín ngưỡng, phần lớn sự thiếu hụt này được giải quyết qua trao đổi (Le Pichon, 1938) Những năm làng tổ chức nhiều lễ lớn, già làng phải huy động toàn bộ nhân lực vào rừng khai thác sản vật về trao đổi trâu cho lễ hiến sinh So với những mặt
hàng khác, sự di chuyển của "con đường trâu" được hình thành từ ba nguồn chính
là Lào qua, đồng bằng lên và Tây Nguyên sang
MỘT SỐ MẶT HÀNG PHỔ BIẾN TRONG HOẠT ĐỘNG TRAO ĐỔI XUÔI - NGƯỢC
1 Muối, mắm Gia vị, thực phẩm, chữa bệnh,
7 Ché Đựng rượu, đồ dùng; lễ vật
cưới
12 Trong lịch sử, trước khi quan hệ với người Việt, các tộc người thiểu số đã có quá trình trao đổi
mật thiết với người Chăm "Người Mọi [chỉ người Katu] buôn bán với cư dân đồng bằng, trước
hết là người Chàm, rồi tiếp là người An Nam Vì qua nguồn trung gian của họ mà người Katu mới có đủ muối cho nguồn lương thực của mình" (Le Pichon, 1938: 364)
Trang 118 Trâu Cúng tế, cưới, nộp phạt, hội
hè
(Nguồn: Tư liệu điền dã, tháng 8/2004)
Tuy nhiên, trong cơ cấu mặt hàng, thực sự thiếu vắng sản phẩm thủ công như vải, gùi đan bởi sự kém phát triển của nó, đồng thời cũng phản ánh đặc trưng của nền kinh tế tự cung tự cấp
3.2.2 Hình thức trao đổi
Trên lộ trình giao thương đông - tây, hoạt động trao đổi hàng hoá diễn ra với tính chất và cấp độ không giống nhau Ở vùng cao, các thương lái tiếp xúc trực tiếp với phần lớn dân làng hoặc qua trung gian, chỉ dừng lại ở hình thức hàng đổi hàng, nhằm thoả mãn nhu cầu cuộc sống hàng ngày Bên cạnh đó, ít phổ biến những thương nhân chuyên nghiệp người thiểu số có tích luỹ vốn và hàng hoá để buôn bán những mặt hàng thu được ở phía tây với các trung tâm thị tứ và bến cảng Hình thức giao thương này phản ánh yếu tố thương nghiệp đã không trở thành phổ biến hoặc tạo nên nhân tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế ở các làng bản vùng cao
Nếu ở vùng thấp, mọi hoạt động trao đổi, đều thông qua vật trung gian là tiền (hàng - tiền - hàng), thì hình thức trao đổi chính ở vùng cao là hàng đổi hàng trực tiếp,
theo thoả thuận và quy ước Trong trao đổi, nếu "người Tây Nguyên mới biết đến bạc,
tiền trong thời gian gần đây (1950s) Ngày xưa cả thuế cũng được đóng bằng hiện vật (da súc vật, lợn v.v ) Mọi việc mua bán, đến hiện nay vẫn vậy, đều tiến hành bằng
Trang 12trao đổi hiện vật" (Dam bo, 2003: 66), thì ở các tộc người bắc Trường Sơn cũng ở tình
trạng tương tự (Le Pichon, 1938: 366)13
Với cơ cấu hàng hoá như đã trình bày, đội ngũ thương lái có thể tạo nên sự trao đổi sòng phẳng trên mặt nhu cầu, nhưng về giá trị kinh tế thì hoàn toàn ngược lại14 Điều này đã tạo nên sự biến thiên về tỉ giá hàng hoá trao đổi ở vùng cao so với các bến, cảng Hơn nữa, không có chuẩn giá trị trao đổi cố định giữa các loại hàng hoá, giữa các vùng (xa/gần), và thay đổi theo mùa vụ (trữ lượng hàng hoá) cũng như nhu cầu của người tiêu dùng15 Chính vì thế, trong trao đổi ở vùng cao, vật trung gian là sản vật khai thác; ở vùng giữa, trong cơ cấu vật trao đổi trung gian đã bắt đầu xuất hiện sản phẩm sản xuất; ở vùng thấp, với sự xuất hiện thương lái, vật trao đổi trung gian đã có sự thay đổi lớn, đó là tiền như với tư cách là vốn;
ở các cảng thị, tiền với tư cách là giá trị thặng dư đã thực sự phổ biến trong hoạt động giao thương
Một trong những nguyên nhân phản ánh đặc điểm của các hoạt động trao đổi diễn ra ở đây là hệ thống đơn vị đo lường đơn giản trong hoạt động sản xuất và trao đổi của đồng bào Đương thời, các tộc người ở Trường Sơn không biết cách tính trọng lượng (nặng/nhẹ), mà chỉ có các đơn vị tính dung lượng (nhiều/ít), kích thước (ngắn/dài, lớn/nhỏ) mang tính ước lượng Tuy nhiên, đồng bào có sự vận dụng hết sức linh hoạt, thể hiện tính chất đa dụng trong việc sử dụng đơn vị tính -
13 Thực tế này còn được phản ánh trong việc trả công cho người trung gian, "lướt báo", làm công
thuê bằng các hiện vật, hàng hoá
14 Những mâu thuẫn về quyền lợi trong buôn bán, đổi chác tất yếu sẽ nảy sinh Đây chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng đâm chém nhau, gây ra thù hận giữa các tộc người vùng cao, trung và thấp; giữa dân làng Liatiăh và Padấu, giữa làng Liatiăh và Aró (Avương); giữa người Kinh và Thượng v.v (Quách Xân, 2000)
15 Kết quả khảo sát cho thấy, nếu ở vùng thấp, đổi 1 cái rựa lấy 1 ống mật, nhưng lên vùng cao, 1 cái rựa có thể đổi được 3 ống mật Tương tự, nếu vùng thấp, con trâu 6 gang chỉ đổi được 1 tấm
tút, thì ở vùng cao là từ 2 đến 3 tấm (ở Lào, con trâu 6 gang đổi được 1 tấm tút có halung [trang
trí hạt cườm bằng chì] rất giá trị) Mặt khác, do ảnh hưởng từ yếu tố thời vụ khai thác, nhiều
thương lái Kinh đã phải linh động hơn trong phương thức trao đổi với đồng bào, như "cho mượn", trao đổi "nợ" v.v , đến chuyến đi sau sẽ thu lại