hay
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Giao tiếp có chức năng làm tiền đề khách quan cho sự phát sinh và phát
triển ngôn ngữ Ngôn ngữ ra đời không có mục đích tự thân mà nhằm đáp ứng nhucầu giao tiếp giữa con người trong cộng đồng xã hội, một nhu cầu mang tính bẩmsinh của con người Con người có thể giao tiếp bằng nhiều phương tiện, nhiều kênhgiao tiếp khác nhau nhưng xét ở mọi góc độ, ngôn ngữ là phương tiện giao tiếptrọng yếu nhất Làm văn là làm các loại văn bản Trong lí luận ngôn ngữ (ngôn ngữhọc văn bản) văn bản được xem như đơn vị giao tiếp cơ bản nhất Vì vậy có thểnói, làm văn là sử dụng ngôn ngữ để tạo nên các văn bản nhằm mục đích giao tiếp.Việc dạy học Làm văn chính là dạy cách thức tổ chức giao tiếp hay nói một cáchchính xác là dạy cách thức tổ chức giao tiếp bằng văn bản Do vậy, việc dạy họcLàm văn không thể tách rời với hoạt động giao tiếp
Mục tiêu của dạy học hiện nay là tạo ra những con người mới, phát triểntoàn diện, năng động, sáng tạo và thích ứng với mọi sự phát triển của khoa học; có
kĩ năng cần thiết để bước vào cuộc sống Một trong những kĩ năng quan trọng hàngđầu là kĩ năng giao tiếp Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII ban chấp hành Trungương Đảng đã chỉ rõ nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựngnhững con người có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làmchủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kĩ năng thựchành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức kỉ luật Vì vậy, việc dạy họckhông chỉ đơn thuần là truyền thụ tri thức, cung cấp kiến thức cho học sinh màquan trọng hơn là dạy cho học sinh cách giao tiếp, sử dụng các phương tiện giaotiếp Học sinh không tiếp thu kiến thức một cách thụ động mà phải tham gia vào
Trang 2các hoạt động giao tiếp một cách tích cực chủ động Dạy học bài "Thao tác lậpluận bình luận" trong sách giáo khoa Ngữ văn 11 theo hướng giao tiếp là nhằm gópphần thực hiện mục tiêu đó.
1.2 Ngày nay, hoà cùng với sự phát triển của giáo dục và đào tạo trên thế
giới, công cuộc cải cách giáo dục ở nước ta đã được tiến hành thường xuyên chophù hợp và đã đạt được nhiều tiến bộ đáng khích lệ Tuy nhiên, bên cạnh nhữngthay đổi về mục tiêu, chương trình, nội dung dạy học những thay đổi về phươngpháp còn nhiều bất cập Phương pháp dạy học đang được sử dụng phổ biến hiệnnay trong các nhà trường chủ yếu vẫn là thuyết giảng Điều đó phần nào ảnh hưởngđến sự phát triển một số kĩ năng cần thiết của học sinh, trong đó có kĩ năng giaotiếp Vấn đề đặt ra cho các nhà giáo dục là "dạy như thế nào?" để học sinh có thểphát triển tốt nhất năng lực sẵn có của mình, có phương pháp học tập, phương phápnhận thức một cách khoa học để có thể tiếp tục tự học suốt đời
Điều IV - Luật Giáo dục được Quốc hội thông qua ngày 02/12/1998 đã nêurõ: "Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy,sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chívươn lên" Chính vì vậy, việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực
đã trở thành một yêu cầu bức thiết của sự nghiệp giáo dục hiện nay Trong nhữngnăm gần đây, dạy học theo định hướng giao tiếp, theo quan điểm giao tiếp lànhững kiểu dạy học mới đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học Phươngpháp giao tiếp đã được nhiều nước trên thế giới thực hiện từ rất lâu và đã cho thấyhiệu quả rõ rệt: phát huy tính tích cực, tự giác, năng động của học sinh Dạy họcLàm văn trong nhà trường THPT có sứ mệnh là dạy cho học sinh các thao tác lậpluận để tạo nên các loại văn bản nhằm mục đích giao tiếp Bình luận được coi làmột thao tác lập luận có tính giao tiếp cao Tuy nhiên, trên thực tế học sinh chưabiết cách tạo lập một văn bản bình luận sao cho phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp vànhằm vào một mục đích giao tiếp nhất định Giáo viên dạy học vẫn mang tính chất
Trang 3truyền thụ lí thuyết máy móc mà không đặt các em vào các hoạt động giao tiếp.Chính vì vậy, dạy học Làm văn nói chung và dạy học bài "Thao tác lập luận bìnhluận" trong sách giáo khoa Ngữ văn 11 nói riêng theo hướng giao tiếp là một yêucầu cấp bách.
Năm 2002, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cải cách chương trình môn học vàsách giáo khoa Thay vì có ba bộ môn: Tiếng Việt, Văn học, Làm văn độc lập nhưtrước đây, chương trình được biên soạn theo hướng tích hợp chung thành một bộmôn "Ngữ văn" Các hình thức dạy học ngày càng trở nên phong phú, đa dạng Cácbiện pháp dạy học tích cực được vận dụng là thực hành giao tiếp, phân tích ngônngữ, thảo luận giải quyết vấn đề… Riêng phần Làm văn, bên cạnh những xu hướngcải tiến chung như giảm tải, tăng thực hành gắn với đời sống…còn trang bị chohọc sinh những kiến thức cơ bản, hệ thống về các thao tác lập luận cùng những quytắc sử dụng các thao tác đó trong hoạt động giao tiếp và tư duy Giao tiếp ở đâyvừa là phương tiện vừa là mục đích của dạy học Làm văn trong nhà trường phổthông Vận dụng những định hướng giao tiếp để dạy học bài "Thao tác lập luậnbình luận" là điều kiện để giúp học sinh hoạt động vừa lĩnh hội kiến thức vừa họccách giao tiếp Đây chính là một yêu cầu quan trọng đối với việc dạy học môn Ngữvăn nói chung và phần Làm văn nói riêng trong việc đào tạo con người trong thời
kỳ đổi mới
1.3 Hiện nay, việc dạy Làm văn trong nhà trường phổ thông vẫn còn rất
nhiều hạn chế Nhiều giáo viên đang biến giờ Làm văn thành giờ truyền thụ líthuyết thuần túy Người giáo viên đang dần trở thành người “phát thanh viên” độcthoại trên mục giảng Ở những giờ thực hành giáo viên còn làm thay học sinh quánhiều Khi đứng trước một đề bài các em còn chưa biết định hướng để giải quyếtvấn đề Chính vì vậy mà việc tạo lập văn bản của học sinh chưa đạt hiệu quả, cònmắc nhiều lỗi Thêm vào đó, trong phần Làm văn, với không ít học sinh, thực hiệnthao tác lập luận bình luận là một công việc mà các em cảm thấy rất khó khăn và
Trang 4ngại làm Nhiều học sinh còn chưa thấy được bình luận là một hoạt động có nguồngốc từ chính cuộc sống Học sinh còn chưa nhận ra mối dây liên hệ giữa bình luậnnhư một công việc mà các em đang phải chật vật làm trong nhà trường, với bìnhluận như một công việc mà các em vẫn thoải mái tiến hành khá thường xuyên vàthành công trong thực tế Vì thế sự "bình luận" trong nhiều bài làm của học sinh trởnên gượng gạo, thiếu tự nhiên và sinh khí Dạy học bài "Thao tác lập luận bìnhluận" theo hướng giao tiếp một mặt nhằm khắc phục hạn chế trên, mặt khác, dạycho học sinh biết sống không thờ ơ, lạnh nhạt, biết quan tâm, quan sát và suy nghĩ
về những gì đang diễn ra ở trường học và ở cuộc đời, để có nhận định, có ý kiến và
có nhu cầu được bày tỏ, bảo vệ nhận định, ý kiến của mình trước những ngườixung quanh và rộng hơn là trước xã hội
Xuất phát từ những lí do nêu trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài:
"Dạy học bài Thao tác lập luận bình luận trong sách giáo khoa Ngữ văn 11
theo hướng giao tiếp" với mong muốn góp một tiếng nói vào quá trình đổi mới
phương pháp dạy học Làm văn, hướng đến mục tiêu nâng cao chất lượng dạy họcLàm văn ở trường trung học phổ thông
2 Lịch sử vấn đề
Thuật ngữ quan điểm giao tiếp được sử dụng rộng rãi trong việc dạy TiếngViệt nói chung và dạy Làm văn nói riêng Quan điểm này mới chỉ ra đời trongkhoảng 20 năm trở lại đây, nhưng đã được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu líluận ngôn ngữ, lí luận dạy Tiếng và đặc biệt là của các giáo viên giảng dạy Ngữvăn ở phổ thông, đại học Các công trình nghiên cứu về vấn đề trên đã được giớithiệu rộng rãi trên các sách nghiên cứu, giáo trình, tạp chí chuyên ngành
Trong cuốn Phương pháp dạy học Tiếng Việt, tập 2 (Giáo trình đào tạo
giáo viên tiểu học hệ CĐSP và SP 12+2) của tác giả Nguyễn Trí, Lê A, Lê PhươngNga, đã đi sâu nghiên cứu các nội dung như: giao tiếp và hoạt động giao tiếp bằngngôn ngữ, những cơ sở của quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt và sự thể
Trang 5hiện của quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt Các tác giả đã nhấn mạnh:
"Quan điểm giao tiếp là quan điểm cơ bản nhất trong việc tổ chức dạy học Tiếng Việt ở trường phổ thông Quan điểm này chi phối toàn bộ chương trình dạy học từ việc lựa chọn nội dung, phương pháp đến các hình thức dạy học" [15, 11] Tài liệu
đã cung cấp cho chúng tôi những tiền đề lí thuyết quan trọng để nghiên cứu đề tàinày
Trên tạp chí Nghiên cứu giáo dục số tháng 1/1995, bài Quan điểm giao tiếp trong dạy học Làm văn, Nguyễn Quang Ninh cũng đưa ra những cơ sở của việc
dạy học Làm văn theo hướng giao tiếp Đồng thời, tác giả cũng đề xuất những định
hướng để dạy học Làm văn theo hướng giao tiếp Bài viết đã chỉ rõ: "Việc dạy làm văn cho học sinh một mặt phải dạy cách thức tổ chức bài viết như một hệ thống các đơn vị ngôn ngữ, tuân theo đúng cách thức tổ chức ngữ pháp, ngữ nghĩa…của
hệ thống ngôn ngữ; một mặt quan trọng không kém là việc tổ chức bài viết phù hợp với những quy tắc của việc giao tiếp" [12, 14] Điều đó có nghĩa là trong một
giờ dạy làm văn giáo viên vừa phải giúp học sinh biết cách dùng từ, đặt câu, dựngđoạn theo đúng quy tắc ngôn ngữ, vừa phải giúp các em biết cách lựa chọn nộidung và thể hiện nội dung đó sao cho phù hợp với quy tắc của hoạt động giao tiếp.Chỉ có như vậy thì giáo viên mới có thể giúp học sinh hình thành được kĩ nănggiao tiếp một cách nhanh chóng và có hiệu quả
Hai tác giả Phan Phương Dung và Đặng Kim Nga trong cuốn Hoạt động giao tiếp với dạy Tiếng Việt ở tiểu học đã đề cập một cách sâu sắc về quan điểm
giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt ở tiểu học Bên cạnh việc cung cấp những kiếnthức cơ bản về giao tiếp và hoạt động giao tiếp, hai tác giả còn chỉ ra sự chi phốicủa quan điểm giao tiếp với nội dung và việc tổ chức dạy học Tiếng Việt ở tiểu
học Trong đó, tài liệu đã chỉ rõ: "Trong dạy học Tiếng Việt ở tiểu học, giao tiếp vừa là cách thức vừa là mục đích học tập Thông qua giao tiếp và bằng con đường giao tiếp trong các tình huống nói năng gần với hiện thực, học sinh được thường
Trang 6xuyên luyện tập sử dụng lời nói, từ đó kĩ năng giao tiếp của các em được hình thành một cách toàn diện và bền vững" [3, 34] Mặc dù tài liệu chủ yếu nghiên cứu
phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học nhưng cũng góp phần định hướng choviệc xây dựng cơ sở lí luận của đề tài
Trên tạp chí Giáo dục, số 138 (kì 2-5/2006), tác giả Phan Thị Thuỷ có bài:
Dạy học làm văn ở THCS theo quan điểm giao tiếp Trong bài viết của mình tác
giả đã chỉ ra rằng: "Dạy học Làm văn theo quan điểm giao tiếp cho học sinh THCS
là dạy cách tổ chức giao tiếp, hay nói một cách cụ thể là dạy cách thức tổ chức giao tiếp bằng văn bản" [17, 26] Bài viết đã chú trọng tới việc hướng dẫn học sinh
cách tạo lập văn bản theo bốn giai đoạn sao cho đạt được mục đích giao tiếp đề ra.Tuy trong bài viết của mình tác giả mới chỉ giới hạn trong khuôn khổ dạy Làm văn
ở THCS nhưng đã có nhiều định hướng quan trọng giúp chúng tôi triển khai đề tàinày
Tác giả Phạm Văn Nam đã bảo vệ luận án tiến sĩ với đề tài Dạy học tác phẩm văn chương cho học sinh phổ thông theo hướng giao tiếp Luận án đã
cung cấp nhiều cơ sở lí luận quan trọng, đặc biệt là những tri thức về giao tiếp vàhoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Tuy tác giả đi sâu nghiên cứu vấn đề dạy họctác phẩm văn chương cho học sinh phổ thông theo hướng giao tiếp nhưng luận áncũng đưa ra những quan điểm về việc dạy Làm văn theo hướng giao tiếp Tác giả
nhấn mạnh: "Để xây dựng một văn bản, học sinh không thể chỉ biết tổ chức các đơn vị ngôn ngữ, chỉ chú ý đến những nhân tố thuần tuý ngôn ngữ mà còn phải chú ý tới việc xử lí mối quan hệ giữa bài viết của mình với các đơn vị nằm ngoài
hệ thống ngôn ngữ" [11, 104] Theo tác giả luận án, trong các yếu tố ngoài ngôn
ngữ, dạy học Làm văn theo hướng giao tiếp đặc biệt chú trọng tới đối tượng giaotiếp, nhân vật giao tiếp và hoàn cảnh giao tiếp Những nhân tố này chi phối rất lớntới hiệu quả của việc tạo lập văn bản của học sinh
Trang 7Tác giả Nguyễn Thị Hiên, trong bài Một vài suy nghĩ về việc vận dụng phương pháp giao tiếp vào dạy học kĩ năng làm văn nghị luận cho học sinh lớp
12 THPT, trên tạp chí Giáo dục số 139 (kì 1-6/2006) cũng đã khẳng định: "Riêng
với phân môn Làm văn, dạy trong giao tiếp, dạy bằng giao tiếp và dạy để giao tiếp
là một phương hướng dạy học hiện đại, tích cực mà cả những người xây dựng chương trình, biên soạn sách giáo khoa cũng như những người trực tiếp làm công tác giảng dạy môn học này đang phấn đấu thực hiện nhằm đạt đến mục đích tối ưu của quá trình dạy học là phát triển năng lực giao tiếp bằng tiếng Việt cho học sinh" [4, 28] Theo tác giả, để đảm bảo thực hiện đúng tinh thần của phương pháp
giao tiếp, trong giờ dạy học Làm văn, đặc biệt là các giờ thực hành cần triển khaitheo một quy trình gồm bốn bước Và ở cả bốn bước tác giả đều chú trọng tới mụcđích và đối tượng giao tiếp sao cho đạt được hiệu quả giao tiếp nhất định
Trong cuốn Phương pháp dạy học Tiếng Việt, các tác giả Lê A, Nguyễn
Quang Ninh, Bùi Minh Toán đã đưa ra một số phương pháp dạy học Tiếng Việtthường được sử dụng, trong đó đặc biệt nhấn mạnh tới phương pháp giao tiếp Các
tác giả cũng khẳng định: "Phương pháp giao tiếp trở thành phương pháp chủ yếu
để phát triển lời nói cho học sinh được áp dụng khi dạy học từ ngữ, câu, phong cách và đặc biệt là trong các bài học thuộc phân môn Làm văn" [1, 70] Theo tinh
thần của phương pháp này các tác giả cũng đã đưa ra các bước để tiến hành dạymột bài Làm văn theo hướng giao tiếp Đây là những tiền đề quan trọng giúpchúng tôi triển khai nội dung chính của đề tài
Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiềubài viết đề cập tới việc dạy học Ngữ văn nói chung và dạy học Làm văn nói riêngtheo hướng giao tiếp Hầu hết các công trình và bài viết đều đưa ra những cơ sởcủa việc dạy học theo hướng giao tiếp Đồng thời xác định những định hướngchung nhất của việc dạy học Làm văn theo hướng giao tiếp Tuy nhiên các tác giảcòn chưa đi sâu kiến giải sự chi phối của từng nhân tố giao tiếp với các vấn đề cụ
Trang 8thể trong khi dạy một bài Làm văn Các công trình, bài viết còn chưa đề cập tớiviệc dạy học một bài lí thuyết Làm văn cụ thể theo hướng giao tiếp Vì vậy, chúng
tôi thấy cần thiết đi sâu nghiên cứu đề tài "Dạy học bài Thao tác lập luận bình luận trong sách giáo khoa Ngữ văn 11 theo hướng giao tiếp" với hi vọng tìm ra
giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học Làm văn ở THPT
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài nhằm mục đích sau:
- Xác định những tiền đề khoa học cho việc dạy học Làm văn theo hướnggiao tiếp
- Xác định hệ thống quan điểm, nguyên tắc của việc dạy học Làm văn theohướng giao tiếp
- Định hướng cách thức tổ chức hoạt động của một bài lí thuyết Làm văntheo hướng giao tiếp
- Đề xuất những định hướng cụ thể khi dạy học bài “Thao tác lập luận bìnhluận” trong SGK Ngữ văn 11 theo hướng giao tiếp, nhằm nâng cao năng lực giaotiếp bằng ngôn ngữ cho học sinh, qua đó tăng hiệu quả của dạy học Làm văn trongnhà trường phổ thông
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Chúng tôi xác định đề tài nghiên cứu có những nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hoá các tài liệu nghiên cứu để kế thừa và giải quyết đề tài
- Xác định cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
- Đề xuất những định hướng cụ thể để dạy một bài lí thuyết Làm văn theohướng giao tiếp
- Tổ chức thực nghiệm và rút ra kết luận khoa học
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 9Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lí luận về dạy học Làm văntheo hướng giao tiếp và việc triển khai dạy học bài "Thao tác lập luận bình luận"trong SGK Ngữ văn 11 theo hướng giao tiếp.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi cho phép của đề tài, chúng tôi tìm hiểu về dạy học một bài líthuyết Làm văn theo hướng giao tiếp Trên cơ sở những định hướng đã nghiên cứuđược, chúng tôi tiến hành thiết kế, kế hoạch bài học và thực nghiệm dạy bài "Thaotác lập luận bình luận" trong SGK Ngữ văn 11 theo hướng giao tiếp
5 Phương pháp nghiên cứu
Triển khai đề tài này chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau:
5.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Phương pháp này được sử dụng trong việc nghiên cứu các tài liệu về giaotiếp và giao tiếp ngôn ngữ, phương pháp dạy học Làm văn, đặc biệt tài liệu về đổimới phương pháp dạy học Làm văn, về tâm lí lứa tuổi học sinh THPT để xác địnhnhững tiền đề lí luận cho việc dạy học Làm văn theo hướng giao tiếp ở trườngTHPT
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp này được sử dụng trong việc quan sát, dự giờ, tìm hiểu để nắmbắt tình hình dạy học Làm văn ở trường THPT, bao gồm: hoạt động dạy học, chấtlượng dạy học, xu thế dạy học để xác định những tiền đề về thực tiễn cho việc dạyhọc Làm văn theo hướng giao tiếp ở trường THPT
5.3 Phương pháp hệ thống hoá
Phương pháp này được dùng để hệ thống hoá các lí luận về dạy học theohướng giao tiếp, các tri thức về ngôn ngữ học văn bản, về thao tác lập luận bìnhluận
5.4 Phương pháp thống kê
Trang 10Phương pháp này được dùng trong việc phân loại và phân tích kết quả khảosát thực trạng của học sinh trước khi tiến hành thực nghiệm, phân tích kết quả thựcnghiệm.
5.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp này được sử dụng để kiểm chứng dưới hình thức thiết kế quytrình dạy học và tổ chức thực nghiệm nhằm kiểm chứng tính khả thi của thiết kế, từ
đó rút ra kết luận và điều chỉnh thiết kế
6 Đóng góp của khoá luận
6.1 Về lí luận
Xác định được những tiền đề khoa học và thực tiễn cho việc triển khai dạyhọc Làm văn theo hướng giao tiếp; bước đầu xây dựng được những nguyên tắc vàđịnh hướng dạy học một bài lí thuyết Làm văn theo hướng giao tiếp
6.2 Về thực tiễn
Với việc đề xuất quy trình dạy học một bài Làm văn theo hướng giao tiếp,khoá luận giúp giáo viên có những định hướng cần thiết để tổ chức dạy học mộtbài lí thuyết Làm văn theo hướng giao tiếp nhằm nâng cao chất lượng dạy học Làmvăn ở THPT
7 Bố cục của khoá luận
Trang 121.1 Lí thuyết hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
1.1.1 Khái niệm giao tiếp
Giao tiếp là nhu cầu và điều kiện tất yếu, không thể thiếu được của cuộcsống con người Thông qua giao tiếp, cá nhân tham gia vào các quan hệ xã hội vớitoàn cộng đồng; bằng giao tiếp con người tiếp thu nền văn hoá xã hội và biến thànhcủa riêng mình, đồng thời cũng góp phần sáng tạo và phát triển nền văn hoá xã hội.Cũng chính nhờ hoạt động giao tiếp, con người biết được giá trị xã hội của ngườikhác và của bản thân, trên cơ sở đó tự điều chỉnh bản thân theo các chuẩn mực xãhội Và hơn nữa, giao tiếp không chỉ quan trọng đối với cuộc sống con người, với
sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người nói chung mà còn ảnh hưởng lớn đếnviệc hình thành nhân cách của mỗi cá nhân trong cộng đồng
Với tất cả những ý nghĩa trên, vấn đề giao tiếp đã được con người chú ýnghiên cứu từ thời cổ Hy Lạp Nhưng nhìn chung, trước thế kỉ XIX, giao tiếp chưađược nghiên cứu một cách sâu sắc Nó chỉ được một số nhà triết học nhắc đến như
là sự phản ánh mối quan hệ giữa con người với con người Đến thế kỉ XIX, giaotiếp được đánh giá có tầm quan trọng đặc biệt trong sự hình thành, phát triển bảnchất xã hội của con người Sang thế kỉ XX, giao tiếp đã trở thành một vấn đề thời
sự trong khoa học, được nhiều nhà triết học, tâm lí học, xã hội học quan tâm
Giao tiếp là một hiện tượng tâm lí phức tạp bao gồm nhiều mặt, nhiều cấp
độ khác nhau Riêng định nghĩa về giao tiếp, cho tới nay các nhà nghiên cứu đãđưa ra khá nhiều khái niệm, quan niệm khác nhau tuỳ theo phạm vi, lĩnh vựcnghiên cứu của mình (tâm lí học, kinh doanh, ngôn ngữ học, xã hội học…) Trong
Từ điển Tiếng Việt, khái niệm này được định nghĩa như sau: "Giao tiếp là trao đổi tiếp xúc với nhau Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp".
A.Ph.Lomov trong cuốn Những vấn đề giao tiếp trong tâm lí học coi giao
tiếp là phạm trù cơ bản của tâm lí học hiện đại và định nghĩa: “giao tiếp là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người, với tư cách là chủ thể” Trong tâm lí học
Trang 13giao tiếp được coi như một hoạt động Hoạt động này diễn ra trong mối quan hệngười - người nhằm thiết lập sự hiểu biết lẫn nhau và làm thay đổi mối quan hệ lẫnnhau, nhằm tác động đến tri thức, tình cảm và toàn bộ nhân cách, đó là sự tác độngtrực tiếp người - người diễn ra trong mối quan hệ đó.
Nguyễn Thạc và Hoàng Anh cho rằng "Giao tiếp là hình thức đặc trưng cho mối quan hệ giữa con người với con người, qua đó nảy sinh sự tiếp xúc tâm lí, được biểu hiện ở quá trình thông tin, hiểu biết, rung cảm, ảnh hưởng và tác động qua lại lẫn nhau" [10, 10]
Trong ngôn ngữ học, giao tiếp là đối tượng nghiên cứu của bộ môn Ngữdụng học Hoạt động giao tiếp được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau, nên có
nhiều quan điểm khác nhau được đưa ra khi định nghĩa về giao tiếp: "Khi ít nhất hai người gặp nhau và bày tỏ với nhau về một điều gì đấy như nỗi buồn, niềm vui,
ý muốn, hành động hay nhận xét nào đấy về sự vật xung quanh họ thì giữa họ diễn
ra một hoạt động giao tiếp (gọi tắt là giao tiếp)" [16, 18]
"Giao tiếp là một hoạt động xảy ra khi có một chủ thể phát tin, sử dụng một tín hiệu để truyền đến cho chủ thể nhận tin một nội dung nào đó Nội dung được truyền đạt nhằm cung cấp những thông tin (hiểu biết) cho người nghe hoặc nhằm bày tỏ thái độ tình cảm của người nói cho người nghe hoặc tạo lập, duy trì quan
hệ giữa người nói và người nghe" [16, 18]
Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về giao tiếp nhưng tựu chung lại thìvấn đề cốt lõi của các định nghĩa đó là: giao tiếp là hoạt động tiếp xúc, trao đổigiữa con người với con người trong xã hội nhằm truyền đạt cho nhau những nhậnthức, những tư tưởng hoặc nhằm bày tỏ, chia sẻ những tình cảm thái độ…đối vớinhau cũng như đối với các sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan
Ở khoá luận này, chúng tôi sử dụng quan niệm của Giáo sư Đỗ Hữu Châu một quan niệm phản ánh được những phương diện cốt lõi của giao tiếp bằng ngôn
-ngữ Trong cuốn giáo trình Ngữ dụng học, Giáo sư viết: "Giao tiếp là một quá
Trang 14trình trao đổi thông tin (bao gồm cả tri thức, tình cảm, thái độ, ước muốn, hành động…) giữa ít nhất hai chủ thể giao tiếp (kể cả một người giao tiếp với chính mình) diễn ra trong một ngữ cảnh và một tình huống nhất định bằng một hệ thống tín hiệu nhất định".
Điều kiện đầu tiên đảm bảo cho một cuộc giao tiếp diễn ra bình thường làphải có ít nhất hai đối tượng tham gia: một đóng vai trò người phát và một đóngvai trò người nhận Hai đối tượng này phải sử dụng cùng một thứ ngôn ngữ nhấtđịnh, cùng chịu sự chi phối của hoàn cảnh và nội dung giao tiếp để hướng tới mụcđích đã đề ra
Bất cứ một cuộc giao tiếp nào cũng nhằm đạt tới mục đích nhất định Đích
đó gọi là đích tác động bao gồm ba loại: đích tác động tới nhận thức (nhằm tạo ra
sự biến đổi về nhận thức); đích tác động tới tình cảm (nhằm tạo ra sự biến đổi vềtình cảm) và đích tác động tới hành động (nhằm thúc đẩy hành động theo hướngngười nói mong muốn) Hiệu quả của cuộc giao tiếp được đánh giá tuỳ thuộc vàoviệc những người tham gia giao tiếp đã đạt được những mục đích giao tiếp nào.Giao tiếp đạt được hiệu quả cao nhất là khi giao tiếp đạt được tất cả các mục đích ởmức tối đa
1.1.2 Các nhân tố trong hoạt động giao tiếp
Những nhân tố giao tiếp là những nhân tố tạo nên một hoạt động giao tiếpnhất định, không có những nhân tố này hoạt động giao tiếp không diễn ra Đó làmục đích giao tiếp, nhân vật giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, nội dung giao tiếp,phương tiện giao tiếp Chúng ta đi xem xét sự chi phối của từng nhân tố đối vớihoạt động giao tiếp và hoạt động tạo lập văn bản
1.1.2.1 Mục đích giao tiếp
Mục đích giao tiếp là nhân tố quyết định diễn biến giao tiếp, là cơ sở đểđánh giá hiệu quả giao tiếp Cuộc giao tiếp thành công là cuộc giao tiếp đạt được
Trang 15mục đích giao tiếp Mục đích giao tiếp có thể đơn giản hay phức tạp là phụ thuộcvào từng hoạt động giao tiếp khác nhau Mục đích giao tiếp bao gồm:
- Mục đích thông tin (mục đích nhận thức): giao tiếp để nhằm trao đổi thôngtin, những hiểu biết, nhận thức của người nói, người viết đến người nghe, ngườiđọc Thông qua giao tiếp, nhận thức của những người tham gia giao tiếp được mởmang, kinh nghiệm được tích lũy nhiều hơn
- Mục đích bộc lộ tình cảm, cảm xúc, thái độ của người giao tiếp nhằm củng
cố mối quan hệ của các nhân vật giao tiếp Thông qua giao tiếp, các nhân vật giaotiếp trực tiếp bộc lộ mọi cung bậc tình cảm, cảm xúc, từ đó mà hiểu thêm về nhau
tố giao tiếp cho phù hợp, có như vậy hiệu quả giao tiếp mới cao Một hoạt độnggiao tiếp có thể nhằm một mục đích nhất định, cũng có thể nhằm nhiều mục đíchkhác nhau Trong quá trình tạo lập văn bản, người viết cần căn cứ vào những mụcđích giao tiếp cụ thể để lựa chọn từ ngữ, dùng từ, đặt câu sao cho phù hợp với mụcđích giao tiếp hướng tới Đối với mỗi văn bản, người tạo lập cần xác định rõ mình
sẽ đạt được những mục đích nào Sau khi tạo lập xong cần đối chiếu với nhữngđích đó để đánh giá hiệu quả giao tiếp
1.1.2.2 Nhân vật giao tiếp
Nhân vật giao tiếp là những người tham gia vào hoạt động giao tiếp Đây lànhân tố đóng vai trò chủ động tích cực trong hoạt động giao tiếp Những đặc điểm
về cá tính, nghề nghiệp, vốn sống, trình độ văn hoá của các nhân vật giao tiếp luônchi phối ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp và để lại dấu ấn trong các sản phẩm
Trang 16ngôn ngữ của họ Mặt khác trong mỗi hoàn cảnh giao tiếp mỗi cá nhân lại xuấthiện trong một vai nhất định Vai giao tiếp và vị thế giao tiếp của người tham giagiao tiếp đều chi phối và để lại dấu ấn trong ngôn ngữ của các nhân vật như: sởthích cá nhân, trình độ hiểu biết, năng lực… Bên cạnh đó, trong lời nói cũng để lại
sự hiện diện của người tham gia giao tiếp Người tham gia giao tiếp chia làm haituyến là người phát và người nhận, giữa họ có mối quan hệ với nhau Người nhận
là một người hoặc nhiều người nhưng cũng có thể vắng mặt Vai của người phát vàngười nhận không cố định mà luân phiên thay đổi cho nhau
Trong Làm văn, việc tạo lập các văn bản để giao tiếp là chủ yếu Vậy để đạthiệu quả giao tiếp cao người viết phải lựa chọn ngôn ngữ cho phù hợp với đốitượng giao tiếp Trước khi tạo lập văn bản, người viết / người nói phải trả lời đượccâu hỏi: Mình viết cho ai đọc? Nói cho ai nghe? Những câu trả lời là căn cứ đểngười viết / người nói lựa chọn phương tiện ngôn ngữ và thậm chí điều chỉnh cảnội dung giao tiếp sao cho phù hợp nhất với đối tượng tiếp nhận
1.1.2.3 Hoàn cảnh giao tiếp
Hoàn cảnh giao tiếp chính là môi trường diễn ra hoạt động giao tiếp, có hoàncảnh giao tiếp rộng và hoàn cảnh giao tiếp hẹp Hoàn cảnh giao tiếp rộng là hoàncảnh lịch sử xã hội, văn hoá mà các nhân vật tham gia giao tiếp tồn tại và thực hiênhoạt động giao tiếp Hoàn cảnh giao tiếp hẹp còn gọi là tình huống giao tiếp Đóchính là thời gian, không gian diễn ra hoạt động giao tiếp (nói cách khác đó lànhững điều kiện ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc giao tiếp)
Trong việc tạo lập văn bản, hoàn cảnh giao tiếp là một nhân tố chi phối cácyếu tố ngôn ngữ Sự huy động và lựa chọn ngôn ngữ vào trong hoạt động giao tiếp
là do hoàn cảnh giao tiếp quy định Có thể cùng một nội dung giao tiếp, thậm chícùng một nhân vật giao tiếp nhưng nếu giao tiếp theo nghi thức thì cách lựa chọn
và tổ chức văn bản hoàn toàn khác với giao tiếp thông thường không theo nghi
Trang 17thức Như vậy, trong mỗi hoàn cảnh giao tiếp người tạo lập văn bản phải xác địnhđược những câu nói phù hợp, tránh tạo ra những tình huống không thích hợp tronggiao tiếp Trong dạy học Làm văn, giáo viên cần phải tạo ra những tình huống giaotiếp giả định để rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh.
1.1.2.4 Nội dung giao tiếp
Nội dung giao tiếp là nội dung hiện thực được nói đến trong quá trình giaotiếp Nội dung giao tiếp có thể là hiện thực khách quan ngoài ngôn ngữ, có thể làsản phẩm tư duy của con người, có thể là tình cảm, cảm xúc, thái độ của con ngườiđối với điều được nói đến hoặc người tham gia giao tiếp
Khi tạo lập các loại văn bản để giao tiếp, để xác định hiện thực được nói tới,người nói / người viết phải trả lời câu hỏi: nói / viết về vấn đề gì? gửi gắm điều gì(thông điệp nào) tới người nghe / người đọc? Hiện thực được nói tới tạo nên đề tài,chủ đề cho cuộc giao tiếp Tùy theo hiện thực được nói tới các nhân vật giao tiếp
sẽ lựa chọn nội dung chi tiết cũng như phương tiện ngôn ngữ để giao tiếp
1.1.2.5 Phương tiện giao tiếp
Phương tiện giao tiếp là các phương tiện được sử dụng trong cuộc giao tiếp,
có thể là ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ Ngôn ngữ (nói, viết) được xem là phươngtiện giao tiếp tối ưu nhất Tuy nhiên, để cuộc giao tiếp đạt hiệu quả giao tiếp tốtnhất cần phải chú ý tới cả các phương tiện phi ngôn ngữ như: cử chỉ, nét mặt, điệubộ… Đặc biệt ngày nay, để thuận tiện và đạt hiệu quả cao trong giao tiếp conngười sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng vào giao tiếp Vì vậy, trong quátrình giao tiếp, người tham gia giao tiếp phải tính đến những ảnh hưởng tích cựccũng như tiêu cực của các nhân tố này
Trong quá trình tạo lập văn bản phương tiện giao tiếp đóng vai trò quantrọng trong việc tạo nên hiệu quả giao tiếp Việc sử dụng lựa chọn các phương tiệngiao tiếp còn phụ thuộc rất lớn vào mục đích, nhân vật, nội dung và hoàn cảnh giao
Trang 18tiếp Mặt khác, trình độ hiểu biết và khả năng sử dụng tiếng Việt của người tiếpnhận cũng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và hiệu quả của hoạt động giao tiếp.
Tóm lại, hoạt động tạo lập các văn bản để giao tiếp bị chi phối sâu sắc bởicác nhân tố giao tiếp kể trên Các nhân tố đó không chỉ chi phối việc tạo lập vănbản ở người nói / người viết mà còn là căn cứ cho việc tiếp nhận văn bản ở ngườinghe / người đọc Đây chính là tiền đề quan trọng giúp người giáo viên xây dựngnhững định hướng trong việc dạy học Làm văn theo hướng giao tiếp Học sinh phảihọc ngôn ngữ với tư cách là một yếu tố trong giao tiếp, biết xử lí tốt mối quan hệgiữa các nhân tố tham gia hoạt động giao tiếp với việc sử dụng ngôn ngữ Có nhưvậy việc tạo lập và lĩnh hội văn bản mới có hiệu quả Giáo viên dạy Làm văn theohướng giao tiếp có nghĩa là dạy cho học sinh cách thức tổ chức, sử dụng ngôn ngữ
để tạo nên các loại văn bản tham gia vào hoạt động giao tiếp Hiệu quả của việc tạolập và tiếp nhận văn bản phụ thuộc vào khả năng sử dụng ngôn ngữ cũng như xử lítốt mối quan hệ giữa ngôn ngữ với các nhân tố trong hoạt động giao tiếp của họcsinh
1.1.3 Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
1.1.3.1 Khái niệm giao tiếp ngôn ngữ
Để thực hiện giao tiếp con người sử dụng nhiều phương tiện khác nhau,nhưng ngôn ngữ được coi là phương tiện cơ bản cũng là phương tiện có nhiều ưuthế nhất Chính vì vậy mà khả năng ứng dụng của giao tiếp ngôn ngữ rất cao tronglĩnh vực dạy học
Giao tiếp ngôn ngữ hay giao tiếp bằng ngôn ngữ là loại giao tiếp lấy ngônngữ (nói hoặc viết) làm phương tiện Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệtvừa có khả năng miêu tả đúng với hiện thực lại vừa có thể chuyển tải được chínhxác kể cả những tình cảm vốn rất khó xác định của con người Mỗi tín hiệu ngônngữ, đồng thời vừa chuyển tải nội dung sự vật hiện tượng vừa có thể biểu hiện cảsắc thái tình cảm (yêu, ghét, hờn, giận) của chủ thể đối với sự vật hiện tượng mà nó
Trang 19biểu hiện Là một hệ thống tín hiệu có tính xã hội cao, ngôn ngữ không chỉ làphương tiện tư duy và giao tiếp của những con người trong cùng một thời đại màcòn ở các thời đại khác nhau, lứa tuổi và nền văn hóa khác nhau.
Trong giao tiếp hàng ngày, giao tiếp miệng cũng như giao tiếp viết, chúng ta
có thể tạo ra những sản phẩm ngôn ngữ với dung lượng lớn nhỏ hay kích thướcngắn dài tuỳ ý nhưng không thể nhỏ hơn một câu mà thường đó là một chuỗi câuhay một văn bản Chúng ta thể hiện tư tưởng, ý nghĩ của mình và trao đổi với
người khác phổ biến dưới dạng văn bản Vì vậy có thể nói rằng: "Văn bản là đơn
vị giao tiếp cơ bản nhất của ngôn ngữ Làm văn chính là làm các loại văn bản để giao tiếp" [12, 13] Không có nhu cầu giao tiếp thì không ai nói và viết thành văn
bản Như vậy, rõ ràng Làm văn có quan hệ mật thiết với lí thuyết giao tiếp ngônngữ Nội dung của lí thuyết này có thể tóm tắt trong một số luận điểm sau:
Thứ nhất, giao tiếp ngôn ngữ không chỉ nhằm mục đích thông tin mà chủ
yếu là tác động đến người nhận về tư tưởng, tình cảm và hành động Chức năng cơbản của ngôn ngữ là thông báo, bộc lộ và tác động… Các chức năng này có khiđược thể hiện riêng rẽ nhưng cũng có khi được hoà trộn chặt chẽ trong một đơn vịngôn ngữ Vì vậy người nhận chỉ ở trong một ngữ cảnh cụ thể, đối mặt trực tiếp,cảm nhận được đầy đủ nét mặt, cử chỉ, giọng nói của người phát mới có thể lĩnhhội được đầy đủ thông điệp được người phát gửi đến Nhiều ý nghĩa thông báo củahoạt động giao tiếp ngôn ngữ ẩn đi mà chỉ còn sự tác động đến người nhận về tưtưởng, tình cảm, hành động
Thứ hai, mã hoá đúng quy tắc ngôn ngữ là điều kiện cần thiết để đạt đến
mục đích giao tiếp Các đơn vị ngôn ngữ được hình thành bởi những quy tắc từvựng, ngữ pháp, ngữ nghĩa Hoạt động giao tiếp ngôn ngữ không phải nhằmchuyển tải các quy tắc đó (trừ khi quy tắc ngôn ngữ là nội dung giao tiếp) Mộtgiao tiếp ngôn ngữ thông thường chỉ thật sự thành công khi cả người phát và ngườinhận đều lĩnh hội thông điệp theo cùng một nội dung Sử dụng đúng quy tắc ngôn
Trang 20ngữ là điều kiện căn bản để chuyển tải đúng nội dung giao tiếp mà người phátmong muốn.
Thứ ba, hiệu quả giao tiếp ngôn ngữ tỉ lệ thuận với sự hiểu biết về đối tượng
giao tiếp Đối tượng giao tiếp trong thực tế rất đa dạng, có thể là một hoặc nhiềungười Có người chủ động hào hứng lại có người bị động khiên cưỡng Nếu ngườiphát đón được thị hiếu, sở thích của người nhận thì sẽ chủ động lựa chọn nội dungnói, cách nói phù hợp làm cho người nhận thấy dễ hiểu hơn Hiểu biết về đối tượnggiao tiếp gồm nhiều mặt: tâm lí lứa tuổi, giới tính, sở thích, nghề nghiệp, vị trí xãhội Sự hiểu biết về đối tượng giao tiếp càng kĩ lưỡng bao nhiêu thì hiệu quả giaotiếp cũng theo đó mà tăng lên bấy nhiêu Thực tế chứng minh rằng các đối tượnggiao tiếp khác nhau sẽ quan tâm đến nội dung giao tiếp khác nhau theo những yêucầu và mức độ khác nhau và họ cũng đòi hỏi những cách thức diễn đạt khác nhau
1.1.3.2 Các giai đoạn của quá trình giao tiếp ngôn ngữ
Quá trình giao tiếp ngôn ngữ bao gồm một chuỗi các hoạt động kế tiếp nhau,được chia thành nhiều giai đoạn, có mở đầu, có kết thúc Người ta phân chia quátrình giao tiếp ngôn ngữ trải qua bốn giai đoạn: giai đoạn định hướng cho hoạtđộng giao tiếp; giai đoạn mở đầu cho quá trình giao tiếp; giai đoạn điều khiển, pháttriển và điều chỉnh quá trình giao tiếp; giai đoạn kết thúc quá trình giao tiếp Dướiđây chúng tôi xin làm rõ các hoạt động cụ thể của từng giai đoạn giao tiếp:
Giai đoạn định hướng cho hoạt động giao tiếp: xác định được đặc điểm của
đối tượng giao tiếp, mục đích và nhiệm vụ giao tiếp, các phương tiện sử dụng làmcông cụ giao tiếp…
Giai đoạn mở đầu cho quá trình giao tiếp: tạo tâm thế cho hoạt động giao
tiếp từ việc xây dựng kế hoạch, các bước cụ thể hoá để thực hiện kế hoạch ấy vànhững điều kiện đảm bảo cho hoạt động giao tiếp có kết quả
Giai đoạn điều khiển, điều chỉnh và phát triển quá trình giao tiếp: các chủ
thể giao tiếp được bộc lộ hướng tới mục đích và nhiệm vụ giao tiếp, đòi hỏi sự tích
Trang 21cực, chủ động, linh hoạt của chủ thể giao tiếp Đây cũng là giai đoạn thường nảysinh những yếu tố bất ngờ, ngẫu nhiên cần đến sự chú ý điều chỉnh của chủ thểgiao tiếp.
Giai đoạn kết thúc quá trình giao tiếp: lúc này hoạt động giao tiếp đã được
thực hiện Chủ thể giao tiếp phải đánh giá được hiệu quả giao tiếp Hiệu quả củahoạt động giao tiếp trước sẽ làm tiền đề và góp phần điều chỉnh hoạt động giaotiếp
1.2 Dạy học Tiếng Việt theo hướng giao tiếp
Dạy học ngôn ngữ bao gồm dạy cả Tiếng Việt và Làm văn Cũng như dạyhọc Làm văn, dạy học Tiếng Việt theo hướng giao tiếp cũng đang được chú trọng
Về dạy Tiếng “dạy học ngôn ngữ theo hướng giao tiếp là dạy về một phương tiện giao tiếp quan trọng nhất, dạy cho học sinh sử dụng tốt nhất phương tiện này” [12, 13] Còn dạy Làm văn “là dạy cách thức tổ chức giao tiếp hay nói cách khác là dạy cách thức tổ chức giao tiếp bằng văn bản”[12, 14] Để học Làm văn tốt, hay
nói cách khác để tạo lập và tiếp nhận văn bản tốt, học sinh cần phải nắm vững cácphương tiện ngôn ngữ, các qui tắc sử dụng ngôn ngữ, có kĩ năng nghe, đọc, nói,viết thành thạo Dạy học Tiếng Việt theo hướng giao tiếp là nhằm rèn luyện chocác em tất cả những kĩ năng ấy Trên cơ sở tích hợp, hai phân môn này có sự bổsung hỗ trợ cho nhau Chính vì vậy, để dạy học một bài lí thuyết Làm văn theohướng giao tiếp thì việc tìm hiểu dạy học Tiếng Việt theo hướng giao tiếp cũng làmột cơ sở lí luận quan trọng
Mục tiêu của dạy học môn Tiếng Việt trong nhà trường là tạo cho các emnăng lực sử dụng ngôn ngữ để suy nghĩ, giao tiếp và học tập Ở cuối bậc tiểu học,yêu cầu tối thiểu mà học sinh phải đạt được là đọc thông viết thạo, sử dụng tốtngôn ngữ nói và viết trong giao tiếp Như vậy, giao tiếp là một trong những mụctiêu chủ yếu của việc học Tiếng Muốn trau dồi năng lực này, học sinh phải rèn
Trang 22luyện các kĩ năng giao tiếp, tức là phải được học Tiếng Việt trong giao tiếp và sửdụng Tiếng Việt vào giao tiếp Bởi lẽ chỉ trong giao tiếp Tiếng Việt mới thể hiện
cụ thể các đặc trưng hệ thống của mình Và đặc biệt, chỉ trong hoạt động giao tiếp,trong quan hệ với các nhân tố giao tiếp khác các quy luật sử dụng Tiếng Việt mớiđược bộc lộ
Dạy học Tiếng Việt theo giao tiếp được thể hiện trong nội dung và trongphương pháp dạy học Về nội dung, dạy học theo hướng giao tiếp đòi hỏi mônTiếng Việt phải cung cấp cho học sinh không chỉ hệ thống kết cấu của tiếng Việt
mà cả tri thức về quy tắc, hoạt động, sử dụng và tri thức về sản phẩm của hoạtđộng Về việc rèn luyện năng lực sử dụng ngôn ngữ, hướng giao tiếp chú ý tới hai
kĩ năng: đọc và nghe Kĩ năng đọc yêu cầu phải hiểu được văn bản Việc hiểu vănbản, lĩnh hội được văn bản cần phải bộc lộ bằng các hành động bên ngoài Do đó,muốn kiểm tra được việc lĩnh hội văn bản sau khi đọc cần phải yêu cầu tóm tắt, ghihay kể lại bằng ngôn ngữ của mình, chuyển lời nói trực tiếp thành lời nói gián tiếp,chuyển thể văn bản, nhập vai người kể chuyện hoặc nhân vật kể lại văn bản Kĩnăng nghe phải đạt tới yêu cầu hiểu và lĩnh hội được thông điệp Việc rèn luyện kĩnăng nghe cần gắn với các thao tác: nghe – ghi, nghe – kể lại, thuật lại
Các phương pháp dạy học Tiếng Việt thường được sử dụng là: phân tíchngôn ngữ, luyện tập theo mẫu và thực hành giao tiếp Do dạy học Tiếng Việt là dạy
và học giao tiếp bằng Tiếng Việt, nên trong các phương pháp kể trên, phương phápthực hành giao tiếp có một vị trí đặc biệt quan trọng Bởi vì trong dạy học TiếngViệt, giao tiếp vừa là cách thức vừa là mục đích học tập Thông qua giao tiếp vàbằng con đường giao tiếp trong các tình huống nói năng gần với hiện thực, họcsinh được thường xuyên luyện tập sử dụng lời nói, từ đó kĩ năng giao tiếp của các
em được hình thành một cách toàn diện và bền vững Về một phương diện nào đó,khi dạy học theo phương pháp giao tiếp, giáo viên và học sinh cũng đã sử dụngphương pháp phân tích ngôn ngữ và phương pháp luyện tập theo mẫu Bởi vì hoạt
Trang 23động giao tiếp bằng lời phải thông qua phân tích ngôn ngữ và luyện tập theo mẫu;mặt khác các thao tác phân tích ngôn ngữ và luyện tập theo mẫu không thể táchkhỏi những tình huống giao tiếp và hoạt động giao tiếp cụ thể.
1.3 Lý thuyết ngôn ngữ học văn bản
Ngôn ngữ học văn bản được xem như một tiền đề lí thuyết quan trọng củaLàm văn Bộ môn này nghiên cứu rất nhiều vấn đề về văn bản từ nội dung – ngữnghĩa đến hình thức – kết cấu Văn bản được xem dưới hai góc độ: tĩnh và động Ởdạng tĩnh, các nhà nghiên cứu đã tìm ra những mô hình, sơ đồ, công thức…của vănbản Ở dạng động, văn bản được xem xét ở các mặt, từ hành vi lập ý xét về mặt nộidung, hành vi xây dựng kết cấu xét về mặt cấu tạo, đến hành vi tác động xét về mặtdụng học Để hiểu rõ hơn vì sao ngôn ngữ học văn bản lại được coi là một tiền đề
lí thuyết quan trọng của việc làm văn, chúng ta hãy xem xét quá trình giao tiếpbằng văn bản diễn ra như thế nào qua sơ đồ sau:
Nội dung
Nội dung thông báo A’
Trang 24tinh thần, tồn tại một cách trừu tượng và gắn liền với cơ quan đã sản sinh ra nó là
bộ não
Để thực hiện giao tiếp, người phát phải tìm cách truyền đi nội dung trừutượng ấy đến người nhận Để làm được việc này, người phát buộc phải chuyển nộidung thông báo thành một hệ thống thể chất cụ thể Chỉ thông qua hệ thống tínhiệu có tính thể chất, người nhận mới nắm được nội dung người phát thông báo
Hệ thống đó chính là ngôn ngữ
Quá trình chuyển nội dung thông báo thuộc hệ thống tinh thần sang hệ thốngngôn ngữ có tính chất vật chất được gọi là quá trình mã hóa nội dung Để có thểgiao tiếp được, nội dung thông báo trừu tượng phải chuyển thành các tín hiệu ngônngữ Sự mã hóa này không thể tiến hành bằng một từ hoặc một câu mà thườngbằng một văn bản Vì vậy, muốn thực hiện giao tiếp, nội dung thông báo cần được
mã hóa thành văn bản Quá trình này được gọi là quá trình xây dựng văn bản
Về phía người nhận, quá trình giao tiếp lại bắt đầu từ việc tiếp nhận văn bản
đã được mã hóa Khi tiếp xúc với một văn bản dưới dạng một chuỗi kí hiệu, ngườinhận phải tìm cách lí giải chúng Đó là sự luận giải về âm thanh (hoặc đường nét),ngữ nghĩa, ngữ pháp… Mục đích cuối cùng của sự luận giải này là khôi phục lạichính xác nội dung thông báo mà người phát truyền đi Đây là quá trình giải mãvăn bản Quá trình này được gọi là quá trình phân tích văn bản (hay quá trình hiểuvăn bản)
Như vậy, quá trình giao tiếp được xác lập khi có người phát tin truyền đimột nội dung thông báo nhất định tới người nhận tin nhằm một mục đích nào đó Ởđây, người phát tin và người nhận tin đều có quan hệ chặt chẽ với văn bản Hiệuquả của việc giao tiếp – người phát có trình bày đúng, đầy đủ ý định của mình haykhông, có đạt được mục đích đề ra hay không…và người nhận có hiểu chính xác,hiểu mọi khía cạnh của nội dung thông báo hay không… gắn liền với việc xâydựng và luận giải văn bản Như vậy có thể thấy ngay được rằng quá trình làm văn
Trang 25trong nhà trường là quá trình mã hóa văn bản, hay nói một cách khác đó là quátrình xây dựng văn bản Mà bộ môn chuyên nghiên cứu đặc điểm của văn bản, kếtcấu văn bản, các dạng thông tin trong văn bản…chính là ngôn ngữ học văn bản.Bởi vậy, có thể nói rằng ngôn ngữ học văn bản (hay cụ thể hơn là ngữ pháp vănbản) đã góp phần đắc lực cho việc đề xuất những nội dung lí thuyết và đặt ranhững kĩ năng cần rèn luyện cho học sinh trong môn Làm văn ở nhà trường phổthông.
1.4 Đặc điểm tâm lí lứa tuổi học sinh THPT khi tham gia hoạt động giao tiếp
Học sinh THPT đang ở một độ tuổi có nhiều biến động về thể chất và tâm lí.Dưới đây là sự tác động của các nhân tố tâm lí, sinh lí đến hoạt động giao tiếp củahọc sinh trong việc học Làm văn
1.4.1 Những nhân tố tâm lí, sinh lí tham gia vào quá trình giao tiếp
Hoạt động giao tiếp yêu cầu các nhân vật giao tiếp tham gia với tư cách cánhân, phải thể hiện được cái “tôi” cá nhân của mình trong quan hệ giao tiếp vớingười khác Để hoạt động giao tiếp đạt hiệu quả, người tham gia giao tiếp phải đápứng những yêu cầu về thể chất và sự phát triển tâm lí Ý thức về sự phát triển thểchất là yếu tố đầu tiên tham gia vào quá trình giao tiếp Trong quá trình tạo lập vănbản để giao tiếp, các giác quan của người tham gia giao tiếp được vận động, cácthao tác trình bày, thuyết phục cũng có vai trò đáng kể Ý thức về sự phát triển như
là một cá thể đầy đủ sẽ có vai trò quyết định trong hoạt động giao tiếp Người thamgia giao tiếp phải chứng tỏ cái “tôi” cá nhân của mình trong quá trình tạo lập vàtiếp nhận văn bản
Giao tiếp còn có sự tham gia của quá trình tâm lí, mà ở đó cảm giác, tri giác,tưởng tượng, tư duy được huy động tối đa Việc tạo lập một văn bản bao giờ cũngbắt đầu bằng hoạt động phân tích đề Quá trình phân tích này làm nảy sinh ở họcsinh cảm giác về vấn đề cần giải quyết Cảm giác này sẽ là cơ sở để hoạt động trigiác phát triển tiếp theo Cùng với tri giác là tưởng tượng để lựa chọn ngôn ngữ
Trang 26Khi tiến hành tạo lập văn bản, học sinh sẽ thể hiện những gì mình tưởng tượng,hình dung ở quá trình phân tích đề Như vậy, bằng tri giác người tạo lập văn bản đãthể hiện được cái “tôi” nhận thức của mình trong văn bản mà các em tạo lập.
Cảm giác và tri giác tham gia vào hoạt động giao tiếp với vai trò của hoạtđộng nhận thức cảm tính Tuy nhiên, nếu chỉ nhận thức bằng cảm tính thì chưa đủ,việc tạo lập một văn bản để tham gia vào hoạt động giao tiếp phải nhận thức bằng
cả lí tính nữa Nhận thức cảm tính là bước khởi đầu giữ vai trò quan trọng tronggiao tiếp Nó có nhiệm vụ cung cấp “nguyên vật liệu” cho những hoạt động tâm lícao hơn, hoạt động tư duy và tưởng tượng Tư duy là một hoạt động trí tuệ, mộthoạt động nhận thức Học sinh tư duy bằng cách thực hiện các thao tác phân tích,tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa những kết quả thu được của nhậnthức cảm tính Kết quả của tư duy trong hoạt động giao tiếp là những phán đoán và
lí giải cho những phán đoán của học sinh, với tư cách là chủ thể giao tiếp Bằnghoạt động tư duy người học đã thể hiện được rõ nét hơn cái “tôi” của mình trongviệc tạo lập và tiếp nhận văn bản Những phán đoán do tư duy mang lại là thước đokhả năng nhận thức và mức độ tiếp nhận của học sinh
Bên cạnh yếu tố tâm lí còn có yếu tố sinh lí tham gia vào quá trình giao tiếp
Đó là các yếu tố về độ tuổi, thể chất, trí tuệ, thói quen, nếp sống và mặt bằng vănhóa của người tạo lập và tiếp nhận văn bản Các yếu tố này tham gia vào quá trìnhgiao tiếp như là phương diện cơ bản của nhân vật giao tiếp, có tác dụng phát huytối đa năng lực giao tiếp của người tạo lập và tiếp nhận văn bản
1.4.2 Những nhân tố khích lệ quá trình giao tiếp
Cảm giác về sự trưởng thành của bản thân là một nét đặc trưng trong nhâncách học sinh THPT, là yếu tố đầu tiên khích lệ quá trình giao tiếp Đến tuổi này,
cơ thể các em đã phát triển và học sinh THPT ý thức rõ về sự phát triển mạnh mẽtrong cơ thể, thấy sức lực của mình ngày một dồi dào, thấy tầm hiểu biết được mởrộng, kĩ năng, kĩ xảo được phát triển Các em muốn chứng tỏ mình là người lớn
Trang 27nên có nhu cầu tham gia nhiều hơn các vấn đề của xã hội Mối quan hệ của họcsinh THPT với bạn bè, người lớn cũng có nhiều thay đổi Trong các quan hệ giaotiếp, học sinh THPT luôn có xu hướng coi mình là người đã trưởng thành, sẵn sàngtham gia vào các hoạt động để khẳng định mình Do sự phát triển khá đầy đủ vềthể chất, về tâm lí, học sinh THPT dễ tự giác, độc lập thực hiện các hoạt động họctập của bản thân mình Đó là các điều kiện phát triển khả năng giao tiếp của họcsinh.
Về trí tuệ, khả năng phân tích và tổng hợp của học sinh THPT ngày càngphát triển, là điều kiện để các em tham gia sâu hơn vào hoạt động giao tiếp Các
em đã thực hiện thành công những hoạt động trí tuệ cao Từ sự tri giác các sự vậthiện tượng riêng lẻ học sinh THPT đã có ý thức khái quát tìm ra bản chất của nó
Sự chú ý của học sinh THPT cũng có tính lựa chọn, tri giác có mục đích chiếm ưuthế Tư duy trừu tượng của học sinh THPT đã phát triển Bên cạnh tư duy hìnhtượng vẫn giữ vai trò quan trọng trong cấu trúc tư duy của các em, học sinh THPT
đã hình thành tư duy phê phán Các em biết lập luận giải quyết một vấn đề có căn
cứ Quá trình quan sát đã chịu sự điều khiển của hệ thống tín hiệu thứ hai nhiềuhơn và không tách dời khỏi tư duy ngôn ngữ Các em có thể điều khiển được hoạtđộng của mình theo kế hoạch chung Về trí nhớ, ghi nhớ có chủ định chiếm ưu thế,giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ Ghi nhớ lôgic trừu tượng, ghi nhớ ýnghĩa ngày càng tăng rõ rệt Các em biết sử dụng các phương pháp ghi nhớ như:tóm tắt ý chính, so sánh đối chiếu… Đặc biệt, các em đã tạo được sự phân hóatrong ghi nhớ Những đặc điểm phát triển trí tuệ khiến học sinh THPT có khả năngtham gia ngày càng sâu hơn vào hoạt động giao tiếp
Đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của học sinh THPT là sự tự ýthức Đây là một yếu tố khích lệ quá trình giao tiếp Do sự phát triển mạnh mẽ của
cơ thể, của trí tuệ và đặc biệt do sự phát triển của các mối quan hệ giao tiếp với xãhội, với mọi người mà đã xuất hiện ở học sinh THPT nhu cầu quan tâm đến đời
Trang 28sống nội tâm của mình, xuất hiện nhu cầu tự đánh giá Phẩm chất tự ý thức xuấthiện và phát triển có ý nghĩa lớn lao đối với quá trình phát triển nhân cách lứa tuổihọc sinh THPT
B Cơ sở thực tiễn
Để có cơ sở thực tiễn cho đề tài, chúng tôi tiến hành khảo sát nghiên cứuthực trạng dạy học phần Làm văn nói chung và dạy học bài “Thao tác lập luận bìnhluận” trong SGK Ngữ văn 11 nói riêng tại trường THPT Kim Anh – TP Hà Nội.Với đối tượng khảo sát là 14 giáo viên giảng dạy Ngữ văn trong trường và 82 họcsinh thuộc hai lớp 11G và 11Q Quá trình khảo sát thực trạng được tiến hành nhưsau:
1.1 Điều tra thăm dò ý kiến và dự giờ giáo viên
1.1.1 Cách thức tiến hành
Người giáo viên có vai trò rất quan trọng trong dạy học Giáo viên là ngườiđiều khiển, tổ chức, định hướng quá trình lĩnh hội tri thức, hình thành kĩ năng chohọc sinh Bởi vậy, chúng tôi đã tiến hành phát phiếu điều tra thăm dò ý kiến củacác giáo viên giảng dạy Ngữ văn tại trường mà chúng tôi thực tập Phiếu điều tragồm 8 câu hỏi (xem phần phụ lục)
Việc phát phiếu điều tra chỉ là một yếu tố nhỏ để rút ra những nhận xét vềtính tích cực trong nhận thức của giáo viên về dạy học Làm văn theo hướng giaotiếp Cùng với việc phát phiếu điều tra chúng tôi tiến hành dự giờ dạy của giáoviên ngay tại lớp học để đánh giá khách quan về việc dạy học Làm văn nói chung
và dạy học bài “Thao tác lập luận bình luận” trong SGK Ngữ văn 11 nói riêng Dựgiờ giáo viên được tiến hành tại 2 lớp: 11G do cô Nguyễn Thu Huyền dạy và lớp11Q do cô Lê Thị Trang dạy với cùng một bài là “Thao tác lập luận bình luận”
1.1.2 Kết quả khảo sát
Trang 29Qua việc phát phiếu điều tra thăm dò ý kiến cho 14 giáo viên, kết hợp với dựgiờ 2 giáo viên giảng dạy trên lớp, chúng tôi nhận thấy một số vấn đề về thực tiễndạy học Làm văn nói chung và dạy học bài “Thao tác lập luận bình luận” trongSGK Ngữ văn 11 nói riêng như sau:
Thứ nhất, đa số các giáo viên đều nhận thức được việc đổi mới phương phápdạy học là “rất cần thiết” Khi tiến hành dạy học, phần lớn giáo viên có ý thức vậndụng phương pháp mới nhằm đem lại hiệu quả cao trong giờ học Các giáo viêncũng nhận thấy sự cần thiết cũng như tác dụng của việc dạy học bài “Thao tác lậpluận bình luận” theo hướng giao tiếp Đặc biệt trong việc rèn luyện kĩ năng giaotiếp cho học sinh Tuy nhiên, bên cạnh phương pháp truyền thống như phươngpháp thuyết trình, phương pháp vấn đáp…thì phương pháp dạy học mới nhưphương pháp giao tiếp, phương pháp tình huống còn chưa thực sự phổ biến Nhiềugiáo viên chưa biết quy trình dạy học một bài Làm văn theo hướng giao tiếp, chủyếu dạy theo sách giáo khoa, thiếu tính thực tiễn, do vậy chưa thực sự đạt đượcmục tiêu rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh Đa số học sinh khi tham gia hoạtđộng giao tiếp đều lúng túng vụng về trong việc diễn đạt và chưa thực sự tự tintrước đám đông
Thứ hai, qua dự giờ và kết qủa thu được từ phiếu điều tra, chúng tôi cũngthấy rõ những hạn chế cần rút kinh nghiệm:
Phần lớn giáo viên cho rằng “rất cần thiết” dạy học Làm văn cho học sinhphổ thông theo hướng giao tiếp nhưng họ lại chưa có sự nhận thức một cách đầy
đủ về khái niệm dạy học theo hướng giao tiếp, dạy học bằng giao tiếp và thông quagiao tiếp Chính vì vậy, từ việc soạn giáo án đến việc tổ chức dạy học chưa cónhiều sáng tạo Chỉ có một số giáo viên có chuyên môn giỏi, có tâm huyết với nghề
và việc đổi mới phương pháp dạy học mới đem lại cho học sinh những giờ họcsinh động và hấp dẫn