Từ đây, lịch sử cách mạng Việt Nam đã chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối, đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân ta vào quỹ đạo cách mạng vô sản trên thế giới trong cuộc đấu tra
Trang 1Câu 1: Quá trình lựa chọn con đường cách mạng vô sản của Nguyễn Ái Quốc(1911 – 1920)
Vượt qua những hạn chế của các bậc tiền bối, với tấm lòng yêu nước, thương dân sâu sắc và sự trăn trở về vận mệnh dân tộc, Nguyễn Tất Thành đã sớm nhận thấy con đường do những người
đi trước mở ra sẽ không giải phóng được dân tộc
Theo Người, con đường của Hoàng Hoa Thám, vì tư tưởng phong kiến lỗi thời của nó, không thể dẫn tới thắng lợi Con đường cầu viện Nhật Bản của Phan Bội Châu thì chẳng khác gì việc “đuổi
hổ cửa trước, rước beo cửa sau” Còn con đường của Phan Chu Trinh chẳng qua chỉ là sự “xin giặc rủ lòng thương”
Bởi vậy, mặc dù rất kính mến, trân trọng thế hệ cha anh, nhưng Nguyễn Tất Thành đã không thể
đi theo con đường của họ Người muốn đi tìm một con đường cứu nước mới Đó chính là bước ngoặt, một sự lựa chọn lịch sử có ý nghĩa rất quan trọng, mở đầu cho quá trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành
Rõ ràng, ý nghĩ tìm hiểu về nước Pháp đã xuất hiện rất sớm ở Nguyễn Tất Thành Cái lý do hấp dẫn để Người muốn tìm hiểu về nước Pháp đó là những truyền thống tự do, bình đẳng, bác ái và nền văn minh của chính quốc, đồng thời đó cũng là nơi đẻ ra mọi chế độ thực dân thối nát và cực
kỳ tàn bạo như chính Người đã thấy trên đất nước mình Nguyễn Tất Thành muốn hiểu cho được cái nghịch đề văn minh - dã man mà chính nước Pháp vĩ đại đã sản sinh ra nó Như vậy, theo Nguyễn Tất Thành: muốn tìm được con đường cứu nước thì trước hết phải hiểu thật đúng, thật đầy đủ về những kẻ đang cướp nước mình Muốn đánh đổ được chủ nghĩa thực dân để giải phóng cho đồng bào thì trước hết phải hiểu cho được cái gốc rễ, cái bản chất của chủ nghĩa thực dân
Sự khác biệt của Nguyễn Tất Thành so với tất cả những người Việt Nam đi sang nước Pháp lúc bấy giờ chính là ở chỗ đó
• Từ chỗ xác định rõ động cơ, mục đích, hướng đi như vậy, Nguyễn Tất Thành đã chọn một cách
đi riêng cho mình
Trong vòng mười năm, từ năm 1911 đến năm 1920, Người đã tận dụng mọi cơ hội để được đến nhiều nơi trên thế giới Bàn chân của Người đã từng in dấu trên nhiều nước thuộc các đại lục Âu,
Á, Phi, Mỹ Đặc biệt Người đã dừng chân khảo sát khá lâu ở ba nước đế quốc lớn nhất thời đó là
Mỹ, Anh và Pháp Với những chuyến đi, những cuộc khảo nghiệm đó, Người đã bổ sung được
Trang 2cho mình những kiến thức vô cùng phong phú với một tầm nhìn hết sức rộng lớn và bao quát Người đã nhìn thấy giai cấp tư sản ở thế kỷ này không còn là giai cấp tiến bộ của thời đại nữa và con đường cách mạng tư sản không phải là con đường chúng ta nên đi Còn về các dân tộc thuộc địa và về chủ nghĩa thực dân, Người rút ra kết luận gần như một chân lý bất hủ: ở đâu bọn đế quốc, thực dân cũng tàn bạo, độc ác; ở đâu những người lao động cũng bị bóc lột, áp bức nặng
nề và “dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”
• Trên cở sở những nhận thức căn bản đó, điều mong muốn tìm cho được con đường cứu nước đúng đắn càng thôi thúc, giục giã Nguyễn Tất Thành
Đặc biệt, khoảng đầu năm 1919, Người gia nhập tổ chức tiến bộ nhất ở Pháp lúc bấy giờ là Đảng
Xã hội Pháp - một chính đảng nhân danh đại biểu cho giai cấp công nhân mà lúc đó phần nào quan tâm đến quyền lợi của những người lao động, phần nào đồng tình với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức
Từ đây, Nguyễn Tất Thành đã thực sự bước vào cuộc chiến đấu với tư cách một nhà hoạt động cách mạng chuyên nghiệp Người không còn dừng lại ở việc quan sát hay suy ngẫm riêng mình,
mà đã thực sự đi vào hoạt động, vào tổ chức, hòa mình vào phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và quần chúng lao động ngày càng rộng lớn hơn
Bằng những hoạt động sôi nổi như vậy, Nguyễn Tất Thành đã nhanh chóng nắm bắt được thời cuộc, trên cơ sở đó có sự lựa chọn và định hướng đúng đắn cho bản thân và cho dân tộc.Bước ngoặt đầu tiên của sự lựa chọn đó trước hết là ảnh hưởng vang dội của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 Tuy lúc đầu chưa hiểu biết đầy đủ, sâu sắc về sự kiện vĩ đại này, song vốn
có sự nhạy cảm về chính trị, lại có thực tiễn cuộc sống của nhân dân bị áp bức và việc ấp ủ, nung nấu nhiều ý tưởng, mong ước giải phóng dân tộc, Người đã nhận thấy đây là biến cố lớn “có một sức lôi cuốn kỳ diệu”, và ảnh hưởng của nó được Người ví “tựa như Người đi đường đang khát
mà có nước uống, đang đói có cơm ăn”
• Nếu trước năm 1911, Nguyễn Tất Thành mới nhận thức được sự bế tắc của con đường cứu nước cũ, tình trạng đất nước như “trong đêm tối không có đường ra”, thì giờ đây, Nguyễn Tất Thành đã thấy bùng lên một hy vọng về công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc theo con đường
Trang 3mới, nhất định sẽ đưa lại thắng lợi Dần dần về sau trong hoạt động thực tiễn và nhận thức lý luận, Người hiểu rõ hơn về Cách mạng Tháng Mười, về Chủ nghĩa Lê-nin, về con đường Cách mạng Tháng Mười đã vạch ra cho các dân tộc bị áp bức đấu tranh để tự giải phóng
Sự kiện thứ hai dẫn đến bước ngoặt của sự lựa chọn của Người đó là khi Người đọc “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V I Lê-nin vào năm 1920 đăng trên báo “Nhân đạo” của Đảng Xã hội Pháp Bản Luận cương đã thu hút sự chú ý đặc biệt của Người và qua lăng kính của chủ nghĩa yêu nước chân chính, Người đã tìm thấy ở đó con đường đúng đắn để giải phóng đất nước khỏi ách thực dân
Sau này, khi nhắc đến sự kiện này, Người đã viết: “Luận cương của Lê-nin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”
Sự kiện thứ ba, thể hiện sự khẳng định về sự lựa chọn của Nguyễn Ái Quốc đó là quyết định bỏ phiếu tán thành Quốc tế III và tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp (tháng 12-1920) Việc bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Pháp đã đánh dấu một bước ngoặt quyết định trong cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Ái Quốc và cũng là sự khởi đầu một bước ngoặt căn bản trong lịch sử và sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam Từ đây, lịch sử cách mạng Việt Nam đã chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối, đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân ta vào quỹ đạo cách mạng vô sản trên thế giới trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa thực dân, đế quốc, và đi tới thắng lợi cuối cùng là độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản
Trong thắng lợi chung đó, lịch sử dân tộc ta mãi mãi ghi nhận công lao và vai trò to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với sự lựa chọn con đường cứu nước đúng đắn - sự lựa chọn lịch sử, đáp ứng những yêu cầu, đòi hỏi đặt ra của cách mạng Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX
Câu 2: Sự chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam Phân tích làm rõ sự sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc trong vận dụng lý luận Mác – Leenin để xây dựng lý luận cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam
Trang 4Nguyễn Ái Quốc còn vận dụng sự sáng tạo lý luận Mac- Leenin trong việc xây dựng cách mạng giải phóng dân tộc
Đầu tiên, cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản.Trong quá trình vận dụng lý luận cách mạng vô sản vào Việt Nam, Hồ Chí Minh đã kiên trì khắc phục những trở ngại của khuynh hướng giáo điều, nhấn mạnh một chiều đấu tranh giai cấp trong nửa sau những năm 20 và nửa đầu những năm 30 của thế kỷ XX, làm cho lý luận cách mạng giải phóng dân tộc theo khuynh hướng vô sản có sức sống mạnh mẽ, thâm nhập trong đông đảo quần chúng nhân dân
• Thứ hai, cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải do Đảng Cộng sản lãnh đạo Đây
là một sáng tạo của Hồ Chí Minh về lý luận cách mạng giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh cho rằng, “Cách mệnh trước hết phải có đảng cách mệnh Đảng có vững cách mệnh mới thành công ” Đảng đó phải được xây dựng theo nguyên tắc đảng kiểu mới của V.I.Lênin, được vũ trang bằng chủ nghĩa Mác - Lênin
• Thứ ba, cách mạng giải phóng dân tộc là sự nghiệp đoàn kết của toàn dân trên cơ sở liên minh công nông Sinh thời, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cách mạng giải phóng dân tộc là sự nghiệp đoàn kết toàn dân, trên cơ sở liên minh công nông làm nòng cốt” Trong đó, “thực hiện cho được liên minh công nông vì đó là sự bảo đảm chắc chắn nhất những thắng lợi của cách mạng”
• Thứ tư, cách mạng giải phóng dân tộc phải được tiến hành bằng con đường cách mạng bạo lực, kết hợp đấu tranh chính trị của quần chúng với đấu tranh vũ trang; thực hiện khởi nghĩa từng phần tiến tới tổng khởi nghĩa giành thắng lợi hoàn toàn Vượt lên tư tưởng của các nhà lãnh đạo cách mạng tiền bối, Hồ Chí Minh xác định phương pháp đấu tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam phải được tiến hành bằng con đường cách mạng bạo lực, kết hợp đấu tranh chính trị của quần chúng với đấu tranh vũ trang; thực hiện khởi nghĩa từng phần tiến tới tổng khởi nghĩa giành thắng lợi hoàn toàn
Những sáng tạo lý luận của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc phản ánh nguyện vọng được sống trong độc lập, tự do và công bằng, bình đẳng của không chỉ dân tộc Việt Nam
mà còn là ý chí, nguyện vọng của mọi dân tộc bị áp bức, bóc lột trên thế giới, như Hồ Chí Minh
đã khẳng định: “tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền
Trang 5sống, quyền sung sướng và quyền tự do Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”
Câu 3: Phân tích nội dung Cương Lĩnh chính trị đầu tiên và giá trị của văn kiện này đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc và phát triển đất nước
Nội dung
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng xác định rõ các chiến lược dài hạn của cách mạng Việt Nam trên 5 mặt sau đây: (1) phương hướng chiến lược, (2) nhiệm vụ cách mạng, (3) lực lượng cách mạng, (4) lãnh đạo cách mạng, và (5) quan hệ với cách mạng thế giới
Trước tình hình thực dân Pháp xâm lược, mọi tầng lớp, giai cấp đều đặt dưới sự thống trị của thực dân Pháp, Cương lĩnh xác định mâu thuẫn cơ bản nhất của nước ta lúc bấy giờ là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và bọn tay sai phản động
Về phương hướng chiến lược, để giải quyết mâu thuẫn căn bản nêu trên, Cương lĩnh xác định
cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn, “tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” Hai giai đoạn này khăng khít nhưng không giải quyết đồng thời
vì không đủ lực lượng Trong mỗi giai đoạn, phải tập trung lực lượng giải quyết lần lượt từng mâu thuẫn ở nước ta là mâu thuẫn dân tộc – đế quốc và mâu thuẫn giai cấp, trong đó mâu thuẫn dân tộc – đế quốc là mâu thuẫn cơ bản nhất và cần phải được ưu tiên giải quyết trước Mặc dù mang tính chất của một cuộc cách mạng vô sản, nhưng Nguyễn Ái Quốc không áp dụng một cách máy móc cách mạng vô sản thế giới vào nước ta vì lúc này mâu thuẫn giai cấp ở nước ta không nhiều Mâu thuẫn giữa địa chủ – nông dân có thể tự điều hòa được, còn mâu thuẫn giữa tư sản và
vô sản Việt Nam cũng không lớn do tư sản Việt Nam về thực chất cũng chỉ là giai cấp bị trị, chịu
sự bóc lột của tư sản Pháp Như vậy, việc xác định nhiệm vụ chiến lược quan trọng nhất là tiêu diệt thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc của Hồ Chí Minh là sự ứng dụng sáng tạo vô cùng đúng đắn của Nguyễn Ái Quốc vào tình hình thực tế của nước ta
Về nhiệm vụ cụ thể của cách mạng, Cương lĩnh xác định lần lượt ba nhiệm vụ ở ba mảng chính
trị, kinh tế, văn hóa – xã hội Về chính trị, nhiệm vụ cụ thể là phải đánh đổ đế quốc Pháp và phong kiến, trong đó nhiệm vụ chống đế quốc là hàng đầu, làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, lập chính phủ công nông binh, tổ chức quân đội công nông Về kinh tế, cương lĩnh chủ
Trang 6trương tịch thu sản nghiệp lớn của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp giao cho chính phủ công nông binh; tịch thu toàn bộ ruộng đất của bọn đế quốc chủ nghĩa làm của công và chia cho dân cày nghèo; mở mang công nghiệp, nông nghiệp, miễn thuế cho dân cày nghèo… Ở đây, Cương lĩnh chỉ tịch thu ruộng đất của đế quốc chứ chưa tịch thu ruộng đất của phong kiến, tập trung toàn bộ lực lượng cho mục tiêu giải phóng dân tộc và tránh tạo thêm kẻ thù cho cách mạng Thứ ba, về văn hóa – xã hội, phải làm sao cho dân chúng được tự do tổ chức; nam nữ bình quyền, …; phổ thông giáo dục theo công nông hóa
Về lực lượng cách mạng, Cương lĩnh xác định phải tập hợp được cả ba nhóm lực lượng vào cách
mạng Nhóm thứ nhất là nhóm lực lượng đông đảo nhất, chịu áp bức nặng nề nhất và là nền tảng của cách mạng vô sản, đó là bộ phận giai cấp công nhân và giai cấp nông dân Phải dựa vào dân cày nghèo, lãnh đạo nông dân làm cách mạng ruộng đất, thực hiện nhiệm vụ tịch thu ruộng đất của đế quốc và tạm gác tịch thu ruộng đất của phong kiến Nhóm thứ hai là nhóm giai cấp tiểu
tư sản, trí thức, trung nông, Thanh niên, Tân Việt, … phải kéo họ vào phe vô sản giai cấp Thứ
ba, phải tập hợp được cả giai cấp phong kiến yêu nước, bao gồm phú nông, trung, tiểu địa chủ
và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ trung lập Như vậy, chủ trương tập hợp lực lượng của Cương lĩnh là phải tập hợp được toàn bộ dân tộc vào khối đấu tranh chung, miễn là họ có tinh thần dân tộc, vì mâu thuẫn là mâu thuẫn của cả dân tộc, giai cấp nào cũng chịu áp bức từ thực dân Pháp Lực lượng càng đông đảo thì khả năng thành công của cách mạng càng cao
Về lãnh đạo của cách mạng, nhận thấy sự thất bại trong các cuộc đấu tranh theo khuynh hướng
phong kiến và tư sản của ông cha mà lãnh đạo là phong kiến và tư sản, Cương lĩnh khẳng định cách mạng nước ta lúc này phải là cách mạng vô sản, và lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam phải là giai cấp vô sản Đảng phải là đội quân tiên phong của giai cấp vô sản, phải thu phục được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được quần chúng Trong quá trình tập hợp lực lượng, “phải cẩn thận, không khi nào nhượng bộ một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào con đường thỏa hiệp”
Cuối cùng, về quan hệ với cách mạng thế giới, Đảng khẳng định muốn cách mạng thực sự thành
công thì phải đồng thời tiêu diệt đế quốc ở cả hai mặt trận thuộc địa và chính quốc Do đó, cách
Trang 7mạng Việt Nam phải trở thành một bộ phận của cách mạng thế giới, phải thực hành liên lạc với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới, đặc biệt là giai cấp vô sản Pháp
Giá trị của Cương lĩnh chính trị đầu tiên đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc và phát triển đất nước
Giá trị của Cương lĩnh chính trị đầu tiên đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc và phát triển đất nước
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đã phản ánh một cách súc tích các luận điểm cơ bản của cách mạng Việt Nam Trong đó, thể hiện bản lĩnh chính trị độc lập, tự chủ, sáng tạo trong việc đánh giá đặc điểm, tính chất xã hội thuộc địa nửa phong kiến Việt Nam trong những năm 20 của thế kỷ XX, chỉ rõ những mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu của dân tộc Việt Nam lúc đó, đặc biệt là việc đánh giá đúng đắn, sát thực thái độ các giai tầng xã hội đối với nhiệm vụ giải phóng dân tộc
Từ đó, đã xác định đường lối chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam, đồng thời xác định phương pháp cách mạng, nhiệm vụ cách mạng và lực lượng của cách mạng để thực hiện đường lối chiến lược và sách lược đã đề ra
Những nội dung cơ bản của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng là sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của một nước thuộc địa nửa phong kiến
Đó chính là giải quyết đúng đắn các mối quan hệ cốt lõi trong cách mạng Việt Nam: kết hợp đúng đắn vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc; kết hợp truyền thống yêu nước và tinh thần cách mạng của nhân dân ta với những kinh nghiệm của cách mạng thế giới; kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế trong sáng Đặc biệt là sự kết hợp nhuần nhuyễn và đầy sáng tạo, đặc điểm thực tiễn, yêu cầu của cách mạng Việt Nam với tư tưởng tiên tiến cách mạng của thời đại Vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam một cách đúng đắn, sáng tạo và có phát triển trong điều kiện lịch sử mới
nước và tinh thần cách mạng của nhân dân ta với những kinh nghiệm của cách mạng thế giới; kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế trong sáng Đặc biệt là sự kết hợp nhuần nhuyễn
và đầy sáng tạo, đặc điểm thực tiễn, yêu cầu của cách mạng Việt Nam với tư tưởng tiên tiến cách mạng của thời đại Vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam một cách đúng đắn, sáng tạo và có phát triển trong điều kiện lịch sử mới
Trang 8Đối với sự phát triển của đất nước:
Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ khi Đảng ra đời đến nay đã khẳng định sự đúng đắn của Cương lĩnh chính trị đầu tiên Đi theo Cương lĩnh ấy, trong suốt 85 năm qua dân tộc Việt Nam đã thay đổi cả vận mệnh của dân tộc, thay đổi cả thân phận của người dân và từng bước khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế Thực hiện đường lối chiến lược được hoạch định trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, Việt Nam từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa; nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới
Câu 4: Phân tích nội dung và đánh giá ưu điểm, hạn chế của Luận cương chính trị (10 – 1930)
Nội dung
Hội nghị đã thông qua nghị quyết về tình hình và nhiệm vụ cần kíp của Đảng; thảo luận Luận cương chính trị, Điều lệ Đảng và điều lệ các tổ chức quần chúng Trong đó có một số nội dung quan trọng như sau:
Về tính chất xã hội Việt Nam lúc này là thuộc địa nửa phong kiến Nội dung này được nêu ra
hoàn toàn phù hợp với thực tiễn khi mà đất nước ta lúc này vẫn đang chịu sự cai trị và bóc lột ngày càng tàn bạo của đế quốc Pháp về kinh tế, ngoại giao, thương nghiệp, nông nghiệp, song vẫn còn những tàn tích phong kiến rất nặng nề
Về mâu thuẫn giai cấp, diễn ra gay gắt giữa một bên là thợ thuyền, dân cày và các phần tử lao
khổ với một bên là địa chủ phong kiến, tư bản và đế quốc chủ nghĩa Văn kiện không nhắc đến mâu thuẫn đang bao trùm xã hội Việt Nam lúc bấy giờ giữa dân tộc Việt Nam và thực Pháp, mà nhấn mạnh đến mâu thuẫn giai cấp
Về nhiệm vụ chiến lược, làm cách mạng tư sản dân quyền có tính chất thổ địa và phản đế, sau khi
cách mạng tư sản dân quyền thắng lợi sẽ tiếp tục phát triển bỏ qua thời kỳ tư bản chủ nghĩa Về nhiệm vụ chiến lược, làm cách mạng tư sản dân quyền có tính chất thổ địa và phản đế, sau khi cách mạng tư sản dân quyền thắng lợi sẽ tiếp tục phát triển bỏ qua thời kỳ tư bản chủ nghĩa
Trang 9Về nhiệm vụ cụ thể, đánh đổ phong kiến để thực hiện cách mạng ruộng đất triệt để, đánh đổ đế
quốc Pháp để Đông Dương hoàn toàn độc lập Hai nhiệm vụ này có quan hệ khăng khít với nhau, trong đó vấn đề thổ địa là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền Bên cạnh đó còn một số nhiệm
vụ cụ thể khác như: lập ra chính phủ công nông; tịch thu ruộng đất của địa chủ nước ngoài, địa chủ bản xứ và giáo hội trao cho nông dân, quyền sở hữu ruộng đất là chính phủ công nông; sung công tất cả các sản nghiệp lớn của tư bản nước ngoài; bãi bỏ các sưu thuế hiện thời, lập ra thuế lũy tiến; thực hiện ngày làm công 8 giờ, cải thiện sinh hoạt cho thợ thuyền và những người lao động; Ðông Dương hoàn toàn độc lập và thực hiện quyền dân tộc tự quyết; lập quân đội công nông; thực hiện nam nữ bình quyền; ủng hộ Liên Xô, liên kết với giai cấp vô sản thế giới và phong trào cách mạng thuộc địa, nửa thuộc địa
Về lực lượng cách mạng, Luận cương nhấn mạnh giai cấp vô sản là động lực chính, dân cày là
động lực mạnh của cách mạng Những giai cấp và tầng lớp khác bị cho là không đứng về phía cách mạng: tư sản thương nghiệp đứng về phía đế quốc, tư sản công nghiệp đứng về phía quốc gia cải lương và khi cách mạng phát triển thì họ sẽ theo đế quốc; về tầng lớp tiểu tư sản, bộ phận thủ công nghiệp thì có thái độ do dự, tiểu tư sản thương gia thì không tán thành cách mạng, tiểu
tư sản trí thức thì có xu hướng quốc gia chủ nghĩa và chỉ có thể hăng hái tham gia chống đế quốc trong thời kỳ đầu Luận cương còn cho rằng chỉ có các phần tử lao khổ ở đô thị như người bán hàng rong, thợ thủ công nhỏ và trí thức thất nghiệp mới tham gia cách mạng Như vậy, về lực lượng cách mạng, văn kiện này tập trung lôi kéo giai cấp vô sản, nông dân nghèo và quần chúng lao khổ
Về phương pháp cách mạng, phải có phương pháp cách mạng trong lúc bình thường và có phương
pháp cách mạng trong lúc có tình thế trực tiếp cách mạng Tức là lúc bình thường thì đặt khẩu hiệu, hô hào kêu gọi nông dân, công nhân tranh đấu cho những nhu yếu hàng ngày Khi có tình thế trực tiếp cách mạng – sức mạnh tranh đấu đã dâng rất cao – thì Đảng phải lãnh đạo quần chúng khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền “mà lại phải theo khuôn phép nhà binh”
Về phạm vi giải quyết vấn đề dân tộc mở rộng ra toàn bộ ba nước Đông Dương bao gồm Việt
Nam, Lào và Campuchia Đây là điểm thay đổi so với Luận cương chính trị Vì theo quan điểm của Quốc tế Cộng sản, cả ba nước này có vị trí địa lý gần nhau và đều đang là thuộc địa của Pháp, phải hợp sức lại với nhau mới có thể thành công đánh đuổi thực dân Pháp
Trang 10Về lãnh đạo cách mạng là Đảng Cộng sản Đông Dương Sự lãnh đạo của Đảng cộng sản là điều
kiện cốt yếu cho thắng lợi của cách mạng Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng, đại biểu chung cho quyền lợi của giai cấp vô sản ở Đông Dương, đấu tranh để đạt được mục đích cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản
Về quan hệ quốc tế, cách mạng Đông Dương là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới, vì
thế giai cấp vô sản Đông Dương phải đoàn kết gắn bó với giai cấp vô sản thế giới, trước hết là giai cấp vô sản Pháp,và phải mật thiết liên lạc với phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa nhằm mở rộng và tăng cường lực lượng cho cuộc đấu tranh cách mạng ở Đông Dương
Ưu điểm
Luận cương chính trị 10/1930 đã khẳng định lại nhiều vấn đề căn bản thuộc về chiến lược của cách mạng mà Cương lĩnh chính trị đầu tiên đã nêu và giữa chúng có sự thống nhất với nhau về phương hướng chiến lược đi lên chủ nghĩa xã hội, hai nhiệm vụ chống đế quốc và phong kiến, lực lượng cách mạng chính là giai cấp công nhân và nông dân, phương pháp cách mạng, quan hệ với cách mạng thế giới và lãnh đạo cách mạng
Hạn chế
Khi đánh giá mâu thuẫn, Luận cương chính trị 10/1930 đã quá nhấn mạnh và xem mâu thuẫn giai cấp là mâu thuẫn chủ yếu Điều này không phù hợp với quốc gia thuộc địa - nửa phong kiến Việt Nam Bởi vì, tại Việt Nam lúc bấy giờ, mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ phong kiến không gay gắt, mâu thuẫn giữa công nhân và tư sản Việt Nam cũng vậy Tầng lớp địa chủ và giai cấp
tư sản Việt Nam không có tiềm lực mạnh về kinh tế, không bóc lột tầng lớp dưới nhiều dẫn đến mâu thuẫn giai cấp gay gắt như xã hội các nước phương Tây Nên nhìn chung, mâu thuẫn chủ yếu tại Việt Nam vẫn là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc Pháp và bọn tay sai chứ không phải mâu thuẫn giữa các giai cấp
Về giải quyết mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chống đế quốc và phong kiến, giữa vấn đề dân tộc
và dân chủ, văn kiện đã nhấn mạnh đến nhiệm vụ chống phong kiến hơn là nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc đồng thời đặt vấn đề thổ địa làm cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền Luận cương cho rằng nhiệm vụ chống đế quốc và thổ địa cách mạng có quan hệ khăng
Trang 11khít, không thể tách rời, khác với Cương lĩnh chính trị17 đầu tiên là chúng nằm ở hai giai đoạn cách mạng riêng biệt nhau Nhưng rõ ràng, với tình hình thực tế đã nêu trên, nhiệm vụ quan trọng
mà cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ cần tập trung trước tiên là chống đế quốc để giành lại độc lập, tự do cho dân tộc như chứ không phải là chống phong kiến, giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân Hai nhiệm vụ đó nên được thực hiện ở hai giai đoạn khác nhau để có thể huy động tối
đa nguồn lực cho mỗi nhiệm vụ
Về lực lượng cách mạng, do hạn chế trong đánh giá thực tiễn, Luận cương chính trị 10/1930 đã quá nhấn mạnh vai trò của giai cấp công nhân, nông dân và chưa thấy được khả năng cách mạng của các giai cấp, tầng lớp khác như phong kiến, tư sản, tiểu tư sản Văn kiện không huy động được mọi lực lượng trong xã hội Việt Nam cho cuộc đấu tranh chống đế quốc Pháp và bọn tay sai, giành độc lập cho dân tộc Luận cương đã bỏ qua bộ phận phong kiến yêu nước là một Giai cấp tư sản Việt Nam - xuất hiện sau công nhân Việt Nam, số lượng ít, tiềm lực kinh tế không đáng kể, từ khi “ra đời” đã bị thống trị bởi đế quốc Pháp, do đó giai cấp này mâu thuẫn với thực dân Pháp và chủ yếu chứ với công nhân Việt Nam thì không gay gắt – cũng đã bị bỏ qua, kể cả tiểu tư sản, trí thức
Về lực lượng cách mạng, do hạn chế trong đánh giá thực tiễn, Luận cương chính trị 10/1930 đã quá nhấn mạnh vai trò của giai cấp công nhân, nông dân và chưa thấy được khả năng cách mạng của các giai cấp, tầng lớp khác như phong kiến, tư sản, tiểu tư sản Văn kiện không huy động được mọi lực lượng trong xã hội Việt Nam cho cuộc đấu tranh chống đế quốc Pháp và bọn tay sai, giành độc lập cho dân tộc Luận cương đã bỏ qua bộ phận phong kiến yêu nước là một Giai cấp tư sản Việt Nam - xuất hiện sau công nhân Việt Nam, số lượng ít, tiềm lực kinh tế không đáng kể, từ khi “ra đời” đã bị thống trị bởi đế quốc Pháp, do đó giai cấp này mâu thuẫn với thực dân Pháp và chủ yếu chứ với công nhân Việt Nam thì không gay gắt – cũng đã bị bỏ qua, kể cả tiểu tư sản, trí thức
Nguyên nhân:
- Luận cương chưa tìm ra và nắm vững những đặc điểm của xã hội thuộc địa nửa phong
kiến Việt Nam
Trang 12- Do nhận thức giáo điều, máy móc về vấn đè dân tộc và giai cấp trong cách mạng ở thuộc địa, lại chịu ảnh hưởng trực tiếp khuynh hướng tả của Quốc tế Cộng sản và một số Đảng
trong thời gian đó
Câu 5: Phân tích các nội dung cơ bản và những hạn chế trong đường lối công nghiệp hóa của Đảng thời kỳ trước đổi mới
Nội dung CNH trước đổi mới
Đường lối công nghiệp hóa của Đảng bắt đầu được xác định từ Đại hội III năm 1960, trong đó thời kì trước đổi mới chia làm hai giai đoạn
Giai đoạn 1960 – 1975:
Trong giai đoạn này, đất nước bị chia cắt làm hai miền, có hai chế độ khác nhau Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Ðảng, năm 1960, chủ trương tiến hành cách mạng XHCN ở miền Bắc; cách mạng XHCN ở miền bắc gắn bó chặt chẽ với cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền nam và giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ sự nghiệp cách mạng của cả nước, đối với cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà; còn cách mạng miền nam có một vị trí rất quan trọng, có tác dụng quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền nam
Đại hội III nêu rõ đặc điểm kinh tế ở miền Bắc là nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội mà bỏ qua giai đoạn chủ nghĩa tư bản Đại hội khẳng định: muốn cải biến tình trạng kinh tế lạc hậu của nước ta, không có con đường nào khác, ngoài con đường công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa Đảng đã xác định công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời
kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Mục tiêu cơ bản của CNH XHCN được Đại hội III của Đảng xác định là xây dựng một nền kinh
tế XHCN cân đối và hiện đại; bước đầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH
Phương hướng chỉ đạo của Đảng tại Đại hội III (1960):
+ Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lí
+ Kết hợp chặt chẽ phát triển công nghiệp với phát triển nông nghiệp
+ Ra sức phát triển công nghiệp nhẹ song song với việc ưu tiên phát triển công nghiệp nặng