1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu luận văn Thực Trạng Và Giải Pháp Phòng Ngừa Rủi Ro Tín Dụng Tại Ngân Hàng TMCP Á Châu

89 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, hoạt động này luôn tiềm ẩn rủi ro cao, đặc biệt là ở các nước có nền kinh tế mới nổi như Việt Nam bởi hệ thống thông tin thiếu minh bạch và không đầy đủ, trình độ quản trị rủi

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ CẨM TÚ

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU

Chuyên ngành:

Mã số:

Ngân hàng

60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS HOÀNG CÔNG GIA KHÁNH

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2013

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô trường Đại học Kinh Tế đã truyền đạt

cho tôi kiến thức trong những năm học ở trường

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc và toàn thể nhân viên ngân hàng

TMCP Á Châu đã nhiệt tình tạo điều kiện cho tôi khảo sát trong quá trình thực

hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn TS Hoàng Công Gia Khánh đã tận tình hướng dẫn và

giúp đỡ tôi hoàn thành tốt luận văn này

Và xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã ủng hộ tinh thần và tạo điều kiện

tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này

Học viên NGUYỄN THỊ CẨM TÚ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

“Thực trạng và giải pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Á Châu”

là công trình nguyên cứu khoa học, độc lập của tôi Đây là luận văn Thạc sỹ kinh tế, chuyên ngành Ngân hàng Luận văn này chưa được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào

Tác giả: NGUYỄN THỊ CẨM TÚ

Trang 4

MỤC LỤC

Trang Danh mục bảng biểu, biểu đồ

Phần mở đầu

1 Đặt vấn đề

2 Mục tiêu nghiên cứu

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4 Phương pháp nghiên cứu

5 Kết cấu của luận văn

Chương 1: Tổng quan về hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại

1.1 Tín dụng ngân hàng thương mại 10

1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng 10

1.1.2 Bản chất của tín dụng ngân hàng 10

1.1.3 Phân loại tín dụng ngân hàng 10

1.1.4 Đặc điểm của tín dụng ngân hàng 12

1.1.5 Vai trò của tín dụng ngân hàng 12

1.1.5.1 Đối với ngân hàng 12

1.1.5.2 Đối với khách hàng 13

1.1.5.3 Đối với nền kinh tế 13

1.2 Rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại 17

1.2.1 Khái niệm 17

1.2.2 Phân loại 17

1.2.3 Nguyên nhân 18

1.2.4 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng, khách hàng và nền kinh tế xã hội 21

1.2.4.1 Ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng 21

1.2.4.2 Ảnh hưởng đến khách hàng 22

1.2.4.3 Ảnh hưởng đến nền kinh tế xã hội 22

1.3 Phòng ngừa rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại 23

Trang 5

1.3.1 Khái niệm 23

1.3.2 Sự cần thiết phòng ngừa rủi ro tín dụng 23

1.4 Phương thức phòng ngừa rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại 24

1.4.1 Nhận diện rủi ro tín dụng 24

1.4.1.1 Nhóm các dấu hiệu liên quan đến quan hệ tín dụng với ngân hàng 24

1.4.1.2 Nhóm các dấu hiệu liên quan đến tình hình hoạt động của khách hàng 24

1.4.2 Đo lường rủi ro tín dụng 25

1.4.2.1 Chỉ tiêu đo lường (định tính, định lượng) 25

1.4.2.2 Các mô hình đo lường 31

1.4.3 Biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng 33

Kết luận chương 1 35

Chương 2: Thực trạng rủi ro tín dụng tại NHTM cổ phần Á Châu 2.1 Giới thiệu chung về ACB 36

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 36

2.1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh trong thời gian qua 37

2.2 Thực trạng rủi ro tín dụng của ACB 41

2.2.1 Tình hình chung về nợ quá hạn 41

2.2.2 Tình hình nợ xấu 43

2.2.3 Tình hình trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng 44

2.2.4 Mức độ tập trung tín dụng 45

2.2.4.1 Mức độ tập trung tín dụng theo đối tượng khách hàng 45

2.2.4.2 Mức độ tập trung theo thời hạn vay 46

2.2.4.3 Mức độ tập trung theo loại tiền 46

2.2.7 Công tác đo lường rủi ro tín dụng 47

2.3 Công tác kiểm soát rủi ro tín dụng của ACB 51

2.3.1 Bộ máy tổ chức cấp tín dụng 51

2.3.2 Thẩm quyền phán quyết 51

2.3.3 Chính sách tín dụng 52

2.3.4 Quy trình tín dụng 52

2.3.5 Bảo đảm tiền vay 53

Trang 6

2.3.6 Phòng ngừa, phát hiện và hạn chế rủi ro tín dụng 54

2.3.7 Công tác xử lý nợ xấu 54

2.4 Đánh giá chung thực trạng rủi ro tín dụng tại ACB 55

2.4.1 Những mặt đạt được 55

2.4.2 Những mặt còn tồn tại 55

2.4.2.1 Về quy định giới hạn tín dụng 55

2.4.2.2 Về quy trình tín dụng 56

2.4.2.3 Về định hướng khách hàng 56

2.4.2.4 Về danh mục đầu tư 57

2.4.2.5 Về đào tạo cán bộ 57

2.5 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng tại ACB trong thời gian qua 57

2.5.1 Nhóm nguyên nhân chủ quan 57

2.5.1.1 Từ phía ngân hàng 57

2.5.1.2 Từ phía khách hàng vay 63

2.5.2 Nhóm nguyên nhân khách quan 65

Kết luận chương 2 67

Chương 3 Một số giải pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại ACB 68

3.1 Định hướng phát triển hoạt động tín dụng của ACB trong thời gian tới 68

3.2 Một số giải pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại ACB 69

3.2.1 Xây dựng và thực hiện chính sách cho vay thích hợp 69

3.2.2 Hoàn thiện và tuân thủ nghiêm ngặt quy trình cho vay 73

3.2.3 Thành lập bộ phận nghiên cứu, phân tích và dự báo kinh tế vĩ mô 77

3.2.4 Nâng cao vai trò công tác kiểm soát nội bộ ngân hàng 78

3.2.5 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 79

3.2.6 Sử dụng các công cụ bảo hiểm và bảo đảm tiền vay 81

3.2.7 Một số kiến nghị với ngân hàng nhà nước và chính phủ 81

3.2.71 Kiến nghị đối với ngân hàng nhà nước 81

3.2.7.2 Kiến nghị đối với chính phủ 84

Kết luận chương 3 86

Tài liệu tham khảo 87

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ

Bảng 2.7: Cơ cấu vay theo thời hạn vay

Bảng 2.8: Cơ cấu cho vay theo loại tiền tệ

Biểu đồ 2.1: Chỉ số tài chính năm 2008 - 30/06/2013

Biểu đồ 2.2: Nợ quá hạn theo nhóm

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Quá trình toàn cầu hóa làm tăng thêm mức độ phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trên thế giới Trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng cũng không ngoại lệ Khủng hoảng tín dụng đã có những ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế Thời gian qua, cuộc khủng hoảng tín dụng tại Mỹ là khởi nguồn cho cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu Các quốc gia phải thực hiện cải cách, xây dựng hệ thống quản lý tài chính và cơ chế phòng ngừa rủi ro tài chính quốc tế, công khai, minh bạch trong hoạt động ngân hàng để tránh những nguy cơ biến động mạnh của thị trường tài chính, hoạt động tuân theo quy luật chung của thị trường

Trong kinh doanh ngân hàng tại Việt Nam, lợi nhuận từ hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng chủ yếu trong thu nhập của các ngân hàng Tuy nhiên, hoạt động này luôn tiềm ẩn rủi ro cao, đặc biệt là ở các nước có nền kinh tế mới nổi như Việt Nam bởi hệ thống thông tin thiếu minh bạch và không đầy đủ, trình độ quản trị rủi ro còn nhiều hạn chế, tính chuyên nghiệp của cán bộ ngân hàng chưa cao…

Rủi ro tín dụng luôn tồn tại và nợ xấu là một thực tế hiển nhiên ở bất cứ ngân hàng nào, kể cả các ngân hàng hàng đầu trên thế giới bởi có những rủi ro nằm ngoài tầm kiểm soát của con người Tuy nhiên, sự khác biệt cơ bản của các ngân hàng có năng lực quản trị rủi ro tín dụng là khả năng quản trị nợ xấu ở một tỷ lệ có thể chấp nhận được nhờ xây dựng một mô hình quản trị rủi ro hiệu quả, phù hợp với môi trường hoạt động để hạn chế được những rủi ro tín dụng mang tính chủ quan, xuất phát từ yếu tố con người và những rủi ro tín dụng khác có thể kiểm soát được Kiểm soát tốt rủi ro tín dụng là công việc cần thiết phải làm đối với các ngân hàng, song song với hoạt động tín dụng

Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) là một trong những ngân hàng hàng đầu trong Khối ngân hàng TMCP về mọi mặt, tình hình kiểm soát tín dụng thời gian qua cũng được xem là khá tốt Tuy nhiên trong tình hình hiện nay, đặc biệt là sau khủng hoảng tháng 08/2012, thực trạng về rủi ro tín dụng tại ACB là vấn đề đang được quan tâm và ảnh hưởng khá lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng Do đó, yêu cầu xây dựng các giải pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng có hiệu quả là một đòi

Trang 10

hỏi bức thiết để đảm bảo hạn chế rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng, hướng đến các chuẩn mực quốc tế trong quản trị rủi ro, phù hợp với môi trường hội nhập

Xuất phát từ yêu cầu trên tôi chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp phòng

ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu” làm luận văn

thạc sỹ kinh tế

2 Mục tiêu nghiên cứu

Vấn đề cơ bản về lý luận tổng quan rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại

Nghiên cứu, khảo sát thực trạng rủi ro tín dụng tại ngân hàng ACB, từ đó tìm

ra các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng trong thời gian qua

Trên cơ sở những nguyên nhân đó, đề xuất các giải pháp toàn diện phù hợp với tình hình hoạt động của ACB để phòng ngừa rủi ro tín dụng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng: rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại

Phạm vi: Trọng tâm nghiên cứu là thực trạng rủi ro tín dụng tại ACB thời

gian qua, từ đó đề xuất các giải pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng

4 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học kết hợp với các phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, … đi từ cơ sở lý thuyết đến thực tiễn nhằm giải quyết và làm sáng tỏ mục tiêu nghiên cứu của luận văn Đồng thời, tiếp thu ý kiến phản biện của nhiều chuyên gia, cán bộ quản lý, điều hành có liên quan

để hoàn thiện giải pháp

5 Kết cấu của luận văn

Luận văn được chia làm 3 chương, cụ thể như sau:

- Chương 1: Tổng quan về hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng

- Chương 2: Thực trạng rủi ro tín dụng tại ACB

- Chương 3: Một số giải pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại ACB

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ RỦI RO TÍN DỤNG

TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Tín dụng ngân hàng thương mại

1.1.1 Khái niệm về tín dụng ngân hàng

Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ vay mượn được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ hay hiện vật dựa trên nguyên tắc có hoàn trả Trong quan hệ này, bên cho vay (ngân hàng) chỉ nhượng lại quyền sử dụng vốn cho bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp) trong một thời gian nhất định và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả cả vốn lẫn lãi cho bên cho vay vô điều kiện khi đến hạn đã thỏa thuận Chức năng tập trung

và phân phối lại vốn tiền tệ Tín dụng được xem như chiếc cầu nối giữa nguồn cung – cầu về vốn tiền tệ trong nền kinh tế

- Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách khác người đi vay phải hoàn trả giá trị ngoài vốn gốc

- Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán

1.1.3 Phân loại tín dụng ngân hàng

Có nhiều cách phân loại tín dụng ngân hàng dựa vào các căn cứ khác nhau tùy theo mục đích nghiên cứu Tuy nhiên người ta thường phân loại theo một số tiêu thức như sau:

Trang 12

 Theo thời gian sử dụng vốn vay, tín dụng ngân hàng đƣợc phân thành 3

loại:

- Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới 1 năm, thường được sử dụng vào nghiệp vụ thanh toán, cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của các doanh nghiệp hay cho vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân

- Tín dụng trung hạn: có thời hạn từ 1 đến 5 năm, được dùng để cho vay vốn phục vụ mục đích mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh

- Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng trên 5 năm, được sử dụng đề cung cấp vốn xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn

Thường thì tín dụng trung và dài hạn được đầu tư để hình thành vốn cố định

và một phần vốn tối thiểu cho hoạt động sản xuất

 Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay, tín dụng ngân hàng chia thành 2

 Căn cứ vào tính chất đảm bảo của các khoản cho vay, có các loại tín

dụng ngân hàng sau:

- Tín dụng có bảo đảm: là loại hình tín dụng mà các khoản cho vay phát ra đều

có tài sản tương đương thế chấp, có các hình thức như: cầm cố, thế chấp, chiết khấu

và bảo lãnh

- Tín dụng không có bảo đảm: là loại hình tín dụng mà các khoản cho vay phát

ra không cần tài sản thế chấp mà chỉ dựa vào tín chấp Loại hình này thường được

áp dụng với khách hàng truyền thống, có quan hệ lâu dài và sòng phẳng với ngân hàng, khách hàng này phải có tình hình tài chính lành mạnh và có uy tín đối với ngân hàng như trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc lẫn lãi, có dự án sản xuất kinh doanh khả thi, có khả năng hoàn trả nợ

Trang 13

Trong nền kinh tế thị trường việc phân loại tín dụng ngân hàng theo các tiêu thức trên chỉ có ý nghĩa tương đối Khi các hình thức tín dụng càng đa dạng thì cách phân loại càng chi tiết Phân loại tín dụng giúp cho việc nghiên cứu sự vận động của vốn tín dụng trong từng loại hình cho vay và là cơ sở để so sánh, đánh giá hiệu quả kinh tế của chúng

1.1.4 Đặc điểm của tín dụng ngân hàng

- Huy động vốn và cho vay vốn đều thực hiện dưới hình thức tiền tệ;

- Ngân hàng đóng vai trò trung gian trong quá trình huy động vốn và cho vay;

- Quá trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng không hoàn toàn phù hợp với quy mô phát triển sản xuất và lưu thông hàng hóa;

- Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tập trung và điều hòa vốn giữa các chủ thể trong nền kinh tế

1.1.5 Vai trò của tín dụng ngân hàng

1.1.5.1 Đối với ngân hàng

- Trong hoạt động sản xuất kinh doanh mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế là tối đa hoá lợi nhuận Một tổ chức kinh doanh tiền tệ cũng không nằm ngoài mục đích đó Ngân hàng thu được lợi nhuận thông qua các hoạt động dịch vụ, cung cấp cho khách hàng như thanh toán, tư vấn quan trọng nhất là hoạt động cho vay (hoạt động tín dụng)

- Thật vậy, ngân hàng với tư cách là một trung gian tài chính kinh doanh trên nguyên tắc tiền gửi của khách hàng (nghiệp vụ huy động vốn) dưới hình thức tài khoản vãng lai và tài khoản tiền gửi Trên cơ sở đó ngân hàng tiến hành các hoạt động cho vay dưới nhiều hình thức khác nhau, tùy theo yêu cầu vay của khách hàng Sự chênh lệch giữa tiền lãi kiếm được thông qua hoạt động và tiền lãi phải trả cho các khoản huy động là lợi nhuận thu được Đây chưa phải là toàn bộ lợi nhuận của ngân hàng, tuy nhiên nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng nó chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng số lợi nhuận của ngân hàng

- Ngân hàng hoạt động trong môi trường cạnh tranh của cơ chế thị trường thì hoạt động tín dụng ngân hàng càng trở nên đa dạng Đối với các ngân hàng thương mại để có thể tồn tại và phát triển trong môi trưòng cạnh tranh, góp phần thúc đẩy

Trang 14

nền kinh tế xã hội, hệ thống ngân hàng thương mại luôn phải tìm cách nâng cao chiến lược tín dụng bằng cách mở rộng tín dụng

- Tín dụng ngân hàng ràng buộc trách nhiệm khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi trong thời hạn nhất định như đã thỏa thuận trước Do vây, khách hàng phải nỗ lực sử dụng vốn vay hiệu quả, thu lợi nhuận kinh doanh cao đem lại lợi nhuận cho bản thân cũng như để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng

1.1.5.3 Đối với nền kinh tế

- Trong nền kinh tế hàng hóa các doanh nghiệp không thể tiến hành sản xuất kinh doanh dịch vụ nếu không có vốn

- Ở nước ta hiện nay thiếu vốn là hiện tượng xảy ra thường xuyên đối với các đơn vị kinh tế, vì vậy vốn tín dụng ngân hàng đóng vai trò hết sức quan trọng, nó thành động lực trong quá trình phát triển của nền kinh tế nước nhà

- Nhờ có vốn tín dụng các đơn vị kinh tế đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh bình thường mà còn mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, áp dụng khoa học

kỹ thuật tiên tiến trong lĩnh vực cạnh tranh

- Ngày nay tín dụng ngân hàng được sử dụng như một đòn bẩy kinh tế, giúp cho nền kinh tế phát triển, tín dụng ngân hàng có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta Trong phần dưới đây chúng ta sẽ đề cập đến những vai trò cụ thể của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường đặc biệt là đối với nền kinh tế ở nước ta hiện nay

Trang 15

 Tín dụng ngân hàng đã thúc đẩy quá trình tích tụ, tập trung vốn cho sản

xuất:

- Hoạt động tín dụng đáp ứng đủ nhu cầu vốn cho nền kinh tế quốc dân đóng vai trò đầu nối giữa cung và cầu về vốn, hoạt động tín dụng đóng vai trò điều tiết vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu vốn Một điều kiện không thể phủ nhận là còn tồn tại quan hệ hàng hóa tiền tệ thì tín dụng ngân hàng sẽ không mất đi mà ngày càng phát triển

- Với tư cách là một đơn vị kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ với mục đích lợi nhuận, các ngân hàng cố gắng tối đa hoá lợi nhuận của mình Lợi nhuận thu được từ quá trình kinh doanh của Ngân hàng thương mại Việt nam chủ yếu là từ hoạt cho vay

- Tuy nhiên để có được vốn cho vay các Ngân hàng phải huy động vốn từ các

tổ chức kinh tế và dân cư Người cho Ngân hàng vay vốn được hưởng một mức lãi suất gọi là lãi suất tiền gửi, còn các cá nhân và đơn vị vay vốn Ngân hàng phải chịu một mức lãi suất gọi là lãi suất cho vay

- Sự tồn tại khách quan của phạm trù tín dụng là tiền đề quan trọng cho sự vận động liên tục vốn của nền kinh tế quốc dân Tín dụng ngân hàng đã động viên, tập trung các nguồn vốn đó về một mối thông qua hoạt động tín dụng trên cơ sở đó các nguồn tài chính tạm thời nhàn rỗi sẽ được Ngân hàng khai thác và sử dụng triệt để nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao, tránh được tình trạng vốn chết, đồng thời thúc đẩy nền kinh tế phát triển Tín dụng ngân hàng đã đáp ứng được nhu cầu về vốn cho quá trình sản xuất được liên tục, tập trung vốn cho quá trình tái sản xuất mở rộng với quy mô ngày càng lớn cả về chiều rộng lẫn chiều sâu

- Cùng với chính sách tiền tệ, hoạt động của thị trường vốn, thị trường tiền tệ, tín dụng ngân hàng đã góp phần tích cực vào quá trình vận động của nguồn vốn tránh hiện tượng thiếu vốn giả tạo của nền kinh tế Thêm vào đó, hoạt động tín dụng ngân hàng góp phần đẩy lùi lạm phát, đặc biệt là góp phần vào tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân Như vậy tín dụng ngân hàng được sử dụng như một công cụ quản

lý tích cực, có tác động to lớn cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân

Trang 16

 Tín dụng ngân hàng góp phần đẩy nhanh quá trình tái sản xuất, mở

rộng góp phần đầu tư phát triển kinh tế:

- Để hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường các doanh nghiệp cần phải có một số vốn nhất định, trong trường hợp mở rộng sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp cần phải có một số vốn lớn hơn Vấn đề thiếu vốn tạm thời thường xuyên xảy ra ở các doanh nghiệp Không phải bất cứ một doanh nghiệp nào và không phải bất cứ lúc nào họ cũng đáp ứng được nhu cầu về vốn Trong trường hợp thiếu vốn cho quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng họ cần phải đi vay vốn các Ngân hàng, tín dụng ngân hàng đã góp phần điều hoà vốn trong toàn bộ nền kinh tế, tạo cho quá trình sản xuất được diễn ra liên tục

- Trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay các doanh nghiệp rất cần có vốn để đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh phù hợp với nhu cầu phát triển của xã hội Do vậy để thành công trong công cuộc đổi mới, ngành Ngân hàng cần cố gắng hơn nữa thì mới có thể đáp ứng nhu cầu về vốn cho các doanh nghiệp Muốn như vậy Ngân hàng phải làm tốt công tác huy động vốn tạm thời nhàn rỗi của các tầng lớp dân cư cũng như của các tổ chức kinh tế xã hội

- Trong tình hình hiện nay cạnh tranh trong kinh doanh Ngân hàng trở nên quyết liệt hơn bao giờ hết Ngoài bốn Ngân hàng thương mại quốc doanh còn có rất nhiều Ngân hàng thương mại cổ phần, Ngân hàng liên doanh với nước ngoài, các Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, các tổ chức tài chính phi ngân hàng, cho nên vấn

đề đặt ra cho mỗi Ngân hàng là phải xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh hợp lý, phù hợp với xu thế pháttriển của các thành phần kinh tế với cơ cấu công nghiệphóa hiện đại hoá đất nước Có như vậy công tác tín dụng ngân hàng mới đáp ứng nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng đưa nền kinh tế ngày càng phát triển

 Tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng trong tổ chức điều hòa, lưu

Trang 17

nguồn vốn đầu tư phát triển sẽ làm tăng khối lượng tiền tệ trong lưu thông gây mất cân đối trong quan hệ tiền – hàng dẫn đến lạm phát cho nền kinh tế), mặt khác dựa vào quy luật lưu thông tiền tệ trong quá trình cân đối nguồn vốn tín dụng với nhu cầu vay, Ngân hàng Nhà nước trung ương thực hiện pháp lệnh đưa tiền vào lưu thông, do đó sự vận động của vốn tín dụng là trên nguyên tắc đảm bảo hiệu quả kinh tế để tổ chức điều hòa lưu thông tiền tệ

- Hơn thế nữa quá trình hoạt động tín dụng ngân hàng gắn liền với việc thanh toán không dùng tiền mặt, góp phần giảm bớt lượng tiền mặt lưu thông trôi nổi trên thị trường mà không có sự quản lý của Nhà nước

 Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện thúc đẩy các ngành kinh tế kém phát

triển, là công cụ tài trợ cho những ngành kinh tế mũi nhọn:

Hoạt động tín dụng ngân hàng là huy động tiền tệ tạm thời nhàn rỗi chưa sử dụng của các tổ chức kinh tế và các tầng lớp dân cư trong xã hội từ nguồn vốn huy động được các Ngân hàng thương mại đáp ứng nhu cầu vốn vay cho các tổ chức kinh tế, cá nhân hay dân cư có nhu cầu vay vốn Nhưng quá trình đầu tư không phải trải đều cho các chủ thể có nhu cầu mà việc đầu tư được thực hiện một cách chủ yếu vào các đơn vị có triển vọng phát triển sản xuất kinh doanh Quá trình đầu

tư này là tất yếu bởi vì vừa đảm bảo tránh rủi ro tín dụng, vừa thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế

 Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện phát triển kinh tế đối ngoại:

Ngày nay các quốc gia trên thế giới đều có xu hướng đối đầu sang đối thoại thì việc phát triển kinh tế của mỗi nước không chỉ bó hẹp trong phạm vi nước mình

mà sự phát triển kinh tế của mỗi nước luôn luôn gắn liền với thị trường thế giới Tín dụng ngân hàng đã trở thành một phương tiện nối liền nền kinh tế giữa các nước với nhau bằng các hoạt động thanh toán quốc tế như hình thức tín dụng giữa các quốc gia với nhau, giữa các tổ chức cá nhân với Chính phủ, giữa các cá nhân với nhau và các hoạt động xuất nhập khẩu giữa các nước với nhau Đặc biệt đối với các nước đang phát triển nói chung, Việt Nam nói riêng, tín dụng đóng vai trò quan trọng trong việc xuất nhập khẩu hàng hoá và đầu tư công nghệ, bởi vì các hoạt động này đòi hỏi phải có một lượng vốn lớn Đặc biệt là nguồn vốn ngoại tệ Chính

Trang 18

vì vậy mà tín dụng ngân hàng sẽ là nguồn vốn tài trợ cho các nhà đầu tư kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa dịch vụ Một chính sách tín dụng ưu đãi đối các sản phẩm xuất khẩu sẽ làm tăng sự cạnh tranh của hàng hóa này trong thị trường quốc tế đem lại nhiều lợi ích cho quốc gia

1.2 Rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại

1.2.1 Khái niệm

Là rủi ro do một khách hàng hay một nhóm khách hàng vay vốn không trả được nợ cho Ngân hàng Trong kinh doanh ngân hàng rủi ro tín dụng là loại rủi ro lớn nhất, thường xuyên xảy ra và gây hậu quả nặng nề có khi dẫn đến phá sản ngân hàng

Ngày nay, nhu cầu về vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, cải tiến trang thiết bị kỹ thuật, nâng cao công nghệ và các nhu cầu phục vụ sản xuất kinh doanh luôn tăng lên Để đáp ứng nhu cầu này, các NHTM cũng phải luôn mở rộng quy mô hoạt động tín dụng, điều đó có nghĩa là rủi ro tín dụng cũng phát sinh nhiều hơn

Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phức tạp nhất, việc quản lý và phòng ngừa nó rất khó khăn, nó có thể xảy ra ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào Rủi ro tín dụng nếu không được phát hiện và xử lý kịp thời sẽ nảy sinh các rủi ro khác

và rủi ro nghiệp vụ

 Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay

 Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo

Trang 19

 Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật

xử lý các khoản vay có vấn đề

- Rủi ro danh mục: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành hai loại là rủi ro nội tại và rủi ro tập trung

 Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn

 Rủi ro tập trung là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao

1.2.3 Nguyên nhân

Hoạt động tín dụng là hoạt động đem lại nguồn thu chủ yếu cho các ngân hàng thương mại nhưng đây cũng chính là lĩnh vực nghiệp vụ phức tạp và ẩn chứa nhiều rủi ro nhất Do đó việc đi sâu nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng

là thật sự cần thiết để các ngân hàng thương mại có được các giải pháp cần thiết để hạn chế rủi ro này và đạt được hiệu quả hoạt động cao nhất Như chúng ta đã biết, rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng Rủi ro này có nguyên nhân từ nhiều phía: từ phía người cho vay, từ phía người đi vay và cả môi trường bên ngoài

 Nguyên nhân thuộc về phía năng lực quản trị của ngân hàng

Trước hết phải nói đến các ngân hàng còn thiếu một chính sách tín dụng nhất quán, chính sách tín dụng ở đây phải bao gồm một định hướng chung cho việc cho vay, chế độ tín dụng ngắn hạn, trung và dài hạn, các quy định về bảo đảm tiền vay, danh mục lựa chọn khách hàng trong từng giai đoạn Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng từ phía ngân hàng có thể được khái quát cơ bản dưới đây:

Trang 20

- Ngân hàng không có đủ thông tin về các số liệu thống kê, chỉ tiêu để phân tích và đánh giá khách hàng dẫn đến việc xác định sai hiệu quả của phương án xin vay, hoặc xác định thời hạn cho vay hoặc trả nợ không phù hợp với phương án kinh doanh của khách hàng

- Sự lơi lỏng trong quá trình giám sát trong và sau khi cho vay nên không phát hiện kịp thời hiện tượng sử dụng vốn sai mục đích

- Quá tin tưởng vào tài sản thế chấp, bảo lãnh, bảo hiểm, coi đó là vật đảm bảo chắc chắn cho sự thu hồi cả gốc và lãi tiền vay

- Chạy theo số lượng (hoặc theo kế hoạch) mà sao lãng việc coi trọng chất lượng khoản vay, quá lạc quan và tin tưởng vào sự thành công của phương án kinh doanh của khách hàng

- Ngân hàng thiếu một bộ phận chuyên trách theo dõi, quản lý rủi ro, quản lý hạn mức tín dụng tối đa cho từng khách hàng thuộc từng ngành nghề, sản phẩm địa phương khác nhau để phân tán rủi ro, các dự báo cần thiết trong từng thời kỳ

- Năng lực và phẩm chất đạo đức của một số cán bộ tín dụng ngân hàng chưa

đủ tầm và vấn đề quản lý sử dụng, đãi ngộ cán bộ ngân hàng chưa thỏa đáng

- Ngân hàng không giải quyết hợp lý quan hệ giữa nguồn vốn huy động và nguồn vốn sử dụng, cụ thể là: dự trữ vốn quá ít so với nhu cầu bảo đảm thanh toán,

từ đó mất khả năng thanh toán nếu khách hàng có nhu cầu rút vốn nhiều, gây ứ đọng vốn, lãng phí trong quá trình sử dụng vốn, hoặc lấy vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn quá mức quy định

- Cạnh tranh giữa các TCTD chưa thực sự lành mạnh, việc chạy theo quy mô,

bỏ qua các tiêu chuẩn, điều kiện trong cho vay, thiếu quan tâm đến chất lượng khoản vay

 Nguyên nhân thuộc về phía khách hàng

- Sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ vay Đa số các doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án kinh doanh cụ thể, khả thi Số lượng doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích, cố ý lừa đảo ngân hàng

để chiếm đoạt tài sản không nhiều Tuy nhiên, những vụ việc phát sinh lại hết sức

Trang 21

nặng nề, liên quan đến uy tín của các cán bộ, làm ảnh hưởng xấu đến các doanh nghiệp khác

- Năng lực quản lý kinh doanh kém, đầu tư nhiều lĩnh vực vượt quá khả năng quản lý Khi các doanh nghiệp vay tiền ngân hàng để mở rộng quy mô kinh doanh,

đa phần là tập trung vốn đầu tư vào tài sản vật chất chứ ít doanh nghiệp nào mạnh dạn đổi mới cung cách quản lý, đầu tư cho bộ phận giám sát kinh doanh, tài chính,

kế toán theo đúng chuẩn mực Quy mô kinh doanh phình ra to so với tư duy quản lý

là nguyên nhân dẫn đến phá sản của các phương án kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra

nó phải thành công trên thực tế

- Khách hàng vay vốn tại nhiều TCTD dưới một danh nghĩa hay nhiều thực thể khác nhau nên thiếu sự phân tích trên tổng thể, khó theo dõi được dòng tiền dẫn đến việc sử dụng vốn vay chồng chéo và mất khả năng thanh toán dây chuyền

- Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch Quy mô tài sản, nguồn vốn nhỏ bé, tỷ lệ nợ so với vốn tự có cao là đặc điểm chung của hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam Ngoài ra, thói quen ghi chép đầy đủ, chính xác, rõ ràng các

sổ sách kế toán vẫn chưa được các doanh nghiệp tuân thủ nghiêm chỉnh và trung thực Do vậy, sổ sách kế toán mà các doanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng nhiều khi chỉ mang tính chất hình thức hơn thực chất Do đó, khi cán bộ ngân hàng lập các bản phân tích tài chính của doanh nghiệp dựa trên số liệu do các doanh nghiệp cung cấp, thường thiếu tính thực tế và xác thực

- Chưa thực sự thay đổi quan điểm, còn xem vốn ngân hàng là vốn nhà nước nếu doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả thì ngân hàng chịu, ngân hàng thua lỗ thì nhà nước chịu

- Doanh nghiệp cố tình lừa đảo ngân hàng

 Nguyên nhân khách quan

- Sự thay đối của môi trường tự nhiên như: thiên tai, dịch bệnh, bão lụt gây tổn thất cho khách hàng vay vốn kinh doanh

- Sự thay đổi quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thế giới

Trang 22

- Rủi ro do môi trường pháp lý chưa thuận lợi và sự kém hiệu quả của cơ quan pháp luật địa phương trong việc triển khai luật, các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành luật liên quan đến hoạt động tín dụng của ngân hàng lại hết sức chậm chạp và còn nhiều bất cập

- Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của ngân hàng Nhà nước Bên cạnh những cố gắng và kết quả đạt được, hoạt động thanh tra ngân hàng và đảm bảo

an toàn hệ thống chưa có sự cải thiện căn bản về chất lượng, năng lực cán bộ thanh tra, giám sát chưa đáp ứng được yêu cầu, nội dung và phương pháp thanh tra giám sát còn lạc hậu, chậm được đổi mới, vai trò kiểm toán chưa được phát huy và hệ thống thông tin chưa được tổ chức một cách hữu hiệu, thanh tra tại chỗ vẫn là phương pháp chủ yếu, khả năng kiểm soát toàn bộ thị trường tiền tệ và giám sát rủi

ro còn yếu

- Hệ thống thông tin quản lý còn bất cập Hiện nay, trung tâm quản lý tín dụng ngân hàng (CIC) của Ngân hàng Nhà nước đã hoạt động hơn một thập niên và đã đạt được những kết quả bước đầu đáng khích lệ trong việc cung cấp thông tin tín dụng Tuy nhiên, thông tin cung cấp còn đơn điệu, thiếu cập nhật, chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu tra cứu thông tin

- Sự thay đổi về lãi suất, tỷ giá hối đoái, lạm phát, chỉ số giá cả tăng, nguyên vật liệu đầu vào tăng làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của khách hàng, khó khăn tài chính dẫn đến không có khả năng trả nợ

1.2.4 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng, khách hàng và nền kinh tế xã hội

1.2.4.1 Ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng

- Khi rủi ro tín dụng xảy ra, ngân hàng không thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay, nhưng ngân hàng phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi đến hạn, điều này sẽ làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi, vòng quay vốn tín dụng giảm làm cho ngân hàng kinh doanh không hiệu quả, chi phí của ngân hàng tăng lên so với dự kiến

- Nếu một khoản vay nào đó bị mất khả năng thu hồi thì ngân hàng phải sử dụng các nguồn vốn của mình để trả cho người gửi tiền, đến một chừng mực nào

Trang 23

đấy, ngân hàng không có đủ nguồn vốn để trả cho người gửi tiền thì ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, có thể dẫn đến nguy cơ gặp rủi ro thanh khoản Và kết quả là làm thu hẹp quy mô kinh doanh, năng lực tài chính giảm sút,

uy tín, sức cạnh tranh giảm không những trong thị trường nội địa mà còn lan rộng

ra các nước, kết quả kinh doanh của ngân hàng ngày càng xấu có thể dẫn ngân hàng đến thua lỗ hoặc đưa đến bờ vực phá sản nếu không có biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời

- Khi một ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng hay bị phá sản thì người gửi tiền

ở các ngân hàng khác hoang mang lo sợ và kéo nhau ồ ạt đến rút tiền ở các ngân hàng khác, làm cho toàn bộ hệ thống ngân hàng gặp phải khó khăn Ngân hàng phá sản sẽ ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, không có tiền trả lương dẫn đến đời sống công nhân gặp khó khăn Hơn nữa, sự hoảng loạn của các ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế Nó làm cho nền kinh

tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã hội mất ổn định Ngoài ra, rủi ro tín dụng cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới vì ngày nay, nền kinh tế mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào nền kinh tế khu vực và thế giới Kinh nghiệm cho ta thấy cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á (1997) và mới đây là cuộc khủng hoảng tài chính Nam Mỹ (2001-2002) và cuộc khủng hoảng tài chính hiện

Trang 24

nay đã làm rung chuyển toàn cầu Mặt khác, mối liên hệ về tiền tệ, đầu tư giữa các nước phát triển rất nhanh nên rủi ro tín dụng tại một nước ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế các nước có liên quan

Tóm lại, rủi ro tín dụng của một ngân hàng xảy ra ở mức độ khác nhau: nhẹ nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất khi ngân hàng không thu được vốn lãi, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng

bị lỗ và mất vốn Nếu tình trạng này kéo dài không khắc phục được, ngân hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nến kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng Chính vì vậy đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng phải hết sức thận trọng và có những biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro trong cho vay

1.3 Phòng ngừa rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại

1.3.1 Khái niệm

Phòng ngừa rủi ro tín dụng là việc nghiên cứu và đề ra các giải pháp nhằm ngăn chặn đến mức tối đa việc phát sinh những rủi ro có thể xảy ra như việc khách hàng nhận vốn vay mà không thực hiện hoặc thực hiện nhưng không đầy đủ nghĩa

vụ đối với ngân hàng, gây tổn thất cho ngân hàng, khách hàng không trả hoặc không trả đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi ngân hàng Làm ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của một ngân hàng thể hiện qua một số chỉ tiêu như tỷ lệ nợ xấu trên tổng

dư nợ, tỷ lệ nợ đã xóa, đã xử lý trên tổng dư nợ, chi phí dự phòng tín dụng hay số

dư dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ…

1.3.2 Sự cần thiết phòng ngừa rủi ro tín dụng

Khi gặp rủi ro tín dụng, ngân hàng không thu hồi được vốn tín dụng và lãi cho vay nhưng ngân hàng phải trả tiền vốn và lãi huy động khi đến hạn, điều này làm cho ngân hàng mất cân đối về mặt thu chi Khi không thu được nợ thì vòng quay vốn tín dụng giảm làm ngân hàng kinh doanh không có hiệu quả Khi gặp phải rủi ro tín dụng ngân hàng thương rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, làm mất lòng tin người gửi tiền, ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng Đồng thời có tiền trả lương cho nhân viên vì thế những người có năng lực sẽ thuyên chuyển công tác gây khó khăn cho ngân hàng

Trang 25

Rủi ro tín dụng của một ngân hàng xảy ra ở mức độ khác nhau: nhẹ nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất khi ngân hàng không thu được vốn, nợ thất thu ở tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ và mất vốn Nếu tình trạng này kéo dài không khắc phục được, ngân hàng sẽ bị phá sản gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng Chính vì vậy đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng phải hết sức thận trọng và có những biện pháp thích hợp nhằm phòng ngừa rủi ro trong cho vay

1.4 Phương thức phòng ngừa rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại

1.4.1 Nhận diện rủi ro tín dụng

1.4.1.1 Nhóm các dấu hiệu liên quan đến quan hệ tín dụng với ngân hàng

- Khách hàng trì hoãn nộp báo cáo tài chính: báo cáo tài chính là tài liệu quan trọng giúp ngân hàng hiểu được tình hình sản xuất kinh doanh năng lực tài chính của người đi vay, báo hiệu khả năng hoàn trả các khoản nợ Việc trì hoãn nộp báo cáo tài chính có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng có thể thấy được tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có những dấu hiệu không bình thường Vì vậy, doanh nghiệp không muốn ngân hàng sớm biết về sự giảm sút năng lực tài chính của chính mình

- Doanh nghiệp hoàn trả nợ vay và lãi không đúng hạn: khi doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thì luân chuyển vốn cũng mất

ổn định dẫn đến khả năng thanh toán gặp nhiều khó khăn không thể hoàn trả

nợ vay và lãi chi cho ngân hàng đúng hạn Nếu tình trạng này diễn ra thường xuyên và mức độ ngày càng lớn thì đây chính là dấu hiệu rõ ràng nhất của rủi

ro tín dụng

1.4.1.2 Nhóm các dấu hiệu liên quan đến tình hình hoạt động của khách hàng

- Doanh nghiệp gia tăng bất thường hàng tồn kho, các khoản bán chịu và các khoản nợ: định mức tồn kế hoạch nguyên liệu, hàng hóa hợp lý là điều kiện cần thiết để các doanh nghiệp đảm bảo ổn định sản xuất kinh doanh, xong nếu mức tồn kho vượt quá mức giới hạn cho phép chứng tỏ khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp là không bình thường Sự gia tăng hàng tồn kho như giá cả, chất lượng, chủng loại hàng hóa…dẫn đến doanh thu, thu nhập

Trang 26

kém Đồng thời với sự gia tăng tồn kho, giảm sút doanh thu thì các khoản vay cũng gia tăng chứng tỏ khả năng thanh toán của doanh nghiệp giảm sút làm cho khả năng trả nợ ngân hàng là khó khăn

- Doanh nghiệp giảm bất thường giá bán: điều này nếu không nằm trong chiến lược marketing của doanh nghiệp thì tức là doanh nghiệp đang gặp khó khăn

về tài chính

Ngoài các dấu hiệu trên thì còn rất nhiều yếu tố khác như doanh nghiệp thay đổi tổ chức, công nhân không có việc làm hay quan hệ giữa ngân hàng và người vay kém than thiện…cũng là những dấu hiệu của rủi ro tín dụng, đòi hỏi các cán bộ tín dụng phải sát với thực tiễn và có những biện pháp thích hợp làm giảm nguy cơ có thể xảy ra

1.4.2 Đo lường rủi ro tín dụng

1.4.2.1 Chỉ tiêu đo lường (định tính, định lượng)

 Chỉ tiêu định tính

Việc một ngân hàng thương mại đánh giá xác suất rủi ro của khách hàng vay

để có cơ sở định giá các khoản vay có chính xác hay không phụ thuộc vào lượng thông tin về khách hàng mà ngân hàng thu thập được Các yếu tố định tính bao gồm nhóm yếu tố liên quan đến khách hàng vay và nhóm yếu tố liên quan đến thị trường

 Nhóm yếu tố liên quan đến đến khách hàng vay:

 Uy tín khách hàng vay thể hiện qua lịch sử vay trả của khách hàng, uy tín này được đánh giá cao nếu trong lịch sử, họ luôn thực hiện đúng các cam kết trong hợp đồng vay

 Cơ cấu vốn của khách hàng: Thể hiện thông qua các tỷ số về khả năng thanh toán, tỷ lệ nợ vay,… Ví dụ, nếu tỷ số vốn tự có/vốn vay càng nhỏ thì khả năng tự chủ của khách hàng càng thấp, rủi ro nhiều hơn

 Sự biến động của thu nhập khách hàng: Bất cứ sự biến động bất thường nào trong thu nhập của khách hàng cũng là dấu hiệu cảnh báo rủi ro, nhất là sự sụt giảm thu nhập Chính vì vậy, những khách hàng có các khoản thu nhập thường xuyên ổn định sẽ được đành giá cao hơn về mặt an toàn hơn là những khách hàng hay có sự biến động trong thu nhập

Trang 27

 Nhóm yếu tố liên quan đến thị trường

 Chu kỳ kinh tế: Chu kỳ kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Do đó, ngân hàng cần phân tích kỹ chu kỳ kinh tế để xác định được giai đoạn nào nên đầu tư vào ngành nghề nào để hạn chế rủi ro

 Mức lãi suất vay: Một khách hàng sẵn sàng chấp nhận vay với bất kỳ lãi suất nào (cho dù rất cao) cũng là một dấu hiệu cảnh báo rủi ro mà ngân hàng cần lưu ý

Nợ quá hạn (non performing loan – NPL) là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và / hoặc lãi đã quá hạn

Một cách tiếp cận khác, nợ quá hạn là những khoản tín dụng không hoàn trả đúng hạn, không được phép và không đủ điều kiện để được gia hạn nợ Để đảm bảo quản lý chặt chẽ, các khoản nợ quá hạn trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam được phân loại theo thời gian và được phân chia theo thời hạn thành các nhóm sau:

 Nợ quá hạn dưới 10 ngày – Nợ đủ tiêu chuẩn

 Nợ quá hạn từ 10 đến 90 ngày – Nợ cần chú ý

 Nợ quá hạn từ 91 đến 180 ngày – Nợ dưới tiêu chuẩn

 Nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày – Nợ nghi ngờ

 Nợ quá hạn trên 360 ngày – Nợ có khả năng mất vốn

Dư nợ quá hạn Tổng dư nợ cho vay

x 100%

Trang 28

 Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dƣ nợ cho vay

Nợ xấu (hay nợ có vấn đề, nợ không lành mạnh, nợ khó đòi, nợ không thể đòi,…) là khoản nợ mang các đặc trưng sau:

- Khách hàng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi các cam kết này đã hết hạn

- Tình hình tài chính của khách hàng đang có chiều hướng xấu dẫn đến có khả năng ngân hàng không thu hồi được cả vốn lẫn lãi

- Tài sản đảm bảo (thế chấp, cầm cố, bảo lãnh) được đánh giá là giá trị phát mãi không đủ trang trải nợ gốc và lãi

- Thông thường về thời gian là các khoản nợ quá hạn ít nhất là 90 ngày (nợ nhóm 3 trở lên)

Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005, nợ xấu của TCTD bao gồm các nhóm nợ như sau:

- Nhóm nợ dưới tiêu chuẩn: các khoản nợ được TCTD đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn và có khả năng tổn thất một phần nợ gốc

và lãi Bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 91 đến 180 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại Và các khoản thực hiện nghĩa vụ mà TCTD phải trả thay đối với các cam kết bảo lãnh

- Nhóm nợ nghi ngờ: các khoản nợ được TCTD đánh giá là khả năng tổn thất cao Bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại

- Nhóm nợ có khả năng mất vốn: các khoản nợ được TCTD đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn Bao gồm: Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; Các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý; Các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại

Theo quy định hiện nay, tỷ lệ này không được vượt quá 3%

Trang 29

dự phòng cũng sẽ càng cao Thông thường tỷ lệ này dao động trong khoảng từ 0 đến 5%

Tại Việt Nam hiện nay việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng được thực hiện theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN và quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN của NHNN Việt Nam Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với từng nhóm nợ như sau: nhóm 1 là 0%, nhóm 2 là 5%, nhóm 3 là 20%, nhóm 4 là 50% và nhóm 5 là 100%

Dự phòng chung: TCTD thực hiện trích lập và duy trì dự phòng chung bằng 0,75% tổng giá trị các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4

Tỷ lệ xóa nợ

Tỷ lệ xóa nợ = x 100%

Những khoản nợ khó đòi sẽ được xóa theo quy chế hiện hành (đưa ra hạch toán ngoại bảng) và được bù đắp bởi quỹ dự phòng rủi ro tín dụng Như vậy một ngân hàng có tỷ lệ xóa nợ cao thể hiện tỷ lệ mất vốn lớn, nghĩa là chất lượng tín dụng của ngân hàng được xem là có vấn đề

 Các chỉ tiêu phân tán rủi ro

 Giới hạn cho vay tối đa 1 khách hàng theo quy định của pháp luật

 Phân tán rủi ro theo ngành kinh tế

 Phân tán rủi ro theo khu vực địa lý

 Dư nợ cho vay 10 khách hàng lớn nhất trên tổng dư nợ

=

Dư nợ bình quân

x 100%

Các khoản xóa nợ ròng Tổng tài sản có

Dự phòng RRTD đã trích lập trong kỳ

Trang 30

- Mức độ tập trung tín dụng theo đối tượng khách hàng được xét theo hai chỉ tiêu là theo một khách hàng và một nhóm khách hàng:

 Theo quy định của NHNN thì tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của TCTD, tổng mức cho vay và bảo lãnh đối với một nhóm khách hàng có liên quan không được vượt quá 25% vốn tự có của TCTD Mức độ dồn vốn tín dụng vào một khách hàng càng cao thì lợi nhuận có được trên từng khoản tín dụng đó càng lớn và chắc chắn rủi ro cho khoản tín dụng đó là rất cao Vì thế, trước khi quyết định giải ngân, ngân hàng cần phải thẩm định kỹ lưỡng khách hàng rồi mới công bố mức cho vay cũng như thời hạn cho vay để tránh sự cố đáng tiếc xảy ra mà lợi nhuận đem lại vẫn đảm bảo

 Theo quy định của NHNN thì tổng dư nợ cho vay đối với một nhóm khách hàng không được vượt quá 50% vốn tự có của TCTD, tổng mức cho vay và bảo lãnh đối với một nhóm khách hàng có liên quan không được vượt quá 60% vốn tự có của TCTD Mức độ dồn vốn tín dụng vào một nhóm khách hàng càng cao thì lợi nhuận đem lại càng lớn và đồng thời rủi ro tiềm ẩn càng cao

=

Vốn tín dụng cao nhất cấp cho một khách hàng Tổng dư nợ

đối với một khách hàng

Trang 31

- Mức độ tập trung tín dụng theo thời hạn: là tỷ trọng vốn tín dụng mà ngân hàng đang cấp cho các hình thức tín dụng ngắn hạn, trung và dài hạn trong danh mục đầu tư của ngân hàng đó Mức độ dồn vốn tín dụng vào hình thức tín dụng nào càng cao thì mức độ rủi ro càng lớn

- Mức độ tập trung tín dụng theo loại tiền: là tỷ trọng dồn vốn tín dụng vào VND hay ngoại tệ phụ thuộc vào chính sách tín dụng của từng ngân hàng theo từng thời kỳ Mức độ dồn vốn vào loại tiền nào càng cao thì lợi nhuận đem lại cho ngân hàng từ loại tiền đó càng lớn nhưng rủi ro lại càng cao

- Mức độ tập trung tín dụng theo ngành nghề kinh doanh: là mức độ dồn vốn tín dụng theo danh mục các ngành nghề kinh tế như: ngành điện, xây lắp, xi măng, bất động sản, dầu khí, than, khoáng sản…phụ thuộc vào chính sách đầu tư của ngân hàng trong từng thời kỳ kinh tế Khi tỷ trọng vốn tín dụng ở ngành nghề nào càng cao thì lợi nhuận đem lại cho ngân hàng từ ngành đó càng lớn nhưng rủi ro lại càng cao

- Mức độ tập trung tín dụng theo khu vực địa lý: là mức độ đầu tư tín dụng cho các khách hàng hoạt động theo khu vực nào ở trong nước và ngoài nước Ngân hàng

Trang 32

cho vay ở khu vực nào nhiều nhất thì có thể hiểu đây chính là đoạn thị trường mục tiêu của ngân hàng

1.4.2.2 Các mô hình đo lường

 Mô hình chất lượng 6 C:

- Tư cách người vay (Character): Cán bộ tín dụng phải làm rõ mục đích xin vay của khách hàng, mục đích xin vay của khách hàng có phù hợp với chính sách tín dụng hiện hành của ngân hàng và phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của khách hàng hay không, đồng thời xem xét lịch sử đi vay và trả nợ đối với khách hàng cũ; còn khách hàng mới thì cần thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác như từ: trung tâm phòng ngừa rủi ro, từ ngân hàng bạn, từ các cơ quan thông tin đại chúng…

- Năng lực của người vay (Capacity): Tùy thuộc vào quy định pháp luật của quốc gia Đòi hỏi người đi vay phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành

vi dân sự

- Thu nhập của người đi vay (Cash): Trước hết, phải xác định được nguồn trả

nợ của người vay như luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay thu nhập, tiền từ bán thanh lý tài sản, hoặc tiền từ phát hành chứng khoán,…

- Bảo đảm tiền vay (Collateral): Đây là điều kiện để ngân hàng cấp tín dụng và

là nguồn tài sản thứ hai có thể dùng để trả nợ vay cho ngân hàng

- Các điều kiện (Conditions): Ngân hàng quy định các điều kiện tùy theo chính sách tín dụng từng thời kỳ như cho vay hàng xuất khẩu với điều kiện thâu ngân phải qua ngân hàng, nhằm thực thi chính sách tiền tệ của ngân hàng Trung ương theo từng thời kỳ

- Kiểm soát (Control): Tập trung vào những vấn đề như sự thay đổi của luật pháp có liên quan và quy chế hoạt động mới có ảnh hưởng xấu đến người vay hay không? Yêu cầu tín dụng của người vay có đáp ứng được tiêu chuẩn của ngân hàng hay không?

 Mô hình xếp hạng của Moody và Standard & poor’s:

- Rủi ro tín dụng trong cho vay và đầu tư thường được thể hiện bằng việc xếp hạng trái phiếu và khoản cho vay Việc xếp hạng này được thực hiện bởi một số

Trang 33

dịch vụ xếp hạng tư nhân trong đó có Moody và Standard & Poor’s là những dịch

vụ tốt nhất

- Đối với Standard & Poor’s xếp hạng cao nhất từ Aaa nhưng với Moody thì cao nhất là AAA Việc xếp hạng giảm dần từ Aa (Standard & Poor’s ) và AA (Moody) sau đó thấp dần để phản ánh rủi ro không được hoàn vốn cao Trong đó, chứng khoán (khoản cho vay) trong 4 loại đầu được xem như loại chứng khoán (cho vay) mà ngân hàng nên đầu tư, còn các loại chứng khoán (khoản cho vay) bên dưới được xếp hạng thấp hơn thì ngân hàng không đầu tư (không cho vay) Nhưng thực

tế vì phải xem xét mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa rủi ro và lợi nhuận nên những chứng khoán (khoản cho vay) tuy được xếp hạng thấp (rủi ro không hoàn vốn cao) nhưng lại có lợi nhuận cao nên đôi lúc ngân hàng vẫn chấp nhận đầu tư vào các loại chứng khoán (cho vay) này

- Mô hình xếp hạng của công ty Moody và Standard & Poor’s:

Standard & Poor’s

Aaa Chất lượng cao nhất, rủi ro thấp nhất*

A Chất lượng trên trung bình*

Baa Chất lượng trung bình*

Ba Chất lượng trung bình mang yếu tố đầu cơ

B Chất lượng dưới trung bình

Ca Mang tính đầu cơ, có thể vỡ nợ

C Chất lượng kém nhất, triển vọng xấu Moody

AAA Chất lượng cao nhất, rủi ro thấp nhất*

A Chất lượng trên trung bình*

BBB Chất lượng trung bình*

Trang 34

BB Chất lượng trung bình mang yếu tố đầu cơ

B Chất lượng dưới trung bình

CC Mang tính đầu cơ, có thể vỡ nợ

C Chất lượng kém nhất, triển vọng xấu

 Mô hình điểm số Z (Z – Credit scoring model):

Đây là mô hình do E.I Altman dùng để cho điểm tín dụng đối với các doanh nghiệp vay vốn Đại lượng Z dùng làm thước đo tổng hợp để phân loại rủi ro tín dụng đối với người đi vay và phụ thuộc vào:

- Trị số của các chỉ số tài chính của người vay

- Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của người vay trong quá khứ

Từ đó Altman đã xây dựng mô hình điểm như sau:

Z = 1,2X1 + 1,4X2 + 3,3X3 + 0,6X4 + 1,0X5

Trong đó:

X1 = Hệ số vốn lưu động / tổng tài sản

X2 = Hệ số lãi chưa phân phối / tổng tài sản

X3 = Hệ số lợi nhuận trước thuế và lãi vay / tổng tài sản

X4 = Hệ số giá trị thị trường của tổng vốn sở hữu / giá trị hạch toán của nợ X5 = Hệ số doanh thu / tổng tài sản

Trị số Z càng cao, thì xác suất vỡ nợ của người đi vay càng thấp Ngược lại, khi trị số Z thấp hoặc là một số âm thì đó là căn cứ xếp khách hàng vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ cao

Theo mô hình cho điểm Z của Altman, bất cứ công ty nào có điểm số thấp hơn 1,81 phải được xếp vào nhóm có nguy cơ rủi ro tín dụng cao

1.4.3 Biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng

- Thực hiện đúng các quy định của pháp luật về cho vay, bảo lãnh, cho thuê tài chính, chiết khấu, bao thanh toán và bảo đảm tiền vay Xem xét và quyết định việc cho vay có bảo đảm bằng tài sản hoặc không có bảo đảm bằng tài sản, cho vay có

Trang 35

bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay, tránh các vướng mắc khi xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ vay Đặc biệt chú trọng thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng, không để nợ xấu gia tăng

- Phải tăng cường kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay đúng mục đích, chấp hành các nguyên tắc, yêu cầu chứng từ và thủ tục cấp tín dụng, tránh xảy ra sự

cố gây thất thoát tài sản; Sắp xếp lại và tổ chức hoàn thiện bộ máy phê duyệt độc lập, tăng cường công tác đào tạo nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp cho các cán bộ tín dụng để đáp ứng yêu cầu kinh doanh ngân hàng trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập quốc tế

- Xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ phù hợp với hoạt động kinh doanh, đối tượng khách hàng, tính chất rủi ro của khoản nợ của TCTD

- Thực hiện chính sách quản lý rủi ro tín dụng, mô hình giám sát rủi ro tín dụng, phương pháp xác định và đo lường rủi ro tín dụng có hiệu quả, trong đó bao gồm cách thức đánh giá về khả năng trả nợ của khách hàng, hợp đồng tín dụng, các tài sản bảo đảm, khả năng thu hồi nợ và quản lý nợ của TCTD

- Thực hiện các quy định bảo đảm kiểm soát rủi ro và an toàn hoạt động tín dụng:

 Xây dựng và thực hiện đồng bộ hệ thống các quy chế, quy trình nội bộ về quản lý rủi ro; trong đó đặc biệt chú trọng việc xây dựng chính sách khách hàng vay vốn, sổ tay tín dụng, quy định về đánh giá, xếp hạng khách hàng vay, đánh giá chất lượng tín dụng và xử lý các khoản nợ xấu

 Mở rộng tín dụng trung và dài hạn ở mức thích hợp, đảm bảo cân đối thời hạn cho vay với thời hạn của nguồn vốn huy động

- Thực hiện đúng quy định về giới hạn cho vay và đối tượng cấm hoặc hạn chế cấp tín dụng, quy định về nghiệp vụ bảo lãnh, cho thuê tài chính, bao thanh toán hay thế chấp hàng tồn kho…đối với một khách hàng, tuân thủ các tỷ lệ an toàn hoạt động kinh doanh

- Đối với các trường hợp chây ỳ nhận nợ và trả nợ vay, các TCTD cần áp dụng các biện pháp kiên quyết, đúng pháp luật để thu hồi nợ vay, kể cả việc xử lý tài sản thế chấp, cầm cố và bảo lãnh, khởi kiện lên cơ quan tòa án

Trang 36

- Phân tán rủi ro trong cho vay: không dồn vốn cho vay quá nhiều đối với một khách hàng hoặc không tập trung cho vay quá nhiều vào một ngành, lĩnh vực kinh

tế có rủi ro cao

- Thực hiện tốt việc thẩm định khách hàng và khả năng trả nợ trước khi quyết định tín dụng

- Mua bảo hiểm cho các khoản tiền gửi, tiền vay

- Phải có chính sách tín dụng hợp lý và duy trì các khoản dự phòng để đối phó với rủi ro

- Chuẩn hóa một cách khoa học danh mục tài sản đảm bảo và công tác thẩm định giá tài sản đảm bảo, đảm bảo Ngân hàng có đủ khả năng xử lý được tài sản khi

có khách hàng phát sinh nợ xấu

- Trước khi cho một khách hàng vay, ngân hàng phải xem xét các điều kiện cơ bản như là: Khả năng trả nợ của khách hàng so với mức cho vay; Trị giá tài sản đảm bảo so với mức cho vay; Giới hạn tổng dư nợ cho vay một khách hàng, một nhóm khách hàng có liên quan;…

Kết luận chương I

Qua phân tích ở phần trên ta có thể rút ra các vấn đề cơ bản sau:

- Việc ra đời, tồn tại và phát triển của hệ thống NHTM cùng với hoạt động tín dụng của ngân hàng là một tất yếu khách quan, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của đời sống kinh tế xã hội

- Hoạt động của các NHTM luôn chứa đựng những rủi ro tiềm ẩn, tác hại của

nó khi để xảy ra rủi ro là rất lớn, nó không những gây thiệt hại cho ngân hàng mà còn gây ra những hậu quả nặng nề cho nền kinh tế

- Để ngăn ngừa, hạn chế thiệt hại do rủi ro mang lại trong quá trình hoạt động, các nhà quản trị, điều hành các NHTM cần phải xây dựng cho được hệ thống quản

lý rủi ro một cách hiệu quả, qua việc nghiên cứu ứng dụng các mô hình đánh giá rủi

ro một cách tốt nhất từ đó đưa ra các giải pháp một cách kịp thời, chính xác

- Luận văn sẽ tiếp tục phân tích cụ thể, chi tiết hơn về đề này ở các chương sau

Trang 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG

MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU (ACB)

2.1 Giới thiệu chung về ACB

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

Ngày thành lập: Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB) được thành lập theo Giấy phép số 0032/NH-GP do Ngân hàng nhà nước Việt Nam cấp ngày 24/04/1993, và Giấy phép số 533/GP-UB do Ủy ban nhân dân TP.HCM cấp ngày 13/05/1993 Ngày 04/06/1993, ACB chính thức đi vào hoạt động

Trụ sở chính đặt tại địa chỉ 442 Nguyễn Thị Minh Khai, phường 5, quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh Tính đến thời điểm 31/12/2012, vốn điều lệ của ACB là 9.376.965.060.000 đồng và có 345 chi nhánh, phòng giao dịch trên toàn quốc

Thời điểm niêm yết: ACB niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (trước đây là Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội) theo quyết định số 21/QĐ-TTGDHN ngày 31/10/2006 Cổ phiếu ACB bắt đầu giao dịch vào ngày 21/11/2006

Trung tâm vàng ACB là đơn vị đầu tiên trong ngành cùng một lúc được Tổ chức QMS Autralia chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và Tổ chức Công nhận Việt Nam (Acreditation of Vietnam) công nhận năng lực thử nghiệm và hiệu chuẩn (xác định hàm lượng vàng) đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn ISO/IEC 17025:2005

Sự cố tháng 08/2012 đã tác động đáng kể đến nhiều mặt hoạt động của ACB, đặc biệt là huy động và kinh doanh vàng, ACB đã ứng phó tốt sự cố rút tiền xảy ra trong tuần cuối tháng 8, và nhanh chóng khôi phục toàn bộ số dư huy động tiết kiệm VND chỉ trong thời gian 2 tháng sau đó Đáng lưu ý là tuy tổng tiền gửi khách hàng

có giảm nhưng huy động tiết kiệm VND của ACB tăng trưởng 16.3% so đầu năm ACB cùng lành mạnh hóa cơ cấu bảng tổng kết tài sản thông qua việc xử lý các tồn đọng liên quan đến hoạt động kinh doanh vàng theo chủ trương của Ngân hàng Nhà nước Tuy lợi nhuận năm của ACB không như kỳ vọng nhưng là kết quả chấp nhận được trong bối cảnh môi trường hoạt động năm 2012 đầy khó khăn và phải xử lý tồn đọng về vàng ACB cũng thực thi quyết liệt việc cắt giảm chi phí trong 6 tháng

Trang 38

cuối năm, bước đầu hoàn chỉnh khuôn khổ quản lý rủi ro về mặt quy trình chính sách; và thành lập mới 16 chi nhánh và phòng giao dịch Một số đơn vị kênh phân phối vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng ổn định về lợi nhuận và hoàn thành kế hoạch năm

2.1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của ACB trong thời gian qua

Sau 20 năm hoạt động, ACB luôn giữ vững sự tăng trưởng mạnh mẽ và ổn định Và điều này được thể hiện bằng các chỉ số tài chính qua các năm như sau:

Bảng 2.1: Chỉ số tài chính năm 2008 – 30/06/2013 Đơn vị tính: triệu VND

Tổng tài sản Vốn huy

động

Dƣ nợ cho vay

Lợi nhuận sau thuế

Biểu đồ 2.1: Chỉ số tài chính năm 2008 - 30/06/2013

Năm

Chỉ tiêu

0 50,000,000

Dư nợ cho vay Lợi nhuận sau thuế

Trang 39

 Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh từ năm 2008-2011

Qua bảng số liệu và biểu đồ trên, chúng ta có thể nhận thấy tình hình kinh doanh khá hiệu quả và ổn định qua các năm Một ngân hàng thương mại hoạt động hiệu quả là một ngân hàng huy động được nguồn vốn cần thiết cho hoạt động của mình Trong tình hình cạnh tranh về lãi suất và thị trường có nhiều kênh thu hút vốn (cổ phiếu, trái phiếu, ) như hiện nay thì việc huy động vốn gặp không ít khó khăn, nhưng qua bảng số liệu trên cho thấy khả năng huy động vốn của Ngân hàng Á châu vẫn giữ tốc độ tăng dần qua các năm:

Cuối năm 2009 mặc dù tình hình kinh tế thế giới và trong nước gặp nhiều khó khăn song lượng vốn ngân hàng huy động đạt 134.502.210 triệu đồng, tăng 47,52% so với năm 2008 Năm 2010 đạt 183.132.170 triệu đồng, tăng 36,16% so với năm 2009, năm 2011 đạt 234.503.254 triệu đồng tăng 28,05% so với năm 2010 Điều này đã chứng tỏ sự tin tưởng của khách hàng vào ACB ngày càng cao Nguyên nhân là do ngân hàng đã duy trì nhiều hình thức huy động đa dạng, áp dụng chính sách lãi suất linh hoạt cho từng địa bàn và tăng cường công tác quảng bá hình ảnh

Sau khi đã huy động được nguồn vốn cần thiết, đòi hỏi các ngân hàng thương mại phải tìm được khách hàng để cấp tín dụng nhằm giải phóng nguồn vốn và tìm kiếm lợi nhuận Trong năm 2009 đạt 62.357.978 triệu đồng, tăng 79,02% so với năm 2008; năm 2010 đạt 87.195.105 triệu đồng tăng 39,83% so với năm 2009 do trong giai đoạn này các doanh nghiệp đang đẩy mạnh hoạt động đi vay để đầu tư phát triển sau giai đoạn khủng hoảng kinh tế Năm 2011 đạt 102.809.156 triệu đồng, tăng 17,9% so với năm 2010 Đây là thành quả của sự năng động tìm kiếm khách hàng, chuyên nghiệp trong phong cách phục vụ và liên tục đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng

Tổng tài sản của ACB cao hơn so với các ngân hàng đối thủ cạnh tranh cả về

số tuyệt đối và tốc độ tăng trưởng Cụ thể, tổng tài sản năm 2009 tăng 59,42% so với năm 2008, đạt 167.881.047 triệu đồng; năm 2010 đạt 205.801.580 triệu đồng, tăng 22,59% so với năm 2009; năm 2011 đạt 281.019.319 triệu đồng, tăng 36,55%

so với năm 2010 Quy mô tổng tài sản hiện nay đang mang lại ưu thế cạnh tranh về vốn hoạt động cho ACB so với các ngân hàng thương mại cổ phần khác

Trang 40

Với định hướng chiến lược tăng trưởng cao, quản lý chi phí tốt và duy trì nợ quá hạn ở mức thấp đã giúp nâng cao lợi nhuận của ACB Lợi nhuận sau thuế năm

2008 đạt 2.210.682 triệu đồng và duy trì ổn định trong năm 2009 là 2.201.204; năm

2010 đạt 2.334.794 triệu đồng, tăng 6,07% so với năm 2009, năm 2011 đạt 3.207.841 triệu đồng, tăng 37,39% so với năm 2010 và là ngân hàng có mức lợi nhuận trước thuế đứng đầu trong toàn hệ thống ngân hàng thương mại mặc dù xét

về mặt quy mô tổng tài sản, ACB chỉ xếp vị trí thứ 5 (sau 4 ngân hàng thương mại Nhà nước)

 Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh từ năm 2012 đến 30/06/2013

ACB đã ứng phó tốt và khắc phục nhanh sự cố rút tiền xảy ra trong tuần cuối tháng 8/2012 Thanh khoản được đảm bảo; tài sản không thất thoát Số dư huy động tiết kiệm VND khôi phục trong thời gian ngắn Trạng thái vàng được xử lý theo đúng tiến độ và chủ trương của Ngân hàng nhà nước Các chủ trương về tín dụng của Ngân hàng nhà nước được ACB triển khai nghiêm túc: giảm dần lãi suất cho vay; tăng trưởng tín dụng thận trọng, tăng cường kiểm soát chất lượng tín dụng; cơ cấu danh mục tín dụng theo hướng ưu tiên lĩnh vực sản xuất, hạn chế cấp vốn tín dụng đối với lĩnh vực phi sản xuất, kinh doanh chứng khoán, bất động sản

Quy mô huy động và cho vay về cơ bản vẫn có tăng trưởng so với năm 2011 Tuy số dư đến ngày 31/12/2012 giảm so đầu năm nhưng tính bình quân cả năm, hai chỉ tiêu này tăng xấp xỉ 5% so với số dư bình quân năm 2011 Huy động tiết kiệm VND - nguồn vốn ổn định và là thế mạnh truyền thông của ACB - tăng trưởng cao

so với đầu năm Đây là điểm đáng khích lệ trong bối cảnh ACB đã tuân thủ trần lãi suất huy động

Khuôn khổ quản lý rủi ro về quy trình chính sách được xây dựng và hoàn chỉnh Cấu trúc thanh khoản khá vững chắc Tỷ lệ an toàn vốn bình quân trong năm đạt 11.2% và đạt 13.5% tại thời điểm 31/12/2012 Tuy nhiên, các chỉ tiêu kinh doanh của ACB chưa đạt kế hoạch đề ra đầu năm:

- Tổng tài sản: 176.300 tỷ đồng, giảm 37% so với đầu năm

- Tiền gửi khách hàng: 140.700 tỷ đồng giảm 24% so với đầu năm

Ngày đăng: 21/07/2021, 14:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w