1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Yếu tố không gian và thời gian trong tri thức đi biển của ngư dân thuận an

14 798 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Yếu tố không gian và thời gian trong tri thức đi biển của ngư dân thuận an
Tác giả Nguyễn Thị Tđm Hạnh
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Huế
Thể loại bài luận
Thành phố Thừa Thiên Huế
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 224,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Yếu tố không gian và thời gian trong tri thức đi biển của ngư dân thuận an.

Trang 1

YẾU TỐ KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN TRONG TRI THỨC ĐI BIỂN CỦA NGƯ DÂN THUẬN AN

- Nguyễn Thị Tđm Hạnh

1 Dẫn luận

Xu hướng khai hóa, truyền bâ văn minh trong thời kỳ thống trị của chính sâch thuộc ñịa ít nhiều ñê tạo nín những quan niệm lệch lạc hoặc không thấy hết giâ trị của tri thức bản ñịa Trong những thập niín vừa qua, khi tiếp cận vă lý giải nhiều băi toân hóc búa trong việc giải quyết môi trường, sinh kế, nạn nghỉo ñói, kể cả những giâ trị văn hóa truyền thống trong quâ trình hội nhập vă toăn cầu hóa, tri thức bản ñịa

ñê ñược ñặt ra vă ñược nhìn nhận một câch khâch quan, tích cực hơn nhiều Người ta

ñê nghĩ ñến việc phải học vă tổng kết ñược tri thức bản ñịa một vùng ñất, một tộc người, một cộng ñồng trước khi chuyển giao hay hỗ trợ những chương trình nđng cao, cải thiện cuộc sống của ñối tượng tiếp nhận Vấn ñề sở hữu trí tuệ tri thức truyền thống/tri thức bản ñịa cũng ñược thế giới ñặt ra một câch nghiím túc bởi những giâ trị kinh tế, văn hóa, xê hội mă nó ñem lại Hệ thống tri thức bản ñịa, vì vậy, từng bước có ñịa vị bình ñẳng như bất cứ ngănh khoa học năo

Tri thức bản ñịa cũng lă ñối tượng nghiín cứu của nhiều ngănh khoa học khâc nhau 1 Trong ñó, câc ñường ranh phđn chia ñịa hạt nghiín cứu mă người ta

1 “Tri thức bản ñịa: ñó lă toăn bộ những hiểu biết của con người về tự nhiín, xê hội vă bản thđn, hình thănh vă tích lũy trong quâ trình lịch sử lđu dăi của cộng ñồng thông qua trải nghiệm trong quâ trình sản xuất, quan hệ xê hội vă thích ứng môi trường Nó tồn tại dưới nhiều hình thức khâc nhau vă truyền từ ñời năy sang ñời khâc bằng trí nhớ vă thực hănh xê hội” (Ngô ðức Thịnh,

2004: 3)

Người ta cũng có thể ñưa ra nhiều câch ñịnh nghĩa khâc, tuy nhiín, dù quan niệm như thế năo, những khía cạnh không thể không nhắc ñến khi băn về tri thức bản ñịa lă:

(1) Nội dung/lĩnh vực của tri thức: Có thể phđn chia theo từng lĩnh vực gắn liền với ñời sống của con người: Tri thức về tự nhiín vă môi trường; Tri thức về bản thđn con người (cơ thể học, dưỡng sinh, trị bệnh…); Tri thức về sản xuất, khai thâc vă sử dụng câc tăi nguyín thiín nhiín vă môi trường; Tri thức về ứng xử xê hội vă quản lý cộng ñồng; Tri thức về sâng tạo nghệ thuật (Ngô

ðức Thịnh, 2004)

(2) Hình thức tồn tại của tri thức: Bằng trí nhớ, truyền miệng, hay bằng thực hănh (thực hănh sản

xuất vă thực hănh xê hội)

Trang 2

thường cố thiết lập trở nên mềm mại, nếu không muốn nói là không cần thiết Một thực tế khác cũng ựặt ra, ựó là những hình ảnh quen thuộc của các xã hội truyền thống ựã và ựang lùi xa, mờ nhạt ựi một cách nhanh chóng trước nhịp sống hiện ựại Vì thế, nghiên cứu tri thức bản ựịa không chỉ dừng lại ý nghĩa thực dụng -

Ộgạn ựục khơi trongỢ ựể ựem lại lợi ắch (kinh tế, xã hội, môi sinhẦ) cho con người - mà còn góp phần tái hiện lại Ộkhẩn cấpỢ 2 Ộmô hình tư duyỢ trong quá khứ của một cộng ựồng nhất ựịnh Dưới góc ựộ nhân học, ựiều này thực sự có ý nghĩa quan trọng ựể chủ thể của mỗi nền văn hóa có thể nhận chân chắnh mình, không chỉ là những phẩm chất, những hình ảnh trong lịch sử mà cả trong quá trình tiếp biến văn hóa ựang diễn ra một cách tất yếu trước yêu cầu của thời ựại

Thông qua một khảo sát cụ thể về Yếu tố không gian và thời gian trong tri thức biển của của ngư dân Thuận An 3 (Thừa Thiên Huế), chúng ta sẽ thấy ựược sự chi phối của ựiều kiện sống ựến tâm lý, tư duy, văn hóa của một cộng ựồng; những dạng thức bảo tồn, lưu giữ, truyền bá và tác dụng của những kinh nghiệm truyền thống trong cuộc sinh tồn của người dân ựịa phương

2 Sự tri nhận không gian và thời gian của ngư dân vùng biển Thuận An

2.1 Không gian

* Núi ựồi, sải tay - những ựơn vị không gian vật lý

(3) Tắnh truyền thống và tắnh ựịa phương: Sự tắch lũy và Ộchuyển giaoỢ tri thức, kinh nghiệm qua

nhiều thế hệ trong một cộng ựồng tương ựối hẹp trên một không gian ựịa lý nhất ựịnh và ựược cộng ựồng ựó thừa nhận

Như vậy, ngay trong khái niệm, tri thức bản ựịa ựã thể hiện mình là ựối tượng quan tâm của nhiều lĩnh vực khác nhau

2 Từ ựầu thế kỷ XX, nhà nhân học Claude Levis Straus ựã tiên ựoán ỘNgày xưa, nhân loại có nhiều nên văn minh khác nhau nhưng cách biệt không có liên lạc gì với nhau Người ta có thể dự ựoán ựến thế kỷ 21 chỉ còn lại một thứ văn hóa, một thứ nhân loại Do ựó, chúng ta (những nhà nhân học văn hóa) tựa những nhà thiên văn học ựứng ở ựịa ựiểm dễ quan sát sự xuất hiện những

vì sao ựặc biệt và sẽ không còn xảy ra nữa Trong hai thế kỷ và chỉ hai thế kỷ mà thôi, một nhân loại ựi qua bên cạnh một nhân loại khác và có thể quan sát nó Chắnh vì thế mà chúng tôi nghĩ rằng, công việc của chúng tôi khẩn cấp hơn là việc nghiên cứu nguyên tử hay chinh phục không gian là những công trình không như nhân học, bị hạn chế bởi thời gianỢ Dẫn theo: (Bùi Quang

Thắng, 2001: 75)

3 Thuận An chắnh là một phần của làng Thai Dương ựược nhắc ựến trong ỘÔ Châu Cận lụcỢ (thế

kỷ XV), cách kinh thành Huế hơn 10 km về phắa đông Bắc Sau lưng là biển cả, trước mặt là ựầm phá, cuộc sống của người dân nơi ựây gắn liền với ngư nghiệp từ ngày mới khai thiết lập làng Do

ựó, nhiều kinh nghiệm ựánh bắt ựã ựược ựúc rút và trao truyền qua nhiều thế hệ

Trang 3

Ngày nhìn núi, túi (tối) nhìn sao - lấy núi làm vật ñịnh vị là hình thức nhận

biết các thuộc tính và quan hệ của không gian không xa lạ ñối với nhiều dân tộc Trong sinh cảnh núi biển liền kề của miền Trung Việt Nam, núi song hành cùng

biển, có núi “trên cao chót vót ñến tầng mây, dưới chạy dăng ñến bờ biển, gần như ñứng trong biển…” (QSQ Triều Nguyễn, 1997: 132), núi là hiện thực bày ra trước mắt của người ñi biển Hay ñúng hơn, họ chăm chăm nhìn núi như một tiêu ñiểm, mà từ ñó, sẽ xác ñịnh ñược thị trường mưu sinh mang tính sống còn Từ núi,

những ý niệm ñầy cảm tính về không gian cũng hình thành và ñược thể hiện một cách giàu cảm xúc, giàu hình ảnh bằng ngôn ngữ tự nhiên của người dân ñịa phương

Trong hệ thống núi giữ vai trò như những “ngọn hải ñăng” của ngư dân vùng

biển Thuận An, phải kể ñến hòn ðăng, hòn ðụn, hòn Bò, hòn núi Mẹ và ba hòn non/ba lao Kế ðợi Thoạt nhìn, từ “hòn” ñứng trước mỗi tên núi không có gì ñặc biệt, bởi nó thường dùng ñể “mô tả hình khối, thường là tròn, gọn của ñơn vị sự vật: hòn bi, hòn ñạn, hòn núi, hòn ñảo…(Lý Toàn Thắng, 2005: 222) Song, trong

tiếng Việt, nhóm các sự vật có hình khối, không gian ba chiều còn có thể ñi kèm

với: ngọn (ngọn núi), quả/trái (quả/trái núi), viên (viên núi - ít dùng) Khoảng trống những từ chỉ loại này trong cách ñịnh danh trên khiến người ta có thể liên

tưởng về một sự ñồng nhất thuộc tính không gian 4 của các núi Trên thực tế, hòn ðăng ñối lập hoàn toàn với hòn ðụn về hình dáng, kích thước, khoảng cách và không có mối liên hệ nào với hòn Bò 5 Tương tự, nếu như hòn núi Mẹ nổi lên khá

4 Mặc dù quả, hòn, ngọn, viên ñều là những loại từ mô tả các sự vật có không gian ba chiều

nhưng giữa chúng có sự phân biệt nhất ñịnh:

- Quả/trái: mô tả hình như quả cây, thường là khối tròn, của ñơn vị sự vật

- Ngọn: mô tả hình ngọn hoặc hình nón của sự vật

- Hòn: mô tả hình khối, thường là tròn, gọn của ñơn vị sự vật

- Viên: mô tả hình khối thường là nhỏ và tròn của ñơn vị sự vật

5

Hòn ðăng chính là núi Ngự Bình theo cách gọi khác của người vùng biển Thuận An; còn hòn ðụn chính là ngọn Kim Phụng (hay Thương Sơn) Về hình dáng khác nhau của hai núi này có thể thấy rõ với những gì ñược miêu tả trong ðại Nam Nhất Thống Chí: “Núi Ngự Bình ở phía Tây huyện Hương Trà, nổi vọt lên ở quãng ñất bằng như hình bức bình phong làm lớp án thứ nhất trước kinh thành, tục gọi núi Bằng (…), ñỉnh núi bằng phẳng khắp nơi trồng cây thông” (QSQ Triều Nguyễn, 1997: 121); “Núi Thương: ở phía Nam huyện Hương Trà, có tên nữa là núi Thiên Dữu, hình thể khum khum cao lớn, như vựa thóc tròn, nên gọi tên thế” (Thương có nghĩa là vựa thóc) (QSQ triều Nguyễn, 1997: 122 - 123) Trước ñó, “Ô Châu Cận Lục” cũng ñã ghi: “Núi Thương Sơn: tại ñầu nguồn huyện Kim Trà Dáng núi ñẹp cao nhọn lên hơn hẳn các núi non bên

Trang 4

ựơn ựộc thì ba hòn lao Kế đợi sát bên nhau lùi khá xa về phắa đông Nam Lý giải

hiện tượng Ộựồng nhấtỢ này, theo chúng tôi, phải xuất phát từ khung quy chiếu và tầm

mắt của người ựi biển Giữa trời biển bao la, tỷ lệ kắch thước giữa núi và mặt nước là

quá lớn, sự thay ựổi kắch thước hay ựường nét của núi dường như không ựáng kể ựể

thay ựổi loại từ không gian 6 Hơn thế, núi càng lớn, người ựi biển càng lùi ra xa mới

có thể nhìn nhận và mô tả nó như một hình khối điều ựó có nghĩa là mẫu số (kắch thước mặt nước) và tử số (kắch thước núi) luôn luôn tỷ lệ thuận để minh hoạ ựiều này, chúng ta có thể quan sát cách ựịnh vị của người ựi biển vùng Thuận An qua hệ thống núi ựã nêu

Trong khoảng chừng 5 hải lý trở vào, người ựi biển nhìn về phắa Tây Nam,

căn cứ vào hòn đăng, hòn đụn, hòn Bò ựể xác ựịnh vị trắ Theo thứ tự thấp trước,

cao sau, ựỉnh của những ngọn núi này dần dần xuất hiện hiện trong tầm mắt của ngư dân và tạo thành một tam giác thẳng góc với mặt ựất 7, ựỉnh là hòn đụn (ở giữa) và cạnh ựáy là ựoạn thẳng nối hai ựỉnh của hòn đăng (phắa Nam) và hòn Bò (phắa

hữu Sánh nhìn bốn phắa, trông như một kho ựụnỢ (Vô danh thị, 2001: 22); hòn Bò nằm ở phắa Bắc của hòn đụn, hình thể chỗ cao, chỗ thấp trông giống như ựầu bò nên dân gian gọi tên thế

Tên của hai ngọn núi này cũng ựược nhắc ựến trong hai câu ựối ghi ở ựình làng Thuận An:

ỘSa ựộng sức thanh cao, Phụng lãnh Bình sơn triều bão thiên nhiên kình tứ trụ;

Hải Thành chiêm ngoạn cảnh, Cáp châu Hương thủy cảnh hồi ựịa thế xuất Tam ThaiỢ (Lê Văn

Kỳ, 2000: 124 - 125)

6 Các nhà ngôn ngữ học cho rằng: tùy thuộc vào tắnh nổi trội thuộc tắnh không gian của sự vật (hình dáng, tư thế, kắch thước) ựược mô tả ở thời ựiểm nói, người ta có thể gắn cho nó những loại

từ không gian khác nhau (ựịnh hướng không gian tương ựối) Vắ dụ: nếu núi nổi trội hình dáng tròn thì gọi là quả núi, nếu nổi trội hình dáng nhọn thì gọi là ngọn núi Trường hợp hòn núi và quả núi dường như không có sự phân biệt, nhưng ựặt trong liên tưởng với quả núi/ hòn non bộ thì

rõ ràng chúng biểu thị những kắch thước khác nhau (Lý Toàn Thắng, 2005: 224 - 225) Mặt khác,

ỘhònỢ trong từ ựiển Tiếng Việt còn có nghĩa là cù lao nhỏ mà cù lao có nghĩa là ựảo: Ộtrong các ngôn ngữ thuộc dòng Nam đảo, Bù - lao hay Pu - lao có nghĩa là ựảo đến Nam bộ, từ này ựược việt hóa thành Cù lao (Cù Lao Thượng, cù lao Thới)Ợ (Nguyễn Duy Thiệu, 183) Xâu chuỗi

những ựiều này lại với nhau, chúng tôi có thể liên tưởng ựến một quy luật, hay ắt ra là một hiện

tượng phổ biến, tất cả những ựịa hình lồi (núi, ựồi, ựảo), dù hình dáng, kắch thước như thế nào,

nếu ựược người ựi biển nhìn qua khung quy chiếu là mặt nước biển ựều ựược mô tả chung bằng

từ loại hòn Trong một số Nhật trình của người ựi biển, các núi hay ựảo cũng chủ yếu ựược gọi là hòn: hòn Sầm, hòn Nhạn, hòn Cầu, hòn Nan, hòn Mực, hòn Cương Gián, hòn Ông, hòn Mụ, hòn Vũng TàuẦXem thêm: (Nguyễn Thăng Long, 2005: 104 - 108) đây cùng là ựiểm khác biệt khá

lý thú trong cách nhìn thế giới của người ựi biển

7 Bằng trực giác, người ta có cảm tưởng như các ngọn núi trên cùng nằm trên một mặt phẳng

Trang 5

Bắc) Lấy hòn đụn làm tiêu ựiểm, càng ựi về phắa Bắc, người ta có cảm giác như cạnh bên: hòn đụn - hòn đăng ngắn hơn; ngược lại, càng ựi về phắa Nam, hòn Bò dường như ỘchạyỢ tới gần hòn đụn hơn Từ sự thay ựổi ựộ dài ngắn này, người ta sẽ xác ựịnh ựược vị trắ của các rạn như: rạn Bò, rạn Thầy, rạn Nhà Toan, rạn DùẦ,

những nơi tập trung nhiều tôm cá Cũng có khi người ựi biển căn cứ vào vị trắ tương ựối của các vệt dài (ựường mòn) trên núi so với một tiêu ựiểm khác gần bờ (ngọn

cây dương, cửa Eo, trấn Hải đàiẦ) ựể bắt rạn hay tìm ựúng ổ mực

Khi bắt ựầu không thể thấy hòn đụn, ngư dân vùng biển Thuận An sẽ nhìn sang hòn núi Mẹ (hướng đông Nam) điểm nhìn này cùng là ranh giới giữa khơi

và lôộng So với vùng biển ựược xác ựịnh là khơi hiện nay, quan niệm truyền thống về khơi (ra khơi, vào lộông) rất hạn hẹp, thực chất, nó không xa hơn 10 hải

lý và luôn chịu sự Ộneo lạiỢ của những ngọn núi trong ựất liền Với ngư dân ở

Thuận An và vùng lân cận (Vinh Thanh, Vinh HiềnẦ), hòn núi Mẹ và ba hòn lao

Kế đợi 8 chắnh là những Ộcột neoỢ ựó Và, cũng từ ựây, ngư dân Thuận An ựã hình thành một cách tắnh khoảng cách bằng cách ựếm số núi Ban ựầu, người ựi biển chỉ

nhìn thấy hòn núi Mẹ, nhưng nếu càng di chuyển về phắa đông hoặc đông Nam, góc nhìn thay ựổi, ba hòn non dần dần ra khỏi tầm che khuất của núi Mẹ khiến

người ta có cảm tưởng như chúng càng lúc càng lao ra biển Số non có thể nhìn thấy càng nhiều, khoảng cách giữa người ựi biển so với bờ càng lớn đơn vị tắnh

ựộ dài của không gian lúc này ựược biểu thị bằng: một non, hai non, hai non rưỡi,

ba non, bốn non, năm non - vốn không hề có mặt trong hệ thống danh từ ựơn vị ựại lượng của tiếng Việt (như: mẫu, sào, thước, mét, sải, gang, nắm, vốcẦ) Trong

cách ựo khoảng cách bằng số lượng núi này, chúng tôi ựặc biệt chú ý ựến các ựơn

vị: bốn non hở một cùi, năm non Bốn non hở một cùi là góc nhìn mà 3 hòn lao Kế đợi và hòn núi Mẹ tạo thành một hàng ngang, và núi Mẹ tách ra cách ba hòn còn

lại với khoảng cách bằng một cùi tay Cách nhìn này phản ánh một sự nhận thức

ựầy cảm tắnh về không gian của người ựi biển, khái niệm hòn dường như không hề

có không gian bên trong như nó cần phải có; khoảng cách thực giữa các ngọn núi ựược tắnh bằng một tỷ lệ xắch rất ựộc ựáo, trong ựó, tử số chắnh là ựộ rộng của một phần cơ thể người: cùi tay Cũng xuất phát từ lối tư duy ựầy hình ảnh về hình học, vật lý học, ngư dân vùng biển Thuận An còn có một cách ựo bằngẦ tưởng tượng

Sau khi bốn non hở một cùi ựã khuất, không hề có một tiêu ựiểm nào có thể nhìn thấy, nhưng bằng cách dạt chừng, năm non vẫn hiện hữu trong tâm thức của họ

8 Hòn núi Mẹ, hòn lao Kế đợi là những tên gọi dân gian do người ựịa phương ựặt cho các hòn núi

và ựảo ở đà Nẵng Chúng tôi chưa xác ựịnh chắnh xác Ộtên chữỢ của chúng

Trang 6

như một ñơn vị có thực Từ góc ñộ tâm lý, thêm một lần nữa, chi tiết này giúp ta

có thể thấy sự hạn hữu trong cách nhìn truyền thống về biển của ngư dân, cũng như của người Việt

Không chỉ ño khoảng cách so với bờ, dò ñộ sâu ở từng khu vực biển là việc làm

rất cần thiết ñối với ngư dân Bởi, nếu với những người làm nghề khô, mặt ñất ñược

nhìn nhận như vật nâng ñỡ sự sống - hiểu theo nghĩa ñen lẫn nghĩa bóng - thì với người ñi biển, không gian bên dưới mặt nước mới thực sự ñem lại ý nghĩa cho cuộc

mưu sinh Cũng như nhiều vùng khác, sải 9 là ñơn vị ño ñộ sâu ñược ngư dân vùng biển Thuận An sử dụng ðiểm ñáng lưu ý ở ñây là phương thức xác ñịnh và cách ñối chiếu mực nước của người bản ñịa

Câu chì (hay câu chìm, câu thẩm) không chỉ là một ngư cụ mà còn là một chiếc trường xích hữu hiệu Mỗi lúc thả câu chì xuống nước, ngư dân có thể cảm

nhận ñược khi viên chì to buộc ở ñầu dây câu, ngay phía trên lưỡi câu, chạm vào ñáy biển Một cách hiển nhiên, ai cũng có thể nhìn thấy, căn cứ vào dây câu, người

ta có thể tính ñược mực nước biển ðiều thú vị là sợi dây câu mỏng mảnh ấy còn

có khả năng “khảo sát ñịa hình” mà “bộ máy cảm ứng” chính là ñôi tay nhạy cảm

của ngư dân Nếu ñôi tay ñược thông báo cảm giác “rít” thì bên dưới chính là leẹc

(luồng); ngược lại, cảm giác “va chạm” sẽ cho ngư dân biết họ ñang ñứng trên

cồn Từ những thông số thu ñược, ngư dân có thể quyết ñịnh sử dụng công cụ

ñánh bắt một cách hợp lý, nhằm ñem lại hiệu quả tối ưu 10

Như một biện pháp dự phòng và tiết kiệm thời gian, từ những kinh nghiệm ño lường khoảng cách và ñộ sâu, ngư dân Thuận An ñã thiết lập ñược một “hệ tọa ñộ” cho phép họ xác ñịnh nhanh chóng vị trí của mình trên biển:

ðịa hình ðộ sâu Nhận dạng khoảng cách

9

Sải: ðộ dài ước tính bằng khoảng cách giữa hai ñầu của hai bàn tay dang ngang thẳng cánh

(Nguyễn Như Ý, 1999: 1425) ðây cũng là ñơn vị/phương thức ño mực nước phổ biến trên thế giới Trong tiếng Anh, (fathom: sải) không chỉ mang ý nghĩa là ñơn vị ño chiều sâu 1,82m mà với tư cách

ñộng từ, nó còn có nghĩa tìm hiểu, ño ñộ sâu (của nước).

10 Tùy theo ñộ sâu của nước, ngư dân ñặt các loại trà (hay còn gọi là phao, chà: là dụng cụ ñể dụ

cá ñến, ñược làm bằng cây tre, có ñá và phao dằng bên dưới và xung quanh) khác nhau: trà 17, trà 18, trà 20… tương ứng với các ñộ sâu: 17sải, 18 sải, 20 sải…

Trang 7

Cồn Chớn 12 sải Hai non

Như vậy, trong trường hợp ựiều kiện thời tiết không cho phép nhìn núi, căn cứ vào ựộ sâu người ta có thể xác ựịnh khoảng cách so với bờ; ngược lại, chỉ cần nhìn núi, ngư dân cũng có thể quyết ựịnh loại ngư cụ nào nên sử dụng

Về cách nhìn sao, ngoài sao Hôm (phắa Tây), sao Mai (phắa đông), sao Bắc ựẩu (dân ựịa phương gọi là sao bánh lái - ở phắa Bắc), người ựi biển còn căn cứ vào sao Cây dừa (phắa Nam) đặc biệt, sao ựòn cân nằm về phắa đông Bắc và hầu như

không di chuyển trong giới hạn góc nhìn từ ngư trường của người ựi biển vùng Thuận

An nên nó là cơ sở ựể ựịnh hướng chắnh xác nhất

* Côi (trên), ựưới (dưới), trong, ngoài và lên, xuống, vào, ra

Lên/xuống, vào/ra là những cặp ựối lập, biểu hiện lối tư duy lưỡng hợp 11 của

người Việt, là Ộcác cấu trúc tri nhận ựơn giản và cơ bản ựược phái sinh ra từ tương tác của chúng ta với thế giới mỗi ngàyỢ (Lý Toàn Thắng, 2005: 243) Tuỳ

theo khung quy chiếu, vùng ựịnh hướng không gian có những khu biệt nhất ựịnh, dưới sự chi phối của nhiều nhân tố: vị trắ ựịa lý, ựịa hình, lịch sử, xã hộiẦ Với

người Việt, trong ựó có các ngư dân sinh sống ven biển như Thuận An, vào trong Nam, ra ngoài Bắc; lên trên rừng (Tây), xuống dưới biển (đông) 12 là hướng ựịnh

11 Tắnh lưỡng hợp (dualism) của tư duy ựã chi phối mạnh mẽ nhận thức thế giới hiện tượng cũng như các khái niệm rút ra từ ựó ựều ựược phân thành các cặp ựối lập: ựất/nước, chim/thú, ựực/cáiẦỢ (Hà Văn Tấn, 1994), ỘQuá trình hình thành và bản sắc văn hóa ViệtỢ, trong Văn hóa

và phát triển kinh tế xã hội, Hà Nội, tr.42 Dẫn theo: (Lý Toàn Thắng, 2005: 265)

12 Từ năm 1955, Phan Khôi ựã có một so sánh khá tinh tế: ỘNgười ta cũng nói ựi từ ựông ựến tây

là lên, ựi từ tây ựến ựông là xuống, ựi từ bắc ựến nam là vào, ựi từ nam ựến bắc là ra Là vì ở nước ta, suốt cả nước, phắa tây ựều là cao nguyên hay núi ,cao hơn phắa đông, phắa ựông ựều là biển thấp kém phắa Tây; phắa Bắc mở mang trước coi như quang, phắa nam mở mang sau, coi như kắn Cho nên khi nói lên tây, xuống ựông, vào nam, ra bắc, cũng tức là cái nghĩa: từ chỗ thấp ựến chỗ cao, từ chỗ cao ựến chỗ thấp, từ chỗ quang ựến chỗ kắn, từ chỗ kắn ựến chỗ quang (Ầ) tiếng Pháp nói lên phắa Bắc, xuống phắa Nam là họ theo hình quả ựất phắa Bắc ở trên (Ầ) người

Trang 8

vị cơ bản Tuy nhiên, ngay khi rời ựất liền ựể ựến với biển, sự hình dung về hướng

di chuyển của họ hoàn toàn thay ựổi: lên côi (lên trên) - lên Bắc; về thấp - về Nam;

ra (ngoài) - ra đông, vào (trong) - vào Tây Từ ựây, một Ộhệ ựẳng thứcỢ ựược thiết

lập khi người ựi biển cần nhận biết các hiện tượng tự nhiên khác:

Gió đông Nam (Nam ngoài/gió nồm) = mọ dưới = mòi nồm (mòi dưới)

Gió Tây Nam (Nam trong/gió làng) = mọ dưới

Gió đông Bắc = mọ côi = mòi côi

Mọ là âm thanh ựược tạo thành do sự va ựập giữa sức gió và sóng biển, nghe rất rõ vào ban ựêm (có gió mọ mới xao) Từ trong ựất liền, nếu nghe thấy mọ côi tức là ựang có gió mùa đông Bắc thổi về, báo hiệu biển ựộng; ngược lại, với mọ dưới, ngư dân có thể yên tâm căng buồm ra biển

Sự tương tác lực giữa gió và mặt nước biển còn tạo ra mòi - những gợn nước nhỏ cùng với hướng gió, chỉ xõa nhẹ, không vỗ vào bờ như sóng Trong trường hợp sương mù hay ựêm tối, ựể tránh ựi sai vị trắ của các rạn hay những

nơi ựã ựặt trà, bằng cách chia mòi, ngư dân cũng có thể xác ựịnh ựúng phương

hướng cần ựến Vắ dụ, từ bờ (hướng Tây Bắc - đông Nam), nếu muốn ựi ra

hướng chắnh đông, mũi thuyền phải ỘchiaỢ phần trên (phắa Bắc) của mòi côi

(hướng Tây Bắc - đông Nam, do tác ựộng của gió đông Bắc) ngắn hơn phần dưới; ngược lại, nếu có gió đông Nam, mũi thuyền phải chia phần trên của

mòi dưới (hướng đông Bắc - Tây Nam) dài hơn đây chắnh là những công thức chế nước mà các nhà Ộvật lý dân gianỢ ựã ựúc rút bằng kinh nghiệm

truyền ựời Song, nếu có kinh nghiệm nhưng thiếu sự nhạy cảm của các giác

quan thì ựôi lúc cũng dễ dàng dẫn ựến sai một ly ựi một dặm, thậm chắ cứ ựi

quẩn quanh một chỗ Ngoài ựôi mắt phải tinh, ựôi tai phải thắnh, người ựi biển còn phải dùng xúc giác ựể ựịnh hướng Nếu gió ựang tạt vào bên má bỗng

Tàu cũng vậy, họ cũng nói xuống phắa Nam, lên phắa Bắc, tức như nam hạ, bắc thưởng, hay là hạ Giang Nam, thưởng Bắc Kinh đó là vì người Tàu ựã quen phân biệt ựịa thế nước mình như người xưa có nói: phắa Bắc ựất cao, nhiều rừng núi, phắa nam ựất thấp, nhiều chỗ chằmỢ (Phan Khôi, 1997: 118 Ờ 119) Theo Nguyễn Tài Cẩn, cách nói vào trong Nam ra ngoài Bắc xuất hiện ắt

nhất là từ thế kỷ XV, khi cương giới của Việt Nam chỉ từ Thừa Thiên Huế trở ra Ông cho rằng,

vì so với ựồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ có không gian hẹp hơn, lại là nơi mới khai phá còn

Ộman rợỢ nên mới có cách ựịnh hướng vào Nam, ra Bắc Hiện nay, quốc lộ Một và việc phân chia ựịa giới hành chắnh ựược xem là những nhân tố quan trọng chi phối việc ựịnh hướng vào Nam ra Bắc Xem thêm: (Lý Toàn Thắng, 2005)

Trang 9

dưng lại thổi từ sau gáy, người cầm lái nhận ra ngay mình bắt ñầu lệch hướng

và phải ñiều chỉnh lại như ban ñầu

2.2 Thời gian

* Lịch con nước

Vòng quay của mặt trăng và mặt trời là những cơ sở ñể con người tạo ra lịch - một loại thước ño thời gian với những ñơn vị cơ bản: ngày, tháng, năm Vốn là nguyên nhân sinh ra thủy triều, chu kỳ mặt trăng cũng giúp người ñi biển xác lập cho mình một loại lịch riêng: lịch con nước - giúp họ tránh ra khơi nhằm vào ngày sinh nước 13 ðể dễ thuộc, dễ nhớ, một phương pháp cổ truyền ñược ngư dân Thuận An vận dụng là “làm lịch ” bằng văn vần 14:

Tháng Hai mười bảy mùng ba Tháng Giêng mùng năm mười chín vậy là nước lên Tháng Ba ôm rằm, mồng một thanh minh Mỗi tháng hai con nước Thìn sinh Tỵ hồi 15

“Cuốn lịch” trên còn có thêm một số “phàm lệ”:

13 “Một chu kỳ biến ñộng của mực nước - từ lúc nước biển rút xuống tới mức tối thiểu, cho tới lúc nước biển lên cao tới mức tối ña - kéo dài 15 ngày, và ñược gọi là một con nước (…) Ngày bắt ñầu một chu kỳ ñược gọi là ngày sinh nước Trong quan niệm của người ñi biển, ngày này rất quan trọng Qua kinh nghiệm, họ biết rằng ñây là ngày thiên nhiên có nhiều biến ñổi: trời mưa

to, gió lớn hoặc nước trong lòng biển xoáy ngầm, chảy xiết…” (Nguyễn Duy Thiệu, 2002: 186 -

187)

14 ðây cũng là cách mà ngư dân dọc các tỉnh miền Trung sử dụng ñể tính chu kỳ con nước Ở

vùng Cửa Sót (Hà Tĩnh), ngư dân có “bài lịch con nước” như sau: Tháng giêng, tháng bảy cho mình Mồng năm, mười chín dần sinh tỵ hồi Tháng 8 cho nhận tháng ñôi Mồng ba mười bảy Ngọ lai, Tỵ hoàn” (Nguyễn Duy Thiệu, 2002: 188 - 189) Vùng biển Bảo Ninh (Quảng Bình)

cũng có bài ca tương tự:

Tháng Giêng, tháng Bảy giao mình Tháng Tư, tháng Mười cập kê

Tháng Ba, tháng Chín lãi tròn Tháng Sáu với tháng Mười hai

(Hồ Viết Hoàng, 2006: 97)

15 Giờ Thìn: 7 - 9 giờ; Tị: 9 - 11 giờ

Trang 10

- Các tháng phải ñược tính theo chu kỳ mặt trăng (Âm lịch)

- Ngày sinh nước của tháng sau phải lùi hai ngày so với tháng trước

- “Tháng Ba ba con nước”

- Với những năm nhuận, nhuận nhằm tháng nào thì ngày nước sinh của tháng

ñó vẫn không ñổi

Ví dụ: tháng Hai, nước sinh vào ngày 3 và 17 thì tháng Hai nhuận cũng có ngày nước sinh là 3, 17

Như vậy, lịch con nước của vùng biển Thuận An như sau:

Tháng (Âm Lịch) Ngày sinh con nước

Ngoài lịch ngày nước sinh, việc tính lịch dòng triều hằng ngày cũng rất quan trọng ðiểm ñặc biệt của vùng biển Thuận An so với cả nước là có chế ñộ bán nhật

Ngày đăng: 14/11/2012, 11:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w