Tìm hiểu những hiện vật thuộc giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên trưng bày tại bảo tàng Hùng Vương.
Trang 1Bước vào thời đại văn minh, khi con người biết đến kim loại, miền đất
ấy vẫn là nơi cuốn hút các nhóm cư dân thời văn minh tụ hội Trong đó nổitrội và đông đảo nhất là cư dân văn hóa Phùng Nguyên Đó chính là nhữngngười đã làm nên một nền văn hóa mở đầu cho lịch sử văn minh thời các VuaHùng – văn hóa Phùng Nguyên
Ngày nay, trên mảnh đất ấy còn lại rất nhiều dấu tích ghi dấu thời cácVua Hùng Trong đó Khu di tích lịch sử Đền Hùng là địa điểm có ý nghĩa lịch
sử quan trọng nhất Việc lưu giữ và phát huy những giá trị văn hóa đó đã vàđang được nhiều cấp, ngành trên quê hương Đất Tổ thực hiện Bảo tàng HùngVương được ra đời trong khu Di tích lịch sử Đền Hùng cũng không nằmngoài mục đích đó
Với nội dung văn hóa Phùng Nguyên được giới thiệu tại bảo tàng HùngVương, sẽ giúp cho thế hệ sau nhận biết được tổ tiên chúng ta thời HùngVương Đó là chủ nhân văn hóa Phùng Nguyên – những người đã lao động vàsáng tạo không ngừng để đạt được những thành tựu trên mọi lĩnh vực, xâydựng nên mọi cơ sở vật chất và tinh thần cho xã hội thời Hùng Vương
Là một người con thuộc thế hệ con cháu Vua Hùng, em thấy rằng việc
Trang 2tìm hiểu lịch sử, tìm hiểu những giá trị văn hóa tốt đẹp của cha ông là điều vô
cùng cần thiết Chính vì vậy, em đã chọn đề tài : “Tìm hiểu những hiện vật thuộc giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên trưng bày tại bảo tàng Hùng Vương”
để tìm hiểu về văn hóa Phùng Nguyên - nền văn hóa khởi đầu thời kỳ HùngVương dựng nước
Để hoàn thành được bài khóa luận này em đã xin chân thành cảm ơnnhững đóng góp quý báu của thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Bùi Văn Tiến.Qua đây em cũng muốn cảm ơn các cán bộ thuộc bảo tàng Hùng Vương, thưviện bảo tàng Mỹ Thuật Việt Nam, thư viện Quốc Gia, thư viện trường Đạihọc Văn hóa Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình làm bài
Trang 3MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG 1 : KHÁI QUÁT VỀ THỜI ĐẠI HÙNG VƯƠNG VÀ NỀN
VĂN HÓA PHÙNG NGUYÊN 5
1.1 Khái quát về thời đại Hùng Vương 5
1.1.1 Niên đại……… 5
1.1.2 Cương vực……… 5
1.1.3 Phân bố dân cư……… 5
1.1.4 Kinh tế……… 7
1.1.5 Xã hội……… 11
1.2 Khái quát về nền văn hóa Phùng Nguyên 14
1.2.1 Quá trình phát hiện và nghiên cứu……… 14
1.2.2 Những đặc trưng nổi bật ……… 21
1.2.2.1 Loại hình di tích……… 21
1.2.2.2 Niên đại……… 23
1.2.2.3 Các giai đoạn phát triển……… 24
1.2.3.4 Đặc trưng về hiện vật……… 32
CHƯƠNG 2 : NHỮNG HIỆN VẬT VĂN HÓA PHÙNG NGUYÊN TRƯNG BÀY TẠI BẢO TÀNG HÙNG VƯƠNG 62
2.1 Khái quát về nội dung trưng bày của bảo tàng Hùng Vương 62
2.2 Hiện vật văn hóa Phùng Nguyên trưng bày tại bảo tàng Hùng Vương… 64
2.2.1 Khái quát phần trưng bày văn hóa Phùng Nguyên 64 2.2.2 Những hiện vật tiêu biểu của văn hóa Phùng Nguyên được trưng bày.65
Trang 42.2.2.1 Đồ đá……… 65
2.2.2.2 Đồ gốm……… 68
2.2.3 Nhận xét về hệ thống trưng bày 70
2.2.4 Ý nghĩa của việc trưng bày 71
CHƯƠNG 3 : GIÁ TRỊ NHỮNG HIỆN VẬT VĂN HÓA PHÙNG NGUYÊN TRƯNG BÀY TẠI BẢO TÀNG HÙNG VƯƠNG 73
3.1 Những giá trị cơ bản 73
3.1.1 Giá trị lịch sử 73
3.1.2 Giá trị nghệ thuật 75
3.1.3 Giá trị văn hóa 77
3.2 Mối quan hệ giữa văn hóa Phùng Nguyên và các nền văn hóa khác thông qua các hiện vật trưng bày tại bảo tàng Hùng Vương 79
3.3 Văn hóa Phùng Nguyên - tiền đề cơ bản cho sự phát triển của các giai đoạn văn hóa tiếp theo 83
KẾT LUẬN 88
Trang 5CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ THỜI ĐẠI HÙNG VƯƠNG
VÀ NỀN VĂN HÓA PHÙNG NGUYÊN
1.1 Khái quát về thời đại Hùng Vương
1.1.1 Niên đại là một vấn đề mấu chốt nhất trong khi nghiên cứu thời kỳ
lịch sử Hùng Vương Có rất nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này Nhưngchúng ta có thể nói thời Hùng Vương được tính từ khi manh nha nhà nướcVăn Lang đến khi nước Âu Lạc bị Triệu Đà xâm lược khoảng 200 năm
1.1.2 Cương vực nước ta thời Hùng Vương khá rộng lớn Phía bắc vươn
lên đến những miền giáp ranh giới các vùng Quảng Đông, Quảng Tây, VânNam(Trung Quốc), về phía nam tới đèo Hải Vân, về phía Tây bao gồm có cảvùng Tây Bắc hiện nay dọc xuống đồng bằng Thanh Nghệ Tĩnh, Bình TrịThiên, về phía đông giáp biển đông Tổ tiên ta đã khéo chọn cho mình mộtmiền đất độc đáo ở vi trí tiếp xúc của nhiều hệ thống địa lý Nước Văn Langnằm trong vành đai nhiệt đới mà lại không đơn thuần là một nước nhiệt đới
Từ ngàn xưa gió mùa đã ảnh hưởng sâu sắc đến thiên nhiên nước ta, một thiênnhiên muôn màu muôn vẻ với rừng rậm núi cao, sông dài biển rộng Ngày nayrừng rậm đã lùi dần về vùng cao phía tây sau một quá trình đấu tranh dài hàngmấy nghìn năm giữa con người với thiên nhiên Vào thời đại dựng nước rừngcòn gồm khắp vùng trung du và một phần lớn đồng bằng Nhiều đồi gò trọchiện nay xưa kia đã phủ rừng dày đặc
1.1.3 Phân bố dân cư Thời Hùng Vương thành phần dân cư như thế nào? mật
độ cư trú là bao nhiêu? Để trả lời tất cả những câu hỏi đó các nhà khảo cổ họcnước ta còn phải nghiên cứu rất nhiều Những phát hiện khảo cổ học gần đâycho biết: vào khoảng thiên niên kỷ thứ II trước công nguyên(cách chúng ta
4000 năm) có những nhóm tộc người cư trú ở vùng trung du và những miềnđất cao ven rìa phía Bắc của đồng bằng Bắc Bộ.Đó là vùng đất thuộc tỉnh
Trang 6Vĩnh Phú, Hà Tây, Hà Bắc, một phần đất thuộc Hà Nội bây giờ Quá trìnhkhai thác ở đâu diễn ra suốt thiên niên kỷ thứ II và khoảng nửa đầu thiên niên
kỷ thứ I trước công nguyên Các di tích cổ nhất của cư dân Văn Lang tươngđương với tuổi của di chỉ Phùng Nguyên hoặc còn sớm hơn một chút(khoảngnửa đầu thiên niên kỷ thứ II trước công nguyên) như ở Gò Chùa(Hương Nộn),
An Đạo, Đôn Nhân, Gò Chè, đều tập trung trên các gò đồi thuộc tỉnh Phú Thọ
cũ Khi bước sang hẳn thời đại đồng thau, các di tích thuộc giai đoạn này lạilấn xuống phía nam: những di tích muộn hơn trước có niên đại khoảng nửađầu thiên niên kỷ thứ II như Lũng Hòa,Đồng Đậu… chủ yếu đều phân bố ởnhững tỉnh Vĩnh Yên, Phúc Yên, Bắc Ninh cũ Tới giai đoạn phát triển đồngthau-khoảng nửa đầu thiên niên kỷ thứ I trước công nguyên, khối cư dân nòngcốt của Văn Lang vẫn còn chủ yếu sinh tụ trong phạm vi cương vực hẹp củanước Văn Lang bao gồm vùng bắc và một phần vùng trung tâm và nam củađồng bằng Bắc Bộ theo sự phân vùng địa lý Về thời gian này, sử sách xưanhất còn lại đã ghi nhận sự hưng khởi của bộ lạc Văn Lang với các vua Hùng.Như vậy là cho đến giữa thiên niên kỷ thứ I trước công nguyên, về căn bảntoàn bộ đồng bằng Bắc Bộ đã được khai thác Chỉ còn một vùng chúng tachưa được hiểu rõ lắm đó là vùng đất ven biển kể từ dưới chỗ sông Hồng đổ
ra biển vào tới miền Bắc đồng bằng Thanh Hóa thuộc tỉnh Ninh Bình Trongbốn vùng đất thuộc đồng bằng Bắc Bộ được khai thác trước tiên cùng với một
bộ phận phía bắc của vùng trung tâm và vùng phía nam, kế đó là những dảiđất hẹp thuộc những thềm sông Hồng, sông Đáy, và cuối cùng là phần còn lạicủa cả đồng bằng Đó là quá trình lập cư ở đồng bằng Bắc Bộ trong đoạn đầutiên mà khảo cổ học cho biết Đất nước trù phú, điêù kiện nhiên thuận lợi chosinh hoạt của con người, thêm vào đó trình độ phát triển văn minh cao củadân cư cũng có thể làm cho chúng ta phán đoán được rằng cư dân Văn Langhẳn phải là đông đúc lắm Tuy nhiên tài liệu ghi chép lại không thỏa mãnđược nguyện vọng muốn hiểu biết về vấn đề này Tình hình phân bố dân cư
Trang 7trong nội nước Văn Lang cũng không đều nhau Vùng đồng bằng Bắc Bộđông đúc hơn cả, đồng bằng sông Mă thưa nhất là vùng núi và vùng Nghệ –Tĩnh Dân số đông đúc cũng là một chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển củanước Văn Lang Hầu như mọi nguồn tài liệu thông báo về tình hình cư dânVăn Lang đều thống nhất ở một chỗ: ngay từ thuở dựng nước, đất nước ta đã
là nơi có nhiều dân tộc anh em sinh sống, cùng chung sức xây dựng và bảo vệđất nước
1.1.4 Về kinh tế xã hội Văn Lang là xă hội có một nền kinh tế đã phát
triển đến một trình độ nhất định Kinh tế nước Văn Lang là một quá trình pháttriển liên tục Chúng ta có thể chia quá trình đó làm hai thời kỳ lớn: thời kỳ thứnhất tương ứng với thới kỳ văn hóa Phùng Nguyên; thời kỳ thứ hai là thời kỳcực thịnh của thời đại Hùng Vương tương ứng với thời kỳ văn hóa Đông Sơn.Nông nghiệp là ngành kinh tế chủ đạo thời Hùng Vương Vào giai đoạnsớm nhất thời kỳ này nghề trồng lúa đã tồn tại Những xóm làng định cưthuộc giai đoạn Phùng Nguyên, mà dấu vết là những di chỉ có tầng văn hóakhá dày đã phân bố từ trung du đến đồng bằng ra gần ven biển Sống trên mộtđịa bàn như vậy, con người tất nhiên đã biết trồng trọt ở các địa hình khácnhau với điều kiện thổ nhưỡng khác nhau Và như vậy chúng ta có thể tinrằng ngay ở giai đoạn sớm nhất của thời kỳ Hùng Vương tổ tiên ta đã biếttrồng lúa trên nhiều loại ruộng khác nhau: ruộng nước, ruộng bãi, nươngrẫy… Hạng ruộng tốt nhất là ruộng đất phù sa ở ven sông Thời đại HùngVương có thể có đê ở một vài khu vực nào đó Hằng năm đến mùa mưa, nướcsông Hồng, sông Mã dâng lên tràn ngập cánh đồng bằng Bắc Bộ và BắcTrung Bộ, đem phù sa bồi vào các ruộng làm tăng thêm độ phì của các ruộng.Cuối mùa mưa khi nước đã rút khỏi các cánh đồng bằng thì ruộng đất ở đồngbằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ trở nên rất màu mỡ thuận lợi cho việc cấy lúa.Hạng ruộng trũng ở quanh các đầm hồ cũng có khá nhiều Đối với hạng ruộngnày người ta dùng phương pháp “thủy nậu” để cấy lúa tức là dùng chân giẫm
Trang 8xuống ruộng cho cỏ sụt bùn rồi mới cấy lúa Đối với ruộng trên các đồi gòngười thời đại Hùng Vương đã dùng phương pháp “đao canh hỏa chủng” tức
là dùng lửa đốt cây cỏ rồi mới xới đất lên để tra hạt giống như đồng bào miềnngược ngày nay làm nương rẫy Công cụ dùng trong nông nghiệp thời đó chủyếu là rìu đá và rìu đồng Cư dân Văn Lang đã dùng những công cụ này đểcuốc đất.Ngoài ra họ còn sáng chế ra nhiều đồ đun nấu bằng gốm và bằngđồng Điều đó chứng tỏ rằng sản xuất nông nghiệp thời kỳ này đã phát triển.Nhưng bên cạnh nghề trồng lúa, nghề trồng rau củ và cây ăn quả đã xuất hiện.Nhiều sách Trung Quốc đã chép về nhiều loại rau củ và cây ăn quả ở ViệtNam trong thời Bắc thuộc Như vậy là những cây trồng đó không phải đếnthời kỳ Bắc thuộc mới bắt đầu được thuần hóa mà chúng đã được trồng từtrước trong thời kỳ Hùng Vương Bên cạnh nghề trồng lúa, cư dân văn Langcòn chăn nuôi gia xúc, gia cầm Trâu bò, lợn, chó, ngựa, gà, vịt đã được thuầndưỡng từ trước thời Hùng Vương Đến thời Hùng Vương do nông nghiệp pháttriển, các gia súc, gia cầm lại có rất nhiều Thời kỳ thứ nhất của thời đại HùngVương, tức là thời kỳ văn hóa Phùng Nguyên, nghề đánh cá đã xuất hiện, nhất
là ở các vùng ven sông, ven hồ Sang thời kỳ thứ hai của thời đại HùngVương nghề đánh cá càng phát triển Sang giai đoạn cuối của văn hóa ĐôngSơn, người thời Hùng Vương đã biết đóng thuyền lớn Do đó chúng ta có thểnói rằng nghề đánh cá đã rất phát triển Người thời Hùng Vương không những
đã có điều kiện dùng lưới đánh cá theo quy mô lớn trên sông mà còn có thểđánh cá trên mặt biển nữa Kinh tế thời Hùng Vương là một nền kinh tế cótính chất tổng hợp, lấy nông nghiệp làm gốc Thực chất nông nghiệp thời kỳnày là nông nghiệp trồng lúa nước Điều đó nói lên rằng, ngay từ buổi đầudựng nước đầu tiên, ông cha chúng ta đã chú ý đến vấn đề nông nghiệp, đếncây lúa Kinh tế nông nghiệp đã trở thành một truyền thống của dân tộc ta.Chính truyền thống ấy đã ảnh hưởng và chi phối mọi hình thái ý thức và ngay
cả tâm tư, tình cảm của dân tộc ta
Trang 9Bên cạnh nông nghiệp, các ngành thủ công nghiệp cũng càng ngày càngphát triển, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng trong đời sống của con người thờiHùng Vương Nghề làm đồ đá thời Hùng Vương đã kéo dài đến 2000 năm.Ngay ở giai đoạn Phùng Nguyên kỹ thuật làm đá đã đạt đến trình độ hoànthiện Con người đã biết cưa mài khoan thành thạo Khoan có nhiều kiểu.Những mũi khoan dùng để khoan lỗ các hạt chuỗi Người ta dùng phươngpháp khoan tách lõi để khoan các vòng trang sức Phương pháp khoan tạo racác rãnh tròn rất gần gũi với phương pháp tiện Những đường gờ đều đặn vànhững đường ren trên các vòng đá nói lên rằng phương pháp tiện đã xuấthiện Do vai trò của kim loại ngày một lớn, địa vị của đá lùi dần mà công cụbằng đá ngày một ít Số lượng vòng đá cũng không còn nhiều qua các giaiđoạn Trong giai đoạn muộn số lượng đồ trang sức bằng đá quý tăng lên.Những người thợ làm thủ công thành những người làm đồ mỹ nghệ Trongsuốt thời đại Hùng Vương nghề làm đồ gỗ không ngừng phát triển Các công
cụ bằng kim loại ra đời tạo điều kiện cho nghề làm đồ gỗ phát triển Ngườithợ mộc thời đại Hùng Vương đã dùng gỗ đóng các thuyền lớn để đi sông, đibiển Nhiều khi họ còn hạ cả một cây gỗ rất to để làm áo quan như ở ViệtKhê Nghề xe sợi dệt vải đã có từ thời kỳ Phùng Nguyên Căn cứ vào dấu vếttrên đồ gốm chúng ta có thể biết rằng bước vào thời kỳ Phùng Nguyên ôngcha ta đã xe được nhưng sợi khá nhỏ, săn và mịn Người ta dùng dọi bằng đấtnung vào việc xe chỉ Theo những sử sách Trung Quốc chép lại, chúng ta cóthể khẳng định rằng trước thời Bắc thuộc, người Việt Nam đã biết trồng bông,trồng đay, trồng gai để lấy sợi dệt vải Việt Nam có nhiều tre, nứa… Vì vậynghề đan lát xuất hiện từ rất sớm Dấu vết của nghề đan lát đã tìm thấy trêncác đồ gốm thuộc thời kỳ Phùng Nguyên Những dấu vết này nói lên rằng conngười thuộc thời kỳ Phùng Nguyên dẫ biết đan lát rất khéo Càng về nhữngthời kỳ sau nghề đan lát càng tinh xảo Một ngành thủ công quan trọng củathời Hùng Vương là nghề làm gốm Ngay từ giai đoạn Phùng Nguyên, đồ
Trang 10gốm đã rất đẹp và phần lớn làm bằng bàn xoay Điều đáng chú ý là đồ gốmthời Hùng Vương càng về sau càng ít trang trí hoa văn Con người tập trungvào trang trí đồ đồng thau Con người sản xuất đồ gốm nhanh hơn, mất ítcông lao động hơn Kỹ thuật làm đò gốm qua các thời kỳ có khác nhau nhưnghình dạng gốm, cách tạo hình cũng như trang trí giữa các giai đoạn lại cónhiều điểm giống nhau Điều này nói lên sự thống nhất về văn hóa, tâm lý củacộng đồng nhưng đồng thời cũng nói lên sự xác lập một truyền thống kỹ thuật
ổn định Một ngành thủ công quan trọng khác có tác dụng lớn về kinh tế cũngnhư xã hội của thời kỳ Hùng Vương là luyện kim Nghề luyện kim đã xuấthiện từ giai đoạn sớm nhất của thời kỳ Hùng Vương, giai đoạn PhùngNguyên Hiện nay đã tìm thấy dấu vết của đồng ở một số di chỉ thuộc văn hóaPhùng Nguyên như Gò Bông, Xóm Dền, Đồng Xấu, Đồng Vông… Đó lànhững cục đồng vụn, xỉ đồng hay gỉ đồng Kỹ thuật luyện đồng đã phát triểnrực rỡ ở giai đoạn Đông Sơn thì nghề làm đồ sắt cũng bắt đầu xuất hiện.Trước đây nhiều người còn cho rằng kỹ thuật làm đồ sắt do người phươngBắc đưa vào Việt Nam trong thời Bắc thuôc Những phát hiện mới trong mấynăm gần đây đã bác bỏ nhận định đó Người ta đã tìm thấy nhiều công cụ sắttrong các di chỉ thuộc giai đoạn Đông Sơn ở miền Bắc
Căn cứ vào các phát hiện của khảo cổ học, chúng ta có thể tìm hiểu đượcngười Hùng Vương đã tổ chức như thế nào để tiến hành công việc sản xuất.Tất cả những điều mà chúng ta có thể biết được về sản xuất đồ gốm thờiHùng Vương là việc sản xuất không rải ra ở tát cả các miền của nước VănLang; chỉ có ở một số vùng có điều kiện thuận lợi về nguyên vật liệu, vềđường giao thông để có thể tiến hành sản xuất đồ gốm được; nhưng cho đếncuối thời đại Hùng Vương vẫn không thấy xuất hiện những công xưởngchuyên sản xuất đồ gốm Công việc sản xuất đồ gốm vẫn là công việc củatừng công xã Người thợ gốm nói chung vẫn sống trong công xã, đời sống của
họ vẫn lệ thuộc vào sản xuất nông nghiệp của công xã Trước thời đại Hùng
Trang 11Vương, trên miền đất sau này là Văn Lang, giữa các khu vực đă có sự trao đổikinh tế và giao lưu văn hóa Khi nước Văn Lang ra đời, việc trao đổi kinh tếgiữa các khu vực vẫn tiếp tục và ngay càng chặt chẽ.
Như vậy là cho đến nay kinh tế thời Hùng Vương vẫn còn là vấn đề cầnđược nghiên cứu thêm Tuy nhiên, chúng ta cũng đã đã nhận thức được về cơbản bộ mặt kinh tế thời kỳ này chuyển biến qua các giai đoạn từ thấp đến cao
Đó là nền kinh tế mà nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo Các ngành thủ côngnghiệp ngày một phát triển nhưng vẫn gắn liền với nông nghiệp trừ ngànhluyện kim Kỹ thuật luyện đồng đã đạt đến đỉnh cao và bắt đầu phát triển nghềluyện sắt Trao đổi bị hạn chế do cuộc phân công lao động không được thựchiện ngay từ đầu
1.1.5 Về xã hội Trình độ phát triển kinh tế nói lên trình độ phát triển về
chính trị của một xă hội Đến nay chúng ta có hai loại quan điểm khác nhau
về xã hội thời Hùng Vương
- Loại ý kiến thứ nhất cho rằng xã hội thời Hùng Vương vẫn nằm trongphạm trù xã hội nguyên thủy, vào giai đoạn tan rã của chế độ công xã nguyênthủy và có thể đang bước đến ngưỡng cửa hình thành Nhà nước
- Loại ý kiến thứ hai cho rằng xã hội thời Hùng Vương trải qua nhiềubiến đổi sâu sắc, cuối cùng đã chuyển sang xã hội có giai cấp
Có nhiều ý kiến tranh luận như vậy vì cơ sở tư liệu để nghiên cứu về vấn
đề này còn quá ít Do đó với vấn đề này chúng ta phải nghiên cứu trên cơ sởtài liệu khảo cổ, văn học dân gian, dân tộc học, ngôn ngữ học…
Các bộ sử cũ đều chép gia đình thời Hùng Vương là gia đình phụ hệ Gia
đình là hậu quả của sự tan rã thị tộc Sự tan rã này có thể đã diễn ra từ thờitrước thời Hùng Vương, tiếp tục cho đến đầu thời kỳ Phùng Nguyên và ĐôngSơn Trước kia nông nghiệp dùng cuốc đá thô sơ làm cho người đàn bà vẫngiữ vai trò trọng yếu trong sản xuất Chỉ có hái lượm mới cung cấp đầy đủnhu cầu thực phẩm cho con người Nhưng bấy giờ công cụ sản xuất ngày một
Trang 12sắc bén tiện lợi nên có nhiều khả năng đẩy mạnh nghề trồng trọt Vai trò củangười đàn ông vì thế mà được nâng lên Mặt khác việc trao đổi thịnh hành lúcbấy giờ càng làm cho người đàn ông phải đảm đương những công việc laođộng mà người đàn bà trước kia vẫn làm Việc cướp bóc và chống cướp bóccũng là một lý do nữa nâng vai trò và địa vị của người đàn ông Khi đã giànhđịa vị trong sản xuất, người đàn ông cũng giành lấy địa vị trong gia đình vàtrong xã hội.
Công xã không chỉ là đơn vị xã hội mà còn là tổ chức đời sống của xã
hội Công xã giai đình phân biệt với công xã láng giềng ở chỗ một bên dựatrên quan hệ dòng máu, một bên không Trong giai đoạn tan rã của chế độcông xã nguyên thủy hình thành xã hội có giai cấp, các nhóm thị tộc hỗn hợpvới nhau, do đó quan hệ dòng máu ngày một trở nên không quan trọng.Không phải chỉ có sự phát triển của sức sản xuất là nguyên nhân làm cho hìnhthức xã hội dựa trên quan hệ dòng máu lâm vào suy yếu, sự phát triển củaquân sự và chính trị càng có tác dụng phá hoại mạnh hơn Giữa các bộ lạckhác nhau thường diễn ra những cuộc chiến tranh, cướp bóc Do hậu quả củachiến tranh, một số thị tộc bộ lạc này rơi vào địa vị phụ thuộc một số thị tộc
bộ lạc khác Lúc này quan hệ dòng máu sẽ phải nhường chỗ cho quan hệ lãnhthổ Tuy nhiên không phải vì thế mà hình thức công xã gia đình đã bị xóasạch Sự tồn tại của những công xã gia đình không làm trở ngại đến sự pháttriển của xã hội nông nghiệp Tất nhiên trong lúc xã hội đã biến chuyển biếnthì những công xã này cũng phải có những thay đổi nhất định Như vậy vàothời Hùng Vương cả hai loại công xã đồng thời cùng tồn tại nhưng công xãláng giềng dần dần chiếm ưu thế Mọi thành viên trong công xã đều có nghĩa
vụ lao động thực hiện các công trình chung và có nghĩa vụ quân sự Giữa cáccông xã không phải là không có tranh chấp Khi chiến tranh xảy ra hay khi cógiặc đến xâm lược, mọi thành viên đều phải tham gia chiến đấu hoặc hậu cần.Mỗi công xã đều có lãnh thổ của mình Trong lãnh thổ có ruộng nương đã
Trang 13khai phá, có đất hoang, có rừng rú, sông ngòi, ao hồ… Tất cả đều là vật sởhữu chung; các thành viên của công xã có bổn phận chống lại sự xâm phạmcủa người ngoài, đồng thời chống lại sự sở hữu riêng trong nội bộ.
Bộ tộc Xã hội lúc này đang trên con đường hình thành bộ tộc Sự hình
thành bộ tộc cũng có tiền đề của sự hình thành công xã láng giềng Trước thờiHùng Vương, chế độ bộ lạc ngự trị khắp nơi Nhưng bước vào thời HùngVương đời sống kinh tế của bộ lạc dần dần được mở rộng Hầu hết các bộ lạclàm nông nghiệp ruộng nước ở lưu vực sông Hồng và sông Mã do trao đổi,chiến tranh, nợ nần, cướp bóc, dần dần trở nên có liên quan đến nhau Cácdòng người di chuyển và tham gia vào đời sống kinh tế, chính trị và văn hóa ởnhững nơi mà họ mới đến Lúc này quan hệ lân cận và quan hệ phụ thuộc lẫnnhau trở nên quan trọng Cùng với quá trình đó bộ tộc Lạc Việt cũng đượchình thành Như vậy vào thời Hùng Vương dân tộc chúng ta không còn lànhững cộng đồng nhỏ yếu, phân tán, những bộ lạc phân tán rời rạc, mà nó đã
cố kết thành một bộ tộc đông đảo, có tính cách ổn định, sớm có xu hướnghình thành một dân tộc
Tiền đề vật chất có ý nghĩa quyết định cho sự phân hóa xã hội và hình
thành giai cấp là sức sản xuất phát triển đến mức độ cao tạo ra sản phẩm thừacủa xã hội Nhân dân ta thời dựng nước sinh tụ trên địa bàn rất phong phú vềtài nguyên, phì nhiêu về đất đai Vì vậy trong thời đại đồng thau với kỹ thuậtsản xuất ngày một nâng cao và bằng sức lao động sáng tạo nhân dân ta cónhiều khả năng sớm tạo ra những sản phẩm thừa Cuối thời Hùng Vương, sảnphẩm thừa càng tăng lên Sự phát triển kinh tế cùng với sự phân công laođộng và sự trao đổi những sản phẩm thừa đã tạo ra những điều kiện cần thiết
để đẩy mạnh sự phân hóa xã hội và hình thành giai cấp Chính trên cơ sở đótầng lớp quý tộc bộ lạc xuất hiện có thể lợi dụng địa vị, chức năng và uy tíncủa mình để biến sản phẩm thừa của xã hội thành của riêng, biến sự đóng góp
vì lợi ích công cộng thành hình thức bóc lột người sản xuất Trong xã hội đã
Trang 14có sự phân hóa sâu sắc thành những tầng lớp người khác nhau Trong xã hộilúc bấy giờ có dân và người quý tộc Về dân đã có người tự do và người nô lệ.
Về quý tộc đã có thể phân biệt quý tộc trung ương với quý tộc địa phương.Trải qua một quá trình phân hóa xã hội, xã hội Văn Lang cuối thời HùngVương không còn là xã hội nguyên thủy với sự thống trị của quan hệ huyếtthống và sự bình đẳng về mọi mặt của những thành viên khối cộng đồng nữa.Giàu nghèo, sang hèn, bất bình đẳng xã hội, áp bức bốc lột đã xuất hiện Tầnglớp dân tự do là thành viên công xã nông thôn tuy bị bóc lột nhưng vẫn bảotồn được nhiều quan hệ bình đẳng trong kinh tế, xã hội Tầng lớp thống trị đãvượt lên trên xã hội nhưng chưa tách hẳn khỏi nhân dân và mức độ bóc lộtkhông gay gắt Tầng lớp nô tỳ bóc lột nặng nề hơn và chỉ là tầng lớp thứ yếutrong xã hội Đó là bức tranh khái quát về cơ cấu xã hội cuối thời HùngVương được phác họa trên tư liệu và sự hiểu biết hiện nay
1.2 Khái quát về nền văn hóa Phùng Nguyên
1.2.1 Quá trình phát hiện và nghiên cứu
Văn hóa Phùng Nguyên là một văn hóa khảo cổ mang tên thôn PhùngNguyên, xã Kinh Kệ, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ Có thể lấy năm 1959,năm phát hiện di chỉ Phùng Nguyên và đầu năm 1971, năm tổ chức hội nghịnghiên cứu thời Hùng Vương lần thứ IV là mốc mở đầu và kết thúc lịch sửnghiên cứu nền văn hóa này Công cuộc nghiên cứu văn hóa Phùng Nguyên
đã đạt được những thành tựu xuất sắc Tư liệu phát hiện và nghiên cứu về vănhóa Phùng Nguyên đã dày hàng ngàn trang Vị trí ý nghĩa và khoa học củavăn hóa Phùng Nguyên là rất lớn đối với lịch sử Việt Nam nói chung và khảo
cổ học Việt Nam nói riêng
Phần lớn những di chỉ quan trọng đã được khai quật, nghiên cứu tronggiai đoạn này Các nhà khảo cổ của nhiều cơ quan Viện khảo cổ học, Khoa Sửcác trường đại học Tổng hợp, Sư phạm Hà Nội, Sư phạm Việt Bắc, Viện Bảotàng Lịch Sử phối hợp với các Ty Văn Hóa các tỉnh thực hiện những đợt điều
Trang 15tra cơ bản, trước hết tập trung trên vùng đất tổ Phong Châu và những vùngphụ cận thuộc tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc Gần 30 địa điểm được phát hiện,trong đó đã có 25 di tích thuộc các tính này Có 15 địa điểm được khai quậtvới những quy mô khác nhau, từ gần một trăm mét vuông đến vài nghìn métvuông.
Mùa xuân năm 1959, công trình thủy nông Lâm - Hạc khi đào qua thônPhùng Nguyên, xã Kinh Kệ, huyện Lâm Thao đã làm lộ ra nhiều di vật lànhững công cụ bằng đá và đất nung… Các cán bộ chuyên môn đã tới hiệntrường xem xét và nhận định rằng đây là di chỉ cư trú ngoài trời của ngườinguyên thủy, lần đầu tiên được phát hiện trên vùng đồng bằng trung du Bắc
Bộ Cơ quan chịu trách nhiệm khai quật lúc đó là Đội khai quật thuộc Bộ VănHóa, tiền thân của Viện Khảo Cổ học sau này Họ đã thực hiện 2 đợt khaiquật lớn Lần khai quật thứ nhất được tiến hành vào năm 1959 Chủ trì khaiquật là Nguyễn Ngọc Bích Các nhà khảo cổ đã dùng thuổng cán dài khoan 37
lỗ thăm dò, thám sát 2 hố với diện tích 41m2 và mở 5 hố khai quật ở khu Bvới diện tích 158m2 Lần khai quật thứ hai ở di chỉ Phùng Nguyên được tiếnhành từ tháng 3 đến tháng 6 năm 1961, dưới sự chủ trì của Nguyễn NgọcBích Các hố khai quật được hoạch định cả ở khu A và khu B, gồm 22 hố vớitổng diện tích là 3700m2 Đây là lần khai quật có quy mô rộng lớn chưa từng
có ở Việt Nam đến lúc đó Các nhà khảo cổ đã mở ở khu A: 5 hố khai quật,mỗi hố có diện tích 40m2, ở khu B: 17 hố khai quật, mỗi hố có diện tích100m2 Diện tích và di vật phát hiện được là rất lớn, gần 1656 hiện vật đá, 97
đồ gốm và trên 100.000 mảnh gốm lớn nhỏ Sau hai lần khai quật trên, vàonăm 1964, một số cán bộ của Đội Khảo Cổ đã trở lại Phùng Nguyên và đàohai hố tham sát, mỗi hố là 1m2
Di chỉ Phùng Nguyên được bộ môn khảo cổ hoc trường Đại học Tổng
Hợp Hà Nội tiến hành khai quật lần thứ ba từ ngày 23/2 đến 13/3 năm 1968.Các cuộc khai quật do Hà Văn Tấn phụ trách Diện tích khai quật mỗi hố là
Trang 16100m2 Di vật thu được gồm 69 hiện vật đá , 19 hiện vật gốm và trên 5000mảnh gốm Như vậy từ năm 1959 đến 1968, các nhà khảo cổ học đã khai quậttrên diện tích rộng ở Phùng Nguyên trên diện tích 3.917m2 khai quật và 41m2thám sát Số lượng di vật phát hiện được trong 3 lần khai quật này là hết sức
đồ sộ và quý giá, gồm gần 2000 di vật đá, trên 130 di vật gốm và trên 100.000mảnh gốm lớn nhỏ Tầng văn hóa ở đây nói chung là đơn giản, chỉ có một lớptương đối mỏng (dày 0,1-0,3m2) Đây là nguồn tư liệu có giá trị nhiều mặtgiúp cho quá trình điều tra, thám sát và khai quật hàng loạt các di tích PhùngNguyên khác.Ngay sau khi phát hiện và có những đợt khai quật ở di chỉPhùng Nguyên, các nhà khảo cổ đã lần lượt tìm thấy hàng loạt các địa điểmkhác cách không xa nó, có những đặc trưng văn hóa tương tự Có thể kể tênnhững di tích chính như sau: Gò Mả Muộn, An Đạo, Xóm Rền, Xóm Kiếu,Đồng Sấu, Lê Tính thuộc địa phận huyện Phong Châu, Gò Bông, Ô Rô, ThọSơn, Gò Chè thuộc huyện Tam Thanh, Đôn Nhân thuộc huyện Lập Thạch;Nghĩa Lập, Lũng Hòa thuộc huyện Vĩnh Tường; Đồng Đậu thuộc huyện VĩnhLạc
Di chỉ Gò Bông thuộc địa phận xã Thượng Nông, huyện Tam Thanh Di
chỉ được khoa Sử trường Đại Học Tổng Hợp tiến hành mở 2 hố thám sát, mỗi
hố khai quật với diện tích 70m2 vào năm 1965 Di vật đá, gốm, đồng thuđược khá phong phú, đa dạng và độc đáo Tháng 2 năm 1967, Đại học TổngHợp Hà Nội lại trở lại khai quật di chỉ Gò Bông lần thứ hai Lần này họ đã
mở một hố khai quật rộng 100m2 Phụ trách khai quật là Hà Văn Tấn Nhưvậy diện tích thám sát và khai quật tại di chỉ Gò Bông là 178m2 Tài liệu thuđươc từ hai cuộc khai quật rất phong phú với trên 500 di vật đá các loại, trên
4 vạn mảnh gốm và một số cục đồng, gỉ đồng Tầng văn hóa Gò Bông dàyhơn hẳn Phùng Nguyên (chỗ dày nhất lên tới 1,6m) Di chỉ Gò Bông quantrọng ở chỗ nó là di tích tiêu biểu cho giai đoạn phát triển sớm nhất trong hệthống các giai đoạn phát triển văn hóa Phùng Nguyên với những dấu vết chế
Trang 17tác kim loại đầu tiên.
Di chỉ Xóm Rền là một trong số không nhiều di chỉ thuộc văn hóa Phùng
Nguyên có tầng văn hóa dày tới 2m2 Di chỉ Xóm Rền tọa lạc gần như trọntoàn bộ một quả đòi thầp, được gọi là Xóm Rền, thuộc địa phận xã GiaThanh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ Di chỉ này được bộ môn Khảo CổHọc, trường Đại Học Tổng Hợp Hà Nội phát hiện vào năm 1968 và khai quậtđợt 1 vào năm 1969 Các cuộc khai quật do Hà Văn Tấn chủ trì Có hai hốkhai quật, hố thứ nhất có diện tích 100m2,hố thứ hai: 51m2 Di vật phát hiện
từ hai hố khai quật gồm có 270 hiện vật đá, 16 đồ gốm nguyên và 39364mảnh gốm lớn nhỏ Tầng văn hóa thuần nhất, khá dày, trên dưới 2m Ngoài
đồ đá, đồ gốm còn phát hiện những mảnh đồng, một vài vết gỉ đồng
Đợt khai quật thứ hai được bắt đầu từ ngày 1-10-2002 đến ngày
15-11-2002 do Viện Khảo Cổ Học hợp tác với trung tâm Khảo Cổ Học và NghệThuật (Đại học Trung văn ở Hông Kông) tiến hành Tổng diện tích thám sát
và khai quật đợt hai tại di chỉ Xóm Rền là 120m2 Tầng văn hóa có đó dàykhông đều, mỏng ở phía đỉnh gò, dày trên dưới 2m, các nhà khai quật pháthiện được rất nhiều di tích, di vật và 4 ngôi mộ nằm sát sinh thổ Số lượng divật thu lượm được trong lần khai quật này rất lớn, bao gồm 1324 hiện vật đá,260.000 mảnh gốm và 75 đồ gốm nguyên hoặc gần nguyên
Đợt khai quật thứ ba vào tháng 12-2002 do Bộ môn Khảo Cổ Học phốihợp với Bảo tàng Phú Thọ tiến hành Đợt khai quật này do Hán Văn Khẩnchủ trì Một hố khai quật với diện tích 60m2 được mở ra với tầng văn hóathuần nhất dày trên 2m Các hiện vật phát hiện được trong hố khai quật khánhiều, bao gồm 268 hiện vật đá, 64.537 mảnh gốm vỡ và 263 đồ gốm nguyênhoặc phục nguyên được Đặc biệt lần này các nhà khảo phát hiện được một sốloại di vật có giá trị như gốm xốp, gốm trang trí khắc vạch, in chấm, bộttrắng, bình gồm quai dọc ở miệng, con dấu bằng đất nung, vòng hình trống,tượng rùa bằng đá Đặc biệt là sự có mặt một số lượng rất lớn các loại hình
Trang 18bát, bát bồng và thố ở di chỉ Xóm Rền.
Tháng 12-2003, Bộ môn Khảo Cổ Học, Khoa Lịch Sử lại trở lại XómRền khai quật lần thứ tư Đợt khai quật này do Hán Văn Khẩn chủ trì Một hốkhai quật với diện tích 20m2 đã được mở ở sườn phía Bắc gò Xóm Rền.Ngoài hố khai quật này còn có hai hố thám sát được mở: hố thứ nhất có diệntích 5m2, hố thứ hai có diện tích 7.5m2 Hai hố thám sát này nằm ở phía Namcủa gò Xóm Rền Tổng diện tích thám sát và khai quật là 32.5m2 Tầng vănhóa của hố khai quật cũng tương tựu như đã thấy trong 3 đợt khai quật trước,
cả về kết cấu, màu sắc, độ dày và các loại di tích di vật nằm trong tầng vănhóa Các loại di vật được phát hiện gồm: 322 hiện vật đá, 41.231 mảnh gốmlớn nhỏ và 71 đồ gốm nguyên hoặc phục nguyên được
Tháng 12 năm 2004 Bộ môn khảo cổ học kết hợp với Bảo tàng Phú Thọtiến hành khai quật di chỉ Xóm Rền lần thứ V Họ đã khai quật được 5 hốnhỏ: Hai hố ở phía Bắc Xóm Rền, mỗi hố có diện tích 12m2; ba hố ở phíanam Xóm Rền, trong đó một hố rộng 12m2, hai hố còn lại, mỗi hố 8m2 Nhưvậy tổng diện tích khai quật lần này là 52m2 Tầng văn hóa và di vật ở đâygiống các đợt khai quật trước: một tầng văn hóa thuần nhất, đồ đá và đồ gốmrất phong phú, đa dạng Trong lần khai quật lần này cũng phát hiện được một
số di vật đáng chú ý: vật dạng ấm nắp liền và vòi cực ngắn, thố có áo trắng ởtrong lòng, vòng chữ T bản rộng và hẹp với gờ rộng bản Các di vật có sốlượng khá lớn, bao gồm 284 đồ đá, 41928 mảnh gốm vỡ và 103 gốm nguyênhoặc gần nguyên
Như vậy di chỉ Xóm Rền đã thám sát và khai quật được 5 lần với diệntích 415,5m2 Số lượng di vật thu được qua 5 mùa điền dã gồm 2378 hiện vậtđá,447144 mảnh gốm lớn nhỏ, 528 đồ gốm nguyên hoặc phục nguyên, trong
đó có một số loại di vật độc đáo như bát bồng và thố, vòng gốm hình trống vàcon dấu bằng gốm, thố có lớp “áo”trắng ở phía trong lòng, gốm có quai dọc
và gốm có tai ngang, gốm có trang trí khắc vạch in chấm kết hợp xoa bột
Trang 19trắng và gốm nhuộm màu đen bóng láng Ngoài ra còn phải kể đến 3 nhachương phát hiện ngẫu nhiên trong khi đào ao vào các năm 1975,1976 và
2004 Chúng ta có thể khẳng định rằng Xóm Rền là một di tích khảo cổ họcđặc biệt quan trọng, đáng xếp ở vị trí số một trong 70 di tích thuộc Văn hóaPhùng Nguyên
Di chỉ Khu Đường Di chỉ Khu Đường thuộc xã Vĩnh Lại(Lâm Thao),
phát hiện và thám sát vào tháng 12-1962 Trường Đại học Tổng Hợp Hà Nội
tổ chức khai quật Khu Đường lần thứ nhất năm 1971 Người chủ trì khai quật
là Hán Văn Khẩn Cho đến nay, toàn bộ kết quả vẫn chưa được công bố Toàn
bộ hiện vật được lưu giữ tại bảo tàng Hùng Vương
Trong lần khai quật thứ nhất, các nhà khảo cổ học đào hai hố thám sát,mỗi hố rộng 4m2 và hai hố khai quật, mỗi hố diện tích 100m2 Như vậy toàn
bộ diện tích thám sát và khai quật lần này là 208m2
Tầng văn hóa của các hố thám sát và khai quật giống nhau, một tầngthuần nhất, độ dày trung bình từ 30-40cm, chỗ có hố đất đen có thể dày tới1m Di vật thu được gồm có 202 hiện vật đá và 7127 mảnh gốm vỡ Ngoài 2mảnh liềm đá phát hiện được trong hố khai quật và một cuốc đá thu nhặt đượctrên mặt ruộng, toàn bộ hiện vật đá (rìu,bôn,đục,bàn màiđồ trang sức…) giốnghệt như những hiện vật cùng loại đã thấy ở di chỉ Phùng Nguyên, Gò Cây Táo
và Văn Điển(Hà Nội) Như vậy, Khu Đường là một di tích thuộc Văn hóaPhùng Nguyên Để mở rộng và nghiên cứu thêm về Văn hóa Phùng Nguyên,tháng 12-2000, Khoa Lịch Sử trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn đãtrở lại khu di chỉ Khu Đường khai quật lần thứ hai Hai hố khai quật đã được
mở, hố thứ nhất có quy mô 100m2 và hố thứ hai 48m2
Kết cấu, màu sắc, độ dày tầng văn hóa của hai hố khai quật giống nhau,dày trung bình từ 30-40cm Di vật thu được trong lần khai quật này gồm có
349 hiện vật đá, 10 dọi xe chỉ, 4 bi gốm, 1 vòng gốm, 336 chạc gốm, 15032mảnh gốm vỡ Đáng chú ý là trong lần này các nhà khảo cổ học đã phát hiện
Trang 20được cuốc đá và vòng gốm có hoa văn Ngoài ra, những người khai quật cònsưu tầm được 1 cuốc đá và một qua đá Như vậy có thể thấy Khu Đường làmột di chỉ Phùng Nguyên rất quan trọng.
Di chỉ Đồng Sấu thuộc xã Thụy Vân huyện Phong Châu phân bố trên quả
gò rộng khoảng 120000 m2, được giáo viên và học sinh trường cấp 2 xã pháthiện năm 1961, đến cuối năm 1966, đội khảo cổ tiến hành cuộc khai quật diệntích 200m2 Tầng văn hóa di chỉ này dày từ 0,3 đến 0,8 m Điều đáng chú ý là
ở đây ngoài 200 di vật đá và rất nhiều mảnh gốm vỡ , còn gặp những mảnhđồng vụn trong lớp đát văn hóa Đồng Sấu nằm rất gần trên 2 địa điểm thuộcthời kỳ đồng thau phát triển là Gò Tro Trên và Gò Tro Dưới Ba quả gò códấu tích văn hóa này chỉ nằm cách nhau khoảng trên dưới 100m
Di chỉ nhiều tầng văn hóa Đồng Đậu thuộc xã Minh Tân, huyện Yên
Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc được coi là địa điểm khảo cổ học quan trọng nhất trongviệc xác lập phổ hệ 4 giai đoạn phát triển văn hóa thời đại kim khí trên lưuvực sông Hồng Lớp văn hóa dưới cùng của di chỉ có niên đại cuối PhùngNguyên, bắt đầu chuyển sang văn hóa Đồng Đậu Di chỉ được cán bộ Độikhảo cổ học phát hiện năm 1962 Sau đó Đội khảo cổ tiến hành khai quật vàocuối năm 1965 đầu năm 1966 và Viện Khảo Cổ Học khai quật vào đầu năm1969
Xen giữa 2 đợt khai quật trên, Viện Bảo tàng Lịch Sử đào một hố khaiquật nhỏ vào năm 1967 Tổng diện tích khai quật là 550m2 Di tích và di vậtphát hiện được trong các hố khai quật khá phong phú Trong lớp văn hóaPhùng Nguyên(dày trên dưới 1 m) tìm thấy rất nhiều đồ đá, đồ gốm, đồxương Không gặp di vật bằng đồng trong lớp này, chỉ có lớp đất bên trên mới
có rất ít vết tích gỉ đồng, cục đồng nhỏ Vì tầm quan trọng của địa điểm khảo
cổ học này, các nhà nghiên cứu còn trở lại đây khai quật 2 đợt nữa vào năm1984(117m2) và 1986
Ngay trong giai đoạn 10 năm đầu của chương trình nghiên cứu năm hóa
Trang 21Phùng Nguyên,các nhà nghiên cứu đã mở rộng mối quan tâm đến những vùng
xa trung tâm đất Phong Châu xưa.Di chỉ Văn Điển (ngoại thành Hà Nội)được
phát hiện năm 1962,khai quật 2 lần vào năm 1962 và 1964 với tổng diện tích
là 928m2.Toàn bộ khu vực rộng chừng 170000m2 nằm gọn trong khu nghĩatrang Văn Điển,nên phần lớn di chỉ đã bị phá hoại hoàn toàn.Di chỉ Văn Điển
có một lớp văn hóa thống nhất,dày chừng 0,3m đến 1,2m.Hiện vật thu được ởđây cũng như đa số các di chỉ Phùng Nguyên khác chỉ gồm đồ đá và đồgốm.Có gần 100 di vật đá và vài vạn mảnh gốm
Di chỉ Tràng Kênh(xã Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng) là địa
điểm được coi là thuộc văn hóa Phùng Nguyên, hoặc ít ra là cũng có mối quan
hệ chặt chẽ với văn hóa Phùng Nguyên, nằm cách xa nhất về phía đông địabàn cư trú cơ bản của văn hóa này Đây là một di chỉ xưởng chế tạo đồ trangsức đá quan trọng Diện tích khoảng 10000m2 phân bố ven chân núi đá vôi
Nó được phát hiện năm 1967 và trong năm này các nhà khảo cổ học thuộcViện Khảo Cổ học và bảo tàng Lịch Sử Việt Nam đã tiến hành đào thám sát
và khai quật lần thứ nhất Diện tích các hố khai quật lần 1 là 192m2 Tầng vănhóa dày trên dưới 2m đã thu thập được 2 ngàn di vật đá, xương và hàng vạnmảnh gốm Di chỉ Tràng Kênh còn được Viện Khảo Cổ học khai quật diệntích nhỏ lần thứ 2(50m2) năm 1986 và lần 3(35m2) năm 1996
Kết quả thu được trong những năm đầu nghiên cứu văn hóa PhùngNguyên thật lớn lao Các nhà khảo cổ học đã có trong tay khối tư liệu rấtphong phú, đa dạng về loại hình văn hóa đủ cơ sở để khẳng định đó là mộtnền văn hóa sơ kỳ đống thau- văn hóa Phùng Nguyên
Trong những năm 70 trên vùng Phú Thọ, Vĩnh Phúc còn có một số phát
hiện như di chỉ Đồi Giàm, Thổ Tang, Đồi Dung Tầng văn hóa dày 0,14m đến
1m Trong một hố khai quật 60m2 đã phát hiện được nhiều đồ đá và đồ gốmmang đặc trưng của văn hóa Phùng Nguyên Đồ gốm có nhiều đồ án hoa văn
và loại hình cho phép đoán định di chỉ ở vào giai đoạn Phùng Nguyên cổ
Trang 22điển Nghiên cứu di chỉ này sẽ làm rõ thêm một khâu trong các bước pháttriển của văn hóa Phùng Nguyên Trong những năm này, công tác điền dãkhảo cổ học trên đất Bắc Ninh được đánh dấu bằng những phát hiện các ditích thời Hùng Vương nói chung, trong đó phải kể đến hệ thống di tích sơ kỳthời đại kim khí bên dòng sông Tiêu Tương thuộc xã Tương Giang, VõCường, Vân Phương(huyện Tiên Sơn).
Như vậy trong những năm 70 trở lại đây, công việc điền dã trong nghiêncứu văn hóa Phùng Nguyên đã thu được những kết quả khả quan Song songvới công tác điền dã, khai quật, các nhà khảo cổ còn đẩy mạnh nghiên cứu sâuhơn các vấn đề chung, cơ bản xung quanh văn hóa Phùng Nguyên
Đối với văn hóa Phùng Nguyên, hơn 4 thập kỷ qua là những thập kỷ củaphát hiện, tích lũy tư liệu và nghiên cứu toàn diện Hơn 50 di chỉ PhùngNguyên đã được phát hiện, bản đồ phân bố văn hóa này càng đây đủ.Đã cóhàng trăm bài viết dưới dạng công bố tư liệu điều tra khai quật,chuyên khảo,luận bàn về mọi vần đề xung quanh nền văn hóa sơ kỳ kim khi nổi tiếng này
1.2.2 Những đặc trưng nổi bật của văn hóa Phùng Nguyên
1.2.2.1 Loại hình di tích
Các địa điểm văn hóa Phùng Nguyên phân bố tập trung ở khu vực hợplưu của các con sông lớn như sông Hồng, sông Đà, sông Thao và sông Đáytức vùng Nam Phú Thọ, Đông Bắc Hà Tây, Hà Nội, Nam Bắc Ninh
Phần lớn các di tích nằm ở miền trước núi, dưới chân đồi núi đất, ven sôngsuối ở vùng trung du Nhiều địa điểm trên các khu đất cao châu thổ, ven biển
Loại hình: Trên 50 địa điểm thuộc văn hóa Phùng Nguyên tập trung phần
lớn ở tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc(34 địa điểm), Hà Nội, Hà Tây(14 địa điểm),Bắc Ninh (6 địa điểm) Nhìn chung địa bàn phân bố các di chỉ văn hóa PhùngNguyên khá rộng lớn, bao gồm cả vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ
Văn hóa Phùng Nguyên tồn tại và phát triển trong thời gian cách ngàynay trên dưới 4000 năm Những dấu tích còn lại hầu hết là các làng định cư,
Trang 23các di chỉ cư trú ngoài trời Diện tích các làng định cư này nhìn chung khoảng
1 vạn mét vuông Cá biệt có những làng có diện tích khá lớn tới 2 đến 3 vạnmét vuông (Văn Điển, Phùng Nguyên, Gò Bông…)
Người Phùng Nguyên thường cư trú trên các đồi gò đất nổi cao hơn mặtruộng xung quanh từ 0,5m đến 2-3 m, cá biệt có trường hợp cao đến 5-6mnhư di chỉ Gò Bông, Gò Chè(Tam Thanh,Phú Thọ) Lớp đất văn hóa có độkết chặt tùy thuộc vào tính chất thổ nhưỡng của từng vùng, nhưng nhìn chungcứng rắn có xen lẫn các hạt latêlit lết vón Đất có màu xám đen và chứa đựngthuần nhất các di vật khảo cổ học như đồ đá,đồ gốm,ít xương răng và tro than.Tích tụ tầng văn hóa ở các di chỉ Phùng Nguyên nhìn chung không dày lắm,trung bình khoảng 0,7m, dày nhất đến 2m (di chỉ Xóm Rền) Một số di chỉ có
độ dày tầng văn hóa không đều, có chỗ dày chỗ mỏng tùy thuộc địa hình cưtrú Tuy đã phát hiện được 50 địa điểm của văn hóa này, trong đó số di chỉ đãđược khai quật cũng hơn 25 địa điểm , song các dấu vết cư trú, nhà cửa vẫncòn là vấn đề chưa sáng tỏ
Căn cứ vào tính chất và đặc điểm các di tích văn hóa Phùng Nguyên, cóthể phân chia chúng ra thành 3 loại hình:
Trang 24Các di chỉ xưởng nằm ở giai đoạn cuối văn hóa Phùng Nguyên bướcsang văn hóa Đồng Đậu Cho đến nay mới tìm thấy 3 di chỉ xưởng với tínhchất công xưởng rõ ràng ĐIều đặc biệt là tính chuyên môn hóa của chúng khácao: Di chỉ xưởng Gò Chè chế tác công cụ đá là chính-xưởng Bãi Tự chế tácmũi khoan, di chỉ xưởng Tràng Kênh chế tác vòng trang sức là chủ yếu.
Di chỉ cư trú mộ táng, nếu không kể địa điểm Xóm Rền với phát hiệndấu tích 2 ngôi mộ lẻ loi nằm ngay trong di chỉ cư trú, đến nay chúng ta mớitìm thấy được 1 địa điểm thuộc loại hình này Đó là địa điểm Lũng Hòa TạiLũng Hòa đã phát hiện được cả một khu mộ tập trung Trong diênh tích hốkhai quật không lớn lắm đã tìm thấy 12 ngôi mộ có những đặc điểm tương tựnhau, chứng tỏ chúng cùng thuộc 1 thời đại, một chủ nhân Khu mộ địa cũngphân bố trong phạm vi cư trú, đất lấp mộ chưa nhiều di vật giống như các divật tìm thấy trong tầng văn hóa và đồ tùy táng được chôn theo người chết
Địa tầng:Có 5 loại hình di tích theo diễn biến địa tầng:
- Loại có một tầng văn hóa thuộc văn hóa Phùng Nguyên
- Loại có địa tầng phát triển liên tục từ cuối Phùng Nguyên sang Đồng Đậu
- Loại di chỉ- xưởng phát triển từ cuối Phùng Nguyên sang Đồng Đậu
1.Loại ý kiến thứ nhất cho rằng văn hóa Phùng Nguyên bắt đầu từ hậu kỳ
đá mới và bước sang sơ kỳ đồng thau
2 Loại ý kiến thứ hai cho rằng, căn cứ vào việc phân tích tổng thể các dấutích văn hóa vật chất của các địa điểm thuộc văn hóa Phùng Nguyên thì vănhóa này không còn ở hậu kỳ đá mới nữa mà đã ở vào sơ kỳ thời đại đồng thau
Đa số các nhà nghiên cứu đều theo quan điểm thứ hai Như vậy văn hóaPhùng Nguyên có niên đại mở đầu từ cuối thiên niên kỷ thứ III trước công
Trang 25nguyên-đầu thiên niên kỷ thứ II trước công nguyên và kết thúc vào khoảngnửa đầu thiên niên kỷ thứ II trước công nguyên.
1.2.2.3 Các giai đoạn phát triển của văn hóa Phùng Nguyên
* Dựa trên việc phân tích loại hình hoa văn gốm của các nhóm di tích, cứliệu địa tầng… Hà Văn Tấn và Hán Văn Khẩn đã xác lập 3 giai đoạn pháttriển của văn hóa Phùng Nguyên
- Giai đoạn sớm, có thể gọi là giai đoạn trước cổ điển, lấy Gò Bông, GòHện làm tiêu biểu Di chỉ Đồng Chỗ ở vào thời điểm kết thúc của giai đoạnnày,bắt đầu có yếu tố của giai đoạn sau
- Giai đoạn giữa, có thể gọi là giai đoạn cổ điển, lấy Phùng Nguyên, AnĐạo, Xóm Rền, Nghĩa Lập… làm tiêu biểu Di chỉ Đồi Giàm ở vào thời điểmkết thúc của giai đoạn này
- Giai đoạn cuối, có thể gọi là giai đoạn cổ điển.Có thể lấy lớp dướiĐồng Đậu, các di tích nhóm Tiêu Tương ở Bắc Ninh, Tiên Hội và Xuân Kiều
ở Hà Nội làm tiêu biểu
Tuy vậy cũng có ý kiến khác (chủ yếu dựa vào sự xuất hiện của dấu vếtkim loại đồng) mà chia thành 2 giai đoạn phát triển
- Giai đoạn Phùng Nguyên sớm, chưa tìm được đồ đồng hay hiện vật kim khínào khác, thuộc thời đại đồng thau, vào thiên niên kỷ thứ III trước công nguyên
- Giai đoạn Gò Bông muộn, thuộc sơ kỳ thời đại đông thau, vào cuốithiên niên kỷ thứ III-đầu thiên niên kỷ thứ II trước công nguyên Đã có hợpkim đồng thiếc
* Trong cuốn chuyên khảo về văn hóa Phùng Nguyên, Hoàng XuânChinh cũng thiên về ý kiến Phùng Nguyên sớm hơn Gò Bông
Niên đại tuyệt đối: Từ một vài địa điểm của văn hóa Phùng Nguyên đã
có một số niên đại C14:
- 01 niên đại C14 của di chỉ Đồng Đậu (lớp dưới) ở độ sâu 4m cho tuổi
3328 100 năm cách ngày nay (tính từ năm 1950) Đây được coi là niên đạigiai đoạn kết thúc của văn hóa Phùng Nguyên, tương đương giai đoạn đầu của
Trang 26văn hóa Đồng Đậu.
- 01 niên đại C14 ở Đồi Giàm (Phú Thọ), địa điểm cuối giai đoạn giữacủa văn hóa Phùng Nguyên Niên đại C14 ở đay khá muộn, 290060 nămcách ngày nay Điều này được các nhà khai quật giải thích do mẫu than lấytrong một hố đất đen có thể là mộ, chứa đồ gốm sau Phùng Nguyên
- 01 niên đại C14 ở Đồng Chỗ (Hà Tây), địa điểm thuộc giai đoạn GòBông, đầu Phùng Nguyên, 3800+60 năm cách ngày nay
* Mới đây, đã có một số niên đại A M S của hai địa điểm Xóm Rền và
Gò Hội, kết quả cụ thể như sau:
- Mẫu Gò Hội 4, than lấy ở đáy hố của địa điểm thuộc giai đọa sau củavăn hóa Phùng Nguyên cho kết qủa 359050BP hay niên đại hiệu chỉnh 1930trước công nguyên
- Mẫu Gò Hội 8, than lấy ở đáy hố cho kết quả 337080BP
- Mẫu Xóm Rền 1,than lấy ở đáy lớp hai cho kết quả 345060
- Mẫu Xóm Rền 2, than lấy ở gần mộ 2 cho kết quả 377060BP
- Mẫu Xóm Rền 3, than lấy ở đáy lớp 2 cho kết quả 336040BP
* Nguyễn Linh sắp xếp các di chỉ Phùng Nguyên vào hai bước trong giaiđoạn hình thành nhà nước Văn Lang Bước thứ nhất, tác giả lấy di chỉ An Đạo
là điển hình, di chỉ Phùng Nguyên là mốc cuối cùng Theo tác giả lúc nàyngười Phùng Nguyên chưa biết kỹ thuật đúc đồng Các di tích Lũng Hòa, GòBông, Nghĩa Lập được chọn làm các di tích tiêu biểu cho bước hai Lúc này
cư dân Văn Lang chuyển sang thời đại đồng thau
* Theo Nguyễn Duy Tỳ, văn hóa Phùng Nguyên có hai giai đoạn pháttriển sớm và muộn: giai đoạn Phùng Nguyên 1 và giai đoạn Phùng Nguyên 2.Phùng Nguyên 1 có các địa điểm Phùng Nguyên, Lê Tính, Gò Mả Muộn, GòChè, Hương Nộn (Gò Chùa), Núi Xây, Yên Tàng, Đinh Xá, Văn Điển, AnThượng, Phú Diễn
Theo tác giả, giai đoạn 1 có đặc điểm sau:
Trang 27- Công cụ đá nhỏ, không dài quá 5 cm.
- Vòng trang sức có đường kính bé, mỏng, tiết diện cắt ngang thường chỉ
có hình vuông, chữ nhật hoặc hình tam giác
- Mũi tên, mũi lao và qua chưa xuất hiện
- Đồ gốm thường có đáy tròn, độ nung thấp và mỏng, hoa văn chủ yếu làrạch đơn giản, chấm dải, rạch các đường song song, đường xoáy ốc, cácđường thẳng cắt chéo nhau thành hình tam giác, hoa văn chấm tròn, hoa văn
in dây thừng mịn
- Chưa tìm thấy vết tích đồng
Giai đoạn Phùng Nguyên 2 gồm các địa điểm Lũng Hòa, Nghĩa Lập, GòBông, Thọ Sơn, Gò Chùa, Đồng Sấu, Ô Rô, An Đạo, Đôn Nhân, Đồng Đậulớp dưới, Từ Sơn, Bãi Mèn, Đồng Dền lớp dưới, Đồng Lâm lớp dưới, AnThượng lớp trên Đặc trưng của giai đoạn này là:
- Bắt đầu xuất hiện các loại vũ khí bằng đá như mũi tên, mũi lao và qua
- Đục đá ra đời
- Vòng trang sức có kích thước lớn, nhiều gờ nổi ở mặt vòng
- Kỹ thuật khoan, cưa, mài phát triển rất cao
- Hoa văn trang trí trên đồ gốm phong phú và đẹp: hoa văn làn sóng uốnlượn, hình chữ S, hình chữ C, hình mỏ neo, hình tam giác
Trang 28trang trí trên gốm theo những công thức chặt chẽ với những yếu tố hoa văntrang trí như hoa văn chấm tròn, chữ S, chữ X… Còn đặc trưng của giai đoạnChùa Gio là: vẽ văn thô, rạch thô đơn giản cộng thêm văn sóng.
* Nguyễn Văn Hảo xếp các di tích Phùng Nguyên vào hai nhóm hay hailoại hình Nhóm 1 hay loại hình Gò Bông bao gồm các địa điểm Ô Rô, ThọSơn, Phùng Nguyên, Gò Bông, An Đạo,An Thái, Xóm Rền, Thành Rền, ĐônNhân, Nghĩa Lập… Nhóm 2 hay loại hình Chùa Gio gồm các địa điểm ChùaGio, Khu Đường, Đồng Đậu lớp dưới, Lũng Hòa, Văn Điển, Đinh Xá, NúiXây… Tác giả nêu lên 2 khả năng về mối quan hệ giữa 2 nhóm này: Đó là 2loại hình tiêu biểu cho hai giai đoạn phát triển khác nhau Và cuối cùng tácgiả cho rằng: về cả 2 khả năng nói trên đến nay chúng ta vẫn chưa đủ căn cưkhoa học để lựa chọn
* Theo Diệp Đình Hoa, thời kỳ Hùng Vương phát triển qua 6 giai đoạn:Phùng Nguyên, Gò Bông, Đồng Đậu, Gò Mun, Đường Cồ, Đông Sơn Như vậy
ở đây các di tích của văn hóa Phùng Nguyên được xếp vào 2 giai đoạn sớm,muộn khác nhau: giai đoạn sớm -Phùng Nguyên, giai đoạn muộn-Gò Bông.Việc phân chia giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên của các nhà nghiên cứukhác nhau không chỉ do quan niệm khác nhau, cơ sở phân chia khác nhau, tàiliệu ít mà còn là vì chúng ta chưa đủ điều kiện sử dụng các phương pháp khoahọc tự nhiên nên chưa có được một hệ thống niên đại tuyệt đối đủ tin cậy đểsắp xếp các di tích theo trật tự từ sớm đến muộn
Tuy nhiên khi phân chia các giai đoạn phát triển của văn hóa PhùngNguyên, các nhà nghiên cứu đứng trước một vấn đề khá phức tạp là phải lựachọn cơ sở tư liệu nào để phân chia giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên: đồ đáhay đồ gốm, các vết tích đồng, nền kinh tế nông nghiệp hay các nghề thủcông? Chọn một hay tất cả các loại di tích di vật của văn hóa Phùng Nguyên?Điều này thực sự khó khăn vì mỗi loại di tích di vật đều có ưu điểm và hạn chếcủa nó Chính vì vậy nhiều nhà nghiên cứu đã dựa vào tài liệu gốm để phân chiacác giai đoạn phát triển của văn hóa Phùng Nguyên Căn cứ vào các tài liệu hiện
Trang 29có, văn hóa Phùng Nguyên sẽ được chia làm 3 giai đoạn phát triển sau:
- Giai đoạn Gò Bông
- Giai đoạn Phùng Nguyên
- Giai đoạn Lũng Hòa
Giai đoạn Gò Bông
Các di tích thuộc giai đoạn Gò Bông thường phân bố ở hữu ngạn và tảngạn sông Hồng
Trước hết, ở các di tích nhất là Gò Bông và Xóm Rền thuộc giai đoạnnày, ngoài phần lớn gốm mịn và thô còn xuất hiện loại gốm rất mịn Loại gốmnày tuy ít về số lượng, nhưng lại là những sản phẩm đạt độ tinh mỹ nhất củagốm Phùng Nguyên Tỷ lệ loại gốm rất mịn ở các di chỉ Gò Bông,Thành Dền,
Gò Hện và Đồng Chố rất ít Các cuộc khai quật tại di chỉ Xóm Rền đã tìmđược các loại bát bồng, thố rất đẹp và độc đáo
Việc sử dụng đất sét rất mịn mà tạo được các loại gốm rất đẹp chứng tỏ
kỹ thuật tìm, tuyển chọn, chế tạo chất liệu gốm rất cao của người PhùngNguyên Gốm làm bằng đất sét có cỡ hạt nhỏ thường có tính dẻo cao, co rấtmạnh, nếu pha chế kém, sản phẩm tạo ra sau khi sấy khô, nung chín sẽ bịvênh méo hoặc vỡ nát Song các di vật gốm thuộc loại này rất mỏng, tròn,đều, đẹp Gốm mịn khá đều, màu đẹp, thường có màu đỏ hoặc nâu hơi xám
Sự hiện diện của “chất bột trắng” trong rãnh hoa văn khắc vạch và in chấm,lớp áo trắng trong lòng thố có thể coi là đặc trưng tiêu biểu của giai đoạn GòBông Chất bột trắng bám khá chắc vào xương gốm chứng tỏ chất bột trắng làđát sét trắng hay hỗn hợp có đất sét trắng Chất bột trắng trên không có sẵntrong tự nhiên, là chất do người Phùng Nguyên tạo ra để trang trí hoa văn vàlàm áo gốm
Khác với các loại gốm khác, loại gốm mịn được trang trí bằng các loạihoa văn khắc vạch và văn thừng Kỹ thuật khắc vạch đã đạt đến trình độ caovới các mô típ hoa văn chính- các đường viền bên ngoài, mà còn vạch bên
Trang 30trong các họa tiết ấy Những nét vạch bên trong vừa ngắn lại vừa nông đều,nhỏ nên hoa văn tạo ra không kém vẻ đẹp như lối in, lăn, chấm Nhiều khi nếukhông nhìn kỹ người ta sẽ nhầm tưởng đó là hoa văn in Đồng thời ở loại gốmnày người ta còn dùng dây thừng hết sức mịn in lên bên trong các đường nếtkhắc vạch Dây thừng mịn đến mức phải dùng kính lúp mới thấy được rõràng Việc tạo hoa văn thừng này có thể được làm như sau: Trước hết in dấuthừng lên phôi gốm, sau đó dùng que vạch các họa tiết tùy ý; cuồi cùng người
ta xóa bỏ dấu thừng ở phía ngoài họa tiết khắc vạch Việc mài miết, xóa bỏdấu thừng này lại tạo cho mặt gốm nhẵn bóng sau khi nung Đây là lối tạo hoavăn rất độc đáo ở giai đoạn Gò Bông, rất ít gặp ở các giai đoạn khác
Nét đặc sắc thứ hai là sự phổ biến các loại hoa văn khắc vạch trên nềnvăn thừng hay văn chải Đường nét khắc vạch rất phóng khoáng nên hoa văn
và đồ gốm thêm phần phong phú Bằng cách khắc vạch- in lăn rất công phu
và tỷ mỷ, người Gò Bông đã tạo ra được nhiều họa tiết hoa văn, nhiều đồ ánhoa văn phức tạp
Vẻ đẹp của loại hoa văn này có được một phần là do kỹ thuật đánh bóngláng tạo ra Đánh bóng là lối trang trí phổ biến và độc đáo của gốm Gò Bông.Các đường, mảng đánh bóng chạy giữa các họa tiết hoa văn khắc vạch- in lănhay khắc vạch có độ bóng láng rất cao
Việc sử dụng các họa tiết đệm để điểm lấp các khoảng trống giữa các họatiết hoa văn cũng là nết rất riêng trong trang trí gốm Gò Bông Có nhiều kiểuloại họa tiết đệm khác nhau: hình tròn, hình tam giác, hình tim, hình bánnguyệt…Quy mô kích thước của họa tiết đệm rất khác nhau, tùy thuộc vào độdài rộng của khoảng trống giữa các họa tiết hoa văn
Mặt khác, ở đồ gốm Gò Bông bên cạnh các loại hoa văn rất đẹp còn cómột số loại hoa văn rất thô, mộc mạc như hoa văn khắc vạch trên nền vănthừng, hoa văn khắc vạch trổ lỗ to thô
Như vậy so với các giai đoạn khác đồ gốm Gò Bông có những khác biệt
Trang 31rõ rệt về chất liệu, loại hình, hoa văn và nghệ thuật trang trí hoa văn.
Ngoài ra đồ đá giai đoạn Gò Bông cũng có những khác biệt nhất định sovới giai đoạn Phùng Nguyên Người Gò Bông ít dùng đá nephelite màu đỏmận chín hơn người Phùng Nguyên Người Gò Bông phần nhiều dùng đánephelite màu trắng ngà làm đồ trang sức
Loại hình công cụ đá Gò Bông không được mài chế vuông thành sắccạnh như công cụ Phùng Nguyên
Giai đoạn Phùng Nguyên
Số lượng các di tích thuộc giai đoạn Phùng Nguyên nhiều hơn giai đoạn GòBông Các di tích tiêu biểu thuộc giai đoạn này là Phùng Nguyên, Khu Đường,
Gò Đồng Sấu, Xóm Rền, An Đạo, Gò Chùa, Thọ Sơn, Ô Rô, Đồi Giàm, ĐônNhân, Đồng Gai, Nghĩa Lập, Gò Cây Táo, Văn Điển, Đồng Vông…
Vào giai đoạn Phùng Nguyên, loại gốm rất mịn gần như mất hẳn Loạigốm làm bằng đất sét tương đối mịn, có kích thước lớn, có hoa văn đẹp xuấthiện Các loại gốm này thường có màu xám đỏ, hạt to và thô hơn trước Hoavăn khắc vạch kết hợp in chấm in lăn được thay thế bằng bằng hoa văn khắcvạch kết hợp với lối chấm thưa thành hàng thẳng rõ rệt Đặc biệt dấu vết củachất bột trắng, loại gốm có áo trắng ở mặt trong hầu như biến mất
Trong giai đoạn này, tuy có nhiều di chỉ, phân bố trên một không gianrộng lớn, có rất nhiều loại đồ gốm khác nhau, hoa văn phong phú nhưng một
số họa tiết và đồ án trang trí đã tuân theo một quy tắc nhất định Các hoa vănchữ S ở giai đoạn Gò Bông nay đã biến hóa thành những hoa văn mẫu Lối vẽphóng khoáng, tự do ở giai đoạn Gò Bông đến giai đoạn này hầu như khôngcòn nữa Các họa tiết hoa văn lúc này hình như đã được quy chuẩn hóa, quycách hóa cả về mặt kết cấu đến lối trang trí và bố cục trên đồ đựng Như thế
có thể qua một thời gian sử dụng, thừa hưởng và sàng lọc, người PhùngNguyên đã đưa trình độ tạo hoa văn đến đỉnh cao Điêù này được thể hiện rõnhất ở những họa tiết hoa văn chữ S liên kết để tạo thành băng trang trí gốm
Trang 32Trình độ trang trí, mức độ chuẩn xác về trang trí của người Phùng Nguyênchặt chẽ hơn người Gò Bông.
Khác với Gò Bông, người Phùng Nguyên không ưa lối khắc vạch đè lênnền văn thừng Cách khắc vạch kết hợp với chấm thưa theo hàng đã giúpngười Phùng Nguyên tạo ra được nhiều họa tiết hoa văn rất đẹp, có kết cấuphức tạp nhưng lại rất uyển chuyển và hài hòa Đồ đá Phùng Nguyên có khácbiệt rõ rệt so với Gò Bông và Lũng Hòa Loại đá Nephelite màu đỏ mận chínđược sử dụng phổ biến ở Phùng Nguyên Nhiều loại công cụ sản xuất cỡ nhỏ
và đồ trang sức được làm bằng loại đá này Trong khi giai đoạn Gò Bông, đồtrang sức phần nhiều là đá nephelite có màu trắng ngà hoặc trắng xanh
Giai đoạn Lũng Hòa
Đây là giai đoạn kết thúc của văn hóa Phùng Nguyên, khác với hai giaiđoạn trước, ở giai đoạn này, chúng ta có một số di chỉ có địa tầng để tìm hiểu
sự chuyển tiếp từ cuối văn hóa Phùng Nguyên sang đầu văn hóa Đồng Đậu.Giai đoạn Lũng Hòa có một số di tich tiêu biểu như Lũng Hòa, Gò Hội,Đồng Đậu lớp dưới cùng, Gò Diễn, Gót Rẽ, Chùa Gio, Phượng Hoàng, Bãi Mèn,Đình Chiền, Tiên Hội, Xuân Kiều, Đình Tràng lớp dưới, Gò Ghệ, Gò Dạ…Lũng Hòa là giai đoạn phát triển tiếp nối sau giai đoạn Phùng Nguyên vàchuyển nối lên đầu văn hóa Đồng Đậu.Do đó còn lưu lại nhiều sắc thái của PhùngNguyên nhưng cũng nảy nở một số yếu tố văn hóa mới- văn hóa Đồng Đậu
Trong giai đoạn Lũng Hòa vắng mặt hoàn toàn loại gốm mịn Thay vào
đó là sự xuất hiện của một loại gốm mới có màu hơi xám Nhìn chung gốm có
xu hướng ngày càng thô hơn
Hoa văn gốm ở giai đoạn này trở nên nghèo nàn và đơn điệu Văn thừngchiếm ưu thế tuyệt đối Hầu như không thấy bóng dáng của các mô típ hoavăn khắc vạch kết hợp in chấm, in lăn của giai đoạn trước Lúc này trên gốmchỉ còn thấy vài họa tiết khắc vạch đơn sơ kết hợp với lối in chấm Trong giaiđoạn Phùng Nguyên và Gò Bông, văn thừng thường rất mịn Còn ở gốm Lũng
Trang 33Hòa ngoài các loại văn thừng mịn có một loại văn thừng to, thô, in sâu, chạydọc hông của đồ đựng Ngoài ra trên mảnh gốm ở giai đoạn này còn có một
số mô típ hoa văn trang trí hoàn toàn chưa có ở hai giai đoạn trước Đó là hoavăn khuông nhạc, hoa văn các đường tròn đồng tâm Nhìn chung, gốm LũngHòa thiên về thực dụng hơn là thẩm mỹ Các loại hình gốm trang trí cầu kỳ vàđẹp Như vậy, chuyển từ các họa tiết hoa văn ưa chuộng là các đường khắcvạch kết hợp in chấm- in lăn sang lối trang trí hoa văn khuông nhạc, hoa vănthừng to, thô, in sâu nét chẳng những là một sự chuyển biến lớn và sâu sắc về
kỹ thuật trang trí, phong cách trang trí mà còn là sự thay đổi về quan niệmthẩm mỹ của con người lúc bấy giờ
Như vậy, dựa vào tài liệu gốm chúng ta đã có đủ cơ sở để phân chia cácgiai đoạn phát triển của văn hóa Phùng Nguyên
1.2.3.4 Đặc trưng về hiện vật trong văn hóa Phùng Nguyên.
Phùng Nguyên được coi là nền văn hóa vật chất mở đầu cho thời kỳHùng Vương dựng nước Sau hơn 45 năm, một khối lượng di vật đồ sộ cực kỳquý giá đã được phát hiện và nghiên cứu Thông qua di vật, có thể thấy chủnhân của văn hóa Phùng Nguyên là những người đã đạt đến trình độ phát triểncao của kỹ thuật chế tác đồ đá và đồ gốm Về đồ đá, hầu như toàn bộ công cụ
và đồ trang sức đều được mài nhẵn, kích thước nhỏ nhắn, đa dạng và tinh tế.Các kỹ thuật ghè đẽo, cưa, khoan, mài, tiện… có mặt đầy đủ trong quy trìnhchế tác đồ đá của người Phùng Nguyên và đã đạt đến trình độ điêu luyện.Thậm chí có thể nói rằng ở văn hóa Phùng Nguyên, kỹ thuật chế tạo đồ đá đãđạt đến đỉnh cao trong lịch sử của kỹ thuật chế tác đá tiền sử và sơ sử Bêncạnh đó, qua kỹ thuật chế tác gốm cũng có thể thấy văn hóa Phùng Nguyên làmột nền văn hóa khảo cổ mà chủ nhân của nó thực sự có tài năng sáng tạotrong nghề gốm
Đồ đá:
Có người đã nói rằng: Nếu có một nghề thủ công nào để lại nhiều minh
Trang 34chứng nhất về kỹ thuật học, mà không những bằng chứng đó lại hầu nhưkhông bị hủy hoại bởi thời gian, hì đó chính là nghề sản xuất đồ đá Cũng nhưvậy, ếu có một nền văn hóa khảo cổ nào hàm chứa nhiều tinh hoa hơn cả về
kỹ thuật chế tác đá và sản phẩm đồ đá, thì đó chính là văn hóa Phùng Nguyên
Di vật đá Phùng Nguyên hầu hết đều có kích thước nhỏ Kể cả công cụsản xuất cũng như đồ trang sức đều được chế tạo bằng các loại đá có độ rắncao, màu sắc đẹp
Đặc trưng về nguyên liệu và loại hình.
* Về vấn đề nguyên liệu đá trong văn hóa Phùng Nguyên:
Những tài liệu khảo cổ học cho biết rằng nguyên liệu dùng để chế tác đácủa cư dân Phùng Nguyên rất đa dạng Đó là các loại đá: Basalt, spilite,nephrite, gres, schist, jade,j asper Họ không những biết lựa chọn các loại đátốt mà còn có ý thức sử dụng từng loại đá sao cho thích hợp với từng loạicông cụ hay đồ trang sức Ví dụ, đá Basalt thường được sử dụng để chế tạpcác loại công cụ có số lượng nhiều và kích thước lớn; đá nephrite chủ yếu đểchế tạo đồ trang sức, đá sa thạch cát kết được sử dụng làm dao cưa, bàn mài;
đá silic-jasper dùng làm mũi khoan Tuy nhiên cũng phải nói thêm rằng, ngoài
đồ trang sức, đá nephrite còn được sử dụng để chế tạo các loại rìu bôn, đục cỡvừa và nhỏ Như vậy,người Phùng Nguyên phải biết rõ về thuộc tính từng loại
đá thì mới có thể sử dụng chúng để chế tạo từng loại công cụ thích hợp
- Đá ba gian, Diabazer hay Spilite: Tùy theo từng phòng thạch học khácnhau mà đá đượcđặt tên như trên Theo các nhà địa chất, sự khác nhau về têngọi này là do có những thành phần trội biệt trong từng mẫu đá phân tích,về cơbản các tên gọi đá nói trên thuộc về một nhóm chung, không có sự khác nhau
về thuộc tính và chất liệu Chúng có cấu tại hình khối, thành phần khoáng vậtchủ yếu là Plagioclase(70%-80%) Nhìn chung nguồn nguyên liệu này chủyếu là đá gốc Người Phùng Nguyên dùng loại đá này để chế tạo ra các loạihình công cụ lao động chính như rìu, đục hoay làm vòng đeo như đã thấy
Trang 35trong công xưởng chế tác đá Hồng Đà Đá thường được khai thác trong các
mỏ đá bazan hay Diabazer lộ thiên, tương đối gần nơi cư trú, việc chuyên chởcắc hẳn phần nhiều dựa vào sông nước nếu khai thác xa hoặc bằng đường bộnếu khai thác gần Trong văn hóa Phùng Nguyên, nguồn nguyên liệu này chothấy sự bảo lưu truyền thống sử dụng đá bazan từ các văn hóa Hậu kỳ đá mớitrước đó.Ta biết rằng cư dân hậu kỳ đá mới như Mai Pha, Bàu Tró, HạLong… đã có thói quen sử dụng đá gốc Bazan để sản xuất công cụ lao động;
do vậy ngay cả trong quy trình khai thác, kỹ thuật khai thác người PhùngNguyên vẫn tiếp nối truyền thống trước đó Trong nhiều di chỉ xưởng chế tác
đá thuộc về văn hóa Phùng Nguyên ta có thể thấy người thợ chế tạo đá khôngphải tiết kiện lắm đối với loại nguyên liệu này Như vậy, nguồn nguyên liệu
đá bazan tương đối rõ ràng trong văn hóa Phùng Nguyên
- Về nguồn đá ngọc - jade hay gọi theo tên khoa học là Nephrite Đá này
có thành phần cơ bản là tremollite ở dạng ẩn tinh, rất mịn hạt, rắn và dẻo ĐáNephrite được dùng chủ yếu tạo các loại rìu đục kích thước nhỏ, thích hợp vớicác thao tác thủ công nhẹ nhàng và trên một đối tượng mềm hơn chúng, đồngthời do màu sắc đẹp, độ dẻo dai dễ tạo hình hơn các loại đá khác nên đá nàycòn được dùng gần như chuyên biệt trong chế tạo đồ trang sức
Đứng ở góc độ thành phần thạch học, sự hình thành đá Jade đòi hỏi cónhững vận động kiến tạo sâu và lâu dài trong những dãy núi đá vôi, với mộtnhiệt độ thích hợp rất cao, tới 700-800 độ hoặc hơn cả ngàn độ Khi đã hìnhthành rồi, loại đá này cũng không dễ dàng khai thác lộ thiên trên bề mặt tráiđất, trừ những vùng có nguồn đá phun trào sau núi lửa và do đó đá Jade đượcđẩy lên trên rồi biến thành cuội lăn Tuy nhiên, trong văn hóa Phùng Nguyên,những bằng chứng nguyên liệu đá Jade tìm thấy trong các di chỉ cho ta thấytuyệt đại đa số nguyên liệu khai thác đều là đá gốc Từ những nghiên cứu địachất và thạch học, người ta đã tìm ra những nguồn mỏ Jade hình thành hàngvạn năm trước nằm trong các vùng đá vôi, trong các điều kiện địa lý đặc biệt
Trang 36của vỏ trái đất tại một số khu vực vên biển Đông thuộc Đài Loan và TrungQuốc Mặc dù chúng ta chưa có những thành tựu nghiên cứu địa chất về vấn
đề này nhưng từ những bằng chứng khảo cổ học, với sự có mặt của những dichỉ xưởng chế tác đá trong văn hóa Phùng Nguyên tại vùng núi đá vôi Từ đâychúng ta có thể nghĩ ở Việt Nam có thể có các mỏ đá Nepherit Tuy nhiênhiện nay chúng ta chưa rõ cư dân Phùng Nguyên đã khai thác đá ngọc ở đâu
- Đá Amphibolite là loại đá được cư dân Phùng Nguyên dùng làm đồtrang sức Thành phần khoáng vật của Amphibolite gồm có actinolite, quartz,plagioclase, epodot, actinolits có dạng hình kim, kích thước nhỏ, sắp xếp songsong nhau Plagiocláe có dạng hạt đều đặn nằm lẫn cùng với quartz Epidotnằm rải rác trong các nham thạch thành từng nhóm nhỏ Đặc biệt của loại đánày là có nhiều màu sắc, lại không cứng lắm nên dùng chế tạo vòng trang sứcrất thích hợp
- Đá Japer là một nguồn đá khác được dùng để chế tạo mũi khoan dùngtrong nghề chế tạo đồ trang sức của cư dân Phùng Nguyên Trong giai đoạnvăn hóa Phùng Nguyên, vào giai đoạn muộn đã có ít nhất hai di chỉ xưởng tồntại hoạt động chế tác mũi khoan đá Jasper còn gọi là đá Silic màu đỏ gan trâuhay màu vàng gan gà Đá Jasper có thành phần hóa học cơ bản là các tập hợptinh dạng tóc rối, rất mịn, quánh, vết vỡ thường có dạng vẩy hến và bóng,loại đá này chỉ được dùng để chế tạo mũi khoan, ngoài ra không dùng trongcác loại hình di vật khác đồng thời kỹ thuật chế tạo nó cũng rất chuyên biệt.Bằng chứng về chế tạo mũi khoan đá trong văn hóa Phùng Nguyên, chúng ta
có thể đánh giá được chân xác sự tiến bộ trong khâu lựa chọn nguyên liệu củangười Phùng Nguyên
Loại hình nguyên liệu này cũng không dễ tìm kiếm như đá ngọc vậy Sựtiết kiệm đá đến mức tối đa trong các di chỉ xưởng Bãi Tự, Tràng Kênh chothấy sự khan hiếm của nó, đồng thời cũng phản ánh sự khó khăn nhọc nhằncủa người thợ khai thác đá nhày xưa Đá Jasper được dùng ở một số vùng như
Trang 37tây bắc Trung Quốc hay vùng I ran, bắc Việt Nam Điều đáng nói là mặc dầucác di chỉ tồn tại loại đá này như nói ở trên phân bố trong các vùng địa lýkhác nhau, trong các giai đoạn lịch sử khác nhau và chắc chắn không cónhững mối quan hệ trực tiếp với nhau, nhưng đều được dùng rất chuyên biệttrong việc chế tạo ra một loại hình công cụ lao động duy nhất là mũi khoan
đá, chúng có hình dáng, kích thước và các dấu vết kỹ thuật giống hệt nhau.Việc tìm kiếm nguồn gốc loại nguyên liệu đá này còn gặp nhiều khókhăn Nhưng càng khó khăn bao nhiêu thì sự có mặt của nó trong văn hóaPhùng Nguyên càng cho thấy trình độ hiểu biết và làm chủ nguồn nguyên liệucủa người Phùng Nguyên Hiện nay người ta tạm cho rằng đá này không tồntại một cách tập trung trong các mỏ đá lớn ở Việt Nam mà chỉ có mặt ngẫunhiên trong các mỏ đá vôi nằm kẹp giữa các mỏ đá vôi mà thôi
Ngoài các loại đá trên, trong khi khai quật các di tích Phùng Nguyên, cácnhà khảo cổ thường phát hiện được rất nhiều đá mài và bàn mài Đó là các loại
đá quác dit, sa thạch, a thạch quác dit hóa yếu, sa thạch có Felspat Đó là các loại
đá sa thạch và phiến thạch có màu xám đen, nâu xám, nâu đỏ hay trắng xám.Nhờ có đá cứng và màu đẹp, mũi khoan cứng, bàn mài mịn và thô màngười Phùng Nguyên chế tạo được nhiều công cụ, vũ khí và đồ trang sứcphong phú, đa dạng và rất tinh xảo
* Về công cụ sản xuất ở văn hóa Phùng Nguyên rất phong phú Di vật
có số lượng nhiều nhất là bôn đá hình tứ giác có lưỡi vát lệch một bên Sốlượng rìu tứ giác cân xứng trong các di chỉ thuộc văn hóa này ít hơn, cónhững địa điểm không có Những di vật vẫn gọi là rìu và bôn có thể gồm 3loại sau:
- Rìu: Lưỡi vát chữ V cân xứng
- Bôn: Lưỡi vát một bên thành chữ V lệch
- Rìu bôn: Lưỡi vát hai bên không đều nhau
Đa số các nhà nghiên cứu cho rằng quy mô kích thước vừa phải là đặc
Trang 38trưng nổi bật của công cụ sản xuất văn hóa Phùng Nguyên Kích thước bôntập trung trong khoảng dài 6-7cm, rộng 3-4cm, dày 1-2cm PGS.TS Hán VănKhẩn thì cho rằng: rìu, bôn và rìu bôn Phùng Nguyên gồm 2 loại rõ ràng:
- Loại hẹp ngang và dày
- Loại rộng ngang và mỏng
Nếu căn cứ vào quy mô kích thước thì mỗi loại lại có thể chia ra làm 3loại sau:
- Loại lớn có kích thước 8 đến trên10 cm
- Loại vừa có kích thước từ 5 đến 7 cm
- Loại nhỏ có kích thước từ 4cm trở xuống
Ba đợt khai quật di chỉ Phùng Nguyên thu được 531 chiếc rìu bôn, 246chiếc rìu tứ giác lưỡi vát đều 2 bên Di chỉ Gò Bông đã tìm thấy 44 chiếc bôntrong khi rìu đá chỉ thấy có 4 chiếc Di chỉ Đồng Vông, số lượng bôn tìm thấycũng nhiều hơn rìu 2 chiếc
Trong số bôn đá tìm thấy ở các địa điểm Phùng Nguyên cũng có một sốlượng không nhỏ những bôn có kích thước nhỏ,mỏng Về mặt hình dáng,những bôn loại này chủ yếu có hình tứ giác, gần vuông hoặc dài, một số chiếc
có đầu đốc thon nhỏ hơn phần lưỡi, lưỡi có độ lượn hơi vòng cung, kíchthước trung bình của loại bôn này nằm trong khoảng chiều dài1,8-2,5 cm,rộng 1,5-2 cm, dày 0,3-0,5 cm, góc lưỡi 30-40 độ, đặc biệt có nhiều chiếcchiều dài và chiều rộng tương đương nhau
Những chiếc rìu đá điển hình ở Phùng Nguyên cũng là rìu tứ giác, mặtcắt ngang hình tứ giác và nhìn trực diện cũng là hình tứ giác Các địa điểmthuộc văn hóa này, hầu như không thấy sự xuất hiện của rìu đá có mặt cắtngang hình bầu dục Rìu lưỡi cân Phùng Nguyên đa số có dáng hình thang,nhưng phần lưỡi thường chỉ nhỉnh hơn phần đốc một chút Toàn thân rìu đượcmài nhẵn, ở nhiều chiếc rìu thuộc địa điểm Phùng Nguyên còn cho thấy rõ rệtdấu vết sử dụng mòn vẹt của chúng Kích thước rìu Phùng Nguyên nhỏ nhắn,
Trang 39xinh xắn; loại rìu có kích thước lớn hơn cũng chỉ tập trung ở khoảng dài 6-7
cm, rộng 4-5 cm ,dày 1,5-2 cm Trên thân một số rìu còn xót lại các dấu ghè,đẽo hoặc mẻ sứt trong quá trình chế tác và sử dụng Đa số rìu Phùng Nguyênđều có góc lưỡi sắc (khoảng ở 40 độ-50 độ cho loại kích thước trên)
Đáng chú ý là, trong các địa điểm thuộc văn hóa này không có ít rìu đáđược chế tác bằng đá ngọc Nephrite có các màu đẹp: trắng đục, trắng vânhồng, vân xanh Loại rìu này có kích thước nhỏ bé, xinh xắn, kích thước trungbình của loại rìu này có độ dài trên dưới 3 cm, rộng 2 hoặc hơn 2 cm, dày 0,5
cm, cá biệt còn có những chiếc rìu lưỡi cân xứng, dáng đẹp kích thước nhỏhơn Sự có mặt của những chiếc rìu này khiến chúng ta nghĩ tới 1 nghề thủcông nhẹ nhàng tỉ mỉ hơn là những thao tác sản xuất thô nặng
Tại di chỉ Phùng Nguyên đã tìm thấy 246 chiếc rìu các loại nhưng không
hề có chiếc rìu mài có chiều dài đến10 cm Loại rìu nhỏ (dài dưới 4 cm,rộngdưới 2,5 cm) chiếm tới 40% tổng số rìu Tại di chỉ Văn Điển cũng đã tìmđược 181 chiếc rìu tứ diện, kiểu dáng và kích thước, quy thức chế tác cũnggiống hệt như rìu tìm thấy ở Phùng Nguyên Riêng ở địa điểm Gò Bông, trêntổng diện tích 178 m2 khai quật khoa Sử Đại học Tổng Hợp đã thu thập đượctrên 500 hiện vật đá nhưng số lượng rìu đá chân chính chỉ có 7 chiếc (bên
cạnh 108 chiếc bôn đá) Tại địa điểm Gò Hện, rìu và bôn theo báo cáo khai
quật cho biết có số lượng tương đương nhau (rìu: 9 chiếc, bôn: 9 chiếc) trongtổng số 113 di vật đá Trong 1 vài địa điểm thuộc văn hóa Phùng Nguyên,còn
có mặt loại rìu có vai hay có nấc như ở Phùng Nguyên, Núi Xây… tuy sốlượng rất ít, nhưng sự có mặt của những loại rìu này cho ta thấy sự giao lưuvăn hóa với các cư dân khác đã khá phát triển
Trong số công cụ sản xuất của văn hóa Phùng Nguyên, ngoài rìu và bôn
ra, còn phải kể số lượng đến lớn đục đá Đục đá Phùng Nguyên có đặc điểmnhỏ nhắn cũng như rìu và bôn, được chế tác từ các loại đá mịn hạt, độ cứngdáng kể như Spilite, Nephlite, và có những màu sắc đẹp Loại hình của đục
Trang 40cũng đa dạng, có thể phân chia thành các loại chính sau: Đục bằng, đục mảnhvòng, đục nhọn, đục vũm và đột.
Đục bằng có số lượng nhiều nhất, có lưỡi bằng, lưỡi mài vát một hoặc cả
2 mặt giống đục sắt hiện nay Đụa bằng có chiếc khá dày, có chiếc khá mỏng.Đục bằng có thân dài, hẹp ngang, mặt cắt ngang là hình thang, chữ nhật, hìnhvuông hay hình thấu kính Kích thước của loại đục này rất khác nhau: dài từ3-4cm, rộng 1-3cm, dày 1-3cm Chiếc đục phát hiện được ở Xóm Rền xứngđáng được xếp vào loại đục dày, dài và dày nhất của văn hóa Phùng Nguyên.Đục được làm bằng đá Spilite màu xám, có quy mô kích thước khá lớn: dài 13
cm, rộng 3,5 cm, dày 2,5 cm, mặt cắt ngang hình chữ nhật Khác với đục dày,đục mỏng có lưỡi mài vát 2 hoặc 1 mặt, mặt cắt ngang chủ yếu là hình thang,chữ nhật cũng đủ kích cỡ từ lớn đến nhỏ Kích thước loại đục này tập trungtrong khoảng: dài từ 3 đến 10 cm, rộng từ 1-1,5 cm, dày từ 0,5-0,8 cm Loạiđục này thường được làm bằng đá Nephrite rất đẹp Rõ ràng, loại đục dàycũng như đục mỏng có đủ các loại kích thước từ dài đến ngắn, từ rộngđếnhẹp, từ dày đến mỏng Như vậy với bộ đục gồm nhiều kiểy loại này, ngườithợ thủ công có thể dễ dàng đục, khoét các lỗ vuông, chữ nhật, hình tam giáchay hình thang trên các vật liệu tre gỗ để là khung nhà cửa…
Đục móng(hay còn gọi là đục vũm) là một loại đục chuyên dụng để đụckhoét các lỗ tròn giống như đục móng của người thợ mộc ngày nay Đục móngthường có số lượng ít hơn các loại đục trên nhưng cũng khá phổ biến ở nhiều ditích Phùng Nguyên, như Phùng Nguyên, Chùa Gio, Văn Điển, Đồng Vông…Đục mảnh vòng được làm bằng đá Nephrite với các màu sắc khác nhau,như trắng ngà, hồng nhạt, hay tím mận chín Đây là công cụ do người PhùngNguyên khéo léo tận dụng những mảnh vòng gãy, rộng bản(từ 1-2cm) đemmài chế thành những đục nhỏ xinh xắn Gọi là đục nhưng chưa chắc nó được
sử dụng như những đục đá thực thụ Bởi vì nó nhỏ và mỏng manh có khi lạicong nên rất có thể đục mảnh vòng còn được sử dụng như dao để cắt, gọt,