Đánh giá tổng kết dự án giảm nghèo tỉnh Sơn La giai đoạn 2002 – 2007.Một số bài học kinh nghiệm rút ra từ dự án.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Nghèo đói là một trong những vấn đề xã hội mang tính toàn cầu đốivới mọi quốc gia, kể cả các quốc gia phát triển cũng như các nước đangphát triển và kém phát triển, ở Việt Nam, đói nghèo là vấn đề được Đảng
và Nhà nước đặc biệt quan tâm Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổimới của Đảng, kinh tế - xã hội nước ta nói chung và khu vực nông thôn nóiriêng đã có những biến đổi sâu sắc Nhịp độ tăng trưởng GDP của nền kinh
tế cao và tương đối ổn định từ 7% - 10% tỷ lệ lạm phát giảm, sản lượnglương thực liên tục tăng trong nhiều năm qua, cuộc sống nhân dân ngàycàng được cải thiện, bộ mặt nông thôn đã có những thay đổi, tiến bộ
Từ thực tế sản xuất cùng với việc thực hiện các chủ trương, chính sáchcủa Đảng, nhà nước, các hộ nông dân biết sử dụng có hiệu quả về lao động,đất đai, tiền vốn cho nên ngày càng có nhiều những hội kinh doanh giỏi Mặt khác, số hộ nông dân không biết bắt nhịp thời cơ, tiếp cận những trithức sản xuất hay không đủ điều kiện đã trở thành hộ nghèo đói Ranh giớigiàu nghèo ngày càng trở nên rõ nét hơn , khi nền kinh tế thị trường ngàycàng mở cửa , điều đó đã dẫn tới sự phân hoá sâu sắc về đời sống và thunhập của nhóm người giàu và người nghèo trong xã hội, giữa thành thị vànông thôn Thực trạng này nếu không được giải quyết sẽ nảy sinh ra nhữngmâu thuẫn trong xã hội, là nguy cơ làm mất ổn định tình hình kinh tế, chínhtrị, xã hội
Mặc dù được Đảng và nhà nước đặc biệt quan tâm , ưu đãi trong côngcuộc xoá đói giảm nghèo Nhưng Sơn La vẫn còn có hộ nghèo, nằm trongdanh mục các tỉnh có thu nhập bình quân đầu người thấp của cả nước
Trang 2Đây là một mối quan tâm lớn của cấp uỷ, các ban, ngành đoàn thể từTỉnh đến cơ sở Vì vậy việc xoá đói giảm nghèo trong nông thôn ở đâyđược đặt ra như một yêu cầu cấp bách cần giải quyết với nhiều phươngpháp tiếp cận cả trên bình diện vĩ mô và vi mô
Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn trên nên trong quátrình thực tập tại phòng Tài Chính&Kế hoạch huyện Mai Sơn tỉnh Sơn Latôi đã chọn đề tài nghiên cứu của mình :
“ Đánh giá tổng kết dự án giảm nghèo tỉnh Sơn La giai đoạn 2002 – 2007 Một số bài học kinh nghiệm rút ra từ dự án” làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nhằm đánh giá đúng đắn kết quả, thành tựu, những mặt còn hạn chếcủa dự án từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc triển khainhững dự án giảm nghèo trong các giai đoạn tiếp theo tại tỉnh Sơn La
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Hệ thống hoá cơ sở lý luận và phương pháp luận nhằm xem xét,đánh giá các vấn đề nghèo đói ở nông thôn hiện nay
Phản ánh thực trạng đói nghèo và tìm ra nguyên nhân dẫn đến đóinghèo
Đánh giá kết quả thực hiện dự án giảm nghèo tỉnh Sơn La nói riêng
và các tỉnh miền núi phía Bắc núi chung Từ đó rút ra những bài học kinhnghiệm, đề xuất để dự án giảm nghèo tỉnh Sơn La trong các giai đoạn tiếptheo đạt hiệu quả cao hơn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế xã hội Tỉnh Sơn La,đặc biệt là các huyện thuộc dự án giảm nghèo các tỉnh miền núi phía Bắc
Trang 3Đồng thời nghiên cứu, đánh giá tổng kết toàn bộ dự án giảm nghèo tỉnhSơn La
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Chủ yếu tập trung nghiên cứu ở một số Huyện điển hình đại diện chocác Huyện thuộc dự án giảm nghèo tỉnh Sơn La trong đó có Huyện MaiSơn nơi tôi thực tập
Về không gian: nghiên cứu trong phạm vi địa bàn tỉnh Sơn La
Về thời gian: nghiên cứu toàn bộ dự án từ 2002 - 2007
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng tổng hợp phương pháp nghiên cứu kết hợp với cácphương pháp phân tích tổng hợp số liệu, thống kê, so sánh xử lý, bảng biểu
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được trình bày trong 3chương:
Chương I: Sự cần thiết phải xóa đói giảm nghèo
Chương II: Đánh giá dự án giảm nghèo tỉnh Sơn La giai đoạn 2002-2007.
Chương III: Bài học kinh nghiệm rút ra từ dự án Một số đề xuất, kiến nghị.
Để hoàn thành đề tài, ngoài sự nỗ lực nghiên cứu của bản thân, tôi cũng đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ nhiều phía Tôi xin chân thành cảm ơn Phòng Tài chính-Kế hoạch Huyện Mai Sơn, bạn bè Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn TH.S Phạm Xuân Hoà đã hướng dẫn và động viên tôi rất nhiều trong thời gian qua Do thời gian và trình độ còn hạn chế, đề tài chắc chắn còn nhiều thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý của quý thấy cô giáo
Trang 4CHƯƠNG I
SỰ CẦN THIẾT PHẢI XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO
I CÁC QUAN NIỆM VỀ ĐÓI NGHÈO VÀ CÁC THƯỚC ĐO NGHÈO ĐÓI.
1 Quan điểm về nghèo đói.
1.1 Các quan điểm về nghèo đói.
Theo quan điểm tiếp cận của WB, thì phạm vi của sự nghèo khổngày càng mở rộng Nghèo khổ thường gắn với sự thiếu thốn trong tiêudùng Nhưng từ giữa năm 1970 và những năm 1980, nghèo khổ được tiếpcận theo nhu cầu cơ bản bao gồm: tiêu dùng, dịch vụ xã hội và nguồn lực
Từ giữa những năm 1980 đến nay tiếp cận theo năng lực và cơ hội, gồm:tiêu dùng, dịch vụ xã hội, nguồn lực và tính dễ bị tổn thương Từ cách tiếpcận trên, khi đánh giá tình trạng nghèo khổ khổng chỉ dựa theo tiêu chí thunhập mà còn gồm cả những tiêu chí không gắn với thu nhập
Tuy nhiên ở những nước đang phát triển, việc phân tích và đánh giánghèo khổ chủ yếu dựa trên tiêu chí thu nhập (hay chi tiêu) Phương phápnày cho phép so sánh tình trạng nghèo khổ giữa các nước, các vùng khácnhau theo thời gian nhằm cung cấp thông tin cho các chính sách công vàđánh giá mức độ thành công của các chính sách đó Nhưng làm thế nào đểbiểu thị “ nghèo khổ” bằng một con số có ý nghĩa? Các nhà kinh tế đã dựatrên khái niệm “nghèo khổ tuyệt đối” Khái niệm này nhằm biểu thị mộtmức thu nhập (chi tiêu) tối thiểu cần thiết để đảm bảo những “nhu cầu vậtchất cơ bản” như lương thực, quần áo, nhà ở để cho mỗi người có thể “tiếptục tồn tại” Tuy nhiên khi xem xét mức nghèo khổ theo khái niệm trên nảysinh một số vấn đề sau:
Trang 5Thứ nhất: Việc xác định mức này là một vấn đề chủ quan gây khó khăn
cho việc so sánh giữa các nước
Thứ hai: Mức thu nhập tối thiểu cần thiết sẽ thay đổi theo tiêu chuẩn của
mức sống theo thời gian và theo quốc gia (hay khu vực) Chẳng hạn, mộtngười dân ở nước phát triển hiện nay được phân loại là nghèo thì thực ra họlại còn có mức sống tốt hơn những người dân ở nước họ vào những năm
60 hoặc một số người dân ở các nước kém phát triển ngày nay mà họkhông được coi là nghèo
Do vậy một phương pháp đã được các nhà kinh tế sử dụng là xác định “giớihạn (ranh giới) nghèo khổ” hay còn gọi là “đường nghèo khổ”
Có hai cách tiếp cận “giới hạn nghèo khổ” là tiếp cận theo thu nhập và tiếpcận theo chi tiêu Tuy nhiên phương pháp được sử dụng nhiều hơn là tiếpcận theo chi tiêu Vì chi tiêu của hộ gia đình là chỉ số liên quan chặt chẽđến phúc lợi hơn là thu nhập Và số liệu về thu nhập thường là không chínhxác đặc biệt ở các nước đang phát triển
Có những phương pháp đánh giá “giới hạn nghèo khổ sau”
- Phương pháp của Ngân hàng Thế Giới:
Phương pháp mà WB đã sử dụng ở nhiều nước đang phát triển là dựavào ngưỡng chi tiêu tính bằng USD mỗi ngày Ngưỡng nghèo thường dùnghiện nay là 1 USD và 2 USD/ngày (theo sức mua tương đương) Đây làngưỡng chi tiêu có thể đảm bảo cung cấp năng lượng tối thiểu cần thiết chocon người, mức chuẩn đó là 2100 calo/người/ngày
Ngưỡng nghèo này gọi là ngưỡng nghèo lương thực, thực phẩm (nghèo đói
ở mức thấp) Vì mức chi tiêu này chỉ đảm bảo mức chuẩn về cung cấp nănglượng mà không đủ chi tiêu cho những hàng hoá phi lương thực Nhữngngười có mức chi tiêu cho những hàng hoá phi lương thực Những người có
Trang 6mức chi tiêu dưới mức chi cần thiết để đạt được 2100 calo/ngày gọi là
“nghèo về lương thực, thực phẩm”
- Phương pháp của Việt Nam:
Ở Việt Nam hiện nay, có phương pháp tiếp cận với ranh giới nghèođói như sau:
+ Phương pháp dựa cả vào thu nhập và chi tiêu theo đầu người(phương pháp của Tổng cục thống kê)
Phương pháp này đã xác định 2 ngưỡng nghèo:
* Ngưỡng nghèo thứ nhất là số tiền cần thiết để mua đựoc một sốlương thực hàng ngày để đảm bảo mức độ dinh dưỡng Như vậy, phươngpháp này tiếp cận tương tự cách tiếp cận của WB
* Ngưỡng nghèo thứ hai, thường được gọi là “ngưỡng nghèo chung”ngưỡng này bao gồm cả phần chi tiêu cho hàng hoá phi lương thực
Ngưỡng nghèo Việt Nam được tính toán từ cuộc điều tra mức sống dân cư
1993 và 1998 như sau:
Bảng 1: Ngưỡng nghèo ở Việt Nam
Chi tiêu bình quân đầu người/năm1993
(Tính vào thời điểm
1/1993)
1998(Tính vào thời điểm
1/1998Ngưỡng nghèo về
lương thực, thực phẩm
750 nghìn đồng 1.287 nghìn đồngNgưỡng nghèo chung 1.116 nghìn đồng 1788 nghìn đồng+ Phương pháp dựa trên thu nghập của hộ gia đình (phương pháp của
Bộ Lao động-Thương binh xã hội) Phương pháp này hiện đang được sử
Trang 7dụng để xác định chuẩn nghèo đói của chương trình xoá đói giảm nghèoquốc gia (Chuẩn nghèo quốc gia).
Chuẩn nghèo áp dụng cho thời kỳ 2001-2005 được xác định dựa trên thunhập theo 3 vùng Cụ thể là:
* Vùng Hải đảo và vùng núi nông thôn: Bình quân thu nhập là 80nghìn đồng/người/tháng
* Vùng đồng bằng nông thôn: 100 nghìn đồng/người /tháng
Một cách tiếp cận khác cũng thường được sủ dụng để xem xét nghèođói là chia dân cư thành các nhóm khác nhau (theo 5 nhóm) Nhóm 1/5nghèo nhất là 20% dân số, những người sống trong các hộ gia đình có mứcthu nhập (chi tiêu) thấp nhấp
Bên cạnh sự “nghèo khổ tuyệt đối”, ở nhiều nước còn xét đến sự
“nghèo khổ tương đối” “Nghèo khổ tương đối” được xét trong tương quan
xã hội, phụ thuộc địa điểm dân cư sinh sống và phương thức tiêu thụ phổbiến nơi đó Sự nghèo khổ tương đối được hiểu là những người sống dướimức tiêu chuẩn có thể chấp nhận được trong những địa điểm và thời gian
Trang 8xác định Đây là những người cảm thấy bị tước đoạt một cái mà đại bộphận những người khác trong xã hội được hưởng Do đó chuẩn mực đểxem xét nghèo khổ tương đối thường khác nhau giữa các nước hoặc giữacác vùng Nghèo khổ tương đối là một hình thức biểu hiện sự bất bình đẳngtrong phân phối thu nhập.
1.2 Khái niệm về nghèo đói
Xuất phát từ những quan niệm về nghèo đói ở trên, có những kháiniệm về nghèo đói như sau:
Nghèo là tình trạng bị thiếu thốn ở nhiều phương diện như: thu nhập
bị hạn chế hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để bảo đảm tiêudùng những lúc khó khăn và dễ bị tổn thương trước những đột biến, ít đượctham gia vào quá trình ra quyết định Như vậy nghèo khổ được định nghĩatrên nhiều khía cạnh khác nhau Việc đo lường được từng khía cạnh đó mộtcách nhất quán là điều rất khó, còn gộp cả những khía cạnh đó vào một sốchỉ số nghèo khổ hay thước đo nghèo khổ duy nhất là không thể
Hội nghị chống đói nghèo khu vực châu Á- Thái Bình Dương doESCAP tổ chức tại Bangkok – Thái Lan (9/1993) đã đưa ra định nghĩachung như sau: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không đượchưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầunày đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội vàphong tục tập quán của địa phương” Định nghĩa này hiện nay đang đượcnhiều quốc gia sử dụng trong đó có Việt Nam
1.2 Các quan điểm về nghèo đói.
Theo quan điểm tiếp cận của WB, thì phạm vi của sự nghèo khổngày càng mở rộng Nghèo khổ thường gắn với sự thiếu thốn trong tiêudùng Nhưng từ giữa năm 1970 và những năm 1980, nghèo khổ được tiếpcận theo nhu cầu cơ bản bao gồm: tiêu dùng, dịch vụ xã hội và nguồn lực
Trang 9Từ giữa những năm 1980 đến nay tiếp cận theo năng lực và cơ hội, gồm:tiêu dùng, dịch vụ xã hội, nguồn lực và tính dễ bị tổn thương Từ cách tiếpcận trên, khi đánh giá tình trạng nghèo khổ không chỉ dựa theo tiêu chí thunhập mà còn gồm cả những tiêu chí không gắn với thu nhập.
Tuy nhiên ở những nước đang phát triển, việc phân tích và đánh giánghèo khổ chủ yếu dựa trên tiêu chí thu nhập (hay chi tiêu) Phương phápnày cho phép so sánh tình trạng nghèo khổ giữa các nước, các vùng khácnhau theo thời gian nhằm cung cấp thông tin cho các chính sách công vàđánh giá mức độ thành công của các chính sách đó Nhưng làm thế nào đểbiểu thị “ nghèo khổ” bằng một con số có ý nghĩa? Các nhà kinh tế đã dựatrên khái niệm “nghèo khổ tuyệt đối” Khái niệm này nhằm biểu thị mộtmức thu nhập (chi tiêu) tối thiểu cần thiết để đảm bảo những “nhu cầu vậtchất cơ bản” như lương thực, quần áo, nhà ở để cho mỗi người có thể “tiếptục tồn tại” Tuy nhiên khi xem xét mức nghèo khổ theo khái niệm trên nảysinh một số vấn đề sau:
Thứ nhất: Việc xác định mức này là một vấn đề chủ quan gây khó khăn
cho việc so sánh giữa các nước
Thứ hai: Mức thu nhập tối thiểu cần thiết sẽ thay đổi theo tiêu chuẩn của
mức sống theo thời gian và theo quốc gia (hay khu vực) Chẳng hạn, mộtngười dân ở nước phát triển hiện nay được phân loại là nghèo thì thực ra họlại còn có mức sống tốt hơn những người dân ở nước họ vào những năm
60 hoặc một số người dân ở các nước kém phát triển ngày nay mà họkhông được coi là nghèo
Do vậy một phương pháp đã được các nhà kinh tế xử dụng là xác định
“giới hạn (ranh giới) nghèo khổ” hay còn gọi là “đường nghèo khổ”
Có hai cách tiếp cận “giới hạn nghèo khổ” là tiếp cận theo thu nhập và tiếpcận theo chi tiêu Tuy nhiên phương pháp được sử dụng nhiều hơn là tiếp
Trang 10cận theo chi tiêu Vì chi tiêu của hộ gia đình là chỉ số liên quan chặt chẽđến phúc lợi hơn là thu nhập Và số liệu về thu nhập thường là không chínhxác đặc biệt ở các nước đang phát triển.
Có những phương pháp đánh giá “giới hạn nghèo khổ sau”
- Phương pháp của Ngân hàng Thế Giới:
Phương pháp mà WB đã sử dụng ở nhiều nước đang phát triển là dựavào ngưỡng chi tiêu tính bằng USD mỗi ngày Ngưỡng nghèo thường dùnghiện nay là 1 USD và 2 USD/ngày (theo sức mua tương đương) Đây làngưỡng chi tiêu có thể đảm bảo cung cấp năng lượng tối thiểu cần thiết chocon người, mức chuẩn đó là 2100 calo/người/ngày
Ngưỡng nghèo này gọi là ngưỡng nghèo lương thực, thực phẩm (nghèo đói
ở mức thấp) Vì mức chi tiêu này chỉ đảm bảo mức chuẩn về cung cấp nănglượng mà không đủ chi tiêu cho những hàng hoá phi lương thực Nhữngngười có mức chi tiêu cho những hàng hoá phi lương thực Những người cómức chi tiêu dưới mức chi cần thiết để đạt được 2100 calo/ngày gọi là
“nghèo về lương thực, thực phẩm”
- Phương pháp của Việt Nam:
Ở Việt Nam hiện nay, có phương pháp tiếp cận với ranh giới nghèođói như sau:
+ Phương pháp dựa cả vào thu nhập và chi tiêu theo đầu người(phương pháp của tổng cục thống kê)
Phương pháp này đã xác định 2 ngưỡng nghèo:
* Ngưỡng nghèo thứ nhất là số tiền cần thiết để mua đựoc một sốlương thực hàng ngày để đảm bảo mức độ dinh dưỡng Như vậy, phươngpháp này tiếp cận tương tự cách tiếp cận của WB
* Ngưỡng nghèo thứ hai, thường được gọi là “ngưỡng nghèo chung”ngưỡng này bao gồm cả phần chi tiêu cho hàng hoá phi lương thực
Trang 11Ngưỡng nghèo Việt Nam được tính toán từ cuộc điều tra mức sống dân cư
1993 và 1998 như sau:
Bảng 1: Ngưỡng nghèo ở Việt Nam
Chi tiêu bình quân đầu người/năm1993
(Tính vào thời điểm
1/1993)
1998(Tính vào thời điểm
1/1998)Ngưỡng nghèo về
lương thực, thực phẩm
750 nghìn đồng 1.287 nghìn đồngNgưỡng nghèo chung 1.116 nghìn đồng 1788 nghìn đồng
+ Phương pháp dựa trên thu nhập của hộ gia đình (phương pháp của
Bộ Lao động-Thương binh xã hội) Phương pháp này hiện đang được sửdụng để xác định chuẩn nghèo đói của chương trình xoá đói giảm nghèoquốc gia (Chuẩn nghèo quốc gia)
Chuẩn nghèo áp dụng cho thời kỳ 2001-2005 được xác định dựa trên thunhập theo 3 vùng Cụ thể là:
* Vùng Hải đảo và vùng núi nông thôn: Bình quân thu nhập là 80nghìn đồng/người/tháng
* Vùng đồng bằng nông thôn: 100 nghìn đồng/người /tháng
Trang 12đối” là những người mà 4/5 chi tiêu của họ dành cho nhu cầu về ăn mà chủyếu là lương thực và một chút ít thực phẩm (thịt hoặc cá); tất cả đều thiếudinh dưỡng; chỉ khoảng 1/3 số người lớn biết chữ; và tuổi thọ trung bìnhcủa người lao động khoảng 40 năm.
Một cách tiếp cận khác cũng thường được sủ dụng để xem xét nghèođói là chia dân cư thành các nhóm khác nhau ( theo 5 nhóm) Nhóm 1/5nghèo nhất là 20% dân số, những người sống trong các hộ gia đình có mứcthu nhập (chi tiêu) thấp nhấp
Bên cạnh sự “nghèo khổ tuyệt đối”, ở nhiều nước còn xét đến sự
“nghèo khổ tương đối” “Nghèo khổ tương đối” được xét trong tương quan
xã hội, phụ thuộc địa điểm dân cư sinh sống và phương thức tiêu thụ phổbiến nơi đó Sự nghèo khổ tương đối được hiểu là những người sống dướimức tiêu chuẩn có thể chấp nhận được trong những địa điểm và thời gianxác định Đây là những người cảm thấy bị tước đoạt một cái mà đại bộphận những người khác trong xã hội được hưởng Do đó chuẩn mực đểxem xét nghèo khổ tương đối thường khác nhau giữa các nước hoặc giữacác vùng Nghèo khổ tương đối là một hình thức biểu hiện sự bất bình đẳngtrong phân phối thu nhập
2 Các thước đo về nghèo đói.
Xuất phát từ các tiếp cận định nghĩa sự nghèo khổ nói trên, thước đo
sử dụng phổ biến hiện nay để đánh giá nghèo khổ về thu nhập là đếm sốngười sống dưới chuẩn nghèo Gọi là “chỉ số đếm đầu người” (HC-Headcount index) Từ đó xác định tỷ lệ nghèo đói (tỷ lệ đếm đầu-HCR)
Tỷ lệ nghèo được tính bằng tỷ lệ phần trăm của dân số Việc sử dụngchỉ số này là cần thiết để đánh giá tình trạng nghèo và những thành côngtrong mục tiêu “giảm nghèo” của quốc gia và thế giới Tuy nhiên, để phảnánh được tính chất gay gắt của nghèo đói và để có chính sách cần thiết hữu
Trang 13hiệu nhằm giảm nghèo cho mọi đối tượng là người nghèo, các nhà kinh tế
đã xây dựng chỉ số: “Khoảng cách nghèo” Khoảng cách nghèo là phầnchênh lệch giữa mức chi tiêu của người nghèo và ngưỡng nghèo, tính bằngphần trăm so với ngưỡng nghèo Khi so sánh các nhóm dân cư trong mộtnước, khoảng cách nghèo cho biết tính chất và mức độ của nghèo khổ khácnhau giữa các nhóm
Ngoài ra còn có những thước đo khác để đánh giá nghèo đói như:
- Chỉ số nghèo khổ (chỉ số nghèo nhân lực-HPI)
Chỉ số nghèo khổ là thước đo tổng hợp đánh giá sự nghèo đói đachiều và sự thiệt thòi của con người HPI xem xét vấn đề nghèo đói và thiệtthòi thông qua các khía cạnh : cuộc sống lâu dài, khoẻ mạnh; sự đảm bảo
về kinh tế và sự hội nhập về xã hội
Hai cách tiếp cận trình bày ở trên (PQLI và BNA) chỉ có ý nghĩa khixem xét nền kinh tế của quốc gia đang phát triển; trong khi đó HPI đưa rahai hệ thống chỉ tiêu riêng biệt cho các nước phát triển và đang phát triển
Đối với các nước đang phát triển, HPI gồm có:
-Tỷ lệ người dự kiến không sống qua 40 tuổi
-Tỷ lệ người mù chữ
-Tỷ lệ người không được tiếp cận với các dịch vụ y tế, nước sạch.Đối với các nước phát triển, HPI gồm có:
-Tỷ lệ người dự kiến sống không quá 60 tuổi
-Tỷ lệ người chưa đạt tiêu chuẩn đọc, viết
-Tỷ lệ số người nghèo về thu nhập
-Tỷ lệ người thiệt thòi trong hoà nhập xã hội
Chỉ số chất lượng vật chất của cuộc sống (PQLI)
Chỉ số này được tính căn cứ vào 3 yếu tố: tỷ lệ chết yểu, tỷ lệ biếtchữ và tuổi thọ trung bình Tỷ lệ trẻ em chết yểu thể hiện chất lượng củacông tác y tế, chăm sóc sức khoẻ của người mẹ, sự trong sạch của môitrường, mức độ sẵn có của nước sạch Tuổi thọ trung bình phản ánh mức
độ chăm sóc chung
Trang 14- Cách tiếp cận này đã đưa được một phần lớn hiệu quả các hoạtđộng phúc lợi xã hội và một chỉ số tổng hợp Tuy nhiên, chỉ số chất lượngvật chất của cuộc sống chỉ có tác dụng trong việc so sánh trình độ phát triểncủa những nước có thu nhập trung bình trở xuống; nói cách khác, một khidinh dưỡng, y tế và giáo dục đã đạt đến một trình độ nào đó thì chỉ số PQLI
sẽ không còn thay đổi theo sự biến đổi của thu nhập nữa
- Các " Nhu cầu thiết yếu" (BNA)
Cách tiếp cận "các nhu cầu thiết yếu" nhằm vào việc cực tiểu hoávấn đề nghèo đói thay vì tối đa hoá sản lượng Những người theo hướngtiếp cận này cho rằng tăng trưởng kinh tế là không có hiệu quả nếu nókhông có những chương trình tập trung trực tiếp vào đáp ứng những nhucầu thiết yếu của 40-50% dân số nghèo khổ nhất Theo họ, những nhu cầuthiết yếu này gồm có:
- Nhu cầu dinh dưỡng: được tính thông qua chỉ số lượng calo/người/ngày
- Nhu cầu về giáo dục: được tính thông qua (i) tỷ lệ biết chữ củangười trưởng thành (tính cho người từ 15 tuổi trở lên) (ii) tỷ lệ nhập họcthô và ròng (iii) số năm đi học bình quân (iv) chi tiêu của Chính phủ dànhcho giáo dục
- Nhu cầu về sức khoẻ: được tính theo tuổi thọ bình quân
- Nhu cầu về vệ sinh: tính qua các chỉ tiêu (i) tỷ lệ chết yểu (trungbình 1000 trẻ em sinh ra) (ii) phần trăm dân số được hưởng các phươngtiện vệ sinh
- Nhu cầu về nước sạch: tính qua các chỉ tiêu (i) tỷ lệ chết yểu (trungbình 1000 trẻ em sinh ra) (ii) phần trăm dân số được hưởng các nguồn nướcsạch
- Nhu cầu về nhà ở: m2/người
Trang 15Cách tiếp cận từ các nhu cầu thiết yếu đưa ra một loạt các chỉ số thểhiện nhiều mặt của phúc lợi dành cho con người Tuy nhiên, cách tiếp cậnnày chỉ phù hợp cho việc đánh giá một nền kinh tế đang phát triển vì nónhấn mạnh vào việc giảm nghèo đói trên khía cạnh thoả mãn những nhucầu thiết yếu đối với con người-những vấn đề không còn đặt ra với một nềnkinh tế đã phát triển.
II Sự cần thiết phải xoá đói giảm nghèo và các yếu tố ảnh hưởng đến việc xoá đói giảm nghèo.
1 Sự cần thiết phải xoá đói giảm nghèo.
Xét tình hình thực tế, khi nước ta bước vào thời kỳ đổi mới thì sựphân hoá giàu nghèo diễn ra rất nhanh nếu không tích cực xoá đói giảmnghèo và giải quyết tốt các vấn đề xã hội khác thì khó có thể đạt được mụctiêu xây dựng một cuộc sống ấm no về vật chất, tốt đẹp về tinh thần, vừaphát huy được truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu được yếu tốlành mạnh và tiến bộ của thời đại
Do đó trong chính sách phát triển kinh tế -xã hội thời kỳ 1996-2000nhà nước đã xây dựng được các chương trình mục tiêu quốc gia, trong đó
có chương trình xoá đói giảm nghèo quốc gia Xoá đói giảm nghèo khôngchỉ là vấn đề kinh tế đơn thuần, mà nó còn là vấn đề kinh tế -xã hội quantrọng, do đó phải có sự chỉ đạo thống nhất giữa chính sách kinh tế vớichính sách xã hội
Xuất phát từ điều kiện thực tế nước ta hiện nay, xoá đói giảm nghèo
về kinh tế là điều kiện tiên quyết để xoá đói giảm nghèo về văn hoá, xãhội Vì vậy, phải tiến hành thực hiện xoá đói giảm nghèo cho các hộ nôngdân sinh sống ở vùng cao, vùng sâu, hải đảo và những vùng căn cứ khángchiến cách mạng cũ, nhằm phá vỡ thế sản xuất tự cung, tự cấp, độc canh,đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế sản xuất nông nghiệp trên toàn quốctheo hướng sản xuất hàng hoá, phát triển công nghiệp nông thôn, mở rộng
Trang 16thị trường nông thôn, tạo việc làm tại chỗ, thu hút lao đông ở nông thônvào sản xuát tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp và dịch vụ là con đường
cơ bản để xoá đói giảm nghèo ở nông thôn Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ởnông thôn phải được xem như là 1 giải pháp hữu hiệu, tạo bước ngoặt chophát triển ở nông thôn, nhằm xoá đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiệnnay
Tiếp tục đổi mới nền kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá trên cơ sởnền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước Đó là con đường để chomọi người vượt qua đói nghèo, để nhà nước có thêm tiềm lực về kinh tế đểchủ động xoá đói giảm nghèo Đây là sự thể hiện tư tưởng kinh tế của HồChủ Tịch:" Giúp đỡ người vươn lên khá, ai khá vươn lên giàu, ai giàu thìvươn lên giàu thêm".Thực hiện thành công chương trình xoá đói giảmnghèo không chỉ đem lại ý nghĩa về mặt kinh tế là tạo thêm thu nhập chínhđáng cho người nông dân ổn định cuộc sống lâu dài, mà xoá đói giảmnghèo, phát triển kinh tế nông thôn còn là nền tảng, là cơ sở để cho sự tăngtrưởng và phát triển 1 nền kinh tế bền vững, góp phần vào sự nghiệp đổimới đất nước Hơn thế nữa nó còn có ý nghĩa to lớn về mặt chính trị xã hội.Xoá đói giảm nghèo nhằm nâng cao trình độ dân trí, chăn sóc tốt sức khoẻnhân dân, giúp họ có thể tự mình vươn lên trong cuộc sống, sớm hoà nhậpvào cuộc sống cộng đồng, xây dựng được các mối quan hệ xã hội lànhmạnh, giảm được khoảng trống ngăn cách giữa người giàu với ngườinghèo, ổn định tinh thần, có niềm tin vào bản thân, từ đó có lòng tin vàođường lối và chủ trương của Đảng và Nhà nước Đồng thời hạn chế và xoá
bỏ được các tệ nạn xã hội khác, bảo vệ môi trường sinh thái
Ngoài ra còn có thể nói rằng không giải quyết thành công các nhiệm
vụ và yêu cầu xoá đói giảm nghèo thì sẽ không chủ động giải quyết được
xu hướng gia tăng phân hoá giàu nghèo, có nguy cơ đẩy tới phân hoá giai
Trang 17cấp với hậu quả là sự bần cùng hoá và do vậy sẽ đe doạ tình hình ổn địnhchính trị và xã hội làm chệch hướng XHCN của sự phát triển kinh tế -xãhội Không giải quyết thành công các chương trình xoá đói giảm nghèo sẽkhông thể thực hiện được công bằng xã hội và sự lành mạnh xã hội nóichung Như thế mục tiêu phát triển và phát triển bền vững sẽ không thểthực hiện được Không tập trung nỗ lực, khả năng và điều kiện để xoá đóigiảm nghèo sẽ không thể tạo được tiền đề để khai thác và phát triển nguồnlực con người phục vụ cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước nhằm đưa nước
ta đạt tới trình độ phát triển tương đương với quốc tế và khu vực, thoát khỏinguy cơ lạc hậu và tụt hậu
2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xoá đói giảm nghèo.
Công tác xóa đói giảm nghèo là một công tác rất khó khăn và quantrọng đối với sự phát triển của một quốc gia, khu vực và toàn thế giới Việcxét các yếu tố ảnh hưởng đến việc xóa đói giảm nghèo là tiền đề quan trọngtrong chiến lược xóa đói giảm nghèo của mỗi quốc gia cũng như trongcông tác triển khai các dự án xóa đói giảm nghèo
2.1 Yếu tố khách quan.
2.1.1 Điều kiện tự nhiên.
Điều kiện tự nhiên là một yếu tố đầu tiên và quan trọng ảnh hưởngđến công tác xóa đói giảm nghèo Nếu điều kiện tự nhiên ưu đãi: như khíhậu tốt, địa hình bằng phẳng, giàu tài nguyên, nằm trong khu vực kinh tếmạnh … thì việc xóa đói giảm nghèo sẽ thuận lợi hơn rất nhiều kể cả vềtiến độ và chi phí cho việc xóa đói giảm nghèo
2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội.
Điều kiện kinh tế xã hội là yếu tố do lịch sử đem lại Quá trình lịch
sử của một quốc gia đưa lại những xuất phát điểm khác nhau như kinh tếkém phát triển do hậu quả của chiến tranh kéo dài…, nền văn hóa Phương
Trang 18Đông hay phương Tây… làm ảnh hưởng đến tác phong, hiệu quả lao động,sang tạo làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển của một quốc gia, quyếtđịnh nhiều đến tình trạng nghèo đói
2.2 Yếu tố chủ quan.
2.2.1 Năng lực quản lý của Nhà nước.
Hiện nay năng lực của các quốc gia quyết định nhiều đến công tácxóa đói giảm nghèo của các quốc gia đó Một nhà nước có năng lực quản lýtốt dẫn đến hiệu quả công tác quản lý và triển khai công tác xóa đói giảmnghèo cao Đồng thời làm tăng sự tin tưởng của các tổ chức, quốc gia pháttriển khác trên thế giới trong việc hỗ trợ công tác xóa đói giảm nghèo.Cóthể nhanh chóng giảm được tình trạng nghèo đói của quốc gia đó
2.2.2 Các quan điểm, chính sách phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước.
Mỗi quốc gia có một chiến lược phát triển kinh tế xã hội khác nhautrong từng thời kỳ và giai đoạn khác nhau Một phần dẫn đến sự khác nhaunày là do chế độ chính trị, tầm nhận thức của Nhà nước cũng như điều kiệnkinh tế xã hội của quốc gia đó Dẫn đến các quan điểm về xóa đói giảmnghèo của mỗi quốc gia là khác nhau làm ảnh hưởng đến công tác xóa đóigiảm nghèo của quốc gia đó
Trang 19III NGUYÊN NHÂN XOÁ ĐÓI NGHÈO
1 Nguyên nhân đói nghèo của Việt nam.
Ở Việt Nam nguyên nhân chính gây ra đói nghèo có thể phân theo 3 nhóm:
- Nhóm nguyên nhân điều kiện tự nhiên: khí hậu khắc nghiệt, thiêntai, bão lụt, hạn hán, sâu bệnh, đất đai cằn cỗi, địa hình phức tạp, giaothông khó khăn đã và đang kìm hãm sản xuất, gây ra tình trạng đói nghèocho cả một vùng, khu vực
- Nhóm nguyên nhân chủ quan của người nghèo: thiếu kiến thức làm
ăn, thiếu vốn, đông con, thiếu lao động, không có việc làm, mắc các tệ nạn
xã hội, lười lao động, ốm đau, rủi ro
- Nhóm các nguyên nhân thuộc về cơ chế chính sách: Thiếu hoặckhông đồng bộ về chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các khuvực khó khăn, chính sách khuyến khích sản xuất, vốn tín dụng, hướng dẫncách làm ăn, khuyến nông,lâm, ngư,chính sách trong giáo dục đào tạo, ytế,giải quyết đất đai, định canh định cư, kinh tế mới và nguồn lực đầu tư cònhạn chế
Kết quả điều tra về xã hội học cho thấy:
- Thiếu vốn: 70-90% tổng số hộ được điều tra
- Đông con: 50-60% tổng số hộ được điều tra
- Rủi ro, ốm đau: 10-15% tổng số hộ được điều tra
- Thiếu kinh nghiệm làm ăn: 40-50% tổng số hộ được điều tra
- Neo đơn, thiếu lao động: 6-15% tổng số hộ được điều tra
- Lười lao động, ăn chơi hoang phí: 5-6% tổng số hộ được điều tra
- Mắc tệ nạn xã hội: 2-3% tổng số hộ được điều tra
IV TỔNG QUAN KINH NGHIỆM XOÁ ĐÓI, GIẢM NGHÈO Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI.
Trang 201 Bức tranh chung về nghèo đói trên thế giới.
Theo bản báo cáo được gửi cho Tổng thư ký LHQ Kofi Annan, hơn
500 triệu người có thể thoát khỏi cảnh đói nghèo, 250 triệu người sẽ không
bị đói kéo dài và 30 triệu trẻ em có thể được cứu sống nếu các nước giàutăng gấp đôi viện trợ phát triển của mình trong 10 năm tới
Ông Kofi Annan nói: “Lãnh đạo của các nước phát triển sẽ gặp nhautại New York vào tháng 9 tới để xem xét lại những kết quả đã đạt đượctrong việc thực hiện các mục tiêu đặt ra trong tuyên bố thiên niên kỷ Tôi
hy vọng tại cuộc họp này, các nhà lãnh đạo sẽ đạt được những quyết địnhquan trọng để chúng ta có thể cùng nhau xây dựng một thế giới an toàn hơn
và tốt đẹp hơn”
Cũng trong bản cáo này, 265 chuyên gia đã đưa ra những dự án dàihạn cũng như những biện pháp trước mắt như cung cấp màn chống muỗihay lập ra các chương trình cung cấp bữa trưa miễn phí tại trường họcnhằm đạt được mục tiêu thiên niên kỷ đặt ra tại cuộc họp của LHQ năm
2000 Trong đó có việc giảm đói nghèo trên toàn thế giới, chống lại cănbệnh AIDS và tạo điều kiện cho các em nhỏ được đến trường
Theo ước tính của các chuyên gia của LHQ, trợ giúp phát triển phảiđạt 195 tỷ USD vào năm 2015 thì cộng đồng quốc tế mới hy vọng đạt đượcmục tiêu thiên niên kỷ đặt ra năm 2000 Theo bản báo cáo, các nước giàunên tăng viện trợ phát triển từ 0,25% GDP của mình năm 2003 thành0,44% năm 2006 và 0,7 % vào năm 2015
3 Những bài học kinh nghiệm rút ra trong công cuộc xoá đói giảm nghèo hiện nay.
Một thực tế cho thấy rằng hầu hết những người nghèo đều tập trung
ở khu vực nông thôn Bởi vì đây là khu vực hết sức khó khăn về mọi mặtnhư: Điện, nước sinh hoạt, đường, trạm y tế … ở các nước đang phát triển
Trang 21với nền kinh tế sản xuất là chủ yếu thì sự thành công của chương trình xoáđói giảm nghèo phụ thuộc vào chính sách của nhà nước đối với chươngtrình phát triển nông nghiệp và nông thôn của các quốc gia Thực tế chothấy rằng các con rồng châu Á như: Hàn Quốc, Singapo, Đài Loan, cácnước Asean và Trung Quốc đều rất chú ý đến phát triển nông nghiệp vànông thôn Xem nó không những là nhiệm vụ xây dựng nền móng cho quátrình CNH-HĐH, mà còn là sự đảm bảo cho phát triển bền vững của nềnkinh tế quốc dân Tuy nhiên không phải nước nào cũng ngay từ đầu vàtrong suốt quá trình vật lộn để trở thành các con rồng đều thực hiện sự pháttriển cân đối, hợp lý ở từng giai đoạn, từng thời kỳ giữa công nghiệp vớinông nghiệp Dưới đây là kết quả và bài học kinh nghiệm của một số nướctrên thế giới.
3.1 Hàn quốc
Sau chiến tranh thế giới thứ 2, chính phủ Hàn Quốc không chú ý đếnviệc phát triển nông nghiệp nông thôn mà đi vào tập trung phát triển ở cácvùng đô thị, xây dựng các khu công nghiệp tập trung ở các thành phố lớn,thế nhưng 60% dân số Hàn Quốc sống ở khu vực nông thôn, cuộc sốngnghèo đói, tuyệt đại đa số là tá điền, ruộng đất tập trung vào sở hữu củagiai cấp địa chủ, nhân dân sống trong cảnh nghèo đói tột cùng Từ đó gây
ra làn sóng di dân tự do từ nông thôn vào thành thị để kiếm việc làm, chínhphủ không thể kiểm soát nổi, gây tình trạng mất ổn định chính trị-xã hội
Để ổn định tình hình chính trị-xã hội, Chính phủ Hàn Quốc buộc phải xemxét lại các chính sách kinh tế-xã hội của mình, cuối cùng đã phải chú ý đếnviệc điều chỉnh các chính sách phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn và mộtchương trình phát triển nông nghiệp nông thôn được ra đời gồm 4 nội dung
cơ bản:
Trang 22- Mở rộng hệ thống tín dụng nông thôn bằng cách tăng số tiền cho
hộ nông dân vay
- Nhà nước thu mua ngũ cốc của nông dân với giá cao
- Thay lúa giống mới có năng suất cao
- Khuyến khích xây dựng cộng đồng mới ở nông thôn bằng việcthành lập các HTX sản xuất và các đội ngũ lao động để sửa chữa đường xá,cầu cống và nâng cấp nhà ở
Với những nội dung này, Chính phủ Hàn Quốc đã phần nào giúpnhân dân có việc làm, ổn định cuộc sống, giảm bớt tình trạng di dân cácthành phố lớn để kiếm việc làm Chính sách này đã được thể hiện thôngqua kế hoạch 10 năm cải tiến cơ cấu nông thôn nhằm cải tiến cơ cấu kinh tếnông thôn theo hướng đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp, từng bước đưanền kinh tế phát triển nhằm xóa đói giảm nghèo cho dân chúng ở khu vựcnông thôn
Tóm lại, Hàn Quốc đã trở thành một nước công nghiệp phát triểnnhưng chính phủ vẫn coi trọng những chính sách có liên quan đến việc pháttriển kinh tế nông nghiệp nông thôn nhằm xoá đói giảm nghèo cho dânchúng ở khu vực nông thôn, có như vậy mới xoá đói giảm nghèo cho nhândân tạo thế ổn định và bền vững cho nền kinh tế
3.2 Đài Loan.
Đài Loan là một trong những nước công nghiệp mới (NICs), nhưng
là một nước thành công nhất về mô hình kết hợp chặt chẽ giữa phát triểncông nghiệp với phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn (mặc dù ĐàiLoan không có các điều kiện thuận lợi như một số nước trong khu vực) Đóchính là Chính phủ Đài Loan đã áp dụng thành công một số chính sách vềphát triển kinh tế xã hội như:
Trang 23- Đưa lại ruộng đất cho nông dân, tạo điều kiện hình thành các trangtrại gia đình với quy mô nhỏ, chủ yếu đi vào sản xuất nông phẩm theohướng sản xuất hàng hoá.
- Đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp, công nghiệp hoá nông nghiệpnông thôn, mở mang thêm những ngành sản xuất kinh doanh ngoài nôngnghiệp cũng được phát triển nhanh chóng, số trang trại vừa sản xuất nôngnghiệp vừa kinh doanh ngoài nông nghiệp chiếm 91% số trang trại sản xuấtthuần nông chiếm 9% Việc tăng sản lượng và tăng năng suất lao độngtrong nông nghiệp đến lượt nó lại tạo điều kiện cho các ngành công nghiệpphát triển
- Đầu tư cho kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội để phát triểnnông thôn Đài Loan rất coi trọng phát triển mạng lưới giao thông nôngthôn cả về đường bộ, đường sắt và đường thuỷ
Trong nhiều thập kỷ qua, Đài Loan coi trọng việc phát triển giaothông nông thôn đều khắp các miền, các vùng sâu vùng xa, công cuộc điệnkhí hoá nông thôn góp phần cải thiện điều kiện sản xuất, điều kiện sinhhoạt ở nông thôn Chính quyền Đài Loan cho xây dựng các cơ sở sản xuấtcông nghiệp ngay ở vùng nông thôn để thu hút những người lao động nhànrỗi ở khu vực nông nghiệp, tăng thu nhập cho những người nông dânnghèo, góp phần cho họ ổn định cuộc sống Đài Loan áp dụng chế độ giáodục bắt buộc đối với những người trong độ tuổi, do đó trình độ học vấn củanhân dân nông thôn được nâng lên đáng kể, cùng trình độ dân trí được nânglên và điều kiện sống được cải thiện, tỷ lệ dân số đã giảm từ 3.2%/năm(1950) xuống còn 1.5%/năm (1995) Hệ thống y tế, chăm sóc sức khoẻ banđầu cho nhân dân cũng được quan tâm đầu tư thích đáng
Ngoài Hàn Quốc, Đài Loan còn 1 số nước Asean cũng có nhữngchương trình phát triển kinh tế xã hội bằng con đường kết hợp giữa những
Trang 24ngành công nghiệp mũi nhọn với việc phát triển kinh tế nông thôn vơi mụcđích xoá đói giảm nghèo trong dân chúng nông thôn Điều đặc trưng quantrọng của các nước Asean là ở chỗ những nước này đều có nền sản xuấtnông nghiệp lạc hậu, bước vào công nghiệp hoá có nghĩa là vào lúc khởiđầu của quá trình công nghiệp hóa Tất cả các nước Asean (Trừ Singapor)đều phải dựa vào sản xuất nông nghiệp, lấy phát triển nông nghiệp là mộttrong những nguồn vốn cho phát triển công nghiệp Điển hình là nhữngnước như Thái Lan, Indonexia, Philipin và Malaxia Tất cả những nước nàyphần lớn dân cư sống ở khu vực nông thôn, đời sống kinh tế nghèo nàn lạchậu, thu nhập chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp Chính vì vậy mà chính phủcác nước này trong quá trình hoạch định các chính sách kinh tế-xã hội họđều rất chú trọng đến các chính sách nhằm phát triển kinh tế nông nghiệpnông thôn, giành cho nông nghiệp nông thôn những ưu tiên cần thiết vềvốn đầu tư để tiến hành cuộc cách mạng xanh trong nông nghiệp Tuynhiên khi bước vào giai đoạn 2 của quá trình công nghiệp hoá, tất cả cácnước Asean đều nhận thấy rằng không thể đi lên bằng con đường nôngnghiệp mà phải đầu tư cho các ngành công nghiệp, dịch vụ Chính vì lẽ đó
mà các chính sách về phát triển nông nghiệp nông thôn cũng như cácchương trình phát triển khác như chương trình xoá đói giảm nghèo khôngđược chú trọng như ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá Do vậy,khoảng cách về thu nhập của những người giàu với những người nghèo làrất lớn Sự phân tầng xã hội là rõ rệt, gây mất ổn định về tình hình chính trị
xã hội, từ đó làm mất ổn định trong phát triển kinh tế
Sự phồn vinh của Băng Cốc, Manila được xây dựng trên nghèo khổcủa các vùng nông thôn như Đông Bắc Thái lan, miền trung đảo Ludon.Cho đến nay sự bất bình đẳng về thu nhập ở Thái Lan vẫn tiếp tục gia tăng,các thành phố lớn, các khu công nghiệp vẫn có tỷ lệ tăng trưởng cao, năm
Trang 251981 Băng Cốc đóng góp cho GDP ở các vùng khác lại giảm xuống như ởmiền Bắc và miền Nam Thái Lan phần đáng góp đã giảm xuốn 14.7% năm
1981 xuống còn 10% năm 1989
Ở Malaixia, Chính phủ đã thực hiện chính sách phân phối lại trongnền kinh tế quốc dân, nhưng việc phân phối lại thì lợi ích vẫn chủ yếu tậptrung cho tầng lớp giàu có, những người nghèo khổ đặc biệt là nông dânhầu như không được chia sẻ lợi ích đó Khái niệm công bằng ở đây là sựcông bằng giữa tầng lớp giàu có
Vào năm 1985 ở Malayxia có tới 82.000 hộ gia đình ở khu vực nôngthôn thuộc diện nghèo đói
Tình trạng nghèo khổ ở Philipin còn tồi tệ hơn, năm 1988 tỷ lệ nghèođói ở Philippin lên tới 49,5% dân số trong 3,1 triệu hộ gia đình đói nghèothì tới 2.2 triệu gia đình (72,8%) sống ở khu vực nông thôn, đời sống chủyếu dựa vào nghề nông, còn 843.000 hộ (27.2%) sống ở khu vực phi nôngnghiệp Điều này cho thấy đa số những người nghèo Philippin sống tậptrung ở khu vực nông thôn
Tình trạng nghèo khổ ở các nước ASEAN vẫn tiếp tục gia tăng, cùngvới quá trình tăng trưởng kinh tế của các quốc gia này, điều này cho thấy
do sự tăng trưởng kinh tế không theo kịp sự tăng trưởng dân số, mặt khác là
do quá trình chuyển dịch cơ cấu sang những ngành sản xuất công nghệ caocủa một số nước ASEAN hiện nay làm cho nạn thất nghiệp ngày càng trầmtrọng hơn.Để giải quyết tình trạng đói nghèo, chính phủ các nước ASEAN
có rất nhiều cố gắng
Chính phủ Inđônêxia trong kế hoạch 5 năm lần năm đã tăng chỉ tiêucho các hoạt động tạo ra những việc làm mới cho những người chưa cóviệc làm, nhằm tạo thu nhập ổn định cho người lao động, góp phần tích cựccho công cuộc xoá đói giảm nghèo cho nhân dân
Trang 26Ở Thái Lan, một trong những biện pháp chống nghèo khổ mà nướcnày đã áp dụng là phân bố cơ sở sản xuất công nghiệp xây dựng mới vềkhu vực nông thôn, nơi có sẵn tài nguyên thiên nhiên nhằm thu hút số laođộng dôi dư ở khu vực nông nghiệp( để khắc phục tình trạng dân lao động
di cư vào thành phố kiếm việc làm) làm tăng thu nhập cho người dân và giađình họ Biện pháp này còn nhằm mục đích đô thị hoá nông thôn, đưanhững vùng nông thôn hẻo lánh xa xôi vào dòng phát triển chung của đấtnước
Những nỗ lực trong các giải pháp chống nghèo khổ của các nướcASEAN đã đem lại những kết quả đáng kể, song để khắc phục tình trạngđói nghèo có tính lâu dài bền vững thì chính phủ các nước này phải duy trì
và đẩy mạnh nhịp độ tăng trưởng kinh tế Khi nền kinh tế phát triển tạo nên
cơ sở vật chất dể phân phối lại thu nhập qua sự điều tiết của chính phủ vàkhi nền kinh tế phát triển thì tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế được nâng cao,
từ đó chính phủ đầu tư cho việc xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng vàgiải quyết các vấn đề xã hội, nhất là chương trình xoá đói giảm nghèo mộtcách hiệu quả nhất
3.3 Trung Quốc.
Ngay từ khi Đại Hội Đảng XII của Đảng cộng sản Trung Quốc năm
1984, chính phủ Trung Quốc đã thực hiện cải cách trên nhiều lĩnh vực,nhung cái chính là cải cách cơ cấu nông nghiệp nông thôn.Mục đích của nó
là làm thay đổi các quan hệ chính trị, kinh tế ở nông thôn, giảm nhẹ gánhnặng về tài chính đã đè quá nặng lên những người nghèo khổ ở nông thôntrong nhiều năm qua, phục hồi ngành sản xuất nông nghiệp
Năm 1985 Đặng Tiểu Bình đã nói:" Sự nghiệp của chúng ta sẽ không
có ý nghĩa gì nhiều nếu không có sự ổn định ở nông thôn " Sau khi ápdụng một loạt các chính sách cải cách kinh tế ở khu vực nông thôn, Trung
Trang 27Quốc đã thu được những thành tựu đáng kể, đã tạo ra những thay đổi quantrọng trong thể chế chính trị , thay đổi về căn bản về cơ cấu kinh tế nôngthôn, chuyển đổi phương thức quản lý, thay đổi căn bản phương thức phânphối, phân phối theo lao động đóng vai trò chính, và Trung Quốc đã thựchiện thành công việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiếtcuả Nhà nước , thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Trong những năm Trung Quốc thực hiện chuyển hướng sang nềnkinh tế thị trường thì sự phân hoá giàu nghèo đã tăng lên rõ rệt trong xã hội.Do chính sách mở cửa nền kinh tế , các thành phố lớn thì tập trung các nhàmáysản xuất công nghiệp , tuy có phát triển một số nhà máy công nghiệp ởmột số vùng nông thôn, song vùng giàu có thì ngày càng giàu có, vùngnghèo đói thì vẫn nghèo đói nhất là vùng sâu,vùng xa Để khắc phục tìnhtrạng nghèo khổ cho khu vực nông thôn chính phủ đã đưa ra một loạt cácgiải pháp cơ bản nhằm xoá đói giảm nghèo cho nhân dân, trong đó có cácgiải pháp về tập trung phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn, xây dựngcác vùng định canh, định cư, khu dân cư mới, chính sách này đã đem lạinhững thành công đáng kể cho nền kinh tế -xã hội Trung Quốc trongnhững năm qua
Trang 28CHƯƠNG II ĐÁNH GIÁ DỰ ÁN GIẢM NGHÈO TỈNH SƠN LA GIAI ĐOẠN
105002’ kinh độ Đông Phía bắc giáp các tỉnh Yên Bái, Lai Châu; phía đônggiáp các tỉnh Phú Thọ, Hoà Bình; phía tây giáp với tỉnh Điện Biên; phíanam giáp với tỉnh Thanh Hoá và nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào; cóchung đường biên giới Việt - Lào dài 250 km, có chiều dài giáp ranh vớicác tỉnh khác là 628 km Sơn La có 11 đơn vị hành chính (1 thị xã, 10huyện) với 12 dân tộc
1.2 Điều kiện tự nhiên.
Sơn La cách Hà Nội 320km về phía Tây bắc, nằm trong khư vực miền núikhí hậu gió mùa nhiệt đới với những đặc điểm: nhiệt độ thấp, lương mưathấp và nhiều sương muối vào mùa đông nhưng vào mùa hè lại có lượngmưa lớn và nhiệt độ cao Ảnh hưởng của bão mùa hè và gió mùa mùa đônghạn chế do nằm sâu trong nội địa và đặc điểm địa hình Lượng mưa trung
oC, TP Hồ Chí Minh: 27 oC)
Trang 29Địa hình của Sơn La chủ yếu là đồi núi với độ cao trung bình hơn 500m.Hai bình nguyên là Mộc châu và Mai Sơn Dân cư tập trung tại các thunglũng nhỏ ven suối và sông Các sườn dốc trên các dãy núi thấp (700-800m),gần các thung lũng thường được dùng làm đất canh tác.
Tổng diện tích của Sơn La là 1.405.500 ha Khoảng 11,3 % (chủ yếu là đấtđồi) diện tích tự nhiên là đất nông nghiệp trồng lúa, ngô và sắn Bảng dướiđây trình bày cơ cấu sử dụng đất của tỉnh:
Đơn vị tính: ha
Tổng diện tích
đất
Đất Nông nghiệp
Đất có rừng
Đ ất Forest land without forest
Đất khác
Nguồn: Chiến lược Phát triển Kinh tế Xã hội Việt Nam năm 2002
Độ che phủ rừng của Sơn La là 25,7 % trong đó có 363.027 ha là rừng tựnhiên và 39.275ha rừng trồng (năm 1999 độ che phủ rừng là 21.6% với239.870ha rừng tự nhiên và 31.130ha rừng trồng) Phần lớn diện tích đất,khoảng 779,119 ha tương đương 55,3%, vẫn thuộc diện đất chưa sử dụnghay đất lâm nghiệp chưa có rừng, mặc dù đã có biến chuyển lớn so với con
số 917,115 ha (65.3%) đất chưa sử dụng năm 1999 Đây là diện tích đất cócây bụi, cây phân tán hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng và có tiềm nănglớn về tái sinh tự nhiên
1.3 Tiềm năng.
Điều kiện thiên nhiên ưu đãi đã tạo cho Sơn La tiềm năng để phát triển các sản phẩm nông - lâm sản, hàng hoá có lợi thế với quy mô lớn mà ít nơi có
Trang 30được như chè đặc sản chất lượng cao trên cao nguyên Mộc Châu, Nà Sản
Là tỉnh có nhiều tiềm năng phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm, đặc biệt Sơn La đã được các nhà khoa học đánh giá là một trong những địa bàn lý tưởng để phát triển bò sữa, bò thịt chất lượng cao Bên cạnh đó tiềm năng khí hậu, đất đai còn cho phép tỉnh phát triển các loại giống cây ăn quả ôn đới, nhiệt đới, á nhiệt đới với quy mô trên 30.000 ha
Sơn La có lợi thế rất lớn về tiềm năng thuỷ điện, đặc biệt công trìnhthủy điện Sơn La lớn nhất cả nước với tổng công suất 2.400MW được khởicông xây dựng Đây chính là cơ hội tốt nhất để thúc đẩy nền kinh tế - xãhội của tỉnh phát triển nhanh chóng, tạo ra sự đột biến về tốc độ tăngtrưởng của ngành công nghiệp kéo theo sự phát triển của kết cấu hạ tầng vàdịch vụ Khi đó, Sơn La có nguồn điện lưới quốc gia đi qua là điều kiệnthuận lợi để phát triển các ngành kinh tế
Đất đai chưa khai thác còn nhiều, độ phì tự nhiên khá, khả năng táisinh thảm thực vật lớn Nếu coi rừng và tỷ lệ gia tăng độ che phủ của rừng,cây công ngiệp dài ngày, cây ăn quả là sản phẩm hàng hoá thì giá trị sửdụng của loại hàng hoá này được thể hiện ở hiệu quả sử dụng thủy điệnsông Đà, điều hoà nước cho Đồng bằng sông Hồng và được trả lại cho Sơn
La một phần, qua đấy có khoản đóng góp vào ngân sách nhà nước; mặtkhác nếu dựa trên giá trị thực có của rừng, cây ăn quả, cây công nghiệp dàingày, thì rừng và cây dài ngày là lợi thế vượt trội để chuyển dịch cơ cấukinh tế phù hợp với đặc thù tự nhiên và con người của Sơn La
Cao nguyên Mộc Châu ở độ cao 1.050m, đất tốt và tương đối bằngphẳng, khí hậu ôn hoà phù hợp với phát triển tập đoàn cây trồng, vật nuôi
có nguồn gốc ôn đới như chè, bò sữa cao sản, cây ăn quả… Cao nguyênnày nằm trên trục QL 6, gần cảng sông Vạn Yên và ở trung độ giữa Hà Nội
- Sơn La - Điện Biên, chỉ cách Hà Nội 200 km Tương lai sẽ hình thành
Trang 31một thành phố cao nguyên sản xuất VLXD, du lịch nghỉ mát mùa hè, trungchuyển hàng hoá cho cả vùng Tây Bắc và nước bạn Lào
Nguồn tài nguyên khoáng sản tuy trữ lượng nhỏ, phân bố rải rácsong rất phong phú, đa dạng, chưa khai thác được bao nhiêu, có triển vọngphát triển công nghiệp sản xuất VLXD, đáp ứng về nhu cầu xi măng, gạch,ngói cho xây dựng cơ bản trong tỉnh Khai thác than, bột sắn, bột tan, đồng,chì, vàng… cũng là một lợi thế của tỉnh Trong thời kỳ này nổi lên khaithác than ở Suối Bàng, niken, đồng ở bản Phúc và đá vôi, sét làm xi măng,VKXD…
Điều kiện phát triển du lịch thuận lơi do có nhiều danh lam thắngcảnh, hang động kỳ thú, các mỏ suối nước khoáng nóng, vùng hồ sông Đà,các di tích lịch sử cách mạng như bảo tàng nhà tù Sơn La, cây đào Tô Hiệu,văn bia Lê Thánh Tông… có thể kết hợp với các tỉnh bạn để phát triển dulịch tổng hợp, nhất là vùng cao nguyên Mộc Châu có khí hậu mát mẻ giốngnhư Đà Lạt
Nhân dân các dân tộc Sơn La có truyền thống đoàn kết, yêu nước, cáchmạng, tuyệt đối trung thành, kiên trì đi theo con đường xã hội chủ nghĩa màĐảng và Bác Hồ đã lựa chọn Tỉnh luôn đảm bảo giữ vững sự ổn địnhchính trị, trật tự an ninh, quốc phòng
Những cơ hội để tỉnh Sơn La có thể phát triển nhanh công nghiệp,dịch vụ đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao là nắm bắt và thực hiện tốt cácchương trình trồng 5 triệu ha rừng và các chương trình, dự án, chính sáchkhác của Đảng và Nhà nước đã ban hành, tích cực chuẩn bị cho công trìnhxây dựng thuỷ điện Sơn La
2.Tình hình phát triển Kinh tế-Xã hội của Tỉnh.
Trang 32Sơn La có 10 huyện với 201 xã, phường và số dân 881.400 người.Mật độ dân số là khoảng 64người/km2 Mức tăng dân số hàng năm là 2,9%(so với tỷ lệ tăng dân số trung bình cả nước là 1,7 %) Ở Sơn La có 12 dântộc anh em sinh sống, đa số là người Thái (55,6%), Kinh (17,29 %),H’mong (14,4%), và Mường (8,3 %) Các dân tộc phân bố khác nhau theohuyện và đặc điểm địa hình Người Kinh chủ yếu sinh sống tại Thị xã vàcác huyện, các trung tâm kinh tế như Mộc Châu và Mai Sơn NgườiH’mong sống ở vùng cao trong khi người Thái sống ở các vùng tương đốithấp.
Sản phẩm nông nghiệp chính là ngô, đậu tương, chè, hoa quả, mía, sữa bò,thịt trâu bò
Công nghiệp chủ yếu là sữa và xi-măng
2.1 Sản xuất nông, lâm nghiệp
2.1.1 Nông nghiệp
2.1.1.1 Trồng trọt
Thu hoạch cây trồng: Đến ngày 10/11/2007 toàn tỉnh đã thu hoạchxong 17.712 ha lúa nương với sản lượng 20.070 tấn; thu hoạch lúa mùaruộng 9.403 ha đạt 57,9% so với diện tích cấy; thu hoạch 4.013 ha ngô hèthu bằng 46,4% diện tích gieo trồng, sản lượng 10.656 tấn; thu hoạch đậutương 5.183 ha, sản lượng 6.331 tấn; thu hoạch mía 47 ha, sản lượng 647tấn; thu hoạch cà phê 10.995 tấn Nhìn chung tiến độ thu hoạch các loại cây trồng:lúa mùa ruộng, ngô hè thu, đậu tương so với cùng kỳ năm trước chậm hơn (diệntích lúa mùa ruộng đã thu hoạch bằng 86,12%; ngô hè thu bằng 80,26%; đậutương bằng 93,76%) Dự ước đến hết tháng 11/2007 toàn tỉnh thu hoạch xong lúamùa ruộng, 4.618 ha ngô hè thu, 5.201 ha đậu tương
Trang 33Chuẩn bị đất và gieo trồng cây vụ đông: Theo báo cáo của cáchuyện, thị đến ngày 10/11 toàn tỉnh đã chuẩn bị được 1.011,3 ha đất trồngrau; 17,2 ha đất trồng khoai tây; 400 ha trồng ngô đông trong đó đã trồng879,5 ha rau các loại; 10,5 ha khoai tây; 400 ha ngô; 100 ha đậu tương và
250 ha cải lấy hạt ở Yên châu So với cùng kỳ năm trước tiến độ làm đấttrồng khoai tây và rau vụ đông năm nay nhanh hơn Dự ước đến 30/11 toàntỉnh trồng được 1.153 ha rau các loại; 21,2 ha khoai tây và 300 ha cải lấyhạt
2.1.1.2 Chăn nuôi
Đàn gia súc gia cầm của tỉnh tiếp tục phát triển Trong tháng bệnh
tụ huyết trùng rải rác phát sinh ở đàn trâu, bò, lợn tại các huyện Quỳnhnhai, Phù yên, Sông mã, Mai sơn, Thị xã, Bắc yên làm 74 con trâu, bò và
46 con lợn bị mắc bệnh trong đó có 32 con trâu, bò, 11 con lợn bị chết.Ngành thú y đã phối hợp chặt chẽ với các địa phương triển khai tiêm phòngchống dịch cho gia súc trên địa bàn toàn tỉnh, đã tiêm phòng nhiệt thántrâu, bò được 737 liều; tụ huyết trùng trâu, bò được 59.534 liều; lở mồmlong móng trâu, bò, lợn được 57.386 liều; THT lợn được 3.145 liều; dịch tảlợn được 2.489 liều; cúm gia cầm 97.513 liều Công tác kiểm soát giết mổ
và kiểm dịch gia súc, gia cầm được thực hiện chặt chẽ trên địa bàn toàntỉnh
2.1.2 Lâm nghiệp
Trong tháng không có vụ cháy rừng nào xảy ra, nhưng vẫn có 145 vụ
vi phạm lâm luật, trong đó lấn chiếm đất rừng làm nương rẫy 95 vụ vớidiện tích rừng bị chặt phá là 11,04 ha; khai thác lâm sản trái phép 7 vụ,lượng gỗ vi phạm 5,9 m3 ; buôn bán vận chuyển lâm sản trái phép 35 vụ,lượng gỗ vi phạm là 64,57 m3 ; tàng trữ chế biến lâm sản trái phép 8 vụ vớilượng gỗ vi phạm là 4,41m3
Trang 342.2 Sản xuất công nghiệp
a Giá trị sản xuất công nghiệp
Giá trị sản xuất công nghiệp (giá cố định 1994) tháng 11 năm 2007ước thực hiện 45.775 triệu đồng trong đó: khu vực doanh nghiệp nhà nước29.698 triệu đồng chiếm 64,88%; khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh3.873 triệu đồng chiếm 8,46%; cơ sở cá thể 12.204 triệu đồng chiếm26,66% Ngành công nghiệp khai thác mỏ 3.090 triệu đồng chiếm 6,75%;công nghiệp chế biến 39.985 triệu đồng chiếm 87,35%; công nghiệp sảnxuất và phân phối điện, nước 2.700 triệu đồng chiếm 5,90%
So với tháng trước giá trị sản xuất công nghiệp tăng 5,6% trong đókhu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 3,4%; khu vực doanh nghiệp ngoàiquốc doanh tăng 5%; cơ sở cá thể tăng 11,5% Ngành công nghiệp khaithác mỏ tăng 6,8%; công nghiệp chế biến tăng 5,8%; công nghiệp sản xuất
và phân phối điện, nước tăng 0,8%
So với cùng kỳ năm trước giá trị sản xuất công nghiệp tháng 11/
2007 tăng 36,2% trong đó: khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 46,7%,khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh giảm 3,3%; cơ sở cá thể tăng30,4% Ngành công nghiệp khai thác mỏ giảm 0,3%, công nghiệp chế biếntăng 41,7%, công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước tăng 18,3%
b Sản phẩm chủ yếu
Có 11/13 sản phẩm chủ yếu sản xuất ra tăng so với tháng trước: Đádăm các loại tăng 3,1%; đá hộc tăng 5,4%; sữa tươi tiệt trùng tăng 0,2%;trà xanh nguyên chất tăng 6,9%; các loại chè khác tăng 67,5%; trang intăng 22,5%; gạch xây tăng 5,3%; xi măng tăng 2,7%; bê tông trộn sẵn tăng3,7%; điện thương phẩm tăng 0,7%; nước máy thương phẩm tăng 4% 1sản phẩm có khối lượng sản xuất giảm là bia hơi giảm 16,7%
Trang 35So với cùng kỳ năm trước có 10/13 sản phẩm chủ yếu sản xuất ratăng đó là: Đá dăm các loại tăng 0,2%; sữa tươi tiệt trùng tăng 114,1%; tràxanh nguyên chất tăng 22,8%; các loại chè khác tăng 54%; trang in tăng19,9%; gạch xây tăng 9%; xi măng tăng 7,4%; bê tông trộn sẵn tăng218,2%; điện thương phẩm tăng 26,1%; nước máy thương phẩm tăng 2,9%.
Có 2 sản phẩm chủ yếu sản xuất giảm là đá hộc giảm 42,2% và bia hơigiảm 5,4%
Nhìn chung các sản phẩm sản xuất ra tiêu thụ thuận lợi Riêng ximăng tồn kho 1.898 tấn, gạch tuy nel còn tồn 1.576 ngàn viên
1.3.1.3 Vốn đầu tư phát triển
Dự ước tháng 11 năm 2007 tổng mức vốn đầu tư phát triển do địa
phương quản lý thực hiện là 134.102 triệu đồng Trong đó: vốn ngân sáchnhà nước thực hiện 101.602 triệu đồng đạt 10,54% kế hoạch (vốn ngânsách trung ương thực hiện 100.102 triệu đồng đạt 10,60% KH, vốn ngânsách địa phương thực hiện 1.500 triệu đồng đạt 7,89% KH) Vốn vay thựchiện 30.000 triệu đồng đạt 11,92% KH, vốn tự có của các doanh nghiệpnhà nước 2.500 triệu đồng
2.3 Thương mại, giá cả và dịch vụ
a Tổng mức bán lẻ hàng hóa
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hộitháng 11/ 2007 ước đạt 334,94 tỷ đồng Trong đó: kinh tế nhà nước ước đạt32,32 tỷ đồng chiếm 9,65%; kinh tế tập thể 0,28 tỷ đồng chiếm 0,09%;kinh tế cá thể 244,08 tỷ đồng chiếm 72,88% và kinh tế tư nhân 58,26 tỷđồng chiếm 17,38% So với tháng trước tổng mức bán lẻ hàng hóa vàdoanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội tháng 11 tăng 2,74%, trong đó kinh tếnhà nước giảm 3%, kinh tế tập thể tăng 7,69%, kinh tế cá thể tăng 3,88%
và kinh tế tư nhân tăng 1,37% So với cùng tháng năm trước tổng mức bán